Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 20 Tháng Mười, 2019, 01:14:15 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)  (Đọc 103083 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #90 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2012, 04:31:43 PM »

Chuẩn bị thực hiện kế hoạch bình định 18 tháng (từ giữa năm 1961 đến cuối năm 1962, Diệm ra sắc lệnh bỏ các quân khu, chia lãnh thổ thành các vùng chiến thuật, biệt khu, khu chiến thuật, tiểu khu; chủ yếu kiện toàn cấp tiểu khu (tỉnh) và chi khu (quận) nhằm tạo điều kiện bình định và càn quét có hiệu quả. 8 tỉnh miền Đông Nam Bộ lập thành khu chiến thuật 33 thuộc vùng 3 chiến thuật, bảo vệ vòng ngoài cho khu Sài Gòn - Gia Định với lực lượng tương đương 3 sư đoàn (sư đoàn 5, sư đoàn 25, các trung đoàn tiền thân của sư đoàn 18) và 2 trung đoàn chủ lực, 22 tiểu đoàn và 111 đại đội địa phương quân (bảo an). Riêng đô thành Sài Gòn và tỉnh Gia Định (trừ Củ Chi) lập thành Biệt khu thủ đô theo sắc lệnh 98 - QP ngày 13 tháng 4 năm 1961 trực thuộc vùng 3 chiến thuật; Sau đó, từ tháng 11 năm 1964 trực thuộc Bộ Tổng tham mưu với lực lượng 2 tiểu đoàn thuộc trung đoàn 52, 1 chiến đoàn ứng chiến cơ động (tương đương 1 trung đoàn), 1 tiểu đoàn biệt động quân (số 30), 2 pháo đội, 2 tiểu đoàn khóa sinh Quang Trung và Thủ Đức, 3 tiểu đoàn và 15 đại đội bảo an. Ngoài ra, tại Sài Gòn có lữ đoàn dù ngụy đóng căn cứ ở Bà Quẹo (trại Hoàng Hoa Thám) và lữ đoàn thủy quân lục chiến đóng căn cứ ở Thị Nghè (trại Cửu Long); tuy là lực lượng dự bị cơ động chung cho toàn miền Nam, nhưng thời kì này hoạt động chủ yếu ở Sài Gòn và miền Đông Nam Bộ.

Địa giới Gia Định (về phía địch) không gồm hết Củ Chi, ở phía Bắc từ kinh Cầu An Hạ (phía Tây quốc lộ số 1) sang kinh Xáng và Rạch Tra. Như vậy trên địa bàn Củ Chi ta phải trực tiếp đối chọi với địch ở cả các tiểu khu Gia Định, Bình Dương và Hậu Nghĩa (tháng 10 năm 1963 địch thành lập thêm tỉnh Hậu Nghĩa trong đó phần đất phía Tây quận Củ Chi, phía Đông gọi là quận Phú Hòa thuộc tỉnh Bình Dương).

Ở nội đô, ta đối đầu trực tiếp với Nha Cảnh sát đô thành và Tổng nha cảnh sát, cùng các cơ quan an ninh, tình báo các loại kết hợp với nhau.

Công nhân lao động Sài Gòn tiếp tục vai trò dẫn đần phong trào đấu tranh ở đô thị. Đảng ta chủ trương phát động các đợt đấu tranh dân sinh dân chủ để tập hợp lực lượng, đồng thời coi các yêu sách dân sinh dân chủ bao giờ cũng tiềm ẩn nội dung chính trị và qua đó hướng đến mục tiêu chính trị.

Ngày 1 tháng 5 năm 1961, mới ra mắt được 4 ngày, Hội lao động giải phóng miền Nam(1), đã phát động được 16.000 công nhân lao động họp mít tinh công khai kỉ niệm ngày Quốc tế lao động và trương khẩu hiệu “Chào mừng Hội lao động giải phóng miền Nam”. Suốt trong 3 tháng liền, từ tháng 7 năm 1961 những cuộc bãi công đòi quyền lợi dân sinh dân chủ liên tiếp nổ ra ở các hãng nước ngọt BGI, xưởng đóng tàu CARIC, nhà đèn Chợ Quán, ôtô buýt, xe lửa, cầu đường, hàng rượu Bình Tây…

Nổi bật là cuộc đấu tranh của công nhân hãng dầu Stanvac, một cuộc đấu tranh dân sinh gây cho kẻ thù tổn thất lớn. Hãng dầu Stanvac còn gọi là hãng “Con ngựa bay”, một hãng dầu lớn có chi nhánh ở hầu khắp Đông Nam Á, độc quyền cung cấp dầu cho các sân bay quân sự, các đơn vị cơ giới của Mĩ ngụy.

Từ ngày 6 đến ngày 22 tháng 9 năm 1961 công nhân đình công để phản đối thái độ ngang ngược của chủ hãng Mĩ đối với công nhân Việt Nam, các hãng Mĩ chịu chấp nhận tăng lương 5% cho công nhân nhưng đồng thời tăng giờ lao động lên 10% và sa thải công nhân hàng loạt. Cuộc đình công được hơn 100 nghiệp đoàn công nhân lao động ở Sài Gòn và các tỉnh ủng hộ tiền bạc, lương thực, thực phẩm. Một số báo chí ở Sài Gòn chỉ trích thái độ của chủ hãng Stanvac. Liên hiệp công đoàn quốc tế hàng đầu cũng viết thư ủng hộ công nhân Stanvac và tỏ thái độ của chủ hãng Việt Nam. Cuộc đấu tranh vì vậy ngày càng trở nên quyết liệt. Công nhân chiếm giữ các kho dầu, không cho Mĩ ngụy tới chở dầu đi. Việc cung ấp dầu cho các máy bay bị tê liệt. Nhiều tàu chở xăng không dám vào cảng Sài Gòn, chủ hãng Stanvac buộc phải thông báo cho các hãng hàng không quốc tế, tự cung cấp lấy xăng dầu trước khi vào Việt Nam. Tính trung bình mỗi ngày Mĩ ngụy thiệt hại từ 3 - 5 triệu đồng Sài Gòn. Kế hoạch quân sự của địch bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Do đó, ngày 20 tháng 1 năm 1961, chính quyền ngụy buộc chủ hãng Stanvac phải bãi bỏ lệnh sa thải công nhân và buộc chấp nhận tăng lương cho công nhân từ 6 - 12%, hứa sẽ cải thiện chế độ làm việc trong hãng.

Cuộc đấu tranh của công nhân Stanvac thắng lợi, cổ vũ công nhân và lao động Sài Gòn - Gia Định. Suốt năm 1962 diễn ra hàng trăm cuộc đấu tranh khác, trong đó có 10 cuộc đấu tranh quyết liệt, với các hình thức lãn công, đình công và một cuộc đình công kéo về thành phố của 5 vạn công nhân cao su. Nổi bật là cuộc bãi công ngày 12 tháng 2 năm 1962 của công nhân hãng dệt Vimytex đòi sửa đổi chế độ làm việc đúng luật lao động, và cuộc đình công chiếm xưởng ngày 10 tháng 5 năm 1962 của công nhân hãng thu thanh. Một tên Mĩ trong Ban giám đốc bị đánh trọng thương. Bên cạnh đó một sự kiện đáng chú ý là trong dịp kỉ niệm ngày 1 tháng 5 năm 1962, hàng vạn công nhân xích lô liên minh với chủ, chống dự định của Trần Lệ Xuân nhập cảng xe lam thay thế xe xích lô. Thực tế cho thấy các phong trào đấu tranh dân sinh dân chủ làm cho địch lúng túng đồng thời liên kết được phong trào các giới ở các khu vực thành thị với nhau, liên kết cả phong trào nôn thôn với phong trào đô thị. Trước ngày 1 tháng 5 năm 1962, công nhân của 100 nghiệp đoàn ở Sài Gòn mở đại hội đòi tăng lương, chống sa thải; 5.000 công nhân tắc xi, xích lô họp đại hội, lúc đầu còn mang nội dung dân sinh, sau đó kéo xuống đường, công khai hô khẩu hiệu “đả đảo Mĩ”, “đả đảo Ngô Đình Diệm”.

Đội vũ trang quyết tử của học sinh sinh viên, sau 10 ngày thành lập, ra quân trận đầu; dưới sự chỉ huy của các anh Lê Hồng Tư, Hà Văn Hiền, đã diệt tên William Thomas, chuyên viên cao cấp không quân Mĩ (ngày 6 tháng 4 năm 1961) tại đường Ngô Thời Nhiệm. Ngay hôm sau (ngày 7 tháng 4 năm 1961) đội lại tấn công bằng lựu đạn vào trụ sở cơ quan USOM (United Sates Operation Mission) của Mĩ tại đường Trần Hưng Đạo. Đặc biệt đội đã nhận nhiệm vụ đánh tên đại sứ Mĩ Nolting bằng thủ pháo. Nolting chết hụt, nhưng bị một đòn cảnh cáo nghiêm khắc. Sự kiện này cổ vũ khí thế chống Mĩ của thanh niên và đồng bào thành phố. Chính vào những ngày này, lực lượng của ban cán sự Thành đoàn thực hiện một đợt tuyên truyền xuất kích, gây tiếng nổ trong thành phố, tập trung ở các thùng phiếu trong đợt bầu cử tổng thống ngụy nhiệm kì 2.

Địch phản kích điên cuồng cả trong thành và ven đô nhất là sau vụ Nolting chết hụt. Chúng đã bắt anh Lê Hồng Tư và một số đồng chí khác do sơ suất ở cơ sở.


(1) Vẫn tiếp tục có cán bộ giữ thế hợp pháp hoạt động trong các tổ chức công nhân công khai như Tổng liên đoàn lao động, Tổng liên đoàn lao cộng, và các nghiệp đoàn…
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #91 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2012, 04:32:10 PM »

Tháng 8 năm 1961 địch lại phát hiện và đánh vào căn cứ Ban cán sự Thành đoàn ở xã Mĩ Hạnh huyện Đức Hòa. Đồng chí Trần Quang Cơ (Tám Lượng), bí thư Ban cán sự anh dũng hi sinh, các anh Lê Quang Vịnh, Lê Văn Dung bị bắt. Chúng tiếp tục mở đợt khủng bố tập trung vào phong trào cách mạng của quần chúng. Trên 200 cơ sở cách mạng và quần chúng có liên quan bị bắt và giam trong các trại giam Sài Gòn.

Trên vùng Củ Chi, ngày 4 tháng 4 năm 1961 huyện tổ chức một cuộc đấu tranh thống nhất toàn huyện, trực diện với tề xã, đòi dân sinh dân chủ. “Đội quân tóc dài” hình thành. Đoàn quần chúng xã Phước Thạnh gồm trên 3000 người, phần lớn là các má, các chị, biểu tình kéo dọc theo quốc lộ số 1 đến nhà làng Suối Cụt, đột ngũ chỉnh tề, hai bên có lực lượng tự vệ. Đoàn xe quân sự địch tuần tra, bắn uy hiếp, đoàn biểu tình nằm xuống, xe qua, tất cả lại đứng dậy đi tiếp. Toán dân vệ gác cản đường. Một tên ác ôn ném lựu đạn vào đoàn biểu tình làm 5 người chết, 59 người bị thương, mọi người vô cùng căm phẫn. Cuộc đấu tranh chuyển sang mục tiêu đòi địch chấm dứt khủng bố, chôn cất những người bị giết, chữa chạy và bồi thường cho người bị thương, bị chết.

Đoàn An Nhơn Tây gồm 200 chị em các xã An Nhơn Tây, Nhuận Đức, Phú Mĩ Hưng, Phú Hòa Đông… do chị Hai Bằng lãnh đạo, tuần hành kéo về nhà láng xã Phú Hòa Đông, nơi tập trung Ban hội tề 4 xã lưu vong sau Đồng Khởi, đấu tranh đòi trừng trị tên “Đội Chó” ác ôn. 5 thanh niên trong đoàn bị chúng bắt đi, ta đưa thêm lực lượng dự bị ra đấu tranh, địch buộc phải băng bó cho 5 người bị thương và thả 5 thanh niên bị bắt.

Tháng 6 năm 1961, huyện ủy Củ Chi lại tổ chức cuộc đấu tranh lớn lần thứ 2 trên toàn huyện. 13.000 người đấu tranh trực diện, 2000 người phía sau làm giao liên, hậu cần và dự bị. Lực lượng phía trước chia làm 5 mũi tiến vào quận lị, mũi chính diện là Tân An Hội và Phước Hiệp. Có nhiều đợt quần chúng bị địch đàn áp, đánh đập, tạm lui để tập hợp thêm, tiếp tục cuộc đấu tranh với các khẩu hiệu đòi: chấm dứt khủng bố, giết người, bồi thường nhân mạng, chống bắt lính, hoãn miễn quân dịch… Cuộc đấu tranh được nhiều binh sĩ địch đồng tình, hạ uy thế địch, hạn chế khủng bố.

Cùng với mũi đấu tranh chính trị, mũi quân sự đang đà phát triển, nổi bật là phong trào làm vũ khí thô sơ, tự tạo mìn, trái đánh địch, mạnh nhất là ở xã Phú Mĩ Hưng. Ở Xóm Huế, 10 thanh niên tự tạo bán xe đạp, mua sắm dụng cụ và ống sắt, làm được 10 súng tự chế để diệt ác và biểu dương lực lượng, em ruột tên đội Bắc ác ôn cũng tham gia. Công trường vũ khí huyện do đồng chí Ba Nì phụ trách, phát triển nhanh.

Cuối tháng 7 năm 1961, địch càn quét hai xã An Nhơn Tây, Phú Mĩ Hưng, giết 23 người và bắt đi một số dân. Lập tức nhân dân các xã xung quanh tập trung kéo biểu tình lên quận, buộc tên quận trưởng Bình phải ra tiếp và hứa chuyển yêu sách đoàn biểu tình lên tỉnh Bình Dương. Nhiều trận đánh có kết hợp hầm chông, hố đinh, địa đạo đã đẩy lùi hoặc chặn đứng cả tiểu đoàn địch, như các trận ở các xã Phú Hòa Đông, Phú Mĩ Hưng, Nhuận Đức, Trung An.

Việc giáo dục các gia đình binh sĩ vận động chồng, con, em trở về kết hợp với các hình thức kêu gọi ở đồn bót cũng thu được kết quả. Nhiều binh sĩ địch bỏ ngũ trở về nhà làm ăn, hoặc theo du kích.

Lực lượng cách mạng ở Củ Chi phát triển khá trong năm đầu của chiến tranh cách mạng: số đảng viên từ 200 lên gần 500; gần một trăm phần trăm phụ nữ vùng giải phóng vào Hội phụ nữ giải phóng; vùng gần địch có du kích mật, trên 1000 thanh niên xung phong tòng quân vào các lực lượng cấp trên, vùng giải phóng bắt đầu có trường học, trạm y tế…

Bắt đầu “kế hoạch Staley - Taylor” trên vùng đất ngoại thành, chủ lực ngụy từ các nơi kéo về càng đông xung quanh Sài Gòn. Một mặt, địch mở những cuộc hành quân càn quét vào các căn cứ, các vùng giải phóng, các khu vực có phong trào cách mạng nhằm triệt phá và tiêu diệt lực lượng cách mạng, mặt khác sử dụng các thứ quân địa phương kết hợp với các đoàn bình định, tình báo, gián điệp, liên tục mở những cuộc hành quân cảnh sát quy mô nhỏ, chà đi sát lại nhiều ngày trong từng thôn ấp, phường khóm nhằm thanh lọc cơ sở cách mạng và đồn dân vào các ấp chiến lược.

Ngày 20 tháng 9 năm 1961, Khu ủy Sài Gòn - Gia Định mở hội nghị quân sự lần thứ nhất tại xã Lộc Thuận, có mặt trên 60 cán bộ tạ chỗ của Sài Gòn - Gia Định cùng một số cán bộ mới bổ sung về. Để tạo điều kiện thực hiện sát hợp phương châm đấu tranh, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang một cách có hiệu quả, hội nghị chia địa bàn Sài Gòn - Gia Định thành 3 “vùng”: vùng căn cứ giải phóng, vùng tranh chấp ven đô và vùng nội thành, mỗi vùng có phương châm, hình thức và nội dung thích hợp với tình hình so sánh lực lượng ta và địch, với hoàn cảnh địa lí và khả năng tập hợp, huy động lực lượng quần chúng.

Vùng căn cứ bao gồm các khu vực đã được giải phóng ở Củ Chi và các huyện khác, lấy vũ trang làm chính, có kết hợp với đấu tranh chính trị nhằm giữ thế hợp pháp của quần chúng và mở rộng vùng giải phóng, tạo thêm nhiều “lõm căn cứ” giữ các địa bàn làm chủ trên các hướng ven đô, vây ép nội đô, tạo thế sẵn sàng tấn công địch.

Vùng tranh chấp ven đô: đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang đi đôi với nhau, hỗ trợ nhau nhằm từng ước đánh bại các âm mưu, thủ đoạn của địch, tiến lên giành chính quyền làm chủ với các mức độ khác nhau, tạo thành những lõm du kích sát đô thị.

Vùng nội thành lấy đấu tranh chính trị làm chính có kết hợp với đấu tranh vũ trang từng mức độ. Đấu tranh vũ trang ở nội thành phải nhằm vào những mục tiêu gây tổn thất nặng, có tác dụng phối hợp chiến trường chung, đồng thời mở rộng diện phá hoại, quấy rối, trừ gian, diệt ác, phá kềm, làm mất an ninh ổn định của địch, hỗ trợ, phục vụ đấu tranh chính trị, tạo thế cho phong trào quần chúng phát triển, tạo điều kiện cho việc xây dựng các lõm chính trị ngay trong lòng Sài Gòn.

Hội nghị ra nghị quyết quân sự đầu tiên của quân khu, nội dung liên quan đến từng vùng cụ thể.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #92 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2012, 04:33:33 PM »

Tháng 10 và tháng 11 năm 1961, Khu ủy mở hội nghị tổ chức các cánh và lực lượng đô thị tại một căn cứ ở một góc Đồng Tháp Mười, mật danh là căn cứ “Thái Bình Dương”(1).

Được tổ chức ngăn cách để bảo đảm nguyên tắc bí mật ở đô thị, nhưng hội nghị có đông đủ cán bộ quân sự, cán bộ lãnh đạo ngành, giới, quận và bán cán sự liên quận. Nội dung chính của hội nghị là bàn thống nhất và ra nghị quyết về tổ chức lực lượng chính trị, quân sự, nhiệm vụ đấu tranh và tiêu hao tiêu diệt sinh lực địch ở nội đô Sài Gòn.

Chỉ đạo nội đô được chia thành 5 cánh (liên quận) gồm có quận nội thành gần với các xã vùng ven và vùng đô thị hóa, có Ban cán sự đảng và Ban quân sự để lãnh đạo, chỉ huy mọi mặt cả về phong trào, lực lượng và hoạt động. Cánh 154 gồm quận 2 và 4, Trị Đông, An Lạc, Phú Định, Phú Thọ Hòa, cánh 158 gồm quận 3, quận 5, cánh 159 gồm quận 1, xã Thạnh Mĩ Tây, Bình Hòa, Phú Nhuận, Tân Hòa.

Ngay trong thời gian hội nghị, 3 lớp huấn luyện quân sự đô thị được tranh thủ mở ngay trên vùng hậu cứ “Thái Bình Dương”. Thành phần học viên là những cơ sở nội đô đã trải qua thử thách, được rút ra để xây dựng những phân đội võ trang làm nòng cốt cho từng ngành, từng cánh, lớp huấn luyện thứ nhất có 8 học viên: hớp huấn luyện thứ hai cho một tiểu đội của lực lượng thanh niên, học sinh, sinh viên. Bãi tập phải móc đất đắp thành nền, lấy củi phải lặn xuống móc những cây tràm lâu năm dưới đáy nước. Học viên học quân sự mang mặt nạ, học chính trị mỗi người một ngăn riêng không ai được biết mặt ai. Kết thúc mỗi lớp, học viên trở về các ngành.

Tại căn cứ “Thái Bình Dương”, một bộ phận cán bộ quân sự quân khu (lấy bí số C50) sau đó C10) đi xuống quan hệ trực tiếp với cơ quan tiền phương của khu ủy phụ trách nội thành, chuyên trách biên soạn tài liệu tổ chức lực lượng, giáo dục chính trị và huấn luyện quân sự cho các lực lượng vũ trang, bán vũ trang đô thị gồm các môn bắn súng, sử dụng chất nổ, võ thuật, kĩ thuật trinh sát mục tiêu, cách tổ chức các trận đánh ở nội thành.

Phong trào vũ trang nội đô từng bước được gây dựng, tạo điều kiện lần lượt hình thành các đơn vị chiến đấu. Sau hội nghị tháng 10, 11 năm 1961, những cán bộ nòng cốt các cánh được huấn luyện quân sự và nhiều chiến sĩ được các ngành, giới… tuyển chọn, thành lập các đội biệt động 159, 65, 66, 67A, 67B, 68, 69… Thành đoàn xây dựng đôi biệt động thanh niên. Ban Hoa vận xây dựng đội biệt động Hoa kiều, quân báo quân khu xây dựng hệ thống trinh sát quân báo cơ động và địa phương. Hậu cần tổ chức công tác bảo đảm. Tham mưu xây dựng hệ thống quân bưu và giao thông liên lạc kết hợp nội ngoại thành.

Cuối năm 1961, Bộ chỉ huy quân khu Sài Gòn - Gia Định đã tổ chức cơ quan chỉ đạo hai bộ phận: một bộ phận chuyên trách theo dõi, chỉ đạo phong trào chiến tranh nhân dân ngoại thành, một bộ phận đặc trách bám sát việc xây dựng và hoạt động của các lực lượng tự vệ vũ trang nội thành, các đội biệt động, quan hệ, giúp đỡ các ban quân sự cánh nội đô.

Trên toàn quân khu bắt đầu triển khai một cách đồng bộ các mặt công tác nhằm vào các việc chủ yếu: nghiên cứu toàn diện chiến trường cả đô thị, nông thôn, củng cố cơ quan tác chiến, quân báo, trực tiếp giúp đỡ các cấp ủy quận, huyện, hình thành hệ thống chỉ đạo - chỉ huy quân sự xuống đến xã, tạo thế du kích chiến tranh lan dần từ các vùng làm chủ (sau Đồng Khởi) đến các vùng sâu, vùng yếu, áp vào đô thị.

Từ sau Đồng Khởi của ta, địch đã rút ra nguyên nhân không thành công của công tác bình định dưới các hình thức “khu dinh điền”, “khu trù mật”, “ấp tự vệ” là do “hoạt động quân sự thiếu toàn diện, không có kế hoạch bảo vệ ấp xã lâu dài, khai thác nhân lực tại ấp quá sớm, cán bộ tham nhũng”. Trên cơ sở một chương trình nghiên cứu cẩn thận và tổng kết những kinh nghiệm trên, một “chương trình xây dựng hương thôn” mà cốt lõi là kế hoạch “ấp chiến lược” đã ra đời và trách nhiệm ngay trước khi nâng thành “quốc sách”.

Ở Gia Định, chương trình “ấp chiến lược” của địch được triển khai vào tháng 8 năm 1961, trong đó có xã Tân An Hội (Củ Chi) là nơi thí điểm. Từ tháng 11 năm 1961 diện thí điểm được mở rộng ra các nơi khác: ấp Đôn, ấp Nhất, xã An Phú Đông (Gò Môn), xã Long Kiển (Nhà Bè), xã Hiệp Bình (Thủ Đức), các xã Tân Hòa, Tân Nhật, Vĩnh Lộc (Bình Tân)… Cuối năm 1961, Ngô Đình Diệm, nhân danh “Tổng thống” đích thân về dự lễ khánh thành hai ấp thí điểm ở An Phú Đông và Long Kiểng.

Trước Tết âm lịch đầu năm 1962, địch ầm ĩ tuyên truyền về ấp chiến lược, đi giăng dây, cắm cọc… Sau Tết, chúng triển khai một cách quyết liệt quy mô trên toàn nông thôn Gia Định việc “bứng”, “hốt”, “gom”, “khoanh dân”. Lực lượng hỗ trợ bình định là các đơn vị chủ lực(2). Lực lượng chủ yếu trực tiếp gom dân là bảo an, dân vệ và cán bộ “bình định”. Những tên cao bồi, lưu manh, côn đồ được chọn vào những đội đi cào nhà. Nhiều thanh niên, học sinh, viên chức trong đô thị cũng bị bắt ra làm ấp chiến lược. Xe ủi đất, xe cơ giới được huy động để san ủi, đắp đê. Quần chúng bị bắt đốn tre làm hàng rào, vót chông…

Riêng ở nông thôn, địch chia 3 vùng, áp dụng 3 cách xây dựng ấp chiến lược: ven đô và vùng sâu để kiểm soát, thủ đoạn chủ yếu là khoanh tại chỗ, vùng tranh chấp thì vừa gom vừa khoanh, vùng căn cứ du kích thì dùng vũ lực để xúc hót, đồng thời triệt phá nhà cửa ruộng vườn để dân không thể trở lại sinh sống.

Từng bộ máy tổ ấp đã được sắp sẵn, ấp lập đến đâu có sẵn tề ngay đến đó. Các lực lượng bán vũ trang như thanh niên chiến đấu, phụ nữ cộng hòa là lực lượng trực tiếp bảo vệ ấp đồng thời để đôn lên thành bảo an hoặc tổ chức thành lực lượng cơ động ở xã, liên xã, quận.


(1) Một trấp trũng mênh mông ở đầu ngọn kênh Ba Ren, giồng Manh Manh, giồng Ông Bạn, tiếp giáp Đồng Tháp Mười, và vùng Mỏ Vẹt của Campuchia, nhà là những mái chòi có thể tháo lắp nhanh chóng, cơ động, nép trong các chùm dứa dại, lau sậy, nền ngấp nghé mặt nước. Mọi di chuyển đều phải bằng xuồng hoặc “quần đùi, lưng trần” long mình dưới nước.
(2) 2 tiểu đoàn của sư đoàn 7 ngụy xuống Bình Tân, một tiểu đoàn thuộc biệt khu thủ đô và lực lượng thuộc tiểu khu Bình Dương xuống Củ Chi, một trung đoàn của sư đoàn 5 ngụy xuống Thủ Đức, Dĩ An, một tiểu đoàn thủy quân lục chiến ngụy xuống Nhà Bè.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #93 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2012, 04:34:56 PM »

Trong khi địch đã triển khai chủ trương, lập ấp chiến lược rất khẩn trương và tàn bạo thì về phía ta, lãnh đạo và chỉ đạo chưa nhận rõ âm mưu thủ đoạn của địch nên không kịp thời và cụ thể. Tuy nhiên, chính sách phản dân hại nước của chúng đã gặp sức chống trả hết sức quyết liệt của nhân dân ngay từ đầu.

Những cuộc đấu tranh chống địch cào nhà, gom dân, phá hại tài sản diễn ra từng ngày ở Củ Chi, Bình Tân, Thủ Đức, Nhà Bè… nhiều đồng bào căm giận, tự đốt nhà mình trước mặt quân giặc. Nhiều bác nông dân xách dao, vác búa, vùng gậy, rượt lính, chém cán bộ bình định. Giằng co, xô xát, đổ máu.

Huyện Củ Chi là nơi địch gặp sức chống trả mạnh nhất nên việc triển khai ấp chiến lược có chậm hơn các nơi khác. Ở Phú Hòa Đông nổ ra cuộc biểu dương 500 người vây bót địch 2 ngày liền, đòi địch không được càn quét, bắn phá bừa bãi, để nhân dân đi lại làm ăn, đòi thường nhân mạng, thiệt hại cho người chết và người bị hương trong các vụ đàn áp. Hỗ trợ cho đấu tranh chính trị, các lực lượng vũ trang địa phương đánh thiệt hại 3 đoàn “bình định hương thôn”, buộc chúng phải co lại ở Phước Hiệp, An Nhơn Tây, Cây Bài, đánh tiêu hao 1 đại đội bảo an ở Trung An (tháng 6 năm 1961), đánh thiệt hại đồn An Nhơn Tây (ngày 30 tháng 8 năm 1961)… Nhiều tên tay sai đắc lực nhất ở các ban trị sự ấp chiến lược ở Củ Chi bị trừng trị. Số còn lại bỏ trốn hoặc hoang mang, co thủ. Để lấp chỗ trống và mị dân, địch tổ chức bầu cử tề xã ấp, nhưng không ai chịu ra làm. Bí quá, chúng chỉ định người bắt buộc phải làm và dùng mưu mẹo cài người của chúng vào làm nòng cốt. Có nơi ban trị sự liên tiếp bị trừng trị, địch đối phó bằng các bắt buộc người trong gia đình cách mạng ra làm.

Ở Bình Tân, một xe lộ nước và một máy bay lên thẳng của địch bị bắn cháy trong cuộc càn bình định tháng 6 năm 1961. Cuộc đấu tranh chống địch càn phá bình định ngày 7, ngày 8 tháng 8 năm 1961 của trên 1000 đồng bào xã Vinh Lộc diễn ra quyết liệt, được đồng bào các xã xung quanh hỗ trợ. Địch bắt bớ, trấn nước hàng trăm người, xua chó berger cắn xé chị em, nhưng không moi được những người lãnh đạo cuộc đấu tranh. Cuối cùng, trước áp lực của quần chúng đang tập hợp mỗi lúc một đông và có nguy cơ lan rộng, địch buộc phải thả hết người bị bắt và hứa giảm bớt bắn phá, lùng sục.

Cùng với việc lập “ấp chiến lược” ở nông thôn, từ tháng 2 năm 1962, địch bắt đầu thí điểu “khóm chiến lược” ở đô thị với ý định trong vòng một năm sẽ chia khoanh 1.700.000 dân nội thành Sài Gòn vào hơn 764 khóm. Theo kế hoạch này 8 quận nội đô vẫn được duy trì để kềm chặt dân chúng hơn nửa, chúng chia nhỏ phường, khóm, liên gia, nâng số phường từ 47 lên 65, số khóm T3 674 đến 764 và số liên gia từ 10.132 lên 10.672. Thêm 1 đại đội hoạt vụ và 4 biệt đoàn cảnh sát dã chiến được thành lập cùng với lực lượng cảnh sát và mạng lưới mật vụ tăng cường khống chế quần chúng, di dân, đánh phá, diệt cơ sở cách mạng.

Việc phòng thủ Sài Gòn - Gia Định của địch ngày càng chặt chẽ bằng các tiểu khu vùng ven, các căn cứ quân sự, các khu công giáo, các trại gia binh, lực lượng dân phòn… Liên kết các hoạt động của công an, mật vụ, cảnh sát nội đô với các tiểu khu vùng ven. Đường sá được mở rộng, đồn bót ken dày.

Tháng 2 năm 1962, tại Sài Gòn, Bộ tư lệnh Mĩ ở Nam Việt Nam MACV (Military Assistance Command Vietnam) do đại tướng Paul Harkins cầm đầu được thành lập thay cho cơ quan viện trợ quân sự Mĩ MAAG. Quân Mĩ trực tiếp chi viện cho quân ngụy về hậu cần, hỏa lực và cơ động. Các cố vấn Mĩ được phái xuống từng tiểu đoàn bộ binh và từng đại đội binh chủng kĩ thuật Mĩ(1).

13 phi đội máy bay lên thẳng và những thiết đoàn đầu tiên của Mĩ đến Sài Gòn. Chiến trường xuất hiện những chiến thuật “tân kì” của Mĩ: trực thăng vận, thiết xa vận. Tháng 2 năm 1962, trực thăng và và thiết giáp M.113 ra quân những trận đầu ở vùng Vườn Thơm (Bình Tân) và Củ Chi. Đồng bào chiến sĩ gặp bất ngờ, lúng túng. Ở Vươn Thơm, khi những chiếc máy bay lên thẳng sà thấp, chiến sĩ ta còn đứng nhìn, đến khi lính Mĩ và bọn công dân vụ nhảy xuống mới vội nhảy vào công sự chiến đấu.

Tháng 4 năm 1962 những kinh nghiệm và nguyên tắc cơ bản của “chiến dịch xây dựng hương thôn” được nâng lên thành “quốc sách chiến lược” và trong tháng 8 năm 1962, Diệm chính thức thông qua một “chương trình ấp chiến lược” do Robert Thompson, một chuyên gia người Anh làm cố vấn. Một bộ máy chỉ đạo từ trung ương xuống quận xã được hình thành bên cạnh Phòng ấp chiến lược của cơ quan quân sự MACV và Ủy ban viện trợ ấp chiến lược của tòa đại sứ Mĩ tại Sài Gòn. Quốc sách ấp chiến lược “là một mũi tên nhằm vào 3 mục tiêu nhưng địch xác định điều tối hậu của nó là làm sao cho mọi người dân trở thành thù địch của cộng sản”. “Quốc sách” mang tính toan diện với ảo tưởng giành dân, chiếm đất theo kiểu thực dân mới, không phải chiếm đất giành dân theo kiểu thực dân cũ đã lỗi thời; giành dân là “giành trái tim khối óc”… Cán bộ bình định cũng “ba cùng”, cũng giảng giải, lên lớp… hô hào “ấp chiến lược là thực hiện dân chủ pháp trị - dân tự quản, được hiến pháp bảo đảm, cộng đồng, đồng tiến, thực thi, xã hội công bằng, cải thiện dân sinh, tách cộng sản ra khỏi dân, xây dựng hạ tầng cơ sở Việt Nam Cộng hòa…”(2), nhưng rồi mọi việc lại diễn ra bằng súng đạn, xúc hốt thô bạo do cái gốc phản dân hại nước của “quốc sách”. Tuy nhiên, với quyết tâm và thủ đoạn bạo lực tập trung, bước đầu địch thu được những kết quả đáng kể. Cách mạng gặp khó khăn, lúng túng trước đòn phản kích mới của chúng sau Đồng Khởi.


(1) Năm 1960, cố vấn quân sự Mĩ ở miền Nam là 1077. Năm 1962 lên 10.906 tên, địch đã có 13 đại đội trực thăng, 5 đại đội máy bay trinh sát, oanh tạc, vận tải, 4 phi đội phản lực chiến đấu, tổng cộng 257 máy bay các loại, 45 thiết giáp. Năm 1963, số cố vấn Mĩ lên 16.300 tên.
(2) Trích trong tài liệu biên soạn của địch. Lưu trữ tại Phân viện lịch sử quân sự.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #94 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2012, 04:36:14 PM »

Tháng 9 năm 1962, Diệm rêu rao một phần tư trong số 113.00 ấp ở miền nam đã được tổ chức và sau đó địch còn đánh giá “Chương trình ấp chiến lược đã cho phép giành lại quyền chủ động từ tay cộng sản tại nông thôn và đạt tới tột đỉnh”(1).

Sau khi hình thành bộ máy kềm kẹp, địch bắt buộc tất cả các gia đình và cá nhân ntrong ấp chiến lược khai lí lịch, chụp hình và làm thẻ kiểm tra, trên cơ sở đó phân loại, phân biệt đối xử, khống chế những gia đình có liên quan đến kháng chiến, tiếp tục “đoàn ngũ hóa nhân dân” bằng các tổ chức phản động chủ yếu là “chi đoàn nhân dân”. Chúng bóp rồi lại xoa bằng cách nới lỏng một số luật lệ, “sinh hoạt văn hóa văn nghệ” ma thực chất là trụy lạc hóa lối sống, trước hết nhằm vào thanh niên nam nữ.

Trong thành phố, địch tổ chức tay chân lén lút đốt hàng loạt nhà ở các khu dân nghèo: Xóm Chiến, Khánh Hội, Bàn Cờ, Thị Nghè… rồi cho xây cất lại những khu nhà theo ý định của chúng vừa gọi là “ơn chánh phủ”, vừa kiểm soát được quần chúng lao động.

Sau Hội nghị mở rộng của Thường vụ Khu Ủy Sài Gòn - Gia Định (tháng 4 năm 1962), tháng 7 năm 1962 Khu ủy mở hội nghị chuyên đề về vấn đề chống phá ấp chiến lược. Hội nghị bàn bạc những việc quan trọng trong chỉ đạo: bám đất, bám dân, kết hợp ba mũi giáp công, kết họp trong ngoài để phá ấp chiến lược: xác định chống phá ấp chiến lược là nhiệm vụ vừa cấp bách vừa lâu dài, giằng co, quyết liệt, liên tục. Về biện pháp, hội nghị chỉ rõ, phải dựa chắc vào dân bằng cách “mang nắp hầm bí mật vào trong ấp chiến lược”, ra sức tranh thủ, phân hóa dân vệ, tề, binh sĩ địch và các gia đình binh lính địch, cài nòng cốt ta vào lực lượng xuất kích nhân dân tự vệ; hết sức chú ý phát triển tự vệ ngầm, du kích mật, bằng mọi cách làm tê liệt tai mắt địch; tạo và giữ mối liên hệ trong ngoài ấp, phối hợp lực lượng chính trị quần chúng với lực lượng võ trang, phối hợp đấu tranh trong ấp với tấn côn quân sự ngoài vào, đẩy mạnh mũi vũ trang bằng hoạt động ba thứ quân, kết hợp khéo léo với chính trị và binh vận.

Giữa hai hội nghị trên, tháng 3 năm 1962 đơn vị bộ đội tập trung quân khu K17 được bổ sung, quân số lên trên 300 và biên chế thành đoàn Quyết Thắng(2), phương hướng xây dựng tuyền thống “đi là chiến thắng, đánh là dứt điểm”. Hơn 1 tháng sau, vào ngày 7 tháng 7 năm 1962 một bộ phận đoàn Quyết Thắng tiêu diệt 1 đại đội bảo an ở Rạch Mía (Củ Chi), thu 10 súng.

Thực hiện quyết tâm “mang nắp hầm bí mật vào tận ấp chiến lược”, các Đảng bộ, cấp ủy đều có kế hoạch phát triển thực lực cách mạng tại chỗ, kể cả lực lượng võ trang bí mật bên trong ấp chiến lược. Ở Tân Thạnh Tây (Củ Chi), chi ủy phân công 2 chi ủy viên và 1 du kích trang bị 3 súng về bám sát khu địch tập trung dân, 7 đêm liền các đồng chí bò vào sát bót địch, phục kích bắn tỉa. Địch buộc phải phân tán đi nằm rải rác bên ngoài. Lợi dụng cơ hội đó, các đồng chí đột nhập vào ấp chiến lược, móc nối với một cơ sở cũ của ta bị địch lùa vào ấp trước kia, hướng dẫn cách đào hầm bí mật. Đã có hầm, các đồng chí bám luôn trong ấp, tiếp tục móc nối với các cơ sở cũ khác, phát triển cơ sở mới, tổ chức tự vệ mật chỉ đạo mọi việc ngay tại chỗ. Thực tế việc chống phá ấp chiến lược đã diễn ra như điều đã dự đoán: giằng co, lâu dài, quyết liệt. Địch xây ta phá, địch lại xây… Quyết liệt nhất là ở các địa bàn xung yếu: Bình Mĩ, Xuân Thới Thượng, Tân Xuân, Thạnh Lộc, Tân Nhựt, Hiệp Phước, Phước Lộc, Tân Thạnh, Tân Kì Một, Tân Kì Hai, Tân Đồng Hiệp, Long Trường, Phú Hữu… Nhiều đêm, có lực lượng vũ trang đột nhập vào ấp, quần chúng nổi mõ khua thùng, bí mật chỉ bắt tề, điệp, ác ôn rồi hè nhau cắt rào kẽm gai, nhổ cọc sắt, đốt bãi chông, cuốc vỡ bờ đê…, sáng ra lại chủ động kéo đi giáp mặt đấu lí với địch. Chúng lại tung quân dồn đồng bào trở vô ấp, dựng lại hàng rào, đắp lại bờ đê. Ta lại tổ chức đột ấp, lực lượng tại chỗ lại nổi dậy phá ấp. Ở An Bình, Long Bình, Tam Bình, Long Trường, Long Phước (Thủ Đức), lực lượng du kích vào ấp, hàng nghìn đồng bào xé bỏ giấy kê khai gia đình, đốt giấy căn cước, rồi kéo lên quận “báo cáo” “Việt Cộng về cưỡng bức, các ông không giữ được an toàn cho ấp, chúng tôi phải trở về vườn cũ…”. Địch muốn thẳng tay đối phó bằng súng đạn, bằng còng trói, nhưng lí lẽ sắc bén, ứng phó linh hoạt của đồng bào đã làm cho chúng lúng túng, bất lực. Ở Củ Chi, nhân dân sống chết quyết không rời đất rời nhà của mình, điển hình như các ấp Xóm Trại, Giàn Bầu, Gò Nổi, Ba Sòng, Gò Trảng, Gò Bình, Bàng, Sa Nhỏ, Đồng Lớn… Ở Tân Thạnh Tây và nhiều nơi khác đồng bào nằm cản xe ủi đất của địch. Ông Hai Long ở ấp Đồng Lớn nhà bị địch đốt hơn chục lần vẫn không chịu vào ấp chiến lược Trung Hòa mà khoét một hầm sâu dưới gốc tre làm chỗ ở, cùng du kích sống chết tại chỗ. Hai ông lão ở Trung Lập nói với bọn lính đi cào nhà: “Ở đây làm đã không đủ ăn, vô ấp chiến lược lấy gì mà ăn? Nói thiệt với mấy chú, già này không đi đâu cả. Nếu mấy chú dỡ nhà thì xin nói trước… đứng trách chúng tôi!”. Bọn lính vẫn cứ leo lên dỡ, hai ông liền bật quẹt châm lửa. Chúng từ trên nóc vội vàng tuột xuống, chạy luôn. Đồng bào xã Bình Lợi (Bình Tây) tổ chức biểu tình lên dinh quận trưởng Đức Hòa (Hậu Nghĩa) đòi chấm dứt bắn phá bừa bãi, bắt bớ vô cớ. Địch lấy sơn viết lên áo, lên nón của đồng bào hai chữ “chống cộng”, đồng bào cởi áo, vứt nón rồi tràn vào dinh quận. Chúng buộc phải hứa chấn nhận yêu sách.

Ở ấp chiến lược Mũi Chùa (Củ Chi) du kích bên ngoài phối hợp với lực lượng vũ trang mật bên trong đánh tan đội dân vệ và một bộ phận bảo an, nhân dân nổi dậy phá ấp trở về quê cũ.

Đồng bào xã Vĩnh Lộc (Bình Tân), được chi bộ lãnh đạo tại chỗ, đấu tranh chống gom dân giằng co, quyết liệt, lúc ngấm ngầm rồi bùng nổ kéo dài suốt năm 1962 dẫn đến đổ máu; địch vẫn không làm sao dồn dân được, dù cái còn lại chỉ là những cái chòi, những cái hầm.

Trong đấu tranh giằng co, quyết liệt, du kích mật, tự vệ mật đã phát triển và có vai trò lớn trong diệt ác, phá kềm, một nội dung lớn trong đấu tranh “phá ruỗng ấp chiến lược”. Hầu hết các xã có tiểu đội tập trung. Phối hợp với địa phương, lực lượng tập trung quân khu có khả năng diệt đại đội địch.


(1) Hồi kí 30 năm CIA của W. Colby, cựu giám đốc tình báo Mĩ.
(2) Cuối năm 1961, quân khu đổi tên C13 thành C62 với hàm ý chuẩn bị cho nhiệm vụ quân sự năm 1962, sau đó để giữ bí mạt phiên hiệu, lấy bí danh là K17. Từ C13 đến đoàn K17 Quyết Thắng, đơn vị đã đánh 33 trận từ cấp tiểu đội đến cấp đại đội, diệt và làm bị thương 1564 tên địch, bắt sống 20 tên, vận động trên 1000 thanh niên tòng quân
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #95 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2012, 04:37:24 PM »

Tháng 9 năm 1962, du kích, bộ đội địa phương Củ Chi vũ trang tuyên truyền 7 lần, 3 lần tập kích đồn bót, 9 lần phục kích giao thông, hai lần đánh càn, diệt và làm bị thương 108 tên địch (cố vấn Mĩ), bắt sống 10 tên, phá 7 ấp chiến lược. Du kích Nhuận Đức bắt sống một tàu giặc chở hàng trên sông Sài Gòn.

Trong thế giằng co và địch đang cố lấn tới, những chủ trương và biện pháp đúng đắn của Khu ủy về xây dựng lực lượng và chống phá ấp chiến lược đã tạo được một bước chuyển cả về thế và lực ở vùng nông thôn Gia Định ngoại thành Sài Gòn. Cho đến khi địch tự cho là đã đạt kế hoạch bình định lập “ấp chiến lược” thì trên cục diện toàn miền Nam cũng như trên chiến trường, ven đô Sài Gòn đã xuất hiện những dấu hiệu chựng lại.

Ngày 20 tháng 11 năm 1962, Thường vụ Khu ủy có chỉ thị bổ sung về chống phá ấp chiến lược. Chỉ thị xác định đây là một cuộc đấu tranh toàn diện, phải kết hợp chặt chẽ các mũi đấu tranh quân sự, chính trị, binh vận, kinh tế; kết hợp các hình thức hợp pháp, nửa hợp pháp, bất hợp pháp, công khai, nửa công khai, bí mật; kết hợp phong trào nông thôn và phong trào ở đô thị, phong trào ở vùng ta và phong trào vùng địch. Trong chỉ đạo phải nắm vững quan điểm vừa cấp bách vừa lâu dài, tính chất giằng co ác liệt, không được chủ quan nôn nóng, đánh địch từng bước, từng mặt, làm chủ từng phần, từng thời gian, đi đến làm thất bại hoàn toàn âm mưu của địch. Chống phá ấp chiến lược không thể tách rời nhiệm vụ đưa phong trào vùng yếu lên; yêu cầu chủ yếu là phá thế kềm kẹp của địch, phải đưa vào lực lượng võ trang chính trị quần chúng bên trong là cơ bản, lực lượng bên ngoài và bên trong phối hợp hỗ trợ nhau; chống và phá là hai mặt của một vấn đề có quan hệ khăng khít, càn quét và lập ấp chiến lược là hai âm mưu song song và khăng khít nhau của địch, vì vậy đánh càn và chống phá ấp chiến lược là hai mặt kết hợp hỗ trợ nhau; tấn công phải đi đôi với xây dựng, tấn công làm thất bại âm mưi địch đồng thời phát triển thực lực chính trị, quân sự của ta. Chỉ thị phân ra 3 loại ấp chiến lược để vận dụng biện pháp, nhiệm vụ, yêu cầu chống phá thích hợp: loại 1 gồm những ấp thuộc vùng địa bàn chiến lược của địch, loại 2 gồm những ấp thuộc vùng không phải địa bàn chiến lược của địch; loại 3 gồm các ấp ở sâu trong nông thôn đã phá thế kềm kẹp.

Thấm thoát kế hoạch Staley - Taylor 18 tháng đã hết hạn. Mặc dù thu được những kết quả đáng kể, nhưng trên toàn cục kế hoạch đó không đạt được trên cả hai mặt “bình định” và “tác chiến, vận dụng chiến thuật”. Trong khi đó thì năm 1963 tại xã Tân Phú huyện Cai Lậy tỉnh Mĩ Tho. Trong tài liệu “kế hoạch AN 16” năm 1963, địch thừa nhận “trận Ấp Bắc cùng các trận đánh lớn của cộng sản đã gây thiệt hại quan trọng cho quân đội Việt Nam Cộng hòa về người và trực thăng, đã tạo được tiếng vang trên quốc tế và chứng tỏ cộng sản đang phát triển mạnh”. Trận Ấp Bắc không chỉ gây thiệt hại cho quân đội Sài Gòn về người, trực thăng, thiết giáp, điều quan trọng hơn là nó chứng minh khả năng các lực lượng võ trang giải phóng đánh bại ngay từ đầu chiến thuật tân kì của Mĩ “trực thăng vận” và “thiết xa vận”. Trận Ấp Bắc là dấu hiệu phá sản của chiến lược chiến tranh đặc biệt. Trên từng khu vực, quyền chủ động chiến trường đã lần lần thuộc về các lực lượng cách mạng. Bộ chỉ huy MACV buộc phải bổ sung, kéo dài kế hoạch bình định miền Nam 18 tháng bằng một kế hoạch “tổng tấn công” giành thắng lợi quyết định trong năm 1963. Bộ Tổng tham mưu ngụy cụ thể hóa và bắt đầu thực hiện từ tháng 2 năm 1963. Mục tiêu của kế hoạch này là huy động mọi lực lượng và phương tiện của bộ máy chiến tranh trong đó gồm cả bộ máy kềm kẹp các cấp, mở hoạt động dài ngày, toàn diện nhằm “bình định” cho được nông thôn, “tiêu diệt toàn bộ tổ chức quân sự và chính trị của cộng sản, kiểm soát toàn bộ lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa”. Trong toàn bộ kế hoạch thì biệt khu Sài Gòn được giành ưu tiên xây dựng các ấp chiến lược vành đai. Đúng là kế hoạch lớn, quyết tâm cao, xây dựng trên cơ sở nhận thức, đánh giá cao về khả năng của đối phương của chính MACV lúc đó: Cộng sản còn có thể tiếp tục mức độ chiến tranh như hiện nay bằng cách tiếp tục du kích chiến xen kẽ đánh tập trung, làm chậm trễ chương trình ấp chiến lược và xâm nhập thêm người và vũ khí để phát triển lực lượng, khai thác một cuộc chính biến (theo tài liệu kế hoạch “tổng tấn công” của MACV). Kế hoạch “tổng tấn công” được triển khai lại đụng ngay một cao trào “Thi đua Ấp Bắc” mà Trung ương Cục miền Nam vừa phát động. Thường vụ Khu ủy kêu gọi mọi địa phương, mọi đơn vị, mọi người học Ấp Bắc và ra quân với khí thế Ấp Bắc. Cho đến lúc này, trong hầu hết các ấp chiến lược ở nông thôn Gia Định đều có đảng viên, đoàn viên, lực lượng nòng cốt, hội viên giải phóng và lực lượng vũ trang mật của cách mạng.

Với cố gắng rất lớn, trong 3 tháng đầu năm 1963, địch có hạn chế sự phát triển thế và lực của đối phương trên chiến trường, có thu được một phần kết quả của chương trình bình định lập ấp chiến lược. Nhưng “bên ngoài chương trình bình định lập ấp chiến lược có vẻ tiến triển tốt” thì bên trong “có vài dấu hiện rạn nứt đáng ngại”(1).

Ở Tân Bình, Mĩ Diệm cho tên tình báo CIA Đinh Xuân Hảo đội lốt linh mục dẫn quân ngụy vào cướp đất của nhân dân tại chỗ để đem dân công giáo từ Cái Sắn, Hố Nai về chiếm ngụ tạo thành hàng rào thịt bảo vệ sân bay Tân Sơn Nhất. Dưới sự lãnh đạo của đảng bộ địa phương, cuộc đấu tranh chống địch đuổi nhà chiếm đất thu hút cả đồng bào Lương, giáo, gia đình binh sĩ ngụy. Cứ ban ngày địch càn ủi, dựng nhà, ban đêm đồng bào lại phá đốt. Sự việc như vậy diễn ra đến hàng chục lần. Ở Tân Sơn Nhất, đồng bào chống trả, xô xát với hàng trăm binh lính, nhân viên ngụy quyền đến đuổi nhà. Cuộc biểu tình chống đuổi nhà ngày 4 tháng 1 năm 1963 (gần Tết âm lịch) tập trung hàng ngàn người gồm cả đồng bào di cư năm 1954, một số linh mục và gia đình binh sĩ ngụy. Những người bị đuổi nằm lăn ra đường, gào khóc, cản xe địch. Một cụ già di cư uất đến mất trí, dồn cả vợ con vô nhà châm lửa đốt và cầm dao xông vào đám giặc chém tới… Bước đầu địch không thực hiện được ý định.

Lực lượng du kích bên ngoài và du kích mật đều phát triển đến cuối tháng 4 năm 1962, riêng ở Bình Tân, Củ Chi, Thủ Đức, Gò Môn số du kích mật đã lên đến 575 người. Trung bình mỗi ấp có từ 1-2 tổ, cao nhất đến 6, 7 tổ. Lúc cao nhất ở ấp chiến lược Trung Hòa có 7 tổ, 20 người, ấp chiến lược Bàu Tre có 6 tổ 16 người. Mỗi tổ thường có 3 người, mỗi đội viên chỉ được biết tổ trưởng, trang bị gọn nhẹ. Khi có triệu chứng đội viên nào bị lộ thì lập tức đội viên đó được bố trí đưa ngay ra vùng căn cứ làm nhiệm vụ mới. Sự phối hợp trong ngoài tấn công địch hỗ trợ cho nhân dân nổi dậy phá ấp chiến lược ngày càng phát triển. Năm 1963, ở Hóc Môn, du kích mật phối hợp lực lượng vũ trang bên ngoài tấn công địch hỗ trợ nhân dân nổi dậy phá rã các ấp chiến lược Xuân Thới Đông, Xuân Thới Thượng. Đội quân tóc dài không chỉ là lực lượng đấu tranh chính trị mà còn là một bộ phận quan trọng của lực lượng võ trang bí mật tại chỗ. Năm 1963 huyện nào cũng có lực lượng nữ du kích. Tiểu đội du kích đầu tiên của Củ Chi lập năm 1963 do chị Nguyễn Thị Nhỡ chỉ huy, được giao nhiệm vụ hoạt động trong vùng địch kiểm soát. Trẻ em cũng rất hăng hái đánh giặc. Ở Vĩnh Lộc (Bình Tân), Trung An (Củ Chi), mỗi xã có một đội du kích thiếu niên. Em Chàng để lựu đạn trong lon sữa bò treo ở cổ trâu giả làm chuông, bất ngờ “giật chuông” ném chết hai tên ác ôn. Em Thông thường giấu lựu đạn trong giỏ bắt cá, “ra quân” nhiều lần giết chết và làm bị thương hàng chục tên giặc. Em Trần Văn Châm với khẩu “côn” trừng trị tên ác ôn Chưng giữa ban ngày tại chợ Phước Vĩnh An…

Các lão ông, lão bà lực lượng hăng hái nhất trong các công việc vót chông, đào hầm, rào làng, đặt cạm bẫy, hậu cần tại chỗ…


(1) Nhận xét của Dave Richard Palmer trong cuốn Tiếng kèn gọi quân - NXB Thông tin lí luận Hà Nội, 1987 - tr. 55.
« Sửa lần cuối: 17 Tháng Tư, 2012, 06:49:23 AM gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #96 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2012, 04:37:57 PM »

Theo đà chiến tranh nhân dân đang phát triển, các lõm du kích, tiếp tục hình thành và mở rộng trên địa bàn nhiều huyện căn cứ du kích áp sát đô thị như Vườn Thơm bà Vụ, Tam Tân (Bình Tân), Hiệp Phước (Nhà Bè), Bưng Sáu xã (Thủ Đức), Trung An, Tân Phú Trung (Củ Chi), Hố Bần (Quận 8), Rừng Sác (Quảng Xuyên)…

Ban quân báo (mật danh H2) của quân Sài Gòn - Gia Định (mật danh T4 bao gồm cả nội ngoại thành Sài Gòn - Gia Định) được xây dựng từ năm 1961 đang phát triển thành tổ chức nắm địch rất đắc lực song song với phát triển lực lượng chiến đấu. Đến giữa năm 1962 ở nội thành, các cánh và quân khu đã xây dựng được 40 tổ võ trang làm nguồn tổ chức và bổ sung cho các đội biệt động. Việc tăng cường kềm kẹp của địch không làm giảm được số lực lượng các cuộc đấu tranh của công nhân và lao động lẫn số người tham gia. Theo sơ kết của Bộ lao động Sài Gòn, so với năm 1961 các cuộc đấu tranh năm 1962 (324) đã tăng lên 37, số người tham gia tăng lên 20.802 (103.032 người năm 1961, 123.834 người năm 1962). Những trận đánh lẻ diệt cố vẫn Mĩ trên đường phố gia tăng theo đà gia tăng của cố vẫn Mĩ vào miền Nam, 9 tháng đầu năm 1962 có 25 cố vấn Mĩ bị giết và bị thương cả bằng lựu đạn, dao cạo, búa, miểng ve chai… Các nữ chiêu đãi viên, công nhân lái xe tắc xi, xích lô trừng trị Mĩ trong quán rượu, trên xe, trong rạp hát, ngoài đường. Một anh xích lô tự chế kim tẩm độc giết chết 4 cố vấn Mĩ. Địch phòng vệ ngày càng nghiêm ngặt, đánh Mĩ tại sào huyệt không dễ, nhưng quyết tâm của chiến sĩ ta rất cao. Trước trận tấn công nhằm diệt 4 cố vấn Mĩ ở khách sạn gần rạp Nguyễn Văn Hảo, một chiến sĩ biệt động 4 lần xuất trận về không, lần thứ 5 có cán bộ kèm mới thực hiện ý định. Từ đó, chiến sĩ ta ngày càng dạn dày. Chính người đội viên 4 lần ra quân hụt đã tham gia đáng thẳng vào một cơ quan quân sự Mĩ ở Sài Gòn, gây thối động lớn.

Ngày 24 tháng 5 năm 1962, tại Sài Gòn, Mĩ Diệm mở phiên tòa xét xử các anh Lê Hồng Tư, Lê Quang Vịnh, Lê Văn Thành và 9 đội viên quyết tử độ vũ trang Thành đoàn. Sau một thời gian tra tấn không khai thác được gì, địch dùng phiên tòa này để uy hiếp tinh thần của giới trí thức và kềm kẹp chặt hơn nữa đối với học sinh, sinh viên, vì vậy chúng mời rất nhiều hiệu trưởng, giáo sư các trường trung học, đại học Sài Gòn đến dự. Trước phiên tòa, đại tá Lê Văn Khoa, “ủy viên chính phủ” răn đe: “nếu các anh còn để học sinh, sinh viên hoạt động thì lần sau, tôi mời các anh đến đây không phải với tư cách nhân chứng!”. Các anh Lê Văn Thành, Lê Hồng Tư, Lê Quang Vịnh đã biến phiên tòa thành diễn đàn vạch tội kẻ thù trước 15.000 quần chúng Sài Gòn - Gia Định đang có mặt. Địch tuyên án tử hình anh Lê Hồng Tư, Lê Quang Vịnh, Lê Văn Thành, Huỳnh Văn Chính. Lập tức trên vành móng ngựa, 8 cánh tay giơ cao, vang lên tiếng hô “đả đảo luật phát xít của ngụy quyền miền Nam”, “đả đảo phát xít”, “đả đào đàn áp”. Bọn quân cảnh ập vào, đẩy các anh lên xe. Trên suốt các đường phố Sài Gòn mà xe đi qua, các anh hát vang bài ca “Giải phóng miền Nam”. Những người dự phiên tòa và nhân dân Sài Gòn vô cùng khâm phục những người thanh niên yêu nước.

Ngay sau đó, phong trào chống “Vụ án 24-5” phát triển mạnh và rộng. Suốt một tuần lễ, truyền đơn xuất hiện khắp các trường Phan Sào Nam, Nguyễn Văn Khuê, Hồng Lạc, Việt Nam học đường và nhất là ở trường Văn Lang, nơi anh Lê Hồng Tư đã học. 8.000 học sinh và đồng bào Tân An - Chợ Lớn biểu tình phản đối vụ án.

Trước khí thế mạnh mẽ của phong trào chống “Vụ án 24-5”, ngụy quyền phải giảm án tử hình cho các anh Lê Quang Vịnh, Lê Văn Thành, Huỳnh Văn Chính. Riêng với anh Lê Hồng Tư địch vẫn giữ nguyên án, nhưng không dám thi hành, sau đó chúng đày tất cả ra Côn Đảo.

Ngày 26 tháng 10 năm 1962 nhân dịp “quốc khánh” nền “đệ nhất cộng hòa”, địch tổ chức một cuộc hội chợ, triển lãm “thành tích của quân lực Việt Nam Cộng hòa” trước tòa đô chính Sài Gòn. 3 chiến sĩ biệt động đội 139, trong đó có 1 nữ cải trang thực hiện trận đánh lựu đạn xuất sắc ngay tại hội chợ. Tên thiếu tá ác ôn Phan Bội Ngọc đang thuyết trình chết tại chỗ, hai tên ngụy khác bị thương nặng, trong đó có trưởng phòng mật vụ. Địch dẹp luôn cuộc triển lãm ngay ngày hôm ấy.

Cuối tháng 12 năm 1962 đầu năm 1963 là những ngày cao điểm của những đợt đánh lẻ diệt Mĩ của biệt động ở nội thành; nổi bật có các trận diệt 6 cố vấn Mĩ ở bến Bạch Đằng, trận tấn công bằng lựu đạn diệt 6 cố vấn Mĩ ở gần viện Ung thư và Ngã tư Bảy Hiền, trận diệt 10 cố vấn Mĩ ở biệt thự góc đường Trương Tấn Bửu - Ngô Đình Khôi, trận diệt 7 cố vấn Mĩ ở biệt thự góc đường Võ Tánh - Thoại Ngọc Hầu… Mỗi trận ra quân chỉ một vài chiến sĩ nhưng luôn luôn gây bất ngờ và căng thẳng đối với cố vấn Mĩ ở Sài Gòn.

Một chiến sĩ của đội biệt động 65 làm công nhân trong sân bay Tân Sơn Nhất bí mật đặt chất nổ vào 9 trong 10 bồn xăng (bồn thứ 10 anh không đặt vì nghĩ đến sinh mạng của số công nhân ngủ cạnh đó), thiêu hủy gần nửa triệt lít xăng.

Tháng 2 năm 1963 quân ta đánh vào trại lính Mĩ ở số 31 đường Cao Thắng. Xung quanh trại có tường cao bao bọc, một chiến sĩ đội 65 bí mật trèo lên một lầu cao kế cận, từ đó ném lựu đạn vào. Lựu đạn rơi trúng cụm 5 sĩ quan Mĩ đang ngồi trò chuyện, không tên nào sống sót. Nghe tiếng nổ, chị chủ nhà vừa bước ra đã thấy một người từ trên lầu cao leo ống dẫn nước tụt xuống… Thế là đã rõ, chị chỉ mìm cười rồi một tay chỉ về hướng ngõ phía sau, một tay thọc vào túi lấy 50 đồng đưa cho người chiến sĩ thầm bảo: mau mau ra thuê xe mà thoát khỏi khu vực này. Không có hành động “tự nhiên mà nhập cuộc” như vậy của bất kì người dân bình thường nào, chiến sĩ ta sẽ rất khó thoát khỏi vòng vây của địch sau tiếng nổ.

Cho đến lúc này, tác chiến của biệt động vẫn còn ở hình thức “ăn lẻ” chủ yếu bằng lựu đạn, nhưng đó là cơ sở để nâng lên những trận đánh bằng chất nổ với khối lượng tập trung.

Bước chuyển đó cũng phải trả bao nhiêu lần “đi có về không”. Lần thứ nhất diễn ra ở quán Bamboo - nơi tụ tập ăn uống của giặc Mĩ gần sân bay Tây Sơn Nhất, do thiết kế khối nổ không đạt yêu cầu kĩ thuật. Lần thứ hai diễn ra ở một nơi tập trung nhiều cố vấn quân sự Mĩ trong bộ chỉ huy của viên tướng Harkins. Người lái xe cho một sĩ quan cao cấp trong bộ chỉ huy này - cơ sở của ta - có nhiệm vụ được giao đã lái chiếc xe có thiết bị hàng chục kí thuốc nổ vào đậu giữa tầng dưới của cư xá, chen giữa những chiếc xe khác. Sau khi bóp ngồi nổ hẹn giờ, anh ra ngoài “tìm chỗ ăn tối”. Nhưng “giờ G” đã lặng lẽ trôi qua! Lại một lần nữa lỗi do thiết bị. sĩ quan Mĩ chết hụt nhưng ta cũng rút được bài học.

Vượt qua những cuộc kiểm tra, lùng sục và hệ thống ngăn chặn gủa địch giữa trong và ngoài, các chiến sĩ biệt động đặc công vẫn bám chặt trận địa đường phố, bám chặt vùng ven, dựa chắc vào trong dân. Các lớp tập huấn bí mật mang tên “Rừng xanh”, “Rừng già”… năm bảy ngày, sáu đến mười người, liên tiếp được mở, có lớp ở ngay trong nhà dân. Cán bộ, chiến sĩ từ nội thành ra vùng ven bàn bạc công việc trong vài giờ, một buổi, một ngày rồi trở vô. Nhiều mẹ, nhiều chị, nhiều em gái ở nông thôn, ở nội thành được huấn luyện tại vùng ven để trở thành những chiến sĩ giao liên, được gọi là những “tên lửa” với nhiệm vụ “phóng” vào, “xẹt” ra. Chỉ thị, mệnh lệnh, thư từ, báo cáo, vũ khí và người theo đó qua mạng lưới công an, mật thám và các trạm gác của địch từ ngoài vào, trong ra.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #97 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2012, 04:38:40 PM »

Trong điều kiện địch quyết tâm theo dõi, ngăn chặn, giữ được thế liên hoàn trong ngoài thành làm một cuộc chiến đấu rát dũng cảm, gian khổ, mạo hiểm của các chiến sĩ liên lạc, trinh sát. Nhằm đảm bảo sự chỉ đạo kịp thời và phát triển thực lực cách mạng nôi đô, một hệ thống giao liên vận chuyển công khai và mạng giao bưu vận du kích (sau chuyển thành quân bưu) được thiết lập rất công phu và thông minh sáng tạo.

Tháng 3 năm 1963, ta bố trí cho một nữ trinh sát thường xuyên ra vào thăm “người yêu” là đồng chí Mười Luân (Tư Bảng), cơ sở nội tuyến đội 65 trong vai nhân viên của bộ phận điều khiển phi hành trong sân bay Tân Sơn Nhất để nắm tình hình và tiếp cận mục tiêu. Sau khi nắm chắc được quy luật địch, ngày 29 tháng 3 năm 1963, nữ đồng chí này khéo léo ngụy trang, đã đem được cho đồng chí Mười Luân một trái mìn hẹn giờ. Hai người với cái túi du lịch đựng trái mìn, sóng đôi đến khu vực cố vấn Mĩ đang ngồi trong phòng đợi, chuẩn bị lên chiếc máy bay Honolulu đi San Francisco, bí mật đánh tráo một chiếc túi du lịch. Chiếc túi du lịch “đặc biệt” đã theo đoàn cố vấn Mĩ khoảng 100 tên lên chiếc máy bay Boeing. Theo chỉ số đồng hồ đã được điểm hỏa, mìn sẽ nổ khi chiếc máy bay đang băng trên biển, và như vậy địch sẽ coi đó là một tai nạn để những trận đánh tương tự sẽ còn tiếp diễn. Tiếc thay, máy bay đã xuống sân bay San Francisco, hai phút sau mìn mới nổ. Theo tin phương Tây: máy bay cháy, 2 tên Mĩ chết, một số bị thương, phần đông các sĩ quan đã rời khỏi máy bay nên thoát chết. Sau này ta mới biết nguyên nhân của sự trục trặc là vì ta không tính đến việc áp suất hạ thấp ở trên cao, do không khí loãng, đồng hồ tạm “chết” cho đến lúc máy bay xuống thấp. Mặc dù vậy, sau trận đánh này, biệt động Sài Gòn được ca ngợi là chẳng những đánh Mĩ trên quê hương mình mà còn “truy kích” chúng xuống tận sào huyệt.

Ngày 25 tháng 4 năm 1963, lúc 10 giờ sáng, 4 chiến sĩ biệt dộng 159 (có 1 nữ) trong các vai sĩ quan ngụy, gái làng chơi và chủ bán bánh mì tiến công một cơ quan quân sự Mĩ ở cuối đường Trần Hưng Đạo. Từ hai hướng, 2 quả mìn định hướng “thổi” vào mục tiêu, diệt một số sĩ quan cao cấp Mĩ. Trận này, lần đầu tiên ta cho xuất trận những đội viên được huấn luyện công phu gọi là những “chim cắt” từ vùng ven vào kết hợp với cơ sở bên trong. Trận đánh dấu một bước phát triển mới của tác chiến biệt động, mở ra khả năng đánh những trận thối động trong đô thị bằng những tổ biệt động có trình độ kĩ thuật cao.

Hoạt động võ trang nội đô phát triển, làm cho quần chúng phấn khởi, tự tin; lực lượng đấu tranh chính trị tăng. Đặc biệt là lực lượng biệt động, tự vệ võ trang phát triển từ nguồn thanh niên tại chỗ.

Chế độ độc tài gia đình trị Ngô Đình Diệm ngày càng lung lay trước phong trào cách mạng, thêm vào đó là cuộc đấu đá tranh ăn giữa các đầu sỏ tay sai bột phát mạnh từ cuộc đảo chính hụt năm 1961 đến cuộc ném bom “dinh tổng thống” của một nhóm sĩ quan ngụy. Trước nguy cơ sụp đổ không thể tránh khỏi, chế độ Diệm lại tự thúc đẩy nguy cơ đó thành hiện thực nhanh hơn qua chính sách đối lập với Phật giáo. Từ năm 1959, đã có phát triển chống Diệm, chống Mĩ trong Phật giáo. Sau khi củng cố được địa vị, Diệm càng tỏ ra thù địch với Phật giáo qua việc cho tay chân phá phách chùa chiền, bắt bớ tăng ni Phật tử, vu cáo Phật giáo “tiếp tay cho cộng sản” để chuẩn bị đặt Phật giáo ra ngoài vòng pháp luật như đã làm đối với Cộng sản, trong khi Thiên chúa giáo lại được đưa lên hàng quốc đạo. Mâu thuẫn giữa Phật giáo và Mĩ Diệm xuất phát từ mâu thuẫn dân tộc vì đa số nhân dân ta theo đạo Phật. Tuy nhiên, Phật tử ở Sài Gòn chưa có dịp thể hiện được sức mạnh của mình bởi một số người lãnh đạo ở Viện hóa đạo có phần nào trông chờ sự thay đổi chính sách của người Mĩ. Một đám lửa đang âm ỉ, chỉ chờ có dịp là bùng cháy. Ngày 6 tháng 5 năm 1963, trước lễ Phật đản 2 ngày, Diệm đã làm một việc đổ dầu vào đám lửa đỏ: “tổng thống” Diệm điện khẩn cấp ra Huế bắt hạ cờ Phật giáo và cấm treo cờ Phật giáo trên toàn miền Nam trong ngày Phật đản ngày 8 tháng 5 năm 1963 với lí do “quá sát với kỉ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ của Cộng sản!”.

Ngày 8 tháng 5 năm 1963, ngụy quyền tại Thừa Thiên lại cho cảnh sát nổ súng vào các tín đồ Phật giáo đang tập trung ở khu vực đài phát thanh Huế, làm 8 người chết, 14 người bị thương. Thế là “trận lửa Phật giáo” đã bùng cháy, bắt đầu từ Huế, nhanh chóng lan vào Sài Gòn và nhiều đô thị, nông thôn khác ở miền Nam.

Ngày 13 tháng 5 năm 1963, một phái đoàn Phật giáo gồm tăng ni, tu sĩ cao cấp kéo đến dinh Gia Long, giáp mặt Diệm, yêu cầu rút bỏ lệnh cấm treo cờ Phật. Ngày 21 tháng 5 năm 1963, tại chùa Ấn Quang, các vị thượng tọa tổ chức lễ cầu siêu cho những Phật tử bỏ mình ở Huế ngày 8 tháng 5 năm 1963. Sau đó gần 1.000 tăng ni rước linh cữu từ chùa Ấn Quang đến chùa Xá Lợi và lần lượt tới các chùa khác trong thành phố. Ngày 26 tháng 5 năm 1963 Tổng hội Phật giáo đề xuất 5 yêu cầu và tỏ thái độ nếu Diệm không chấp nhận thì những người lãnh đạo Phật giáo cùng toàn thể tăng ni sẽ tuyệt thực 48 giờ, bắt đầu từ 14 giờ ngày 30 tháng 5 năm 1963. Năm yêu cầu đó là: bãi bỏ lệnh cấm treo cờ Phật giáo; thừa nhận đạo Phật; Phật giáo và các tín đồ Phật giáo có địa vị như Thiên chúa giáo; cho phép các tín đồ Phật giáo được tự do truyền giáo; phải bồi thường cho nạn nhân và các gia đình của họ trong cuộc khủng bố ở Huế ngày 8 tháng 5; trừng trị các quan chức chịu trách nhiệm việc xảy ra ngày 8 tháng 5.

Diệm - Nhu từ chối tất cả.

Ngày 30 tháng 5 năm 1963 hàng nghìn sư sãi ở Sài Gòn tuyệt thực.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #98 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2012, 04:39:55 PM »

Trong phong trào Phật giáo, nhất là trong số đứng đầu vẫn có người trông chờ sự ủng hộ của Mĩ nhưng Đảng ta nhận thức đây là cơ hội để lồng sự lãnh đạo của mình nhằm hướng dẫn quần chúng chĩa mũi nhọn đấu tranh vào mặt trận chống Mĩ Diệm. Tuy nhiên, vì ta không gây được ảnh hưởng ở Viện hóa đạo nên trong lúc cuộc đấu tranh của quần chúng đang phát triển, không khoan nhượng với ngụy quyền thì những người đứng đầu Phật giáo đi vào thương lượng với thái độ rụt rè, do dự. Nắm bắt được chỗ yếu đó, Diệm lệnh cho cảnh sát thẳng tay đàn áp. Một lần nữa Diệm lại đổ thêm dầu vào đám lửa đang cháy! Ngày 10 tháng 6 năm 1963 xảy ra vụ tự thiêu của nhà sư Thích Quảng Đức ở ngã tư Lê Văn Duyệt - Phan Đình Phùng (nay là Cách mạng Tháng Tám - Nguyễn Đình Chiểu) làm chấn động dư luận trong và ngoài nước. Phong trào đấu tranh của Phật giáo tiến lên một cao điểm mới. Vụ tự thiêu có chuẩn bị của cả một tập thể lớn tăng ni, Phật tử, nên sự vụ bao gồm cả một buổi lễ cầu siêu trước ở chùa Xá Lợi, một cuộc biểu tình của khoảng 1.000 tăng ni, sư sãi đưa Hòa thượng Thích Quảng Đức đến nơi châm lửa và một lễ tang lớn được cử hành ngay tại chỗ có nội dung tố cáo chế độ Diệm.

Bức ảnh Thích Quảng Đức ngồi trong ngọn lửa lập tức xuất hiện trên trang nhất của nhiều tờ báo Sài Gòn và thế giới. Sự kiện này dã là một bản án nghiêm khắc đối với chế độ độc tài phát xít Ngô Đình Diệm; nhưng cái chết vô cùng thảm thương của thượng tọa Thích Quảng Đức - cùng với những lời tụng kinh ảo não, những tiếng rên rỉ của các nhà sư và ni cô trong lễ tang lại làm cho Trần Lệ Xuân hoan hỉ, một kiểu phản ứng làm cho sự bùng nổ phong trào Phật giáo chống Diệm thêm trầm trọng.

Trong mùa hè và mùa thu năm 1963, có đến 6 tín đồ Phật giáo nữa tự thiêu theo gương Thích Quảng Đức.

Đảng Nhân dân cách mạng miền Nam, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, ủng hộ phong trào Phật giáo chống Mĩ Diệm. Nhân ngày hỏa táng Hòa thượng Thích Quảng Đức, ngày 16 tháng 6 năm 1963, Mặt trận Dân tộc Giải phóng có lời kêu gọi và động viên, cổ vũ 700.000 nhân dân Sài Gòn xuống đường biểu tình. Cảm sát Diệm lại đàn áp. Đồng bào dùng gậy gộc, gạch đá đánh trả. Cả thành phố náo động.

Trước tình hình chính trị đang phát triển có lợi, Khu ủy Sài Gòn - Gia Định chủ trương các cơ sở của ta ở Sài Gòn lãnh đạo quần chúng “tấp vô”(1) để hướng phong trào theo những khẩu hiệu cách mạng, đồng thời qua đó mà giác ngộ quần chúng, xác lập và mở rộng vai trò lãnh đạo của Đảng trong phong trào đấu tranh chính trị nội đô. Ủy ban thanh niên - sinh viên - học sinh chống chế độ độc tài phát xít và Ủy ban chỉ đạo học sinh liên trường công tư Sài Gòn - Gia Định được thành lập. Ta đã chi phối và nắm được ủy ban chỉ đạo học sinh liên trường. Hàng vạn học sinh các trường Gia Long, Trưng Vương, Lê Văn Duyệt, Văn Lang, Văn Hiến, Petrus Kí, Chu Văn An, Võ Trường Toản, Nguyễn Khuyến, Trường Sơn… đã bãi khóa và cùng với công nhân lao động, Phật tử các giới xuống đường.

Hưởng ứng chủ trương của Khu ủy, đông đảo công nhân, lao động, học sinh, sinh viên, phụ nữ… dưới danh nghĩa “Phật tử” đã “nhập cuộc” với những khẩu hiệu tích cực. Ngày 20 tháng 8 năm 1963, ngụy quyền buộc phải tuyên bố tình trạng thiết quân luật trên toàn miền Nam để lập lại an ninh, trật tự. Quân đội ngụy được lệnh cấm trại. Ngay sau đó, ở Sài Gòn, từ 1 giờ sáng ngày 21 tháng 8 năm 1963, những chiếc xe quân sự chở đầy cảnh sát, mật vụ và binh lính của lực lượng đặc biệt, lồng lộn tiến về những trung tâm lớn của phong trào Phật giáo như chùa Xá Lợi, chùa Ấn Quang, Viện hóa đạo, xông vào chùa, Viện sục sạo, bắt tất cả những nhà sư, Phật tử dồn lên những chiếc xe bịt bùng chở đi trong đêm tối. Những người chống lại bị đàn áp thẳng tay, hàng chục người bị thương. Ở chùa Ấn Quang có trên 400 tăng ni bị bắt đưa về Rạch Cát giam giữ trong một trại hẻo lánh ở ngoại ô Chợ Lớn. Cùng lúc, những cuộc bắt bớ như vậy diễn ra ở Huế, Đà Nẵng và nhiều thành phố khác, trên toàn miền Nam, trên 1.400 sư sãi và Phật tử bị bắt, trong đó có Hòa thượng Thích Tịnh Khiết đứng đầu Ủy ban liên phái Phật giáo miền Nam.

Mất người đứng đầu, phong trào Phật giáo tạm lắng. Song các cuộc đấu tranh của các tầng lớp nhân dân khác vẫn tiếp diễn.

Ngày 24 tháng 8 năm 1963, học sinh, sinh viên phối hợp với công nhân và lao động thành phố tổ chức đình công, bãi khóa. Nhiều cuộc mít tinh biểu tình đã nổ ra ở bến tàu, đường Hai Bà Trưng, vườn Bách thú, trước Nha giám đốc tiểu học, trường Petrus Kí, công trường Diên Hồng. Diệm lại xua quân đàn áp. Hàng ngàn Phật tử, học sinh, sinh viên lại bị bắt. Khoảng 200 người bị thương.

Ngày 25 tháng 8 năm 1963 đông đảo đồng bào lao động và 500 sinh viên học sinh biểu tình trước chợ Bến Thành.

Sinh viên học sinh với truyền đơn, biểu ngữ giấu sẵn, từng người một trà trộn vào nhà hàng, chợ. Đúng giờ đã hẹn, họ tràn ra đường, trương biểu ngữ lên tiến về phía nhà quốc hội ngụy. Đi đầu là tốp nữ sinh áo trắng, cảnh sát dã chiến dàn quân, phát loa yêu cầu giải tán. Đoàn biểu tình vẫn cứ tiến. Nữ sinh trường Trường Sơn, Quách Thị Trang, 15 tuổi, vừa hô “đả đảo đàn áp” thì bị trúng đạn cảnh sát, gục tại chỗ. Nhiều người khác bị thương. Quần chúng tổ chức ngay một đáng tang khổng lồ, biến thành một cuộc biểu tình thị uy. Suốt từ 25 đến 28 tháng 8 năm 1963 ngụy quyền bắt giam trên 4.000 người. Tưởng nhớ Quách Thị Trang, anh chị em học sinh sinh viên tạc tượng và dựng tại quảng trường chợ Bến Thành, nơi cô đã hô vang lời hô đả đảo và trút hơi thở cuối cùng. Ngày 7 tháng 9 năm 1963 nữ sinh Gia Long đánh nhau với cảnh sát dã chiến bằng bàn, ghế, dép, lọ mực… trong cuộc xuống đường của 4.000 học sinh. Trong hàng triệu lượt người đấu tranh từ tháng 5 đến giữa tháng 9 năm 1963 có đến 6 vạn lượt sư sãi, Phật tử, học sinh, sinh viên. Sự chỉ đạo “tấp vô” phong trào Phật giáo đã đưa phong trào đấu tranh chính trị nói chung lên một cao trào thực sự. Thái độ “cứng đầu” của Diệm trước sức ép hạn chế gia đình trị độc tài do Mĩ đạo diễn, những lục đục trong nội bộ tay sai, bất ổn về chính trị ở Sài Gòn đã đẩy Mĩ đến xu hướng thay Diệm, bộc lộ từ tháng 6 năm 1963 khi đại sứ Mĩ Nolting bị cách chức, Cabot Lodge sang thay. Cao trào đấu tranh Phật giáo và đấu tranh chính trị hè - thu năm 1963 càng thôi thúc Mĩ phải hành động sớm việc này.


(1) Chữ dùng trong bản dự thảo kiểm định sự lãnh đạo của Thành ủy từ tháng 7 năm 1954 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #99 vào lúc: 01 Tháng Tư, 2012, 04:40:29 PM »

Bên cạnh tác động chính trị, cao trào đấu tranh chính trị nội thành mùa hè - thu năm 1963 buộc địch tập trung lực lượng về quanh Sài Gòn, tạo thuận lợi cho phong trào chống phá ấp chiến lược ở vùng nông thôn sâu. Để hỗ trợ cho đấu tranh chính trị nội đô đang phát triển, Khu ủy chỉ đạo đẩy mạnh tấn công vũ trang tại sào huyệt kẻ thù lên nhanh, trúng đối tượng hơn nữa, diệt nhiều ác ôn, mật vụ, nhiều sinh lực cao cấp Mĩ ngụy.

Ngày 21 tháng 9 năm 1963, một tổ 3 chiến sĩ đội biệt động 65 tấn công rạp chiếu bóng Kinh Đô trên đường Lê Văn Duyệt, nơi giành riêng cho binh lính, sĩ quan Mĩ đến xem. Tuy mìn có bị hạn chế về uy lực sát thương, đến giờ sắp đánh ta lại phải lách trái nổ khổ chỗ đã chọn (để tránh thương vong cho một số dân bất ngờ chọn điểm đặt mìn của ta làm nơi tụ tập giải trí), nhưng số thương vong của Mĩ vẫn cao (31 tên chết và bị thương). Trận đánh gây tác động lớn về tâm lí.

Trong lúc phải đương đầu với phong trào đấu tranh chính trị ở đô thị diễn ra ngày càng quyết liệt, thì trên chiến trường, cuộc “tổng tiến công giành thắng lợi quyết định trong năm 1963” của địch ngày càng lộ rõ chiều hướng thất bại. Với thế và lực mới sau Ấp Bắc, nhất là sau mùa hè, quân dân miền Nam tích cực phản công đẩy lùi địch trên từng khu vực. Tại chiến trường nông thôn Gia Định, nơi địch ưu tiên dồn sức để lập các “ấp chiến lược vành đai”, việc khoanh gom của chúng khó khăn hơn nhiều so với thời kì cuối năm 1961 đầu năm 1962; trên nhiều chỗ chúng không thực hiện được.

Trước sức chống trả của đồng bào, thủ đoạn chủ yếu của địch vẫn là đàn áp, khủng bố. Ở Tân Bình, chúng bắt bớ, hành hạ tất cả những ai bị nghi là có quan hệ với cộng sản. Có chị có mang bị đánh đập đến chết. Chúng lập các ấp chiến lược ở Tân Thạnh, Tân Kì 1, Tân Kì 2, dồn dân xã Tân Sơn Nhì phía Tây Nam sân bay Tây Sơn Nhất vào các ấp này. Được chi bộ xã tại chỗ lãnh đạo, đồng bào liên tục đấu tranh, cuối cùng phần lớn nhân dân vẫn ở bên ngoài ấp, cán bộ, đảng viên vẫn bám được tại chỗ.

Ở Vĩnh Lộc, địch dùng lựu đạn, lưỡi lê bức dân vào 6 ấp chiến lược. Nhưng ngay từ những ngày đầu mới vào ấp, đồng bào đã chống đào hào, chống đắp bờ đê, chống rào kẽm gai, chống vót chông. Cuối cùng, mọi việc phải dùng sức lính ngụy, nhưng ban ngày chúng làm, ban đêm dân phá. Sáu ấp chiến lược ở đây chưa bao giờ hoàn chỉnh.

Cuộc đấu tranh chống phá ấp chiến lược của nhân dân diễn ra thật nhiều cách, nhiều vẻ, tùy cơ ứng biến: không chấp nhận các tổ chức của địch lập ra, không nhận vũ khí của địch hoặc nhận để chờ dịp “gậy ông đập lưng ông”, nhận để bứt bỏ hoặc theo luôn khi lực lượng cách mạng xuất hiện; đòi ra ấp từng giờ, từng buổi để về đất cũ sản xuất, rồi cất chòi ở ban ngày dần dần ở lại luôn trên vườn đất cũ; đào hầm nuôi chứa cán bộ, du kích, làm trinh sát mật… Ở vùng du kích, các ấp xã chiến đấu gấp rút hình thành. Đồng bào Củ Chi nạo vét, sửa chữa khôi phục địa đạo cũ, đào thêm địa đạo mới, phát triển rất mạnh hầm chông, cạm bẫy, hàng rào, hào giao thông. Chỉ trong 1 năm từ cuối năm 1961 đến cuối năm 1963, các ấp chiến lược ở Bình Tân, Gò Vấp, Hóc Môn đã làm 4.887 hầm chông, 3.515 hố đinh, 43 ụ chiến đấu… nhân dân Củ Chi đào được 6500 mét hào chiến đấu và trên 3.000 mét địa đạo. Thời gian đó ở Bình Tân, Gò Vấp, Hóc Môn, 44 tên địch đã chết và 170 tên bị thương vì bị sụp hầm chông. Riêng ở Củ Chi, 3 tháng đầu năm 1963 đã có 88 tên sụp hầm chông, hố đinh. Điều rất quan trọng là hầm chông hố đinh, cạm bẫy ai cũng làm được và gây ra tác động lớn về tâm lí và cả hiệu quả thực tế: địch rất sợ những cái bất ngờ, khủng khiếp đó, không dám lùng sục, thậm chí buộc phải đi theo hành lang mà hàng rào quy định, tức nhân dân quy định! Trên thế trận làng xã chiến đấu, du kích có thể phản kích, tấn công lực lượng địch đông hơn hẳn.

Du kích xã Phước Vĩnh An liên tục bao vây tấn công uy hiếp 1 tiểu đoàn địch vừa đến đóng, buộc tiểu đoàn này rút đi. Du kích xã Phú Hòa Đông chặn đánh và buộc một đại đội địch bỏ dở cuộc càn vào ấp Phú Nhuận… Tháng 6 năm 1963, một tiểu đoàn địch và một đội bình định vào xã Trung Lập để cào nhà gom dân. Du kích tiếp tục đánh. Nhân dân giáp mặt địch đấu lí, giải thích, phân hóa chủ lực và cán bộ bình định. Cuối cùng, chúng bị loại gần cả trăm tên mà không gom được, tiểu đoàn rút lui, đoàn bình định rã đám. Du kích Phước Hiệp được đồng bào trong ấp chiến lược giúp đỡ, cải trang làm lính “biệt động quân”, bất ngờ tấn công hai trung đội lính bảo an vừa mới tới định cào nhà, gom dân. Thừa cơ, đồng bào trong ấp Phước Hiệp nổi dậy phá rào, phá bờ thành, hè nhau khiêng nhà về đất cũ. Cũng vào lúc này, địch mở cuộc càn lớn vào xã Trung Lập, Nhuận Đức. Quân dân Củ Chi đánh trả suốt 19 ngày đêm. Địch buộc phải rút lui.

Ngày 15 tháng 9 năm 1963, địch càn vào An Nhơn Tây (Củ Chi), tại hai ấp Xóm Mới và Bàu Đưng, 9 du kích ấp chặn đứng đại đội địch, loại khỏi vòng chiến 17 tên.

Hơn 1 tháng sau, ngày 20 tháng 10 năm 1963, địch lại tập trung 5000 quân, có xe bọc thép M113, tàu xuồng chiến đấu và máy bay yểm trợ, mở cuộc càn quét lớn vào An Nhơn Tây với ý định chiếm đất, gom dân. Du kích bám đánh chúng ngay từ đầu, sau 12 ngày đêm chiến đấu, giết và làm bị thương 71 tên, bắn rơi 1 máy bay lên thẳng, thu nhiều súng. Ta hi sinh 5, bị thương 8. Chia lửa An Nhơn Tây, nhiều xã thuộc Củ Chi dồn dập tấn công địch: Tân Thông Hội diệt đồn Tiền và đồn Hậu. Tân An Hội diệt đồn Bàu Tre, Tân Thạnh Tây vây đồn buộc 13 tên địch ra hàng: Phước Vĩnh An, Thái Mĩ, Tân Phú Trung, thị trấn Củ Chi… loại khỏi vòng chiến trên trăm tên địch.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM