Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 19 Tháng Hai, 2020, 12:07:44 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Mùa đông lạnh nhất - David Halberstam  (Đọc 76775 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22670


« Trả lời #220 vào lúc: 05 Tháng Mười Một, 2013, 02:14:18 AM »

Như những lý thuyết gia ở cả hai phía, Willoughby rất bí ẩn. [Theo ông ta] Những gì diễn ra ở lục địa Trung Hoa không là một sự kiện mang tính lịch sử do những lực lượng bị áp bức một thời gian dài đã tìm thấy phương thức chính trị mới để biểu đạt nguyện vọng, mà đó là việc của những nhà âm mưu. Trong một lá thư gửi đến Ủy ban Các hoạt động chống Mỹ của Hạ viện vào tháng 5 năm 1950, một tháng trước khi cuộc chiến bắt đầu, ông ta khẳng định rằng “Những bộ não người Mỹ cộng sản đã lên kế hoạch cho việc cộng sản hóa Trung Hoa”. Ông viết rằng, có những người thiên cộng “cuồng tín không thể giải thích nổi với lý do xa lạ, theo nhánh cộng sản “thánh chiến” của chủ nghĩa đại Slavơ nhằm chinh phục thế giới phương Tây”. Và như vậy, ông ta xếp vào nhóm rất gần với vài nhân vật cực kỳ đặc biệt cũng làm công việc này ở Mỹ. Hồi đầu năm 1947, ông khởi động một cuộc điều tra riêng của ông về những người Mỹ đang công tác ở Nhật, một cuộc điều tra, như Bruce Cumings chỉ ra, không khác gì với những thứ do McCarthy làm ba năm sau đó. Willoughby có mối tiếp xúc thường xuyên với HUAC, và với Alfred Kohlberg, một con người được xem là nhân vật trung tâm của hội vận động Trung Hoa, cũng như ở FBI, ông này đưa ra những thông tin độc ác về những ai ông nghĩ là thành phần cánh tả nguy hiểm, trong số đó có những cán bộ ở Bộ Ngoại giao, những người đã có cái nhìn tối tăm về cơ hội của Tưởng giới Thạch. Ông còn gửi một số cái tên đến cho cả McCarthy để sử dụng trong cuộc điều tra của ông ta. Quảng sau của cuộc đời, sau khi MacArthur đã bị giải nhiệm, Willoughby cho thấy những mối quan hệ quan trọng với cánh cực hữu ở Hoa Kỳ, và bắt đầu viết những bài báo còn độc hại hơn, phân biệt chủng tộc hơn và bài Do thái hơn. Khi Eisenhower lấy được vị trí đại diện ứng cử cho đảng CỘng hòa vào năm 1952, Willoughby nói MacArthur rằng điều này cho thấy đảng Cộng hòa là một phần của một “âm mưu tài tình nhằm duy trì con quỷ hút máu của cơ chế Roosevelt-Truman”.

Đó là lăng kính trí tuệ mà những tin tức tình báo quan trọng phải xuyên qua để đến Tokyo. Chìa khóa của sự quan trọng của Willoughby không nằm ở sự không thích đáng hiển nhiên của ông ta; mà đó là do ông thể hiện một dạng tâm lý nhu nhược cực kỳ  trước một con người tài năng nhưng không hoàn hảo mà ông đang phục vụ, trước nhu cầu cần có ai đó luôn đồng ý với con người tài năng đó mọi lúc và xu nịnh ông ta thường xuyên. Phần lớn những cán bộ chỉ huy khác khinh thường Willoughby. “Tôi luôn sợ rằng một ngày nào đó lão ta có thể bị giết, bởi nếu như vậy, tôi chắc sẽ bị bắt, bởi tôi cực kỳ ghét lão ý, và cũng nói thẳng về lão ý” có lần Bill McCaffrey nói. “MacArthur không muốn Trung Hoa tham chiến ở Triều Tiên. Mọi thứ MacArthur muốn, Willoughby sẽ sản xuất tin tình báo cho việc đó… Trong trường hợp này Willoughby xuyên tạc những báo cáo tình báo…Nên tống ông ta vào tù”,  trung tá John Chiles, trưởng phòng tác chiến, phòng G-3, quân đoàn 10 và là một trong những cấp phó tín cẩn nhất của Almond nói.

Chưa bao giờ vai trò của ông quan trọng hơn như hồi cuối tháng Mười, khi ngày càng nhiều báo cáo đáng tin cậy chảy về, rằng quân Trung Hoa đã xâm nhập vào vùng cực bắc của Triều Tiên. Đây là thời điểm Willoughby sắp đặt chứng minh rằng hoặc là họ không có ở đó, hoặc nếu có, thì chỉ là một số lượng nhỏ và mang tính chất quân tình nguyện. Ông ta đã làm mọi thứ có thể để tối thiểu hóa chứng cứ quá mạnh mẽ rằng chính quân Trung Hoa đã tấn công quân Nam Hàn và trung đoàn kỵ binh số Tám (Mỹ) ở gần Unsan vào cuối tháng Mười – đầu tháng Mười một. Nhiều người từng chiến đấu ở đó tin rằng, chính sự không chịu phản ứng nhanh chóng trước bằng chứng trưng ra bởi những tù binh Trung Hoa đầu tiên, sự thiếu thiện chí của ông để ghi một điểm lưu ý quan trọng trong các báo cáo tình báo của ông ta, phải chịu trách nhiệm trực tiếp cho sự tổn hại nghiêm trọng mà lính kỵ binh ở Unsan và nhanh sau đó là tập đoàn quân Tám phải hứng chịu, cho sự hi sinh của rất nhiều bằng hữu, và trong một số trường hợp, còn cho sự chịu đựng lâu dài của họ trong các trại tù binh Trung Quốc và Triều Tiên. Với họ, những gì ông ta thể hiện rất gần với quỷ dữ, người nào đó thường hay quát ầm ĩ về những hiểm họa của chủ nghĩa cộng sản và Trung Hoa, nhưng rồi lại làm cho phần việc của chúng dễ dàng hơn bằng cách đưa các lực lượng LHQ vào trận phục kích lớn đó. Bill Train, một sỹ quan hành quân (G-3) cấp thấp, trẻ, thông minh nghĩ: ông ta là người đã phản đối sự khẳng định chắc chắn của anh trong những tuần quan trọng đó: “một cái vòi xịt – một ai đó làm như ông ta biết rõ ông đang làm gì – nhưng rốt cuộc những gì ông ta là hoàn toàn vô giá trị, không được cái gì cả. Không gì cả. Ông ta làm mọi thứ đều sai. Mọi thứ! Những gì ông ta làm trong những ngày đó là để chống lại sự thật, và cố giữ không cho điều đó đi từ cấp thấp lên cấp cao hơn, chỗ lí ra nó phải được xử lý”.

Sự quan trọng và giá trị của các cán bộ tình báo độc lập, tốt trong chiến tranh khó có thể cường điệu. Một sỹ quan tình báo lớn phải tìm tòi được những ẩn số và hoạt động trong bóng tối, cố để thấy được những sự kiện sẽ sảy ra. Người đó phải khống chế được những cảm xúc, định kiến, thành kiến bản năng trước những sự thật, người đó phải đứng vững trước sự thật, ngay cả khi điều này có nghĩa là hầu như phải đứng một mình. Những sỹ quan tình báo giỏi phải chấp nhận công việc không vui là nói cho thượng cấp của mình nghe những gì họ không muốn nghe. Một sỹ quan tình báo vĩ đại phải cố để khiến cho ẩn số ít nhất là phải thể hiện ra một phần; người đó phải ráng suy nghĩ như kẻ địch nghĩ, và người đó phải lắng nghe cẩn thận những ai dù không đồng tình, bởi đơn giản là anh ta hiểu rằng anh phải biết thách thức hệ thống giá trị của mình để hiểu về bản chất và động năng của phía bên kia.

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22670


« Trả lời #221 vào lúc: 05 Tháng Mười Một, 2013, 02:18:09 AM »

Trên mọi phương diện, Charles Willoughby không chỉ thất bại trong việc đáp ứng vị trí này, mà còn rất đối nghịch với nó. Ông không vô hại, kiểu như bác đại tá Mỹ Blimp, đã về hưu lâu rồi, chán nản cùng những ông già khác ở những câu lạc bộ hạng hai với những bài ca than van rằng không có gì tốt như hồi ông còn trẻ, rằng cái bọn trẻ không còn dũng cảm như hồi ông vừa được tuyển mộ. Ông ta phải được xem, như Carleton Swift một sỹ quan tình báo 31 tuổi nghĩ, là một thằng hề nếu ảnh hưởng từ những hoạt động của ông ta không quá nghiêm trọng chết người như vậy. Swift, người của CIA (xuất thân là OSS), hoạt động với vỏ bọc bộ Ngoại giao là lãnh sự ở tòa đại sứ Mỹ tại Seoul và như vậy là xa tầm với của Willoughby. “Ở Willoughby có sự ngạo mạn dù rằng ông hoàn toàn không biết đến sự cân nhắc, sự thận trọng – mà bạn cần có để là một sỹ quan tình báo giỏi. Trông như thể ông ta luôn luôn đúng, và luôn luôn là đúng. Sự tin chắc nối tiếp tin chắc trào ra từ ông. Như thể luôn có dấu chấm cảm sau mỗi câu ông ta nói. Nếu ông nói điều gì đó sẽ không xảy ra, thì nó sẽ không xảy ra – nó không thể xảy ra. Ông nói những thứ kiểu như ‘Chúng tôi biết rằng họ sẽ làm điều này, và chúng tôi biết họ sẽ không làm điều kia’. Tệ nhất là bạn không thể thách thức ông ta. Bởi ông ta luôn làm rõ rằng ông nói thay cho MacArthur, và nếu bạn thách thức ông ta cũng có nghĩa là bạn đang thách thức MacArthur. Và điều này rõ ràng là không được phép. Như thế thật khó cho những tin tình báo trên thực địa đến được sở chỉ huy cấp cao hơn nếu những điều đó ông ta đã thu xếp sẵn trong đầu rồi”. Swift chính là một trong những sỹ quan OSS trẻ đã làm việc với HỒ Chí Minh ở Việt Nam trong Thế Chiến II, khi đó Hoa Kỳ vẫn là bạn hữu với ông, và sau khi anh ở Côn Minh trong suốt thời nội chiến Trung Hoa, anh rời đi với sự nể trọng lành mạnh dành cho khả năng quân sự của những người Cộng sản. Anh vẫn có những nguồn tin tốt từ Trung Hoa, và anh rất hiểu cuộc di chuyển quân lớn ở biên giới Mãn Châu. Cùng với những nguồn tin có giá trị trong những ngày đó, anh tin, đó là bản năng và lòng tin. Anh biết rằng quân Trung Hoa đang tập trung dọc sông Áp Lục với số lượng khổng lồ, và rằng lãnh đạo của họ đã phát biểu họ sẽ tham chiến. Tốt nhất là nên xem xét những lời hứa đó một cách nghiêm túc – đặc biệt từ khi mọi thứ anh lấy được từ các điệp viên của mình cho thấy họ đang tiến hành kế hoạch tham chiến.

Thế rồi, từ giữa đến cuối tháng Mười, Swift bắt đầu nhận những báo cáo từ các điệp viên rằng quân Trung Quốc đã vượt biên giới tiến vào Triều Tiên. Tất cả những điệp viên này là người Trung Hoa, hoặc, theo tiếng lóng mang tính phân biệt chủng tộc của thời đó, là “sloppy” (trong từ slope-eye). Các báo cáo bất đồng về số lượng, nhưng cũng đủ tốt để làm bất kỳ sỹ quan tình báo nào phải để tâm. Swift không đơn độc, bởi anh cũng nghe được những câu chuyện tương tự từ bạn bè anh trong tình báo quân đội, điều sau này anh tin rằng nó cho thấy họ biết tin từ những tù binh Trung Hoa bị bắt và bị thẩm vấn bởi tướng Paik và sở chỉ huy quân Mỹ ở vùng Unsan. Nhưng Swift cũng biết vài điều khác. “Những điều này chẳng ép-phê với Willoughby. Quân Trung Hoa sẽ không đến. Ông ta biết điều đó. Và ông ta không bao giờ sai !

Sự thật là Willoughby không chỉ ngăn trở bộ máy tình báo cấp chiến trường trong việc gửi những tin tốt nhất, logic nhất đến cấp cao nhất ở Triều Tiên, mà ông còn khóa những nguồn tin tình báo khác, và cũng luôn để mắt cẩn thận đến hoạt động của CIA ở Tokyo vốn rất nhỏ trong năm 1950. Được thu xếp trước với Hải quân, một cơ sở CIA nhỏ được thiết lập trong lòng hạm đội Bảy, căn cứ của nó tại Yokosuka, và được điều hành bởi một người tên là William Duggan, một cựu OSS trước đó công tác ở châu Âu. Từ cuối tháng Chín sang tháng Mười, Duggan nhận được một số tin tình báo đặc biệt từ đồng nghiệp ở Đài Loan rằng quân đội cộng sản Trung Hoa đã sẵn sàng. Vài đơn vị Dân quốc cũ, giờ hợp nhất trong Quân đội Nhân dân giải phóng, vẫn còn đài vô tuyến của họ. Thỉnh thoảng họ xoay sở để lẻn ra trong đêm và liên lạc với Đài Loan để cho biết họ đang ở đâu và họ sẽ làm gì. Tất cả những thông điệp đều có một chủ đề: chúng tôi đang trực chỉ hướng bắc đến biên giới Mãn Châu; các sỹ quan cấp chiến trường tin rằng đã có quyết định vượt sông Áp Lục.

Thế rồi, đột nhiên, trong cuối tháng Mười, máy vô tuyến đột nhiên im bặt, có lẽ bởi họ lúc đó đã ở Bắc Triều Tiên và có sự kiểm soát gắt gao máy vô tuyến điện hơn. Nhưng không có chút nghi ngờ gì rằng những báo cáo trước đó cho thấy những cảnh báo rất thật. Một nhân viên CIA trẻ hoạt động ở Đài Loan tên là Bob Myers nhận những báo cáo này từ những người Dân quốc anh cộng tác và chuyển nó lên cho thượng cấp, anh biết chúng sẽ đến được với Duggan ở Nhật. Điều mà mãi đến sau này anh vẫn không biết là Willoughby đã phát hiện ra việc này và đã đe dọa đóng cơ sở bé tý của Duggan và tống ông ta ra khỏi Nhật nếu ông ta không dừng lại việc cố thông báo cho bất kỳ ai ở cấp cao hơn về những tin tình báo mà ông có.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22670


« Trả lời #222 vào lúc: 05 Tháng Mười Một, 2013, 02:21:31 AM »

Lúc ấy, trong tập đoàn quân Tám một trận chiến căng thẳng trên bàn giấy về vấn đề tình báo cũng diễn ra. Con người bất hạnh kẹt giữa Willoughby ở bên trên và những lo ngại gia tăng trong những cán bộ tình báo thực địa ở vùng phía bắc Triều Tiên, là sỹ quan ban G-2 của tập đoàn quân Tám, Clint Tarkenton. “Ông ta là người của Willoughby chứ không phải là người của Walton Walker, và bạn không nên đánh giá thấp tầm quan trọng của việc đó. Bạn phải lưu ý tới quyền lực khổng lồ Willoughby nắm giữ trên toàn thể cấu trúc chỉ huy” Bill Train một sỹ quan trẻ phòng G-3 của trung đoàn kỵ binh số Một nói, anh tin rằng quân Trung Hoa đã vào đất nước này với lực lượng mạnh, và rằng một tấn bi kịch lớn đang được tạo ra: “Đây là quyền chỉ huy của MacArthur, chứ không phải là quyền chỉ huy của lục quân Hoa Kỳ, và nếu bạn đụng độ với Willoughby thì đó không chỉ là một vé biến khỏi nơi đây, mà còn có thể đó là một vé tàu suốt cho sự nghiệp của bạn”. Thế là Tarkenton làm theo định hướng của Tokyo, như Willoughby đã báo cáo trong một ước lượng tình báo vào ngày 28 tháng Mười, ba ngày sau khi tù binh Trung Hoa đầu tiên bị bắt ở khu vực Unsan “thời gian phù hợp cho một cuộc can thiệp như vậy đã qua khá lâu rồi; thật khó để tin rằng có một cuộc như vậy nữa, nếu nó được lập kế hoạch, thì đã bị chậm trễ với thời điểm khi những đơn vị còn lại của Bắc Triều Tiên bị yếu đi đến điểm cực thấp”.

Tuy vậy, Train vẫn bị lo lắng về những gì đã diễn ra ở Unsan. Anh được kéo vào công việc tình báo bởi bộ phận G-2 quá thiếu người. Giờ đây, anh còn lưu ý hơn nữa, anh thấy có những bằng chứng không thể chối cãi của góc nhìn tổng quan cho thấy rằng quân Trung Hoa đã tham chiến. Đó không phải là điều để đùa cợt – như bộ phận của Willoughby đang làm – đó là điều khiến bạn phát run và khiến bạn muốn được thảo luận với nhiều thông tin hơn. Về mặt kỹ thuật, tình báo không phải là lãnh vực của Train, nhưng làm thế nào để lập kế hoạch ở phòng tác chiến (G-3) nếu không biết kẻ thù là ai hoặc ở đâu? Ngay cả trước khi quân Trung Hoa tấn công Unsan, anh cảm thấy như mình đang trong một trò chơi lắp hình (puzzle), cứ thêm mỗi mẫu mới sẽ thấy bức tranh rõ hơn. Quân Mỹ tiến lên phía bắc là đang tiến vào một vùng đất đầy những bóng ma, nhưng dần dần những bóng ma đó bắt đầu có hình hài. Train bị công kích không ít bởi những sỹ quan tình báo cấp trên anh đánh giá thấp một cách có hệ thống hoặc công khai giảm giá những thông tin như thế. Rất ít khi họ làm mạnh để có thêm thông tin. Thay vào đó rõ ràng họ thu bớt lại con số quân địch, và tỏ rõ là họ không cần thông tin tốt hơn. Cứ mỗi khi Train và sếp của anh trong phòng tác chiến, John Dabney, chỉ ra vài thứ dường như biểu thị cho thấy sự hiện diện nghiêm trọng của quân Trung Hoa, thì người của Willoughby lại đánh giá thấp điều đó.

Những gì làm cho cuộc chiến mất cân bằng là do Clint Tarkenton không là một đồng minh. Ông ta cũng không hẳn là đối lập, nhưng ông bị kẹt vào giữa một tay sếp giáo điều độc đoán và một sự thật không mong muốn. Nhiều năm sau Train nói “Tarkenton trong tình trạng bất khả. Willoughby là sếp của ông ta, lão sếp đó là kẻ hay bắt nạt, hắn biết quyền hành của mình và thích dùng nó, lão ta khống chế cả bộ phận đó ở Tokyo, và bởi Tarkenton là người của lão ta cũng đồng thời nắm ban G-2 của tập đoàn quân Tám, nên lão ta cũng có thể khống chế bất kỳ ước lượng tình báo nào lão muốn. Tarketon, bất kể suy nghĩ thật sự của ông là gì, cũng phải ở dưới bóng của lão ta”. Về sau Dabney cũng nói rằng Tarkenton không hoàn toàn bị Willoughby tác động. Nhưng dù có bất kỳ chỉ dấu nào cho thấy sự hiện diện của quân Trung Hoa thì Willoughby cũng có sẵn câu trả lời. Nếu quân Nam Hàn báo cáo là đã giết được 36 lính Trung Hoa trong một trận đánh, và xác địch vẫn còn trên chiến trường, thì câu trả lời rằng đó chỉ là cái cách để giữ mặt mũi của người phương Đông, rằng quân Nam Hàn chiến đấu quá tệ nên họ phải tuyên bố về một lượng lớn lính Trung Hoa chết để làm họ thêm phần danh giá. Còn nếu Train trưng ra bằng chứng cho thấy dường như có đến năm hoặc sáu sư đoàn Trung Hoa hiện diện trong khu vực, thì câu trả lời luôn luôn vẫn là có nhiều đơn vị nhỏ khác nhau, từ những sư đoàn Trung Hoa khác nhau, hiện đang phối thuộc trong một đơn vị của Bắc Triều Tiên.

Một cuộc chơi cực kỳ nguy hiểm đang diễn ra, một phần bởi Lục quân đang an toàn trú đóng ở Tokyo, và phần khác – phần phải trả giá khi phải chiến đấu với một kẻ thủ cực kỳ nguy hiểm dưới những điều kiện kinh khủng. Ví dụ, ngày 30 tháng Mười, sau trận tấn công đầu tiên ở Unsan, Everett Drumwright ở tòa đại sứ Seoul, nhận thấy sự khá chính xác của bộ phận G-2, đã điện báo về Bộ Ngoại giao rằng hai trung đoàn quân Trung Hoa, có lẽ chừng 3000 người, đánh nhau ở Bắc Triều Tiên. Đó là nỗ lực thành thực của anh để nhằm trả lời một câu hỏi quan trọng trong thời điểm ấy cho thượng cấp anh ta. Ngày hôm sau, anh đánh điện lần nữa, lần này thì cho con số thấp hơn, chỉ 2000 lính Trung Hoa. Đến ngày 1 tháng Mười Một, các thẩm vấn viên cấp thấp nhận thấy đó là quân binh từ những tập đoàn quân Trung Hoa khác nhau. Tarkenton, theo chủ trương của Willoughby, nói rằng đó là những đơn vị nhỏ thuộc các tập đoàn quân đó chứ không phải các tập đoàn quân đầy đủ hiện diện.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22670


« Trả lời #223 vào lúc: 05 Tháng Mười Một, 2013, 02:24:07 AM »

Ngày 3 tháng Mười một, khi sự thật ở Unsan dần sáng tỏ, Willoughby tâng nhẹ con số của ông ta. Vâng, lính Trung Hoa đã ở trên đất nước này, ít nhất là 16,500 quân và tối đa là 34,000. Ngày 6 tháng Mười một, Tarkenton đưa ra con số tổng cộng quân Trung Hoa đang đối mặt với cả tập đoàn quân Tám và quân đoàn Mười là 27,000 lính. Trên thực tế, số quân Trung Hoa trong nước này đã gần đến con số 250,000 và đang tăng thêm. Ngày 17 tháng Mười Một, MacArthur bảo đại sứ Mucio rằng có không quá 30,000 quân Trung Hoa ở Triều Tiên, trong khi ngày hôm sau Tarkentond đưa ra con số 48,000. Ngày 24 tháng Mười Một, ngày cuộc tấn công chính của LHQ đến sông Áp Lục bị đánh văng – thay vì phải cảm nhận được mức độ to lớn của quân Trung Hoa hiện diện và xác lập các vị trí phòng thủ mạnh mẽ – Willoughby lại đưa ra con số tối thiểu bốn vạn và tối đa bảy vạn. Trong khi đó, đã có 30 vạn quân Trung Hoa kiên nhẫn đợi các lực lượng LHQ tiến sâu thêm chút nữa vào bẫy của họ.

Còn có cả một sự chia rẽ lớn trong ban G-2. Không chỉ là về vấn đề con số [quân địch] việc này các sỹ quan tình báo cấp dưới làm việc trên thực địa hiện đã chắc chắn, và đây là sai lầm kinh khủng của  Willoughby. Mà còn là việc trung tá Bob Fergusson, thượng cấp trên danh nghĩa của Tarkenton, nguyên là cán bộ G-2, đã chia sẽ mối lo ngại của họ. Fergusson đến Triều Tiên sau khi Tarkenton tiếp quản, ông đã cố thay đổi quan điểm của Tarkenton nhưng không thành công. Bất hạnh thay, đó không chỉ là một con người mà ông ta cần phải chiến đấu mà là cả một hệ thống, và Fergusson là một người đứng ngoài hệ thống đó. Như Train nói, đó là “điều đáng buồn nhất mà tôi từng gặp bởi hầu như thấy việc đó sẽ đến, hầu như biết được những gì sẽ xảy ra, và những thanh niên của chúng ta đang đi vào một cái bẫy nguy hiểm chết tiệt”.

Với Johnie Walker, đó không đơn giản là việc cảm nhận đúng, mà còn là việc ông bị lôi theo bởi quyền lực bên trên ông. Hồi đầu, ông còn gàn các phóng viên chiến tranh nói về khả năng quân Trung Hoa đã ở Triều Tiên. Lúc vài tù binh đầu tiên bị quân Nam Hàn bắt được, Tom Lambert của hãng tin AP, một trong những phóng viên giỏi nhất, cùng với Hugh Moffett của tờ Time, hai ông nghe tin đồn rằng có một hay một số tù binh là người Trung Hoa. Họ đi chừng 20 dặm đến một sở chỉ huy trung đoàn của quân Nam Hàn, ở đó, một sỹ quan Nam Hàn, anh này nói được cả tiếng Tàu lẫn tiếng Anh, đang thẩm vấn một tù binh mặc áo khoát bông và một bộ quân phục rất khác với những gì họ từng thấy. Thực vậy, tay tù binh là người Trung Hoa, và khá công khai về việc đó – bọn họ được gọi là Chí Nguyện Quân, anh ta nói, nhưng anh không hề là một người tình nguyện. Ngày hôm sau, Lambert và Moffett phóng xe jeep đến sở chỉ huy của Walker, và họ nhận thấy vị tư lệnh tập đoàn quân Tám dường như vẫn trong giai đoạn đầu của sự phủ nhận. “Ừ, thì hắn ta có thể là người Hoa” Walker nói “nhưng hãy nhớ có rất nhiều người Mễ ở Los Angeles nhưng các cậu không thể bảo LA là một thành phố của Mexico được”. Sự thật là ông ta cũng cực kỳ lo lắng từ lúc những tù binh Trung Hoa đầu tiên bị bắt. Hồi ngày 6 tháng Mười một, ngay sau khi đánh giá các thiệt hại của trung đoàn kỵ binh số 8, Willoughby bay đến Bình Nhưỡng để họp, và Walker đã quay sang ông ta, nói, “Này Charles, chúng ta biết là quân Trung Hoa đã ở đây; anh hãy cho chúng tôi biết là họ ở đây để làm gì”. Câu trả lời, như Wilson Heefner – nhà viết tiểu sử của Walker – ghi nhận, là không có thông tin gì mấy cho một câu trả lời.

Lúc đó Walker rất có cảm giác về sự ra rìa của mình. Ngày mừng giải phóng Seoul, ông đã nói với trợ tá của mình – Joe Tyner – và viên phi công của ông, Mike Lynch, rằng đây có lẽ là một ngày vĩ đại bởi rốt cuộc ông cũng sẽ biết được kế hoạch cho tương lai là gì. Cuối ngày đó ông quay về với sự lúng túng cùng cực. Chẳng ai thèm nói cho ông biết bước kế tiếp sẽ là gì. Một khi họ vượt vĩ tuyến 38, ông thích chỉ dũi sâu lên phía bắc chừng 100 dặm, vào chỗ hẹp của bán đảo, đại khái trên tuyến thẳng từ Bình Nhưỡng đến Wonsan, và bỏ lại chừng 2/3 nước này [Bắc Triều Tiên], phần đất chủ yếu không có người ở, hoang vu, không động tới được. Sự xâm nhập tới mức này cơ bản là dễ đảm bảo, dễ phòng thủ, tiếp vận và khiến cho bất kỳ nỗ lực tấn công nào của quân Bắc Triều Tiên hay Trung Hoa cũng dễ bị tổn thương bởi không lực Mỹ. Tính ra nó sẽ ngắn bớt chừng 300 dặm so với độ dài toàn tuyến đường đến sông Áp Lục. Nhưng sự việc đã không như vậy. Trên thực tế, Walker không còn là tư lệnh của tập đoàn quân Tám. Giờ ông chỉ chỉ huy một nửa tập đoàn quân, bị lờ trong tất cả các quyết sách chính, và rất hiểu rằng ông trong một cuộc tranh đua đến sông Áp Lục trước Almond và quân đoàn 10.

Matt Ridgway nghĩ không có gì là tình huống ngẫu nhiên. Washington đang trong thế thủ, nhưng MacArthur cũng biết là có những từ sẽ thành báo động một khi chúng phát ra từ sở chỉ huy của ông, đó là : “Trung Hoa can thiệp lớn”. Nếu có bất kỳ chứng cứ nào rằng một kẻ thù mới đã tham chiến, thì các cán bộ quân sự, bao gồm cả Marshall và Hội đồng Tham mưu liên quân, cũng như các quan chức dân sự, sẽ trỗi dậy khỏi tình trạng thụ động và sẽ áp đặt nhiều giới hạn nghiêm khắc lên những điều hiện nay ông đang rảnh tay làm. Bởi vậy nên một trận chiến thực thụ thứ hai khi bắc tiến ngay sau Unsan là một trận chiến chính trị, dựa trên những thông số tình báo.

(Hết chương 25)
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22670


« Trả lời #224 vào lúc: 05 Tháng Mười Một, 2013, 02:27:29 AM »

Chương 26

Về hậu cảnh, có một lực lượng song hành cùng đi, đó là chính trị nội địa Mỹ. Nỗ lực của Truman nhằm chia sẻ vinh quang của trận Inchon bằng việc bay đến đảo Wake đã thất bại. Ngày 7 tháng Mười Một, chừng ba ngày sau khi quân Trung Hoa tràn ngập Unsan, người Mỹ bước vào cuộc bầu cử giữa kỳ. Đảng Dân Chủ, bởi gánh nặng của một cuộc chiến không được công khai, đã làm rất tệ. Họ mất năm ghế ở Thượng Viện và 28 ghế Hạ viện.

Kỳ bầu cử – kỳ đầu tiên kể từ khi cuộc chiến bắt đầu – báo trước cho sự trỗi dậy của thượng nghị sỹ Joe McCarthy, một thượng nghị sỹ cấp thấp từ bang Wisconsin. Ông ta có bài phát biểu đầu tiên về sự thoái hóa vào tháng Hai năm 1950. Với nhiều người Mỹ, bản thân cuộc chiến dường như đã công nhận giá trị cho cuộc công kích của ông ta, trong khi với những người khác nó chỉ tái xác định việc họ chán ngán đảng Dân chủ. Lợi tức trước mắt nhất là chỉ có McCarthy. Trong một giai đoạn khoản ba năm từ cuộc bầu cử, McCarthy đi trên con đường chính trị bạo lực giật gân. Ông ta tắm mình trong những tiếng vang dễ dàng có được từ những lời buộc tội, công kích của mình, trong cái cách hăm hở mà đất nước này dường như đáp lại, và cuộc chơi – dù rất bất cẩn – của giới truyền thông đã gán cho ông sau hết lần công kích này đến lần công kích khác, và cái giá phải trả, rất ít được chú ý xác minh. “Phe Đỏ đang điều hành Bộ Ngoại Giao, McCarthy tuyên bố, Thượng nghị sỹ công kích bọn Đỏ ẻo ợt”: nếu một thượng nghị sỹ đã nói, thì đó là một tin tức. Việc xác minh không bao giờ làm ông ta hứng thú: trong vấn đề này, cũng không thèm có bất kỳ nghiên cứu nghiêm túc nào để biết xem những người Cộng sản đã làm gì với đất nước này. Điều này rất tệ bởi trong tầm dài hạn ông đã làm hại nghiêm trọng tới việc nghiên cứu cơ cấu nhà nước Liên Xô thời hậu chiến ở Mỹ, cũng như những thành công, nếu có, đến từ một số khá ít người tham gia Cộng sản trong những năm khủng hoảng kinh tế do họ đánh mất niềm tin vào nền dân chủ, hoặc một số cực kỳ bé nhỏ những người thực sự làm gián điệp cho Liên Xô. McCarthy chẳng có mối quan tâm nghiêm túc tới chủ nghĩa Cộng hay hay là hoạt động gián điệp. “Joe không thể nhận ra một người Cộng sản ở quảng trường Đỏ – anh ta cũng không biết Karl Marx là bà con với Groucho Marx (*)”, George Reedy, người bảo trợ cho ông ta trong thời đó, có lần nói

(*) Groucho Marx là một cây hài nổi tiếng của Mỹ

Ông là một kẻ lưu manh chính trị lớn của thời kỳ,  một tay dân túy, chơi trên nỗi sợ hãi sinh bởi một thời đại nguyên tử không đáng tin cậy và mới mẻ. Ông ta rất hãnh diện về điều mà theo ý riêng của mình rằng ông đã trở thành một hiện thân của chủ nghĩa Mỹ. “Nếu các cậu muốn chống lại McCarthy, các cậu trai” ông bảo với hai phóng viên trong một cuộc họp báo “các cậu phải là một tay Cộng sản hoặc một tay đồng tính”. McCarthy trở thành một nhân vật chỉ trích hoàn hảo của cánh phải. Ông ta cực kỳ có giá trị với những người Cộng hòa điềm tĩnh hơn, “một con lợn trên bãi mìn dành cho họ” cây bút Murray Kempton dùng từ như vậy.  “Chúng ta chỉ có thể thắng bằng cách ‘chơi bẩn’, và chỉ có những tay bẩn thỉu mới có thể chơi bẩn”, có lần anh ta nói. Thượng nghị sỹ đáng trọng Robert Taft có lần bảo McCarthy không nên quá lo nếu có vài lời buộc tội nào của ông ta không có kết quả. Ông nên “tiếp tục nói và nếu có ca nào không hiệu quả, [anh] nên tiếp tục với ca khác”.

Trong kỳ bầu cử năm 1950, McCarthy ghi lần hai chiến thắng quan trọng. Mục tiêu số một của ông trong năm đó là thượng nghị sỹ Millard Tydings, một người Dân chủ quý phái theo cách cũ của bang Maryland, người đã bị Roosevelt cố gắng thanh trừ trước đó bởi quá bảo thủ. Tydings sửng sốt bởi sự tấn công của McCarthy, quá liều lĩnh và thiên lệch, mùa hè năm 1950 ông đã dẫn dắt một tiểu ban tìm hiểu, thẩm tra lại điều tra viên. Rốt cuộc tiểu ban của Tydings đã chỉ trích McCarthy bởi tư cách đạo đức và giải tội cho hầu hết những người bị ông ta công kích. Lời buộc tội McCarthy là “có lẽ thể hiện cho thấy một chiến dịch hung ác nhất của một nửa sự thật và sự giả dối trong lịch sử đảng Cộng Hòa”.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22670


« Trả lời #225 vào lúc: 05 Tháng Mười Một, 2013, 02:29:50 AM »

Đến khi Tydings phải bầu lại vào năm 1950, McCarthy truy kích ngay. Ông thực hiện nhiều chuyến đi từ Washington đến bang láng giềng MaryLand, còn dùng cả một tấm ảnh giả có nội dung cho thấy Tydings và Earl Browder, lãnh đạo đảng Cộng sản Mỹ, làm việc với nhau. Tydings đã bại trận – người chiến thắng thực sự không phải là John Marshall Butler, người tranh cử với ông, mà chính là McCarthy. Mục tiêu quan trọng thứ hai của McCarthy là Scott Lucas của bang Illinois, một lãnh đạo quan trọng của đảng Dân chủ. Việc lựa chọn thời điểm của McCarthy không thể tốt hơn – bộ máy đảng Dân Chủ ở Chicago, vốn rất có ý nghĩa then chốt với bất cứ chiến thắng nào ở tầm quốc gia, đang bị nghĩ xấu vì nhiều lý do, và Lucas có nhiều nhược điểm hơn ông nghĩ. McCarthy làm tám chuyến đi đến Illinois trong đợt bầu Thượng nghị sỹ và tấn công Lucas với những vấn đề trong đó có mối quan hệ giữa ông ta là Dean Acheson, một cái tên rất bị phản đối ở vùng Trung Tây. Vùng nông thôn Illinois và nông thôn Wisconsin dường như cùng chia sẽ nhiều nỗi sợ giống nhau, và McCarthy tạo nên một đám đông lớn say mê mỗi nơi ông ta đến. Everett McKinley Dirksen, địch thủ của Lucas, hiện diện, như McCarthy nói với những đám đông này là “một lời nguyện cho nước Mỹ”. Và Lucas cũng thất bại. Và đột nhiên McCarthy trở thành một nhân vật quan trọng tầm quốc gia. Bản chất của những vấn đề, kỳ bầu cử cho thấy sự thoái trào của chính phủ Truman và các đồng minh nghị viện của nó. Qua một đêm McCarthy trở thành một kẻ đe dọa vĩ đại của quốc gia. “Bạn không thể tưởng tượng ra sự thay đổi địa vị của anh ta [McCarthy] khi anh ta về lại Washington” thượng nghị sỹ William Fullbright của Arkansas nói “Đảng Cộng hòa xem anh ta như là một đấng cứu tinh mới. Còn cánh Dân chủ thì bị dọa sợ chết khiếp. Anh ta vẫn là McCarthy cũ, vẫn ghê tởm như xưa. Nhưng ôi, mọi thứ đã thay đổi nhiều quá chừng”.

Những gì diễn ra là những tin tức chính trị quan trọng ở Hoa Kỳ và có ảnh hưởng sâu sắc đến Triều Tiên cũng như Tokyo. Nó có nghĩa là trong cái thời điểm quan trọng để ra quyết định ở Triều Tiên, thì tổng thống đã bị mất bóng bởi sự thay đổi ngọn triều trong chính trị nội địa, những điều mà vị tướng ở tòa nhà Dai Ichi hiểu rất sâu sắc. Về mặt chính trị, cuộc chiến này luôn khó khăn cho vị tổng thống, và giờ đây, còn khó khăn hơn bao giờ hết.

Ngày 8 tháng Mười Một, một ngày sau kỳ bầu cử giữa kỳ, Hội đồng Tham mưu liên quân,  phản ánh lại nỗi sợ lớn dần rằng người Trung Hoa đã tham chiến (và cho thấy hoàn toàn thiếu tín nhiệm vào các báo cáo của Willougby), đã điện cho MacArthur lần nữa để yêu cầu rằng, theo quan sát những gì diễn ra ở Unsan, nhiệm vụ của ông ta là phải nghiên cứu lại. Nhưng vào ngày 9 tháng Mười một, ông trả lời cứng rắn với Washington. Ông không có ý định, như họ muốn, là thiết lập một tuyến phòng thủ ở quảng hẹp của bán đảo. Ông biết người Anh (và người Pháp) thích địa điểm đó, cũng như nhiều sỹ quan chỉ huy cao cấp của Mỹ trên chiến trường, trong đó có Walker. Đó là một hành động nhượng bộ, ông nói, nó như “hành động lịch sử diễn ra hồi trước ở Munich”. Ông cũng tin tưởng rằng không lực của ông có thể chặn đứng bất kỳ hành lang vận động nào của quân Trung Hoa để đến chiến trường. (Ông không biết rằng hầu hết lực lượng địch đã ở trong nước này, và đã quá trễ để dùng không lực khóa đường). Rồi ông nói thêm: “Bỏ bất kỳ phần lãnh thổ Bắc Triều Tiên nào vì cuộc xâm lược của cộng sản Trung Hoa sẽ là một thất bại lớn nhất của thế giới tự do trong thời gian gần đây. Thực vậy, việc sản sinh ra đề xuất quá trái luân lý này có thể sẽ làm hủy hoại sự lãnh đạo và ảnh hưởng của chúng ta lên Châu Á và cả địa vị chính trị, quân sự của chúng ta. Chúng ta có thể rất gần với bước đi của người Anh, họ đã nhượng bộ và công nhận [Trung Hoa cộng sản] làm mất đi sự kính trọng của phần còn lại của Châu Á mà cũng chẳng tăng thêm được điều đó với riêng phần Trung Hoa”.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22670


« Trả lời #226 vào lúc: 05 Tháng Mười Một, 2013, 02:32:52 AM »

Đây là một thời điểm định mệnh. Unsan và trận tấn công vào trung đoàn Tám kỵ binh lẽ ra nên được đánh dấu như một điểm mốc để họ xem xét lại toàn bộ kế hoạch, nhất là với Tokyo, họ phải lo lắng hơn Washington vì chính quân binh của họ đối mặt với rủi ro. Nó cũng là cơ hội thực sự cuối cùng để nghiên cứu lại cuộc chiến trước khi quân Trung Hoa toàn lực tấn công. Trong thuật ngữ quân sự, các đơn vị của MacArthur giờ đã bước quá vị trí an toàn; Unsan và trận tấn công vào trung đoàn 8 kỵ binh phải nhìn nhận không chỉ là một thời điểm quan trọng trên chiến trường mà còn là một thất bại lớn của Washington trong cuộc chiến với vị tướng. Cả Dean Acheson và tướng Omar Bradley rốt cuộc cũng lộ ra là những cố vấn rất tồi đã phục vụ cho tổng thống Truman vào thời điểm đó. Họ bị dọa dẫm bởi vị tư lệnh của họ trên chiến trường, coi thường những cảm nhận của họ rằng họ đã bị mất quyền điều khiển. Thực tế mà nói họ đã cho phép ông ta tiếp tục bắc tiến, miễn là ông ta còn thành công, nhưng không được rơi vào một cuộc chiến với Trung Hoa. Cuộc tấn công lớn sau cùng của ông ta diễn ra như kế hoạch.

Ở cấp cao nhất tại tòa nhà Dai Ichi, lúc họ chuẩn bị cho lần tấn công cuối cùng vào cuối tháng Mười, chỉ ngay trước trận Unsan, có cảm giác thật sự phởn phơ ở đó. Quân địch hầu như đã bỏ chiến trường. Ngày 23 tháng Mười, tạp chí Time chạy một bài đinh cực kỳ tâng bốc Ned Almond, tựa bài là  “Sic’ em Ned”, phản ánh lại sự thật là quân Bắc Triều Tiên đang trốn chạy còn quân LHQ thì truy kích theo sát. Không chỉ Almond được xem là một anh hùng quân đội ngoại cỡ, một con người gần như hấp dẫn kỳ diệu với binh sỹ (“Cậu tên gì? Quê ở đâu? Vào lính bao lâu rồi?”), mà bài báo đó còn là cơ hội cho Almond tán tụng MacArthur một cách quái gở. Hồi trước, như Bill McCaffrey cấp phó gần gũi nhất của ông ta nhớ lại, chỉ có hai quân nhân được Almond dành cho những từ ngữ tốt đẹp là George Catlett Marshall và Robert E.Lee, cho đến khi Almond gặp MacArthur, ông này là người duy nhất được cho đứng trong điện thờ danh dự của cá nhân ông. Những người khác đều có tỳ vết. Giờ đây, ông nói về MacArthur như là một vĩ nhân quân sự lớn nhất của thế kỷ hai mươi. Ông nói với tờ Time rằng, đáng tiếc là ông không thể xếp hạng ông ta so với những quân nhân vĩ đại nhất khác của mọi thời kỳ “bởi khó để so sánh ngày hôm nay với thời điểm của Napoleon, Caesar và Hannibal”. Cái tên Napoleon được nói ra mà không có chút mỉa mai nào, khi họ chuẩn bị cho một chiến dịch chống lại một quốc gia đông dân nhất trên thế giới và trong một mùa đông tệ hại nhất.

McCaffrey nghĩ, làm việc với Almond trong những ngày đó giống như việc thương thuyết với một người đang yêu. McCaffrey có lẽ gần gũi với Almond hơn bất cứ ai, anh là cấp phó của Almond từ hồi thế chiến II, và được phép tranh luận với ông ta hơn bất kỳ sỹ quan thuộc cấp nào khác, McCaffrey nhớ, hầu như anh được xem là một đứa con yêu. McCaffrey vẫn giữ thái độ bi quan cực kỳ về chuyến viễn du lên phương bắc. Nhưng Almond đơn giản là không thèm nghe bất kỳ ý kiến phản đối nào, dù rằng những mối nguy ở phía trước là khá rõ ràng. Trên tất cả những bản đồ khổng lồ ở các loại sở chỉ huy cao cấp, trên đó có rất nhiều lá cờ đỏ nhỏ xíu, mỗi lá cờ đại diện cho một sư đoàn Trung Hoa, dường như cho thấy hàng trăm nghìn quân Trung Hoa đã sẵn sàng dọc sông Áp Lục. McCaffrey đến Tokyo để làm cấp phó cho Almond gần một tuần trước trận Inchon. Và cứ mỗi khi anh nhìn vào tấm bản đồ khổng lồ ở sở chỉ huy, anh lại có thể thấy đường cong cong của sông Áp Lục, dọc sông Áp Lục là những lá cờ đỏ nhỏ cho thấy số lượng không đếm nổi các sư đoàn quân Trung Hoa, có lẽ 30 hoặc hơn. Lần đầu tiên McCaffrey nhìn thấy bản đồ đó, ngay lập tức anh hiểu ngay sự nguy hiểm mà nó phản ánh: tất cả những sư đoàn Trung Hoa đó nằm đợi trên những ngọn đồi, và tuyến tiếp vận của quân LHQ kéo dài quá mảnh. “Nhỡ chúng đến thì sao?” anh hỏi Bob Glass, trưởng ban G-2 của quân đoàn. “Ned Almond nói rằng chúng ta không phải lo” Glass trả lời “MacArthur đã soát xét việc đó và thấy họ không có thuận lợi nếu tiến lên, vậy nên chúng sẽ không đến đâu”.

Nhưng những mối nguy, McCaffrey nghĩ, đều rất rõ ràng và kinh khủng. Đất nước này bẹt ra hình nấm khi lên xa phía bắc, trở nên to lớn hơn và là miền núi hoang vu với rất ít đường đất tử tế. Vài ngọn núi còn có độ cao bảy tám ngàn thước Anh. “Mỗi dặm lên phía bắc là mặt trận lại rộng thêm một dặm, mỗi dặm lên phía bắc là cái rét đậm hơn một ít, và mỗi dặm lên phía bắc là đường đi lại tệ thêm: mỗi dặm bắc tiến đều chống lại sức mạnh quân ta, một quân đội dựa trên cơ sở kỹ thuật cao. Mỗi ngày có thêm nhiều nguy hiểm” McCaffrey nói, sau này anh kết thúc binh nghiệp với ba ngôi sao tướng. Có càng thêm nhiều dấu hiệu báo điềm xấu, và chỉ với những người ở dưới tầm bang Bataan, những sỹ quan ở tầng kế tiếp tại tòa nhà Dai Ichi mới lo lắng. Nhưng họ không thể bàn bạc với Almond. Khi McCaffrey cố đưa vấn đề này ra, anh luôn có ngay lập tức một bài giảng về việc thiếu niềm tin. “Cậu cũng đã từng chống lại chiến dịch Inchon” Almond nói, và rồi thêm vào “Bill này, cậu vẫn đánh giá thấp tướng MacArthur đấy”.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22670


« Trả lời #227 vào lúc: 05 Tháng Mười Một, 2013, 02:38:56 AM »

Đầu tháng Mười hai, sau khi quân Trung Hoa tấn công, McCaffrey gặp Swede Larsan một trợ tá của Joe Collins và cũng là một người bạn lâu năm. “Vì Chúa, Swede, bọn cậu đang làm cái giống gì ở Washington vậy? Không ai báo rằng chúng tôi đang bị dàn mỏng khắp Bắc Triều Tiên hết sao? Không ai chịu báo về việc đó à?” Larsen trả lời “Bill, cậu vẫn không chịu dừng việc nghĩ sẽ có thể nói với Douglas MacArthur rằng những ý tưởng chiến lược của ông ta là gàn dở sau chiến dịch Inchon chăng? Sẽ không thể như vậy”

Chắc chắn rằng ngay cả MacArthur cũng đã đi quá xa. Đại tá John Austin, một thành viên ban tham mưu quân đoàn Một, có một hình ảnh của MacArthur khi đến thăm sở chỉ huy của họ trong thời điểm đó. “cương cứng và cực kỳ tự tin, rõ ràng đang trên đỉnh cao”. Sau này Austin nói, trông như đang nhìn thấy “một pho sử biết đi”. Hiếm khi nào có một vị tư lệnh tự tin đến như vậy. “Quý ông”, ông ta nói với các sỹ quan đang tụ tập lại “cuộc chiến đã đến hồi kết. Trung Hoa sẽ không bước vào cuộc chiến này. Trong vòng chưa đầy hai tuần nữa, tập đoàn quân Tám sẽ áp sát sông Áp Lục trên toàn tuyến mặt trận. Sư đoàn Ba sẽ được về Fort Benning để ăn Giáng Sinh”. Không ai hỏi gì ông ta vào thời điểm này, Austin nói với nhà văn Robert Smith – “bởi nó như là hỏi lại một thông báo từ Chúa trời”.

Nguyên lúc đầu ngày dự định phát động trận tấn công cuối cùng lên phía bắc là ngày 15 tháng Mười Một, nhưng vì Walton Walker thấy ông bị quá tải nên ráng làm chậm nó lại, bằng cách chỉ ra tuyến tiếp vận của ông bị hạn chế như thế nào; Shrimp Milburn, tư lệnh quân đoàn Một, chỉ còn một ngày cơ số đạn dược, một ngày rưỡi nhiên liệu và ba hoặc bốn ngày cho lương thực. Lúc đó thì Walker rõ ràng nhận biết được rằng có ít nhất ba sư đoàn quân Trung Hoa trong khu vực của ông, và lo lắng về mỗi dặm đường tiến lên phía bắc sau khi họ tiến được vào Bình Nhưỡng. Sau đó ông kể cho một phóng viên báo, ông đã di chuyển chậm chạm và thận trọng nhất có thể kể từ khi vượt qua Chongchon, việc tiến chậm tới mức ông nhận được những thông điệp gay gắt từ thượng cấp. Ông cũng cố tạo lập những vị trí khả dụng trong trường hợp quân Trung Hoa tấn công và ông phải tháo lui. Sau này ông khẳng định rằng ông đã cứu được một con số đáng kể lính trong tập đoàn quân của mình vì sự thận trọng này. Ông cũng khá chắc rằng, ông nói với một nhà báo bạn bè tín cẩn, ông sẽ bị Tokyo huyền chức do chuyện tiến quân chậm chạm của mình và việc hầu như bất tuân lệnh của ông.

Ngày triển khai được lùi đến ngày 20 tháng Mười Một, rồi đến ngày 24 tháng Mười Một. Trong buổi sáng đó, Walker đi cùng MacArthur trong chuyến thăm sau chót đến sở chỉ huy tập đoàn quân Tám, nhưng ông không hề lây được chút lạc quan nào của thượng cấp, ông này, trước mặt đông đảo phóng viên tháp tùng, đã tuyên bố một lần nữa về chuyện về-nhà-trước-Giáng-sinh. Việc đáng nhớ nhất là ở sở chỉ huy quân đoàn Chín, John Coulter, quân đoàn trưởng, báo cáo với ông ta rằng lính ông không gặp nhiều kháng cự. MacArthur trả lời: “Anh có thể nói với tất cả anh em rằng khi họ đến được sông Áp Lục, Jack, thì họ có thể về nhà. Tôi muốn làm được tuyên bố tốt đẹp của mình rằng họ sẽ đón Giáng sinh ở nhà”. Rồi ông bay đi, bảo với viên phi công bay trên vùng biên giới Mãn Châu để ông khảo sát khu vực.

Khi MacArthur bay đi, ông để Walker lại dưới đường băng. Đây không phải là một thời điểm tốt với tư lệnh tập đoàn quân Tám. Các lực lượng của ông đang tiến lên, và ông rất không vui về việc đó – họ bị tách rời khỏi quân đoàn Mười ở cánh Đông, họ bị dàn trải ra rất mỏng, và khi càng đi xa lên phía bắc, họ còn mỏng hơn nữa. Chỉ có một quân đoàn Nam Hàn bảo vệ sườn đông của họ. Đây là một thời điểm rất đúng để lo lắng. Walker nhìn máy bay của MacArthur cất cánh, và rồi trước mặt cả Tyner và Lynch, ông nói đơn giản: “Cứt thật!”. Điều này là cả hai choáng, thứ nhất là bởi Walker không bao giờ thách thức MacArthur, và thứ hai là vì ông ta chưa bao giờ dùng từ tục tĩu. Họ bay ngược về Bình Nhưỡng bởi Walker đột nhiên quyết định rằng ông muốn đến thăm sở chỉ huy của sư đoàn 24 nằm kế đó. Ở đó, ông tìm thấy thiếu tướng John Church, sư đoàn trưởng, và mang ông ta đi cùng. Thông điệp của ông cho đại tá Dick Stephens, trung đoàn trưởng trung đoàn bộ binh 21, đơn vị sẽ đi đầu sư đoàn trong việc bắc tiến là: “Cậu phải nói cho Dick biết, ngay lần đầu tiên nghe được mùi bọn Tàu là phải rút về ngay”

Nhưng trạng thái phởn phơ chỉ gia tăng ở Tokyo. Khi các bộ phận của trung đoàn 17 thuộc sư đoàn Bảy đến được sông Áp Lục vào ngày 21 tháng Mười một, đã có một thời khắc ăn mừng – một điều ngây thơ lạ kỳ. Tất cả các sỹ quan cao cấp, bao gồm cả Almond và sư đoàn trưởng sư Bảy, Dave Barr, một cựu cố vấn ở Trung Hoa, đến đái xuống dòng sông. MacArthur, giờ đây thấy rõ ràng chiến thắng trong tay, gửi một thông điệp qua radio đến cho Almond: “Chúc mừng nồng nhiệt nhất đến cậu, Ned” điện văn nói “và nói với Dave Barr sư Bảy rằng đã thành công lớn”. Với quân sỹ của trung đoàn 17, những người đã đến điểm đó và đã có một đêm nghỉ dọc sông Áp Lục trong nhiệt độ xuống dưới 30 độ, thì thiệt là kinh hoàng. Trong việc tiến đến sông Áp Lục, Joe Collins tia-chớp, tham mưu trưởng Lục quân, sau này viết lại “MacArthur dường như hành quân như một anh hùng Hy Lạp cổ đến một định mệnh tàn nhẫn không tránh được”. Hoặc như Matt Ridgway, dùng một bi kịch như mọi sỹ quan Mỹ khác hay dùng, “Như Cutter ở trận Little Big Horn [MacArthur] không thèm nghe hay nhìn thấy những thông tin có thể ngăn trở ông nhanh chóng đạt được mục tiêu của mình – hủy diệt quân đội nhân dân Bắc Triều Tiên, và bình định toàn bộ bán đảo”. Với Geoffrey Perret, người viết tiểu sử cho MacArthur, ông viết rằng trận đổ bộ Inchon là cú đánh thiên tài vĩ đại nhất của vị tướng, và phần còn lại hoàn toàn là bi kịch. “Sự kết thúc phù hợp nhất cho cuộc đời của MacArthur là được chết một cái chết của người lính trên vùng nước Inchon, lúc ở đỉnh cao vinh quang của ông, với huyền thoại của mình không bị sứt mẻ, nhưng sự tán dương quá mức sau đó là quá hoa mỹ. Chỉ có một con đường từ đây: đi xuống”.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22670


« Trả lời #228 vào lúc: 05 Tháng Mười Một, 2013, 02:40:26 AM »

Thế là những người ở Dai Ichi đã làm giả mạo tin tình báo nhằm cho phép các lực lượng của MacArthur đến được nơi họ muốn đến bằng quân lực, đến bờ sông Áp Lục. Trong quá trình này họ đã lập ra những tiền lệ rất nguy hiểm cho những ai học làm theo sau. Ví dụ đầu tiên là cánh quân sự đã chơi chiêu bằng tin tình báo, hoặc chính xác hơn, là cánh xỏ lá trong quân đội thận trọng thao túng tin tình báo để gửi đến những nhân vật quân sự và dân sự cao cấp ở Washington. Phương thức này còn được lặp lại hơn hai lần trong những năm sắp đến, cả với việc cánh dân sự thao túng giới quân sự, với việc những cán bộ quân sự cao cấp phản ứng phòng vệ rất kém và do đó đặt những người dưới quyền vào tình hình chiến đấu không chấp nhận được (Tựa của một quyển sách do một sỹ quan trẻ tài năng H.R.McMaster viết, tìm hiểu về việc các quân nhân cao cấp đã bị đặt vào tình thế khó khăn như thế nào bởi áp lực của những cán bộ dân sự cao cấp trong chiến tranh Việt Nam, quyển Sự xao lãng nhiệm vụ – Dereliction of Duty). Tất cả điều này cho thấy những thứ George Kennan đã cảnh báo, mức độ của chính trị nội địa giờ trở thành một phần trong tính toán an ninh quốc gia, và nó cho thấy phạm vi của việc chính phủ Mỹ bắt đầu đưa ra các quyết định định mệnh dựa trên những sự thật hạn chế nhất và những tin tình báo giả mạo nhất nhằm để đạt được những gì muốn làm bởi những lý do chính trị, bất kể nó có làm được hay không. Năm 1965, chính phủ của Lyndon Johnson đã thao túng cách phân tích nguyên nhân cho việc gửi quân chiến đấu đến Việt Nam, đã cường điệu mối đe dọa với nước Mỹ bởi Hà Nội, thận trọng thu nhỏ bất kỳ cảnh báo tình báo nghiêm trọng nào về những hậu quả có thể có của việc Mỹ can thiệp vào Việt Nam (cũng như sự sẵn sàng đánh trả có hiệu quả của quân Bắc Việt Nam với lực lượng viễn chinh Mỹ), và do đó đưa Hoa Kỳ vào một cuộc chiến vô vọng, hậu thực dân ở Việt Nam. Thế rồi đến năm 2003, chính phủ của George W. Bush – đã đọc không đúng đắn ý nghĩa của việc chấm dứt sự khống chế của Nga ở Trung Đông; hoàn toàn tính sai phản ứng của người dân bản địa; và bỏ qua những cảnh báo từ một thành viên có năng lực nhất trong nhóm cố vấn an ninh quốc gia của George W.Bush, Brent Scowcroft; và đã rất muốn hạ chính quyền Saddam Hussein vì những lý do riêng – chính phủ đã thao túng nghị viện, truyền thông báo chí, và nguy hiểm hơn cả, là tin tức tình báo bị làm giả, bóp mép, đã gửi quân vào các thành phố I rắc với những kết quả tai hại.

(Hết chương 26, hết phần 7)
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22670


« Trả lời #229 vào lúc: 05 Tháng Mười Một, 2013, 02:44:45 AM »

PHẦN TÁM: TRUNG HOA TẤN CÔNG

Chương 27


Đại úy Jim Hinton là đại đội trưởng đại đội xe tăng số 38 thuộc sư đoàn 2. Đại đội anh có 22 chiếc xe, ngay từ đầu anh đã rất lo lắng. Sự khác biệt giữa thực tế ở Bắc Triều Tiên và những gì sở chỉ huy Tokyo tưởng tượng mà anh thấy – khi sư đoàn Hai tiến lên phía bắc – làm anh kinh ngạc. Ở tòa nhà Dai Ichi, Triều Tiên rất xa, có phần ngăn nắp, một nơi nói chung có thể quản lý được, một tấm bản đồ bạn có thể ghim lên tường, ở đó những khoản cách là không mấy lớn, các sư đoàn chỉ cách nhau nửa inch hoặc một inch; trong khi ở ngoài đây, khi anh đang dẫn sư đoàn Hai hướng về phía sông Chongchon, thì giống như một địa ngục quân sự khó kiểm soát nổi, đồi chuyển thành núi, gió thổi lúc một mạnh hơn, nhiệt độ giảm xuống gần như hằng giờ, mỗi ngày đều lạnh buốt, nếu không nói là ngày mai sẽ còn lạnh hơn. GIữ cho xe tăng của anh chạy và hoạt động được là một công việc nghiêm túc trong cái khí hậu thế này. Anh có một nỗi sợ kinh khủng rằng cái lạnh có thể sẽ túm được cỗ máy của anh, lúc đó điều họ cần nhất là máy móc không từ chối việc khởi động. Đơn vị của anh có một thiết bị họ gọi là Tiểu Joe, một máy phát điện để sạc cho pin xe tăng. Nhưng khi nó hoạt động thì ồn kinh khủng, tiếng ồn dường như vang đi xa cực kỳ, tới mức  Hinton không muốn dùng nếu có thể. Anh quyết định là thay vì vậy, mọi người sẽ khởi động mỗi động cơ một giờ, để làm cho tất cả pin được sạc đầy. Chúa ơi, lạnh quá! Đôi khi, ngay cả khi động cơ đã khởi động được, chiếc tăng cũng không thể di chuyển vì xích xe bị đông cứng vào mặt đất. Thế là bạn phải lấy một chiếc tăng khác để đẩy. Anh tự hỏi không biết mấy tay tai to mặt lớn sống ở trong tòa nhà Dai Ichi với nhiệt độ được điều khiển chỉ bằng một cú bấm nhẹ nhàng, mùa hè đủ mát, mùa đông đủ ấm, liệu có tưởng tượng được những gì như ở đây không. Rõ ràng chỉ huy của họ không biết gì về cái thế giới họ bị đẩy vào. MacArthur – như đa số binh sỹ đặc biệt mỉa mai biết – chưa bao giờ nghỉ một đêm trên chiến trường Triều Tiên. Người ở Dai Ichi, Hinton nghĩ, là những người của bản đồ, họ chiến đấu trong một cuộc chiến khác ở nơi nào đó khác. Bản đồ có sự bóp méo của họ, và gần như lúc nào cũng lành với những người nhìn vào, khiến những mệnh lệnh của họ trông có vẻ dễ thực hiện hơn, có lý hơn thực tế. Những quân nhân trên chiến trường thích nói rằng: không có gì trong Lục quân di chuyển nhanh như bút chì mỡ ở Dai Ichi khi lia trên bản đồ ở Dai Ichi. Thông tin liên lạc từ sở chỉ huy xuống đến mức sư đoàn dường như khá là tốt, đặc biệt cho thấy quân đội này đại diện cho một quốc gia tân tiến nhất về công nghệ trên cả hành tinh, nhưng các thiết bị thực tế cho thấy khá cổ và không đáng tin cậy một cách cực kỳ với những ai thuộc các đơn vị nhỏ hơn, khá biệt lập với những đơn vị khác.

Khi họ đi lên, Hinton nghĩ sao quá tĩnh lặng. Có chạm súng chút đỉnh, nhưng chúng luôn theo sau bằng sự tĩnh lặng, và tĩnh lặng có hệ quả của nó là sự sợ hãi – đó hầu như là một sự tĩnh lặng bất thường của việc biệt lập hoàn toàn. Hinton, một cựu binh xe tăng, đã vài ngày leo lên chiếc phi cơ trinh thám nhỏ L-19 để tìm kiếm dấu hiệu quân thù, nhưng anh chưa bao giờ thấy được gì cả. Dần dần sự yên tĩnh và trống trải làm anh khó chịu, cũng như đã làm khó chịu những quân nhân có kinh nghiệm, ngay trước khi trung đoàn kỵ binh số Tám bị đánh ở Unsan. Anh còn nhớ câu hỏi quan trọng nhất trong đêm trước khi quân Trung Hoa tấn công vào cuối tháng Mười Một, liệu rằng đây là giai đoạn đi ngủ phải mang giày hay cưởi giày. Anh quyết định là mang giày “Chúng ta càng lúc càng biệt lập, và càng ngày càng bị cắt rời và như vậy càng lúc càng nhiều nhược điểm. Cứ sau mỗi ngày vận động chúng ta lại dàn rộng thêm ra và càng xa các đơn vị khác hơn. Sự cô lập trong nội bộ các đơn vị của chúng ta – không phải chỉ với những sư đoàn khác đang đảm bảo hai bên sườn mà chính là từ nội bộ chúng ta, từ trung đoàn đến trung đoàn, và trong mỗi trung đoàn, từ tiểu đoàn đến tiểu đoàn, rồi từ đại đội đến đại đội. Chúng ta biết chúng ta đang trông đợi vào lòng khoan dung của những người khác, vậy đó, chúng ta hi vọng quân Trung Hoa sẽ không tiến vào. Đó là một cảm giác kỳ quái – vùng đất này dường như nuốt chửng chúng tôi. Cả một sư đoàn chúng tôi dường như biến mất trong khung cảnh rộng lớn đó”. Nếu quân thù tấn công, Hinton và nhiều người khác hiểu, thì sẽ cực kỳ khó để tập hợp lại gần nhau và hình thành một cú đấm phòng thủ chặt chẽ. Đó là một trận công kích, sau này anh xác quyết, được lên kế hoạch bởi người Mỹ và dành cho người Trung Hoa.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM