Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 07 Tháng Sáu, 2020, 01:28:54 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Việt Nam 1945-2000  (Đọc 35512 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
HUY_AK_47
Thành viên
*
Bài viết: 200



« Trả lời #30 vào lúc: 29 Tháng Mười, 2011, 01:27:14 pm »

Trong quá trình thực hiện chủ trương thống nhất Việt Minh


1. Viện Sử học: Lịch sử Việt Nam (9-1945 – 1950)... Sđd, tr. 276.
100
 
và Liên Việt, Trung ương Đảng đã chỉ ra và kịp thời uốn nắn một  số  khuyết  điểm  của  các  địa  phương,  như  có  nơi  thiên  về phát triển Liên Việt, gần như quên củng cố Việt Minh; có nơi lại chú trọng củng cố Việt Minh, không quan tâm phát triển Liên Việt; có nơi không lấy nguyên tắc hành động chung giữa Việt Minh  và  Liên  Việt  làm  điểm  trọng  yếu  trong  việc  chuẩn  bị thống nhất.

Nhằm tăng cường sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân, các
tổ chức quần chúng cũng được kiện toàn và phát triển một bước. Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam đã mở rộng thêm đội ngũ.

Những ngành có nghề chuyên môn và có đội ngũ công đoàn viên  đông  đảo  (Ngành  Giáo  dục,  Ngành  Bưu  điện...)  được  tổ chức theo hệ thống dọc từ cơ sở lên đến toàn quốc. Hoạt động công  đoàn  các  cấp  được  đẩy  mạnh,  đóng  vai  trò  quan  trọng trong việc động viên và tổ chức công nhân thi đua phát huy sáng kiến,  cải  tiến  kĩ  thuật,  đẩy  mạnh  sản  xuất  cải  thiện  đời  sống. Nhờ đó, số lượng đoàn viên trong các tổ chức Công đoàn ngày càng tăng. Tính đến năm 1948, ở vùng tự do, số đoàn viên Công đoàn  đã  chiếm  49ơ/o  tổng  số  công  nhân.  Số  công  nhân  trong vùng  địch  tạm  chiếm  gia  nhập  công  đoàn  cũng  lên  tới  37.436 đoàn viên trong tổng số 352.069 công nhân (gần 1l%).

Hội  Nông  dân  cứu  quốc  phát  triển  nhanh  chóng.  Đến  năm
1948, Hội có hơn 820.000 hội viên. Nhằm đẩy mạnh cuộc vận động và tổ chức nông dân tham gia kháng chiến, Hội nghị cán bộ Nông dân cứu quốc toàn quốc họp tại Việt Bắc (từ 28-11 đến
7-12-1949) đã đề ra nhiệm vụ, phương hướng hoạt động trong thời gian trước mắt là tăng gia sản xuất tự túc, nuôi dưỡng bộ đội, xây dựng hợp tác xã, hoàn thành giảm tô, giảm tức, thanh toán  nạn  mù  chữ.  Hội  nghị  đánh  dấu  một  bước  tiến  lớn  trong lịch sử vận động nông dân ở nước ta.

Công  tác  vận  động  và  tổ  chức  phụ  nữ  được  thực  hiện  theo hướng  đơn  giản  tổ  chức  và  thống  nhất  lực  lượng  phụ  nữ.  Hội Phụ  nữ  Cứu  quốc  và  Hội  Liên  hiệp  Phụ  nữ  được  thống  nhất
101
 
thành một tổ chức để làm tốt vai trò giáo dục, bảo vệ quyền lợi của phụ nữ, thực hiện nam nữ bình đẳng và giải phóng phụ nữ. Đến năm 1948, đoàn thể phụ nữ có 1.210.000 hội viên, chiếm tỉ
lệ cao nhất trong các giới. Đáng chú ý là Hội Mẹ chiến sĩ cũng hăng hái tham gia thi đua yêu nước, nhất là trong các phong trào "góp quỹ nuôi quân", chăm sóc thương binh, bệnh binh, may vá quần áo cho bộ đội.

Công  tác  vận  động  thanh  niên  được  đặc  biệt  coi  trọng.  Từ năm 1947 trở đi, các tổ chức Đoàn Thanh niên Cứu quốc, Liên đoàn Thanh niên Việt Nam, Tổng hội Sinh viên Việt Nam được củng cố và lần lượt mở đại hội.

Ngày  7-2-1950,  Đại  hội  đại  biểu  lần  thứ  nhất  Đoàn  Thanh niên Cứu quốc được tổ chức tại Đại Từ (Thái Nguyên). Đại hội đánh dấu bước trưởng thành của phong trào thanh niên cứu quốc Việt  Nam.  Tiếp  theo  Đại  hội  Đoàn  Thanh  niên  cứu  quốc,  Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất của Liên đoàn Thanh niên Việt  Nam  cũng  được  triệu  tập.  Đại  hội  tượng  trưng  cho  khối đoàn kết thống nhất của thanh niên Việt Nam, đồng thời đặt cơ sở cho sự thống nhất tư tưởng và hành động trong thanh niên, xác định rõ nhiệm vụ của thanh niên trong giai đoạn phát triển
mới của kháng chiến.

Đảng Dân chủ và Đảng Xã hội cũng được xác định rõ về tổ
chức và phạm vi hoạt động vào các tầng lớp tư sản, trí thức, tiểu
tư sản lớp trên. Công tác vận động quần chúng trong vùng địch tạm  chiếm,  vùng  công  giáo  và  miền  núi  được  đẩy  mạnh,  góp phần phá tan âm mưu chia rẽ khối đoàn kết dân tộc của kẻ thù.

Việc củng cố và kiện toàn bộ máy chính quyền dân chủ nhân dân được Đảng và Chính phủ quan tâm đặc biệt. Nghị quyết Hội nghị Trung ương mở rộng (15 - 17-l-1948) nhấn mạnh: Cần phải đề  cao  danh  nghĩa  và  uy  tín  của  Chính  phủ  Trung  ương  cũng như Uỷ ban kháng chiến hành chính các cấp. Muốn vậy, Chính phủ và Uỷ ban kháng chiến hành chính phải chú ý cải thiện đời sống cho dân, phục vụ nhân dân.
102
 
Bộ máy hành chính Trung ương không ngừng được củng cố và kiện toàn. Ngay từ năm 1947, một bộ phận nhân sĩ, trí thức, những nhà văn hoá, văn nghệ nổi tiếng xuất sắc được Chủ tịch Hồ Chí Minh mời tham gia giữ những cương vị chủ chốt trong Chính  phủ.  Bản  quy  chế  công  chức  mới  cũng  được  Hội  đồng Chính  phủ  thông  qua  (27-5-1948)  thay  chế  độ  công  chức  thời thuộc Pháp.
Cuộc kháng chiến ngày càng gay go, giao thông liên lạc giữa Trung ương với các địa phương và giữa các vùng ngày càng khó khăn, trở ngại. Trong hoàn cảnh ấy, việc kiểm tra các cấp chính quyền thi hành đường lối, chủ trương của Trung ương Đảng và Chính  phủ  phải  được  tiến  hành  chặt  chẽ  và  thống  nhất  trong toàn quốc. Vì vậy, ngày 18-12-1949, Chính phủ ra Sắc lệnh số
138/B-SL quy định bãi bỏ Ban Thanh tra đặc biệt và thành lập Ban Thanh tra Chính phủ với nhiệm vụ xem xét việc thi hành chính sách, chủ trương của Chính phủ, thanh tra các uỷ viên Uỷ ban kháng chiến hành chính và viên chức về phương diện liêm khiết,  thanh  tra  sự  khiếu  nại  của  dân.  Từ  đó  trở  đi,  công  tác thanh  tra  được  tiến  hành  thường  xuyên,  giúp  các  địa  phương thực hiện đúng các đường lối, chủ trương của Đảng và Chính phủ, kịp thời sửa chữa, khắc phục sai lầm, khuyết điểm. Nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngành chuyên môn trong bộ máy Nhà nước, ngày 25-1-1949, Hội đồng Chính phủ quyết định thành lập 4 ban lớn, thực hiện liên thông hoạt động giữa các Bộ. Đó là Ban Quân sự (gồm Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tư lệnh); Ban Nội chính (gồm Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao);  Ban  Kinh  tế  (gồm  Bộ  Kinh  tế,  Bộ  Tài  chính,  Bộ  Giao thông công chính, Bộ Canh nông, Bộ Lao động); Ban Văn hoá xã hội (gồm Bộ Giáo dục, BỘ Y tế, Bộ Thương binh, Cứu tế). Đây là một giải pháp sáng tạo và cực kì quan trọng, nhằm tạo ra cơ chế vận hành vừa chặt chẽ, vừa linh hoạt, có tác dụng phát huy cao độ hiệu suốt công tác của chính quyền kháng chiến.

Cùng với việc củng cố, kiện toàn chính quyền Trung ương,
Đảng, Chính phủ cũng đề ra và thực hiện nhiều chủ trương biện

103
 
pháp nhằm nâng cao hiệu lực của bộ máy chính quyền các cấp ở địa phương. Trong điều kiện chiến tranh gây nên sự chia cắt đất nước  và  các  địa  phương,  Chính  phủ  sớm  quy  định  quyền  hạn của chính quyền các cấp cho phù hợp với tình hình giao thông liên lạc bị cách trở. Theo tinh thần chỉ đạo của Trung ương, tất
cả các Uỷ ban kháng chiến hành chính từ cấp xã đến cấp Liên khu đều phải đảm đương trách nhiệm nặng nề là thay mặt Chính phủ lãnh đạo nhân dân tiến hành kháng chiến, kiến quốc trong phạm vi địa phương mình phụ trách; đồng thời phối hợp với các địa phương khác để tiến hành cuộc chiến đấu có hiệu quả nhất. Ngoài những nhiệm vụ chung, Uỷ ban kháng chiến hành chính cấp  Liên  khu  còn  được  trao  thêm  một  số  quyền  hạn  đặc  biệt, như quyền thiết quân luật trưng thu, trưng dụng, trưng tập lực lượng vũ trang, thiết lập toà án quân sự, quyền ân xá, ân giảm, quyền  quyết  định  các  kế  hoạch  kháng  chiến,  huy  động  lương thực,  thực  phẩm  cho  chiến  trường  trong  phạm  vi  địa  phương mình.
Logged
HUY_AK_47
Thành viên
*
Bài viết: 200



« Trả lời #31 vào lúc: 29 Tháng Mười, 2011, 01:27:37 pm »

Những nghị quyết của Đảng và sắc lệnh, nghị định của Chính phủ , đặc biệt là Sắc lệnh số 254/SL (19-11-1948) quy định chế độ tổ chức chính quyền nhân dân địa phương trong thời kì kháng chiến là những cơ sở quan trọng trong việc củng cố, kiện toàn bộ máy chính quyền các cấp. Các cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân phải tạm hoãn trong năm đầu kháng chiến toàn quốc thì đến năm 1948 đã tiến hành trở lại. Cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân khoá II (1948 - 1949) được tiến hành trong khắp các vùng tự do và  nhiều  nơi  trọng  vùng  tạm  bị  địch  chiếm.  Thành  phần  công nhân, nông dân tham gia chính quyền được tăng cường. Những đại biểu, những uỷ viên xứng đáng được thay thế những người yếu  kém.  Các  Ngành  Công  an,  Kinh  tế,  Tư  pháp,  Giáo  dục... được tăng cường cán bộ có năng lực.

Nam  Bộ  là  nơi  sớm  bước  vào  cuộc  chiến  đấu  chống  chiến tranh  xâm  lược  của  thực  dân  Pháp,  nên  việc  xây  dựng  chính quyền ở đây gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, trong những năm 1947
- 1948, Chính phủ đã cử nhiều cán bộ vào bổ sung cho Nam Bộ.
104
 
1948, lần đầu tiên Nam Bộ tiến hành cuộc bầu cử Hội đồng nhận dân từ cấp xã đến cấp tỉnh.
Từ năm 1950, bộ máy chính quyền dân chủ nhân dân tiếp tục được  củng  cố  và  kiện  toàn  theo  hướng  thống  nhất,  tập  trung, mạnh mẽ, quyết đoán có khả năng đảm đương được nhiệm vụ điều khiển chiến tranh và xây dựng chế độ dân chủ nhân dân.

Để  chỉnh  đốn  và  kiện  toàn  bộ  máy  chính  quyền,  tháng  2-
1950, Hội nghị kháng chiến hành chính được tổ chức, gồm đại biểu ba miền Bắc, Trung, Nam. Bản Quy chế công chức nước Việt  Nam  Dân  chủ  Cộng  hoà  được  áp  dụng  theo  Sắc  lệnh  số
76/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh kí ngày 20-5-1950. Đây là một bước tiến khá lớn về công tác hành chính.

Vấn  đề  đào  tạo,  bồi  dưỡng  cán  bộ  chính  quyền  cấp  cơ  sở được quan tâm đặc biệt. Từ năm 1948, để củng cố và kiện toàn cấp xã, vấn đề đào tạo cán bộ địa phương đã được đặt ra. Nhiều lớp huấn luyện ngắn hạn (8 đến 20 ngày) đã được tổ chức để bồi dưỡng cho cán bộ xã. Cán bộ từ cấp huyện trở lên thì được rèn luyện trong công tác hằng ngày hoặc được bổ túc trong các lớp dài hạn (3 tháng). Từ năm 1949 - 1950, khắp các khu đều mở lớp "bổ túc cấp xã". Các cuộc thi đua "xây dựng xã" được đặc biệt khuyến khích.

Một  trong  những  biện  pháp  nâng  cao  hiệu  lực  của  bộ  máy chính quyền dân chủ nhân dân trong kháng chiến chống Pháp là tăng  cường  vai  trò  của  Ngành  Tư  pháp  và  Toà  án  nhân  dân. Ngày  28-5-1948,  Chính  phủ  ra  Sắc  lệnh  số  11/SL  tiếp  tục  bổ sung các sắc lệnh trước đây, khẳng định thẩm quyền của Toà án nhân dân. Hệ thống Toà án nhân dân gồm có Ban Tư pháp xã, Toà án sơ cấp Toà án đệ nhị cấp và Toà án thượng thẩm. Ngoài hệ  thống  Toà  án  nhân  dân,  Toà  án  binh  (thành  lập  ngày  23-
81946) cũng được quy định bổ sung về chức năng và nhiệm vụ. Ngày 25-4-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh kí Sắc lệnh số 45/SL thành lập Toà án binh tối cao để xét xử những quân nhân từ cấp trung  đoàn  hoặc  những  quân  nhân  làm  việc  ở  cơ  quan  Trung

105
 
ương phạm pháp.

Logged
HUY_AK_47
Thành viên
*
Bài viết: 200



« Trả lời #32 vào lúc: 29 Tháng Mười, 2011, 01:28:02 pm »

Hoạt  động  của  hệ  thống  tư  pháp,  toà  án  trong  những  năm
1948 - 1950 đã góp phần quan trọng trong việc giữ vững trật tự
trị an, trấn áp lực lượng phản động, bảo vệ tài sản quốc gia, tính mạng và tài sản nhân dân.

Trong quá trình củng cố, kiện toàn hệ thống chính quyền các cấp, Đảng, Chính phủ và đặc biệt là Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan  tâm  đến  vấn  đề  giáo  dục,  bồi  dưỡng  nếp  sống,  đạo  đức, nhân cách văn hoá của cán bộ công nhân viên. Coi "cán bộ là cái gốc của mọi công việc", "có cán bộ tốt, việc gì cũng xong", ngay trong lúc chiến tranh diễn ra ác liệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết một loạt tác phẩm có ý nghĩa lí luận và thực tiễn sâu sắc về  công  tác  cán  bộ  trong  điều  kiện  của  một  đảng  cầm  quyền, như  Cán  bộ  tốt  và  cán  bộ  xoàng  (6-1947),  Thư  gửi  các  nhân viên cơ quan Chính phủ (6- 1947), Cán bộ và đời sống mới (7-
1947) và nhất là cuốn Sửa đổi lối làm việc (10-1947). Cuốn sách nêu rõ nhiệm vụ, vai trò, tư cách đạo đức, trách nhiệm và hướng phấn đấu của cán bộ công nhân viên chức Nhà nước trong điều kiện vừa kháng chiến, vừa xây dựng đất nước và xây dựng con người mới. Những điều Hồ Chí Minh nêu trong cuốn sách về lề lối làm việc nói riêng và nhân cách; đạo đức cán bộ công nhân viên nói chung để trở thành nguyên lí trong việc xây dựng đội ngũ  cán  bộ  của  Nhà  nước  ta.  Những  tư  tưởng  cục  bộ,  địa phương  chủ  nghĩa,  óc  bè  phái:  quân  phiệt,  quan  liêu,  hẹp hòi, ham chuộng hình thức, làm việc lại bàn giấy, vô kỉ luật, ích kỉ... từng bước được khắc phục.

Công tác xây dựng Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng và củng cố hậu phương, đẩy mạnh kháng chiến toàn  dân,  toàn  diện.  Vì  vậy,  nhiều  biện  pháp  nhằm  nâng  cao chất lượng đảng viên, bồi dưỡng năng lực lãnh đạo của cấp uỷ và kiện toàn tổ chức Đảng theo phương châm "phát triển đi đôi với củng cố" thường xuyên được thực hiện.
Từ năm 1948 trở đi, công tác xây dựng Đảng có bước phát

106
 
triển mạnh mẽ cả về số lượng. Năm 1946 cả nước mới có 2 vạn đảng viên đến tháng 9-1948 đã tăng lên hơn 15 vạn và sang đầu năm  1950  là  43  vạn,  trong  đó  thành  phần  công  nhân  chiếm
8,7%. Trong quân đội, số đảng viên cũng chiếm 1/3 quân số. Số chi bộ Đảng tăng lên nhanh chóng, từ 3.800 chi bộ (năm 1947), đã tăng lên 7.800 chi bộ (năm 1948). Đến đầu năm 1950, hầu hết các vùng địch tạm chiếm cũng như vùng tự do đều có chi bộ,  phần  lớn  các  thôn  đều  có  tổ  Đảng.  Đông  đảo  công  nhân, nông dân, trí thức cách mạng và chiến sĩ lực lượng vũ trang ưu
tú được gia nhập Đảng.

Đi đôi với công tác phát triển Đảng, việc giáo dục, bồi dưỡng nâng  cao  chất  lượng  đảng  viên  nhìn  chung  được  các  cấp  uỷ Đảng quan tâm. Trong 5 tháng đầu năm 1948, riêng Liên khu III mở được 674 lớp bồi dưỡng cho 19.653 đảng viên mới, 105 lớp bồi dưỡng cho 2.785 chi uỷ viên, 32 lớp bồi dưỡng cho 1.067 huyện uỷ viên... 1.Qua các lớp học, cán bộ, đảng viên được bồi dưỡng  về  đường  lối  cách  mạng  dân  tộc  dân  chủ  nhân  dân, đường  lối  kháng  chiến  toàn  dân,  toàn  diện,  lâu  dài  và  tự  lực cánh sinh...

Nhằm phát huy tính năng động của cơ sở và ứng phó kịp thời với  tình  thế, Đảng  chủ  trương  xây  dựng  Chi  bộ  tự  động  công tác, coi đó là biện pháp chủ yếu để củng cố cơ sở Đảng. Đến cuối năm 1949, toàn miền Bắc có 1.000 chi bộ tự động công tác; trong  đó  có  nhiều  chi  bộ  kiểu  mẫu,  điển  hình  là  các  chi  bộ Thượng Bằng La (Yên Bái), Đình Bảng (Bắc Ninh), Cự Nẫm và Cảnh Dương (Quảng Bình)... Tuy nhiên trên phạm vi toàn quốc,
số chi bộ có năng lực tự động công tác còn ít, mới chiếm 25%
tổng số chi bộ (tính đến năm 1950) 2.

Nhìn chung, qua chiến đấu và xây dựng, Đảng ta ngày càng vững  mạnh;  sức  chiến  đấu,  năng  lực  lãnh  đạo  và  uy  tín  của



1.2.  Viện sử học: Lịch sử Việt Nam... Sđd, tr. 318-319.

107
 
Đảng ngày càng được nâng cao. Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng,
Logged
HUY_AK_47
Thành viên
*
Bài viết: 200



« Trả lời #33 vào lúc: 29 Tháng Mười, 2011, 01:28:31 pm »

Đảng cũng phạm một số sai lầm, khuyết điểm, nặng về phát triển số lượng, chưa coi trọng đúng mức chất lượng đảng viên. Nhằm  khắc  phục  thiếu  sót  này,  từ  tháng  9-1950,  Đảng  tạm ngừng phát triển để củng cố tổ chức.

b) Về quân sự

Với đường lối chiến tranh nhân dân, Đảng ta chủ trương xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân: Dân quân, du kích là lực lượng đông đảo nhất, tiếp đó là bộ đội địa phương và trên cùng
là bộ đội chủ lực.

Dân quân, du kích là lực lượng chủ yếu quyết định sự phát triển mạnh mẽ của phong trào chiến tranh du kích trong cả nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Du kích là một lực lượng cực kì
to  lớn  trong  chiến  tranh  giải  phóng  dân  tộc.  Sức  du  kích  thật mạnh  thì  chiến  tranh  giải  phóng  nhất  định  thắng  lợi.  Tổ  chức chặt  chẽ  và  rộng  khắp,  trong  vùng  địch  và  xung  quanh  vùng địch, làng nào, huyện nào, tỉnh nào cũng có du kích thì nó thành một tấm lưới sắt, một thứ "thiên la địa võng" mà địch không tài
gì thoát ra được. Địch đi đến đâu cũng bị chặn đánh. Địch làm
gì cũng bị phá hoại. Du kích làm cho địch có mắt cũng như mù, có tai cũng như điếc, có chân cũng như què. Một bộ phận địch thì bị du kích tỉa dần, tỉa mòn. Bộ phận địch còn sống sót, thì ăn không yên, ở không yên, nghe gió thổi chim kêu cũng hoảng sợ, rồi cũng bị du kích tiêu diệt nốt" 1.

Tháng  2-1947,  Bộ  Quốc  phòng  ra  thông  tư  quy  định  mọi công dân Việt Nam từ 1 8 tuổi đến 45 tuổi vào dấn quân và quy định: Dân quân, tự vệ có nhiệm vụ canh gác phòng gian trong địa  phương,  vận  tải,  tiếp  tế,  tải  thương  giúp  đỡ  du  kích  địa phương. Du kích địa phương có nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ làng


1.  Hồ Chí Minh: Toàn tập. Tập VI. NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội
1995, tr. 335
108
 
mạc,  tài  sản,  tính  mạng  của  nhân  dân,  độc  lập  tác  chiến  hoặc phối hợp với bộ đội.Thực hiện chủ trương của Đảng, từ mùa hè năm  1947  trở  đi,  hàng  chục  vạn  người  hăng  hái  gia  nhập  các đơn vị dân quân, du kích và tự vệ chiến đấu. Cuối năm 1947, trên nhiều địa phương, ở xã có từ 1 đến 2 trung đội dân quân tự vệ, huyện có từ 1 đến 2 trung đội du kích và tỉnh có từ 1 đến 2 đại đội du kích thoát li sản xuất. Tại một số vùng bị địch tạm chiếm vẫn duy trì các đội công tác đặc biệt hoạt động bí mật. Đến cuối năm 1949, số dân quân, du kích trong cả nước đã có khoảng một triệu người, trong đó có hàng ngàn lão du kích được gọi là Bạch đầu quân. Trang bị của dân quân tự vệ, du kích còn thiếu thốn và thô sơ Vũ khí, trang bị tự chế là chính, gồm mìn, lựu đạn, súng kíp, cung nỏ, giáo, mã tấu, kiếm; một số nơi có súng  trường.  Về  sau,  với  phong  trào  "cướp  vũ  khí  địch  đánh địch", trang bị của dân quân, du kích có phần khá hơn.

Việc huấn luyện dân quân, du kích ngày càng đi vào nền nếp. Tại Việt Bắc, Khu IV, Khu V và các căn cứ thuộc Nam Bộ, chế độ  huấn  luyện  thường  kì  cho  dân  quân,  du  kích  được  duy  trì. Chương  trình  học  về  chính  trị  là  những  bài  sơ  giản  về  cách mạng,  kháng  chiến, các quy định  về  kỉ  luật  phòng  gian  giữ bí mật; về quân sự là những bài tập chiến thuật cá nhân, tập kích, phục kích, báo động sẵn sàng chiến đấu...
Logged
HUY_AK_47
Thành viên
*
Bài viết: 200



« Trả lời #34 vào lúc: 29 Tháng Mười, 2011, 01:28:55 pm »

Trước yêu cáu mới của kháng chiến, cùng với việc phát triển dân  quân,  du  kích,  Ban  Thường  vụ  Trung  ương  Đảng  chủ trương xây dựng lực lượng bộ đội địa phương. Đây là lực lượng vũ trang trực thuộc các khu tỉnh huyện, được chính quyền địa phương  xây  dựng  làm  công  cụ  chủ  chết  bảo  vệ  địa  bàn  của mình. Ngày 7-4-1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh kí sắc lệnh thành lập bộ đội địa phương. Sắc lệnh quy định: "Quân đội Quốc gia Việt Nam gồm có hai phần: Quân đội chính quy và quân đội địa phương.  Bộ  đội  địa  phương  có  ba  đặc  điểm  chính  là:  có  tính cách địa phương, có nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ địa phương, tự



109
 
trang bị và tự túc về cấp dưỡng" 1.Thực hiện sắc lệnh của Chính phủ, ngày 7-7-1949, Bộ trưởng Quốc phòng - Tổng tư lệnh ra Nghị  định  số  l03fNQ  quy  định  tổ  chức  bộ  đội  địa  phương  và Thông tư số 46/TT quy định nhiệm vụ của cơ quan các cấp, các ngành đối với việc xây dựng bộ đội địa phương. Theo tinh thần đó, các đơn vị du kích tập trung được nâng thành các trung đội, đại đội bộ đội địa phương ở huyện và các tiểu đoàn bộ đội địa phương ở tỉnh, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng bộ địa phương.  Tính  đến  cuối  năm  1949,  từ  Liên  khu  IV  trở  ra,  lực lượng  bộ  đội  địa  phương  đã  lên  tới  20.000  người;  đến  năm
1950, tăng lên 45.000 người. Ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ, đến đầu năm 1950, mỗi huyện có từ một đến hai đại đội bộ đội địa phương.

Bộ đội địa phương ra đời và phát triển đã từng bước thay thế các đại đội độc lập, làm nòng cốt cho chiến tranh du kích ở địa phương.  Bộ  đội  chủ  lực  được  Đảng  và  Chính  phủ  chủ  trương xây  dựng  từ  khá  sớm,  vì  đó  là  lực  lượng  quyết  định  số  phận quân đội viễn chinh của thực dân Pháp. Ngày 26-8-1947, Chính phủ ra Sắc lệnh số 76/SL thành lập Đại đoàn Độc lập (thực tế tương  đương  cấp  trung  đoàn).  Đầu  năm  1948,  thực  hiện  chủ trương đẩy mạnh chiến tranh du kích, cùng với việc phát triển mạnh lực lượng dân quân, du kích, từ Liên khu IV trở ra, hơn
1/3 bộ đội chủ lực (l03/299 đại đội) phân tán thành các đại đội độc  lập,  đội  vũ  trang  tuyên  truyền,  đội  xung  phong  công  tác. Những đơn vị này có nhiệm vụ đi sâu vào vùng địch tạm chiếm,
bí mật gây dựng cơ sở, hướng dẫn quần chúng đấu tranh, tiến hành vũ trang tuyên truyền, diệt tề trừ gian, gây crựng Và  mở rộng phong trào du kích địa phương.

Hoạt động trong những điều kiện vô cùng khó khăn, gian khổ
và đầy nguy hiểm, cán bộ, đảng viên và chiến sĩ ta đã nêu cao ý


1.  Dẫn theo: Việt Nam. Những sự kiện lịch sử... Sđd, tr. 63-64.


110
 
chí  chiến  đấu  kiên  cường,  bất  khuất,  nêu  cao  chủ  nghĩa  anh hùng  cách  mạng.  Có  những  cán  bộ  hoạt  động  ở  vùng  Tây Nguyên  đã  tự  động  cởi  trần,  đóng  khố,  cà  răng  căng  tai,  phơi nắng cho da đen, học hỏi phong tục tập quán, tìm hiểu nguyện vọng của dân để hoà nhập với dân. Đó là những chiến sĩ kiểu mẫu  của  dân  tộc,  những  người  con  xứng  đáng  của  Đảng,  rất dũng cảm, tận tuỵ, bất kì gian lao nguy hiểm thế nào, vẫn cứ đi sát với dân, vẫn cứ bám lấy công việc, không nhút nhát, không than phiền, hi sinh cả tính mạng cũng không tiếc.

Từ  giữa  năm  1949  đến  đầu  năm  1950,  các  đại  đôi  độc  lập được rút về cùng với các tiểu đoàn tập trung để xây dựng các trung đoàn, đại đoàn chủ lực. Từ Liên khu IV trở ra, mỗi Liên khu đã xây dựng được từ 2 đến 3 trung đoàn chủ lực. Ở Nam Bộ, mỗi khu có một trung đoàn. Tính chung cả nước, đến năm
1950 có 12 trung đoàn chủ lực. Ngày 28-8-1949, đại đoàn (sau gọi  là  sư  đoàn)  chủ  lực  đầu  tiên  của  Quân  đội  nhân  dân  Việt Nam, mang tên Đại đoàn 308 (Đại đoàn Quân tiên phong), được thành  lập,  đánh  dấu  bước  xây  dựng  hoàn  chỉnh  lực  lượng  vũ trang  ba  thứ  quân.  Tiếp  đến,  Đại  đoàn  304  ra  đời  ngày  10-3-
1950, Đại đoàn 312 thành lập ngày 27-12-1950...

Bộ  Tổng  tư lệnh  cũng quyết  định thành lập  Cục  Pháo  binh
(5- 1949), Cục Thông tin trên lạc (31-7-1949).

Cùng với sự lớn mạnh về tổ chức, lực lượng vũ trang (nhất là bộ đội chủ lực) từng bước trưởng thành về chính trị, quân sự và hậu cần. Sức chiến đấu của lực lượng vũ trang ba thứ quân được nâng cao rõ rệt qua thực tiễn chiến đấu.

Từ cuối năm 1948, thực hiện chủ trương tổng phá tề, xoá bỏ chính  quyền  địch  ở  cớ  sở,  lực  lượng  du  kích  cùng  nhân  dân vùng tạm bị địch chiếm nổi dậy phá tề trên phạm vi rộng lớn, lập lại chính quyền kháng chiến. Kết quả phá tề đã làm tan rã và
tê liệt một phần lớn bộ máy chính quyền tay sai của Pháp ở thôn xã trong vùng địch tạm chiếm. Những hội tề còn lại rất hoang mang, dao động. Ở nhiều nơi, hội tề tỏ ra bất lực, không dám thi
111
 
hành các mệnh lệnh của thực dân Pháp. Tổng phá tề thực chất là những cuộc nổi dậy đồng loạt của nhân dân ở vùng tạm bị địch chiếm, có lực lượng vũ trang hỗ trợ, dưới sự chỉ đạo tập trung thống nhất của cấp uỷ Đảng, nhằm phá tan hệ thống kìm kẹp và chống lại có hiệu quả chính sách dùng người Việt đánh người Việt của địch.
Logged
HUY_AK_47
Thành viên
*
Bài viết: 200



« Trả lời #35 vào lúc: 29 Tháng Mười, 2011, 01:29:17 pm »

Phong  trào  chiến  tranh  du  kích  diễn  ra  rất  phong  phú.  Du kích và nhân dân đánh giặc bằng mọi phương tiện, bằng mọi vũ khí và dưới nhiều hình thức, tiêu hao lực lượng địch, biến hậu phương địch thành tiền phương của ta.

Trong  hai  năm  1949,  1950,  chiến  tranh  du  kích  ngày  càng phát  triển  mạnh  mẽ  và  rộng  khắp.  Sự phát  triển mạnh  mẽ  của chiến tranh du kích cùng với các cơ sở chính trị đã dẫn đến sự hình thành làng chiến đấu, khu chiến đấu. Phong trào xây đựng làng chiến đấu phát triển rất mạnh. Đến cuối năm 1948, trên địa bàn Liên khu III có 480 làng chiến đấu1. Có những làng chiến đấu, khu chiến đấu đã đương đầu có hiệu quả với nhiều cuộc càn phá ác liệt của địch, tiêu biểu là Cự Nẫm, Cảnh Dương, Hưng Đạo (Quảng Bình), Ái Quốc (Hải Dương), Vật Lại (Sơn Tây), Chi Lăng (Lạng Sơn), Xi Tơ (Tây Nguyên), Điện Tiến (Quảng Nam)... Một số nơi ở Nam Bộ xây dựng được địa đạo toàn thôn, toàn xã. Nhiều nơi xây dựng được căn cứ tỉnh, huyện, như căn
cứ Lang Tài ở Bắc Ninh, Kinh Môn ở Quảng Ninh (sau thuộc
Hải Dương), v.v...

Phong  trào  du  kích  chống  chính  sách  bình  định  của  địch, phục hồi và phát triển cơ sở kháng chiến của quân và dân ta là một cuộc đấu tranh gay go, quyết liệt, có nhiều tổn thất hi sinh. Song, qua cuộc đấu tranh gian khổ, quân và dân ta có nhiều kinh nghiệm và sáng tạo, đã vượt qua mọi trở ngại, đưa chiến tranh du  kích  ngày  một  lớn  mạnh,  mang  tính  chất  quần  chúng  rộng rãi,  trở  thành  một  phương  thức  tiến công chiến lược  của  nghệ


1. Viện Sử học: Lịch sử Việt Nam (9-1945 - 1950)... Sđđ, tr. 296.
112
 
thuật chiến tranh nhân dân Việt Nam. Trong vùng tạm bị địch chiếm,  nhân  dân  ta  đứng  lên  đấu tranh chống  địch  dưới  nhiều hình thức phong phú. Ở nông thôn, phong trào chống thu thóc, chống nộp thuế, chống đi phu, bắt lính, chống  khủng bố. . . diễn
ra  sôi  nổi.  Những  nơi  có  phong  trào  mạnh,  nhân  dân  và  lực lượng vũ trang tiến hành phá tề, trừ gian, làm công tác địch vận, bao vây đồn bốt, không hợp tác với địch, phát triển chiến tranh du kích. Bằng nhiều hình thức phong phú, sáng tạo, dân quân, du kích và nhân dân đánh giặc ở mọi lúc, mọi nơi và với nhiều loại vũ khí; có khi chỉ bằng tay không, dùng mưu bắt sống địch, cướp súng. Hoạt động du kích thiên biến vạn hoá đã được nhân dân ta thực hiện một cách sinh động trên khắp các chiến trường.
Ở các thành phố, thị xã, quần chúng cũng tổ chức các cuộc mít tinh,  tuần  hành,  vạch  mặt,  phản  đối  các  tổ  chức  "hội  đồng  an dân", "hội đồng chấp chính" làm tay sai cho Pháp; ở một số nơi,
ta còn bắt sống hay trừng trị những tên tay sai đắc lực của Pháp.

Song song với việc phát triển chiến tranh du kích, coi du kích chiến là chính, bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương còn tranh thủ đánh vận động. Từ năm 1948 trở đi, vận động chiến được đẩy mạnh dần và trong những năm sau trở thành hình thức tác chiến tương đối phổ biến của quân đội ta.

Nhìn chung từ năm 1948 đến năm 1950, quân đội ta đã mở hàng  chục  chiến  dịch  đánh  vận  động  quy  mô  nhỏ  trên  chiến trường  toàn  quốc.  Điển  hình  là  các  chiến  dịch:  Nghĩa  Lộ  (3-
1948), Yên Bình Xã (6-1948), Đường số 3 (7-1948), Đông Bắc (10-1948), Sông  Đà (l-1949), Sông Thao (5-1949), Chiến dịch Hồ Chí Minh ở Tây Nguyên (6-1949), Lê Lợi, Lê Lai (ll-1949)
ở Quảng Trị và Quảng Bình, v.v... Từ các trận đánh lẻ với binh lực  sử dụng phô biến là đại  đội, quân đội ta tiến  lên  đánh tập trung ở quy mô tiểu đoàn; có những chiến dịch sử dụng từ 2 đến
4-5 trung đoàn trên một địa bàn rộng. Đó là một bước tiến của quân đội ta trên con đường từ du kích chiến lên vận động chiến,
từ  chiến  tranh  du  kích  tiến  dần  lên  chiến  tranh  chính  quy,  kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy.
113
 
Phối hợp với đấu tranh vũ trang, ở các đô thị bị địch chiếm
đóng, phong trào đấu tranh chính trị cũng diễn ra mạnh mẽ.
Ngày  9-1-1950,  khoảng  3.000  học  sinh,  sinh  viên  Sài  Gòn biểu tình đòi trả tự do cho 12 học sinh bị bắt trong cuộc bãi khoá xảy ra hồi cuối năm 1949. Cuộc biểu tình được hàng vạn đồng bào  các  giới  nhiệt  liệt  hưởng  ứng.  Giặc  Pháp  cho  500  lính  và cảnh sát khủng bố dã man. Học sinh Trần Văn Ơn bị giết hại. Tin đó làm cho quần chúng căm phẫn và ngày 12-1-1950, toàn thành phố Sài Gòn tổng bãi công, bãi thị. Hơn nửa triệu người tham gia đưa tang Trần Văn Ơn. Tiếp đó, tại Chợ Lớn lại nổ ra cuộc biểu tình phản đối định sát hại nữ sinh Trần Bội Cơ.

Giữa những ngày sục sôi khí thế chiến đấu của đồng bào ta, đế quốc Mĩ cho hai tàu ngư lôi loại lớn cập bến cảng Sài Gòn. Một tàu sân bay chở 70 máy bay chiến đấu Mĩ cũng vào thả neo
ở ngoài khơi Đà Nẵng. Đế quốc Mĩ âm mưu mở cuộc thao diễn lớn của không quân và hải quân, phô trương lực lượng hòng trấn áp tinh thần đấu tranh của đồng bào ta, đồng thời cổ vũ tinh thần cho bè lũ tay sai.

Khu uỷ Sài Gòn - Chợ Lớn chủ trương phát động một cuộc đấu tranh lớn. Ngày 19-3-1950, hơn 300.000 đồng bào Sài Gòn - Chợ Lớn xuống đường biểu tình, đấu tranh trực diện với đế quốc Mĩ, buộc tàu Mĩ phải vội vã rút chạy.

Tại Hà Nội, từ đầu năm 1950, địch ra sức củng cố, tổ chức lại hệ  thống  phòng  thủ,  tăng  cường  công  sự  và  binh  lực,  ráo  riết lùng sục và khủng bố. Chúng chỉnh đơn lại hệ thống ngụy quyền
ở cơ sở, lập thêm Sở công an Bắc Việt bên cạnh Sở mật thám
Pháp.

Đảng bộ Hà Nội chủ trương xây dựng và củng cố lực lượng, chống khủng bố, bảo vệ phong trào. Sau sự kiện 9-1-1950 ở Sài Gòn - Chợ Lớn, theo chủ trương của Thành uỷ, học sinh Hà Nội
tổ chức đợt đấu tranh kéo dài trong một tuần lễ (từ ngày 13  đến
20- 1). Kết hợp với đấu tranh chính trị, các lực lượng vũ trang cũng đẩy mạnh hoạt động trừ gian diệt ác, đánh phá các cơ sở
114
 
kinh tế, quân sự của địch. Ờ Sài Gòn, quân và dân ta trong trị
tên thực dân cáo già
Đờ la Sơvrôchie (De la Chevrotière), trùm mật thám Badanh (Bazin),  Bộ  trưởng  ngụy  quyền  Vương  Văn  Nhường.  Tại  Hà Nội, bộ đội ta tập kích sân bay Bạch Mai (18-l-1950), phá huỷ
22 máy bay, đất cháy 600.000 lít xăng. c) về kinh tế
Nhiệm vụ của nhân dân ta là phải nỗ lực xây dựng nền kinh
tế kháng chiến có tính chất dân chủ nhân dân, có khả năng tự cấp, tự túc, vừa đáp ứng được những nhu cầu của kháng chiến, vừa  từng  bước  cải  thiện  đời  sống  của  cán  bộ,  bộ  đội  và  nhân dân;  đồng  thời  phải  đấu  tranh  chống  lại  sự phá  hoại  của  địch. Kinh tế nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trong thời kì này chú trọng phát triển nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp và công nghiệp.

Ngày  14-5-1950,  Chính  phủ  ra  Sắc  lệnh  số  68/SL  về  việc thành lập Ban Kinh tế Chính phủ với nhiệm vụ nghiên cứu, khởi thảo, đệ trình Chính phủ những chính sách, chương trình hoặc kế hoạch quan trọng về kinh tế. Ban Kinh tế Chính phủ đã đóng vai trò tham mưu cho Chính phủ trong công cuộc xây dựng kinh
tế kháng chiến và kiến quốc.

Để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc, chủ trương chung của Đảng và Chính phủ là xây dựng nền kinh
tế toàn diện. Nhưng do thực trạng kinh tế của đất nước lúc đó và vùng  giải  phóng  chủ  yếu  ở  nông  thôn,  miền  núi,  nên  nông nghiệp giữ vị trí hàng đầu trong nền kinh tế kháng chiến. Đảng và Nhà nước động viên nông dân, cán bộ, bộ đội thi đua canh tác, đắp đê, chống hạn hán, lũ lụt, cải tiến kĩ thuật, khai hoang, phục  hoá;  đồng  thời  đầu  tư  vốn  cho  nông  dân  vay,  phân  phối giống, tổ chức tổ đổi công, hợp tác giúp nhau sản xuất. Nhờ vậy, sản xuất nông nghiệp đã thu được nhiều kết quả quan trọng.
Logged
HUY_AK_47
Thành viên
*
Bài viết: 200



« Trả lời #36 vào lúc: 29 Tháng Mười, 2011, 01:29:36 pm »

Để tạo điều kiện cho nông dân phấn khởi đẩy mạnh sản xuất

115
 
nông nghiệp, Đảng và Chính phủ chủ trương tiếp tục thi hành chính sách giảm tô, giảm tức và tạm cấp ruộng đất "vắng chủ”, chia lại ruộng đất công cho công bằng, hợp lí.
Chính phủ ban hành một loạt sắc lệnh về ruộng đất: Sắc lệnh
số  78/SL  (14-7-1949)  quy  định  giảm  tô  25%  so  với  mức  tô trước Cách mạng tháng Tám, xoá bỏ tô phụ và chế độ quá điền, lập Hội đồng giảm tô cấp tỉnh; Sắc lệnh số 25/SL (13-2-1950) về  việc  sử  dụng  ruộng  đất  vắng  chủ;  Sắc  lệnh  số  88/SL  quy định thể lệ lĩnh canh ruộng đất và Sắc lệnh 89/SL (22-5-1950) quy định việc giảm lãi, xoá nợ, hoãn nợ đối với những việc vay mượn  trước  đây...  Hội  đồng  giảm  tô,  giảm  tức,  Ban  giảm  tô, giảm  lãi  xã  được  thành  lập.  Phần  lớn  ruộng  đất  do  nông  dân lĩnh canh đã được giảm tô 25%. Từ năm 1945 đến năm 1949, nông  dân  đã  được  chia  177.000  ha  ruộng  đất,  trong  đó  ruộng đất  của thực  dân  Pháp  là  18.400  ha,  ruộng  đất của  địa  chủ  là
39.600 ha, ruộng đất công và bán công là 19.000 ha. Từ năm
1949, số ruộng đất chia cho nông dân ngày càng nhiều hơn.

Thông  qua  những  chính  sách  trên  đây,  chế  độ  chiếm  hữu ruộng  đất  của  địa  chủ  bị  thu  hẹp  dần;  đời  sống  nông  dân  có những chuyển biến đáng kể. Tình hình sở hữu ruộng đất ở nông thôn trong các vùng tự do có sự biến đổi khá lớn.

Song  song  với  việc  đem  lại  quyền  lợi  ruộng  đất  cho  nông dân, Đảng và Nhà nước còn hướng dẫn nông dân từng bước đi vào con đường làm ăn tập thể dưới những hình thức thích hợp. Cuối năm 1949, cả nước có 27.291 tổ đổi công và hợp công 1,
982 hợp tác xã sản xuất nông nghiệp. Đến năm 1950, cả nước có 25.491 tổ đổi công và hợp công, 1.562 hợp tác xã. Một số biện pháp kĩ thuật trong sản xuất nông nghiệp được áp dụng .

Công tác thuỷ lợi, phòng chống thiên tai, địch hoạ được coi trọng. Nghị quyết Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ 4 (20-5-


1.  Ba  mươi  năm  phát  triển  kinh  tế  và  văn  hoá  của  nước  Việt  Nam
Dân chủ Cộng hoà. NXB Sự thật, Hà Nội. 1978, tr. 97.
116
 
1948) đã chỉ rõ: "Không bỏ đất hoang, miền núi phát triển thêm nương  rẫy.  Miền  biển  đắp  đê  những  bãi  tân  bồi,  khai  ngòi  ở những vùng úng thuỷ. Sửa chữa những kênh đào hiện có, đào thêm kênh ở những nơi cần thiết". Thực hiện chủ trương trên, tính chung trong 3 năm (1948 - 1950), các cấp chính quyền địa phương đã huy động 4 triệu ngày công, đào được gần 3 triệu m3 đất để sửa chữa đê điều. Các chương trình đào đắp kênh mương dẫn nước vào ruộng, đào ao, đào giếng, đắp đê ngăn nước mặn,
sử dụng  máy  bơm để  chủ  động  tưới,  tiêu  nước được  áp  dụng rộng rãi. Nhờ đó, một số vùng đồi núi, trung du và nhiều diện tích đất hoang hoá được đưa vào canh tác. Nhiều diện tích cấy một  vụ  lúa  đã  tăng  lên  hai  vụ  trong  năm,  diện  tích  trồng  hoa màu  cũng  được  mở  rộng.  Trong  năm  1949,  Liên  khu  IV  và Đồng  Tháp  Mười  phục  hoá  được  70.313  ha,  vùng  hữu  ngạn sông Hồng khai khẩn được 10.000 mẫu ruộng ở vùng bán sơn địa. So với năm 1949, trong năm 1950, Liên khu Việt Bắc sản xuất thêm được 45.000 tấn lúa và 192.000 tấn hoa màu.
Logged
HUY_AK_47
Thành viên
*
Bài viết: 200



« Trả lời #37 vào lúc: 29 Tháng Mười, 2011, 01:29:56 pm »

Công tác bảo vệ sản xuất được chú ý. Các tỉnh đều thành lập Ban bảo vệ mùa màng dân - quân - chính ở những nơi cần thiết. Một số địa phương thuộc Liên khu III, IV, V và Nam Bộ đã phổ biến cho nông dân kinh nghiệm "gặt hái xung phong", phân tán và cất giấu trâu bò, thóc lúa, có tác dụng giảm bớt sự thiệt hại do địch phá hoại. Cùng với việc đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, Đảng  và  Nhà  nước  rất  chú  trọng  xây  dựng  và  phát  triển  các ngành  sản  xuất  công  nghiệp,  tiểu  thủ  công  nghiệp,  thương nghiệp, tài chính.

Trong  những  tháng  đầu  của  cuộc  kháng  chiến  toàn  quốc, công  nhân  đã  di  chuyển  máy  móc,  vật  tư,  nguyên  liệu  ra  các vùng tự do, các khu căn cứ. Đó là vốn vật chất đầu tiên để xây dựng  nền  công  nghiệp  kháng  chiến.  Những  xí  nghiệp  quốc phòng và dân dụng có quy mô thích hợp đã được xây dựng trong các vùng tự do và vùng căn cứ địa. Công nghiệp quốc phòng là bộ  phận  quan  trọng  nhất  trong  thời  kì  kháng  chiến.  Đến  cuối năm 1947, công nghiệp quốc phòng nước ta đã có hàng loạt nhà
117
 
máy, xí nghiệp thuộc quyền quản lí của Cục Quân giới Bộ Quốc phòng  và  Ban  vũ  khí  dân  quân,  Công  an,  Tổng  Liên  đoàn  lao động Việt Nam, Công đoàn các khu, tỉnh. Cục Quân giới quản lí
89 xưởng, 12 công trường. Đến năm 1950, ngành công nghiệp quốc  phòng  có  150  nhà  máy,  công  xưởng  và  hàng  trăm  công trường hoặc tổ vũ khí, với 25.000 công nhân. Trong các xưởng quân  giới,  cán  bộ  và  công  nhân  nêu  cao  tinh  thần  tự  lực  tự cường, tự sáng chế được nhiều loại vũ khí và đạn dược. Chỉ tính
từ năm 1946 đến năm 1950, các xưởng quân giới từ Liên khu IV trở  ra  đã  sản  xuất  được  1.323  tấn  vũ  khí,  đạn  dược  các  loại; trong đó có kiểu súng cối các cỡ 60 mm, 120 mm, súng SKZ... Nhịp độ sản xuất trong các xưởng quân giới rất nhanh. Nếu như năm 1946, các xưởng sản xuất được 100 tấn vũ khí, đạn dược, thì năm 1947 là 707; năm 1948 là 1.044 và năm 1949 là 3.544.

Các ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp phục vụ dân sinh như dệt, giấy, diêm, xà phòng, đồ gốm, chè, đường... cũng được xây dựng và phát triển. Ở Bắc Bộ, nhiều tỉnh mở rộng diện tích trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ dệt vải, đáp ứng một phần nhu cầu về mặc cho bộ đội và nhân dân. Đặc biệt, Liên khu V đã tự túc gần như hoàn toàn nhu cầu về mặc cho bộ đội và nhân dân.
Ở Nam Bộ, các xưởng dệt thủ công bước đầu được thành lập. Những xưởng dệt lớn có tới vài trăm công nhân, chủ yếu may quần áo cho bộ đội; xưởng nhỏ có từ 50 đến 100 công nhân, sản xuất các loại vải phục vụ cho quốc phòng và nhân dân.

Trong kháng chiến, nghề giấy phát triển mạnh ở nhiều nơi do nhu cầu giấy rất lớn. Ở Trung ương có các cơ sở sản xuất giấy quy mô lớn đáng chú ý có Nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ, Nhà máy giấy Việt Nam, Xưởng sản xuất bột giấy Hoàn Kiếm... Đặc biệt, Nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ đã sản xuất được các loại giấy dó rất dai, dùng để in tem và cung cấp cho Bộ Tài chính in tiền.  Ở  mỗi  liên  khu  cũng  có  nhiều  xưởng  nhỏ,  sản  xuất  giấy cung cấp cho học sinh, các cơ quan, báo chí và xuất bản.

Nghề  làm  đường  cũng  phát  triển  khá  nhanh.  Năm  1948,  ở

118
 
Liên  khu  Việt  Bắc  chưa  có  cơ  sở  sản  xuất  đường,  nhưng  đến năm 1949 đã xây dựng được rất nhiều lò đường, mỗi năm sản xuất được 1.110 tạ.
Ở Nam Bộ có 233 lò sản xuất đường, cung cấp đủ nhu cầu của nhân dân trong vùng tự do.

Ngoài  các  ngành  dệt,  giấy,  đường,  các  nghề  làm xà phòng, muối,  nước  mắm,  đồ  dùng  thuỷ  tinh,  nông  cụ...  được  khuyến khích phát triển. Chính phủ không chỉ cho vay vốn, mà còn cử cán bộ kĩ thuật xuống các địa phương tìm hiểu tình hình và hỗ trợ kĩ thuật cho các cơ sở sản xuất, tạo điều kiện về nguyên, vật liệu và tiêu thụ sản phẩm.

Ngành  công  nghiệp  khai  khoáng  được  coi  trọng.  Ngay  từ những ngày đầu toàn quốc kháng chiến, một số mỏ ở vùng chiến khu do Pháp khai thác trước đây đã tiếp tục hoạt động trở lại. Các  mỏ  than  Phấn  Mễ  (Thái  Nguyên),  Minh  Khai  (Tuyên Quang),  Đầm  Bùn,  Khe  Bố  (Nghệ  An)  là  những  mỏ  đầu  tiên được coi là doanh nghiệp Nhà nước. Một số mỏ kim loại cũng được khai thác (mỏ thiếc Tĩnh Túc - Cao Bằng, mỏ ăngtimoan Tân  Trào  -  Tuyên  Quang,  mỏ  crôm  Thanh  Hoá,  vàng  Bồng Miêu - Quảng Nam...), v.v...

Logged
HUY_AK_47
Thành viên
*
Bài viết: 200



« Trả lời #38 vào lúc: 29 Tháng Mười, 2011, 01:30:18 pm »

Những cố gắng và kết quả đạt được của quân và dân ta trong xây dựng và phát triển kinh tế kháng chiến tự cấp tự túc là hết sức to lớn. Sản xuất nông nghiệp trong những năm 1948 - 1950 tuy  còn  gặp  nhiều  khó  khăn,  nhưng  được  Đảng  và  Chính  phủ quan tâm giúp đỡ về giống, vốn, cải tiến kĩ thuật, đẩy mạnh khai hoang phục hoá..., nên đã tạo được niềm tin của nhân dân đối với thắng lợi của kháng chiến. Các ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp đã sản xuất được nhiều mặt hàng phục vụ nhu cầu sinh hoạt của nhân dân. Nhiều mặt hàng trước kia phải mua trong vùng Pháp chiếm đóng, đến nay đã tự sản xuất được, làm thất  bại  âm  mưu  phong  toả  kinh  tế  của  thực  dân  Pháp.  Tuy nhiên,  tình  hình  nhiều  lúc,  nhiều  nơi  vẫn  còn  gặp  khó  khăn nghiêm trọng, nhất là ở những vùng núi xa xôi hẻo lánh, hoặc ở

119
 
những vùng có chiến sự ác liệt. Ở nhiều chiến trường (Việt Bắc, Tây Bắc, Bình - Trị - Thiên, Tây Nguyên...), đời sống nhân dân, bộ đội rất kham khổ, thiếu thốn. Nguyên, vật liệu bảo đảm cho sản  xuất  quốc  phòng  và  một  số  nhu  cầu  thiết  yếu  khác  ngày càng khan hiếm.
Để phục vụ cho nhu cầu chiến đấu và sản xuất, ngày 29-2-
1948, Chính phủ ra Sắc lệnh số 410/SL thành lập Cục Tiếp tế vận tải thuộc Bộ Kinh tế trên cơ sở sáp nhập Nha Tiếp tế với các cơ quan phân tán muối. Sau khi thành lập, Cục Tiếp tế vận tải tổ chức 2 chi nhánh ở Liên khu I và Liên khu X; dưới chi nhánh là các chi cục. Các tỉnh cũng thành lập những chi cục do Cục Tiếp
tế vận tải trực tiếp chỉ đạo. Ở Nam Bộ, do địa hình kênh rạch, việc giao thông vận tải khó khăn, lại bị quân Pháp phong toả gắt gao, nên ta chủ trương tất cả mọi lực lượng đều tham gia tiếp tế vận  tải; các lực  lượng  vũ  trang  phải  yểm trợ,  bảo  vệ  việc vận chuyển hàng hoá. Đến giữa năm 1949, Uỷ ban kháng chiến Nam Bộ  đã  thành lập  Ban  tiếp  tế  hàng  hải  để  vận chuyển  thóc  gạo cho các tỉnh Nam Trung Bộ và chuyển vũ khí, đạn dược, tài liệu sách báo về Nam Bộ.

Theo đà phát triển của kháng chiến, việc củng cố và mở rộng giao thông vận tải ngày càng có ý nghĩa quan trọng. Do đó, từ giữa năm 1948, việc khôi phục, sửa chữa đường sá bắt đầu được thực hiện và đẩy mạnh trong những năm sau. Riêng trong năm
1948, tính từ Quảng Bình trở ra, nhân dân ta đã sửa chữa được
5.006 km đường bộ, làm được 8.304 mét cầu 1  ở Liên khu IV, cùng với việc nạo vét các kênh đào, tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyên chở hàng hoá phục vụ các công binh xưởng miền núi và sự đi lại của nhân dân, ta xây dựng đoạn đường sắt La Khê - Đò Vàng dài 30 km, mở thêm gần 300 km đường xuyên sơn  2.  Ở  Liên  khu  V,  ngay  từ  đầu  năm  1948,  ta  bắt  đầu  khôi



1. Viện Sử học: Lịch sử Việt Nam... Sđd, tr. 339.

2.  Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Thắng lợi và bài học.
120
 
phục tuyến đường sắt từ An Tân (Tam Kì, Quảng Nam) đến La Hai (Đồng Xuân, Phú Yên) dài 300 km. Trên cả nước, một hệ thống giao thông thủy, bộ, đã dần dần hình thành, lúc chạy qua hậu phương, khi len lỏi qua vùng địch hậu.
Từ năm 1950, việc mở đường, sửa đường càng trở nên cấp thiết.

Đến  cuối  năm  1950,  các  lực  lượng  giao  thông  công  chính, công  binh,  thanh  niên  xung  phong  và  dân  công  đã  sửa  chữa xong 1 .046 km đường ô tô 173 km đường cho xe thô sơ... Liên khu Việt Bắc được Trung ương giao nhiệm vụ gấp rút sửa chữa những con đường lớn hướng ra biên giới.

Từ  phá  đường  để  cản  bước  tiến  quân  giặc  hồi  đầu  kháng chiến, đến nay lại mở đường để tiến công giặc, điều đó đã phản ánh bước phát triển đi lên của cuộc kháng chiến.

Cùng  với  nhiệm  vụ  sửa  chữa  và  làm  thêm  đường  phục  vụ mục đích quân sự, nhân dân ta còn sửa chữa và mở thêm nhiều đoạn đường phục vụ phát triển kinh tế. Đến năm 1950, các Liên khu  Việt  Bắc,  Liên  khu  III  và  Liên khu  IV  đã  sửa  chữa  được
4.327 km đường, đào đắp 105.533 m3 đất, sửa và làm lại 3.877
m  cầu.  Các  tuyến  đường  sắt  cũ  được  khôi  phục  và  đặt  thêm những  tuyến  đường  mới  ở  những  nơi  có  điều  kiện  thuận  lợi. Việc vận tải trên các tuyến đường thuỷ cũng được khai thác triệt để.

Trong chiến tranh, thông tin liên lạc giữ một vị trí đặc biệt quan trọng. Vì vậy, ngay từ đầu năm 1948, Trung ương Đảng quyết  định  sáp  nhập  Ban  phân  phối  tài  liệu  của  Tổng  bộ  Việt Minh  vào  Ban  giao  thông  liên  lạc  Trung  ương.  Các  Ban  giao thông ở các khu, tỉnh được bổ sung cán bộ từ huyện uỷ viên trở lên.


NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 1996, tr.156.


Logged
HUY_AK_47
Thành viên
*
Bài viết: 200



« Trả lời #39 vào lúc: 29 Tháng Mười, 2011, 01:30:40 pm »

Ngành  Bưu  điện  cũng  được  củng  cố.  Theo  chủ  trương  của Đảng và Chính phủ, các Nha Bưu điện Bắc Bộ, Bắc phần Trung Bộ  và  miền Nam được  bãi  bỏ  để thành lập các Liên khu Bưu điện.  Đến  tháng  5-1948,  Bộ  Giao  thông  công  chính  ra  quyết định hợp nhất Ban Giao thông liên lạc Trung ương với Bưu điện thành Nha Bưu điện Việt Nam.

Để  đáp  ứng  nhu  cầu  thông  tin  liên  lạc  ngày  càng  lớn,  theo quyết định của Hội nghị cán bộ giao thông Trung ương (27-5-
1949), ngành Bưu điện được chia thành hai bộ phận: Ban thư tín và Ban hoả tốc. Các đường thư hoả tốc từ Trung ương đến các liên  khu,  tỉnh,  huyện,  xã  trở  thành đường  thư  chủ  yếu  chuyển công  văn,  tài  liệu,  chủ  trương,  chính  sách  của  Đảng  và  Chính phủ đến khắp các vùng trong cả nước. Trên mặt trận văn hoá - giáo dục, cùng với việc xoá bỏ nền văn hoá, giáo dục nô dịch, ngu dân của chế độ thực dân - phong kiến, chúng ta tích cực xây dựng  nền  văn  hoá  -  giáo  dục  mới  theo  ba  tính  chất:  dân  tộc, khoa học, đại chúng. Mọi hoạt động văn hoá trong kháng chiến đều  hướng  theo  phương châm "kháng  chiến  hoá  văn  hoá,  văn hoá hoá kháng chiến".

Hội nghị Trung ương Đảng mở rộng ( 15- 17-1-1948) đã nêu
rõ nhiệm vụ của ngành văn hoá, giáo dục là: "Động viên văn hoá thực sự tham gia kháng chiến, ủng hộ kháng chiến, đào tạo nhân tài và cán bộ cung cấp cho các ngành kháng chiến" 1

Từ ngày 16 đến 20-7-1948, Hội nghị văn hoá toàn quốc lần thứ hai được triệu tập. Hội nghị đã thông qua bản báo cáo Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt Nam do Tổng Bí thư Trường Chinh trình bày. Báo cáo nêu rõ lập trường văn hoá Mác xít, tính chất và nhiệm vụ văn hoá dân tộc dân chủ; phê phán những khuynh hướng và quan điểm văn hoá thực dân, phong kiến, tư sản; xác định  thái  độ  đúng  đắn  của  những  người  làm  văn  hoá  kháng chiến. Tiếp đó, Hội Văn hoá Việt Nam được thành lập, tập hợp


1. Văn kiện quân sự của Đảng 1945 - 1950... Sđd, tr. 277.
122
 
đông đảo các nhà hoạt động văn hoá, văn nghệ, khoa học, giáo dục thành một mặt trận văn hoá kháng chiến.

Cuối tháng 2-1949, Đảng  tổ  chức Hội  nghị  cán bộ  văn hoá nhằm  đẩy  mạnh  hoạt  động  văn  hoá  kháng  chiến  và  xây  đựng văn hoá dân tộc, dân chủ nhân dân. Thông qua cuộc đấu tranh tư tưởng,  các  khuynh  hướng  văn  học  nghệ  thuật  thuần  tuý,  nghệ thuật  vị  nghệ  thuật  bị  phê  phán,  loại  trừ.  Nhiều  tác  phẩm  văn học gồm đủ các thể loại (tuỳ bút, kịch, thơ, truyện...) và nhiều bài  hát,  bản  nhạc  của  các  nhà  văn,  nhà  thơ,  nhạc  sĩ  nổi  tiếng được  sáng  tác  phục  vụ  kịp  thời  công  cuộc  kháng  chiến,  kiến quốc. Một nếp sống lành mạnh, có văn hoá được xây dựng và phát triển ở khắp các vùng tự do. Các tệ nạn xã hội về cơ bản bị xoá  bỏ.  Tình  trạng  lãng  phí  trong  hội  hè,  cúng  bái,  ma  chay, cưới xin giảm bớt khá nhiều.

Về giáo dục, phong trào bình dân học vụ tiếp tục mở rộng. Đến tháng 6-1950, cả nước có 10.000.000 người thoát nạn mù chữ; trong đó số đông được tiếp tục qua lớp dự bị để củng cố trình độ biết đọc, biết viết. Cùng thời gian này, cả nước có 10 tỉnh, 80 huyện, 1.424 xã, 7.248 thôn, bản đã hoàn thành thanh toán nạn mù chữ. Ở Nam Bộ, dù trong hoàn cảnh có nhiều khó khăn, nhưng cũng thanh toán xong nạn mù chữ ở 102 xã. Trong các vùng tự do Liên khu V, hầu như không có thanh niên nào là không biết chữ.

Ngành Giáo dục phổ thông phát triển khá nhanh chóng. Từ sau chiến thắng Việt Bắc thu - đông 1947, việc dạy và học trong các nhà trường đi dần vào thế ổn định. Từ ngày 10 đến ngày 15-
7-1948, Bộ Giáo dục triệu tập Hội nghị giáo dục toàn quốc tại Việt Bắc. Quan tâm đến sự nghiệp giáo dục, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho Hội nghị và chỉ rõ: Muốn xây dựng một nền giáo dục kháng chiến và kiến quốc, phải sửa đổi chương trình giáo  dục  cho  phù  hợp  với  yêu  cầu  kháng  chiến  và  kiến  quốc; phải biên soạn sách, sửa đổi cách dạy học, đào tạo cán bộ... Từ sau  Hội  nghị  này,  ngành  Giáo  dục  đã  có  những  bước  chuyển

123
 
biến về nội dung và phương pháp giảng dạy, học tập. Tháng 2-
1950, Bộ Giáo dục triệu tập Hội nghị trù bị về Đề án cải cách giáo dục. Tháng 7-1950, đề án này đã được Hội đồng Chính phủ thông  qua,  cho  thi  hành  hệ  thống  trường  phổ  thông  9  năm  và chương trình giảng dạy mới thay thế hệ thống trường phổ thông cũ  (12  năm).  Đây  là  cuộc  cải  cách  giáo  dục  lần  thứ  nhất,  xác định rõ bản chất, mục đích, nguyên tắc giáo dục và mục tiêu đào tạo của nhà trường phổ thông là giáo dục thế hệ trẻ thành những công dân lao động tương lai có đủ phẩm chất, năng lực phục vụ kháng chiến, kiến quốc. Số giáo viên và học sinh phổ thông tăng lên rõ rệt. Năm 1945, cả nước có 290.161 học sinh và 3.629 giáo viên; đến năm 1950 đã tăng lên 439.130 học sinh và 11.162 giáo viên.

Một số trường đại học và trung học chuyên nghiệp cũng được xây dựng như Đại học Y - Dược (1947), Cao đẳng Giao thông - Công chính (1948), Trung học Giao thông (1948), Trung học Sư phạm (1950).

Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM