Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 19 Tháng Tám, 2019, 07:15:36 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)  (Đọc 100679 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8635


Lính của PTL


« Trả lời #170 vào lúc: 22 Tháng Tư, 2012, 08:28:37 AM »

Sơ kết đợt hai chiến dịch, trong vài tháng, Đoàn 10 đã đánh chìm, đánh cháy 62 tàu lớn nhỏ, thiêu hủy 200 triệu lít nhiên liệu. Tuy nhiên chưa có trận thối động trên đất liền nhất là đánh kho tàng. Tháng 9 năm 1972, Bộ chỉ huy Miền chỉ thị cho Đoàn 10 đánh sâu vào căn cứ địch, đánh các kho Rạch Dừa, Cát Lái, lấy nhiệm vụ đánh kho xăng Nhà Bè là mục tiêu số 1, kho thành Tuy Hạ là mục tiêu số 2.

Thực hiện chỉ thị trên, ban chỉ huy Đoàn 10 bố trí lực lượng chuyên trách từng mục tiêu.

Đêm 11 tháng 1 năm 1972, một tổ đặc công do Nguyễn Hữu Hòa phụ trách lọt được vào Thành Tuy Hạ. Đây là kho dự trữ bom đạn và chất nổ lớn nhất của địch, có hai tiểu đoàn lính ngụy và một đội chó berger bảo vệ. Tổ đặc công đã vượt qua hệ thống rào mìn, tường, hào có nước, hệ thống đồn và bót gác dầy đặc, luồn sâu, áp 16 khối thuốc nổ vào các mục tiêu. Khi các chiến sĩ đặc công đang rút ra, hai khu kho trong Thành Tuy Hạ bùng nổ dữ dội, cháy nổ kích thích lan truyền sang nhiều kho khác. 10.000 tấn bom đạn trong 33 nhà kho lớn bị hủy diệt. Địch nổi còi báo động, nhanh chóng bủa vây, nhưng toàn bộ đặc công đã thoát được ra ngoài.

Trên đường thoát ra, anh em đã phát hiện khả năng đột nhập trở lại theo đường này, liền đề xuất với ban chỉ huy xin đánh vào Thành Tuy Hạ lần thứ hai. Đây là một ý kiến thông minh và táo bạo dựa trên ý nghĩ chỗ mà địch tưởng chúng an toàn nhất lại là chỗ địch sơ hở. Tuy nhiên trong khi đó chúng cũng rất kịp thời tăng cường bố phòng, ngoài vật cản, hệ thống chiếu sáng được tăng cường, điều lợi hại nhất là mạng lưới phục kích của địch rải khắp trong ngoài hệ thống hàng rào. Hơn nửa tháng nghiên cứu, dùi không lọt, một chiến sĩ hi sinh trong hàng rào vì mìn, để lại dấu vết. Đêm 8 tháng 12 năm 1972, tổ điều nghiên chọc thủng được hệ thống hàng rào nhưng không ra kịp phải ở lại luôn ban ngày. Đêm 9 ta lại dùi sâu mà không tìm ra được kho bom, nhưng ta đã có cơ sở để thực hiện trận đánh. Sáng 12 tháng 12 năm 1972, tổ chiến đấu 5 người do đồng chí Hai làm mũi trưởng, đồng chí Hòa, mũi phó đã lọt được vào trong thành, nhưng đã 4 giờ sáng vẫn chưa làm được gì, địch đã ủi phá địa hình (giải quyết hậu quả của trận trước), kho bom chưa tìm ra. Toàn bộ tổ táo bạo quyết định ém lại trong một bãi tranh giữa vòng thành khu kho địch. Một ngày căng thẳng lại phải kềm chế tại chỗ một lính lái xe ủi cho đến giờ nổ súng đêm sau. Đêm 13 tháng 12 năm 1972, giữa căn cứ địch, 5 chiến sĩ lại bung ra, tìm được kho bom và đạn trọng pháo, mỗi kho có 8 dãy, mỗi dãy chiều dài xếp 81 trái, chiều cao 6 trái. 1 giờ sáng 13 tháng 12, tất cả 32 khối thuốc nổ đã được áp vào các kho. 2 giờ 55 phút, anh em vừa ra trảng Bàu Sen thì kho bom Thành Tuy Hạ bùng nổ, cháy nổ kích thích kéo dài 3 ngày đêm. Tám mươi dãy nhà kho chứa 10.000 tấn bom bị thiêu hủy hoàn toàn, một tiểu đoàn địch và một bầy chó berger bị thiệt hại nặng.

Trong thời gian 3 tháng 11, 12 năm 1972 và tháng 1 năm 1973 trên mặt trận đường sông, Đoàn 10 tiếp tục hạ nhiều tàu giặc, nâng số tàu bị đánh chìm, đánh cháy, đánh hỏng ở Đoàn 10 trong chiến dịch Nguyễn Huệ lên 122 chiếc lớn nhỏ.

Thực hiện nhiệm vụ “xây dựng bàn đạp, đứng chân vững chắc, hỗ trợ phong trào cách mạng địa phương” mà Bộ chỉ huy Miền giao cho, Đoàn 10 sử dụng một bộ phận lực lượng chia thành tổ nhỏ, vừa đánh vừa vận động nhân dân, xây dựng cơ sở cách mạng, phát triển phong trào chiến tranh nhân dân tại chỗ. Trong số 37 ấp chiến lược ở Rừng Sác, Đoàn 10 xây dựng được cơ sở ở 12 ấp, trong đó có khu vực Phước Khánh, nơi tập trung đồng bào công giáo và có một đại đội 99 ngụy ác ôn khét tiếng.

Phía Tây Bắc Sài Gòn, lực lượng tập trung Sài Gòn - Gia Định và du kích liên tục trừng trị địch nống ra từ Trung Hòa, Suối Cụt, chốt chặn, cắt đứt lộ 1 nhiều ngày, thọc xuống Nam Củ Chi đánh địch trong các ấp chiến lược. Nổi bật là trận trụ lại trong ấp chiến lược Tân Thạnh Đông của tiểu đoàn Quyết Thắng ngày 27 tháng 12 năm 1972. Sau một ngày đánh phản kích ác liệt, đơn vị đã đánh tan 1 tiểu đoàn ngụy tăng cường, diệt 250 tên, thu nhiều vũ khí. Trong trận này, trung đội phó trinh sát Nguyễn Minh Thắng 19 tuổi, một mình sử dụng 4 khẩu súng, đánh lui 8 đợt xung phong của địch, diệt 27 tên(1).

Năm 1972, trên chiến trường Sài Gòn - Gia Định (chưa tính Đoàn 10) ta loại khỏi vòng chiến đấu 8.000 tên địch, bắn rơi 35 máy bay, phá hủy và phá hỏng 201 xe quân sự, diệt và bức rút 54 đồn bốt, bắn chìm và cháy 82 tàu xuồng chiến đấu, đánh quỵ giang đoàn 22 và 18 ngụy… đã tuyên truyền phát động 243.000 lượt quần chúng, tổ chức 857 cuộc đấu tranh chính trị trực diện với địch gồm 92./500 lượt người tham gia, vận động làm rã ngũ 2.000 phòng vệ dân sự, 568 linh bảo an, đưa hàng ngàn gia đình trở về vùng giải phóng.

Cho đến cuối năm 1972, trên chiến trường ta đã thực hiện được nhiều yêu cầu mà suốt 3 năm sau 1968 chưa thực hiện được, trước hết là mở mảng, mở vùng, tạo lại vùng giải phóng có dân, giành lại từng ưu thế đã mất trên nhiều địa bàn quan trọng, kể cả xung quanh Sài Gòn.

Mùa xuân 1973, trong khi Hội nghị Paris về Việt Nam đang tiến tới kí kết văn bản về việc chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam thì Mĩ - Thiệu khẩn trương xúc tiến kế hoạch “Tràn ngập lãnh thổ”, thực hiện khẩu hiệu: “không nhường một tấc đất cho cộng sản” do Thiệu đưa ra từ cuối năm 1972.

Kế hoạch “Tràn ngập lãnh thổ” gây cho ta khó khăn nhưng đã đụng đầu kế hoạch “Chồm lên” của ta. Cuộc hành quân “Toàn Thắng” 771 do sư đoàn 5 ngụy chủ công đánh vào căn cứ vùng Tây Bắc Sài Gòn bị đánh bại trong đó có trận Bến Tranh, sư đoàn 7 quân Giải phóng tiêu diệt gọn 2 tiểu đoàn của chiến đoàn 7 sư đoàn 5 ngụy diệt 300 tên, bắt sống 487 tên.

Quân dân Sài Gòn - Gia Định chủ động đánh địch lấn chiếm, giải phóng thêm một số điểm. Đặc biệt ngày 27 tháng 1 năm 1973, ngày Hiệp định Pais được kí kết, lực lượng vũ trang Sài Gòn - Gia Định phối hợp cùng du kích, nhân dân tích cực cắm cờ giữ đất, giành dân với địch trong một số ấp chiến lược Củ Chi, Bình Chánh, Nhà Bè, Hóc Môn, Gò Vấp, Thủ Đức…, địch phản kích mạnh. Tại Bình Chánh, ngày 27 tháng 1 năm 1973, khi quân ta phối hợp tấn công, nổi dậy giải phóng 5 ấp xã Vĩnh Lộc thì địch điên cuồng dội bom, bắn pháo, hủy diệt hàng loạt nhà cửa ruộng vườn. Ở các nơi khác tình hình cũng diễn ra tương tự. Cuộc chiến đấu giằng co quyết liệt đã xảy ra trước giờ ngừng bắn.

Cho đến khi Hiệp định Paris được công bố, kèm theo những công bố của Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về hòa bình, hòa hợp, đoàn kết dân tộc, một khí thế tấn công chính trị nổi lên khắp các thành thị miền Nam, nhất là ở Sài Gòn.

Trong hiệp định Paris, Mĩ cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam, rút hết quân Mĩ và chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam, để cho nhân dân Việt Nam tự định đoạt lấy tương lai chính trị của mình. Đó chính là yêu cầu cơ bản của nhân dân Sài Gòn - Gia Định, của nhân dân Việt Nam. Tuy nhiên, trong hiệp định và trên chiến trường vẫn rất khác biệt, bởi âm mưu về Đông Dương của Mĩ đâu phải là chấm hết. Một giai đoạn mới của chiến tranh lại bắt đầu.


(1) Nguyễn Minh Thắng sau này được tuyên dương anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8635


Lính của PTL


« Trả lời #171 vào lúc: 22 Tháng Tư, 2012, 08:29:35 AM »

*
*   *

Từ tháng 6 năm 1968 cho đến năm 1972 là một trong những thời kì quyết liệt, khó khăn nhất của cuộc đấu tranh chống Mĩ cứu nước. Thành ủy (lãnh đạo phong trào ở nội thành), các phân khu ủy (lãnh đạo phong trào ngoại thành) đã nắm vững tư tưởng kiên trì trong chỉ đạo xây dựng lực lượng và tư tưởng tiến công của Đảng, qua thực tiễn mà điều chỉnh chủ trương cho phù hợp với tình hình).

Nhờ vậy, trong lúc thế quân sự của ta đang sa sút trên chiến trường thì ở Sài Gòn ta đã đẩy lên được một phong trào đấu tranh chính trị mạnh mẽ, liên tục, có ảnh hưởng tốt đối với thế cách mạng nói chung. Sài Gòn tiếp tục giữ vững vị trí trung tâm đấu tranh chính trị của toàn miền Nam và có tác dụng to lớn đến dư luận quốc tế, dư luận nước Mĩ.

Ở ngoại thành, trong tình thế địch chiếm ưu thế về lực lượng, ta đã duy trì được nòng cốt vũ trang và chính trị, giữ vững niềm tin của quần chúng để sớm khôi phục thế chiến tranh nhân dân trước khi kí Hiệp định Paris.

Thành ủy đã thể hiện những ưu điểm nội bật trong chỉ đạo;

- Sau đợt hai Mậu Thân, đã kịp thời chuyển hướng chỉ đạo quay về xây dựng củng cố thực lực cơ sở và chuyển sang đấu tranh chính trị bằng nhiều hình thức trong nội đô để tạo lực, tạo thế cho thời cơ mới.

- Nắm vững tư tưởng liên tục tiến công trong điều kiện địch phản kích quyết liệt, lấn lượt về quân sự. Hình thức tấn công linh hoạt, phong phó, sắc bén thể hiện qua các khẩu hiệu và hình thức đấu tranh, cách tập trung lực lượng kết hợp giữa bạo lực chính trị và bạo lực vũ trang. Nhờ vậy trong một thời gian ngắn đã gây được một cao trào đấu tranh chính trị và trong suốt những năm từ năm 1969 đến năm 1972, phong trào chính trị ở nội đô Sài Gòn không bao giờ dứt, thế bám trụ đánh địch ở vùng ven, dù nhỏ vẫn được duy trì liên tục.

Công tác Mặt trận, đặc biệt là công tác trí vận, được Thành ủy luôn coi trọng, nhờ vậy đã tập hợp một lực lượng lớn thuộc tầng lớp trên và đã vận động đưa ra chiến khu được nhiều nhân sĩ, trí thức tiêu biểu về thành lập “Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình” và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Ủy ban nhân dân cách mạng thành phố. Ta còn lợi dụng được mâu thuẫn trong nội bộ ngụy, lợi dụng cả trò bầu cử của địch để tổ chức diễn đàn hướng về các khẩu hiệu của ta.

Dù căn cứ bàn đạp rất khó khăn, ta đã xây dựng được hệ thống thông tin, giao thông liên lạc rất công phu và kiên cường, nên mọi quan hệ vẫn luôn giữ thông suốt nội ngoại thành.

Bên cạnh những ưu điểm trên, ta cũng còn những thiếu sót, thậm chí có lúc, có những bộ phận có những thiếu sót nghiêm trọng đáng chú ý:

- Phổ biến là chủ quan trong đánh giá tình hình. Suốt từ Hội nghị Bình Giã I đến Bình Giã II, ta đều đánh giá địch quá thấp, đánh giá quá cao khả năng xảy ra bùng nổ cách mạng. Còn có tình trạng lầm lẫn những sự kiện và yếu tố chưa phải là bản chất của một tình thế cách mạng có thể dẫn đến khởi nghĩa võ trang lật đổ toàn bộ chính quyền. Do vậy đã đề ra khẩu hiệu quá cao, tung lực lượng lớn vào những thời cơ chưa phải quyết định, tiếp tục làm tiêu hao lực lượng trong lúc chưa cần thiết. Mãi tới Hội nghị Bình Giã V (tháng 4 năm 1972) mới kiểm điểm sâu sắc và uốn nắn lại các hiện tượng này.

Nắm chưa chắc và đánh giá chưa đúng các âm mưu thâm độc của Việt Nam hóa chiến tranh, các thủ đoạn thâm độc, ác liệt của chương trình bình định cấp tốc, phát triển chương trình văn hóa xã hội của địch sau Mậu Thân, nên chưa kịp đối phó, do vậy có từng thời gian lúng túng, bị động, phong trào gặp không ít khó khăn trước những âm mưu và thủ đoạn của địch.

- Còn thiếu nhạy bén, chủ động và kiên quyết trong vấn đề lãnh đạo, đấu tranh tư tưởng trong nội bộ Đảng, Đoàn và các phong trào. Có một thời gian trong nội bộ Đảng bộ và các phong trào bị các tư tưởng hoạt động phô trương hình thức xốc nổi chi phối, các bộ phận mắc bệnh hợp pháp, công khai rồi co thủ, hạn chế sử dụng bạo lực vũ trang trong tấn công địch.

- Còn có nhận thức và quan điểm không đúng về đánh giá vị trí, tính chất các tầng lớp, các giai cấp, các phong trào, về vai trò và tác dụng của các ngành, giới và vai trò của địa bàn dân cư nên sự chỉ đạo không tập trung đúng mức, không phát huy được hết sức mạnh tổng hợp của các giai tầng cách mạng, chĩa mũi nhọn vào kẻ thù, không làm phong phú thêm các hình thức, hiệu quả đấu tranh và phát triển thực lực. Ví như đánh giá không đúng vai trò, vị trí, tính chất các phong trào thanh niên học sinh, sinh viên và phong trào công nhân lao động. Có lúc hoạt động nặng về hợp pháp công khai, coi nhẹ công tác bí mật và xây dựng cơ sở hạ tầng.

- Chậm đề nghị với trên tổ chức lại chiến trường Sài Gòn - Gia Định sau lúc không còn đánh đợt 3 vào Thành phố. Tình trạng tách rời giữa nông thôn và đô thị kéo dài trên 3 năm đã có những ảnh hưởng nhất định đến việc khôi phục lại thế và lực như trước Mậu Thân của bản thân Thành phố, cả đô thị và vùng ven(1).


(1) Các tài liệu tham khảo: - Dự thảo kiểm điểm sự lãnh đạo của Thành ủy từ tháng 7 năm 1954 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975. - Bài “Đồng chí Lê Đức Thọ nói một số vấn đề về chiến tranh và cách mạng miền Nam” đăng trên Tạp chí nghiên cứu lịch sử quân sự. Số tháng 4-1988 Viện lịch sử quân sự - Thành phố Hồ Chí Minh mười năm. Nguyễn Văn Linh, NXB Sự Thật Hà Nội 1985.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8635


Lính của PTL


« Trả lời #172 vào lúc: 26 Tháng Tư, 2012, 06:46:14 AM »

Chương tám

PHẢN CÔNG - TIẾN CÔNG KIÊN QUYẾT GIỮ VỮNG THẾ TRANH CHẤP
VÀ ĐỊA BÀN VÙNG VEN - KHẨN TRƯƠNG XÂY DỰNG THẾ VÀ LỰC MỚI, BƯỚC VÀO TRẬN QUYẾT CHIẾN CHIẾN LƯỢC GIẢI PHÓNG
SÀI GÒN - GIA ĐỊNH
(Từ ngày 27 tháng 1 năm 1973 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975)

I. PHẢN CÔNG - TIẾN CÔNG GIỮ THẾ TRANH CHẤP
VÀ ĐỊA BÀN VÙNG VEN - KHẨN TRƯƠNG KHÔI PHỤC
VÀ PHÁT TRIỂN THẾ VÀ THỰC LỰC CÁCH MẠNG,
CHUẨN BỊ THỜI CƠ TIẾN CÔNG CHIẾN LƯỢC


Hiệp định Paris thực tế là một văn bản trong đó Hoa Kì cam kết chấm dứt mọi dính líu về quân sự, chấm dứt can thiệp vào nội bộ miền Nam Việt Nam. Đối với nhân dân ta, sau 18 năm chống Mĩ đầy gian khổ, hi sinh, đây là một thắng lợi hết sức to lớn, một thuận lợi rất cơ bản để đi tiếp chặng đường cuối cùng toàn thắng.

Tuy nhiên, âm mưu và ý định của Mĩ giữ miền Nam Việt Nam thông qua biện pháp tiếp tục Việt Nam hóa chiến tranh không hề thay đổi.

Từ những bài học xương máu sau Hiệp định Genève năm 1954, ngay khi có Hiệp định Paris, tuy vẫn chưa lường hết được tình hình, Đảng bộ Sài Gòn - Gia Định đã kịp thời đề phòng và uốn nắn những tư tưởng lệch lạc, mất cảnh giác, xây dựng quan điểm bạo lực, quan điểm tiến công, kiên quyết giữ vững và đưa phong trào cách mạnh của thành phố liên tục đi lên. Tinh thần này thể hiện trong Chỉ thị 02/CT-73 của Thường vụ Thành ủy ngày 20 tháng 1 năm 1973 (sau chỉ thị 02 ngày 9 tháng 1 năm 1973 của Trung ương Cục). Theo chỉ thị đó, trước mắt phải gây khí thế phấn khởi, đưa phong trào quần chúng đi lên, tạo thế và lực mới, làm suy sụp thêm một bước thế và lực của địch, làm thay đổi so sánh lực lượng giữa ta và địch, làm lỏng làm kềm kẹp và giành quyền làm chủ của quần chúng ở cơ sở, tạo điều kiện đưa cách mạng lên cao trào. Phương châm là: Đứng vững trên thế vũ trang, tấn công mạnh về chính trị, binh vận dựa vào pháp lí của Hiệp định; tấn công phải đi đôi với xây dựng, phát triển và bảo toàn lực lượng. Cần phải đề phòng hai khuynh hướng: sử dụng vũ trang bừa bãi hoặc không đứng vũng trên thế vũ trang, không dám dùng lực lượng vũ trang đánh trả địch bung ra lấn chiếm vùng giải phóng, bắt bớ cán bộ, đồng bào.

Trái với quy định của Hiệp định(1), trước và ngay sau khi kí kết, Mĩ thực hiện chiến dịch Inhans Plus nhằm tăng cường viện trợ vũ khí cho Thiệu. Ba tháng trước khi kí hiệp định Mĩ đã tăng gấp cho quân ngụy 626 máy bay các loại, 500 khẩu pháo, 400 xe tăng, xe bọc thép và nhiều tàu chiến, tăng vật tư dự trữ chiến tranh lên 2 triệu tấn. Các quân, binh chủng kĩ thuật ngụy được củng cố và tăng cường để thay thế quân Mĩ. Bộ chỉ huy quân sự Mĩ ở Việt Nam (MACV) được trá hình thành cơ quan tùy viên quốc phòng Mĩ (DAO) do tướng John Murrey đứng đầu.

Từ cuối 1972, chuẩn bị kí Hiệp định Paris, Mĩ và ngụy quyền đã vạch “Kế hoạch Hùng Vương”, chồm lên giành đất, thực hiện “tràn ngập lãnh thổ” trước khi Hiệp định có hiệu lực. Ngay khi kí hiệp định, Nguyễn Văn Thiệu, đã tuyên bố lập trường “bốn không”(2) và nêu “mục tiêu quốc gia” là “chiếm và bảo vệ tối đa lãnh thổ” được cụ thể hóa trong “Kế hoạch Lí Thường Kiệt 1973” với 5 biện pháp chiến lược lớn(2). Mục tiêu cuối cùng của chúng là “chiến tranh tàn lụi” và “Việt cộng chỉ còn như một đảng đối lập” vào năm 1974 hoặc năm 1975.
   
Trong thông điệp tháng 1 năm 1973, Thiệu tuyên bố: “Địa bàn cuộc chiến tranh hiện nay là dân chúng tại các ấp, xã. Nếu giải quyết được cuộc chiến tranh này ở xã, ấp là giải quyết được 75% toàn bộ cuộc chiến tranh”. Thắng ở đây và thua cũng là đây”. Thiệu hung hăng ầm ĩ “Không có hòa bình với cộng sản”, “phải xóa thế da beo”, “bắn bỏ… những ai chứa chấp cộng sản”…, chỉ tiêu cho năm 1973 của Thiệu ở nông thôn ngoại thành Sài Gòn là phải đạt cho được 63% ấp loại A (loại ấp mà chúng cho là hoàn toàn kiểm soát được).

Cũng như trên toàn chiến trường, ở ven Sài Gòn, ngay trước và sau khi Hiệp định Paris được công bố, địch đã ồ ạt tung quân thực hiện kế hoạch “tràn ngập lãnh thổ” hòng lấn chiếm các vùng tranh chấp, các xã, ấp giải phóng ở Củ Chi, Thủ Đức, Gò Vấp, Hóc Môn, Bình Chánh, Nhà Bè… Nhằm tạo ra thế ban đầu để tiếp đó huy động lực lượng lớn thực hiện kế hoạch “Bình định đặc biệt”. Nhưng khác với khi địch “bình định cấp tốc” cuối năm 1968 đầu năm 1969, chiến trường ven đô nay đã được khôi phục thống nhất thế Sài Gòn - Gia Định, chiến sự giằng co và tính quyết liệt tăng lên ở các khu vực tranh chấp.

Nhận rõ bản chất của kẻ thù, đồng thời không thể không xuất phát từ tình hình chính trị trong và ngoài nước, Đảng ta chủ trương một mặt sẵn sàng đối phó với tình huống xấu, tình huống địch không thi hành và phá hoại hiệp định, một mặt cần phải thi hành và đấu tranh buộc địch thi hành những điều khoản đã kí(4). Tuy nhiên trên toàn chiến trường, trong chỉ đạo cụ thể ban đầu chưa thể hiện đầy đủ tinh thần trên do có ý kiến truyền đạt theo nhận thức riêng, nhấn mạnh hòa bình, hòa hợp và cái gọi là “thế ổn định”, “phân tuyến hai vùng” của một số đồng chí ở Trung ương được phái vào chiến trường để nghiên cứu tình hình cụ thể. Những ý kiến này có ảnh hưởng đến từng khu vực của chiến trường; “Chồm lên” những xử lí tình huống có khác nhau theo nhận thức của mỗi cấp ủy về kẻ thù, về hai khả năng (địch thi hành hay không thi hành Hiệp định), về quan điểm kiên quyết tiến công hay thủ thế giữ nguyên trạng… không tránh khỏi sự xuất hiện tư tưởng “xả hơi”, “hòa bình” ở một số vùng giải phóng, dẫn đến giảm bớt chiến hào, phá bớt hàng rào, cạm bẫy chiến tranh nhân dân. Có người ảo tưởng có Hiệp định, Mĩ rút hết thì địch rệu rã, binh lính bỏ về nhà, dân ào ào bung ra về nhà cũ, từ đó có trường hợp không lường hết sức địch, thọc quá sâu, bị phản kích, tổn thất nặng như lực lượng địa phương Bình Tân ở các ấp Tân Hòa, Vinh Lộc. Ở Lái Thiêu cũng xảy ra trường hợp tương tự.


(1) Trong thời hạn 30 ngày, khi quân Mĩ và chư hầu rút khỏi miền Nam Việt Nam phải mang theo mọi vũ khí, đạn dược, phương tiện chiến tranh.
(2) Không liên hiệp, không thương lượng với đối phương, không có hoạt động của cộng sản hoặc đối lập ở trong nước, quan trọng hơn hết là không để lọt vào tay đối phương bất cứ lãnh thổ nào, tiền đồn nào do quân đội Việt Nam Cộng hòa giữ.
(3) Lấn chiếm, bình định là biện pháp trung tâm. - Xây dựng cả ngụy quân và ngụy quyền mạnh để làm trụ cột. - Phá hoại Hiệp định Paris về Việt Nam ở những điểm nào không có lợi cho chính quyền Sài Gòn. - Phục hồi kinh tế miền Nam năm 1973-1974, đồng thời bao vây, phong tỏa kinh tế Mặt trận Dân tộc Giải phóng. - Duy trì “lực lượng răn đe” bằng không quân, hải quân Mĩ ở Đông Nam Á.
(4) Thể hiện trong Nghị quyết ngày 9 tháng 1 năm 1973 của Quân ủy trung ương, dự thảo nghị quyết cuối tháng 1 năm 1973 của Bộ Chính trị gửi các khu ủy, quân khu ở miền Nam.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8635


Lính của PTL


« Trả lời #173 vào lúc: 26 Tháng Tư, 2012, 06:48:25 AM »

Thực tế là Hiệp định Paris có gây cho ngụy quyền, ngụy quân tâm lí chán nản, sợ Mĩ bỏ rơi, mâu thuẫn Mĩ - Thiệu nảy nở… nhưng tập đoàn tay sai đương quyền vẫn rất ngoan cố, hiếu chiến, nhiều ảo vọng. Chiến trường chỉ diễn ra hai trạng huống: hoặc ta kiên quyết tiến công giữ vững và phát triển vùng giải phóng và vùng tranh chấp, hoặc địch lấn tới, ta lúng túng chống đỡ, mất đất do thiếu cảnh giác, không có cái gọi là “ổn định hai vùng”(1).

Kịp thời uốn nắn một vài lượng sượng lúc đầu, nói chung, lực lượng vũ trang Sài Gòn - Gia Định đã xử lí tình huống tốt, đúng tinh thần chỉ đạo của Thành ủy: Chỉ một ngày sau khi Hiệp định Paris có hiệu lực, du kích các xã Nhuận Đức, Hòa Phú (Củ Chi) đã chặn đánh địch ở Bàu Tròn, Bến Than. Ở Trung Lập Hạ, tiểu đoàn Quyết Thắng bắn cháy 4 xe tăng trong số 8 xe và một đại đội thuộc sư đoàn 25 ngụy đi càn, buộc chúng phải co về căn cứ (tháng 2 năm 1973). Cuối tháng 3, tiểu đoàn này cùng lực lượng vũ trang Củ Chi đánh lui hai tiểu đoàn bộ binh và một chi đoàn xe tăng thiết giáp thuộc sư đoàn 25 càn vào vùng giải phóng Củ Chi, diệt 40 tên và 2 xe tăng M41 tại ngã tư chợ An Nhơn.

Cùng với hoạt động võ trang, ở một số nơi, nhân dân dựa vào pháp lí Hiệp định đấu tranh buộc địch bồi thường hậu quả những hành động quân sự trái Hiệp định của chúng như cuộc đấu tranh tháng 2 năm 1973 của hàng trăm gia đình ở Vinh Lộc (Bình Chánh) buộc địch bồi thường bằng hiện vật, tiền mặt sau các cuộc ném bom, bắn pháo ngày 27 tháng 1 năm 1973. Đồng bào Phước Thạnh (Củ Chi) tranh thủ tập trung mít tinh tố cáo Thiệu vi phạm hiệp định nhân lúc có mặt các nhà báo phương Tây. Ngay trong ấp chiến lược Trung Hòa, đồng bào cũng họp mít tinh lên án ngụy quyền tay sai không thi hành hiệp định.

Một trong các điều khoản để đảm bảo việc thi hành Hiệp định Paris là thành lập ủy ban liên hiệp quân sự bốn bên, triển khai các trụ sở của ủy ban và các tổ kiểm soát quốc tế (gồm 4 thành phần: Ba Lan, Hungari, Indonesia, Canada).

Sáng ngày 1 tháng 2 năm 1973 phái đoàn quân sự của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam do đồng chí Trần Văn Trà dẫn đầu đã rời sân bay Lộc Ninh lên đường vào Sài Gòn. Phái đoàn vào làm việc tại trụ sở Trung tâm của ủy ban liên hợp quân sự bốn bên đặt trong sân bay Tân Sơn Nhất.

Ngày 15 tháng 3 năm 1973, Bộ tư lệnh lục quân Mĩ ở Sài Gòn đã cuốn cờ “bằng một buổi cầu nguyện về những sai lầm mà Mĩ có thể đã mắc phải”(2).

Ngày 29 tháng 3 năm 1973, tại sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ chỉ huy quân viễn chinh Mĩ tổ chức lễ cuốn cờ, sau đó Weyand, Tổng tư lệnh quân đội Mĩ ở Nam Việt Nam đến nhập với 2501 lính Mĩ cuối cùng lặng lẽ rời khỏi sân bay. Các đơn vị Mĩ ra đi dưới sự kiểm soát của các sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam trong Ban liên hợp quân sự 4 bên. Hơn 18 năm có mặt ở miền Nam Việt Nam, từ cố vấn đến quân chiến đấu, quân đội Mĩ chỉ làm được “một cuộc chiến tranh không có chiến thắng huy hoàng, không sản sinh ra “anh hùng dân tộc” mà là “tấm thảm kịch lớn nhất trong lịch sử quân đội Mĩ”(3). Theo gót quân viễn chinh Mĩ, cùng ngày 29 tháng 3 năm 1973 những tên lính cuối cùng của Nam Triều Tiên và Philippin rút khỏi miền Nam Việt Nam.

Tính từ 1858 khi quân đội Pháp đặt chân lên đất Sài Gòn, cho đến nay đã 115 năm, đất nước ta mới chấm dứt sự có mặt của các quân đội xâm lược.

Nhìn lại hơn 2 tháng sau Hiệp định Paris trên chiến trường Sài Gòn - Gia Định, tuy rằng Thành ủy đã chỉ thị ngay từ đầu về ý thức cảnh giác, về quan điểm cách mạng bạo lực, quan điểm tiến công… nhưng về đánh giá âm mưu địch vẫn còn một số mặt chưa đầy đủ, về ngăn ngừa tư tưởng hòa bình chủ nghĩa còn thiếu biện pháp kịp thời, cụ thể, chưa phân tích hết khả năng thuận lợi của tình hình một cách sát đúng nhưng lại có mặt dự đoán quá lạc quan(4), mặt khác có ảnh hưởng do có chỉ đạo thiếu nhất quán từ trên, cho nên từng lúc, từng nơi đã xảy ra hiện tượng thiếu khẩn trương xây dựng lực lượng… có nơi bị tổn thất, phong trào du kích chiến tranh có sa sút, phổ biến là thụ động chống đỡ.

Trước tình hình đó, ngày 15 tháng 4 năm 1973, Thường vụ Thành ủy ra Chỉ thị 03-CT-73 nêu rõ thực chất tình hình, xác định rõ nhiệm vụ và đề ra các phương châm, phương thức đấu tranh trong tình hình mới.

Giữa năm 1973, dựa vào vùng giải phóng Long An - Mĩ Tho đang được mở rộng. Thành ủy chủ trương thành lập cánh Tây Nam đô thị để lãnh đạo, chỉ đạo phong trào đô thị kịp thời hơn. Địa bàn cánh Tây Nam gồm: Quận 7, quân 8, Nhà Bè, quận 10, quận 11, quận 5, quận 6, quận Tân Bình và phần đất liên quận 6. Đồng chí Nguyễn Văn Thuyền (Ba Tôn), thành ủy viên là Bí thư Ban cán sự cánh.

Tháng 6 năm 1973, Quân ủy Miền ra Nghị quyết uốn nắn những lệch lạc sau Hiệp định Paris, xác định nhiệm vụ cụ thể của các lực lượng vũ trang: “Kiên quyết và chủ động thực hành phản công, tiến công đánh những trận tiêu diệt thật đau, thật mạnh, kết hợp với đấu tranh chính trị của quần chúng và pháp lí hiệp định, kết hợp chặt 3 mũi, đẩy mạnh chiến tranh du kích, tiêu diệt và làm tan rã nhiều địch, nhằm giữ vững và mở rộng, hoàn chỉnh vùng giải phóng, củng cố căn cứ địa, lõm làm chủ, mở rộng diện tranh chấp, làm lỏng, làm rã kềm kẹp, chuyển thế vùng địch kiểm soát thành vùng du kích mạnh để thu hẹp vùng địch, giành dân, giành quyền làm chủ của dân”.


(1) Ở miền Đông Nam Bộ và Khu 6 ta mất 3088 ấp với 29 vạn dân; ở Khu 8, ta mất 24 xã, 129 ấp, 10 vạn dân, địch đóng thêm 287 đồn; ở Khu 9, ta chỉ còn 36 vạn dân được giải phóng.
(2) AFP ngày 15 tháng 4 năm 1973.
(3) Báo Tuần Tin Tức ngày 5 tháng 2 năm 1973.
(4) Như dự đoán trong Hội nghị Thành ủy lần thứ V: sẽ có phong trào rộng mạnh “dân về làng, lính về nhà”, hàng ngũ địch sẽ tan rã lớn…
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8635


Lính của PTL


« Trả lời #174 vào lúc: 26 Tháng Tư, 2012, 06:49:31 AM »

Tháng 7 năm 1973, tại Hà Nội, Ban chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 21 ra nghị quyết số 227/NQTW(1) đánh giá thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước và đề ra nhiệm vụ cách mạng miền Nam trong giai đoạn mới. Nghị quyết đã điểm qua những mặt làm được đồng thời phân tích sâu sắc việc để mất đất, mất dân ở nhiều địa phương sau Hiệp định Paris “nguyên nhân chính là do ta có khuyết điểm, chứ không phải do địch mạnh”. Trung ương khẳng định: “Con đường cách mạng, bất kể trong tình hình nào, ta cũng phải nắm vững thời cơ, giữ vững đường lối chiếc lược tiến công”.
   
Được sự chỉ đạo chặt chẽ của Thành ủy, ở Sài Gòn sau khi có Hiệp định Paris, phong trào nhân dân hưởng ứng hòa bình với những nguyện vọng sâu sắc đòi giải quyết đời sống, đòi dân chủ và hòa hợp dân tộc, chống địch không thi hành hiệp định đã lan rộng và nổ ra khắp thành phố với nhiều hình thức phong phú… yêu cầu đòi lật đổ Thiệu ngày càng phổ biến trong dư luận quần chúng. Các phe nhóm chính trị, tôn giáo cũng có những hoạt động chống chính sách phát xít, hiếu chiến của tập đoàn Nguyễn Văn Thiệu.

Nổi bật hơn cả trong phong trào đô thị năm 1973 là phong trào công nhân và lao động thành phố đấu tranh đòi tăng lương, đòi quyền tự do nghiệp đoàn, chống sa thải… các cuộc đấu tranh của công nhân hãng dầu Caltex (ngày 25 tháng 2 năm 1973), công nhân hãng dầu Shell (ngày 24 tháng 3 năm 1973), công nhân hỏa xa (ngày 4 tháng 5 năm 1973), của 40.000 công nhân viên chức và người buôn bán nhỏ đòi bỏ thuế TVA (trị giá gia tăng), của các công nhân viên chức hãng dệt Sicovina (ngày 23 tháng 10 năm 1973), công nhân ngành vận tải (tháng 12 năm 1973).

Sau một số cuộc trao trả tù chính trị ở Lộc Ninh, Thạch Hãn, nhân dân Sài Gòn tố cáo Thiệu còn giữ tù chính trị.

Trong vùng địch, một số nơi quần chúng không chịu vẽ hoặc treo cờ ngụy. Địch hăm dọa, nhưng đồng bào có lí lẽ đấu tranh, bọn công an, cảnh sát chỉ dám nạt nộ rồi bỏ đi.

Nhiều cấp ủy chủ trương mở đợt vận động các gia đình có người đi lính ngụy gọi chồng, con, em về. Các quận 7, 8 vận động được 2.000 lính ngụy đào ngũ. Đồng bào tích cực bảo vệ số anh em này tránh các cuộc lùng sục của địch.

Một số địa phương kết hợp thanh niên trốn linh và lính trốn thành nhóm trong các xóm lao động. Lực lượng này trang bị gạch đá, dao găm, dao phay, thậm chí cả súng, lựu đạn đánh lưu các cuộc bao vây lùng sục của địch.

Tu sĩ ở các chùa đấu tranh chống Thiệu bắt lính cả tu sĩ. Phong trào đấu tranh chống bắt lính nổ ra liên tục hết đợt này đến đợt khác, từ lẻ tẻ đến tập thể, từ trốn tránh đến dùng vũ lực chống cự. Qua phong trào này, nhiều thanh niên đã được đưa ra vùng giải phóng tham gia cách mạng.

Tuy nhiên, trong chỉ đạo đô thị, trước và sau Hội nghị thành ủy lần thứ V, đến khi có Hiệp định Paris, từ việc đấu tranh chống lập trường, quan điểm tiểu tư sản, đánh giá quá cao phong trào học sinh sinh viên và tầng lớp trung gian… nơi này nơi khác, lại vẫn còn có biểu hiện cường điệu lập trường giai cấp một cách hình thức, rồi coi nhẹ phong trào thanh niên, học sinh sinh viên và phong trào các tầng lớp trung gian. Và ngày trong chỉ thị 04/CT-73 về công tác đô thị của Thường vụ Thành ủy cũng có ý cho rằng ta có thể dễ dàng đấu tranh buộc địch phải thi hành Hiệp định Paris để đi tới ổn định tình hình, đưa phong trào lên.

Những thiếu sót trên đã sớm được nhận ra, Thường vụ Thành ủy uốn nắn ngay bằng 2 công văn 68-CV (tháng 9 năm 1973) và tài liệu “Những vấn đề cần thống nhất”. Những uốn nắn này rất quan trọng, có ảnh hưởng tích cực đến quá trình phát triển phong trào đô thị những tháng, năm tiếp sau. Một lần nữa ý thức cảnh giác và tinh thần tấn công được đề cao, Chỉ thị 09-CT-72 được nhắc lại, nhấn mạnh lần nữa “ba mũi giáp công”.

Đời sống quần chúng vùng ven, nhất là trong các ấp đang ngày càng khó khăn do địch đánh phá quyết liệt, lệnh cấm ra đồng, lệnh bắt đi tập gác của chúng từ tháng 7 năm 1972 lại càng được thực hiện ráo riết. Đồng bào vui mừng, phấn khởi đón Hiệp định Paris thì hàng ngàn nhà cửa ở vùng trung tuyến mới cất lại tiếp tục bị triệt hạ, hơn 300 gia đình bị gom đi xúc lại.

Do các lực lượng võ trang ta đã xác định rõ ý thức chủ động đánh lấn chiếm tấn công địch, tình hình sau đó có dịu đi được chút ít. Quần chúng lại xé rào bung ra sản xuất rất mạnh. Diện tích khai hoang (đất cũ) ở Củ Chi và Thủ Đức tăng thêm 770 hécta. Tuy vậy, cuộc sống của đồng bào vừa khá lên một chút thì địch lại kềm kẹp nặng hơn, mức vơ vét của chúng tăng mạnh, giá sinh hoạt nhảy vọt, kinh tế khốn đốn… Công nhân lao động thất nghiệp ngày càng tăng, 20 đến 30 phần trăm nông dân phải chịu cảnh bữa cơm bữa cháo. Tệ nạn trộm cướp, đĩ điếm, ăn xin… phát triển.

Đối phó với tình hình kinh tế khủng hoảng, ngụy quyền ban hành nhiều biện pháp khẩn cấp rất phản động như tăng và truy thu thuế, kiểm kê và buộc quần chúng phải tập trung lúa gạo vào kho… Đi đôi với biện pháp đó là tăng cường thêm bộ máy kềm kẹp vốn đã nặng. Đến tháng 10 năm 1973 ở vùng ven Sài Gòn, địch đã có 28 tiểu đoàn và 66 đại đội bảo an, 4 đại đội và 248 trung đội dân vệ, 64 cuộc cảnh sát, 13 đại đội cảnh sát các loại, 279 toán và 12 liên đoàn phòng vệ dân sự, 4 trung đội và 15 toán phòng vệ xung kích, 477 tề xã ấp (chưa kể vùng trung tuyến) và một số lực lượng khác. Những chiến dịch Đồng khởi, Phụng hoàng Toàn thắng, Vì dân, chà đi xát lại vừng ven, quyết liệt đánh phá cơ sở cách mạng.


(1) NQ21 đề ngày 31 tháng 1 năm 1973 (tháng 7 năm 1973 ra dự thảo)
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8635


Lính của PTL


« Trả lời #175 vào lúc: 26 Tháng Tư, 2012, 06:50:34 AM »

Ý định của địch là tạo vẻ ổn định và phồn vinh “hậu phương để biến nông thôn tạm chiếm, ấp chiến lược thành “pháo đài chống cộng” nhưng chính sách và biện pháp đi từ gốc phản dân hại nước đã dẫn đến kết quả trái ngược. Quần chúng bị dồn đến chân tường, việc chống thuế, cuộc giành giật lại với địch từng chén cơm, hạt gạo và yêu cầu bung ra ngày càng cấp bách. Cuộc đấu tranh này đòi hỏi thái độ dứt khoát phải kiên quyết trừng trị, kiên quyết tiến công địch của các lực lượng vũ trang cách mạng, đồng thời trong chỉ đạo phong trao đô thị và vùng địch kiểm soát, cần giải quyết một thực tế là địch dựa được vào những cá nhân và bộ phận ác ôn bên cạnh nhóm cầu an, lừng chừng, mặc dù không đồng tình với địch, vẫn phải thực hiện các âm mưu, chính sách tàn bạo của địch do bị thúc ép.

Được sự chỉ đạo, uốn nắn của Thành ủy qua từng diễn biến, quân dân vùng ven đang khôi phục thế chủ động ở những nơi vừa mất sau Hiệp định và giữ vững thế chủ động trên toàn chiến trường.

Trên hướng Đông thành phố, địch cố sức lấn chiếm và đóng thêm đồn bốt, chặn hành lang, bao vây các lõm căn cứ. Quân dân Thủ Đức đã kiên quyết đánh trả, giữ vững thế bám trụ, tranh chấp, giằng co. Các xã, ấp tổ chức đánh địch bằng nội tuyến, thành công nhiều trận. Thế tiến công của quân dân Thủ Đức thể hiện rõ vào cuối năm 1973. Với trên 200 lần chiến đấu vừa và nhỏ, loại khỏi vòng chiến đấu gần 600 tên địch, đánh chiếm 15 đồn, bức rút 3 đồn, quân dân Thủ Đức đã buộc quân ngụy trong vùng giảm bớt lùng sục, càn quét, thậm chí có nơi xin “thỏa thuận không bắn nhau”. Phong trào chiến tranh nhân dân phát triển mạnh ở các xã Tăng Nhơn Phú, Long Bình, Phước Long, Bình Trưng…

Ở hướng Nam thành phố, quân dân Nhà Bè giữ thế bám trụ trong điều kiện địa hình không thuận lợi. Ta tấn công hai đồn Long Phước và Long Hậu, buộc địch bỏ hẳn một đồn.

Ở hướng Đông Nam, quân dân Duyên Hải và Đoàn 10 bẻ gãy nhiều trận càn quét, lấn chiếm của địch vào Rừng Sác. Tháng 3 năm 1973 ở khu dân cư Long Sơn, Phước Hòa, Đội 19 và Đội 32 Đoàn 10 đánh bại cuộc càn quét của giang đoàn 21 Vũng Tàu và giang đoàn thuộc đặc khu Rừng Sác của địch, bắn chìm và bắn cháy 3 tàu, bắn bị thương 2 tàu khác, diệt 49 ngụy (có 1 thiếu tá). Một tổ của Đội 2, trong tháng 11 năm 1973 bắn cháy 6 tàu địch. Đoàn 10 tổ chức đặc công lên đất liền, thực hiện nhiều trận tấn công táo bạo.

Từ tháng 6 năm 1973, Đoàn đã nhận được lệnh Bộ chỉ huy Miền đánh lại kho xăng Nhà Bè. Kho Shell cung cấp 60 phần trăm lượng xăng dầu quân sự và dân sự của địch ở miền Nam, được bảo vệ đặc biệt nhiều tầng nhiều lớp, chống đặc công nước, đặc công bộ, có chi viện trên không, trên mặt nước, có chế độ làm việc, tuyển nhân công chặt chẽ… luôn sẵn sàng tư thế chống bị tiến công bằng cách bố trí phòng thủ kết hợp lợi dụng địa hình phức tạp xung quanh.

Suốt 6 tháng trời, cơm nắm, gạo rang, trải qua mưa, năng, khát, rét… đội 5 đặc công bám nghiên cứu cả 4 hướng kho Shell. Có lần địch phát hiện được hầm ếch bí mật trong hàng rào nên chúng hết sức cảnh giác, tình huống càng về sau càng trở nên khó khăn phức tạp. Mặc dù vậy, sau 14 chuyến đột nhập, chiến sĩ ta đã xác định được hướng dùi sâu, “lót ổ”.

Đêm 2 rạng ngày 3 tháng 12 năm 1973, 8 chiến sĩ thuộc đội 5 đặc công trong đó có đại đội phó Hà Quang Vóc, trung đội trưởng Nguyễn Hồng Thế và các chiến sĩ Quân, Rục, Sĩ Bao, Minh, Tiềm đã lọt được vào kho Shell, 0 giờ 20 phút các dũng sĩ đã áp hết trái vào các bồn xăng, butagaz, đúng 4 giờ kho Shell bùng nổ cháy dữ dội. Các chiến sĩ đặc công trên đường rút ra lâm vào thế bị bao vây, hơn 1 ngày sau mới ra hết, trừ 2 đồng chí Bao và Tiềm bị 7 chiếc tàu ngăn chận, đã sẵn sàng hi sinh với 2 trái lựu đạn quyết tử, sau lúc đã hạ nhiều tên giặc. Lửa kho Shell mỗi lúc bùng thêm dữ dội, sáng rực bầu trời Sài Gòn. Trung tướng Phạm Ngọc Thuần, Tư lệnh Quân khu 3 và Quân đoàn 3 ngụy đích thân chỉ huy việc cứu chữa. Ngọn lửa cháy hơn 1 tuần chưa tắt, đến ngày thứ 8 lửa lại bắt sang một bồn 11 triệu lít dầu mazout nữa.

Địch thú nhận (tin các đài UPI, Manila, AFP, Sài Gòn…) kho Shell hoàn toàn bị thiêu hủy, cháy 35 triệu gallon xăng dầu tương đương 140.000.000 lít, 12 bồn butagaz, 1 tàu dầu Hà Lan 12 ngàn tấn, 1 cơ sở lọc dầu, 1 cơ sở trộn nhớt, 1 khu kho lương thực, 1 khu nhà lính… Đối phó với nạn thiếu xăng dầu, Tổng trấn Sài Gòn - Gia Định phải ra lệnh tạm đóng cửa các trạm bán xăng dầu trong thành phố.

Không kể nỗi thốn óc vì bị mất một khối lượng chất đốt cho chiến tranh quá lớn, chỉ nói riêng về mặt phòng thủ, trận đánh này đã làm đau đầu Bộ tổng tham mưu ngụy trước dấu hỏi: Việt cộng đột nhập bằng cách nào? Một ủy ban điều tra hỗn hợp gồm các thành phần: Bộ tư lệnh cảnh sát quốc gia, Bộ chỉ huy cảnh sát thủ đô, Cục an ninh quân đội do tướng Lê Nguyên Khang cầm đầu, đã được thành lập để điều tra về vụ này. Hồ sơ chưa kết thúc thì một lần nữa 4 chiến sĩ đặc công đội 5 do Trần Ngọc Sĩ chỉ huy lại đột nhập kho Caltex, thiêu hủy 50 triệu lít xăng. Trong 4 tủ sắt hồ sơ về vụ nổ kho Shell ở Bộ quốc phòng ngụy còn để lại một biên bản ghi kết luận còn “bảo lưu”, chỉ đúng một nửa: “Đây là một trận đánh do nội tuyến kết hợp Việt cộng thực hiện”(1).

Trận đánh kho Shell ngày 3 tháng 12 năm 1973 được tặng thưởng huân chương Quân công giải phóng hạng nhì. Kết hợp với nhiều thành tích khác, các đồng chí Hà Quang Vóc, Nguyễn Hồng Thế được tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang giải phóng và chiến công đánh phá kho Shell được thưởng Huân chương Chiến công Hạng I. Hai liệt sĩ Nguyễn Công Bao, Phạm Văn Tiềm được tuyên dương hành động anh hùng. Bốn chiến sĩ còn lại được tặng Huân chương chiến công hạng 3.


(1) Biên bản mang kí hiệu 0481-TTLQ - ĐT
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8635


Lính của PTL


« Trả lời #176 vào lúc: 26 Tháng Tư, 2012, 06:52:33 AM »

Trên hướng Tây Sài Gòn, quân dân Bình Chánh trong điều kiện bám trụ khó khăn, ác liệt, vẫn chủ động bằng 3 mũi giáp công tấn công tiêu diệt đồn Bình Trị Đông bắt sống toàn bộ quân địch trong đồn, thu 40 súng.

Trên hướng Bắc, quân dân Hóc Môn, Gò Vấp đẩy lùi nhiều cuộc càn quét, ủi phá địa hình ở An Phú Đông, Thạch Lộc, Quới Xuân, Tân Thới Hiệp, Nhị Bình… Ở Tân Bình, ngày 1 tháng 9 năm 1973 du kích diệt gọn một toán lính của biệt khu thủ đô vừa mới đến đóng chốt dã ngoại ở Vĩnh Lộc. Hôm sau địch tổ chức càn quét lớn để trả đũa, du kích Tân Bình bày trận sẵn đã chặn đánh bẻ gãy cuộc càn.

Trên vùng trung tuyến Tây Bắc, quân dân Củ Chi cùng bộ đội chủ lực quân khu liên tục giáng trả địch càn quét, lấn chiếm.

Tiểu đoàn Quyết Thăng đứng chân ở Củ Chi cùng lực lượng võ trang địa phương đối đầu sư đoàn 25 ngụy, thực hiện nhiều trận đánh tốt, giữ vững địa bàn: trận xóm Trại Bà Huệ (tháng 6 năm 1973) đánh trả địch đột kích, bắn rơi 2 máy bay, bắt sồng 4 giặc lái, trận chống càn tiếp theo ở Nhuận Đức, An Nhơn Tây diệt 6 xe tăng, trận chủ động tiến công ra vùng ngoài gây thiệt hại nặng 2 đại đội thuộc sư đoàn 25 ngụy ở Trung Hòa, Tầm Lanh (tháng 9 năm 1973)…

Tuy nhiên các cuộc đánh trả và tiến công của ta chưa chặn đứng được âm mưu tiếp tục lấn chiếm của địch.

Mùa khô 1973-1974, chúng quyết tâm triển khai kế hoạch lấn chiếm 60 lõm căn cứ giải phóng của ta ở miền Đông Nam Bộ, trọng tâm là xung quanh Sài Gòn. Âm mưu của chúng là lập lại tuyến phòng thủ trung gian, chiếm lại đường số 3 Bà Rịa, chiếm vùng Bắc Tân Uyên, chiếm các vùng Dầu Tiếng, Long Nguyên (Thủ Dầu Một), Bời Lời (Tây Ninh) và vùng Hố Bò, An Nhơn Tây (Củ Chi). Cuộc chiến đấu chống lấn chiếm tiếp tục diễn ra quyết liệt. Các lực lượng địa phương vừa đánh càn vừa chủ động tổ chức tiến công sâu vào vùng địch kiểm soát. Tiểu đoàn 4 Gia Định tiêu diệt các đồn Bình Hạ, Cây Trôm (Phước Hiệp), du kích Củ Chi liên lục đánh địch ở các ấp chiến lược Bàu Tre, Thái Mĩ.

Đội nữ vũ trang Củ Chi hóa trang tấn công táo bạo giữa ban ngày trên đường Sài Gòn - Tây Ninh, diệt gọn một tốp sĩ quan địch, thu được súng và xe honda đưa về căn cứ. Phân đội súng cối Củ Chi pháo kích trả đũa nhiều trận vào các căn cứ Đồng Dù, Đồng Chùa, Trung Hòa… đánh trúng nhiều trận địa pháo của địch.

Liên đội đặc công thủy bám chặt sông Sài Gòn đánh chìm và đánh bị thương 22 tàu thuyền chiến đấu của địch, khống chế hoạt động trên sông của chúng.

Ngày 31 tháng 1 năm 1973, quân ngụy bắt đầu tiến công các lõm du kích ở Trung An, 30 du kích Trung An chiến đấu ngoan cường 3 ngày 2 đêm diệt 50 tên. Phối hợp với hoạt động võ trang, nhân dân đấu tranh đòi địch bồi thường những thiệt hại về sinh mạng, hoa màu, tài sản qua các cuộc càn. Địch lúng túng buộc phải nhượng bộ. Bằng lí lẽ, đồng bào thuyết phục được một bộ phận các sắc lính địch đào, rã ngũ. Ngoài hàng trăm vụ cá nhân đào ngũ, tháng 11 năm 1973, toàn bộ trung đội nghĩa quân ở Thái Mĩ và một đại đội chủ lực ngụy đóng ở sở Ba Làng (Củ Chi) rã ngũ.

Trước tâm trạng chán nản ngày càng phát triển trong hàng ngũ địch do Mĩ cắt giảm viện trợ, ta đã tranh thủ xây dựng lực lượng mật trong hàng ngũ địch, nhất là trong lực lượng nghĩa quân và nhân dân tự vệ. Phần lớn các xã đều có du kích mật, ít nhất một tổ, có xã đến tiểu đội. Ở Thủ Đức, thời kì này số du kích mật lên đến gần 500. Đây là lực lượng phối hợp quan trọng trong đấu tranh chính trị, binh vận và là mũi tiến công địch từ trong ra.

Cho đến cuối năm 1973, quân dân Sài Gon - Gia Định đã ổn định được thế bảo vệ và giữ vững được hệ thống lõm du kích và vùng giải phóng, góp phần làm cho kế hoạch lấn chiếm, bình định của địch bị chặn đứng, góp phần buộc địch phải từng bước lui về phòng giữ trọng điểm khu trung tuyến từ Tân Uyên đến các liên tỉnh lộ 16, quốc lộ 1, quốc lộ 4, tỉnh lộ 7, lộ 8 đến Dầu Tiếng(1).

Sau Hiệp định Paris, Cấp ủy và Bộ chỉ huy Quân khu dời căn cứ về vùng “Tam giác sắt”. Lần lượt đến cuối 1973, toàn bộ các cơ quan của Thành từ biên giới Campuchia đã về hết ở Dầu Tiếng, Bến Cát, Củ Chi, và bám lẫn vào vùng ven và ngoại ô thành phố.

Đấu tranh của quần chúng ở các ấp chiến lược đẩy lui địch thêm một bước buộc chúng phải cho một bộ phận quần chúng bung về ruộng vườn cũ làm ăn(2).

Cờ, khẩu hiệu địch lần lượt bị xé bỏ. Từng lúc, từng nơi bộ máy kềm kẹp địch bị tê liệt. 39 tề ác ôn và 1 trung đội dân vệ bị loại, trên 600 tên trong bộ máy kềm kẹp của địch bị cảnh cáo, phải xuống nước, đi thanh minh, thú tội.

Sau gần một năm phá hoại Hiệp định Paris, ngụy quyền đứng trước những khó khăn mới, quân số tụt giảm(3), viện trợ quân sự của Mĩ bị cắt bớt(4), kinh tế đình đốn, ngân sách ngụy quyền 1973-1974 hao hụt 266 tỉ (tiền Sài Gòn), lạm phát tới 200 tỉ, số người thất nghiệp lên tới 1 triệu 32 vạn. Trong thông điệp tháng 6 năm 1974, Thiệu đã phải kêu gọi binh lính “đánh giặc theo kiểu con nhà nghèo”. Trong khi đó cuộc thanh lọc và sa thải công nhân viên chức của Thiệu làm cho nội bộ ngụy quân, ngụy quyền càng lục đục gay gắt(5).


(1) Năm 1973, quân dân Sài Gòn - Gia Định đánh trên 700 trận lớn, nhỏ, loại khỏi vòng chiến 2.375 địch, phá hủy 82 xe quân sự (có 37 xe tăng và xe bọc thép), 29 tàu xuồng chiến đấu, bắn rơi 9 máy bay…
(2) Cất được 311 chòi, nhà, đưa được 300 gia đình về đất cũ.
(3) Từ 1.086.794/năm 1972 tụt xuống 1.033.291/năm 1973 rồi 971.354/năm 1974.
(4) Từ l,614 tỉ đôla/tài khoản 1973 xuống 1.185 tỉ đôla tài khoản 1974.
(5) Trong năm 1973-1974 Thiệu cách chức 2 phụ tá tổng thống, 20 bộ trưởng, 35 tỉnh trưởng, 60 quận trưởng, 35 sĩ quan cấp tướng, 450 cấp tá, 1.000 cấp úy, sa thải 54.000 công nhân viên chức.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8635


Lính của PTL


« Trả lời #177 vào lúc: 26 Tháng Tư, 2012, 06:53:19 AM »

Nhưng tập đoàn tay sai Thiệu vẫn còn rất ngoan cố. Ngày 6 tháng 1 năm 1974, Thiệu trắng trợn tuyên bố “… không có hòa bình, không có tổng tuyển cử…”

Y gào thét “phải đẩy mạnh tấn công ngay tại vùng cộng sản kiểm soát”, “phải đánh trước”… và tiếp tục ráo riết thực hiện kế hoạch 2 năm 1973 - 1974, lần lượt tung xuống xã, ấp 40% công chức và 2.400 sĩ quan để tăng cường bộ máy kềm kẹp tại cơ sở.

Đầu năm 1974, địch huy động lực lượng sư đoàn 25 mở cuộc hành quân đánh sâu vào các vùng căn cứ giải phóng Bắc Củ Chi, đồng thời sử dụng một bộ phận chủ lực còn lại kết hợp với bảo an, dân vệ, phòng vệ dân sự, cảnh sát và các đoàn bình định mở các cuộc hành quân bình định lấn chiếm vùng ven chung quanh Sài Gòn.

Trong tình hình trên, Hội nghị Thành ủy tháng 1 năm 1974 chủ trương: dưới khẩu hiệu trung tâm là hòa bình, độc lập, dân chủ cải thiện dân sinh, ở nội thành đẩy mạnh phong trào đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Paris, ra sức xây dựng lực lượng cơ sở, tạo điều kiện và thời cơ đi tới cao trào, phối hợp chặt chẽ với phong trào nông thôn và mũi tiến công quân sự, tiến lên đánh đổ tập đoàn quân phiệt, phát xít tay sai phản động của đế quốc Mĩ ở miền Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ.

Phối hợp chặt chẽ với phong trào ở nội thành, ở nông thôn, phải tập trung chống phá bình định của địch, chống phá địa hình, chống phá càn quét, lấn chiếm, chống cướp lúa, gom dân, chống đôn quân bắt lính…

Hội nghị đề ra yêu cầu: phát triển các loại lực lượng lên từ 2 đến 3 lần ở cả thành phố lẫn nông thôn; tăng cường số lượng và chất lượng của lực lượng vũ trang đảm bảo tiêu diệt lực lượng ác ôn, kềm kẹp, lục lượng lùng sục, đánh bại lực lượng càn quét, lấn chiếm; đẩy mạnh đấu tranh phá lồng kềm và giành quyền làm chủ của nhân dân, công tác Xây dựng Đảng, xây dựng thực lực cách mạng đô thị phải đi sâu hơn nữa vào xí nghiệp, xóm lao động và các ngành trọng điểm.

Sinh khí mới về chính trị của các tầng lớp quần chúng sau Hiệp định Paris gặp sự khủng hoảng kinh tế của ngụy và thái độ hiếu chiến của Thiệu hợp thành một phát khởi mới trong phong trào đấu tranh chính trị ở đô thị. Kinh nghiệm ngày một dày dạn, trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức của Thành ủy với phong trào ngày một chặt chẽ, sắc sảo hơn.

Ngày 14 tháng 2 năm 1974, Tổ chức nhân dân đòi thi hành Hiệp định Paris mà tiền thân của nó là Lực lượng quốc gia tiến bộ, do ông Trần Ngọc Liễng làm chủ tịch ra mắt. Hàng loạt tổ chức khác của các giới cũng được thành lập: Ủy ban chống sa thải, Ủy ban chống đàn áp, bất công, Mặt trận nhân dân cứu đói, Ủy ban bảo vệ các bạn hàng chợ, Ủy ban bảo vệ quyền lợi sinh viên, Ủy ban bảo vệ tự do báo chí…

Theo sự chỉ đạo của ta, một lực lượng chính trị mới, “lực lượng thứ ba” đang hình thành sau Hiệp định Paris bao gồm các nhân sĩ trí thức, binh sĩ, dân biểu, nhà báo, tu sĩ, công thương gia, cựu tướng tá ngụy… có khuynh hướng chống Thiệu, đòi hòa bình, độc lập, dân chủ; nổi bật là các nhân vật như: bà luật sư Ngô Bá Thành, ông Trần Ngọc Liễng, kĩ sư Dương Văn Đại, dân biểu Hồ Ngọc Nhuận, dân biểu Lí Quý Chung, giáo sư Lí Chánh Trung, linh mục Phan Khắc Từ, thượng tọa Thích Pháp Lan, dân biểu Kiều Mộng Thu, ni sư Huỳnh Liên, nhà báo Nam Đình… Tổ chức nhân dân đòi thi hành Hiệp định Paris đóng vai trò nòng cốt trong hoạt động của lực lượng thứ ba. Cũng trong thời gian này Ủy ban Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và hòa hình khu Sài Gòn - Gia Định ra mắt bao gồm nhiều nhân sĩ, trí thức đã ra vùng giái phóng, do giáo sư Nguyễn Văn Chi làm Chủ tịch. Lực lượng thứ ba tiêu biểu cho xu hướng chính trị của giai cấp tư sản dân tộc, tuy còn những mặt hạn chế, nhưng hoạt động của lực lượng này làm cho đế quốc Mĩ và tập đoàn quan liêu quân phiệt, đại biểu cho giai cấp tư sản mại bản và phong kiến phản động, bị phân hóa, cô lập, tạo ra một thế rất tốt cho phong trào đô thị.

Tháng 4 năm 1974 tất cả các nghiệp đoàn ở Thành phố đã phát động một chiến dịch đấu tranh chống sa thải. Tiêu biểu là những cuộc đấu tranh của 1.000 công nhân hãng MIC, của 1.500 công nhân các hãng bột mì Sakibomi, Viphumiro, của 1.000 công nhân bốc vác Khánh Hội và cuộc đấu tranh của 3.000 công nhân Hàng không Việt Nam. Ngày 30 tháng 4 năm 1974, đại diện 200 nghiệp đoàn họp Hội nghị chống sa thải, kêu gọi công nhân đòi Thiệu phải ban hành về lương tối thiểu, vãn hồi hòa bình.

Cùng với phong trào dân sinh dân chủ của công nhân và lao động, phong trào đấu tranh đòi trả tù chính trị cũng liên tục tiếp diễn đến cuối năm 1974. Tháng 10, tháng 11 có hai cuộc biểu tình hàng ngàn người ở Gia Định và ở Sài Gòn đòi thả tù chính trị, có đông đảo ni sư và phật tử tham gia.

Giới báo chí đã nhập cuộc và trở thành một mũi xung kích công khai chống chế độ độc tài Nguyễn Văn Thiệu. Ngày 20 tháng 9 năm 1974 các chủ báo và kí giả họp mít tinh, diễu hành trước tòa soạn báo Điện Tín, một trong những tờ báo đối lập chế độ Sài Gòn và do ta chi phối, mở đầu cuộc đấu tranh chống sắc luật 007, sắc luật kềm kẹp báo chí của Thiệu.

Ngày 25 tháng 9 năm 1974 Ủy ban Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Khu Sài Gòn - Gia Định ra lời kêu gọi chống Thiệu, đòi hòa bình, tự do, dân chủ.

Đối phó với phong trào đấu tranh của nhân dân đô thị, ngày 22 tháng 9 năm 1974, Mĩ Thiệu vạch ra “Kế hoạch Sao chổi” nhằm “đàn áp cho kì được các phong trào này”, “thanh toán toàn bộ phản động (cộng sản, thân cộng…)”, “cô lập, chia rẽ nội bộ các phong trào”.

Ngày 1 tháng 10 năm 1974, báo chí lột trần “Kế hoạch Sao chổi” này trước dư luận, gây nên làn sóng căm phẫn lan tràn. Tập đoàn Thiệu hết sức bối rối.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8635


Lính của PTL


« Trả lời #178 vào lúc: 26 Tháng Tư, 2012, 06:53:50 AM »

Thừa thắng, ngày 10 tháng 10 năm 1974 lực lượng báo chí được sự hỗ trợ của các lực lượng sinh viên, Ủy ban bảo vệ quyền lợi lao động và Mặt trận nhân dân cứu đói… tổ chức một cuộc xuống đường gọi là “ngày kí giả ăn mày” do nhà báo lão thành Tô Nguyệt Đình đứng đầu. Hàng trăm kí giả mang bị, gậy xuống đường đã thu hút nhiều dân biểu, nghị sĩ đối lập và một “biển đồng bào” trên đoạn đường công trường Lam Sơn đến chợ Bến Thành với khẩu hiệu: “Còn Thiệu, còn chiến tranh”. Một “rừng cảnh sát” đã không làm gì được. Các hãng thông tin UPI (Mĩ), AFP (Pháp), Reuter (Anh) đều cho đây là cuộc biểu tình lớn nhất trong 9 năm cầm quyền của Thiệu. Tiếp sau đó là 3 cuộc biểu tình lớn nữa vào các ngày 31 tháng 10, ngày 28 tháng 11 và ngày 22 tháng 12 năm 1974 gọi là những “ngày báo chí và công lí thọ nạn”, gây tiếng vang lớn trong ngoài nước. Thiệu phản ứng quyết liệt, nhưng lực lượng quần chúng và giới báo chí vẫn xốc tới.

Cho đến cuối năm 1974, Sài Gòn có đến 30 tổ chức chính trị xã hội chống Thiệu, đòi tổng tuyển cử, đòi tự do dân chủ, đòi cải thiện đời sống. Đáng chú ý là trong phong trào đô thị có cả lực lượng thương phế binh, mà về quan điểm, ta coi là một bộ phận quần chúng đau khổ vì bị ngụy quyền hắt hủi và có thể đấu tranh với chế độ độc tài, phản dân. Ngày 4 tháng 12 năm 1974 Ủy ban hành động cho công bằng xã hội ra đời tập hợp trên 10.000 sinh viên Thiên chúa giáo là một nét mới của phong trào Công giáo chống Thiệu. Đêm Noel ngày 24 tháng 12 năm 1974, tại nhà thờ dòng Chúa cứu thế và nhà thờ Vườn Xoài, hàng trăm thanh niên học sinh và sinh viên Thiên chúa tổ chức mít tinh phản đối ngụy quyền bắt lính.

Tổ chức rất rộng rãi Mặt trận nhân dân cứu đói ra mắt từ tháng 9 năm 1974 do đại đức Thích Hiến Pháp làm Chủ tịch và dân biểu Nguyễn Văn Hàn làm tổng thu kí, thu hút nhiều thành phần có thế lực: tổng vụ trưởng vụ cư sĩ giáo hội Phật giáo thống nhất Thích Quảng Long, ni sư Huỳnh Liên, linh mục Phan Khắc Từ, chủ tịch Ủy ban bảo vệ quyền lợi lao động, các dân biểu đối lập Kiều Mộng Thu, Hồ Ngọc Nhuận, giáo sư Lí ‎Chánh Trung, luật sư Ngô Bá Thành, các nữ nghệ sĩ Kim Cương, Thanh Nga… Ta đưa một số cán bộ tham gia đứng tên vào Mặt trận: Ngọc Trảng, Ba Thép, Xuân Thượng. Với khẩu hiệu “lá lành đùm lá rách”, ẩn giấu nội dung tố cáo chế độ. Hình thức hoạt động của mặt trận thật sáng tạo: biểu tình có ca hát “dậy mà đi”, biểu tình “xa luân chiến” (biểu tình không lớn mà liên miên ngày này qua ngày khác, đêm này qua đêm nọ như bánh xe quay làm cho cảnh sát mất ăn mất ngủ). Phong trào công khai, nhưng ra báo bí mật “Cứu đói” với 10.000 bản được báo công khai cổ vũ (Điện Tín của Lí Chánh Trung, Đại Dân Tộc của Kiều Mộng Thu). Mặt trận còn lập “Khối dân tộc xã hội” đấu tranh nghị trường, tổ chức “báo nói”, “văn nghệ chạy”, “biểu tình ngồi”, “phát chẩn”, có cả dân biểu, ni sư tham gia.

Chưa lúc nào tập đoàn phản dân Thiệu bị cô lập hơn lúc này. Ngày 25 tháng 1 năm 1975, 18 đoàn thể thuộc nhiều khuynh hướng chính trị cùng kí‎ chung một bản kiến nghị đòi Mĩ chấm dứt viện trợ cho Thiệu, đòi Thiệu từ chức. Một tuần sau, ngày 1 tháng 2 năm 1975, 23 tổ chức tiến bộ công bố chung một bản cáo trạng tố cáo Thiệu là sản phẩm của chiến tranh, còn Thiệu là còn chiến tranh…

Thiệu “chữa cháy” bằng con đường phát xít hóa ngày càng trắng trợn. Những trận xô xát của nhân dân với mật vụ, cảnh sát xảy ra hàng ngày trên đường phố.

Ngày 4 tháng 2 năm 1975, các k‎í giả tổ chức mít tinh mừng xuân Ất Mão tại rạp Khải Hoàn. Đêm trước đó, mặc dù bị công an, mật vụ đồng loạt khám xét nhà, bắt giữ một số k‎‎í giả và đóng cửa một loạt các báo đối lập, nhưng cuộc mít tinh vẫn được tiến hành. Lễ đài mừng xuân trở thành diễn đàn tố cáo chế độ phát xít độc tài của Thiệu, lên án việc khủng bố, bắt kí giả, sinh viên và đóng cửa các báo.

Tính ra từ tháng 5 năm 1972 đến đầu năm 1975, Thiệu ban hành 60 sắc lệnh phát xít, thủ tiêu mọi quyền dân chủ sơ đẳng nhất, đặc biệt là sắc lệnh ngày 12 tháng 5 năm 1973 (kí hiệu 009-SLNV) khủng bố tất cả những ai không đồng tình với Thiệu. Trong 2 năm 1973-1974 chúng đã giam cầm 93.340 người… Trong tình thế đó, sự lãnh đạo phong trào đô thị của Thành ủy ngày càng sắc bén, biết tìm ra khẩu hiệu cho từng giới, từng ngành, biết căn cứ vào khả năng và điều kiện cụ thể và từng thời điểm chuyển các khẩu hiệu cho từng giới, từng ngành và từng thời điểm chuyển các khẩu hiệu từ thấp lên cao, chuyển hình thức và quy mô đấu tranh một cách linh hoạt, sát hợp… Nhờ vậy phong trào đô thị không chỉ thu hút quần chúng cơ bản mà còn lôi kéo được nhiều thành phần trung gian, thậm chí tranh thủ được sự đồng tình của một bộ phận sĩ quan, binh lính, nhân viên ngụy quyền giúp phong trào đấu tranh vừa có hiệu quả vừa bảo tồn được lực lượng. Gần 2 năm sau Hiệp định Paris phong trào đô thị vươn lên mạnh mẽ, góp phần thúc đẩy nhanh sự khủng hoảng toàn diện của ngụy quyền Sài Gòn đồng thời tập dượt quần chúng đô thị tiến lên phối hợp ngày càng chặt chẽ với đòn tấn công quân sự trong cuộc chiến mùa khô 1974-1975.

Thời kì này mũi tấn công vũ trang nội thành cũng dần dần được phục hồi.

Quán triệt Nghị quyết 08, 09 Thành ủy, nhằm đưa quần chúng ở đô thị đứng lên giành quyền làm chủ ở cơ sở, ra sức phát triển thực lực cách mạng, chuẩn bị điều kiện cho tổng tấn công và nổi dậy ở đô thị, qua một thời gian kiên trì công tác, các đoàn thể và lực lượng vũ trang đã gây dựng, củng cố được các lõm chính trị ở nội đô, khôi phục, củng cố và phát triển sắp xếp lại các đội biệt động trong tình hình mới. Đoàn biệt động 19-5 được thành lập gồm các đội 1, 3, 4, 5. Các đội độc lập 7, 8, 9, 11, 15, Z17, V20, V22 cũng được hình thành; mỗi đội tương đương một đại đội. Các đội vũ trang của đoàn thể quần chúng và ban ngành: Thành đoàn, Hoa vận, Tuyên huấn, Công an, Phụ vận, Binh vận cũng được khôi phục.

Ban chỉ huy quân sự các quận nội thành được sắp xếp, củng cố. Tháng 8 năm 1974, Ban chỉ huy Thành đội Sài Gòn thay thế Bộ chỉ huy Quân khu Sài Gòn được giải thể để tăng cường lực lượng mũi nhọn đánh sâu vào hậu phương, sào huyệt địch.

Trước đó, tháng 4 năm 1974 Bộ chỉ huy Miền đã có quyết định thành lập lữ đoàn đặc công biệt động 316 bố trí ở xung quanh và nội đô thành phố. Đơn vị tập hợp nhiều cán bộ tình báo, biệt động đặc công đã dày dạn kinh nghiệm chiến trường Sài Gòn - Gia Định, hình thành các cụm đặc công và biệt động áp sát và dùi sâu vào “thủ đô” ngụy quyền, chuẩn bị tiến công chiến lược. Ngoài ra, 6 trung đoàn đặc công cũng được triển khai trên các hướng xung quanh ven đô, tạo thế đứng phối hợp và bảo đảm cho thời cơ quyết định.

Tháng 9 năm 1974, Thành ủy tổ chức hội nghị đô thị, tổng kết tình hình và phổ biến nhiệm vụ cho các lực lượng vũ trang đô thị trong tình hình mới: tập trung xây dựng lực lượng và hoạt động tác chiến phục vụ yêu cầu tạo địa bàn và hành lang, phối hợp chiến trường chung. Hội nghị đề ra yêu cầu và chỉ tiêu cụ thể phải đạt được; đồng thời phát động phong trào thi đua diệt địch trong nội thành. Từ tháng 9 năm 1974 đến trước tổng tiến công tháng 4 năm 1975, các lực lượng vũ trang đô thị đánh 55 trận, diệt hàng trăm tên địch thuộc lực lượng kềm kẹp cơ sở, lực lượng đàn áp, góp phần đẩy mạnh khí thế quần chúng lên một bước mới, đặc biệt mở thêm và củng cố các lõm làm chủ chính trị vững chắc, tạo điều kiện cho lực lượng vũ trang bên ngoài có điều kiện áp sát, luồn vào thành phố, hỗ trợ quần chúng nổi dậy.

Chiến trường ven đô khắc phục sự chập chờn, lúng túng, đã ổn định về thế, phát triển lực và giữ quyền chủ động tiến công. Trong đợt cao điểm chống địch lấn chiếm mùa khô đầu năm 1974, các lực lượng địa phương đánh địch ở khắp các huyện ngoại thành Củ Chi, Thủ Đức, Bình Chánh, Nhà Bè; đến tháng 6 năm 1974 đã khôi phục và phát triển thế trước Hiệp định. Trong thời gian này, Bộ chỉ huy Miền đã mở chiến dịch đường 2 Bà Rịa - Long Khánh (tháng 3 năm 1973) và chiến dịch đường 7 Bến Cát - Rạch Bắp (tháng 5 năm 1974) chọc thủng tuyến phòng thủ trung tuyến của địch, tạo ra thế mới trên chiến trường Đông Nam Bộ, đặc biệt là chiến trường phía Bắc Sài Gòn.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8635


Lính của PTL


« Trả lời #179 vào lúc: 26 Tháng Tư, 2012, 06:54:58 AM »

Tháng 6 năm 1974, Thiệu đã phải họp Hội đồng tướng lĩnh để cứu xét tình hình. Trong Hội nghị này có nhiều ‎kiến đề cập tới việc cần phải thay đổi bố trí chiến lược, phải thu hẹp đất đai kiểm soát để tập trung sức mạnh giữ các trọng điểm; cả thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ quốc phòng Trần Thiện Khiêm, Tổng tham mưu trưởng Cao Văn Viên, Trưởng cơ quan tùy viên quốc phòng Mĩ tại Sài Gòn (DAO) John Murrey, tùy viên quân sự của Đại sứ quán Mĩ Martin, đều tán thành quan điểm quân đội Sài Gòn phải co cụm lại thì mới chống đỡ nổi trước sức tấn công của đối phương.

Giữ năm 1974, đồng chí Nguyễn Văn Linh về Trung ương Cục, đồng chí Mai Chí Thọ làm Bí thư thành ủy Sài Gòn - Gia Định. Tháng 7 năm 1974 trung đoàn Quyết Thắng Sài Gòn - Gia Định được củng cố mạnh và đổi tên thành trung đoàn Gia Định. Tháng 8 năm 1974, Quân khu Sài Gòn - Gia Định được biên chế lại thành Thành đội và tích cực chuẩn bị chiến trường để phối hợp với lực lượng lớn của trên.

Hội nghị Thành ủy tháng 9 năm 1974, xác định nhiệm vụ đến cuối năm 1975 và quyết định lập 2 cánh chỉ đạo gồm: cánh A đặc trách đô thị, cánh B đặc trách nông thôn.

Trong những tháng 7, 8, 9 năm 1974, hoạt động của các lực lượng vũ trang địa phương tăng lên và có hiệu quả hơn. Trong 3 tháng đã đánh 90 trận, diệt 456 tên địch (có 7 sĩ quan cấp tá). Nổi bật là trận liên đội thủy đánh sập cầu Bông dài 48m ở Hóc Môn và phá hủy 1 tua địch. Hai tháng 9 và 10 năm 1974, lực lượng đặc công Miền và Sài Gòn - Gia Định đã tiến công 82 mục tiêu, trong số 92 mục tiêu được giao ở vùng ven Sài Gòn.

Tháng 10 năm 1974, bộ đội pháo binh Sài Gòn - Gia Định hai lần pháo kích trung tâm huấn luyện Quang Trung. Tháng 10, 11 năm 1974 bộ đội địa phương Bình Chánh đánh nhiều trận xuất sắc như trận đánh điểm diệt viện ở Tân Nhật, diệt nhiều địch trong đó có trung tá quận trưởng Bình Chánh Nguyễn Đức Thuận (ngày 12 tháng 10), trận san bằng phân chi khu Đa Phước (ngày 11 tháng 11 năm 1974).

Ở Củ Chi tiểu đoàn 1 Quyết Thắng cùng lực lượng địa phương và du kích diệt đồn Dân Hàng (ngày 8 tháng 10 năm 1974), bót Đồng Hới (ngày 14 tháng 11 năm 1974) và liên tiếp đánh thắng địch ở Tân Quy, Phước Thạnh, Bắc Hà, Mũi Lớn, Phước Hưng, lộ 7, Bến Đình, Bàu Tre, Bàu Điều, Mít Nài, Truông Viết, Suối Cụt, Đồng Chùa, Suối Cạn, Sa Nhỏ…

Bộ đội Hóc Môn từ vùng Giồng Ông Hòa tiến công phía Tây Hóc Môn, làm chủ lộ 9 tạo điều kiện cho dân các xã Tân Xuân, Xuân Thới Nhất phá thế kềm kẹp của địch. Bộ đội Tân Bình tấn công đồn Bình Hưng Hòa.

Ba tháng cuối 1974 các lực lượng võ trang nhân dân Sài Gòn - Gia Định càng chủ động tấn công, thọc sâu áp sát, đánh địch ngay trong hang ổ, đánh trúng đối tượng kềm kẹp cơ sở như tề ấp, tề xã, phân chi khu cảnh sát, hỗ trợ quần chúng giành quyền làm chủ(1).

Ba đồng chí Phan Trung Kiên (Trung đoàn Gia Định), Nguyễn Đình Khơi (Trung đoàn Gia Định), Trương Văn Hải (Bộ đội địa phương Thủ Đức) được tuyên dương anh hùng.

Cuối tháng 11 đầu tháng 12 năm 1974, Thành đội mở lớp tập huấn chuyên đề chiến thuật đánh đồn bót cho 79 cán bộ các cấp và lựa chọn 161 đồng chí trong số anh em được trao trả sau Hiệp định Paris, đi học các lớp tập huấn quân sự địa phương. Số này được đưa về các quận, huyện làm cán bộ du kích, ấp đội, xã đội… Đến cuối năm 1974, 12 đội biệt động trực thuộc Thành đã xây dựng được 40 lõm chính trị và nhiều cơ sở, kho tàng cất giấu vũ khí ở nội thành. Thành đội phát triển thêm được 218 du kích xã, 58 du kích ấp, 71 trong số 75 xã đã có xã đội, 270 ấp trong số 360 ấp có cơ sở chính trị và vũ trang; khôi phục lại 33 xã bị đứt liên lạc, tổ chức thêm được 14 chi bộ, 15 chi đoàn, 12 tổ hạt nhân.

Cuối năm 1974, “Ủy ban nghiên cứu chiến lược” thuộc Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn đã phải thú nhận trong bản “Đánh giá tương quan lực lượng giữa Việt Nam Cộng hòa và Cộng sản”: “Chỉ có thể bảo đảm một cách giới hạn an ninh lãnh thổ và dân chúng nhất là tại nông thôn”. Từ hùng hổ tung quân lấn chiếm, bình định sau Hiệp định Paris, địch đã buộc phải lui về phòng ngự đối phó là chủ yếu và tập trung phòng thủ các vùng trọng điểm.

Sài Gòn - Gia Định là sào huyệt cuối cùng, nơi mà địch dốc sức phòng thủ.

Trên hướng Tây Bắc, chúng đào nhiều chiến hào và mương sâu, rộng hình thành một đường ngăn chặn kéo dài từ Phú Hòa Đông đến Đức Hòa. Chúng ủi trắng địa hình phía Nam Rạch Sơn từ Nhuận Đức đến Phú Hòa Đông; đánh phá ác liệt các vùng Phước Thạnh, Phước Hiệp, liên tục đổ biệt kích xuống vùng phía bắc lộ 7; cắm thêm đồn bót trên các trục lộ 1 và 2; dùng phi pháo ngày đêm uy hiếp các vùng sản xuất của dân, khu căn cứ đầu não của Sài Gòn - Gia Định.

Trên hướng Nam và Tây Nam, Tân Bình - Bình Chánh - Nhà Bè chúng ra sức hủy diệt địa hình, xóa lõm du kích, đóng thêm đồn bót, chặn các hành lang của ta, cố đánh bật các lực lượng vũ trang của ta ra khỏi vùng ven.

Trên hướng Đông và Đông Bắc, chúng tập trung đánh phá vùng Bưng Sáu xã, mở rộng địa bàn oanh kích tự do, làm đường và dựng khu thương phế binh ngụy ở ấp Nam xã Phước Long… nhằm bịt các cửa khẩu lên xuống của ta, trục xuất ta ra khỏi một trong những cửa ngõ xung yếu chỉ cách Sài Gòn có 7km.

Địch vẫn nuôi nhiều tham vọng, nhưng thế và lực đang tụt không cưỡng lại được. Theo “Bản thuyết trình tình trạng quân số, tài khóa 1975” của Bộ tổng tham mưu quân đội ngụy thì năm 1974 có 17 vạn lính Sài Gòn đào rã ngũ. Để bù đắp quân số bị thiếu hụt, ngoài việc dồn quân, bắt lính, chúng còn bắt cả số lao công đào binh, quân phạm đang bị giam giữ để bổ sung, nhưng tính đến ngày 31 tháng 1 năm 1975 cũng chỉ được 961.000 tên, tức chỉ được 87% quân số so với kế hoạch là 1.000.000 tên. Quân số chiến đấu lại càng giảm sút. Nhiều đơn vị chỉ đạt trên dưới 50% quân số tham gia hành quân ngay lực lượng cơ động là dù và thủy quân lục chiến, tuy bao giờ cũng được ưu tiên bổ sung quân số, chúng vận thiếu hụt nghiêm trọng. Sư dù thiếu 2.154 tên, sư thủy quân lục chiến thiếu 2.645 tên.


(1) Trong đợt này, lực lượng võ trang nhân dân Sài Gòn - Gia Định đã đánh 120 trận (có 5 trận biệt động) diệt 740 tên, làm rã ngũ 174 phòng vệ dân sự, diệt 12 trung đội, 7 ban tề ấp, 1 ban chỉ huy phân chi khu, tiêu hao 2 trung đội bảo an, diệt, san bằng 11 tua bót, hủy 5 tua, bắn cháy 6 xe tăng, 7 xe quân sự khác, phá hủy 14 trụ sở cảnh sát, 2 nhà làng, 2 trụ sở tế, 7 cầu, 1 trạm rađa…
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM