Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 17 Tháng Mười Một, 2019, 06:10:34 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Sự tham gia của chuyên gia không quân Liên Xô trong chiến tranh chống Mỹ  (Đọc 42175 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« vào lúc: 18 Tháng Mười Hai, 2011, 11:56:54 AM »

(nguồn: nhat-nam.ru)

MIG TRÊN BẦU TRỜI VIỆT NAM
Bài của Isaev Piotr Ivanovitch



Ảnh: Isaev Piotr Ivanovitch.






........
« Sửa lần cuối: 18 Tháng Mười Hai, 2011, 02:06:42 PM gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #1 vào lúc: 18 Tháng Mười Hai, 2011, 01:44:47 PM »

(tiếp)



Giới thiệu

Piotr Ivanovich Isaev - đại tá không quân. Sinh ngày 05 tháng 8 năm 1933 tại làng Grano-Maiak thuộc khu Altai (Siberie). Năm 1955, tốt nghiệp Trường đào tạo phi công Hải quân ở Eisk và được phân công tới phục vụ tại Hạm đội Thái Bình Dương. Trước năm 1960 ông phục vụ trên các cương vị phi công, phi công trưởng, biên đội trưởng thuộc trung đoàn không quân tiêm kích hải quân. Năm 1960 chuyển sang phục vụ tại trung đoàn không quân tiêm kích thuộc bộ đội phòng không Quân khu Viễn Đông với chức vụ biên đội trưởng.

Năm 1961 ông vào học tại Học viện Không quân Yu.A.Gagarin. Năm 1965, sau khi tốt nghiệp Học viện hạng ưu tú, ông được bổ nhiệm phi đội trưởng một phi đội máy bay tiêm kích thuộc quân khu PriBaltic. Năm 1968 ông được bổ nhiệm Trung đoàn phó trung đoàn không quân tiêm kích ngay tại quân khu này, và năm 1971 chuyển sang phục vụ tại Cụm quân Bắc quân đội Xô Viết đóng tại Ba Lan. Cùng năm đó được bổ nhiệm làm Trung đoàn trưởng trung đoàn không quân tiêm kích.

Từ tháng 8 năm 1968 đến tháng 7 năm 1969 đã tham gia vào hoạt động chiến đấu tại Việt Nam với tư cách trưởng nhóm chuyên gia không quân Liên Xô tại một trung đoàn không quân tiêm kích, binh chủng Không quân Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Từ tháng Năm năm 1973 đến tháng Ba năm 1976 công tác biệt phái tại Syria trên cương vị cố vấn cho Lữ đoàn trưởng lữ đoàn không quân tiêm kích lực lượng Không quân CH Arab Syria.
Từ năm 1976 đến 1990 - Nghiên cứu viên cao cấp tại Học viện Không quân mang tên Yu.A.Gagarin. Sau khi ra khỏi Quân đội, ông tiếp tục hoạt động với tư cách cộng tác viên khoa học tại học viện này.

Được trao tặng huân chương "Sao Đỏ", huân chương "Phục vụ Tổ quốc trong lực lượng vũ trang Liên Xô» hạng III, bằng danh dự "Chiến sỹ làm nhiệm vụ quốc tế" và 15 huy chương.
Được Chủ tịch nước VNDCCH Hồ Chí Minh trao tặng huân chương "Chiến công» hạng III, cũng như huy chương "Vì tình bạn chiến đấu".


Tôi đến Việt Nam công tác từ Trung đoàn không quân tiêm kích cận vệ số 53 được trang bị máy bay MiG-21, đóng quân tại thành phố Siauliai nước CHXV Lithuania, với chức trách phó chỉ huy trung đoàn. Tại đó còn có bộ tham mưu sư đoàn chúng tôi, thời đó do thiếu tướng không quân Antsiferov Evgeny Nikolaevitch chỉ huy, người sau này trở thành thủ trưởng trực tiếp của tôi, khi ông giữ trọng trách Trưởng nhóm chuyên gia Không quân Xô Viết tại Việt Nam. Trước khi đi Việt Nam, ông đến trung đoàn của chúng tôi, để nói lời tạm biệt với tập thể quân nhân. Chúng tôi chúc ông thượng lộ bình an và thành công trong môi trường hoạt động mới của mình. Ông cảm ơn chúng tôi và sau đó quay sang tôi mỉm cười nói: "Cậu Isaev này, tôi sẽ đưa cậu theo tôi sang Việt Nam". Câu nói đùa của tư lệnh sư đoàn sau này đã trở thành hiện thực.


........
« Sửa lần cuối: 18 Tháng Mười Hai, 2011, 10:37:49 PM gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #2 vào lúc: 18 Tháng Mười Hai, 2011, 06:28:14 PM »

(tiếp)

Về nguyên tắc, tôi đang mong một chuyến công tác biệt phái tại một đất nước khác. Điều này được giải thích bởi thực tế là tại sư đoàn đã thành lập thêm biên chế bổ sung cho một số chức trách ban bay: Phó chỉ huy trung đoàn, phi đội trưởng và phi đội phó phi đội này. Bằng cách đó người ta đã tạo ra ban chỉ huy dự bị cho sư đoàn, cho phép khi cần thiết phái đội ngũ ban bay đi công tác biệt phái mà không ảnh hưởng đến huấn luyện chiến đấu của đơn vị có người đi công tác. Vì vậy, tất cả những người đã vào biên chế dự bị ấy ở bất kỳ thời điểm nào cũng phải sẵn sàng khởi hành đi công tác nước ngoài.


Ảnh:Hàng 1: Trưởng đoàn chuyên gia quân sự Xô Viết tại Việt Nam trung tướng Аbramov V.N., Hàng 2: ở giữa là trưởng nhóm chuyên gia không quân Xô Viết thiếu tướng Аntsiferov Е.N., trưởng nhóm chuyên gia tên lửa phòng không Xô Viết đại tá Stutchilov А.I.

Và thời điểm đó đã đến. Tôi và phi đội phó đại úy V.Velikanov, cũng như đại úy kỹ thuật hàng không Tomilets G.R. được trung đoàn trưởng triệu tập lên phòng ông, trao cho chúng tôi mệnh lệnh sơ bộ về việc chuẩn bị đi biệt phái công tác tới Việt Nam. Và sau đó tất cả mọi thứ đi theo sơ đồ đã định: trò chuyện trao đổi và dặn dò của các chỉ huy, cuộc trình diện Hội đồng Không quân, ở đó người ta say sưa nghe báo cáo của chúng tôi về nguyện vọng và sự sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ của chính phủ trao cho chúng tôi. Và cuối cùng, cuộc trình diện tại Moskva. Đầu tiên, chúng tôi được hướng dẫn ở Cục Huấn luyện Chiến đấu Bộ Tổng tham mưu lực lượng Không quân, và sau đó đến Văn phòng Bộ Tổng tham mưu các lực lượng vũ trang Liên Xô. Ở đây chúng tôi được ủy ban thẩm tra thông qua, và tôi vẫn còn phải tới các phòng ban mà người ta chỉ định, nơi các sỹ quan của văn phòng cho tôi các chỉ dẫn cuối cùng, còn tại căn phòng cuối cùng tôi phải làm quen với một danh sách các tài liệu kỹ thuật có sẵn tại Việt Nam và về sự cần thiết đặt những tài liệu bổ sung.

Sau khi xin phép, tôi bước vào căn phòng này. Sau bàn là một ông già, trông như một thiếu tá về hưu và đang nói chuyện điện thoại với một Maria Vanovna nào đó về khả năng điều trị bệnh đau thần kinh tọa, ông chỉ cho tôi ngồi xuống một chiếc ghế, vẫn tiếp tục nói chuyện điện thoại, nhưng với một chủ đề khác - làm thế nào để muối dưa chuột và cà chua .

Nhìn thấy nỗi mệt mỏi của tôi, ông kết thúc cuộc trò chuyện và hỏi: "Anh đi đâu? "Đi Việt Nam" - tôi trả lời. "Tốt!" - Ông nói. "Bây giờ tôi sẽ đọc cho anh biết ở đó có những sách kỹ thuật nào, sau đó anh hãy nói anh muốn nhận được thêm những gì". Ông mở các thư mục và bắt đầu đọc một danh sách các tài liệu tham khảo liên quan đến tên lửa phòng không ở Việt Nam. Tôi nói với ông rằng tôi là phi công-nhà hàng không, và tôi cần những cuốn sách về các chủ đề hàng không. Ông ta trả lời rằng cái đó không có nhiều, và tiếp tục đọc danh sách. Tôi không ngắt lời ông ta nữa. Sau khi đã đọc xong tài liệu gì đó về xe tăng, ông chuyển sang các sách cho các chuyên gia hàng không. Sau đó ông hỏi tôi: "Nào, anh sẽ đặt hàng tài liệu gì đây?". Tôi đáp lại là sẽ không đặt cuốn nào cả, tôi thích tài liệu có sẵn ở đó. "Phải," - thiếu tá nói - "khi tài liệu đến nơi, anh bạn đã trở về nhà rồi". Từ những lời khôn ngoan của viên thiếu tá trên, tôi hiểu ra rằng mạch giao thông vận tải giữa Việt Nam và Liên Xô đã bị phá hủy, và người ta thường không nhận được tin tức từ bạn bè và người thân. Tất cả những điều ấy sau này đã được thực tế xác nhận.

Hoàn thành xong các công việc trên, người ta cho chúng tôi về nhà, sau khi tuyên bố trước là sẽ thông báo cho chúng tôi thời điểm phải tập trung tại Moskva cho chuyến đi tới Việt Nam. Khi trở về trung đoàn, chúng tôi cùng với đại úy Velikanov lại tích cực tham gia vào các hoạt động bay. Khi thực hiện những chuyến bay tập luyện, được tổ chức vào thời gian đó tại trung đoàn, đã có những bất ngờ xảy ra: trong quá trình cất cánh từ mặt đất khi mang tải trọng bom, máy bay của Velikanov bị hư hại sát xi càng trái, kết quả là lúc hạ cánh phi công đã bị thương và bị gạch tên khỏi công tác bay. Vậy là, nhóm đã được lên kế hoạch đi công tác biệt phái của chúng tôi bị mất một phi công, ngay trước khi đến Việt Nam. Một vài ngày sau người ta triệu tập chúng tôi đến Moskva. Cùng có mặt còn có các cô vợ của chúng tôi, đến tiễn chúng tôi đi vào hành trình dài.

Trước khi khởi hành cần thực hiện một vài hành động nữa: trao lại thẻ đảng tại Ủy ban Trung ương, ĐCS Liên Xô, làm các giấy tờ thủ tục về tài chính và nhận trang phục. Số lượng đồng phục được cấp phát, theo ý kiến của tôi, đủ cho ba năm. Vỏ nệm được bó lại bằng dây. Phát sinh vấn đề, mang gì theo mình đây. Tôi đặc biệt bận tâm về vấn đề làm gì với đôi ủng cao su - mang đi hay không mang đi? Một mặt, nếu mang đi sẽ mất thêm chỗ trong va li. Mặt khác, một ý nghĩ trở nên sắc nhọn - nếu cho họ thì có phí không, nghĩa là, ở đó họ có thể cần nó. Và chợt tôi thấy một nhóm sỹ quan ngày hôm qua vừa trở về từ Việt Nam. Tôi tiếp cận một người trong số họ, và không làm mất thời gian, tôi hỏi thẳng: "Anh hãy cho tôi biết, ủng cao su có cần thiết hay không?". "Sao thế anh bạn - ông ấy nói - "ở bên ấy anh không thể không có nó được, nhất định phải mang nó đi".

May mắn thay trong nhóm này lại có người tiền nhiệm của tôi, người mà tôi phải đến thay phiên. Các sĩ quan văn phòng Bộ Tổng tham mưu đã tập trung tôi với ông ta lại, dành cho chúng tôi một phòng riêng để nói chuyện. Ông ấy giới thiệu cho tôi tình hình chính trị-quân sự đất nước này, tình hình công việc trong trung đoàn không quân, và cũng chỉ ra những điều tôi cần chú ý.
........
« Sửa lần cuối: 18 Tháng Mười Hai, 2011, 07:35:07 PM gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #3 vào lúc: 18 Tháng Mười Hai, 2011, 09:12:07 PM »

(tiếp)



Về các nghĩa vụ cá nhân của tôi, tôi đoán chừng dựa theo tên gọi chức trách của mình. Còn nó, một cách chung chung được gọi như sau - trưởng nhóm chuyên gia hàng không Liên Xô tại trung đoàn không quân tiêm kích lực lượng không quân QĐNDVN - Chuyên gia bên cạnh trung đoàn trưởng không quân tiêm kích - phi công - huấn luyện viên. Nghĩa là, tương ứng tôi sẽ có nghĩa vụ chỉ huy nhóm của mình, giúp chỉ huy trung đoàn nâng cao trình độ huấn luyện chiến đấu của trung đoàn và thực hành đào tạo ban bay về kỹ thuật lái và áp dụng nó vào chiến đấu trên máy bay MiG-21. Còn người tiền nhiệm của tôi giới thiệu cho tôi những phương pháp làm việc trong điều kiện chiến đấu của Việt Nam. Tôi cảm ơn ông về cuộc trò chuyện về công việc, cuối cùng hỏi ông một câu hỏi rất thường: "Thế đôi ủng cao su có nên mang theo không?". "Ủng thì ở đó không cần đâu" - người trò chuyện với tôi trả lời. "Nhưng một đồng chí lại nói với tôi rằng nhất định phải mang nó theo" - tôi gạn hỏi. Và khi đó ông ấy giải thích với tôi rằng tôi đã nói chuyện với chuyên gia tên lửa phòng không nào đó rồi, vì họ thực sự cần chúng. Sau mỗi đợt phóng tên lửa, họ thường xuyên phải thay đổi vị trí trận địa trong rừng rậm. Thế nên họ thực sự cần những đôi giày đó. Vậy là vấn đề với các đôi ủng cao su đã được giải quyết.

Một vài ngày sau, nhóm chúng tôi, gồm khoảng 24-26 người được đưa đến sân bay. Nhóm gồm phần lớn là sĩ quan tên lửa phòng không, còn các nhà hàng không chúng tôi thì chỉ có hai phi công. Đi cùng chúng tôi sau kỳ nghỉ phép trở về là Phó trưởng đoàn chuyên gia quân sự Xô Viết phụ trách công tác chính trị, đại tá Polivayko Evgeny Ivanovitch.

Việc chia tay diễn ra rất buồn. Vợ và người thân của chúng tôi đã khóc. Đàn ông, cố gắng trong mức có thể, an ủi họ, và trong tâm hồn mỗi người chúng tôi đều cảm thấy xao xuyến, tôi tin rằng, ai cũng mong muốn nhanh chóng kết thúc thời gian chia ly nặng nề này và xe buýt đã nổ máy đi tới sân bay.
Vào thời gian đó, từ Moskva tới Bắc Kinh người ta chỉ thực hiện tất cả có một chuyến bay. Đồng thời, cứ một ngày chuyến bay được phi hành đoàn Trung Quốc thực hiện trên máy bay của mình, và ngày hôm sau chuyến bay lại được phi hành đoàn của chúng tôi thực hiện.

Chúng tôi đã gặp may - chúng tôi bay trên một máy bay Tu-104 của hãng Aeroflot với phi hành đoàn của chúng tôi. Qua hai lần hạ cánh tại sân bay trung gian chúng tôi đã đến Bắc Kinh. Lúc này quan hệ giữa Liên Xô và Trung Quốc đã xấu nhiều. Ở Trung Quốc, Cách mạng Văn hóa đang hoành hành. Sau khi hạ cánh, quân biên phòng Trung Quốc vào thẳng trong máy bay bắt đầu kiểm tra hộ chiếu. Sỹ quan trực ban bằng một thứ tiếng Nga trọ trẹ hỏi: "Các anh bay đi đâu và các anh là ai?". Trưởng nhóm của chúng tôi nói rằng chúng tôi bay đến Việt Nam và là chuyên gia. "Nhưng các anh là chuyên gia về cái gì?". Anh ta tò mò hỏi. "Chúng tôi là những chuyên gia về điện" - trưởng nhóm lại trả lời, và bằng cử chỉ, ông lấy tay miêu tả quá trình xoáy bóng đèn vào đui cắm. Viên sĩ quan gật đầu tỏ dấu hiệu cho thấy anh ta đã hiểu tất cả, và yêu cầu chúng tôi rời khỏi máy bay. Khi đi xuống cầu thang, chúng tôi nghe thấy bài hát nổi tiếng ở đất nước ta và ở Trung Quốc, bài hát "Moskva-Bắc Kinh". Loa phóng thanh mở hết công suất phát ra điệp khúc: "Stalin và Mao đang lắng nghe chúng ta ...». Một cặp thực hiện bằng tiếng Nga, một cặp thực hiện bằng tiếng Trung Quốc. Chúng tôi lập tức hiểu rằng bài hát được chơi dành riêng cho hành khách của chiếc máy bay của chúng tôi. Trong tòa nhà ga hàng không buổi hòa nhạc được lặp đi lặp lại, nhưng như người ta nói dàn nhạc sống: một dàn hợp xướng lớn, bao gồm người lớn, trẻ em và người già hát những bài hát phổ biến ở đất nước ta cũng như ở Trung Quốc.

Sau khi điền vào tờ khai, chúng tôi được mời lên máy bay, tiếp tục bay theo lộ trình Bắc Kinh-Quảng Châu (Canton). Đó là một chiếc máy bay Il-18 và nhóm hành khách chính là nhóm của chúng tôi. Sau khi máy bay cất cánh và lấy được độ cao đã định, hai nữ tiếp viên bắt đầu đọc các trích đoạn của Mao Trạch Đông bằng tiếng Anh và múa các điệu múa nghi lễ dành cho lãnh tụ của họ.

Tại Quảng Châu, chúng tôi ngồi đợi hai ngày. Phụ trách sân bay giải thích rằng khí tượng bay tại Việt Nam chưa phù hợp. Chúng tôi được bố trí trú tại khách sạn, nơi phải trả cho chỗ ở cũng như cho bữa ăn trong nhà hàng 25 nhân dân tệ, mà chúng tôi được cấp phát ở Moskva. Và nếu tính đến một số đồng chí đã tiêu tốn tiền ở Bắc Kinh, có thể cho rằng vào ngày thứ hai, nhiều người đã cạn tiền bạc. Tư vấn thì chẳng có ai - chúng ta không có Lãnh sự quán tại Quảng Châu. Chúng tôi quyết định gọi cho đại sứ quán của chúng tôi tại Bắc Kinh. Trưởng nhóm đi gọi điện, còn chúng tôi phải chờ kết quả của cuộc trao đổi. Kết quả là thế này - tại đại sứ quán người ta khuyên không nên ký bất cứ giấy tờ nào của khách sạn hoặc nhà hàng, và lúc chia tay hãy nói: "Các đồng chí hãy giữ lấy".

Và sau 10 phút người Trung Quốc mang lại phiếu thanh toán 25 nhân dân tệ cho cuộc đàm thoại. Lối thoát chỉ có một - đặt tất cả tiền bạc của ai còn lại, trả cho tất cả mọi thứ và đợi đến lúc ra phòng đợi ở sân bay chờ chuyến bay tiếp.

Lãnh đạo sân bay, sau khi hiểu rõ tình trạng khó khăn về tài chính của chúng tôi, quyết định rằng việc giữ chúng tôi lại sân bay không còn hữu ích nữa, chấp thuận cho chuyến bay tới Việt Nam xuất phát. Họ xếp chúng tôi lên một chiếc IL-14 hai động cơ piston và chúng tôi bay đi Việt Nam. Trong chuyến bay, phục vụ chúng tôi là một nam tiếp viên trẻ dáng người cao có đôi vai rộng và một nữ tiếp viên nhỏ nhắn xinh xắn. Họ cũng bắt đầu đọc các trích tuyển của Mao Trạch Đông, và chúng tôi thì thiếp đi vì kiệt sức. Và đột nhiên, họ dừng đọc và người nam tiếp viên nói bằng một ngôn ngữ Nga thuần khiết: "Chúng ta hãy hát bài hát "Chiều Moskva". Và cả hai bằng một giọng tuyệt đẹp cất tiếng hát bài hát này, tất cả chúng tôi như run lên, cùng cất tiếng đồng ca theo họ. Cứ như vậy cho đến khi hạ cánh tại sân bay Gia Lâm của Việt Nam, chúng tôi hát những bài hát Nga.


.......
« Sửa lần cuối: 18 Tháng Mười Hai, 2011, 09:37:53 PM gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #4 vào lúc: 20 Tháng Mười Hai, 2011, 12:41:55 AM »

(tiếp)

Máy bay còn lăn bánh nhưng qua cửa sổ tôi đã nhìn thấy một đám đông đi đón và trong số đó tôi nhận ra tướng Antsiferov Evgeny Nikolaevitch. Ông nổi bật lên bởi dáng người cao và cân đối. Trên đầu ông đang đội mũ sắt, tay cầm một cây quạt, quạt không ngừng xua cái nóng không chịu nổi. Chúng tôi hiểu ông đến đón chúng tôi, và tôi rất vui mừng vì tôi có cơ hội mang đến cho ông tin tức gia đình và quà của gia đình gửi cho ông. Sau cuộc đón tiếp, ông dẫn tôi vào văn phòng đoàn cố vấn quân sự xô viết, khi ấy đang đóng trong Đại sứ quán của chúng ta. Tại đấy trong cuộc trò chuyện với tôi, ban đầu ông quan tâm hỏi thăm tình hình công việc tại các bộ phận của sư đoàn mà ông từng chỉ huy, sau đó giới thiệu với tôi tình hình quân sự-chính trị tại Việt Nam và tình hình lực lượng không quân QDNDVN. Cuối cùng, ông đưa ra lời khuyên về những gì cần quan tâm trong công việc. Ông đặc biệt nhấn mạnh mối quan tâm nhằm nâng cao trình độ huấn luyện chiến thuật bay và kỹ năng chiến đấu của đội ngũ phi công trung đoàn, về nỗ lực kiểm tra việc chuẩn bị cho chuyến bay trên phương diện kỹ thuật hàng không và vũ khí và những vấn đề khác.

Ngày hôm sau tôi được giới thiệu với tùy viên quân sự đại sứ quán, sau đó tôi gặp tiếp phó của ông I.P.Shport - vốn nghề nghiệp là phi công. Một ngày sau đó, tướng Antsiferov E.N. đưa tôi đến giới thiệu với tập thể nhóm (chuyên gia) ở sân bay Nội Bài.

Vào thời điểm đó, Việt Nam đang ở vào mùa ta vẫn gọi là "mùa mưa" và nhiều chỗ trên đường chìm hẳn trong nước, nước nhanh chóng thâm nhập vào cabin qua một lỗ thủng bên sườn bị hư hỏng của chiếc "Volga" của chúng tôi. Chúng tôi co chân lên để nước không chui vào giày của mình. Nhưng ngay sau khi xe vừa nhảy lên đoạn đường khô ráo, nước lại nhanh chóng đổ ra ngoài qua chính lỗ thủng bên sườn xe này.


Nơi ở của chúng tôi.

Các chuyên gia hàng không của nhóm chúng tôi sống trên rìa một ngôi làng nằm gần sân bay, trong một ngôi chùa Phật giáo. Chùa này được bao bởi một bức tường đá hình bán nguyệt. Để nhanh chóng đi vào sân chùa, ai đó đã đục trên tường thành một lỗ không lớn, qua đó các chuyên gia của chúng tôi đi ra và vào khi ra xe đến sân bay và ngược lại. Trên đầu lỗ hổng đó có một tấm bảng nhỏ đóng đinh và có dòng chữ: "Ai có lỗ của người ấy!" Ông tướng nhìn tôi mỉm cười và nói: "Cậu sẽ mất một năm chui qua lỗ này mà về nhà". Ông là người đầu tiên, cúi xuống, luồn người qua lỗ, tôi chui theo ông, và chúng tôi đã ở trong sân chùa. Sân chùa là một diện tích khá rộng rãi, ở giữa sân mọc lên một cây đa khổng lồ nhiều rễ (Шагающее дерево) trên cây cũng có một tấm bảng nhỏ đóng đinh với dòng chữ - "Quảng trường những giấc mơ". Ở đây, bên gốc cây cả nhóm đã tụ tập chờ tôi và ông tướng tới. Evgeny Nikolaevitch giới thiệu tôi với nhóm. Chuyện về công việc bắt đầu. Các chuyên gia báo cáo về vấn đề của họ mà họ gặp phải trong công việc, các giải pháp khắc phục của họ. Sau đó, chúng tôi đi thăm thú quanh các chỗ ở nhóm chuyên gia của chúng tôi: gian ở, nhà bếp, phòng ăn, v.v. Nhóm được bố trí ở trong ba gian xây thêm liền kề với ngôi chùa. Các phi công sống trong một gian nhỏ. Tại đây đã có 4 chiếc giường có buông màn. Người ta chỉ ngay cho tôi thấy chiếc giường của tôi. Sống trong hai gian khác là tổ kỹ sư-kỹ thuật viên, các sỹ quan chỉ huy chiến đấu và bác sỹ hàng không, còn trong một ngôi nhà gỗ một tầng riêng biệt là các chuyên gia lắp ráp máy bay (lắp ráp từ các bộ phận rời vận chuyển đến). Tất cả các gian nhà thay vì các cửa sổ và cửa đi thì chỉ là những lối ra vào và hốc tường. Và một lần nữa tôi thấy chiếc bảng nhỏ đóng đinh đề chữ: "Không gian của những giấc mơ" - tại đó người ta trao đổi những tin tức khi nhận được thư nhà, tại đó người ta thả lòng theo nỗi buồn, khi nhớ về Tổ quốc của mình, nhớ những người ruột thịt và người thân khi mà họ thấy buồn. Họ đã định nghĩa cả những đường phố, ví dụ, Profsoyuznaya ulitsa là tên họ goi con đường mòn dẫn đến nơi ở của các chuyên gia lắp ráp máy bay (nghĩa là tới với phố công đoàn), còn đường phố Chạy Bộ - đây là con đường mòn dẫn đến nhà vệ sinh công cộng, v.v. Nhìn vào tất cả những điều đó, tôi nghĩ, người của chúng tôi kiên cường như thế nào, và hoàn cảnh dù khó khăn họ cũng vẫn vững vàng và thậm chí không hề mất cảm giác hài hước. Sau khi làm quen với bố trí của nhóm, họ mời tôi và Evgheny Nikolaevitch vào phòng ăn để ăn trưa.


........
« Sửa lần cuối: 20 Tháng Mười Hai, 2011, 02:24:48 AM gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #5 vào lúc: 23 Tháng Mười Hai, 2011, 01:45:47 PM »

(tiếp)



Ngày hôm sau người ta trao cho tôi một chiếc mũ sắt, vốn được dùng trong trang phục bay, súng lục, bản đồ bay và giấy chứng nhận rằng tôi là công dân Liên Xô đến trợ giúp nhân dân Việt Nam chống quân Mỹ xâm lược, và các công dân Việt Nam phải cùng tôi hợp tác đầy đủ, tấm giấy này tôi luôn giữ bên mình, đặc biệt nếu tôi thực hành bay, còn trên tay áo và ngực áo của tôi đính phù hiệu lực lượng Không quân QDNDVN.

Phòng phục vụ chuyên gia, đứng đầu là thượng úy Thành, làm công tác đảm bảo cho nhóm, biên chế của họ gồm có bốn phiên dịch, ba đầu bếp, hai nữ tiếp viên, bốn lái xe, một bác sĩ và các nhân viên làm nhiệm vụ duy trì trật tự. Tôi có một mong muốn là làm sao ra thật nhanh sân bay để gặp gỡ ban lãnh đạo và các phi công của trung đoàn. Tuy nhiên, trưởng phòng nói với tôi rằng ngày mai, trung đoàn trưởng sẽ tổ chức lễ đón tiếp nhân dịp đồng chí đến và sau đó đồng chí có thể bắt tay vào việc.

Cuộc tiếp đón được tổ chức ngay tại văn phòng phục vụ trong một gian nhà khá rộng rãi, lợp lá cọ. Tại buổi tiếp người ta mời tất cả các chuyên gia trong nhóm, phía trung đoàn đến dự buổi tiếp có chỉ huy trung đoàn - Anh hùng lực lượng vũ trang QDND Việt Nam Trung tá Trần Hanh cùng một nhóm sĩ quan. Ông cảm ơn các vị khách vì chúng tôi đã để lại gia đình mình ở quê hương, đến Việt Nam để trợ giúp nhân dân của ông trong cuộc chiến tranh chống quân xâm lược Mỹ và chúc mọi người thành công trong công việc. Đáp lời, tôi cảm ơn đồng chí chỉ huy trung đoàn đã đón tiếp chúng tôi nồng nhiệt và đảm bảo với ông rằng chúng tôi sẽ cố gắng hết sức, mang mọi kiến thức và kinh nghiệm để đóng góp phần nhỏ nhoi cho chiến thắng trong tương lai của các đồng chí.

Ngày hôm sau cả nhóm đi ra sân bay. Ở đó, tôi đã gặp gỡ với các phi công, đang thi hành nhiệm vụ trực chiến, họ nói với tôi rằng bây giờ các vụ ném bom Hà Nội, Hải Phòng, và các mục tiêu xung quanh đang tạm dừng, cuộc chiến đã di chuyển một chút về phía nam và các máy bay tiêm kích của trung đoàn đang không chiến trong khu vực ấy. Còn tại khu vực của chúng tôi, người Mỹ tập trung trinh sát trên không, sử dụng chủ yếu là máy bay do thám không người lái. Điều này tôi đã rõ ngay vào ngày thứ hai của tôi tại Việt Nam, khi tôi nhìn thấy một máy bay trinh sát không người lái lướt qua ở độ cao khoảng 200 mét. Hỏa lực pháo phòng không bắn đuổi theo, rõ ràng được bố trí trên suốt đường bay của nó, nhưng chỉ toàn vuốt đuôi. Chúng tôi còn nhớ mình thậm chí đã kêu: "Tăng lượng bắn đón lên!".



Tại sân bay tôi để ý thấy số lượng máy bay rất nhỏ. Sau đó tôi đã hiểu quyết định đúng đắn của Bộ tư lệnh binh chủng Không quân và ban chỉ huy trung đoàn chỉ duy trì trong quân số sẵn sàng chiến đấu thường xuyên một phi đội máy bay trực chiến, những chiếc còn lại được giấu trong núi. Để vận chuyển chúng vào núi, người ta sử dụng trực thăng Mi-6. Quá trình này được hoàn thiện đến mức gần như tự động hóa: Mi-6 treo lơ lửng trên MiG-21 và chỉ 2-3 giây sau người ta đã choàng và cố định xong giá treo ngoài và mang nó bay vào núi. Bộ tư lệnh binh chủng Không quân hiểu rằng cán cân lực lượng về máy bay không có lợi cho phía Việt Nam, vì vậy phải bằng mọi cách giữ gìn các máy bay tiêm kích chiến đấu trên và bằng các phương pháp khác trong những thời điểm thuận lợi giáng đòn đột kích vào kẻ địch trên không, cho kẻ thù biết rằng các máy bay tiêm kích Việt Nam bất cứ lúc nào cũng có thể phản công một cách hiệu quả. Bộ Tư lệnh nhận thức được rằng sự mất mát các máy bay tiêm kích của họ trong không chiến - là mất mát đúng cách, còn sự thiệt hại trên mặt đất - đó là sự xa xỉ cho Việt Nam vào thời gian đó.

Hầu như ngay lập tức tôi tham gia vào hoạt động bay. Lúc đầu, cần huấn luyện một số phi công hoạt động chiến đấu tiêu diệt mục tiêu mặt đất. Với mục tiêu này, bên cạnh đường băng đã thiết lập một tình huống mục tiêu bằng các tấm vải trắng. Và các phi công của chúng tôi bắt đầu bay kèm hướng dẫn các phi công Việt Nam trên máy bay huấn luyện-chiến đấu MiG-21U theo tỷ lệ hai chuyến bay cho mỗi chiếc. Chiến thuật như sau: tiếp cận mục tiêu ở độ cao thấp (50 mét), sau đó làm một vòng ngoặt tác chiến chuyển máy bay vào tư thế bổ nhào với góc 30-40 độ để thao luyện bắt bám mục tiêu và bắn tập hoặc ném bom tập có chụp ảnh. Sau đó, nhiệm vụ này được các phi công Việt Nam tự mình thực hiện trên các máy bay chiến đấu. Chương trình này kết thúc với việc thực hiện bắn và ném bom thật trên trường bắn. Cùng với các chuyến bay huấn luyện-chiến đấu theo kế hoạch đào tạo các phi công Việt Nam, chúng tôi cũng thường cất cánh lên không trung thực hành nhiệm vụ chiến đấu tiêu diệt kẻ thù thực sự.

Khi bắt đầu các hoạt động bay chủ động của tôi, đã xảy ra hai tiền đề chính có thể dẫn tới các tai nạn máy bay. Tại một trong những chuyến bay thử sau khi làm công tác bảo trì theo quy chế thường kỳ đã xảy ra hiện tượng dừng động cơ. Bản chất của chuyến bay thử là để kiểm tra tất cả các hệ thống trên máy bay ở tốc độ siêu âm tối đa và độ cao tối đa (trần bay của máy bay). Máy bay do tôi điều khiển.

Sau khi cất cánh và đạt độ cao 5.000 mét, tôi bật chế độ đốt sau (форсаж) tối thiểu của động cơ để đi vào các lớp ngừng tầng đối lưu (тропопаузы) một cách nhanh hơn và ít tiêu hao nhiên liệu hơn. Đây là lớp giữa tầng đối lưu (тропосфера) và tầng bình lưu (стратосфера), đặc trưng bởi nhiệt độ âm tối thiểu, đảm bảo lực kéo tối đa cho động cơ, có nghĩa là tăng tốc nhanh cho máy bay. Đi sâu vào lớp này, tôi bật chế độ đốt sau đầy đủ và bắt đầu tăng tốc. Tại tốc độ Mach=1,7 (số chỉ tốc độ của máy bay vượt quá bao nhiêu lần vận tốc âm thanh: ghi chú của Isaev), có tiếng nổ mạnh vang lên và động cơ dừng lại. Tất cả các bước hoạt động tiếp theo của tôi được thực hiện đúng hướng dẫn cho phi công. Sau vòng lượn về sân bay, tôi đã ở trên hướng hạ cánh từ khoảng cách 100 km. Sân bay đã nhìn thấy rất rõ và tôi tiếp tục giảm đến độ cao khởi động máy an toàn (8000 m). Ở độ cao này tôi thực hành mở lại động cơ. Nhưng trong quá trình hạ độ cao, máy bay bắt đầu rung chuyển, mức tăng dần lên cùng với sự giảm độ cao của máy bay và giảm tốc độ và vòng quay động cơ. Ở độ cao 100-150 m, sự rung lắc tăng lên dữ dội đến mức trở nên khó theo dõi các thiết bị (trong buồng lái) do kim chỉ thị quá rung. Còn ở độ cao 50 m, thoáng qua đầu tôi ý nghĩ cần bung dù. Thiết bị ghế phóng hiện đại đảm bảo rời máy bay an toàn ngay cả ở độ cao rất thấp. Nhưng tôi mong muốn cho máy bay tiếp đất bởi vì tôi đã tiếp cận đường băng, ý nghĩ về phóng ghế nhảy dù bị dập tắt. Ở độ cao cải bằng, tôi tắt động cơ. Theo tự nhiên, chiếc máy bay đột ngột tiếp sân, và chỉ nhờ kịp thời nắm và ghì chặt cần điều khiển về phía mình và giữ được tốc độ cao khi lượn mà máy bay đã hạ cánh thành công khi tiếp đất khá êm. Trên đường chạy đà dù hãm bung ra và giải phóng đường băng theo quán tính.

........
« Sửa lần cuối: 24 Tháng Mười Hai, 2011, 01:12:11 AM gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #6 vào lúc: 23 Tháng Mười Hai, 2011, 10:49:39 PM »

(tiếp)



Trong khi các kỹ sư và kỹ thuật viên của chúng tôi kiểm tra máy bay, tôi thử phân tích lại hoạt động của mình trong chuyến bay không đơn giản này. Nhớ lại các tình huống ngoài tầm kiểm soát, từng xảy đến trong 25 năm đời bay của tôi, tôi rất ngạc nhiên khi chỉ có tại chuyến bay này, lần đầu tiên trong đầu tôi lóe lên ý nghĩ về sự cần thiết rời khỏi máy bay.

Sau khi kiểm tra máy bay, các kỹ sư và kỹ thuật viên đi đến ý kiến nhất trí rằng lý do dừng động cơ và sự xuất hiện sự rung lắc dữ dội máy bay ở tốc độ thấp là sự phá hủy một phần tại một trong các gối đỡ trục rô to của động cơ. Điều này được xác nhận bởi kết quả thử nghiệm sau: qua cửa thăm máy nén dùng cây trỏ quay rô to động cơ và khi nó đang chạy đà ta nghe thấy tiếng gõ đục và nặng nề trong động cơ.

Tiền đề thứ hai có thể dẫn đến tai nạn máy bay xảy ra trước mắt tôi trong trường hợp sau đây. Để làm quen với các thiết bị của đài kiểm soát-chỉ huy bay (КДП-KDP), tôi leo lên tháp quan sát của nó. Đúng lúc trên đó người chỉ huy bay (руководитель полетов - РП) đang hướng dẫn máy bay hạ cánh. Thời tiết tốt, tầm nhìn rõ, như trong ngành hàng không chúng ta vẫn nói "một triệu trên một triệu". Sau khi hoàn thành vòng lượn thứ ba, tôi nhìn thấy máy bay vào hạ cánh mà càng chưa thả. Tôi chỉ thị cho thông dịch viên báo để người chỉ huy bay thông tin tới phi công rằng chưa ra càng. Do người chỉ huy bay không biết tiếng Nga, tôi đã phải nhiều lần yêu cầu phiên dịch bảo người chỉ huy bay ra lệnh cho phi công thoát sang vòng tròn thứ 2. Nhưng máy bay, đã vào hướng hạ cánh, bắt đầu giảm độ cao để hạ cánh. Tôi vớ lấy một khẩu súng bắn pháo hiệu và khi máy bay còn ở độ cao cải bằng, tôi bắn pháo hiệu về hướng máy bay. Phát pháo hiệu màu đỏ đi sượt qua cabin phi công.

Máy bay bay vọt lên, và tôi thì nghĩ rằng phi công sau khi nhận ra tín hiệu báo động đã bắt đầu chuyển sang vòng hai. Tuy nhiên việc máy bay vút lên là do lỗi của phi công trong thực hiện cải bằng, mà anh ta biết sửa chữa một cách khôn ngoan và đã cho máy bay tiếp đất không ra càng trực tiếp trên nền bê tông. Máy bay chìm trong đám khói, biến khỏi tầm nhìn và chỉ còn là một đụn khói khổng lồ lăn trên đường băng, đe dọa một vụ nổ tất yếu. Nhưng kìa đụn khói này dừng lại, khói tản ra và chúng tôi đã nhìn thấy chiếc máy bay nằm yên trên bụng của nó và anh phi công đang đứng bên cạnh. Chúng tôi ngồi trên xe lao ra phía anh ta và trên đường băng đã thấy 4 quả tên lửa nằm lăn lóc xung quanh, một nửa bị vỡ ra, và vệt màu đen của máy bay. Tôi chạy lại gần máy bay, và, chao ôi, tôi thấy ngay đó là trung đoàn trưởng đội mũ kháng áp mặc đồ bay, thiết kế chuyên dụng cho phi công thi hành các chuyến bay ở độ cao lớn. Tôi nghĩ rằng ông đã lâu không bay, vì trong thời gian tôi ở Việt Nam, tôi không bao giờ thấy ông tại sân bay. Và rồi đột nhiên, vào một buổi sáng sớm, ông quyết định thực hiện chuyến bay ở độ cao lớn với sự lấy đà tăng tốc lên tốc độ cực đại. Ông ấy thực hiện chuyến bay này với mục đích gì thì cho đến giờ đối với tôi đó vẫn còn là một bí ẩn.

Tôi đến bên máy bay, hỏi ông: "Chuyện gì xảy ra vậy, thưa đồng chí Trần Hanh?". Ông trả lời: "Càng không ra được". Còn trên thực tế, mọi thứ đều rất đơn giản: sau khi cất cánh và thu càng, ông quên đặt van hãm về vị trí trung hòa, theo đúng yêu cầu của hướng dẫn bay cho phi công, và đến khi hạ cánh lúc thả càng, ông đã dịch van xuống phía dưới để thả càng, nhưng do van hãm đang ở tư thế thu, cho nên trên thực tế phi công chỉ đẩy nó đến vị trí trung hòa nên càng không thể thả xuống được. Một tuần sau chúng tôi gặp lại ông và ông bối rối nói với tôi: "Đồng chí Isaev, ngày hôm đó đồng chí chắc chắn đã thấy tổn thất chiến đấu đầu tiên tại Việt Nam", và kế đó là một nụ cười buồn. Ông rất khó chịu bởi việc đã xảy ra, tôi cố gắng làm an lòng đồng chí ấy. "Trong hàng không, bất cứ điều gì cũng có thể xảy ra, nhưng không cần phải nghếch mũi mình lên mãi làm gì, chúng ta hãy cứ tiếp tục làm việc cho Ngày Chiến thắng sắp tới" - tôi nói với đồng chí ấy.

Các chuyên gia Liên Xô cùng với các đồng chí Việt Nam của họ đã làm tất cả những gì mà tình hình đòi hỏi trong những ngày đó. Ví dụ, trong những điều kiện khi người Mỹ bắt đầu do thám đường không một cách hệ thống bằng việc sử dụng các máy bay không người lái có màn nhiễu bảo vệ, đã phát sinh một số khó khăn cho phi công đánh chặn và tiêu diệt chúng. Cần nghiên cứu tình hình và phát triển các chiến thuật cho máy bay tiêm kích chiến đấu trong những điều kiện này. Để nghiên cứu tình hình, chúng tôi cùng phiên dịch viên cao cấp Trần Văn Vạn (chúng tôi gọi anh theo kiểu Nga là Vanhia), đi bộ tới khu vực bố trí các đài radar, đảm bảo hoạt động tác chiến cho trung đoàn không quân tiêm kích. Trên đường đi chúng tôi gặp một dòng sông nhỏ, có một cô bé mảnh khảnh chèo một chiếc thuyền vận chuyển hành khách qua sông với một khoản phí nhỏ nhoi. Cô gái chở chúng tôi qua, nhưng khi biết rằng tôi là một phi công Liên Xô thì cô thẳng thừng từ chối lấy tiền của chúng tôi. Tiếp đó chúng tôi đi theo một con đường hẹp, xuyên qua một ngôi làng nhỏ. Tôi đi trước còn phiên dịch Vanhia đi sau. Người dân nhanh chóng bước ra khỏi các ngôi nhà của họ, xếp một hàng ngang dọc theo con đường mòn và giận dữ nhìn chằm chằm vào chúng tôi. Tôi cảm thấy có điều gì đó lầm lẫn, và nhanh chóng quay nhìn lại để phiên dịch giải thích tình hình xem lý do tại sao dân làng đang rất tức giận nhìn chúng tôi và tôi thấy hình ảnh này: Vanhia cầm một cây gậy, mà anh ta dùng để đánh dọa lũ rắn, giống như một cái máy tự động, chuẩn bị mô tả lại quá trình áp giải tù binh phi công Mỹ bị bắt giam. Vâng, giống hệt bản sao của các bức ảnh cổ động được tuyên truyền rộng rãi thời ấy về Việt Nam bức ảnh "Cô du kích nhỏ nhắn Kim Lai và tù nhân của mình -. một phi công Mỹ". "Vanhia, có thể nào cậu lại đùa như thế được" - Tôi nói với người phiên dịch. Nhưng anh ta đã nhanh chóng nói gì đó với các cư dân và sau đó tất cả họ bật cười thành tiếng. Những đôi mắt của người dân bỗng trở nên ấm áp, và họ bắt đầu mỉm cười. Khi đến nơi, tôi ngồi xuống màn hình radar kề bên sĩ quan chỉ huy tác chiến của mình, và chúng tôi bắt đầu cùng nhau quan sát tình hình trên không.

Người Mỹ, theo phán đoán của chúng tôi đang bắt đầu chuẩn bị phóng máy bay trinh sát không người lái. Đầu tiên trong khu vực phóng xuất hiện máy bay mẹ C-130 bay theo một chu trình khép kín. Theo kinh nghiệm chúng ta biết rằng nó sẽ bay lòng vòng một vài phút hay có khi đến 1-2 giờ. Tiếp theo, trên màn hình có thể thấy hai chiếc máy bay xuất hiện và chiếm lĩnh khu vực che chắn hai bên sườn máy bay mẹ C-130 và giãn cách giữa chúng với nhau khá lớn. Đây là loại máy bay gây nhiễu EB-66. Sau 30 phút máy bay mẹ quay sang hướng đã định trước và tiến hành phóng máy bay không người lái. Thời điểm phóng trên màn hình radar không cố định, và máy bay không người lái được phát hiện chỉ sau khi bay ra khỏi máy bay mẹ một quãng từ 3-5 km. Các máy bay tiêm kích trực chiến cấp 1 cất cánh và được dẫn vào các khu vực bố trí dọc theo trục đường bay dự kiến của mục tiêu bay. Khi mục tiêu tiếp cận đường bờ biển, EB - 66 phát nhiễu phân đoạn rất mạnh. Để quan sát mục tiêu trong phân đoạn này là không thể.

Máy bay tiêm kích đang ở trong phân đoạn bị gây nhiễu và người ta chờ đợi mục tiêu bay ra khỏi phân đoạn bị nhiễu, và sẽ đi vào khu vực trực chiến. Nhưng máy bay không người lái đã đổi hướng trước khi ra khỏi khu bị nhiễu và vụt bay qua hoàn toàn từ hướng khác. Chặn nó đã là việc không thể.

........
« Sửa lần cuối: 25 Tháng Mười Hai, 2011, 01:10:14 AM gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #7 vào lúc: 24 Tháng Mười Hai, 2011, 01:11:23 AM »

(tiếp)



Để xây dựng chiến thuật chiến đấu với loại máy bay trinh sát không người lái, tại trung đoàn đã hình thành hai nhóm, một trong số đó gồm các phi công của chúng tôi, đóng vai trò của các UAV, và nhóm thứ hai là các phi công Việt Nam, trong vai các máy bay tiêm kích. Vùng trực chiến giả tưởng điều kiện là vùng trời trên sân bay, còn các máy bay trinh sát phải đột ngột đi qua khu vực này ở độ cao thấp với các hướng khác nhau. Đồng thời kế hoạch bay của trinh sát không người lái thì các máy bay tiêm kích không được biết. Như vậy, mục đích chính của những chuyến bay trên là xây dựng chiến thuật cơ động cho các máy bay tiêm kích khi gặp máy bay trinh sát không người lái tại các góc hướng khác nhau. Các chuyến bay như vậy cho phép mở rộng tầm nhìn chiến thuật của phi công thực hiện nhiệm vụ tiêu diệt máy bay trinh sát đường không.

Nhiệm vụ đặt ra theo yêu cầu của Không quân QDNDVN để các phi công của nhóm của chúng tôi thực hiện trong thời gian trước mắt là rất khó khăn. Trước khi đặt nhiệm vụ tôi đã được hỏi liệu các phi công của chúng tôi bây giờ có bay được trên những chiếc MiG-17 và máy bay huấn luyện MiG-15 hay không. Câu hỏi thật bất ngờ. Tại sao lại chuyển sang các loại máy bay lỗi thời ấy khi chúng tôi đến trung đoàn, họ đã được trang bị các loại tiêm kích MiG-21 mới. Tôi trả lời một cách khẳng định rằng phi công của chúng tôi đã bay trên những chiếc máy bay đó và chúng tôi có thể điều khiển chúng. Nhiệm vụ là đào tạo cho các phi công từ hai trung đoàn kỹ thuật lái máy bay trên biển ở độ cao cực thấp, và tiếp theo là thực hiện ném bom từ chiều cao tháp giữa tàu chiến. Yêu cầu là đào tạo bốn phi công từ trung đoàn máy bay MiG-21 và trung đoàn máy bay MiG-17.



Phần đầu tiên của nhiệm vụ chúng tôi đã thông qua, bởi theo kinh nghiệm có được trong các chuyến bay trên biển, cho phép các phi công Việt Nam tự tin đuổi theo máy bay địch đang tháo chạy ra phía biển và loại trừ trường hợp kẻ địch sớm thoát khỏi cuộc tấn công. Còn việc dạy để họ học ném bom từ chiều cao đỉnh cột buồm (топмачтового бомбометания) tàu chiến thì các phi công của chúng tôi hoài nghi, nhưng phía Việt Nam không nói lại chuyện này nữa, họ quyết định sau này sẽ thực hiện điều đó.

Bản chất của phương pháp ném bom này là như sau: máy bay tiếp cận tàu chiến đối phương ở độ cao rất thấp, tương ứng với chiều cao (tháp) cột buồm của nó, và hướng vuông góc với mạn tàu. Trước khi bay đến sát con tàu, tại điểm tính toán quả bom được phóng ra bắt đầu thực hiện vòng thia lia. Tại vòng thia lia thứ nhất khi văng lên khỏi mặt nước, trái bom cần phải lao vào đúng mạn tàu. Phương pháp này đã được sử dụng rộng rãi trong Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại.

Tuy nhiên, kết quả của các chuyến bay nghiên cứu tiến hành bởi các phi công của trung đoàn chúng tôi trên biển Baltic, trong đó có tôi tham gia, cho thấy ném bom từ chiều cao đỉnh cột buồm kiểu thia lia trên máy bay hiện đại tốc độ cao là không hiệu quả. Đây là những gì chúng tôi quyết định nói cho các đồng chí Việt Nam biết sau khi hoàn thiện thuật lái trên biển.

Và trong khi đó đã có lệnh cho nhóm tham gia vào các chuyến bay này di chuyển cứ đến sân bay Hải Phòng. Các chuyên gia của chúng tôi, bao gồm cả phi công, đã đến Hải Phòng bằng xe tải, các phi công Việt Nam di chuyển cứ theo thê đội bay.

Tại Hải Phòng, các phi công bay đến từ trung đoàn khác trên các máy bay MiG-17 và máy bay huấn luyện MiG-15 đang chờ đợi chúng tôi. Tập trung nhau lại, chúng tôi ngay lập tức bắt tay chuẩn bị cho các chuyến bay. Ban đầu, các đồng chí Việt Nam cho chúng tôi làm quen với tình hình trên biển và trên không trong khu vực sẽ diễn ra các chuyến bay sắp tới và các vấn đề có thể xảy ra trong quá trình thực hiện nhiệm vụ bay, còn chúng tôi đưa ra một số khuyến nghị sơ bộ để giải quyết những vấn đề này.

Thứ nhất, ở khoảng cách 80-100 km từ bờ biển có hai tàu sân bay Mỹ. Đương nhiên, nếu phát hiện ra chúng tôi, chắc chắn các máy bay tiêm kích hạm sẽ cất cánh để tiêu diệt hay ít nhất, xua chúng tôi ra khỏi khu vực. Vì vậy, khuyến nghị cho chúng tôi trong trường hợp máy bay tiêm kích Mỹ tiếp cận khu vực của chúng tôi thì theo lệnh từ Sở chỉ huy, chúng tôi sẽ nhanh chóng rời khỏi vùng trời trên biển và đi qua một đoạn hành lang đã định vào bờ, chiếm lĩnh khu chờ của mình.

Thứ hai, trên biển có rất nhiều tàu thuyền đánh cá Việt Nam, mỗi chiếc trong số đó đã được lắp đặt súng máy phòng không, và không thể có thông tin liên lạc với họ được, do đó cảnh báo họ về sự xuất hiện của chúng tôi trên đầu họ cũng là không thể.

Các đồng chí Việt Nam khuyên chúng tôi không nên đến gần các tàu này. Phi công của chúng tôi còn chỉ ra hai vấn đề khó giải quyết hơn nữa. Vấn đề đầu tiên là không có phi công nào đến từ trung đoàn khác kia biết tiếng Nga. Để giải quyết vấn đề này trong các tình huống phức tạp chỉ có thể tự thân mình nắm lấy quyền điều khiển và chỉ huy máy bay mình.

Vấn đề thứ hai là các máy bay MiG-15 được trang bị chỉ một cỗ súng sẽ không cho phép thực hiện phản kích hiệu quả chống lại máy bay tiêm kích của đối phương. Vấn đề được giải quyết bằng cách thoát khỏi khu vực (tác chiến) vào khu chờ.

Với quyền trưởng nhóm, tính đến việc cách đây chưa lâu mình còn là một phi công hải quân, chuyến bay đầu tiên giống như một chuyến bay trinh sát tôi quyết định tự mình thực hiện trên máy bay huấn luyện MiG-15 cùng một phi công đến từ trung đoàn bạn. Trước khi bay, qua thông dịch viên, tôi chỉ cho anh ta một hướng dẫn duy nhất : bay ra biển ở độ cao 2000 mét.

Chúng tôi bay ra biển theo một hành lang xác định trước. Cảnh tượng bao la của biển mở ra trước chúng tôi: mặt biển êm đềm phẳng lặng và thênh thang rải rác hàng trăm tàu đánh cá. Tôi lập tức nhớ đến cảnh báo của các đồng chí Việt Nam - không đến gần các tàu thuyền này trong hoàn cảnh như vậy – sẽ không được chào đón đâu. Khi thực hiện bất kỳ cuộc diễn tập nào ở độ cao cực thấp việc vòng tránh họ sẽ là không thể. Ví dụ, nếu chúng ta thực hiện một cú ngoặt ở độ cao 10-50 m (so với mặt biển) với tốc độ 800-900 km một giờ, bán kính vòng ngoặt sẽ là 8-11 km. Điều này có nghĩa rằng, với mật độ phân bố các tàu đánh cá cao như thế, trong thời gian thực hiện vòng lượn chúng tôi thể nào cũng bay qua trên đầu một số con tàu đó.

Lối thoát chỉ một - phải làm mọi thứ để thủy thủ đoàn những tàu đánh cá này nhận ra rằng đó là máy bay Việt Nam: chiếm lĩnh một độ cao sao cho tránh được các trường hợp tổn thương bởi hỏa lực súng máy phòng không và đồng thời cho phép ngư dân phân biệt các dấu hiệu trên máy bay, thực hiện chuyển tư thế máy bay từ mặt phẳng nghiêng này sang mặt phẳng nghiêng khác (chao cánh), v.v. Quyết định như vậy, tôi nắm lấy quyền kiểm soát máy bay về mình và bắt đầu giảm xuống độ cao 1500 mét. Đột nhiên, từ Sở chỉ huy vang lên cảnh báo, chỉ có một từ “MI!”. Tôi hiểu đó có nghĩa là "người Mỹ". Người phi công Việt Nam nhanh chóng nắm lấy quyền kiểm soát về mình và thi hành một vòng ngoặt gấp, hướng về bờ biển đi vào khu chờ. Cứ như vậy trong một chuyến bay đã ba lần chúng tôi bay ra biển rồi bay trở về, như thể chơi trò “mèo vờn chuột” với người Mỹ. Trong những chuyến bay khác với những phi công khác cũng xảy ra trường hợp tương tự. Tuy nhiên, ngư dân đã nhận ra chúng tôi là quân mình, và sau một ngày chúng tôi đã bay qua đầu họ ở độ cao cực thấp khi thực hành hoàn thiện kỹ thuật lái. Họ đón tiếp chúng tôi bằng những cái vẫy tay, chúng tôi trả lời họ bằng các tư thế diễn tiến khác nhau của máy bay.




Ô ten Komarik.
.........
« Sửa lần cuối: 25 Tháng Mười Hai, 2011, 11:46:48 PM gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #8 vào lúc: 24 Tháng Mười Hai, 2011, 06:16:14 PM »

(tiếp)



Lúc nghỉ ngơi rảnh rỗi, chúng tôi hỏi các phi công Việt Nam họ cần học làm chủ cách đánh bom từ đỉnh cột buồm làm gì. Họ trả lời rằng họ muốn đánh chìm tàu sân bay. Tôi không biết điều này đã được nói trong lúc đùa bỡn hay nghiêm túc. Nhưng sau khi chúng tôi giải thích với họ rằng phương pháp đánh bom này sử dụng với máy bay tốc độ cao là không hiệu quả, và sử dụng máy bay tiêm kích chống lại các tàu sân bay là không khôn ngoan. Chúng tôi không biết những gì chúng tôi nói ảnh hưởng đến Bộ chỉ huy Việt Nam ra sao, nhưng sau khi hoàn thiện kỹ thuật bay trên biển, chương trình được đóng lại và chúng tôi trở về sân bay Nội Bài của mình. Và chúng tôi một lần nữa tham gia vào các chuyến bay căng thẳng, bây giờ là bay đêm. Yêu cầu là khôi phục lại các kỹ năng bay của các phi công trước đây đã bay đêm và chuẩn bị hai biên đội (8 phi công) lần đầu mới bay đêm. Những phi công đã từng bay đêm, tuy có gián đoạn dài giữa các chuyến bay đêm, sau 2-3 chuyến bay có người của chúng tôi hướng dẫn đã bước vào bay đơn, nhưng với những người mới đến, chúng tôi đã phải làm việc hết khả năng của mình.

Tôi muốn nhớ về quan hệ của chúng tôi với các đồng chí Việt Nam, từ ban chỉ huy trung đoàn, các phi công, các kỹ thuật viên và các lãnh đạo tỉnh, nơi chúng tôi đang sống. Đó là một mối quan hệ ấm áp, các chuyên gia của chúng tôi có uy tín rất lớn với tập thể quân nhân của trung đoàn. Tất nhiên, có đôi khi nảy sinh một số khác biệt trong quan điểm về các vấn đề nhất định. Những chuyện đó luôn tồn tại, có khi là những trường hợp khá nghiêm trọng.

Nhưng nhiều lúc hành động của phía Việt Nam làm chúng tôi ngạc nhiên và thậm chí khó chịu. Ví dụ, vào ban đêm diễn ra chương trình họp ngoại khóa và quyết định cho phép bay chuyến bay đêm độc lập đầu tiên cho ai đó? Tất nhiên, bạn sẽ nói rằng bất kỳ ai trong chúng ta - một giảng viên phi công đang đào tạo người cho họ sẽ được mời. Không, bạn nhầm. Trung đoàn đã thành lập một ủy ban đặc biệt gồm nhiều người cho mục đích này, mà theo ý kiến tôi, hơn một nửa trong số đó không bao giờ từng làm gì liên quan đến hàng không. Chính họ mới quyết định tương lai của người phi công. Sau khi bay kiểm tra với một hướng dẫn viên, họ ngồi vào một chỗ nhất định thành một vòng tròn và ngồi xổm, ở trung tâm của vòng tròn cũng ngồi xổm như vậy là ứng cử viên cho chuyến bay độc lập. Và ủy ban sẽ quyết định có chấp thuận cho anh ta bay đơn ban đêm hay không. Nếu trong bóng tối đen như mực vang lên tiếng hoan hô của các phi công, đang đứng không xa ủy ban và đang cổ vũ cho bạn mình, có nghĩa là chấp thuận cho bay (người phi công đó) đã nhận được. Và không ai trong số các thành viên của Ủy ban đến chỗ chúng tôi - các phi công-giáo viên đang hướng dẫn người phi công kia hỏi xem liệu học sinh của mình đã sẵn sàng cho chuyến bay đơn ban đêm hay chưa. Chúng tôi đã cố gắng không can thiệp vào vấn đề này. Chỉ có một lần, khi ủy ban rõ ràng muốn chấp thuận cho bay đơn một phi công chưa được chuẩn bị kỹ càng, người mà tôi đang dạy, tôi đã phải đi đến chỗ ủy ban mà nói rằng tôi sẽ cho anh ta vài chuyến bay kèm nữa trên máy bay huấn luyện chiến đấu và chỉ sau đó hẵng cho phép anh ta bay đơn trên máy bay chiến đấu. Các thành viên của ủy ban, sau khi được tư vấn, quyết định tôn trọng khuyến nghị của tôi.

Còn bất đồng với người chỉ huy trung đoàn đã xảy ra về một vấn đề quan trọng hơn. Ngoài việc thực hiện các chuyến bay thường xuyên theo kế hoạch, các phi công Việt Nam còn phải không chiến với kẻ thù. Cuộc chiến tranh đang còn tiếp diễn. Họ có những thành công trong không chiến, và có cả những sai sót. Tôi đề nghị người chỉ huy trung đoàn tổ chức cho các phi công Việt Nam và các phi công của chúng tôi cùng nhau tiến hành phân tích mỗi trận không chiến đã qua.

Tôi cố gắng thuyết phục ông rằng việc đó sẽ cải thiện đáng kể chất lượng đào tạo chiến thuật cho các tổ bay. Trung đoàn trưởng luôn bỏ qua đề nghị của tôi. Và rồi một ngày tôi biết được rằng các phi công của trung đoàn đã tiến hành một số trận không chiến theo nhóm với kẻ thù, một vài trận trong số đó không hoàn toàn thành công. Vì vậy, một lần nữa tôi quyết định quay trở lại với trung đoàn trưởng đề nghị ông xem xét phân tích những trận không chiến thực hiện trong ngày đó. Tôi mang theo người phó chính trị của tôi, cũng là một phi công, và chúng tôi đi xe đến sở chỉ huy trung đoàn trình bày đề nghị của mình. Trung đoàn trưởng đồng chí Trần Hanh rõ ràng đang tức giận, nói qua thông dịch viên: "Các đồng chí, các bạn đã đến với chúng tôi và giúp chúng tôi trong cuộc chiến chống lại những kẻ xâm lược Mỹ còn các vấn đề khác các bạn không nên quan tâm". Tôi nhận ra rằng chúng tôi và trung đoàn trưởng đã đi đến ranh giới cuối cùng của những gì được cho phép trong quan hệ của chúng tôi, vì vậy tôi thề không bao giờ đề cập với ông vấn đề đó nữa. Nhưng điều này tôi đã báo cáo với cấp trên trực tiếp của mình, tướng Antsiferov E.N.

Sau một tuần rưỡi, phiên dịch viên cao cấp Trần Văn Vạn đến chỗ tôi, và báo rằng trung đoàn cho biết, ngày mai Bộ trưởng Quốc phòng VNDCCH Đại Tướng Võ Nguyên Giáp sẽ đến thăm trung đoàn, và các phi công Liên Xô cần phải thể hiện cho ông thấy thuật lái của mình. Tôi nói với thông dịch viên, anh hãy hỏi người chỉ huy trung đoàn xem tại sao ông ấy không muốn cho Bộ trưởng Quốc phòng xem thuật lái của các phi công Việt Nam. Nhưng trung đoàn xác nhận rằng chính Bộ trưởng Quốc phòng muốn xem thuật lái của phi công Liên Xô. Và hai giờ sau đó Antsiferov E.N. đến với chúng tôi và giải thích thực chất cuộc trình diễn thuật lái sắp tới cho các phi công chúng tôi. Chúng tôi cùng ông ấy nhanh chóng phác thảo kế hoạch của chương trình, trong đó phản ánh trình tự cất cánh của các phi công để thực hiện thuật lái, dùng những chiếc máy bay nào và phương tiện hạ cánh nào để làm giảm đường chạy đà, mà mỗi phi công áp dụng khi hạ cánh. Ví dụ, phi công đầu tiên được giới hạn ở việc chỉ thả cánh tà ở tư thế hạ cánh, phi công thứ hai bung thêm dù hãm trên đường chạy, người thứ ba sử dụng một hệ thống khác là SPS (СПС - сдув пограничного слоя воздуха с крыла - thổi lớp không khí giới hạn từ cánh, làm tăng lực nâng, và do đó, làm giảm tốc độ hạ cánh) và người cuối cùng sử dụng tất cả các thiết bị kể trên, nhưng bung dù hãm trên không trước khi máy bay tiếp đất. Những đội hình thuật lái cụ thể nào cần được mỗi phi công thực hiện thì kế hoạch không định trước. Tất cả các phi công đều giàu kinh nghiệm và mỗi cá nhân cần phô diễn tài nghệ của mình, đó là, đặc trưng phẩm chất của anh ta.

Ngày hôm sau, sáng sớm chúng tôi đến sân bay, những chiếc máy bay được chuẩn bị cho chuyến bay, đã sắp xếp thành một hàng trên đường lăn. Sau một lúc, bộ trưởng quốc phòng đi xe "Volga" đến, ông mặc quân phục. Trong xe ngoài người lái xe còn có cô con gái 8-10 tuổi của Bộ trưởng, và nằm ở băng ghế sau là một khẩu súng săn. Ông chúc sức khỏe chúng tôi và nói rằng ông được nghỉ phép ngắn và ông quyết định đi săn, nhưng trên đường đi rẽ vào và ghé thăm các phi công. Tướng Antsiferov E.N. mời Bộ trưởng lên tháp chỉ huy bay. Tôi và Sasha Mironov, theo kế hoạch, lĩnh vị trí sẵn sàng số 1 trên máy báy huấn luyện-chiến đấu MiG-21U: anh ta ngồi vào cabin trước, tôi - ở cabin sau. Anh mở máy động cơ và bắt đầu chạy đà để cất cánh. Đột nhiên chiếc máy bay bắt đầu chệch khỏi dải đường lăn về bên phải và Mironov qua máy liên lạc bộ đàm (самолетному переговорному устройству ( СПУ ) hét lên với tôi: « Phanh không làm việc!». Tôi nhanh chóng đoạt lấy quyền kiểm soát phanh, nhưng máy bay không tuân theo và từ từ lăn trượt xuống, sau đó bánh xe phía trước chạm vào đèn hạn chế và dừng lại. Tôi tắt động cơ. Tướng Antsiferov E.N lao như tên bắn xuống từ đài chỉ huy bay, ông chạy đến chỗ chúng tôi và giận dữ hỏi: "Có chuyện gì vậy?" Chúng tôi báo cáo ông phanh hỏng. "Isayev, nhanh chóng lên máy bay chiến đấu!" - Ông nói với tôi. Tôi chạy ra chỗ một chiếc máy bay chiến đấu MiG-21, và ông tướng hét với theo: "Bình tĩnh,chỉ cần đừng tự chôn mình!". "Rõ", tôi trả lời, và nhanh chóng trèo lên buồng lái, bắt đầu khởi động động cơ. Thuật lái được thể hiện ngay sau khi cất cánh và thu càng. Thực hiện xong một loạt các tổ hợp đội hình, tôi hạ cánh với việc bung dù hãm. Ngay khi còn đang lăn, tôi thấy một máy bay chiến đấu đến lượt cất cánh. Như vậy, chúng tôi đã thi hành một trình tự nghiêm ngặt khi biểu diễn thuật lái cho Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam. Trên mặt đất, tôi hỏi các đồng nghiệp của mình: "Sao, các cậu thấy thuật lái của tôi thế nào?". "Được rồi! Lá cọ run lên trên mái nhà của Đài chỉ huy bay, khi anh lướt qua nó ở độ cao thấp "- họ trả lời.

Sau khi trình diễn, Bộ trưởng Quốc phòng từ tháp chỉ huy đi xuống, đến chỗ các phi công chúng tôi và cảm ơn tất cả mọi người vì một chương trình biểu diễn thú vị, và sau đó ông nắm lấy khuỷu tay tôi kéo sang một bên và hỏi "Còn các phi công Việt Nam đã có thể làm được như vậy, như các đồng chí chưa?". Tôi nói với Bộ trưởng rằng các phi công của ông là học sinh tốt nghiệp trường dạy bay của chúng tôi, nơi họ được dạy bởi các giảng viên giàu kinh nghiệm, và bây giờ chúng tôi có thể giúp họ cải thiện hơn nữa kỹ năng bay của họ. Tất nhiên, kể cả các phi công của đồng chí cũng đã có thể cho đồng chí thấy kỹ năng bay lượn trên không tuyệt vời. Ông nói: "Cảm ơn".

Trung đoàn trưởng, mời tất cả những người có mặt ra bàn uống trà. Dưới tán dù che người ta bày một chiếc bàn dài hình chữ nhật, hai bên đã kê ghế dài. Trung đoàn trưởng, đồng chí Trần Hanh ngồi cạnh Bộ trưởng Quốc phòng. Tôi ngồi ở phía bàn đối diện, nhưng trực tiếp trước mặt Bộ trưởng. Bên chiếc bàn diễn ra cuộc trò chuyện thoải mái về các chủ đề khác nhau. Và đột nhiên, Bộ trưởng nhìn tôi và hỏi tôi một câu hỏi đáng ngạc nhiên: "Mối quan hệ của đồng chí với chỉ huy trung đoàn ra sao?". Tôi thậm chí rùng mình về câu hỏi này. Tuy nhiên, tôi không ngần ngại trả lời rằng tôi có mối quan hệ với chỉ huy trung đoàn chỉ thuần túy công việc. Tất cả im lặng, và cuộc trò chuyện tiếp theo về chủ đề này đã không được duy trì. Còn tôi, sau câu hỏi mà Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam đề ra cho tôi đã tự hỏi mình câu hỏi: "Bây giờ thì cậu đã hiểu lý do tại sao Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định đi săn mà trên đường lại rẽ vào ghé thăm các phi công rồi chứ".

Tiệc trà kết thúc, tất cả đứng lên rời khỏi bàn, còn Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quàng vai người chỉ huy trung đoàn, và họ đi khoảng gần một giờ trên đường lăn và nói chuyện với nhau về chủ đề mà chỉ họ biết.


..........
« Sửa lần cuối: 25 Tháng Mười Hai, 2011, 10:31:59 PM gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #9 vào lúc: 25 Tháng Mười Hai, 2011, 10:29:45 PM »

(tiếp)


Thủ tướng Phạm Văn Đồng đến thăm đơn vị.

Mặc dù thỉnh thoảng có chuyện bất đồng giữa các chuyên gia Liên Xô và các đồng chí Việt Nam về một số vấn đề, điều đó không bao giờ dẫn đến bất kỳ sự cô lập hay thiếu niềm tin vào nhau hay các hậu quả tiêu cực khác. Chúng tôi luôn thân thiện trong quan hệ với nhau và làm việc cùng nhau để giải quyết các vấn đề đặt ra cho chúng tôi nhằm cải thiện khả năng chiến đấu của trung đoàn.

Tôi vẫn nhớ với sự tôn trọng sâu sắc người chỉ huy trung đoàn đồng chí Trần Hanh và chính ủy trung đoàn đồng chí Quýnh, các phi công Biểu, Tôn, Mạo, Cương và những người khác, cũng như trưởng phòng phục vụ chuyên gia đồng chí Thành, thông dịch viên cao cấp Trần Văn Vạn (Vanhia), và tất cả mọi người cùng làm việc và quan hệ với các chuyên gia Liên Xô. Một số phi công trẻ mà chúng tôi từng đào tạo, tôi đã gặp lại họ sau này ở Liên Xô tại Học viện Không quân mang tên Yuri Gagarin, nơi mà tôi phục vụ tại thời điểm đó, còn họ thì đến đó học tập. Một nửa trong số họ đã trở thành Anh hùng Lực lượng Vũ trang Việt Nam. Có nghĩa là công việc của chúng tôi không vô ích. Lòng can đảm và dũng cảm của những con người đó, được củng cố bởi kiến thức và kinh nghiệm thu được trong quá trình huấn luyện chiến đấu, tình yêu vô điều kiện với Tổ quốc của họ đã làm cho họ trở nên những Anh hùng.

Cùng với các chuyến bay huấn luyện và đào tạo phi công Việt Nam, các phi công của chúng tôi còn thực hiện các nhiệm vụ khác, chẳng hạn như thực hiện các chuyến bay thử nghiệm kiểm tra sau khi bảo trì hoặc sau khi việc loại bỏ những hư hại nghiêm trọng của các thiết bị kỹ thuật trên máy bay. Đồng thời theo quyết định của Bộ tư lệnh Không quân QDNDVN chúng tôi bắt đầu tiến hành bay thử nghiệm các máy bay bị bom bi làm hư hại trên mặt đất sau khi chúng được sửa chữa. Chúng tôi đã bay thử một số máy bay này. Tuy nhiên, sau tai nạn của một chiếc MiG-17 tại trung đoàn bạn khi một phi công Triều Tiên bay thử sau khi được sửa chữa như vậy, bộ chỉ huy của chúng tôi đã cấm các phi công của chúng tôi bay thử các máy bay đó. Hóa ra chiếc MiG-17 này đã bị hư hại không chỉ phần vỏ mà còn bị gẫy xà cánh. Vì vậy, các máy bay đó cần được kiểm tra cẩn thận mức độ thiệt hại của cả phần kết cấu và các hệ thống trên máy bay. Điều này có nghĩa là việc sửa chữa các máy bay phải được thực hiện không phải ở các xưởng sửa chữa dã chiến mà phải sửa chữa tại nhà máy sửa chữa cố định. Nhưng ở Việt Nam vào thời điểm đó không có những nhà máy như vậy.


Đón năm mới 1969.

Tôi vẫn nhớ tất cả những chàng trai trong nhóm chúng tôi, những người trong những điều kiện khó khăn nhất đã thực hiện một cách trung thực nhiệm vụ được giao. Số phận đã ném họ đi khắp thế giới. Nhiều người trong số họ hiện đang sống ở các nước khác, nhưng ký ức về các đồng chí của mình là không biên giới, và chúng tôi sẽ giữ gìn nó mãi mãi. Trong tâm trí của tôi mãi mãi vẫn còn đó các phi công đồng nghiệp của tôi những người đã thực hiện các chuyến bay ngày cũng như đêm, trong điều kiện không có một số phương tiện dẫn đường và hạ cánh. Tôi sẽ nêu tên của họ. Đó là A.K.Galkin, Karnaukhov K.V., Makarov V., Trefilov V.Ya., V.A.Ignatov. Với tình yêu mến lớn lao tôi nhớ đến đội ngũ kỹ sư-kỹ thuật viên của chúng tôi như Polevoi V.F., Morozov P.N., Bezborodov Ya.M., Selyaeva N.D., Tomilets G.R., N. Boiko, V.L.Korchagin, E.Yu.Vaalma, Melshik I.A., B.N. Samylov, Grudin V.N., sĩ quan chỉ huy tác chiến (anh chính là thm mưu trưởng không biên chế của nhóm) Miroshnik S.A., bác sỹ hàng không Aslanov G.Kh. Với lòng kính mến sâu sắc tôi nhớ đến cấp trên trực tiếp của chúng tôi, thiếu tướng Không quân Antsiferov Evgeny. Ông đã qua đời trong một tai nạn máy bay khi đang là chỉ huy phó một đơn vị không quân hỗn hợp. Vinh quang đời đơi thuộc về ông! Ký ức về ông chúng tôi sẽ còn giữ mãi! Thể hiện sự trợ giúp lớn lao cho nhóm của chúng tôi còn có người phó của Evgeny Nikolaevitch (Tham mưu trưởng đoàn chuyên gia quân sự lực lượng Không quân Xô Viết) Moskalev P.E.

Họ là những con người có tính cách khác nhau, nhưng được thống nhất bởi tình bạn chiến đấu, sự hỗ trợ lẫn nhau, nghĩa vụ và tình yêu với Tổ quốc. Tin tức từ nước ta đến đây rất ít: radio mà chúng tôi có không thu được sóng từ Liên Xô, thư từ bưu phẩm không đến thường xuyên, vì vậy hiếm khi nhận được các tờ báo, các bưu kiện lớn. Từ những bưu phẩm đó, chúng tôi hiểu biết về các sự kiện ở nước ta rất muộn. Trong thời gian ở Việt Nam, đến thăm nhóm chúng tôi có hai đoàn đại biểu. Đoàn đầu tiên là từ báo "Sao Đỏ", dẫn đầu là tổng biên tập đại tá hải quân Korenevskii. Còn về đoàn thứ hai tôi muốn nói kỹ hơn một chút. Khoảng gần 2:00h chiều từ trung đoàn có một cú điện thoại gọi tới, cho biết một Anh hùng Liên Xô và là một phụ nữ từ Hà Nội đến thăm chúng tôi. Nhận được tin này, tôi đã cho các đầu bếp chuẩn bị sẵn một bữa ăn ngon, và bảo tham mưu trưởng nhóm chui qua lỗ thủng ra ngoài và nhìn trên đường nhựa xem có chiếc ô tô nào không. Tham mưu trưởng nhanh chóng trở lại và vừa thở vừa nói, khách đã đến nơi, họ đang xuống xe và bây giờ sẽ vào đây.


Gặp gỡ Nữ Anh hùng phi công Liên Xô trong chiến tranh Thế giới thứ 2, thiếu tá cận vệ Marina Chesneva, người chỉ huy một phi đội thuộc trung đoàn không quân cận vệ ném bom đêm Taman số 46.

Tin tức về sự xuất hiện của các vị khách lan đi nhanh chóng thông qua "trại" của chúng tôi và ngay lập tức tất cả tập trung tại quảng trường "Giấc mơ", và sau 1-2 phút từ sau lỗ của mở trên bức tường Anh hùng Liên Xô Cheshneva Marina Pavlovna đã xuất hiện, bà là người tham gia tích cực trong cuộc chiến tranh Vệ quốc vĩ đại, là một phi công nổi tiếng . Bà đi cùng với Trưởng đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô tại Việt Nam, tướng Stolnikov B.A và vợ. Tôi bước ra đón các vị khách, nhưng trong đầu lóe lên ý nghĩ – làm sao đón những vị khách như thế này mà lại không có hoa. Và kiếm nó ở đâu bây giờ? Và đột nhiên, trên đường ra đón khách, tôi thấy một khoảnh đất trồng hoa của nhà chùa bị bỏ rơi, dày đặc cỏ dại, trong đám cỏ đó có thể thấy những bông hoa nhỏ nhắn xinh xắn mọc trên thân cây mảnh mai. Chọn từng bông riêng lẻ thì không khả thi, không có thời gian. Tôi nhanh tay chọn những bông hoa và cỏ dại, chúng may mắn được tách ra cùng với rễ cỏ. Tôi đang trên đường đi, và ngay trước mắt các vị khách, tôi nhặt rễ và đất bỏ dưới chân mình, mà các thân cây và rễ cỏ dại quấn chặt như dây thép gai. Nhưng trong tình thế khẩn cấp này, không biết lấy đâu ra sức lực, nhưng khi đến gần các vị khách cuối cùng tôi đã rứt hết được những rễ cây. Và sau khi chào đón khách, tôi xin lỗi vì bó hoa bất bình thường như vậy. Marina an ủi tôi, qua những giọt nước mắt bà nói: "Đây sẽ là bó hoa đắt tiền nhất và không thể nào quên được trong cuộc đời của tôi".

Sau cuộc họp và thảo luận với các chuyên gia của nhóm chúng tôi, Marina bày tỏ mong muốn gặp gỡ các phi công Việt Nam. Chúng tôi đến sân bay. Nhưng cuộc gặp không bao giờ diễn ra. Ban chỉ huy trung đoàn giải thích là các phi công đang nghỉ ngơi, bởi ngày mai họ sẽ tham gia vào chiến sự. Nhìn chung, nghề nghiệp của phi công quân sự không thuộc về các thể loại được công chúng tiếp cận rộng rãi tại nhiều nước, đặc biệt là trong thời gian chiến tranh, trong đó có Việt Nam.

Vào cuối hồi ức của mình tôi muốn nói rằng các chuyên gia Liên Xô trong tất cả các quân binh chủng đã thể hiện sự hỗ trợ to lớn cho Việt Nam trong cuộc chiến chống những kẻ xâm lược Mỹ. Nếu không có chiến thắng của nhân dân Việt Nam, rất khó dự đoán tình hình quân sự-chính trị phát triển trong khu vực này bây giờ sẽ thế nào. Nhưng đó là lĩnh vực của các nhà chính trị và ngoại giao. Chúng tôi đã hoàn thành sự nghiệp của mình. Trong tâm tưởng của tôi mãi mãi vẫn không thể nào quên bầu trời Việt Nam và các bạn bè chiến đấu của tôi.

« Sửa lần cuối: 25 Tháng Mười Hai, 2011, 11:48:02 PM gửi bởi qtdc » Logged
Trang: 1 2 3 4 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM