Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 05 Tháng Sáu, 2020, 04:57:37 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Việt Nam 1945-2000  (Đọc 35482 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
HUY_AK_47
Thành viên
*
Bài viết: 200



« Trả lời #50 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2011, 11:36:06 am »

Cùng với việc củng cố bộ máy ngụy quyền, thực dân Pháp và tay sai còn tập hợp và tranh thủ các đảng phái phản động; đồng thời tổ chức thêm nhiều đoàn thể tổ chức chính trị lừa bịp như "Thanh  niên  kháng  chiến  hải  ngoại",  "Thanh  niên  lao  động", "Thanh  niên  diệt  cộng",  "Đoàn  thanh  niên  kiến  quốc"...  để  lôi kéo quần chúng, phá hoại kháng chiến. Chúng dùng bọn cha cố phản động nắm giáo dân, bắt phu, bắt lính, phá hoại việc thực hiện các chính sách của ta, nhất là ở những vùng tập trung đồng bào công giáo.

Ở vùng Tây Nguyên, thực dân Pháp nham hiểm và xảo quyệt đẩy  mạnh  việc  thực  hiện  "ba  chính  sách  lớn"  (chính  sách  có mặt; chính sách muối, kí ninh, dụng cụ và chính sách không can thiệp)  để  khống  chế  nhân  dân  các  dân  tộc  vùng  Tây  Nguyên. Thông qua bộ máy cai trị từ tỉnh xuống buôn làng, qua các cuộc hành quân và nhất là bằng chính sách độc quyền nắm và phân phát muối, thuốc chữa bệnh, công cụ sản xuất, thực dân Pháp ra sức kìm kẹp nhân dân, buộc họ phải theo chúng chống lại kháng chiến.
Trong  các  vùng  tạm  chiếm,  với  việc  đẩy  mạnh  thực  hiện chính  sách  "Lấy  chiến  tranh  nuôi  chiến  tranh"  của  thực  dân Pháp, nhân dân ta phải đóng góp rất nặng nề. Ở Bắc Bộ, ngoài việc tăng các loại thuế, thực dân Pháp đặt ra nhiều thứ thuế mới: thuế đò, thuế bến, thuế nhà ngói dọc đường, thuế binh bị quốc phòng...  Chúng  còn  triệt  để  thi  hành  chính  sách  "tam  quang" (cướp sạch, đất sạch, phá sạch), hòng triệt phá nguồn cung cấp cho kháng chiến. Tháng 3-1951, ở Bắc Bộ, thực dân Pháp mở chiến dịch cướp phá thóc lúa. Chúng ra lệnh binh lính phải theo dõi từng bước việc gặt hái của nông dân, kiểm soát chặt chẽ các chợ và đường giao thông, bắt nông dân phải tập trung thóc gạo bán  cho  nhà  chức  trách. Mỗi  khi  càn  quét,  chúng  ra  sức cướp phá; không lấy được hết, chúng đổ thóc gạo xuống sông, ao, hồ.
Ở một số nơi, chúng bắt dân tập trung thóc gạo lên đồn rồi phát
ăn từng ngày, cho quân "gặt cướp" ở các vùng giáp ranh.


141
 
Ở vùng Bình - Trị - Thiên, thực dân Pháp liên tiếp tiến hành các "trận phá lúa", các "chiến dịch vét thóc gạo". Tại Liên khu V, địch tiến hành cuộc "chiến tranh gạo" rất gay gắt hòng bao vây lương thực vùng tự do. Tại Nam Trung Bộ, địch càn quét dữ dội vùng đồng bằng tạm chiếm ven biển, nhất là ở Ninh Thuận, Khánh Hoà để vơ vét thóc gạo. Hàng ngàn dân bị dồn vào các "khu chiêu an", "khu tập trung". Nhiều cơ sở kháng chiến bị vỡ. Hệ thống đồn lốt tháp canh của địch trước đây bố trí theo tuyến, nay chuyển sang bố từ theo diện. Phong trào kháng chiến ở Liên khu  V,  nhất  là  ở  vùng  tạm  chiếm  đứng  trước  nhiều  khó  khăn gay  gắt.  Lúc  này  ta  chỉ  nắm  được  9.000  trên  tổng  số  180.000 dân  ở  Khánh  Hoà,  10.000  trên  12.000  dân  ở  Ninh  Thuận  và
40.000  trên  950.000  dân  ở  Bình  Thuận  1.  Hầu  hết  thóc  gạo, lương thực trong vùng tạm chiếm đều bị giặc Pháp chiếm đoạt, làm cho nạn đói trở nên trầm trọng. Ở Nam Bộ, thực dân Pháp kiểm soát  được  phần  lớn  mạng  lưới  giao  thông,  nên  càng  đẩy mạnh “chiến tranh kinh tế”. Chúng thường xuyên cho tàu chiến tiến  sâu  vào các  sông  và  kênh  rạch,  bắn  phá  bừa  bãi  các  làng xóm ven sông, gây cho nhân dân ta nhiều tổn thất về người và cửa.
Logged
HUY_AK_47
Thành viên
*
Bài viết: 200



« Trả lời #51 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2011, 11:36:30 am »

Dựa vào viện trợ của Mĩ, thực dân Pháp đẩy nhanh việc xây dựng quân đội ngụy, hoàn chỉnh hệ thống vành đai phòng thủ bao quanh đồng bằng và trung du Bắc Bộ.

Tháng  5-1951,  Bộ  Quốc  phòng  ngụy  được  tổ  chức  lại,  đặt bên cạnh cơ quan cố vấn Pháp do tướng Đờ Latua (De Latour) phụ trách. Từ sau khi Bảo Đại kí đạo dụ "tổng động viên" (15-7-
1951), giặc Pháp và ngụy quyền tay sai ráo riết thực hiện dồn dân, bắt lính. Kết hợp với biện pháp vây bắt, cưỡng bức, chúng dùng nhiều thủ đoạn dụ dỗ, mua chuộc, lôi kéo thanh niên vào lính. Bằng những thủ đoạn này, trong đợt tổng động viên, địch đã bắt được 6 vạn người vào lính và tốp sĩ quan người Việt đầu


1. Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam: Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp…Tập 2, Sđd, tr.112
142
 
tiên được tập trung huấn luyện, làm nòng cốt xây dựng "quân đội quốc gia". Sau sáu tháng kể từ khi ban hành lệnh "tổng động viên", "quân dội quốc gia" đã có 45 tiểu đoàn, tăng 24 tiểu đoàn
so  với  đầu  năm  1951,  trong  đó  có  28  tiểu  đoàn  được  tổ  chức thành 4 sư đoàn bộ binh. Các sư đoàn này đều do sĩ quan Pháp chỉ huy và chịu sự chỉ huy hành quân của các bộ chỉ huy quân sự các miền của Pháp.

Một số cơ quan và đơn vị binh chủng được tổ chức, như công binh,  pháo  binh,  nha  quân  cụ,  toà  án  quân  sự,  hiến  binh  quốc gia... Các trường huấn luyện sĩ quan cũng được chấn chỉnh lại. Trường võ bị liên quân ở Huế chuyển vào Đà Lạt. Một trường võ bị đào tạo sĩ quan trù bị được mở tại Nam Định. Các sĩ quan trù bị sau khi huấn luyện được đưa về các đơn vị tiểu đoàn Việt Nam  (BVN),  thay  thế  các  sĩ  quan  người  Pháp.  Một  số  trường đào tạo hạ sĩ quan và chỉ huy chuyên môn cũng được mở.

Song song với việc xây dựng và phát triển lực lượng chính quy,  Pháp  và  tay  sai  cũng  chú  ý  chấn  chỉnh  và  tăng  cường  tổ chức quân sự. Ở các địa phương. Ở tỉnh, thường có một đại đội bảo chính đoàn, đặt bên cạnh tiểu đội quân Liên hiệp Pháp. Ở quận,  có  từ  một  đến  hai  trung  đội  do  quận  trưởng  chỉ  huy.  Ở tổng,  tổng  dũng  nắm  các  đội  hương  dũng,  các  đội  vũ  trang  ở thôn  ấp.  Tất  cả  các  lực  lượng  này  vẫn  phải  đặt  dưới  sự  điều khiển của cơ quan chỉ huy quân sự của Pháp ở địa phương.

Lực lượng ngụy quân mới xây dựng chủ yếu làm nhiệm vụ chiếm đóng, thay thế cho lực lượng quân viễn chinh rút ra làm nhiệm vụ tác chiến. Nhờ đó, thực dân Pháp đã rút được một bộ phận quân tinh nhuệ tổ chức thành các binh đoàn cơ động làm nhiệm vụ tác chiến trên các chiến trường. Đến tháng 10-1951, trên  toàn  Đông  Dương,  Pháp  đã  tổ  chức  được  7  binh  đoàn  cơ động (GM) và 9 tiểu đoàn dù dự bị chiến lược, nâng lực lượng cơ động chiến lược lên gấp ba lần so với năm 1950. Mặc dù vậy, để đối phó với chiến tranh du kích phát triển ngày càng mạnh mẽ ở vùng sau lưng địch và giữ đất ở vùng đồng bằng đông dân,

143
 
nhiều  của,  thực  dân  Pháp  vẫn  phải  dành  phần lớn  binh  lực  để làm  nhiệm  vụ  chiếm  đóng.  Năm  1951,  lực  lượng  chiếm  đóng tăng  từ  77  tiểu  đoàn  lên  109  tiểu đoàn  chính  quy,  chiếm 67% tổng số quân toàn Đông Dương.

Coi  chiến  trường  Bắc  Bộ  là  "cái  then  cửa  của  vùng  Đông Nam Á", thực dân Pháp bố trí ở chiến trường này một binh lực khá  lớn:  54%  lực  lượng  pháo  binh  và  lính  dù,  50%  lực  lượng pháo binh, 42% cơ giới thiết giáp, 71 % lực lượng công binh 1.

Tại Bắc Bộ, Pháp tiếp tục xây dựng tuyến phòng thủ mạnh gồm hệ thống công sự bằng bê tông cốt thép (boongke) gồm 800
lô cột lập thành hàng chục cứ điểm lớn, nhỏ do 25 tiểu đoàn lính Âu - Phi tinh nhuệ chiếm đóng, kéo dài từ Hòn Gai, Đông Triều, Lục Nam, Bắc Giang, Bắc Ninh, qua Vĩnh Phúc, Sơn Tây, Hà Đông, đến Ninh Bình. Ở vòng ngoài, song song với phòng tuyến boongke là một "vành đai trắng" có chiều rộng từ 5 - 10 km.

Trên  khắp  chiến  trường  từ  Nam  đến  Bắc,  quân  địch  đẩy mạnh bình định ở những vùng chúng kiểm soát. Chúng liên tiếp mở các chiến dịch càn quét với quy mô lớn. Ở Hà Nam, Nam Định,  Ninh  Bình,  dựa  vào  tổ  chức  ngụy  quyền  và  lực  lượng phản  động  trong  các  giáo  phái,  địch  mở  các  cuộc  hành  quân "diệt  du,  quét  cán,  càn  thanh"  (diệt  du  kích,  quét  cán  bộ,  càn thanh niên), đồng thời đánh phá vùng du kích của ta.

Ở vùng biển Hải Phòng, Kiến An, địch khẩn trương xây dựng thêm nhiều công sự boongke kiểu mới, mở rộng sân bay Cát Bi nhằm biến khu vực Hải Phòng - Kiến An - Đồ Sơn - Quảng Yên thành "pháo đài mạnh ven biển". Chúng thay đổi chỉ huy và càn quét dữ dội, đánh phá các cơ sở của ta.
Logged
HUY_AK_47
Thành viên
*
Bài viết: 200



« Trả lời #52 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2011, 11:36:51 am »

Tại Nam Sách (Hải Dương), ngụy quyền tổ chức thí điểm đội
"quân  thứ  hành  chính  lưu  động"  (GAMO),  một  tổ  chức  hành



1. Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam: Lịch sử cuộc kháng chiến chống
thực dân Pháp 1945 - 1954. Tập 2... Sđd, tr. 92.
144
 
chính  -  chính  trị  -  quân  sự  chuyên  làm  nhiệm  vụ  bình  định, thành  phần  gồm  sĩ  quan,  binh  lính,  gián  điệp,  chỉ  điểm,  nhân viên hành chính, y tế giáo đục, văn hoá... Thông qua đội quân này,  chúng  truy  quét  cơ  sở  kháng  chiến,  lập  lại  ngụy  quyền, dùng mọi thủ đoạn mua chuộc, lôi kéo quần chúng.

Ở Thái Bình, Hà Nam, Hà Đông... địch ráo riết thực hiện thủ đoạn  "chiêu  an".  Chúng  thành  lập  các  tổ  chức  cứu  tế  xã  hội", "trại hồi cư”, "hội giúp đỡ đồng bào hồi cư” nhằm mua chuộc, lôi kéo cán bộ và nhân dân ở vùng tự do về vùng tạm chiếm. Chúng dồn dân vào các khu tập trung gọi là "đại xã" để dễ dàng kìm kẹp, khống chế nhân dân và cô lập lực lượng kháng chiến.

Tại vùng đồng bằng Nam Trung Bộ, Pháp phát triển đồn bốt, tháp  canh,  kết  hợp  quân  ứng  chiến  với  quân  chiếm  đóng;  rào làng, dồn dân, tập trung lúa của dân vào đồn, phát triển tề điệp để khống chế và kiểm soát dân. Ở vùng chiếm đóng Bắc Quảng Nam, đầu năm 1950 có 125 tháp canh, đến cuối năm tăng lên
174; ở Khánh Hoà, năm 1951 địch đóng 109 đồn và 213 tháp canh, lùa dân vùng này đi gặt lúa vùng khác đưa về đồn, tối bắt dân ngủ ở đồn. Ở Ninh Thuận, địch bắt dân rào hết các làng 1.

Đối với Tây Nguyên, để nắm được địa bàn chiến lược quan trọng này, từ tháng 2-1951, thực dân Pháp đã tách Tây Nguyên khỏi Trung phần, thành lập khu độc lập trực thuộc Bộ Tổng chỉ huy  quân  viễn  chinh.  Tại  đây,  chúng  thành  lập  các  trung  đội "xung kích xuyên sơn”, các tiểu đoàn sơn chiến gồm người dân tộc ít người để tác chiến ở vùng núi. Ngoài ra, chúng còn thực hiện một thủ đoạn mới rất thâm độc là phát triển các ổ vũ trang phản động ở các địa phương, gọi là Gum để biến dần người dân bình thường thành người lính chống lại kháng chiến.

Tại Nam Bộ, cùng với chính sách kìm kẹp và cướp đoạt, thực



1.  Nam Trung Bộ kháng chiến 1945 - 1975. NXB Chính trị quốc gia.
Hà Nội 1995, tr. 146.
145
 
dân Pháp và tay sai ra sức lợi dụng các tôn giáo để mê hoặc và lôi kéo quần chúng chống lại kháng chiến. Chúng thành lập các đội quân giáo phái và chuyển giao cho Bộ tham mưu ngụy chỉ huy để sử dụng vào kế hoạch bình định, càn quét. Bằng nhiều thủ đoạn nham hiểm và tàn bạo, đến cuối năm 1951, thực dân Pháp đã bắt hàng vạn thanh niên, có cả thiếu niên 14 - 15 tuổi, vào lính. Trong các thành phố lớn, địch cũng ráo riết bình định.
Ở Hà Nội, từ tháng 7-1951, tiếp theo những cuộc vây càn lớn, địch chuyển sang đánh phá sâu vào các tổ chức của ta. Chúng cài cắm tay chân vào các đoàn thể, các cơ sở kháng chiến của ta để  hoạt  động  phá  hoại.  Một  số  đơn  vị  bảo  chính  đoàn  được chúng điều động trở lại đóng bốt để làm chỗ dựa cho bọn tay sai lập hội tề, bảo an: ở thành phố Hải Phòng, ngoài hàng ngàn lính cơ động, còn có cả một hệ thống cảnh sát, mật vụ, chỉ điểm cài cắm khắp các ngõ phố, nhà máy , bến cảng . . .
Logged
HUY_AK_47
Thành viên
*
Bài viết: 200



« Trả lời #53 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2011, 11:37:12 am »

Thực dân Pháp còn huy động lực lượng cơ động mở các cuộc càn lớn để tiêu diệt lực lượng vũ trang của ta, phá nát các làng chiến đấu và căn cứ du kích dập tắt phong trào chiến tranh du kích đang ngày một lan rộng ở khắp các tỉnh thuộc đồng bằng Bắc Bộ. Kế hoạch Đờ Lát đờ Tátxinhi đã gây cho ta nhiều khó khăn mới, nhất là ở vùng sau lưng địch. Tại một số vùng, nhiều làng xóm bị tàn phá, cơ sở kháng chiến bị tổn thất, phong trào đấu tranh của nhân dân bị giảm sút. Chỉ riêng cuộc càn quét của địch  vào  đầu  tháng  10-1951,  chúng  đã  chiếm  lại  khu  vực  ba huyện Tiên Hưng - Duyên Hà - Hưng Nhân, với 363 làng, gồm
280.000 dân. Căn cứ du kích liên hoàn ba huyện ở phía bắc tỉnh
Thái Bình trở thành vùng tạm chiếm.

Tình hình trên đòi hỏi phải tăng cường vai trò lãnh đạo của
Đảng đối với mọi mặt hoạt động của kháng chiến.

III- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thử II của Đảng Cộng sản
Đông Dương (2-1951)
Bước vào những năm 50 của thế kỉ XX, tình hình thế giới và

146
 
trong nước có nhiều chuyển biến lớn. Hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa đã được củng cố và tăng cường về mọi mặt. Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV) - thành lập từ tháng 1-1949, với mục tiêu phối hợp hoạt động kinh tế để củng cố và phát triển sự hợp tác giữa các nước, phát triển một cách có kế hoạch nền kinh tế quốc dân và nâng cao đời sống nhân dân - ngày càng có nhiều nước tham gia.

Ở  các  nước  thuộc  địa  và  nửa  thuộc  địa,  cơn  bão  táp  cách mạng tiếp tục phát triển, từ Đông Nam Á sang Trung Đông và châu Phi. Phong trào bảo vệ hoà bình thế giới trở thành phong trào quần chúng rộng rãi. Từ ngày 16 đến ngày 22-11-1950, Đại hội hoà bình thế giới lần thứ hai được tổ chức tại Vácsava, với sự tham gia của hơn 2.000 đại biểu thuộc 81 nước. Đại hội đã thông qua Lời hiệu triệu gửi nhân dân toàn thế giới, đòi chấm dứt chiến tranh ở Triều Tiên,
Việt Nam..., đòi cấm chế tạo và sử dụng bom nguyên tử, đòi giải trừ quân bị... Đại hội cũng quyết định thành lập Hội đồng hoà bình thế giới, gồm đại biểu của tất cả các dân tộc.

Ở  trong  nước,  sau  gần  16  năm  kể  từ  Đại  hội  lần  thứ  I  của Đảng (3-1935), tình hình đã có nhiều chuyển biến rất căn bản. Qua  hơn  5  năm  chiến  đấu,  lực  lượng  kháng  chiến  đã  lớn  lên nhiều về mọi mặt, nhất là về quân sự. Từ sau chiến thắng Biên giới  thu  -  đông  1950,  cuộc  kháng  chiến  chống  Pháp  của  nhân dân  ta  phát  triển  sang  thời  kì  mới.  Hậu  phương  kháng  chiến được nối liền với phe xã hội chủ nghĩa. Cuộc kháng chiến của nhân  dân  hai  nước  bạn  Lào  và  Campuchia  cũng  giành  được những thắng lợi có ý nghĩa chiến lược.

Tuy  nhiên,  cuộc  kháng  chiến  của  ta  lúc  này  gặp  nhiều  khó khăn mới do âm mưu của đế quốc Pháp, Mĩ .

Tình hình trên đòi hỏi cuộc kháng chiến phải tăng cường hơn nữa tính chất toàn diện và sự lãnh đạo của Đảng.

Mặt khác, từ sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, Đảng

147
 
ta  trở  thành  Đảng  cầm  quyền.  Nhưng  do  hoàn  cảnh  vô  cùng phức tạp và để giữ vững khối đoàn kết, Đảng ta tuyên bố tự giải tán, thực chất là rút vào hoạt động bí mật. Điều này ảnh hưởng đến  vai  trò  lãnh  đạo  của  Đảng  Yêu  cầu  phát  triển  của  cuộc kháng chiến đòi hỏi phải có sự lãnh đạo công khai của Đảng.
Logged
HUY_AK_47
Thành viên
*
Bài viết: 200



« Trả lời #54 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2011, 11:37:48 am »

Xuất phát từ những lí do trên, Đảng Cộng sản Đông Dương triệu  tập  Đại  hội  đại  biểu  toàn  quốc  lần  thứ  II  (tại  xã  Vinh Quang, huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang), từ ngày 11 đến ngày 19-2-1951. Tham dự Đại hội có 158 đại biểu chính thức và
53 đại biểu dự khuyết, thay mặt cho hơn 76 vạn đảng viên trong cả nước.

Sau bài Diễn văn khai mạc của Tôn Đức Thắng, Đại hội đã thảo luận Báo cáo chính trị của Hồ Chí Minh, Báo cáo Bàn về cách mạng Việt Nam của Trường Chinh, báo cáo về Tổ chức và Điều lệ Đảng, các báo cáo bổ sung về mặt trận dân tộc thống nhất, chính quyền dân chủ nhân dân, quân đội nhân dân, kinh tế tài chính...
Báo cáo chính trị đã khẳng định những thắng lợi to lớn của cách mạng, bài học kinh nghiệm về sự lãnh đạo của Đảng qua các  thời  kì  vận  động  cách  mạng;  khẳng  định  đường  lối,  chính sách đúng đắn của Đảng; cán bộ, đảng viên của Đảng là những chiến sĩ dũng cảm, tận tụy hi sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc.  Báo  cáo  cũng  nghiêm  khắc  vạch  rõ  những  khuyết  điểm trong cán bộ, đảng viên, đó là việc học tập chủ nghĩa Mác - Lê nin còn yếu, tư tưởng chưa vững vàng, lề lối làm việc còn quan liêu,  mệnh  lệnh,  hẹp  hòi,  công  thần...  Trên  cơ  sở  đó  Báo  cáo chính trị nêu nhiệm vụ chủ yếu trước mắt của cách mạng Việt Nam là "Tiêu diệt thực dân Pháp và đánh bại bọn can thiệp Mĩ, giành thống nhất độc lập hoàn toàn, bảo vệ hoà bình thế giới". Để thực hiện những nhiệm vụ chủ yếu đó, phải động viên tinh thần yêu nước, ra sức thi đua ái quốc, đẩy mạnh xây dựng lực lượng vũ trang và các đoàn thể quần chúng, tăng cường mặt trận đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế, thực hiện chính sách ruộng

148
 
đất.

Báo cáo Bàn về cách mạng Việt Nam trình bày toàn bộ đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên chủ nghĩa xã hội  ở  Việt  Nam;  phân  tích  tính  chất  xã  hội  Việt  Nam  từ  sau Cách mạng thảng Tám là "phức tạp và phát triển không đều, có tính chất dân chủ nhân dân, một phần thuộc địa và nửa phong kiến..." 1. Trong xã hội nổi lên mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với bọn đế quốc xâm lược, mâu thuẫn giữa số đông nhân dân với giai cấp địa chủ phong kiến, mâu thuẫn giữa lao động với tư bản trong nước. Mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với đế quốc xâm lược là mâu thuẫn chính. Kẻ thù chủ yếu trước mắt  của  cách  mạng  Việt  Nam là  chủ  nghĩa  đế  quốc  xâm  lược (thực dân Pháp và can thiệp Mỉ và bọn bù nhìn Việt gian bán nước, đại biểu quyền lợi cho đại địa chủ phong kiến và tư sản mại bản. Do đó, nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Việt Nam "là tiêu diệt bọn đế  quốc xâm lược, đánh đổ bọn bù nhìn Việt gian phản nước, làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập và thống nhất, xóa bỏ những tàn tích phong kiến và nửa phong kiến, làm cho người  cày  có  ruộng;  phát  triển  chế  độ  dân  chủ  nhân  dân,  gây mầm mống cho chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam" 2. Bản báo cáo phân  tích  mối  quan  hệ  giữa  hai  nhiệm  vụ  phản  đế  và  phản phong, khẳng định lực lượng cách mạng ở Việt Nam "là giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, giai cấp tiểu tư sản, rồi đến giai cấp tư sản dân tộc; ngoài ra là những phần tử cá biệt xuất thân từ giai cấp địa chủ (phần nhiều là tiểu địa chủ) đang đi với nhân dân, được gọi là nhân sĩ dân chủ và thân sĩ yêu nước..."3.

Đại hội đề ra những chính sách cơ bản về công tác xây dựng



1.  Bàn về cách mạng Việt Nam: Xem: Trường Chinh tuyển tập 1937 -
1954. NXB Sự thật, Hà Nội, 1987, tr. 456, 459, 469.

2.2.   Bàn  về  cách  mạng  Việt  Nam.  Xem:  Trường  Chinh  Tuyển  tập
1937 - 1954. NXB Sự thật, Hà Nội, 1987, tr. 456, 459, 469.


149
 
và củng cố chính quyền, tăng cường quân đội, mở rộng mặt trận đoàn  kết  dân  tộc  và  đoàn  kết  quốc  tế,  phát  triển  kinh  tế  -  tài chính, văn hoá - giáo dục... nhằm đẩy mạnh kháng chiến toàn diện.

Xuất phát từ tình hình cụ thể và yêu cầu cách mạng của ba nước  Đông  Dương,  Đại  hội  quyết  định  thành  lập  ở  mỗi  nước một Đảng Mác - Lê nin riêng biệt, có cương lĩnh thích hợp với đặc điểm phát triển của từng dân tộc.

Logged
HUY_AK_47
Thành viên
*
Bài viết: 200



« Trả lời #55 vào lúc: 30 Tháng Mười, 2011, 11:39:22 am »

Đại hội quyết định đưa Đảng ra hoạt động công khai với tên mới là Đảng Lao động Việt Nam. Đảng có nhiệm vụ lãnh đạo cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam, giúp đỡ và phối hợp với  các  Đảng  cách  mạng  vào  và  Campuchia,  đưa  sự  nghiệp kháng chiến của ba dân tộc anh em trên bán đảo Đông Dương giành thắng lợi hoàn toàn.

Đại  hội  thông  qua  Tuyên  ngôn,  Chính  cương,  Điều  lệ  mới của Đảng; quyết định xuất bản báo Nhân dân làm cơ quan ngôn luận của Đảng.

Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Trung ương Đảng gồm 19 uỷ viên chính thức và 10 uỷ viên dự khuyết. Bộ Chính trị gồm 7 uỷ viên chính thức và 1 uỷ viên dự khuyết 1. Hồ Chí Minh được bầu giữ chức Chủ tịch Đảng và Trường Chinh được bầu lại làm Tổng Bí thư của Đảng. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ hai được tiến hành trong lúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta có nhiều chuyển biến mới. Đại hội đã tổng kết  những  kinh  nghiệm  vận  động  cách  mạng  của  Đảng,  đồng thời nêu rõ những nhiệm vụ trước mắt của toàn Đảng, toàn dân
và toàn quân, góp phần thúc đẩy cuộc kháng chiến đi tới thắng lợi. Đại hội được gọi là Đại hội kháng chiến thắng lợi .




1.  Bộ Chính trị gồm Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn, Hoàng Quốc
Việt, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Chí Thanh và 1 uỷ viên dự
khuyết là Lê Văn Lương.
150
 
IV-  Xây  dựng  và  củng  cố  hậu  phương  kháng  chiến  về  mọi mặt

Hậu  phương  có  vai  trò  đặc  biệt  quan  trọng,  là  một  trong những nhân tố thường xuyên có tính chất quyết định thắng lợi của chiến tranh. Nhận thức rõ tầm quan trọng của hậu phương, Đảng  ta  sớm  đề  ra  đường  lối,  chủ  trương,  chính  sách  về  xây dựng hậu phương vững mạnh toàn diện.

Hậu  phương  chiến  tranh  nhân  dân  là  một  hệ  thống  căn  cứ, bao gồm các cơ sở chính trị ở thành thị và nông thôn, các khu du kích và căn cứ du kích trong vùng tạm bị địch chiếm; các vùng
tự do rộng lớn nằm trên khắp lãnh thổ đất nước.

Trải qua 5 năm kháng chiến, hậu phương căn cứ địa được mở rộng.  Ngoài  vùng  tự  do  liên  hoàn  nối  thông  từ  Liên  khu  Việt Bắc xuống Liên khu III vào Liên khu IV, còn có vùng tự do gồm nửa tỉnh Quảng Nam và các tỉnh Quảng Ngài, Bình Định, Phú Yên cùng với các khu căn cứ Ba Tơ, Trà Bồng, Di Lăng, Minh Long, Bắc Ái, Sơn Hà tạo thành hậu phương trực tiếp của chiến trường  Liên  khu  V  và  một  phần  Nam  Bộ.  Các  chiến  khu  Đ, Đồng Tháp, Dương Minh Châu, U Minh của Nam Bộ vẫn được giữ vững.
Ở vùng tự do, nơi có những điều kiện thuận lợi, nhân dân ta đã xây dựng chế độ mới, phù hợp với bước đi của cách mạng nước ta. Chế độ mới được xây dựng trên tất cả các mặt: kinh tế, chính  trị,  văn  hoá,  xã  hội;  cả  về  cơ  sở  vật  chất  và  ý  thức  tư tưởng. Đây chính là nhân tố cơ bản tạo nên sức mạnh của hậu phương kháng chiến.
Về kinh tế:

Kháng chiến càng kéo dài, càng trở nên quyết liệt, nhu cầu cung cấp cho mặt trận quân sự ngày càng lớn. Những thắng lợi giành được trên lĩnh vực kinh tế trong những năm 1948 - 1950 tuy to lớn, nhưng cũng chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu ngày càng cao của cuộc kháng chiến.
151
 
Từ  năm  1950,  các  chiến  dịch  đánh  vận  động  ngày  càng nhiều; do đó nhu cầu cung cấp cho kháng chiến tăng lên gấp bội. Riêng trong chiến dịch Biên giới, để bảo đảm chiến đấu cho gần
30.000 người tham gia, ta đã phải chuẩn bị 2.250 tấn lương thực,
190 tấn súng đạn, 660 tấn các loại thực phẩm, quân trang, quân dụng  và  huy  động  hơn  120.000  dân  công  (tương  đương  với
1.700.000 ngày công). Trừ 100 tấn lương thực, thực phẩm huy động tại chỗ, còn toàn bộ phải huy động dân công kết hợp với bộ đội vận tải bằng ô tô và một số xe thô sơ vận chuyển từ hậu phương tới .

Trong khi đó, kinh tế, tài chính của chúng ta còn gặp nhiều khó  khăn  (năm  1950  tổng  số  thu  chỉ  bằng  23%  tổng  số  chi). Nước ta bị chia cắt thành nhiều vùng; nền kinh tế trong căn cứ địa Việt Bắc rất thấp kém, rừng núi chiếm nhiều, đất canh tác ít, lại bị địch bao vây, phong toả, phá hoại.

Việc tổ chức và chính sách kinh tế, tài chính của ta còn mang nặng tính du kích, chưa có sự quản lí thống nhất. Do vậy, nhân dân tuy hăng hái đóng góp cho kháng chiến, nhưng tiền của còn rải rác ở các địa phương. Phần thu của Nhà nước không đảm bảo cho số chi ngày càng tăng của cuộc kháng chiến.
Logged
HUY_AK_47
Thành viên
*
Bài viết: 200



« Trả lời #56 vào lúc: 03 Tháng Mười Một, 2011, 09:50:06 am »

Năm 1951, sản xuất nông nghiệp gặp khó khăn nghiêm trọng. Thiên tai lũ lụt xảy ra làm cho mùa màng ở nhiều nơi bị thiệt hại nặng. Riêng tỉnh Nghệ An bị thiệt hại từ 20 đến 40% hoa màu; Hà Tĩnh hư hỏng 80% diện tích khoai lang, 40% diện tích lúa,
1.000 tấn muối bị ngập nước. Bình - Trị - Thiên gần như bị mất toàn bộ diện tích lúa và hoa màu, giặc Pháp lại ra sức tàn phá; riêng trong một trận càn ở huyện Phong Điền, chúng bắn chết một lúc 300 con trâu, bò... Ở Liên khu V, do hạn hán kéo dài và một số công trình thuỷ lợi bị địch phá hoại, nên sản lượng lương thực giảm sút. Nạn đói đe doạ cả bốn tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên...

Vấn đề thiếu lương thực trước đây hầu như chỉ đặt ra đối với
Việt Bắc, lúc này trở thành khó khăn chung của cả nước.
152
 
Tình hình trên đòi hỏi phải có sự chuyển hướng mạnh mẽ về kinh tế tài chính. Đảng và Nhà nước đã có những chủ trương, chính sách và biện pháp mới toàn diện và có hiệu quả. Với tư tưởng chỉ đạo Tất cả để chiến thắng, Đảng đề ra nhiệm vụ phát triển  kinh  tế  nhằm  đảm  bảo  cung  cấp  cho  nhu  cầu  của  cuộc kháng  chiến  và  phá  tan  âm  mưu  lấy  chiến  tranh  nuôi  chiến tranh của địch.

Để  phát  triển  tiềm  lực  kháng  chiến,  Hội  nghị  Trung  ương Đảng lần thứ 1 (3-1951) xác định phương hướng cụ thể: muốn kháng chiến trường kì phải luôn luôn tăng cường tiềm lực kinh tế,  tài  chính;  phải  cơi  kinh  tế,  tài  chính  là  nhiệm  vụ  rất  quan trọng; các cấp phải tăng cường lãnh đạo kinh tế, chính sách kinh
tế là tăng gia sản xuất, chính sách tài chính là tăng thu giảm chi, giúp đỡ tư sản dân tộc kinh doanh và gọi vốn tư nhân để phát triển  công  thương  nghiệp,  phát  triển  công  thương,  mở  mang mậu dịch với nước bạn...

Tháng 4-1951, Hội đồng Chính phủ mở cuộc vận động Thi đua  sản  xuất,  lập  công  nhằm  phục  vụ  nhu  cầu  kháng  chiến. Chính  phủ  quyết  định  thành  lập  và  kiện  toàn  các  cơ  quan  chỉ đạo  kinh  tế  như  Khuyến  nông,  Khai  hoang,  Tín  dụng,  Lâm chính, Địa chính, Thuỷ nông...

Hưởng  ứng  cuộc  vận  động  Thi  đua  sản  xuất,  lập  công,  cả nước dấy lên phong trào thi đua lao động sản xuất rất sôi nổi. Diện tích trồng cây lương thực và hoa màu tăng lên nhiều so với các năm trước.

Riêng toàn Liên khu Việt Bắc đã cày cấy thêm 25.913 mẫu lúa và 12.698 mẫu hoa màu. Uỷ ban kháng chiến - hành chính Liên  khu  Việt  Bắc  lập  quỹ  luân  chuyển  có  vốn  26  triệu  đồng giúp các tỉnh mua sắm nông cụ. Cơ quan nông chính cấp 37 tấn thóc giống cho các địa phương làm vụ mùa.

Với khẩu hiệu Tự làm lấy ăn để đánh giặc, quân và dân Nam
Bộ đẩy mạnh tăng gia sản xuất tự cấp tự túc. Bộ đội miền Đông

153
 
trung bình mỗi năm sản xuất tự túc 4 tháng, có đơn vị dành 6 tháng  cho  sản  xuất  Bộ  đội  miền  Tây  mùa  mưa  sản  xuất,  mùa khô đi chiến đấu. Tại chiến khu Đ, nhân dân tổ chức khai hoang làm  rẫy  trên  những  vùng  đất  dọc  sông  Bé,  xây  dựng  được  7 nông trường trồng lúa, ngô, khoai, sắn...1.

Từ năm 1952, cuộc Đại vận động sản xuất và tiết kiệm được phát  động  trong  toàn  Đảng,  toàn  dân  và  toàn  quân.  Cuộc  vận động được toàn dân hưởng ứng sôi nổi. Cán bộ các cơ quan, xí nghiệp, học sinh và các đơn vị bộ đội cũng tích cực tham gia sản xuất lương thực và thực phẩm.

Nhờ có những biện pháp tích cực trên, sản xuất lương thực không ngừng tăng lên. Tính riêng trong vùng tự do, năm 1951 sản  xuất  được  2.727.600  tấn  lương  thực,  năm  1952  tăng  lên
2.852.900 tấn và năm 1953 là 2.916.000 tấn.

Để  tạo  điều  kiện  cho  nông  dân  phát  triển  sản  xuất  nông nghiệp, Đảng và Chính phủ tiếp tục thực hiện cuộc cách mạng ruộng đất từng bước theo đường lối riêng biệt, phù hợp với tình hình xã hội Việt Nam.

Từ  năm  1949,  Đảng  và  Chính  phủ  đề  ra  sắc  lệnh  giảm  tô, giảm  tức  xoá  nợ,  hoãn  nợ;  chia  lại  ruộng  đất  công  cho  công bằng, hợp lí; tạm chia, tạm giao ruộng đất vắng chủ, ruộng đất tịch thu của thực dân Pháp và Việt gian... cho nông dân không có ruộng và thiếu ruộng. Việc thực hiện chính sách giảm tô đã đạt kết quả lớn. Tính từ Liên khu IV trở ra, đến năm 1953, đã có
397.000 ha ruộng đất được giảm tô 25%.

Cùng  với  việc  thực  hiện  giảm  tô,  tháng  6-1951,  Hội  đồng Chính  phủ  quyết  định  về  thể  lệ  tạm  thời  sử  dụng  công  điền, công  thổ;  xác  định  nguyên  tắc  sử  dụng  công  điền  công  thổ  là phải làm lợi cho tăng gia sản xuất, củng cố đoàn kết nông thôn,



1. Viện lịch sử quân sự: Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp...
Tập. 2, sđd, tr. 101.
154
 
sát với tình hình địa phương, dân chủ và công bằng. Theo quy định của Chính phủ, công điền được chia cho tất cả nông dân nam, nữ từ 16 tuổi trở lên, trừ các phần tử Việt gian đã thành án. Những  người  ngụ  cư  mà  tự  nguyện  trực  tiếp  canh  tác  và  nếu nhân dân đều bằng lòng thì cũng được chia; thương binh, bệnh binh, gia đình tử sĩ được ưu đãi. Gia đình có con em đi lính cho Pháp cũng được chia ruộng để sản xuất.

Ngày 5-3-1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh kí Sắc lệnh ban hành Bản điều lệ tạm thời sử dụng công điền công thổ gồm 7 chương, quy định nguyên tắc chia, đối tượng được chia, cách chia, nghĩa vụ và quyền hạn của người được lĩnh công điền công thổ...

Chính phủ chủ trương tiếp tục khuyến khích địa chủ không phải là Việt gian, nhất là địa chủ lớn ở Nam Bộ hiến ruộng cho Nhà nước. Theo quyết định của Hội nghị Hội đồng Chính phủ (từ  ngày  18  đến  ngày  20~8-1952),  Chính  phủ  chỉ  nhận  ruộng hiến của những người có thừa ruộng. Còn đối với những người chỉ đủ hoặc thiếu ruộng nhưng đã hiến ruộng thì Chính phủ sẽ trả lại. Chính phủ cũng quyết định không nhận ruộng hoang, chỉ nhận ruộng cày cấy được và giao cho Uỷ ban kháng chiến hành chính  các  địa  phương  được  quyền  nhận  ruộng  hiến.  Số  ruộng hiến  sẽ  được  chia  cho  dân  cày  thiếu  ruộng  trong  thời  hạn  10 năm.
Logged
HUY_AK_47
Thành viên
*
Bài viết: 200



« Trả lời #57 vào lúc: 03 Tháng Mười Một, 2011, 09:50:30 am »

Trong kháng chiến, nhiều địa phương đã triển khai thực hiện chính sách tịch thu ruộng đất của thực dân Pháp và Việt gian để tạm cấp  cho  nông  dân.  Tuy  nhiên,  trong  khi  xác định  và  thực hiện chính sách tịch thu loại ruộng đất này lại chưa có sự thống nhất giữa các địa phương về quan niệm. Để khắc phục tình trạng đó,  ngày  9-10-1952,  Bộ Canh nông ra Thông tư số 22 - CN - RĐ, giải thích rõ thế nào là ruộng đất của thực dân Pháp và Việt gian. Thông tư còn nhấn mạnh các địa phương phải tạm cấp hết
số  ruộng  đất  này  cho  dân  cày,  không  được  giữ  lại  cho  chính quyền, đoàn thể. Thời hạn tạm cấp là 10 năm và chính quyền địa phương phải có trách nhiệm giúp đỡ dân nghèo về giống, vốn,

155
 
dụng cụ để họ sản xuất có kết quả trên ruộng đất được tạm cấp.

Ngày 14-12-1952, Liên bộ Canh nông - Nội vụ - Tư pháp ra thông tư giải thích thêm về thể lệ sử dụng ruộng đất "vắng chủ” để Uỷ ban kháng chiến hành chính các liên khu và Hà Nội áp dụng cho phù hợp với hoàn cảnh thực tế của địa phương mình.

Từ nhiều nguồn khác nhau, số ruộng đất được tạm cấp, tạm giao cho nông dân lao động chiếm một diện tích khá lớn. Theo
số liệu thống kê ở 3.035 xã ở miền Bắc, việc chia ruộng đất cho nông dân đạt được kết quả như sau:

- Số ruộng đất của thực dân Pháp đã được tịch thu chia cho nông dân là 26.800 ha.

- Số ruộng đất của địa chủ được đem chia cho nông dân là
156.600 ha.

- Số ruộng đất tịch thu của nhà chung đem chia cho nông dân
là 3.200 ha.

- Số ruộng đất công và nửa công được chia là 289.300 ha.

Đến năm 1953, địa chủ chiếm 2,3% dân số và chỉ còn chiếm
18% tổng số ruộng đất. Nông dân lao động chiếm 92,5% dân số
và nắm trong tay 70,7% tổng số ruộng đất.

Như  vậy,  từ  sau  Cách  mạng  tháng  Tám  đến  trước  cải  cách ruộng  đất,  do  việc  thực  hiện  một  cách  có  hệ  thống  những  cải cách dân chủ, trong nông thôn đã có những chuyển biến khá lớn về chế độ sở hữu ruộng đất cũng như về quan hệ các giai cấp. Sự chiếm  hữu  ruộng  đất  của  thực  dân,  địa  chủ  đã  bị  thu  hẹp  rất nhiều. Trong khi đó quyền sở hữu ruộng đất của nông dân được mở rộng, đời sống của nông dân được cải thiện từng bước, xu hướng trung nông hoá xuất hiện ở nông thôn.

Sự chuyển biến đó khẳng định đường lối tiến hành cải cách, dần dần thu hẹp phạm vi bóc lột của địa chủ phong kiến, đồng thời sửa đổi chế độ ruộng đất trong phạm vi không có hại cho sự đoàn kết dân tộc của Đảng và Chính phủ ta là đúng đắn, sáng
156
 
tạo, phù hợp với đặc điểm xã hội Việt Nam.

Từ  năm  1953,  cuộc  kháng  chiến  bước  vào  giai  đoạn  cuối cùng  với  những  tháng  lợi  to  lớn  trên.các  mặt  trận.  Đảng  và Chính  phủ  chủ  trương  phát động  quần  chúng  triệt  để  giảm tô, giảm tức và cải cách ruộng đất.

Tháng  1-1953,  Ban  Chấp  hành  Trung  ương  Đảng  họp  Hội nghị lần thứ 4 để kiểm điểm việc thi hành chính sách ruộng đất trong quá trình kháng chiến và đề ra 5 công tác chính trong năm
1953 là: Phát động quần chúng triệt để giảm tô, thực hiện giảm tức, đẩy mạnh công tác chỉnh quân, tăng cường công tác kinh tế tài chính, công tác vùng sau lưng địch; trong đó công tác chính
số một là phát động quần chúng triệt để giảm tô, thực hiện giảm tức. Hội nghị thông qua bản Dự thảo cương lĩnh của Đảng Lao động Việt Nam về chính sách ruộng đất.

Tháng  11-1953,  Hội  nghị  lần  thứ  5  Ban  tháp  hành  Trung ương Đảng và Hội nghị đại biểu toàn quốc của đảng thông qua Cương lĩnh ruộng đất; đồng thời quyết định tổ chức thực hiện cải cách ruộng đất ở vùng tự do. Tháng 12-1953, tạt kì họp lần thứ 3, Quốc hội thông qua Luật cải cách ruộng đất.

Từ  tháng  4  đến  tháng  8-1953,  đợt  1  cuộc  phát  động  quần chúng giảm tô được thực hiện trong 22 xã thuộc Liên khu Việt Bắc và Liên khu IV Đến tháng 9-1954, chúng ta đã tiến hành 5 đợt giảm tô trong 830 xã ở miền Bắc.
Trong kháng chiến, nhiều địa phương đã triển khai thực hiện chính sách tịch thu ruộng đất của thực dân Pháp và Việt gian để tạm cấp  cho  nông  dân.  Tuy  nhiên,  trong  khi  xác định  và  thực hiện chính sách tịch thu loại ruộng đất này lại chưa có sự thống nhất giữa các địa phương về quan niệm. Để khắc phục tình trạng đó,  ngày  9-10-1952,  Bộ Canh nông ra Thông tư số 22 - CN - RĐ, giải thích rõ thế nào là ruộng đất của thực dân Pháp và Việt gian. Thông tư còn nhấn mạnh các địa phương phải tạm cấp hết
số  ruộng  đất  này  cho  dân  cày,  không  được  giữ  lại  cho  chính quyền, đoàn thể. Thời hạn tạm cấp là 10 năm và chính quyền địa phương phải có trách nhiệm giúp đỡ dân nghèo về giống, vốn,

155
 
dụng cụ để họ sản xuất có kết quả trên ruộng đất được tạm cấp.

Ngày 14-12-1952, Liên bộ Canh nông - Nội vụ - Tư pháp ra thông tư giải thích thêm về thể lệ sử dụng ruộng đất "vắng chủ” để Uỷ ban kháng chiến hành chính các liên khu và Hà Nội áp dụng cho phù hợp với hoàn cảnh thực tế của địa phương mình.

Từ nhiều nguồn khác nhau, số ruộng đất được tạm cấp, tạm giao cho nông dân lao động chiếm một diện tích khá lớn. Theo
số liệu thống kê ở 3.035 xã ở miền Bắc, việc chia ruộng đất cho nông dân đạt được kết quả như sau:

- Số ruộng đất của thực dân Pháp đã được tịch thu chia cho nông dân là 26.800 ha.

- Số ruộng đất của địa chủ được đem chia cho nông dân là
156.600 ha.

- Số ruộng đất tịch thu của nhà chung đem chia cho nông dân
là 3.200 ha.

- Số ruộng đất công và nửa công được chia là 289.300 ha.

Đến năm 1953, địa chủ chiếm 2,3% dân số và chỉ còn chiếm
18% tổng số ruộng đất. Nông dân lao động chiếm 92,5% dân số
và nắm trong tay 70,7% tổng số ruộng đất.

Như  vậy,  từ  sau  Cách  mạng  tháng  Tám  đến  trước  cải  cách ruộng  đất,  do  việc  thực  hiện  một  cách  có  hệ  thống  những  cải cách dân chủ, trong nông thôn đã có những chuyển biến khá lớn về chế độ sở hữu ruộng đất cũng như về quan hệ các giai cấp. Sự chiếm  hữu  ruộng  đất  của  thực  dân,  địa  chủ  đã  bị  thu  hẹp  rất nhiều. Trong khi đó quyền sở hữu ruộng đất của nông dân được mở rộng, đời sống của nông dân được cải thiện từng bước, xu hướng trung nông hoá xuất hiện ở nông thôn.

Sự chuyển biến đó khẳng định đường lối tiến hành cải cách, dần dần thu hẹp phạm vi bóc lột của địa chủ phong kiến, đồng thời sửa đổi chế độ ruộng đất trong phạm vi không có hại cho sự đoàn kết dân tộc của Đảng và Chính phủ ta là đúng đắn, sáng
156
 
tạo, phù hợp với đặc điểm xã hội Việt Nam.

Từ  năm  1953,  cuộc  kháng  chiến  bước  vào  giai  đoạn  cuối cùng  với  những  tháng  lợi  to  lớn  trên.các  mặt  trận.  Đảng  và Chính  phủ  chủ  trương  phát động  quần  chúng  triệt  để  giảm tô, giảm tức và cải cách ruộng đất.

Tháng  1-1953,  Ban  Chấp  hành  Trung  ương  Đảng  họp  Hội nghị lần thứ 4 để kiểm điểm việc thi hành chính sách ruộng đất trong quá trình kháng chiến và đề ra 5 công tác chính trong năm
1953 là: Phát động quần chúng triệt để giảm tô, thực hiện giảm tức, đẩy mạnh công tác chỉnh quân, tăng cường công tác kinh tế tài chính, công tác vùng sau lưng địch; trong đó công tác chính
số một là phát động quần chúng triệt để giảm tô, thực hiện giảm tức. Hội nghị thông qua bản Dự thảo cương lĩnh của Đảng Lao động Việt Nam về chính sách ruộng đất.

Tháng  11-1953,  Hội  nghị  lần  thứ  5  Ban  tháp  hành  Trung ương Đảng và Hội nghị đại biểu toàn quốc của đảng thông qua Cương lĩnh ruộng đất; đồng thời quyết định tổ chức thực hiện cải cách ruộng đất ở vùng tự do. Tháng 12-1953, tạt kì họp lần thứ 3, Quốc hội thông qua Luật cải cách ruộng đất.

Từ  tháng  4  đến  tháng  8-1953,  đợt  1  cuộc  phát  động  quần chúng giảm tô được thực hiện trong 22 xã thuộc Liên khu Việt Bắc và Liên khu IV Đến tháng 9-1954, chúng ta đã tiến hành 5 đợt giảm tô trong 830 xã ở miền Bắc.
Logged
HUY_AK_47
Thành viên
*
Bài viết: 200



« Trả lời #58 vào lúc: 03 Tháng Mười Một, 2011, 09:50:54 am »

Cùng  với  giảm  tô,  từ  25-11-1953,  cải  cách  ruộng  đất  được thực  hiện  thỉ  điểm  trong  6  xã  thuộc  huyện  Đại  Từ  (Thái Nguyên). Đến tháng 5-1954, đợt 1 cải cách ruộng đất được tiến hành  trong  47  xã  thuộc  tỉnh  Thái  Nguyên  và  6  xã  thuộc  tỉnh Thanh Hoá.

Cuộc vận động giảm tô và cải cách ruộng đất được tiếp tục thực hiện trên quy mô rộng lớn ở miền Bắc sau khi hoà bình lập lại. Trong quá trình thực  hiện  cải  cách  ruộng  đất,  chúng  ta đã phạm phải một số sai lầm như đấu tố cả những địa chủ kháng

157
 
chiến, những người thuộc tầng lớp trên có công với cách mạng; quy nhầm một số nông dân, cán bộ, bộ đội, đảng viên thành địa chủ.

Sai  lầm  trong  cải  cách  ruộng  đất  được  Đảng  và  Chính  phủ phát hiện và có chủ trương, biện pháp sửa sai ngay khi kết thúc cải cách. Nhờ đó mà hậu quả được hạn chế và ý nghĩa của cải cách ruộng đất vẫn hết sức to lớn.

Việc  thực  hiện  chính  sách  ruộng  đất  trong  kháng  chiến  đã từng bước xoá bỏ chế độ chiếm hữu ruộng đất phong kiến, giải phóng lực lượng sản xuất khỏi sự trói buộc của quan hệ sản xuất đã quá lạc hậu, đem lại niềm phấn khởi trong nông dân. Thông qua  đó,  nông  dân  càng  tích  cực  đẩy  mạnh  sản  xuất,  hăng  hái tham  gia  đóng  góp  sức  người,  sức  của  vào  sự  nghiệp  kháng chiến.

Cùng với nông nghiệp, các ngành sản xuất công nghiệp vượt qua mọi khó khăn để bảo đảm nhu cầu của kháng chiến.

Công  nghiệp  quốc  phòng  đã  sản  xuất  được  các  loại  vũ  khí mới  (súng  SKZ,  súng  phóng  bom,  súng  Badôka,  súng  cối...). Trong những năm 1951-1953, từ Liên khư IV trở ra, chúng ta sản xuất được 1.310 tấn vũ khí đạn dược.

Ngành công nghiệp cơ khí sản xuất máy công cụ và tư liệu sản xuất được chú trọng và phát triển, phục vụ cho nhu cầu sản xuất cũng như đời sống của nhân dân, phá tan âm mưu phong toả của địch. Bên cạnh hàng chục nhà máy cơ khí quốc doanh, còn có hàng nghìn cơ sở cơ khí nhỏ của tiểu thủ công nghiệp, sản xuất hàng vạn sản phẩm công cụ cầm tay phục vụ sản xuất nông  nghiệp.  Trong  điều  kiện  khó  khăn,  thiếu  thốn,  các  địa phương trong cả nước đều tích cực đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng, bảo đảm nhu cầu tối thiểu cho cán bộ, bộ đội và nhân dân. Các tỉnh Liên khu IV mở thêm nhiều xưởng sản xuất giấy, xà phòng,  xưởng  dệt,  phát  triển  các  khung  dệt  gia  đình,  khuyến khích nghề ươm tơ, dệt lụa. Liên khu V mở rộng diện tích trồng

158
 
bông, phát triển mạnh nghề dệt lụa, dệt vải. Các tỉnh ở Nam Bộ tiếp  tục  phát  triển  nghề  dệt  vải,  chiếu,  làm  nước  mắm,  làm đường, xà phòng, sản xuất giấy gòn, giấy sáp và nhiều thứ thuốc chữa bệnh...

Đi  đôi  với  đẩy  mạnh  sản  xuất,  Chính  phủ  thực  hiện  chủ trương tăng thu giảm chi, thống nhất quản lí tài chính để tránh lạm  phát,  giữ  giá  hàng,  đấu  tranh  kinh  tế  với  địch,  mở  mang mậu dịch đối ngoại; chấn chỉnh công tác tài chính, ngân hàng và phát hành giấy bạc mới, thành lập mậu dịch quốc doanh.

Ngày  1-5-1951,  Chính  phủ  ban  hành  Sắc  lệnh  số  13/SL  về cải cách chế độ đảm phụ, bãi bỏ các thứ đóng góp cũ như thuế công lương, thuế điền thổ, bãi bỏ việc mua thóc định giá và đặt
ra thuế nông nghiệp thu bằng thóc. Thuế nông nghiệp được đề ra theo  nguyên  tắc  đảm  bảo  cung  cấp  cho  nhu  cầu  kháng  chiến, phù hợp với khả năng đóng góp của mỗi tầng lớp ở nông thôn, khuyến  khích  phát  triển  sản  xuất  nông  nghiệp,  thống  nhất  và đơn  giản  chế  độ  đảm  phụ  cho  dân,  thực  hiện  đóng  góp  công bằng. Từ năm 1951 đến năm 1954, từ Liên khu IV trở ra, Nhà nước  thu  được 1.322.620 tấn thóc thuế  nông nghiệp.  Với biểu thuế luỹ tiến, chúng ta đã giảm nhẹ phần đóng góp của nông dân lao động.

Thắng lợi của việc thực hiện thuế nông nghiệp là thắng lợi rất căn bản của ta về kinh tế. Nhờ đó, phong trào tăng gia sản xuất được thúc đẩy mạnh mẽ. Nhà nước đã tập hợp những số liệu dầu tiên về dân số, diện tích, sản lượng của từng địa phương làm cơ sở để chủ động xây dựng kế hoạch kinh tế kháng chiến. Qua chỉ đạo tổ chức thực hiện thuế nông nghiệp, bộ máy kinh tế của Nhà nước hoạt động có hiệu quả hơn.

Cùng với việc thống nhất các đảm phụ ở nông thôn và thuế nông nghiệp, ngày 22-7-1951, Chính phủ ra sắc lệnh bãi bỏ thúc môn bài, thuế lãi doanh nghiệp, thuế lợi tức tổng hợp và các thứ thuế gián thu hiện hành, đặt thuế công - thương nghiệp và thuế hàng hoá. Cùng ngày, Thủ tướng Chính phủ ban hành hai bản
159
 
điều lệ tạm thời về thuế công thương nghiệp và thuế hàng hoá. Các  bản  điều  lệ  quy  định  thể  thức  tính  và  thu  thuế  theo  các nguyên  tắc:  1)  Động  viên  đóng  góp  theo  khả  năng  của  các ngành công thương nghiệp: 2) Khuyến khích những hoạt động công thương có lợi cho sản xuất, cho nhân dân và cho công cuộc kháng chiến kiến quốc; 3) Thực hiện đóng góp hợp lí và giản tiện.

Chính  sách  thuế  nhập  khẩu,  thuế  sát  sinh...  cũng  được  ban hành.
Logged
HUY_AK_47
Thành viên
*
Bài viết: 200



« Trả lời #59 vào lúc: 03 Tháng Mười Một, 2011, 09:51:22 am »

Ngành  thuế  được  xây  dựng  để  phụ  trách  các  thứ  thuế  thu bằng tiền.

Các chi sở thuế được thành lập. Nhờ đó, số thuế công thương nghiệp và thuế hàng hoá thu bằng tiền trong 5 tháng cuối năm
1951 tăng gấp 6 lân so với 6 tháng đầu năm 1.

Ngày 6-5-1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh kí Sắc lệnh số 15/SL thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam nhằm phát hành giấy bạc ngân hàng, điều hoà sự lưu thông tiền tệ; quản lí ngân quỹ quốc gia, quản lí ngoại tệ, quản lí kim dụng bằng các thể lệ hành chính,  đấu  tranh  tiền  tệ  với  địch.  Đến  ngày  10-6-1951,  Chính phủ phát hành giấy bạc Ngân hàng Việt Nam. Ngân hàng ra đời cùng với giấy bạc Ngân hàng Việt Nam đã khẳng định nền tài chính của một quốc gia độc lập. Ngân hàng Quốc gia Việt Nam
ra  dời  đã  góp  phần  giải  quyết  những  khó  khăn  về  kinh  tế,  tài chính, đẩy mạnh kháng chiến.
Mậu  dịch  Quốc  doanh  cũng  được  thành  lập  theo  Sắc  lệnh
22/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh kí ngày 14-5-1951, nhằm thực hiện nhiệm vụ cung cấp hàng hoá cần thiết cho kháng chiến và đời sống nhân dân, phục vụ sản xuất, quản lí thị trường, tổ chức trao đổi hàng hoá với các nước bạn; đồng thời đấu tranh kinh tế với địch.



1.  Lịch sử Chính  phú Việt Nam... Sđd. tr. 210.
160
 
Ngày  l-7-1951,  những  chi  điếm  mậu  dịch  đầu  tiên  được  tổ chức ở thị xã Thái Nguyên, Tuyên Quang. Mậu dịch bán hàng nội hoá với giá rẻ hơn cho nhân dân, gây được ảnh hưởng tốt trong  quần  chúng.  Mậu  dịch  đã  cung  cấp  35%  nhu  yếu  phẩm cho bộ đội.

Từ sau chiến thắng Biên giới, con đường thông thương giữa nước ta với quốc tế được mở rộng, nên hoạt động ngoại thương có bước phát triển mới. Giá trị hàng xuất khẩu năm 1951 tăng 7 lần so với năm 1950.

Nhờ  chính  sách  kinh  tế,  nhất  là  kinh  tế  nông  nghiệp  phát triển, chính sách thuế mới công bằng, hợp lí, quản lí tài chính chặt chẽ, cho nên giá cả thị trường từng bước được ổn định, thu chi trong ngân sách dần dần cân bằng (đến năm 1953, số thu đã vượt chi 16%), nạn lạm phát được khắc phục.

Những kết quả trên mặt trận kinh tế, tài chính đã góp phần quyết định cho sự thắng lợi của cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc.

Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM