Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 20 Tháng Mười, 2019, 01:09:45 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)  (Đọc 103080 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #110 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2012, 05:27:54 PM »

Chiến sự tháng 5 năm 1965 trên vùng đất Củ Chi đang quyết liệt với cuộc càn của trung đoàn 8 Vòong A Sáng, sư đoàn 5 ngụy và lần đầu tiên có lực lượng chiến đấu Mĩ tung ra chiến trường.

Được lệnh của quân khu, tiểu đoàn Quyết Thắng triển khai đánh càn ở vùng giải phóng Bàu Lách, xã Nhuận Đức, Củ Chi. 10 giờ sáng ngày 9 tháng 9 năm 1965 trung đoàn 8 ngụy tiến vào Bàu Lách. Quân ta đánh tạt sườn của chúng. Địch dự vào các chiến hào bao quanh chống trả mạnh. Tiểu đoàn Quyết Thắng tập trung lực lượng đánh chiếm từng đoạn hào, từng công sự. Địch dội bom và nã pháo cấp tập để chặn bước tiến của đối phương, nhưng các chiến sĩ Quyết Thắng vượt qua bom pháo, áp sát địch làm vô hiệu hóa hỏa lực của chúng. Trận đánh tiếp tục kéo dài. Ta cho xuất trận những đội dự bị cuối cùng, đồng thời tập trung súng cối của tiểu đoàn bắn trúng sở chỉ huy trung đoàn địch. Sức chống đỡ của địch mỗi lúc một yếu. Cuối cùng trung đoàn trưởng Vòong A Sáng bật công sự dẫn đám tàn quân tháo chạy. Lúc đó là 17 giờ. Ta diệt gần 500 giặc, bắt sống 250 tên, thu hàng trăm súng các loại, 30 máy thông tin, nhiều quân trang, quân dụng. Ta giáo dục và thả tại chỗ 200 tên, dẫn về trại 50 tên.

Như vậy là một tiểu đoàn ta đã đánh thiệt hại nặng 1 trung đoàn địch. Trận Bàu Lách góp phần giữ vững vùng căn cứ Nhuận Đức đồng thời đánh dấu việc chấm dứt các cuộc càn của quân ngụy vào vùng giải phóng quân khu Sài Gòn - Gia Định trong “chiến tranh đặc biệt”. Quân Mĩ bắt đầu thay quân ngụy trong các cuộc hành quân thăm dò vào vùng căn cứ Củ Chi.

Lần đầu tiên một trung đội Mĩ ra quân đánh vào căn cứ ở xã Phước Hiệp huyện Củ Chi, nơi có một bộ phận quân khu ủy đóng. Đơn vị bảo vệ dựa vào công sự đánh diệt 27 tên, hủy 4 xe bọc thép M113. Du kích xã Nhuận Đức đánh Mĩ trận đầu ở Bàu Lách. Ngày 30 tháng 5 bộ đội địa phương Củ Chi đánh một bộ phận Mĩ ở ấp Trung Hòa.

Cục diện toàn chiến trường tiếp tục biến chuyển nhanh theo chiều hướng thuận lợi cho ta đánh bại chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mĩ. Thế trận vùng ven đang phát triển theo hướng ta áp đảo địch, ta đã tiêu diệt, bứt rút nhiều đồn bót, phá banh, phá rã từng mảng ngụy quyền cơ sỏ, giải phóng hàng chục ngàn dân. Vùng giải phóng không những được giữ vững mà còn mở rộng, thêm một số vùng tranh chấp mới. Có nơi vốn là vùng sâu, vùng yếu như Thái Mĩ (Củ Chi) và nhiều ấp dọc đường số 1 trở thành nơi đứng chân và bàn đạp quan trọng của lực lượng biệt động để từ đó xâm nhập người, vũ khí vào Sài Gòn và tiếp nhận vũ khí từ Tây Ninh, Hậu Nghĩa xuống. Theo chủ trương của quân khu về việc xây dựng các cơ sở ém người, vũ khí và các lõm chính trị, nội thành, trong mấy tháng cuối năm 1965 đầu năm 1966, ta đã xây dựng được 10 địa điểm. Những hầm ém quan trọng như hầm ở số nhà 65 đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, hầm số 189/4 đường Trần Quốc Toản… nhiều lõm du kích được mở rộng, tạo điều kiện cho lực lượng cách mạng áp sát đô thị, áp sát địch như Phong Đước (Nhà Bè), An Nhơn, An Phú Đông (Gò Môn), Tam Bình, Hiệp Bình (Dĩ An), Tăng Nhơn Phú (Thủ Đức), Vĩnh Lộc (Bình Chánh)…

Trên vùng ven dưới bom đạn ác liệt, nhân dân vùng giải phóng đẩy mạnh sản xuất, phục vụ chiến đấu và hậu cần tại chỗ.

Tháng 4 năm 1965, tại Suối Dây (Tây Ninh), Khu ủy Sài Gòn - Gia Định họp triển khai nhiệm vụ theo tinh thần “Kế hoạch X” và Nghị quyết Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 11, tức vừa khẩn trương chuẩn bị tổng công kích, tổng khởi nghĩa thắng địch trong chiến tranh đặc biệt, đồng thời sẵn sàng đánh Mĩ trong trường hợp chúng đưa quân chiến đấu vào chiến trường thực hiện chiến lược chiến tranh cục bộ. Phương hướng biên chế mới là các Bộ chỉ huy và Phân Khu ủy sẽ hình thành ứng theo 5 cánh (5 phân khu) tiến vào Sài Gòn. Trước mắt quân khu sẽ tổ chức bộ phận chuyên trách quân sự nội đô. Cùng với việc bổ sung nhiều cán bộ cho Khu ủy, trên tăng cường đồng chí Trần Đình Xu làm chỉ huy quân sự, phụ trách chung, đồng chí Nguyễn Văn Bảo làm chính ủy. Đồng chí Trần Hải Phụng làm chỉ huy phó tham mưu trưởng phụ trách công tác đô thị và các lực lượng nội thành. Hàng loạt công việc về tổ chức chỉ huy, phát triển lực lượng được thực hiện theo hướng chuẩn bị đón thời cơ tổng công kích, tổng khởi nghĩa thắng địch trong chiến tranh đặc biệt. Đồng chí Đặng Quang Long được bổ sung về làm chủ nhiệm chính trị để đồng chí Nguyễn Ngọc Lộc làm phó chủ nhiệm phụ trách công tác chính trị đô thị.

Trên đất miền Đông Nam Bộ, tháng 5 năm 1965 những đơn vị đầu tiên của Lữ đoàn dù 173 đổ lên Vũng Tàu, tiến lên Biên Hòa và bắt đầu thực hiện các cuộc hành quân thăm dò, giải tỏa ở ven đô Sài Gòn. Sau trận tấn công Đại sứ Mĩ, lực lượng biệt động duy trì cao nhịp độ hoạt động võ trang. Ngày 16 tháng 6 xảy ra vụ nổ ở phòng khách sân bay Tân Sơn Nhất (diệt và làm bị thương 46 tên giặc, trong đó có 36 tên Mĩ).

Tháng 6 năm 1965, Sài Gòn chấn động về vụ án Trần Văn Đang. Nguyên là ngày 20 tháng 3 năm 1965, do có một nội gián, chiến sĩ biệt động Trần Văn Đang bị bắt với kíp nổ còn giấu trong người và 10kg chất nổ trong chiếc Vespa lúc anh vừa dừng xe áp sát tường cư xá sĩ quan Mĩ ở số 3 đường Võ Tánh (quận Tân Bình, cạnh sân bay Tân Sơn Nhất). Sau 1 tháng tra tấn, dụ dỗ không khai thác được gì, ngày 9 tháng 4 năm 1965 địch tuyên bố tử hình Trần Văn Đang. Trước tòa, anh dõng dạc nói thẳng vào mặt kẻ thù: “Tao chỉ tiếc không có lựu đạn để giết sạch bọn Mĩ và tay sai… Tao chết đi, nhưng nhiều người khác sẽ chống lại chúng mày…”. Sáng sớm ngày 22 tháng 6 năm 1965, địch lập pháp trường cát tại bùng binh chợ Bến Thành để xử bắn Trần Văn Đang. Vừa trên xe bước xuống, anh đã hô to nhiều lần: “Hỡi đồng bào thành phố Sài Gòn! Tôi là Trần Văn Đang, chiến sĩ giải phóng quân, tôi đánh Mĩ để giải phóng dân tộc. Đồng bào hãy đoàn kết lại để đập tan bè lũ bán nước!”. Địch đưa anh tới cọc bắn và định bịt mắt anh, anh hô lớn: “Phải để tôi trông thấy đồng bào tôi. Phải để tôi trông thấy đồng bào tôi!”. Anh vùng vẫy tới cùng không cho địch bịt mắt và hô to nhiều lần: “Hồ Chủ tịch muôn năm!”, “Đả đảo đế quốc Mĩ” cho đến khi trúng đạn. Lúc đó là 5 giờ 50 phút ngày 22 tháng 5 năm 1965, Trần Văn Đang mới 21 tuổi(1).

Gần 20 tờ nhật báo tiếng Việt, Anh, Pháp, Hoa tại Sài Gòn đều đăng ảnh và đưa tin tỉ mỉ về cái chết bất tử của Trần Văn Đang. Tờ Chính Luận két tiếng chống Cộng sản cũng phải viết: “… Trên xe bước xuống, y mặc sơ mi màu nước biển, chân đi dép và miệng còn phì phèo thuốc lá. Đang không để cho quân cảnh bịt mắt. Đang còn lớn tiếng hô to những khẩu hiệu “đả đảo Mĩ” và “ủng hộ Hồ Chí Minh”.

Hơn 2 ngày sau, ngày 25 tháng 6 năm 1965 một tổ 3 người của đội biệt động 67 gồm có Phi Long, Bảy và Tám Sâm thực hiện cuộc tấn công nhà hàng Mĩ Cảnh. Đây là một nhà hàng nổi thiết lập trên một chiếc tàu đậu, có cầu nối cách bờ 20m ở bến Bạch Đăng, nơi sĩ quan tình báo Mĩ ngụy hay đến ăn nhậu. Nhiều tên giặc bị thương và chết(2).

Cùng ngày 25 tháng 6 năm 1965 lại xảy ra vụ nổ ở phòng khách sân bay Tân Sơn Nhất, 30 sĩ quan lính Mĩ bị thương và chết. Đây là trận thứ ba của chiến sĩ biệt động Trần Văn Cẩm trong sân bay Tân Sơn Nhất.

Các lực lượng biệt động nội thành đang được lần lượt điều chỉnh, củng cố và xây dựng theo yêu cầu của kế hoạch X cho cấp quân khu, cấp cánh (phân khu) và cho các ngành trực thuộc khu ủy.


(1) Trần Văn Đang quê ở xã Long Hồ, huyện Châu Thành Tây, tỉnh Vĩnh Long lên Sài Gòn làm thợ điện rồi tham gia biệt động thành.
(2) Một quả mìn định hướng gắn trên xe đạp của Bảy, một quả khác gắn trên xe gắn máy chở Phi Long, hai xe dựng trên bờ, hướng mìn vào 2 mục tiêu: nhà hàng và cầu tàu. Quả trên xe đạp nổ, chiếc tàu chòng chành, địch trên tàu xô đẩy chen lấn nhau chạy lên chiếc cầu độc nhất nối vào bờ để thoát thân. Ngay lúc đó quả trên xe gắn máy nổ bồi, thổi thẳng vào cầu. Theo báo cáo lúc đó: gần 100 tên giặc chết và bị thương.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #111 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2012, 05:28:35 PM »

Đối với lực lượng biệt động trực thuộc quân khu, tháng 6 năm 1965 Khu ủy và Quân khu quyết định thành lập một Đoàn biệt động, nhằm vào các mục tiêu, lấy mật danh là F100 do đồng chí Nguyễn Đức Hùng (Tư Chu) làm chỉ huy trưởng, đồng chí Bảy Dũng chính trị viên, Sáu Thành, Năm Hát chỉ huy phó, Bảy Sơn tham mưu trưởng. Ngoài nhiệm vụ chiến đấu thường xuyên, để rèn luyện, F100 phải chuẩn bị sẵn sàng trinh sát mục tiêu để khi thời cơ đến thì đánh chiếm và giữ cho được các mục tiêu đầu não của địch, phối hợp cùng các tiểu đoàn mũi nhọn từ ngoài đánh vào. Đơn vị có thêm bộ phận quân bổ sung và đơn vị huấn luyện. Để thực hiện ý định này, quân khu thành lập một đơn vị bảo đảm chuyên lo việc xây dựng cơ sở hầm bí mật cất giấu vũ khí và trú ém người cho từng mục tiêu, tổ chức đường dây liên lạc và vận chuyển thiết bị vũ khí vào nội thành do các đồng chí Ba Phong, Ba Đen, Hai Sang, Hai Trí phụ trách. Chỉ một thời gian ngắn sau khi thành lập, F100 đã thành công được 9 đội biệt động nội đô (3, 4, 5,6, 7, 8, 9, 10, 11) mỗi đội từ 15-20 người, 3 đội đặc công biệt động ven đô. Đội 1 đứng chân ở Gò Vấp - Hóc Môn, hướng hoạt động vào khu vực chợ Bà Chiểu và thị trấn Gò Vấp; Đội 2 đứng chân ở Bình Tân, hướng hoạt động vào sân bay Tân Sơn nhất và vùng ngoại ô quận 10, quận 11. Đội 3 đặc công nước đứng chân ở Thủ Đức, Nhà Bè, hướng hoạt động là quân cảng và sông Sài Gòn. Đơn vị bảo đảm đã tạo được một số hầm và đưa vào được một số lượng vũ khí quan trọng.

Nói chung trong đội hình F100 có 12 đơn vị chiến đấu và hai đơn vị bảo đảm phục vụ ý định chiến lược là A20 và A30. A20 là đơn vị vận chuyển vũ khí vào nội thành, do đồng chí Ba Phong chỉ huy, Hai Sang làm chính trị viên.

A30 là đơn vị xây dựng các hầm ém vũ khí và ém quân do Ba Đen phụ trách, các đồng chí Sáu Thành, Tư Đỉnh lần lượt làm chính trị viên.

Cùng với lực lượng biệt động trực thuộc quân khu, lực lượng biệt động 5 cánh (phân khu) vùng ven cũng được tăng cường đội 65 Bình Tân, đội 66 Dĩ An, đội 67 Hóc Môn - Gò Vấp, đội 68 Nhà Bè - quận 4, đội 69 Thủ Đức.

Các đồng chí Trần Hải Phụng, Nguyễn Ngọc Lộc (Tư Quỳ), Nguyễn Văn Cường (Bảy Nam) được phân công ở bộ phận đặc trách nội đô, cùng các cán bộ am hiểu đô thị theo dõi xây dựng kế hoạch và phối hợp giữa tất cả các lực lượng sẽ chiến đấu ở đô thị của Thành, cánh và ngành.

Ở ngoại thành, lực lượng du kích tập trung và bộ đội địa phương nông thôn được kiện toàn theo phương hướng đủ sức đánh trả các cuộc hành quân tảo thanh của bảo an và dân vệ ngụy. Lực lượng du kích tập trung xã: Gò Vấp - Hóc Môn có 6 đội 53 người, Bình Tân có 9 đội 82 người, nhà Bè có 29 người, Thủ Đức có 4 đội 24 người.

Lực lượng biệt động các ngành, đặc biệt của Hoa vận và Thành đoàn, các độ vũ trang tự vệ các ngành khác cũng được củng cố và phân công nhiệm vụ và mục tiêu cụ thể.

“Kế hoạch X” đang được triển khai thì đến giữa năm 1965, việc chuyển chiến lược của Mĩ đã hiện rõ. Tháng 5 năm 1965, đơn vị chiến đấu đầu tiên của Mĩ đã vào chiến trường Đông Nam Bộ (lữ dù 173). Đầu năm 1966 Khu ủy Sài Gòn - Gia Định mở hội nghị về tình hình, nhiệm vụ và xác định: trong điều kiện Mĩ vào ta vẫn giữ quyết tâm đẩy mạnh tấn công chính trị và tấn công vũ trang, tích lũy lực lượng lượng, chuẩn bị tiến tới tổng công kích, tổng khởi nghĩa.

Mặc dù phương án kết thúc chiến tranh giải phóng miền Nam trong kế hoạch đặc biệt không thực hiện được, kế hoạch X đã tạo được cho ta thêm điều kiện sẵn sàng đánh Mĩ trong suốt 2 năm 1966-1967, đồng thời sẵn sàng chớp thời cơ thực hiện những nhiệm vụ xuân Mậu Thân 1968.

*
*   *

Trong bối cảnh từ đấu tranh chính trị bước vào thời kì chiến tranh cách mạng trên địa bàn đô thị đầu não địch và nông thôn ven đô, hàng loạt vấn đề mới mẻ, phức tạp nảy ra, Khu ủy Sài Gòn - Gia Định đã bám sát đường lối, chủ trương trên, đồng thời phát huy tính năng động cách mạng, đã đề ra được phương thức tổ chức và đấu tranh sát hợp thực tiễn. Thành công nổi bật trong lãnh đạo, chỉ đạo trong thời kì này là một mặt nắm vững khâu cơ bản quyết định thường xuyên là ra sức khôi phục, phát triển lực lượng cả ở nông thôn lẫn nội thành, một mặt phân chia chiến trường Sài Gòn - Gia Định ra làm 3 loại địa bàn chỉ đạo (căn cứ du kích, vùng nông thôn ven tranh chấp và nội thành), từ đó xác định thích hợp phương châm về các hình thức đấu tranh giành thế làm chủ ở từng địa bàn và liều lượng kết hợp đấu tranh chính trị với vũ trang ở từng nơi, từng thời kì. Phương thức xây dựng lực lượng được đề ra một cách thích hợp, công phu, có sáng tạo; lực lượng chính trị được xây dựng theo ngành, giới và theo cả địa bàn cư trú, chú ý mở rộng mặt trận cả bên dưới lẫn bên trên; lực lượng vũ trang không chỉ có số trực thuộc quân khu, mà các ngành, các giới, các cáp đều có lực lượng tự vệ, biệt động của mình, nhờ vậy mà trong một thời gian tương đối ngắn, Sài Gòn - Gia Định đã tạo được thế và lực khá tốt trên cả địa bàn đô thị và nông tôn ven đô. Về phương thức đấu tranh, những bài học của thời kì đấu tranh chính trị đã được phát huy trong chỉ đạo các mặt, kết hợp đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang, vận dụng linh hoạt, khéo léo, nhuần nhuyễn trong kết hợp giữa các hình thức đấu tranh công khai, bí mật, hợp pháp, nửa hợp pháp và không hợp pháp. Các khẩu hiệu đưa ra khá độc đáo và đa dạng nhằm tập hợp quần chúng vào các mặt trận đấu tranh, từng bước giành quyền lãnh đạo các phong trào quần chúng.

Mặc dầu vậy, trước những vấn đề mới mẻ và phức tạp, Khu ủy Sài Gòn - Gia Định đã vấp phải những thiếu sót khó tránh: buổi đầu có đơn giản, chủ quan trước thủ đoạn mới của địch về bình định, về “ấp chiến lược” dẫn đến những khó khăn cho phong trào cuối năm 1961 và đầu năm 1962; mặt khác về mặt xây dựng lực lượng dù có nhiều cố gắng, đạt kết quả lớn, nhưng vẫn chưa theo kịp yêu cầu tình hình, do đó bỏ lỡ thời cơ đưa phong trào lên mạnh hơn nữa trong một số trường hợp như lúc Diệm đổ cuối năm 1963, lúc chiến tranh đặc biệt có nguy cơ phá sản vào cuối 1964 đầu năm 1965.

Trên một địa bàn vốn phức tạp, nhiều vẻ, tập trung mâu thuẫn, cọ sát quyết liệt, nhưng có những điểm mạnh rất cơ bản trên, Đảng bộ Sài Gòn - Gia Định đã lãnh đạo quân dân Sài Gòn - Gia Định hoàn thành nhiệm vụ trong chặng đường đầu đánh bại hai chiến lược của địch, sẵn sàng bước vào một giai đoạn chiến tranh quyết liệt mới, trực tiếp đương đầu với quân viễn chinh xâm lược Mĩ, chuẩn bị mọi điều kiện cho một trận quyết chiến, chiến lược mới sẽ ra ở đây.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #112 vào lúc: 10 Tháng Tư, 2012, 07:05:12 AM »

Chương sáu

CAO TRÀO CHỐNG MĨ CỨU NƯỚC TIẾN LÊN
TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY,
TẬP KÍCH SÀO HUYỆT ĐỊCH - CÙNG CẢ NƯỚC
ĐÁNH BẠI CHIẾN LƯỢC CHIẾN TRANH CỤC BỘ CỦA MĨ
(Từ giữa năm 1965 đến giữa năm 1968)

I. TIẾN CÔNG CHÍNH TRỊ VÀ VŨ TRANG NỘI ĐÔ,
KẾT HỢP CAO TRÀO TOÀN DÂN ĐÁNH MĨ Ở NÔNG THÔN NGOẠI THÀNH,
ĐÁNH BẠI HAI CUỘC PHẢN CÔNG CHIẾN LƯỢC CỦA MĨ
TRÊN CHIẾN TRƯỜNG SÀI GÒN - GIA ĐỊNH


Chiến lược chiến tranh đặc biệt bị đánh bại, nhưng đế quốc Mĩ vẫn ngoan cố lao vào “con đường hầm không có lối thoát”. Tháng 7 năm 1965, Tổng thống Mĩ Johnson quyết định “vượt qua ngưỡng cửa, chính thức bước vào cuộc chiến tranh trên bộ”(1) của Mĩ ở miền Nam Việt Nam: đưa quân chiến đấu Mĩ vào miền Nam Việt Nam thực hiện kế hoạch “3 giai đoạn” theo chiến lược “tìm diệt”(2) của tư lệnh MACV(3).

Một giai đoạn mới của chiến tranh ở miền Nam đã bắt đầu: Chiến tranh cục bộ.

Trên chiến trường B2, trong khi coi đồng bằng Sông Cửu Long là chiến trường chủ yếu của chương trình bình định giành dân, vơ vét nhân lực vật lực làm nguồn cung ứng tại chỗ cho cuộc chiến tranh, địch lấy miền Đông Nam Bộ làm chiến trường chủ yếu thực hiện chiến lược “tìm diệt” để tiêu diệt khối chủ lực nòng cốt của B2 cùng bộ máy trực tiếp chỉ đạo chiến tranh giải phóng miền Nam, nhằm “bẻ gãy xương sống Việt cộng” và tê liệt hóa “bộ não” chiến tranh cách mạng ở B2. Trong khi đó, cũng trên chiến trường này, việc đảm bảo an toàn “thủ đô” Sài Gòn, nơi đặt 32 cơ quan đầu não của địch, bao gồm cả “Nhà Trắng phương Đông”, “Lầu Năm Góc phương Đông” lại có tầm quan trọng sống còn đối với chúng. Tất cả việc huy động và bố trí lực lượng của địch đều thể hiện tinh thần trên.

Ngoài một tiểu đoàn quân cảnh Mĩ vào Sài Gòn theo quyết định thành 16 tháng 7 năm 1965, tháng 5 năm 1965 lữ đoàn dù 172 Mĩ đã đổ bộ lên Vũng Tàu. Năm tháng sau trên chiến trường miền Đông đã có hai lữ đoàn, một sư đoàn Mĩ và một số đơn vị chư hầu(4).

Đi đôi với việc đưa quân viễn chinh Mĩ vào miền Nam Việt Nam, địch tổ chức lại chiến trường, thành lập các cơ quan chỉ huy quân sự Mĩ và miền Nam, gấp rút xây dựng các cơ sở hậu cần, sân bay, đảm bảo trước mắt phục vụ cho 20 vạn quân xâm lược(5).

Lấy Sài Gòn làm trung tâm, địch hình thành thế bố trí chiến lược ở miền Đông theo tinh thần quân ngụy giữ vai trò bình định, quân Mĩ và chư hầu làm nhiệm vụ “tìm và diệt”. Biệt khu thủ đô được đổi thành Quân khu thủ đô trực thuộc Bộ Tổng tham mưu (theo sắc lệnh 124/QP ngày 2 tháng 7 năm 1965).

Đến cuối năm 1965, lực lượng địch bảo vệ an ninh vòng trong Sài Gòn có một trung đoàn bộ binh (thiếu) của sư đoàn 25 ngụy, 10 chiến đoàn ứng chiến, một liên đoàn an ninh thủ đô, 3 tiểu đoàn và 10 đại đội bảo an, 50 trung đội dân vệ và một đại đội quân cảnh. Ngoài ra, quân khu thủ đô còn được tăng cường tiểu đoàn 30 biệt động quân, tiểu đoàn 2 thủy quân lục chiến, tiểu đoàn khóa sinh, một chi đội cơ giới và 2 pháo đội 105 milimét.

Phòng thủ vòng ngoài Sài Gòn ngoài các đơn vị Mĩ và chư hầu ở Lai Khê, Bến Cát, Phước Vĩnh, Phú Lợi (Bình Dương), Long Bình (Biên Hòa), Dĩ An, Núi Đất (Bà Rịa)… còn có các đơn vị chủ lực ngụy: sư 25 bộ binh (thiếu) hoạt động trên hướng Đông và Đông Nam thành phố. Cơ động về hướng Đông, Đông Bắc có sư đoàn 5 và sư đoàn 18 ngụy.

Địch chia Sài Gòn - Gia Định thành 4 vùng: vùng A (địch kiểm soát) là vùng phát triển, vùng B (vùng tranh chấp yếu của ta) là vùng trọng điểm bình định, vùng C (vùng có căn cứ du kích) tranh chấp mạnh, vùng D (vùng giải phóng và căn cứ của ta) là vùng “tìm diệt”, tự do oanh kích.

Đầu não ngụy Sài Gòn đang rối loạn qua 11 cuộc đảo chính (kể cả “đảo chính hụt”) đầu sỏ tay sai lật nhau. Mĩ dựa vào đám tướng tá trong quân đội ngụy dựng lên một nội các quân phiệt mới do Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu làm chủ tịch “Ủy ban lãnh đạo quốc gia” (cương vị quốc trưởng), thiếu tướng Nguyễn Cao Kì làm chủ tịch “Ủy ban hành pháp Trung ương” (thủ tướng).


(1) Bình luận trong tài liệu mật của BQP Hoa Kì trước việc ngày 17 tháng 7 năm 1965 Jonhson chấp nhận đưa 44 tiểu đoàn chiến đấu Mĩ vào miền Nam Việt Nam, thông qua chiến lược “tìm và diệt” của Westmoreland.
(2) Gia đoạn 1 (tháng 7 năm 1965 đến cuối năm 1965): Ngăn chặn tiến công mùa mưa của ta, ngăn chặn chiều hướng thua, triển khai lực lượng Mĩ trên chiến trường - Giai đoạn 2 phản công chiến lược, giành chủ động diệt chủ lực ta, tiến hành bình định, kiểm soát nông thôn (từ đầu đến giữa năm 1966) - Gia đoạn 3 (từ tháng 7 năm 1966 đến giữa hoặc cuối năm 1965) hoàn thành tiêu diệt chủ lực và căn cứ đối phương, bình định miền Nam, bắt đầu rút quân Mĩ, giao cho quân ngụy tiếp tục bình định.
(3) Bộ chỉ huy viện trợ quân sự trùm lên phái đoàn cố vấn viện trợ MAAG, tháng 5 năm 1962 được chính thức nới rộng quyền hạn với tính chất một bộ tư lệnh tiền phương của Mĩ ở Đông Nam Á.
(4) Lữ đoàn 173 Mĩ cơ động, một lữ đoàn thuộc sư đoàn 25 “Tia chớp nhiệt đới” ở Củ Chi, sư đoàn bộ binh “Anh cả đỏ” Mĩ đóng Bộ chỉ huy ở Lai Khê, một bộ phận lữ đoàn hoàng gia Úc ở Dĩ An, Bà Rịa cùng một số phân đội pháo binh Tân Tây Lan…
(5) Trong đó có hệ thống cảng Sài Gòn - Vũng Tàu - Cam Ranh - Đà Nẵng, lập 6 quân cảng trên sông Sài Gòn - Nhà Bè, nâng cấp các sân bay Biên Hòa, Tân Sơn Nhất… Thành lập các căn cứ không quân…
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #113 vào lúc: 10 Tháng Tư, 2012, 07:06:43 AM »

*
*   *

Trước việc quân viễn chinh Mĩ ồ ạt đổ vào miền Nam, hàng loạt dấu hỏi lớn đang đặt ra cho nhân dân ta: phải thắng một đối thủ hơn ta gấp bội về tiềm lực kinh tế và quân sự như thế nào? Về chiến lược, ta tiếp tục tiến công hay chuyển sang phòng ngự?

Giải đáp những băn khoăn này, Bộ chính trị nhận định trong thư ngày 6 tháng 11 năm 1965 gửi Trung ương Cục và khu ủy Khu 5: Mĩ phải đưa quân chiến đấu vào chiến trường trong thế thua và thế bị động về chiến lược. Cuộc phản công lớn nhằm cứu vãn thế thua và cố giắng giành chủ động của Mĩ chắc chắn sẽ xảy ra. Bức thư nêu rõ: “Trong giai đoạn hiện nay, nắm thế chủ động là phải giữ và phát triển hơn nữa quyền làm chủ rừng núi, đồng bằng chung quanh đô thị và tiến tới cả từng vùng của đô thị nữa”.

Nhận rõ vị trí đặc biệt của Sài Gòn trong giai đoạn mới, từ sau Hội nghị Khu ủy ở Suối Dây (tháng 4 năm 1965), Trung ương Đảng và Trung ương Cục quyết định lần lượt tăng cường cho Sài Gòn - Gia Định nhiều cán bộ.

Cơ quan đầu não của Khu ủy Sài Gòn - Gia Định được bố trí lại; đồng chí Nguyễn Văn Linh làm Bí thư; Trần Bạch Đằng (Tư Ánh), Ủy viên thường vụ, trưởng ban tuyên huấn; Mai Chí Thọ (Năm Xuân), Ủy viên thường vụ phụ trách an ninh; Trần Đình Xu (Ba Đình), Ủy viên thường vụ, Tư lệnh quân khu; Đoàn Công Chánh (Năm Bảo), Ủy viên thường vụ, phụ trách nông thôn; Nguyễn Thái Sơn (Bảy Bình) Ủy viên thường vụ, trưởng ban tổ chức, Phan Văn Hân (Hai Sang), phụ trách binh vận và nhiều đồng chí khu ủy viên phụ trách các ngành khác…

Ban công vận Sài Gòn - Gia Định xuất bản bí mật tờ Công Nhân lưu hành đến tận cơ sở nội thành. Ta còn có các tờ báo công khai Tin Vắn, Hồn Trẻ, Trí Thức cho các giới khác.

Từ tháng 7 đến tháng 12 năm 1965, địch thực hiện “giai đoạn 1” của kế hoạch Westmoreland nhằm đạt hại mục tiêu lớn: ngăn chặn hoạt động mùa mưa của đối phương, quân ngụy Sài Gòn không tan rã thêm; tổ chức lại chiến trường, triển khai quân viễn chinh trên toàn miền Nam.

Quân dân miền Nam đã thắng Mĩ những trận đầu: Núi Thành (ngày 28 tháng 5 năm 1965), Vạn Tường (ngày 18 tháng 8 năm 1965), Playme (tháng 10 năm 1965)… bước đầu chứng minh khả năng đánh được Mĩ cả trong và ngoài căn cứ của chúng.

Tại Sài Gòn, sau những trận “dằn mặt”, các trận của đội trinh sát quân báo quân khu, suốt 10 ngày liền, các cuộc biểu tình nổ ra từ một hai vạn đến 10 vạn người chống Mĩ đưa quân vào miền Nam, chống khủng bố, chống mị dân với những trận đánh trên đường phố nhằm vào lính Mĩ đang tăng lên rõ rệt. Sang các tháng 5 và 6 năm 1965, lực lượng vũ trang Sài Gòn - Gia Định đã triển khai một bước mới. Các lực lượng biệt động nộ thành được sắp xếp thành các đội phụ trách các mục tiêu chiến lược. Đưa đoàn F100 trực thuộc quân khu (tháng 6 năm 1965) để chuẩn bị đón thời cơ. Các Ban chỉ huy quân sự 5 cánh (cả nông thôn đô thị) xung quanh thành phố được củng cố và tăng cường để đủ sức làm nhiệm vụ ở 5 hướng.

Trước áp lực ngày càng tăng về chính trị, quân sự ở ngay “thủ đô”, địch tăng cường mạnh mẽ bộ máy cảnh sát. Tổng nha cảnh sát quốc gia phối hợp với Nha cảnh sát đô thành quyết liệt đánh phá phong trào đấu tranh của nhân dân Sài Gòn. Ngoài mạng lưới cảnh sát, cảnh sát nổi, bủa ra khắp Sài Gòn - Gia Định, địch tổ chức tay sai chui và các tổ chức, hiệp hội công khai của quần chúng và các phe đối lập để theo dõi và phá hoại phong trào từ bên trong. Qua số du học chuyên tu ở Mĩ, Nhật, Đài Loan… nhất là qua huấn luyện trực tiếp tại chức của các cố vấn Hoa Kì, địch đã biến lực lượng cảnh sát miền Nam, đặc biệt ở Sài Gòn thành đội quân cực kì tàn bạo và thâm độc, kềm kẹp chặt dân thành phố đến tận gia đình, đến từng khu phố, qua hệ thống “ngũ gia liên bảo”.

Sau trận đánh tòa Đại sứ Mĩ ngày 30 tháng 3 năm 1965, Nha cảnh sát đô thành đột ngột thay đổi một số quy định về chiều của đường, bọc hàng rào lưới sắt quanh các vị trí Mĩ, bủa nhiều lớn rào kẽm gai ngang dọc trên một số đại lộ, xe jeép gắn súng đại liên 30 túc trực các khu trọng yếu, cảnh sát công lộ được quyền nổ súng và các loại xe vi phạm luật lệ giao thông. Chúng lập hàng rào cảnh sát chung quanh các khu vực có nhiều Mĩ ở, không cho xe cộ tiếp cận các cơ quan, cư xá Mĩ, bắn bỏ những người lai vãng, bất thần chụp xét trên nhiều đường phố, rượt bắt xe cộ khả nghi… Những cuộc bố ráp, thường xuyên hoặc tổng lục soát theo tin tức tình báo diễn ra bất ngờ ban đêm.

Bên cạnh cảnh sát ngụy, còn có mặt hàng ngàn quân cảnh thuộc các đơn vị đại đội 66, tiểu đoàn 176, các biệt đội 560, 175, làm nhiệm vụ bảo vệ cơ quan, sào huyệt Mĩ. Quân cảnh Mĩ tuần tiễu trên các đường phố Sài Gòn, tập trung ở các quận 1, 2, 3, 5 là những nơi có nhiều Mĩ đóng quân.

Biệt động Sài Gòn gặp khó khăn trước hệ thống và biện pháp phòng thủ mới của địch, tuy nhiên những trận tấn công địch trên đường phố và tại sào huyệt vẫn tiếp diễn, nhiều trận gây thối động lớn.

Ngày 16 tháng 8 năm 1965, đội 5 phối hợp đội 7 biệt động thuộc F100 tấn công Tổng nha cảnh sát ngụy, đúng vào lúc địch đang làm lễ chào cờ buổi sáng(1) (Nguyễn Thanh Xuân chỉ huy).

Ngày 14 tháng 12 năm 1965, đội biệt động lại thực hiện cuộc tấn công khách sạn 7 tầng Metropole giành cho giặc lái Mĩ và chư hầu ở góc đường Nguyễn Cư Trinh - Trần Hưng Đạo. Đồng chí Nguyễn Thanh Xuân (Bảy Bê) chỉ huy một đoàn xe gắn máy và xe hơi, trang bị tiểu liên, chất nổ, đột nhập chớp nhoáng. Khối thuốc nổ C4 400 kg làm chết và bị thương nhiều giặc lái Mĩ và nhân viên kĩ thuật(2).

Ngay hôm sau, trên đoạn sông Sài Gòn - Bình Dương, các chiến sĩ đặc công Sài Gòn - Gia Định vật lộn với sóng nước, đánh chìm tại chỗ một đội tàu tuần tiễu của quân ngụy.


(1) Các chiến sĩ biệt động võ trang tư lệnh ngồi trên xe gắn máy yểm trợ cho đội trưởng Nguyễn Thanh Xuân tức Bảy Bê lái xe hơi chứa chất nổ lao thẳng vào cổng, điểm hỏa rồi thoát.
(2) Báo cáo lúc đó: diệt và làm bị thương 137 tên Mĩ và chư hầu.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #114 vào lúc: 10 Tháng Tư, 2012, 07:07:56 AM »

Đội biệt động vũ trang của thanh niên công nhân Hoa Kiều vừa mới thành lập, ra quân vào những tháng cuối năm 1965. Từ những trận đầu chỉ có dao, chất nổ, a xít… tiến lên những trận sau có súng ngắn, chất nổ, mìn định hướng… đội đã trừng trị nhiều tên tay sai ác ôn, đặc vụ Đài Loan như Tô Văn Phiên, Giảng Tứ Sơn… nhiều tên phòng vệ dân sự khét tiếng gian ác ở phường, khóm và cả những sĩ quan, binh lính Đại Hàn.

Đội biệt động Thành đoàn và đội vũ trang mang tên Nguyễn Văn Trỗi được Thành đoàn thành lập đầu năm 1965 thực hiện hàng loạt trận đánh nhỏ lẻ trên đường phố, các bót cảnh sát khắp nội thành: Chợ Bà Chiểu, Tân Định, đường Cộng Hòa; Tân Sơn Nhất, Hai Bà Trưng, ngã tư Bảy Hiền, đường Trần Quốc Toản. Đối tượng biệt động Thành là cảnh sát, ác ôn ngụy, lính Mĩ.

Đêm 30 tháng 12 năm 1965, 12 chiến sĩ đội 2 biệt động F100 tập kích khu hậu cần Mĩ vừa mới triển khai ở ngã tư Bảy Hiền, phá hủy nhiều xe quân sự, loại nhiều tên giặc.

Vào một ngày đầu năm 1966, trên đường Hai Bà Trưng, một xe “cam nhông” chở đầy nữ công nhân đi làm, tình cờ vừa đến ngang cư xá Brink - nơi ở của các sĩ quan Mĩ độc thân - thì chết máy. Quân cảnh Mĩ đang gác, thổi còi, nhưng xe chưa chạy được. Lập tức, chúng nhằm vào xe xả đạn. Tất cả 45 chị em đang chen chúc trên thùng xe đều ngã gục. Máu chảy xuống mặt đường, nhuộm đỏ cả những nắm cơm chị em mang theo ăn trưa. Tin này lan đi làm chi cho cả Sài Gòn bàng hoàng và vô cùng tức giận.

Trên vùng ven và cận Sài Gòn, Củ Chi, Đức Hòa đã có phong trào đăng kí diệt Mĩ ngay trước khi quân Mĩ đến. Quân dân các vùng căn cứ, vùng tranh chấp khẩn trương củng cố lực lượng du kích và dân quân tự vệ, sửa chữa và xây dựng các ụ chiến đấu và hệ thống địa đạo, hình thành các “bãi tử địa”, rào làng, đào đắp công sự chống phi pháo theo các hành lang xom, ấp, liên xã, hình thành một thế trận liên hoàn từ vùng căn cứ giải phóng đến các vùng sâu, vùng yếu.

Ngoài các cuộc hành quân cảnh sát, Mĩ ngụy liên tục mở các cuộc hành quân đánh thọc vào các lõm căn cứ cách mạng xung quanh Sài Gòn để yểm trợ cho công cuộc bình định, đồng thời để thăm dò khả năng của đối phương. Các cuộc hành quân quy mô vừa này, sẽ phối hợp “các lực lượng đồng minh” đặc biệt đánh lên vành đai Tây Bắc - Bắc, Đông Sài Gòn(1). Từ những trận đầu, các lực lượng chiến tranh nhân dân vùng ven Sài Gòn đã chứng minh là diệt được Mĩ. Trên mặt trận Dĩ An, trong năm ngày từ khi Mĩ đến, bộ đội địa phương diệt và làm bị thương 150 tên. Ở Rừng Cò Mi, 3 du kích xã Bình Hòa, đương đầu một tiểu đoàn Mĩ, loại khỏi vòng chiến đấu gần 40 tên, thu 2 súng.

Các lực lượng vũ trang Củ Chi, Thủ Đức tổ chức ngay các buổi rút kinh nghiệm qua những trận đầu giáp chiến quân Mĩ, tăng lòng tự tin “đánh được”.

Từ tháng 6 đến tháng 9 năm 1965, các tiểu đoàn bộ binh quân khu Sài Gòn - Gia Định được huấn luyện ở đoàn 165A theo “phương án X” lần lượt được đưa về chiến trường ven Sài Gòn: Tiểu đoàn 2 về Hóc Môn - Gò Vấp, tiểu đoàn 3 về Dĩ An, tiểu đoàn 4 về Thủ Đức, tiểu đoàn 5 về Nhà Bè, tiểu đoàn 6 về Bình Tân, tiểu đoàn 7 và tiểu đoàn 8 (pháo binh) ở Củ Chi cùng với tiểu đoàn 1 (tăng cường) cơ động.

Trên đất miền Đông, những trận đầu thắng Mĩ đang cố vũ khí thế “tìm Mĩ mà diệt”, ngày 10 tháng 10 năm 1965 tại An Điền (Bến Cát), lần đầu tiên 4 du kích bày thế trận diệt trung đội Mĩ bằng súng, mìn và lựu đạn.

Lần đầu tiên trên chiến trường B2, ngày 8 tháng 11 năm 1965 tại Đất Cuốc (Chiến khu Đ), tiểu đoàn 3 trung đoàn 1, sư đoàn 9 quân giải phóng và các lực lượng địa phương Tân Uyên, tiêu diệt tiểu đoàn Mĩ. Ngày 12 tháng 11 năm 1965 tại Bàu Bàng, sư đoàn 9 (thiếu), lần đầu tiên ở miền Nam vận động tập kích tiêu diệt một tiểu đoàn Mĩ đóng quân dã chiến trên bên quốc lộ 13.

Đây là những mẫu hình về khả năng tiêu diệt phân đội và đơn vị nhỏ Mĩ của các lực lượng chiến tranh nhân dân trên đất miền Đông. Nhưng trong khi phong trào diệt Mĩ đang sôi nổi trên chiến trường thì nhiều địa phương lại xem nhẹ việc đánh ngụy. Bộ chỉ huy Miền đã phát động phong trào “tìm Mĩ mà diệt, lùng ngụy mà đánh”. Trận Dầu Tiếng (ngày 27 tháng 11 năm 1965) lần đầu tiên diệt chiến đoàn ngụy ở miền Nam, cổ vũ phong trào “tìm ngụy mà đánh”.

Ngày 20 tháng 11 năm 1965, Bộ chỉ huy Miền lại phát động thi đua giành danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mĩ”. Cục chính trị Miền cụ thể hóa các cấp danh hiệu dũng sĩ, phát triển thêm các danh hiệu “Dũng sĩ diệt cơ giới”, “Dúng sĩ diệt máy bay”, “Dũng sĩ diệt ngụy”…

Tháng 12 năm 1965 sang tháng 1 năm 1966, bom đạn Mĩ trút xuống ven đô thành ngày càng nhiều, những loạt bom B5 đã rải thảm ở Rừng Làng, An Nhơn Tây (Củ Chi).. làm rung cửa kính thành phố. Báo chí Hoa Kì gọi B52 là “thần mưa bom khủng khiếp” và rêu rao “chỉ cần một cái bấm nút, một vùng quê sẽ tan biến dưới con lốc lửa…”

Ở chiến trường ven đô đã xuất hiện cùng một lúc xe tăng bầy, pháo bầy, trực thăng bầy, B52 bầy… không tránh khỏi có nhiều người lo lắng. Ta quyết thắng, nhưng khó khăn nhiều, hàng loạt câu hỏi đặt ra.

Tháng 12 năm 1965, Ban chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 12 ra Nghị quyết về tình hình, nhiệm vụ của thời kì Mĩ đã chuyển sang chiến lược chiến tranh cục bộ. Nghị quyết đánh giá “mặc dù Mĩ đưa vào miền Nam Việt Nam hàng chục vạn quân viễn chinh, lực lượng so sánh giữa ta và địch vẫn không thay đổi lớn” và xác định “phải giữ vững và phát triển thế chiến lược tiến công”, phương châm chiến lược là “đánh lâu dài”, nhưng phấn đấu tích cực “tập trung lực lượng cả hai miền, tranh thủ thời cơ giành thắng lợi quyết định trong thời gian tương đối ngắn”.


(1) Ngày 2 tháng 9 năm 1965, lữ đoàn dù 175 Mĩ phối hợp với quân ngụy hành quân trực thăng vận đánh Hố Bò (phía Bắc Củ Chi), ngày 10 tháng 10 năm 1965, lữ 2 sư bộ binh 1 Mĩ đánh vào xóm Chùa Củ Chi; ngày 6 tháng 10 năm 1965, sư bộ binh 5 ngụy hành quân tảo thanh vùng Trung An (phía Nam Củ Chi), suốt tháng 11 năm 1965 một tiểu đoàn Mĩ thực hiện cuộc hành quân ủi phá rừng Cò Mi (Thủ Đức)…
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #115 vào lúc: 10 Tháng Tư, 2012, 07:10:04 AM »

Đầu năm 1966, tám tháng sau hội nghị Suối Dây (tháng 4 năm 1965), nghiên cứu tình hình, nhiệm vụ mới, Khu ủy Sài Gòn - Gia Định lại mở cuộc hội nghị về tình hình nhiệm vụ của khu trong thời kì chiến tranh cục bộ. Qua phân tích thực tiễn chiến trường, hội nghị xác định trong điều kiện có quân chiến đấu Mĩ, ta vẫn giữ quyết tâm đẩy mạnh đấu tranh chính trị, gắn với đấu tranh vũ trang, không ngừng tích lũy lực lượng, chuẩn bị tiến tới tổng công kích, tổng khởi nghĩa. Khu ủy nhất trí Mĩ vào là thời cơ để phát động mạnh tinh thần dân tộc. Mĩ gây ra chiến tranh cục bộ, ta chuyển toàn lực đánh Mĩ, từ nông thôn, vùng ven, đến nội đô, phát động một phong trào toàn dân diệt Mĩ cả ngay trong nội đô, chỉ đạo lực lượng biệt động đánh những trận thối động lớn: ở ngoại thành phố thì đẩy mạnh chiến tranh nhân dân, phát động cao trào du kích diệt Mĩ.

Củ Chi trở thành nơi tập trung mũi nhọn của Mĩ. Các đồng chí lãnh đạo Củ Chi xác định trong Nghị quyết Đảng bộ mình: “Đây là chiến tranh ăn cướp nêu dù có là kiểu gì cũng phải đánh. Đánh Mĩ để cứu nước, cứu nhà. Ta và giặc Mĩ không thể cùng tồn tại mà phải một còn một mất trên đất này”.

Tháng 12 năm 1965, Westmoreland đánh giá là đã hoàn thành giai đoạn 1 và bắt đầu chuyển sang giai đoạn 2 “phản công chiến lược” gồm 2 bước: phản công lần 1 (tháng 1 năm 1966 đến giữa năm 1966), phản công lần 2 (từ tháng 10 năm 1966 đến giữa năm 1967) (“Counter offensive phase I” và “Counter offensive phase II”).

Với lực lượng 70 vạn quân “đồng minh”, địch vào mùa phản công I với chiến lược “tìm diệt” tập trung trên hai hướng chính là miền Đông Nam Bộ và khu 5. Mục tiêu bước này là “bẻ gãy xương sống Việt cộng”, tức là đánh bại chủ lực đối phương, giành lại thế chủ động trên chiến trường, qua đó củng cố ngụy quân, ngụy quyền.

Ở miền Đông Nam Bộ, vùng giải phóng phía Bắc Củ Chi là một trong những mục tiêu hàng đầu mà địch ưu tiên sử dụng lực lượng nhằm tiêu diệt chủ lực giải phóng, triệt phá căn cứ đầu não Quân khu Sài Gòn - Gia Định, giải tỏa áp lực “Việt cộng” và mở rộng vành đai an toàn quanh Sài Gòn. Cuộc hành quân đánh vào phía Bắc Củ Chi của Mĩ mang tên Crimp là cuộc hành quân mà “cả Chiến tranh thế giới thứ hai không có một kế hoạch tác chiến nào hoàn hảo như thế”(1). Với lực lượng được huy động đến 12.000 quân (gồm 2 lữ đoàn 2 và 3 thuộc sư đoàn bộ binh 1 Mĩ, 1 tiểu đoàn Úc, 8 tiểu đoàn ngụy), 300 máy bay chiến đấu và máy bay lên thẳng, 600 pháo, cối, 600 xe cơ giới… được không quân chiến lược B52 yểm trợ dọn bãi (24 lượt chiếc), có cả chó berger lùng sục…

Chuẩn bị vào trận lớn với quân Mĩ, quân dân Củ Chi đã củng cố hệ thống hầm chống pháo 175mm, 203mm, bom tấn.

Làng chiến đấu có thể vừa phòng thủ vừa tiến công, có thể đánh kẻ thù từ trên trời xuống, trong ra, ngoài vào.

Ngày 8 tháng 1 năm 1966, sau khi cho máy bay B52 và không quân chiến thuật, pháo binh vằm mặt đất, từng bày máy bay lên thẳng Mĩ ồ ạt đổ quân xuống phía Nam lộ 7 trong lúc từng bầy xe tăng, thiết giáp từ căn cứ ngụy Trung Hòa chia làm nhiều mũi tiến thẳng vào 2 xã An Phú, Phú Mĩ Hưng, vùng căn cứ Quân khu Sài Gòn - Gia Định, dưới sự yểm trợ của không quân và pháo binh. Từng toán chó berger đi trước, các phân đội lính Mĩ theo sau. Quân “đồng minh” sục vào nhà nông dân, dùng lưỡi lê rạch nát những bao gạo, đá tung tóe ra đất. Từng đống lúa, từng ngôi nhà bị súng phun lửa biến thành tro tàn. Xe ủi làm nhiệm vụ “bóc vỏ mặt đất”, không trừ nhà cửa, vườn tược.

Trước tình hình một chọi mười, chọi trăm, nhân dân Củ Chi quyết chiến trên thế trận đã dàn sẵn. Đồng chí Bảy Di, xã đội trưởng xã Trung Lập Hạ đưa du kích ra chiến hào tuyên bố: “Đây là vị trí của chúng ta, hãy đánh đến cùng, nếu có phải hi sinh thì hi sinh trên chiến hào này!”.

Ở Hố Bò xã Phú Mĩ Hưng, 1 tiểu đoàn Mĩ có 37 xe tăng và xe bọc thép yểm trợ từ hướng Đông Nam theo lộ 15 tiến vào. Một tiểu đội du kích và bộ đội địa phương với 5 súng trường, 1 carbine, nhiều lựu đạn và mìn các loại, chờ đánh tiểu đoàn này ở khu vực ngã bay Cây Gõ. Dựa vào các ụ chiến đấu, địa đạo và địa hình có lợi, để cho địch đến thật gần “lọt vào bãi tử địa”, du kích linh hoạt cơ động, thoắt ẩn, thoắt hiện, đánh phía trước, phía sau, bên sườn… qua một ngày chiến đấu, tiểu đoàn đã loại 107 tên Mĩ và 6 xe tăng, xe bọc thép. Trên một hướng khác cũng xã này, tại ấp Phú Bình, trên một diện tích nhỏ hơn 1, một tiểu đoàn 9 du kích với hệ thống hầm hào khi ẩn khi hiện, đã cầm chân 400 tên lĩnh Mĩ và 60 xe M113 suốt 8 ngày liền. Ở Trung Lập Hạ, trên một trận địa hẹp, không còn một bóng cây, trong 10 giờ liền, lực lượng vũ trang ta đánh lui 7 đợt đột kích của Mĩ, loại khỏi vòng chiến 118 tên. Nhiều tên bỏ xác trong đường hầm vì đuổi theo du kích. Ở Phước Hiệp chỉ trong 2 đợt đầu đánh địch đổ quân, du kích bắn cháy 3 máy bay lên thẳng.

Đoạn ghi chép sau đây của chiến sĩ Trần Bàn, đề ngày 11 tháng 1 năm 1966 trong rừng Hố Bò, mà hai nhà văn Anh (đã dẫn ở trên) viết lại trong “câu chuyện khó tin về cuộc chiến tranh trong lòng đất Việt Nam”, một trong tám nghìn đồ vật mà quân Đồng Minh thu được trong địa đạo Củ Chi(2) đã nói lên ý chí sắt thép của du kích Củ Chi trong cuộc chiến đấu vô cùng ác liệt:

“… Nhiều hầm đổ sụp. Nhiều bạn đồng đội bị chẹn trong hầm, chưa ra được, chưa rõ số phận của các cô Ba, Bảy, Hồng Hạnh và Tám Hà ở trong hầm ra sao. Các cô Tám và Út đã tử trận vì bảo vệ đường dây. Chưa kịp chôn cất các cô, thân thế các cô bị thối rữa. Buổi chiều, một du kích trong ấp đi trinh sát, cố lần mò đến địch, đã bị giết. Chưa lấy xác ra được.

… Nhà cửa đổ sụp, cây cối tan hoang. Mình đang nói chuyện thì một trái rốc két nổ cách mình khoảng hai trăm mét và bom bắt đầu rơi như mưa

Những ngày ở trong lòng đất thật khủng khiếp. Ăn cơm nguội với muối rang, uống nước lã. Nhưng ở đây tự do và thoải mái.

Phải chiến đấu, tiêu diệt chúng. Chúng mày (bọn Mĩ) không thể thoát được. Trước lúc rạng đông trời bao giờ cũng tối. Sau mưa trời sẽ tạnh… Phải quyết tâm thắng giặc Mĩ xâm lược”.

Người ghi đoạn nhật kí này đã hi sinh ngay dưới hầm. Người đã thu được một chiến lược “vô giá” này là một tên lính thuộc trung đội 3 công binh Úc.


(1) Nhận xét của hai nhà văn Anh Jonh Penycate và Tom Mangold trong cuốn “Câu chuyện khó tin về cuộc chiến tranh trong lòng đất Việt Nam”.
(2) Theo sách đã dẫn của hai nhà văn Anh John Pnycate và Tom Mangold đã nói ở trên.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #116 vào lúc: 10 Tháng Tư, 2012, 07:11:33 AM »

Hơn 10 ngày, cuộc hành quân Crimp đã tỏ ra là không đạt mục tiêu tiêu diệt cơ quan đầu não và đơn vị chủ lực quân giải phóng. Đến ngày 19 tháng 1 năm 1966 địch buộc phải kết thúc. Các lữ đoàn “Anh cả đỏ” kéo xuống Nam Củ Chi, và lập căn cứ tại Đồng Dù.

Sau 12 ngày đêm (từ ngày 8 đến ngày 19 tháng 1 năm 1966), quân và dân Bắc Củ Chi đã đánh 200 trận lớn nhỏ, diệt và làm bị thương trên 100 Mĩ ngụy, bắt sống 1 thiếu tá, bắn rơi 84 máy bay các loại (có loại 79HU1A), phá hủy và phá hỏng 77 xe quân sự (có 56 xe bọc thép M113), 2 pháo 105 li. Chỉ có một mục tiêu mà coi như cuộc hành quân Crimp đạt được là tàn phá: giặc Mĩ đã san bằng trên 1.000 ngôi nhà, đốt trụi 2.000 ngôi nhà khác, triệt hạ hàng ngàn hécta vườn cây, ruộng lúa, càn nát nhiều giao thông hào, đánh sập một số miệng địa đạo.

Từ tháng 12 năm 1965 đến tháng 4 năm 1966, Westmoreland lần lượt điều các đơn vị thuộc sư đoàn 25 “Tia chớp nhiệt đới”, một sư đoàn đã kinh qua huấn luyện và chuyên tác chiến ở vùng rừng nhiệt đới, chống du kích… đang làm nhiệm vụ ở Kontum vào miền Đông Nam Bộ. Một trong những nhiệm vụ trước mắt của sư đoàn này là thay thế lữ 3 sư đoàn 1 “Anh cả đỏ”, giải tỏa vành đai diệt Mĩ Đồng Dù ở Củ Chi và lập ở đây một căn cứ chỉ huy hoàn chỉnh cấp sư đoàn Mĩ.

Kế hoạch xây dựng căn cứ Bắc Hà (Đồng Dù) đã được vạch ra từ đảo Hawai.

Quân Mĩ chà đi xát lại, tập trung xung quanh Đồng Dù, hủy diệt tất cả các vùng Bàu Cạp, Cây Sộp, Trảng Lâm, Phú Hiệp… san bằng trên 2.000 ngôi nhà, nhiều vườn cây. Sư đoàn 25 Mĩ đã biến vùng đất quanh Đồng Dù và cả vùng lớn phía Bắc Củ Chi thành một vành đai trắng. Cho đến năm 1966, 660 ha, trong đó có 350 ha đồn điền cao su xã Phước Vĩnh An đã trở thành căn cứ của 4.500 lính Mĩ, gồm sư đoàn bộ và lữ đoàn 2 sư đoàn 25 Mĩ(1).

Đêm 20 tháng 1 năm 1966, tiểu đoàn Quyết Thắng bám sát địch rút lui khi chấm dứt trận càn Crimp, thực hiện trận tập kích một tiểu đoàn Mĩ đóng dã ngoại tại lô cao su số 6 Gò Nổi. Lực lượng tấn công chia làm 3 mũi, bí mật tiến cận địch, B40, B41, ĐKZ và cối cấp tập khai hỏa, bộ binh xung phong, tràn vào chỗ địch ngủ mà đánh. Sau 3 giờ chiến đấu, tiểu đoàn Quyết thắng đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn Mĩ. Đây là tiểu đoàn Mĩ đầu tiên bị loại trên chiến trường ngoại thành Sài Gòn - Gia Định.

Ngày 25 tháng 1 năm 1966, trên mảnh đất Củ Chi còn nóng bỏng khí thế chiến đấu, Bộ chỉ huy quân khu Sài Gòn - Gia Định tổ chức ngay hội nghị tổng kết chiến tranh nhân dân ở Củ Chi. Qua hiệp đầu, nhân dân Củ Chi đã góp phần giải đáp một câu hỏi lớn cho toàn Miền: chiến tranh nhân dân có thể thắng chiến tranh hiện đại của Mĩ.

Ngày 7 tháng 2 năm 1966, Quân khu Sài Gòn - Gia Định mở đại hội dũng sĩ diệt Mĩ ngay trên đất Củ Chi. Đại hội tuyên dương “Dũng sĩ diệt Mĩ” cho 200 cá nhân đã diệt được Mĩ. Trần Thị Gừng, Võ Thị Mô là những nữ dúng sĩ diệt Mĩ đầu tiên của Củ Chi. Bác nông dân Nguyễn Văn Nì được xếp hàng dũng sĩ cấp ưu tú(2). Qua việc đánh bại cuộc hành quân Crimp của địch, qua diễn đàn của các đại biểu, các dũng sĩ, Đại hội rút ra 10 kết luận về khả năng đánh Mĩ của chiến tranh nhân dân địa phương:

1 - Ai cũng đánh Mĩ được.

2 - Vũ khí gì cũng đánh được Mĩ.

3 - Nhiều đánh được, ít cũng đánh được, một ngươi, một tổ đều đánh được.

4 - Ở đâu cũng đánh được Mĩ, chỉ cần tích cực bám địch, tìm địch là đánh được.

5 - Ngày cũng đánh được, đêm cũng đánh được.

6 - Địch phản công là cơ hội để diệt chúng.

7 - Đánh ở phía trước, đánh trong hậu cứ địch. Đánh đều khắp, làm cho địch bị động, bối rối càng dễ đánh hơn.

8 - Đánh địch trong ấp chiến lược và cả ngoài xã, ấp chiến đấu.

9 - Có khả năng thắng tất cả mọi binh chủng của Mĩ, như bộ binh, xe tăng, máy bay, biệt kích.

10 - Đánh bằng vũ trang, bằng chính trị và cả bằng binh vận làm cho địch tan rã nhanh chóng.

Đại hội phát động tiếp tục phong trào thi đua diệt Mĩ trên toàn huyện Củ Chi. Ngày 9 tháng 2 năm 1966, Khu ủy Sài Gòn - Gia Định lại hợp bàn và ra chỉ thị lập vành đai diệt Mĩ trên vùng phía Nam Củ Chi. Sau cuộc hành quân Crimp, du kích 6 xã phía Bắc Củ Chi bám riết lữ 2, lữ 3 sư đoàn 1 “Anh cả đỏ” Mĩ, xuống tận phía Nam Củ Chi, bao vây căn cứ Mĩ Bắc Hà (Đồng Dù), hình thành một thế trận chiến đấu kiểu vành đai. Từ đó một phần đất của các xã Tân An Hội, Phước Vĩnh An, Trung Lập Hạ, Nhuận Đức, Phú Hòa Đông trở thành tuyến lửa bao vây địch. Toàn bộ vành đai là một trận địa nhiều tuyến, nhiều ổ, cụm chiến đấu, lỗ bắn tỉa, ấp xã chiến đấu liên hoàn, vừa là trận địa vây hãm, ngăn chặn địch nống ra, lại vừa là bàn đạp tiến công đột nhập căn cứ địch. Cấu trúc trận địa linh hoạt theo địa hình, cụ thể từng khu vực: trận địa xã Nhuận Đức gồm 3 tuyến. Tuyến một chỉ cách căn cứ Đồng Dù con suối Bến Mương, kéo dài từ Bàu Chứa tới Bàu Cạp, dài 2km. Phía trước tuyến 1 là bãi mìn và chông. Tuyến 2 và 3 ở phía sau, nối tuyến 1 bằng giao thông hào lộ thiên và ngầm. Trên tuyến 2, tuyến 3, ngoài các ụ chiến đấu chống bộ binh như ở tuyến 1, còn có các ụ bắn máy bay bay thấp.

Trên địa bàn xã Nhuận Đức, 3 du kích đã dựa vào thế trận làng để chiến đấu, bẻ gãy nhiều đợt xung phong của lực lượng Mĩ đông gấp đôi, giữ vững trận địa bắn tỉa.


(1) Trong căn cứ có 90 xe tăng, xe bọc thép, 150 xe vận tải quân sự, 15 pháo hạng nặng, 5 máy bay vận tải, máy bay trinh sát, nhiều máy bay lên thẳng. Đồng Dù còn là căn cứ xuất phát hành quân của trung đoàn 11 thiết giáp Mĩ.
(2) Dũng sĩ diệt Mĩ các cấp do Quân ủy và Bộ chỉ huy Miền đề xướng, Cục Chính trị B2 bổ sung cụ thể và quy định trên toàn miền Nam: - Cấp 3: diệt được 3 Mĩ hoặc làm chết, bị thương 5 tên. - Cấp 2: giết được 6 tên, hoặc làm chết, bị thương 9 tên. - Cấp 1: giết được 9 tên, hoặc làm chết, bị thương 14 tên. - Cấp ưu tú: giết chết 15 tên Mĩ hoặc làm chết, bị thương 18 tên.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #117 vào lúc: 10 Tháng Tư, 2012, 07:11:56 AM »

Đoạn vành đai xã Trung Lập có 5 tuyến kéo dài từ ấp Bàu Tre đến Trảng Lâm. Mỗi tuyến cách nhau từ 50 đến 70 mét. Tuyến dài nhất 5km, tuyến ngắn nhất 3km. Tuyến một sát địch, các ụ chiến đấu chỉ cách nhau trên dưới 15 mét, có giao thông hào nối ra tận đường làng 2. Tuyến 5 cuối cùng, các ụ chiến đấu được xây dựng vững chắc, có hầm cấp cứu, các hầm ẩn nấp, hầm làm việc.

Đoạn vành đai xã Phú Hòa Đông lại hình thức từ “thế trận thiên nhiên” của khu vực những hầm đá, gò đống, cây tầm vông. Căn cứ “Hầm đá một nước Nước Nhì” và căn cứ “xóm Bà Nhiễm” xây dựng tại ấp Phú An, trên khu đất cây Tầm vông rộng trên 40 hecta. Một chuỗi ổ chiến đấu được bố trí kín đáo giữa những bụi cây, ăn thông ra hệ thống địa đạo chính liên xã. Hai bãi tử địa được thiết lập án ngữ mặt đường 15 vô, Đồng Dù tới. Chính tại xóm Bà Nhiễm, nhiều trận đánh ác liệt đã diễn ra từ cuộc càn Crimp, hàng chục xe tăng, xe ủi đất của địch bị đánh gục.

Cuộc chiến đấu trên vành đai diễn ra vô cùng ác liệt. Du kích chỉ cách địch từ ba, bốn chục mét đến vài trăm mét, nhưng thế trận và hình thức tác chiến linh hoạt, có tuyến trước, tuyến sau, đảm bảo trụ bám và tấn công được dài ngày.

Phong trào “đăng kí diệt Mĩ” đã có từ trước khi căn cứ Mĩ hình thành, hằng ngày có hàng trăm người già, trẻ, gái, trai xin thay nhau ra tuyến trước. Con số được chọn có hạn, để tránh so bì, ban chỉ huy vành đai phải chia lịch để cho mọi thành phần, mọi giới đều được ra tuyến lửa.

Chỉ 1 tháng đầu trên vành đai (tính đến ngày 25 tháng 2 năm 1966), các lực lượng Củ Chi đã đánh gần 100 trận lớn nhỏ.

Sau đại hội dũng sĩ, trên vành đai Bắc Hà và cả huyện Củ Chi hưởng ứng một phong trào thi đua mới, giành các danh hiệu dũng sĩ diệt Mĩ. Du kích ở vùng xa căn cứ Mĩ hàng chục kilômét như Phú Mĩ Hưng, An Nhơn Tây cũng xin cấp trên cho đến vành đai để chiến đấu. Đánh ngày, đánh đêm, đánh địch bung ra, đánh địch trong căn cứ. Ở Tân Phú Trung, Trảng Lắm, Phước Vĩnh An, Bình Mĩ hễ địch đi càn là bị tiêu hao. Khẩu hiệu của du kích là “đã vác trái đi, không vác trái về”. Phong trào giành danh hiệu dũng sĩ các cấp càng sôi nổi qua việc “vay mượn” qua lại số Mĩ diệt được, có “trả” sòng phẳng. Các chiến sĩ tiểu đoàn 7 đứng chân trên vành đai tích cực hướng dẫn du kích đánh giặc.

Tháng 3 năm 1966 Hội nghị cán bộ nội thành lần thứ I, tháng 4 năm 1966, Khu ủy Sài Gòn - Gia Định họp ra nghị quyết 8 quán triệt sự chỉ đạo đánh Mĩ toàn diện của Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ 12 (tháng 12 năm 1965). Quân khu tiếp tục phát động một phong trào toàn dân đánh Mĩ cứu nước, thi đua giành các danh hiệu dũng sĩ diệt Mĩ các cấp, ác loại trong các lực lượng vũ trang và nhân dân.

Trong lúc quân Mĩ và một bộ phận quân cơ động ngụy thực hiện phản công ra vùng ngoài để “tìm diệt”, phần lớn quân ngụy làm nhiệm vụ đánh phá hạ tầng cơ sở cách mạng ở vòng trong phục vụ cho việc “bình định” và đảm bảo an ninh phía sau: hành quân “Rạng đông” ở ven đô Sài Gòn - Gia Định, hành quân “An dân” ở Bình Dương, hành quân “Chiến thắng” ở Long An, hành quân “Dân tâm” ở Biên Hòa…

Khu ủy và Bộ chỉ huy quân khu đã chỉ đạo kịp thời các địa phương và các đơn vị ở vùng ven và trong đô thị tích cực đánh phá “gọng kềm” bình định của địch.

Trong hai tháng 3 và 4 năm 1966, tiểu đoàn Quyết Thắng chủ động thực hiện các trận tập kích quân Mĩ ở Phú Mĩ Hưng: diệt một đại đội Mĩ và 3 xe tăng ở Rừng Sến (lần 1); đánh thiệt hại nặng một đại đội Mĩ (lần 2). Tháng 5 năm 1966 tiểu đoàn tiếp tục luồn sâu vào hậu phương địch, tập kích đến Tân Thạnh Tây do một đại đội ác ôn ngụy đóng giữ, diệt 80 tên, bắt sống 20 tên, thu 50 súng, phá vỡ một mảng kềm kẹp của ngụy ở vùng này, tạo địa bàn cho du kích đứng chân sâu trong vùng địch.

Cho đến tháng 7 năm 1968, trên vành đai, các lực lượng vũ trang Sài Gòn - Gia Định đã 8 lần (kể cả pháo kích) đánh vào căn cứ đầu não sư đoàn 25 Mĩ, trong đó có 2 trận cuối tháng 7, diệt nhiều Mĩ, phá hủy 20 xe bọc thép.

Cùng với mũi tiến công võ trang, nhân dân Củ Chi tự khẳng định khả năng đấu tranh chính trị trước một đối tượng mới là quân viễn chinh xâm lược. Quân Mĩ gí vào tay người dân Củ Chi văn bản “mời Hoa Kì ở lại 3 năm”, dân trả lời: “Các ông mới vô ít ngày mà đã tan nát làng xóm, nếu các ông ở ba năm thì dân chết hết”. Ở xã Trung Lập, 1 đoàn 5 xe M113 đang tiến vào đồng lúa chín, mấy chục nông dân dang tay tiến đến trước đoàn xe. Hàng tràng súng nổ lướt qua đầu, đoàn người vẫn xông tới. Đoàn xe buộc phải dừng lại.

Các cuộc đấu tranh tay không chặn đầu ngăn cản hàng bốn năm chục xe cơ giới Mĩ liên tiếp diễn ra ở các xã Phước Hiệp, Phước Vĩnh An, và xung quanh căn cứ Đồng Dù, trên các trục đường.

Ngoài trọng điểm Củ Chi, địch liên tục hành quân càn quét trên toàn vùng ven Sài Gòn.

Có nơi như Hóc Môn, Gò Vấp, trung bình trên hai ngày một trặn càn quy mô từ đại đội trở lên. Ở Dĩ An, địch cho xe ủi trắng các vùng rừng Cò Mi, Bình Hòa, Tân Đông, Bình An. Du kích phối hợp tiểu đoàn 3 bám sát, đánh liên tục, diệt hàng trăm tên địch các loại.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #118 vào lúc: 10 Tháng Tư, 2012, 07:13:51 AM »

Tiểu đoàn 6 Bình Tân cùng quân dân Bình Chánh đã đánh nhiều trận có hiệu quả cao như: chặn đánh một tiểu đoàn Mĩ càn quét vùng Láng Le, cầu An Hạ, diệt một đại đội, tiêu hao nặng một đại đội khác, bắn rơi 3 máy bay lên thẳng (ngày 26 tháng 2 năm 1966): diệt một đại đội thủy quân lục chiến ngụy, tiêu hao tiểu đoàn biệt động quân tại ấp 5 Tân Nhật, đánh thiệt hại các tiểu đoàn 30, 33 biệt động quân ngụy tại Gò Xoài và kênh Bà Tàng - cùng biệt động đặc công, diệt đồn cảnh sát Nguyễn Văn Tô trong Quận 6 và đồn cảnh sát ác ôn Phú Hòa, mở rộng vùng căn cứ nông thôn phía Nam thành phố. Nổi bật là trận tiêu diệt gọn đồn Ấp Chùa, xã Xuân Thới Thượng, bắt sống 15 tên, thu 30 súng (ngày 8 tháng 5 năm 1966), trận chống càn ở ngọn Rạch Sàng xã Hưng Long, loại khỏi vòng chiến gần 200 tên địch (ngày 23 tháng 5 năm 1966).

Tiểu đoàn 4 Thủ Đức tấn công địch ở khu vực chợ Nhỏ, loại khỏi vòng chiến gần 300 sĩ quan học viên cảnh sát (ngày 18 tháng 4 năm 1966); tập kích gây thương vong nặng lực lượng hải thuyền ngụy ở Bình Quới Tây.

Tiểu đoàn 2 Gò Vấp - Hóc Môn đánh các bót đóng ở Tân Quy, Bàu Trâm, Hòa Phú, Bầu Giang, tập kích địch đóng dã ngoại ở ấp Hậu Thạnh xã Trung An, ở lộ cao su 40, giữ vững và mở rộng được địa bàn căn cứ ven đô ở hướng này.

Từ năm 1966, địch cố tránh bớt từ “bình định” đã vấy máu và nói nhiều hơn về “tranh thủ trái tim khối óc người Việt Nam” với nội dung 8 điểm cụ thể(1). Nhưng dù như thế nào, nhân dân Việt Nam vẫn coi công cuộc bình định của Mĩ ngụy là một tai họa lớn nhất: các lớp sơn hào nhoáng của công cuộc bình định không che giấu được gốc phản dân hại nước của nó. Chính một người Mĩ đã thừa nhận: “Vì không tìm được một lí thuyết nào phù hợp với thực tế hành động của mình nên Mĩ đã bào chữa cho sự khủng bố ác liệt từ trên không và sự phá hoại cả một đất nước nông thôn bằng những lời hoa mĩ”(2).

Đất vùng ven là đất vườn rộng lâu đời, người nông dân coi việc bỏ đất tổ tiên ông bà là một trường hợp tan gia bại sản lớn nhất. Họ coi những đội bình định là những tên gây tai họa trực tiếp, những tên mật vụ, những tên “lính mặc quần áo bà ba đen”, là đối tượng phải tiêu diệt, trước hết là những tên đội trưởng ác ôn, những tên tâm lí chiến trong đội bình định. Lực lượng vũ trang địa phương liên tục đánh càn quét bên ngoài ấp, đồng thời, thường xuyên tổ chức đột nhập vào các ấp chiến lược cùng lực lượng du kích mật bên trong, trừng trị ác ôn bình định. Năm 1966, chính lúc địch ầm ĩ nhất về “chương trình cải tiến nông thôn” là lúc “nhịp độ bình định” bị tiến công tăng đến 12 lần so với trước đó 1 năm(3). Trong năm 1966, quân dân vùng ven Sài Gòn diệt 217 tên bình định.

Những hoạt động đánh phá bình định của ta hạn chế các cuộc càn của địch, nhiều xã mở được “lõm căn cứ”, một số xã được giải phóng. Nhiều nơi địch chỉ dám hoạt động ban ngày, còn ban đêm thì co rúc, di chuyển chỗ ngủ. Lần lần cán bộ và lực lượng vũ trang ta từ chỗ phải rời địa bàn, hoặc chia nhỏ bám trụ hết sức gian khổ, nằm hầm, ngủ bưng, uống nước ve, ăn cơm vắt, nay trở lại đứng được trên địa bàn cũ, bám được vùng sâu, áp sát địch, tạo thế xâm nhập nội thành. Phối hợp đánh bọn bình định ở nông thôn, ở nội thành, lực lượng vũ trang cánh Hoa vận tập trung vào đối tượng công an mật vụ, phản động người Hoa, trừng trị nhiều tên quan trọng như tên đặc vụ Lê Nghĩa Á, Nghị viên đô thành Trần Kim Thuận. Lực lượng vũ trang an ninh nội đô cũng liên tiếp đánh nhiều trận xuất sắc nhằm vào đối tượng đầu sỏ ngụy quyền, tình báo, cảnh sát, ác ôn, chiêu hồi, chỉ điểm có nợ máu. Cơ sở an ninh nội tuyến của ta với một quả mìn hẹn giờ giết chết và làm bị thương 17 cảnh sát địch tại Bộ tư lệnh cảnh sát Quốc gia. Ngày 1 tháng 6 năm 1966, với 3 phát súng nắn, hai chiến sĩ an ninh khác diệt tên Nguyễn Văn Chử, một ác ôn khét tiếng đã đánh phá cơ sở cách mạng từ thời kháng chiến chống Pháp, vừa mới lên làm bộ trưởng chiến tranh tâm lí.

Với sự phát triển lực lượng chính trị và quân sự các ngành, cách đánh nhỏ lẻ của du kích tự vệ được nâng lên, phối hợp hoạt động của biệt động.

Ngày 1 tháng 4 năm 1966, lực lượng biệt động thành do Nguyễn Văn Tăng chỉ huy dùng xe hơi võ trang tiểu liên, thuốc nổ tấn công khách sạn Victoria giành cho sĩ quan Mĩ độc thân tại góc đường Trần Hưng Đạo - Huỳnh Mẫn Đạt, làm sập một tầng lầu khách sạn, giết chết và làm bị thương hàng chục tên Mĩ (thuộc lực lượng không quân).

Mục tiêu chống Mĩ và đòi lật độ Thiệu - Kì trở thành nội dung nổi bật của phong trào đấu tranh chính trị ở đô thị cuối mùa khô 1965-1966. Tháng 3, tháng 4 năm 1966, phong trào đòi lật đổ Thiệu Kì có sự phối hợp giữa các thành phố lớn Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn… Cùng Huế, Đà Nẵng, nhân dân Sài Gòn thành công “sáu đêm không ngủ”, mỗi đêm hàng vạn người tham gia, đỉnh cao là ngày 7 tháng 4 năm 1966 hàng chục vạn người Sài Gòn bất chấp lệnh cấm và lệnh giới nghiêm, từ bốn phía kéo đến bao vây nơi làm việc của Nguyễn Cao Kì, đòi Thiệu - Kì từ chức. Nhiều ngày liên tiếp có biểu tình, có xung đột với cảnh sát. Trên thực tế nhân dân làm chủ đường phố. Trong chín mười đêm, lực lượng biểu tình ném đuốc vào cảnh sát, quân cảnh ngụy, tước khí giới của chúng, hạ cây, lật xe cản đường, dựng rào giữa phố, đốt bánh xe, chặn xe quân sự.

Trước ngày 1 tháng 5 năm 1966, ngụy quyền đã chuẩn bị chống biểu tình. Sáng sớm ngày 1 tháng 5, trên những đường phố lớn chung quanh trụ sở Tổng liên đoàn lao động, các lực lượng cảnh sát, công an, cảnh sát dã chiến ngụy và một số quân cảnh Mĩ đã rải đều cùng với hàng rào kẽm gai bao vây. Nhưng khi loa phóng thanh vừa lên tiếng yêu cầu trật tự viên dẹp bỏ hàng rào kẽm gai cho đồng bào dự lễ thì hàng ngàn thanh niên công nhân và lao động tay đeo băng đỏ, tay cầm gậy hô “xé rào” đã xông tới dẹp bỏ những vòng kẽm bai bùng nhùng. Bọn ác ôn lồng lộn xông đến, nhưng không làm gì được trước đội ngũ quần chúng đông đến hàng vạn người, với rừng khẩu hiệu đang tràn tới hô: “Phản đối đàn áp biểu tình”. Khi nhìn thấy những khẩu hiệu: “Người Mĩ không can thiệp vào công việc nội bộ của người Việt Nam”, “Chấm dứt rải chất độc tàn phá nông thôn”… các quân cảnh Mĩ và lính Mĩ đã lẻn đi mất. Dân biểu tình ào ạt tiến tới. Cách năm ba mét là một khẩu hiệu trương giữa hai cán cây dài. Những cán cây dài cũng chính là gậy mà quần chúng chuẩn bị để ứng phó khi đàn áp.


(1) 1/ Huấn luyện cán bộ, 2/ xây dựng ấp Tân sinh, 3/ tự lực cánh sinh, 4/ giáo dục công nông, 5/ công chính nông thôn, 6/ phát triển canh nông, 7/ chiêu hồi, 8/ định cư những người Cộng sản.
(2) Gabriel Kolko, trong “giải phẫu một cuộc chiến tranh”, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1984.
(3) Theo Nữu Ước Thới báo ngày 26 tháng 3 năm 1967.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #119 vào lúc: 10 Tháng Tư, 2012, 07:15:26 AM »

Lực lượng gồm công nhân các nghiệp đoàn, xí nghiệp, chợ, xóm, các ngành nghề, học sinh, sinh viên, giáo chức, nông dân ngoại thành: Thủ Đức, Hóc Môn, Nhà Bè, Chợ Đệm… cả gia đình binh sĩ, khi xuất phát đoàn gần hai vạn người, nhưng trên đường tuần hành từ đường Lí Thái Tổ ra Cống Quỳnh, Nguyễn Cư Trinh, Trần Hưng Đạo, Hàm Nghi, bà con dần tấp vô, đến đại sứ quán Mĩ đã lên trên 4 vạn người.

Nguyễn Ngọc Loan, tổng giám đốc công an cảnh sát và Văn Văn Của, đô trưởng Sài Gòn cùng 45 xe cảnh sát chở đầy lính chạy trước, chạy sau, chạy kèm hai bên dòng biểu tình.

Tiếng hô: “đả đảo đế quốc Mĩ”, “quân đội Mĩ cút đi” vang lên trước tòa đại sứ Mĩ. Mong đoàn biểu tình giải tán cho mau, Loan và Của tỏ vẻ hăng hái nhận từng chồng yêu sách của quần chúng. Nhưng đoàn biểu tình đã không giải tán lại bắc loa phóng thanh để các đại biểu lên phát biểu ý kiến. Cuộc biểu tình biến thành cuộc mít tinh, họp báo. Sinh viên vẽ xuống mặt đường trước Sứ quán Mĩ dòng chữ American go home - stop war in Việt Nam. Phóng viên chụp lại và đưa lên mặt báo.

Sau cuộc biểu tình, địch bắt chủ tịch Tổng liên đoàn Lao động, bao vây trụ sở Tổng liên đoàn, khủng bố hàng loạt nghiệp đoàn cơ sở.

Đánh giá cuộc đấu tranh ngày 1 tháng 5 năm 1966, Hội nghị Thường vụ Khu ủy mở rộng tháng 10 năm 1966 xác định: Trong vòng mấy năm nay, đây là lần đầu tiên quần chúng đô thị biểu thị một khí thế chống Mĩ mạnh mẽ nhất, với nội dung đúng đắn nhất”(1). Hội nghị cho rằng được như vậy là nhờ có chuẩn bị kĩ thông qua các cuộc hội thảo đại hội công nhân và mít tinh quần chúng, nhất là thông qua cuộc đấu tranh cho các yêu sách tăng lương của nhiều xí nghiệp trước đó. Công nhân và nhân dân lao động đã thu hút chung quanh mình nhiều lực lượng như giáo chức, thanh niên, phụ nữ, học sinh, sinh viên. Do đó cuộc đấu tranh ngày 1 tháng 5 năm 1966 thực tế là cuộc đấu tranh của một mặt trận dân tộc và dân chủ do công nhân làm nòng cốt. “Nó đã chứng tỏ khả năng phát động và tập hợp công nhân, lao động của Đảng ta, khả năng đưa phong trào công nhân, lao động thành nòng cốt của phong trào quần chúng đô thị nói chung”(2).

Chỉ hơn một tuần sau sự kiện ngày 1tháng 5, đến 10 tháng 5 năm 1966, hàng vạn đồng bào lại nổi đuốc biểu tình, áp giải hình nộm Johnson, đến ngã Bảy, lập tòa án rồi “thiêu sống”.

Bên cạnh phong trào công nhân và các giới khác, phong trào Phật giáo lại “tái phát” một cách mạnh mẽ, ngày càng hướng mạnh vào kẻ thù ngoại bang. Cuộc bùng nổ Phạt giáo đã bắt đầu từ miền Trung, Huế, Đà Nẵng vào cuối tháng 3. Tại Huế, Đà Nẵng, đồng bào chiếm đài phát thanh và bao vây một số căn cứ chỉ huy của quân đội Sài Gòn. Thủ tướng ngụy quyền Nguyễn Cao Kì hăm dọa những người lãnh đạo Phật giáo: … Các vị dùng bạo lực để lật đổ tôi thì tôi sẽ không do dự giết chết mọi cấp lãnh đạo Phật tử trước khi tôi rời khỏi chính quyền”. Kì lệnh cho lính thủy đánh bộ, lính dù, xe tăng ra tay. Thế là phong trào Phật giáo lan truyền vào Sài Gòn suốt tháng 4, tháng 5. Giới Phật tử Sài Gòn liên tiếp tổ chức những cuộc biểu tình mít tinh, hội thảo, tuyệt thực để phản đối ngụy quyền đàn áp Phật giáo. Sáng ngày 9 tháng 5 năm 1966, tại Viện hóa đạo, đông đảo tăng ni, Phật tử Sài Gòn - Gia Định tổ chức lễ cầu siêu cho các nạn nhân đã bỏ mình vì đạo pháp tại miền Trung. Sau lễ cầu siêu là cuộc tuần hành khổng lồ từ Viện hóa đạo đến quảng trường Quách Thị Trang. Trong khoảng 200 biểu ngữ chống chính phủ tay sai, chống Mĩ, nổi bật những dòng chữ “Đại sứ Mĩ hay toàn quyền Lodge”, “giải quyết bằng vũ lực là xâm lược”. Đặc biệt phía sau đoàn biểu tình có trên 100 xích lô đạp của Phật tử xích lô. Những anh em này sẵn sàng chở không lấy tiền những người biểu tình bị thương, bị ngất. Hết dùng lựu đạn cay đến vòi rồng phun nước, địch cho máy bay lên thẳng quần lượn đe dọa, rồi huy động biệt động quân và lính dù đến uy hiếp. Đoàn biểu tình vẫn cứ tiến.

Tháng 6, tháng 7 năm 1966 ở khắp nơi, giới Phật tử bảy bàn thờ Phật giữa đường phố với lí do: “nhà cầm quyền chiếm chùa, không cho thờ Phật trong chùa, phải đem tượng Phật ra đường thờ”. Bàn lớn, bàn nhỏ, lư nhang, hình Phật được đem cả ra đường. Ở đường Nguyễn Thiện Thuật, Phật tử đem cả gạch, xi măng ra xây bàn thờ giữa đường. Ở các vùng ngã bảy, Bàn Cờ… đồng bào hè nhau ra đốn cây hai bên đường xuống làm chướng ngại vật để bảo vệ bàn thờ Phật.

Tháng 6 năm 1966, một cao trào đấu tranh ở các đô thị lại nổi lên, rộng nhất từ trước đến nay: 4 thành phố và 29 thị xã đều náo động; cũng là đợt kéo dài nhất và số quần chúng tham gia đạt kỉ lục tính từ tháng 3 đến giờ. Trong 100 ngày ấy, ở 33 thành phố, thị xã, có 3 triệu 3 mươi vạn lượt người đấu tranh, riêng tại Sài Gòn có 800.000 lượt người gồm các thành phần công nhân, học sinh, sinh viên, trí thức, Phật tử và cả binh lính ngụy, đã biểu tình, mít tinh, hội thảo, bãi công, bãi chợ, bãi khóa với các khẩu hiệu trung tâm: Thiệu, Kì phải từ chức, Mĩ phải rút quân khỏi miền Nam Việt Nam, hòa bình, dân chủ.

Được Mĩ ủng hộ, Thiệu - Kì không đổ và đàn áp được phong trào, nhưng uy thế chính trị tồi tệ. Từ khi chiến tranh cục bộ bắt đầu, những cuộc đấu tranh dân sinh, dân chủ của công nhân Sài Gòn vào một đợt mới: những cuộc bãi công đòi tăng lương, chống sinh hoạt đặt đỏ, đòi tự do nghiệp đoàn của công nhân các ngành vận tải, giày Ba ta, dầu Esso, xích lô, xưởng dệt Đông Á, điện nước, thuốc lá MIC, MITAC, lốp xe Đại Nam, rượu Bình Tây… Quan trọng hơn hết là cuộc bãi công của 3.000 công nhân khuân vác từ tuyến Bình Đông đến bến tàu Nhà Rồng, đồng thời với cuộc bãi công của 8.000 công nhân xe buýt và hỏa xa.


(1) Báo cáo tình hình đô thị Sài Gòn từ tháng 5 đến tháng 10 năm 1966, thông qua tại Hội nghị Thường vụ A50 mở rộng tháng 11 năm 1966.
(2) Như trên.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM