Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 12 Tháng Mười Hai, 2019, 12:40:44 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nhân vật lịch sử 64 tình thành trong kháng chiến chống Pháp  (Đọc 78128 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
satthat
Thành viên
*
Bài viết: 160


« Trả lời #10 vào lúc: 18 Tháng Bảy, 2008, 10:20:53 PM »

HÀ NỘI
THIẾU TƯỚNG NGUYỄN SƠN
Họ và tên: Nguyễn Sơn (Tên thật: Vũ Nguyên Bác; bí danh Lý Anh Tự, Hồng Thuỷ)
Năm sinh: Ngày 01 tháng 10 năm 1908; mất ngày 21 tháng 10 năm 1956
Cấp bậc, chức vụ cao nhất: Thiếu tướng - Tư lệnh kiêm Chính uỷ Liên khu 4 Quân đội nhân dân Việt Nam; Thiếu tướng Phó cục trưởng Cục Điều lệnh, Giám đốc Toà soạn “Tạp chí Huấn luyện Chiến đấu” Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc.
Quê quán: Làng Kiêu Kỵ, Gia Lâm, thành phố Hà Nội.
Trú quán: Thành phố Bắc Kinh Trung Quốc; Thành phố Hà Nội.
Thành phần: Tiểu tư sản.
Năm tham gia cách mạng: Năm 1925.
Năm nhập ngũ: Năm 1945.
Ngày vào Đảng Cộng sản Trung Quốc: Năm 1927.
Năm phong quân hàm cấp tướng: Thiếu tướng Quân đội nhân dân Việt Nam tháng 1 năm 1948; Thiếu tướng Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc năm 1955.
 
Phần thưởng được Đảng, Nhà nước Việt Nam trao tặng1. Huân chương Quân công hạng nhì.
Phần thưởng được Đảng, Nhà nước Trung Quốc trao tặng
1. Huân chương Bát nhất hạng nhất.
2. Huân chương Giải phóng hạng nhất.
 
Quá trình tham gia cách mạng
Nguyễn Sơn rời quê hương sang Pháp năm 1923. Năm 1925, đồng chí tham gia Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội, được đồng chí Nguyễn Ái Quốc giới thiệu sang Trung Quốc học Trường Võ bị Hoàng Phố.
Tháng 8/1927, đồng chí gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc. Tháng 12 năm 1927, đồng chí tham gia khởi nghĩa ở Quảng Châu.
Năm 1929, đồng chí tham gia Hồng quân Công nông Trung Quốc, lần lượt giữ các chức vụ; Chính trị viên Đại đội, Chính uỷ Trung đoàn, Chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn 34, Quân đoàn 12.
Tháng 1/1934, đồng chí là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản nước Cộng hoà Xô viết Trung Hoa, Uỷ viên Chính phủ Dân chủ Công nông Xô Viết Trung ương.
Từ năm 1934 - 1936, đồng chí tham gia “Vạn lý trường chinh”. Sau đó là Tổng Biên tập báo “Kháng địch” của Biên khu Tấn Sát Ký. Năm 1938, đồng chí là giáo viên chính trị Trường Cán bộ quân chính kháng Nhật, Biên khu Tấn Sát Ký.
Tháng 8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị đồng chí về nước tham gia đấu tranh vũ trang. Về Việt Nam đồng chí lấy tên là Nguyễn Sơn, được bổ nhiệm giữ các chức vụ: Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến miền Nam Việt Nam. Năm 1946, đồng chí là Hiệu trưởng Trường Lục quân Trung học Quảng Ngãi. Tháng 1/1947, đồng chí được bổ nhiệm giữ chức Cục trưởng Cục Quân huấn Bộ Tổng Tham mưu. Tháng 7/1947, đồng chí là Khu trưởng kiêm Chính uỷ Liên khu 4. Ngày 19/1/1948, đồng chí được Chủ tịch Chính phủ phong quân hàm thiếu tướng Quân đội nhân dân Việt Nam theo sắc lệnh số 111/SL.
Tháng 10 năm 1950, đồng chí trở lại Trung Quốc, phụ trách khoa Việt Nam bán Mặt trận thống nhất Trung ương và học tại Học viện Quân sự Nam Ninh. Năm 1954, đồng chí tốt nghiệp loại xuất sắc, được cử đến Bộ Tổng Giám Huấn luyện Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc giữ chức Phó cục trưởng Cục Điều lệnh. Sau đó được bổ nhiệm Giám đốc Toà soạn “Tạp chí Huấn luyện Chiến đấu”.
Ngày 27/9/1955, đồng chí được Nhà nước Trung Quốc phong quân hàm thiếu tướng. Đồng chí là vị tướng duy nhất của Trung Quốc là người nước ngoài.
Năm 1956, do bệnh tình trầm trọng, đồng chí xin về nước và đã từ trần ngày 21/10/1956. Lễ tang được Nhà nước Việt Nam tổ chức trọng thể và an táng tại nghĩa trang Mai Dịch.
Đồng chí là tác giả của nhiều tác phẩm và bài viết về quân sự và văn học bằng tiếng Việt và tiếng Trung Quốc.


(Nguồn: www.btlsqsvn.org.vn)
 
Logged
satthat
Thành viên
*
Bài viết: 160


« Trả lời #11 vào lúc: 18 Tháng Bảy, 2008, 10:33:44 PM »

BẾN TRE
LIỆT SĨ TRẦN VĂN ƠN

Trần Văn Ơn sinh ngày 14-4-1931 tại xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Thuở nhỏ, Ơn theo gia đình lên sống tại Sài Gòn, khu Hòa Hưng. Cha Ơn, ông Trần Văn Nghĩa, là một nhân sĩ có tinh thần yêu nước. Hầu hết các anh chị của Ơn đều tham gia cách mạng, có người là liệt sĩ như chị Trần Thị Lễ, công an xung phong, hy sinh năm 1948. Khi Cách mạng tháng Tám nổ ra thì Ơn đã bước vào tuổi 15 – cái tuổi cũng đã biết nhận thức được một số vấn đề của hiện thực cuộc sống đang diễn ra hàng ngày trước mắt.

   Không khí sôi sục của cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám, những ngày độc lập ngắn ngủi diễn ra trên thành phố quê hương, rồi giặc Pháp mưu toan trở lại, cuộc kháng chiến cứu nước của nhân dân ta bắt đầu với những chết chóc, tàn phá diễn ra khắp nơi. Đám bạn bè của Ơn, kẻ bị giặc bắt, đứa bỏ thành ra bưng biền đi theo “các anh”, đứa mất tích ở phương trời nào…

   Tất cả những sự kiện ấy đã gợi lên trong đầu óc non trẻ của cậu học sinh Trần Văn Ơn bao điều suy nghĩ, khi cắp sách trở lại trường trong vùng giặc chiếm đóng. Hơn nữa, Trần Văn Ơn cũng dần dần phát hiện ra rằng, dưới ách thống trị của giặc, thành phố Sài Gòn không phải chỉ có cam chịu mà còn có sự vùng lên bất khuất, được biểu hiện qua các phong trào quần chúng chống lại bạo quyền, bao gồm đông đảo các tầng lớp nhân dân, từ những bác thợ ở xưởng máy đến người tiểu thương ở các chợ, từ những người đạp xích lô đến các ký giả, nhà văn, từ em bé bán báo đến học sinh, sinh viên… Trong cuộc đấu tranh chống bọn xâm lược và tay sai, có không ít tiếng nói của những trí thức tiêu biểu như luật sư Nguyễn Hữu Thọ, kỹ sư Lưu Văn Lang… và cả một số người Pháp tiến bộ.

   Vốn sẵn tư chất thông minh và nhạy cảm, cậu học sinh Trần Văn Ơn không những đứng đầu lớp liên tục trong nhiều niên học, được thầy yêu bạn mến, mà còn là một cột trụ của phong trào học sinh yêu nước của Trường Pétrus Ký. Trong lúc Ơn chuẩn bị thi tú tài, thì ngày 23-11-1949 ở Sài Gòn nổ ra cuộc bãi khóa của học sinh đòi "Trả tự do cho những học sinh bị bắt”, “Phản đối chính sách khủng bố học sinh trong học đường”. Phong trào như một đám cháy lớn đã nhanh chóng lan ra các tỉnh Mỹ Tho, Cần Thơ và được học sinh, sinh viên Huế, Hà Nội hưởng ứng…

   Ngày 9-1-1950, ở Sài Gòn nổ ra một cuộc biểu tình lớn của hàng ngàn học sinh kéo đến dinh của thủ tướng bù nhìn Trần Văn Hữu, đòi phải thả ngay các học sinh, sinh viên bị bắt. Trần Văn Ơn là một thành viên trong Ban lãnh đạo sinh viên, học sinh trong cuộc đấu tranh này. Nhiều phụ huynh học sinh cũng tham gia vào cuộc biểu tình. Trước đòi hỏi chính đáng đó, Trần Văn Hữu không những không đáp ứng, mà còn đe dọa nếu đến 12 giờ trưa không giải tán sẽ bị đàn áp.

   Quá 12 giờ, theo lệnh Pháp, Trần Văn Hữu cho công an, cảnh sát dùng lựu đạn cay, ma trắc, vòi rồng đàn áp tàn nhẫn cuộc biểu tình. Học sinh, sinh viên chống trả quyết liệt. Thấy không có kết quả, bọn chúng nổ súng vào đoàn biểu tình. Nhiều em học sinh ngã gục trước những làn đạn khủng bố. Trần Văn Ơn bị trúng đạn trong lúc đang cùng một người bạn khiêng nữ sinh Tạ Thị Thâu của Trường Gia Long bị bọn cảnh sát ngụy đánh ngất. Anh hy sinh vào lúc 15 giờ 30 phút chiều ngày 9-1-1950. Xác Trần Văn Ơn được đưa về bệnh viện Chợ Rẫy, được lực lượng học sinh cùng các y bác sĩ, công nhân ở bệnh viện túc trực canh không cho bọn địch phi tang.

  Cái chết của Trần Văn Ơn đã gây nên một niềm xúc động lớn và một làn sóng phản đối mạnh mẽ trong học sinh, sinh viên và các tầng lớp đồng bào đô thị.

   Bàn thờ Trần Văn Ơn được đặt ngay tại Trường Pétrus Ký nghi ngút khói hương với dòng người viếng nối nhau liên tục. Hơn 300 vòng hoa của các đoàn thể công nhân, tri thức, công chức, nghệ sĩ, nhà báo, học sinh choáng ngập cả một quãng lớn sân trường. Trong các vòng hoa phúng điếu, đáng chú ý có vòng hoa của một nhóm người Pháp tiến bộ mang dòng chữ "Soldats démocrates" (Chiến sĩ dân chủ).

   Ngày 12-1-1950, đám tang Trần Văn Ơn được cử hành trọng thể. Một biển người đông gần nửa triệu đã kết chặt hàng ngũ tiễn đưa người liệt sĩ trẻ tuổi về nơi an nghỉ cuối cùng. Theo báo Thần chung (số ra ngày 14-1-1950) hưởng ứng đám tang Trần Văn Ơn, các hiệu buôn người Việt, người Hoa, người Ấn, các hãng tư khác hôm ấy đều đóng cửa, các loại xe rước người đi đưa đám tang không lấy tiền, hàng mấy trăm phu xích lô tình nguyện chở hơn 300 vòng hoa. Hai đại biểu học sinh ở Trung và Bắc cũng đáp máy bay vào dự tang lễ.

   Đám tang Trần Văn Ơn, trong thực tế đã trở thành cuộc biểu dương lực lượng của đồng bào yêu nước Sài Gòn - Chợ Lớn, có giá trị làm thức tỉnh mạnh mẽ tinh thần dân tộc. Điếu văn của đại biểu học sinh, sinh viên có đoạn: "Chúng ta sẽ không bao giờ quên được ngày 9 tháng 1, ngày mà anh Ơn và các bạn học sinh, sinh viên đã vui lòng đem xương máu, sinh mạng của mình đổi lấy tự do cho các bạn bị giam cầm. Tinh thần bạn Trần Văn Ơn bất diệt!”.

  Từ đấy, ngày 9-1 được lấy làm Ngày kỷ niệm của học sinh, sinh viên tranh đấu trong toàn quốc hàng năm. Tháng 3-2000, Trần Văn Ơn được Nhà nước ta truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND.
( BÁO BẾN TRE)
Logged
satthat
Thành viên
*
Bài viết: 160


« Trả lời #12 vào lúc: 18 Tháng Bảy, 2008, 10:41:45 PM »

THÁI BÌNH
LIỆT SĨ TRẦN BÁ GIẢN

Trần Bá Giản sinh năm 1916, trong một gia đình nông dân nghèo, tại thôn Hổ Đội, thuộc tổng Hổ Đội, huyện Thụy Anh, (nay là xã Thụy Lương, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình).

Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất nghèo khó nhưng lại giàu truyền thống yêu nước và cách mạng, Trần Bá Giản sớm có khí phách của người anh hùng. Bởi Thái Thụy, quê hương ông cũng chính là quê hương của những con người mà tên tuổi của họ gắn liền với những mốc son lịch sử của dân tộc, mà tiêu biểu là người cộng sản trẻ tuổi Nguyễn Đức Cảnh - một trong những lãnh tụ đầu tiên của Đảng ta.

Trần Bá Giản tham gia cách mạng từ năm 1937. Năm 1946, ông vinh dự được  đứng trong hàng ngũ những người cộng sản. Có sức khỏe, mưu trí, dũng cảm, đặc biệt gan dạ, Trần Bá Giản được cấp trên tin tưởng chọn vào đội hành động, có nhiệm vụ diệt tề, trừ gian. Cuối năm 1949, ông là Đội trưởng Đội hành động Công an huyện Thụy Anh.

Tháng 2/1950, quê hương bị giặc Pháp chiếm đóng. Một số kẻ ham sống, sợ chết cam tâm làm tay sai, chỉ điểm, dẫn đường cho quân Pháp càn quét, bắt bớ, sát hại cán bộ kháng chiến và đồng bào yêu nước. Hàng ngày, chứng kiến những cảnh ấy, ông căm hận kẻ thù đến tận xương tủy.

Tháng 8/1950, Trần Bá Giản được cấp trên giao nhiệm vụ chỉ huy đội hành động bắt Tổng Quỳnh, một tên phản động khét tiếng gian ác ở thôn Nghĩa Chỉ, xã Hồng Châu (nay là xã Thụy Liên). Y thường dẫn địch về càn quét, đốt phá, bắn giết cán bộ, nhân dân. Nhân dân trong vùng rất căm ghét nhưng cũng rất sợ hắn.

Đánh hơi thấy sự nguy hiểm, đêm đêm, Tổng Quỳnh phải mò lên bốt Diêm Điền, cách nhà y 3 km để ngủ mà không dám nằm nhà. Trần Bá Giản đã trực tiếp xuống địa bàn, gặp gỡ nhân dân, điều tra nắm tình hình, tìm ra quy luật đi lại, sinh hoạt ăn, ở của tên Quỳnh. Ông trực tiếp lên phương án, báo cáo cấp trên và cùng đồng đội thực hiện.

Kế hoạch của đội hành động là bí mật phục kích ở những nơi tên Quỳnh thường qua lại, khi hắn xuất hiện thì xông lên bắt sống. Ba lần phục kích không thành, một số anh em nản chí, muốn thay đổi địa điểm, ông động viên anh em kiên trì chờ đợi nhưng vẫn không thấy Tổng Quỳnh xuất hiện.

Không thể để y nhởn nhơ gây tội ác, Trần Bá Giản nảy ra ý nghĩ táo bạo: đột nhập bốt Diêm Điền. Sau khi đã nắm chắc quy luật đi lại, hoạt động của Tổng Quỳnh, ông đã cùng đồng đội bí mật, bất ngờ đột nhập vào bốt Diêm Điền giữa ban ngày, bắt sống Tổng Quỳnh, dẫn giải y qua chợ huyện đang lúc đông người, nhằm khuếch trương thanh thế, sau đó mới đưa hắn về căn cứ giao cho cách mạng xét xử.

Những người ở chợ hôm đó được tận mắt chứng kiến cảnh Tổng Quỳnh mặt tái mét, người rũ như tàu lá héo, đều thấy hả hê. Hành động quả cảm  của Trần Bá Giản và anh em trong đội hành động còn làm cho kẻ địch vô cùng kinh hãi.

Đêm 1 tết Tân Mão - năm 1951, Trần Bá Giản dũng cảm, bí mật vượt qua vọng gác, đột nhập vào phòng tên Chánh Ky - chỉ huy bọn vệ sĩ ở bốt Thượng Phúc (xã Thụy Sơn). Tên Chánh Ky lúc này đang cùng một số đàn em say sưa rượu chè rồi cờ bạc sát phạt nhau mà không hay biết gì.

Sau khi đặt dao găm và thư cảnh cáo lên bàn làm việc của Chánh Ky, ông bình tĩnh rút ra ngoài. Sáng hôm sau, tỉnh rượu, Chánh Ky và bọn đàn em nhìn thấy dao găm và thư cảnh cáo, thì vô cùng hoảng hốt. Y lệnh cho bọn đàn em không được tiết lộ chuyện Công an Việt Minh lọt vào tận hang ổ, nhưng hành động “xuất quỷ nhập thần” của Trần Bá Giản nhanh chóng được lan truyền trong dân chúng và hàng ngũ địch, đã làm cho bọn phản động hoang mang lo sợ, phải chùn tay không dám hung hăng như trước.

Trần Bá Giản còn chỉ huy nhiều trận chiến đấu ngoan cường, quả cảm như bắt bọn tay sai phản động Lý Thuyết, Lý Riểu, Lý Khanh... ở xã Thụy Sơn; hay những trận tập kích táo bạo, chớp nhoáng, cướp súng địch ở bốt Kha Lý, bốt Diêm Điền, ngay giữa ban ngày làm cho địch càng hoang mang, khiếp sợ.

Phát hiện thấy bọn lính Bảo Hoàng (lính do Chính phủ Bảo Đại tuyển mộ), ban ngày thường xuyên đi lại tuần tra từ bốt Diêm Điền đến khu vực cống Thóc, xã Thụy Trình, ông chọn khu vực cống Thóc làm địa điểm phục kích để cướp súng của bọn chúng. Bọn địch lúc đi thì hàng ngũ chỉnh tề, lúc về thì uể oải, trễ nải. Từ vị trí phục kích, ông bất ngờ xông lên, miệng hô xung phong và nhanh như cắt lao vào cướp súng địch.

Một mình ông giằng co, giật được 2 khẩu súng của bọn lính và chạy. Sau giây phút bất ngờ, hoảng loạn, những tên lính Bảo Hoàng vốn ham sống sợ chết, mới nổ súng, vãi đạn về phía ông, nhưng ông đã kịp khuất sau những bụi cây ven đường cùng với những khẩu súng vừa cướp được.

Cuối tháng 4/1951, quân Pháp mở chiến dịch Meduse (Sứa biển) vào 2 huyện Thụy Anh, Phụ Dực và một phần của huyện Quỳnh Côi. Cả hai huyện bị chiếm đóng, nhân dân bị kìm kẹp, tình hình hết sức khó khăn. Huyện ủy Thụy Anh giao nhiệm vụ cho công an phối hợp với bộ đội địa phương, du kích thực hiện phá tề trừ gian, phá thế kìm kẹp của địch.

Giữa năm 1951, Trần Bá Giản và đội hành động được giao nhiệm vụ phối hợp với bộ đội huyện Thụy Anh phá tề ở thôn Nhạo Sơn, xã Hồng Hưng (nay là xã Thụy Sơn). Đây là địa bàn quan trọng, nên địch cho lập bốt Đồng Hòa ở xã Thụy Phong do quân Pháp đóng; gần đó là bốt vệ sĩ Thượng Phúc xã Thụy Sơn, để án ngữ và khống chế hoạt động của Việt Minh ở khu vực này. Do vậy, nếu xóa được hội tề thôn Nhạo Sơn sẽ gây được tiếng vang, góp phần khôi phục phong trào trong vùng, song đây cũng là nhiệm vụ vô cùng khó khăn. Trần Bá Giản đã xây dựng phương án cụ thể và cùng anh em trong đội hành động bàn bạc, hạ quyết tâm thực hiện.

Vào một đêm hè, ông nhận nhiệm vụ nặng nề và nguy hiểm là trực tiếp bắt sống tên Tín, một tên xã ủy cực kỳ phản động, gian ác, có nhiều nợ máu với cách mạng và nhân dân trong vùng.

Mặc dù địch canh phòng rất cẩn mật, ông vẫn mưu trí, vượt qua các vọng gác, bí mật tiếp cận mục tiêu. Khi thấy ông đột ngột xuất hiện, tên Tín thoáng chút bất ngờ, song y đã kịp trấn tĩnh tìm cách đối phó. Hai bên vật lộn dữ dội. Ông bị bố con tên Tín vừa hô hoán vừa chống trả quyết liệt. Bọn địch ở bốt Đồng Hòa đang đi tuần và bọn vệ sĩ bốt Thượng Phúc gần đó nghe tiếng kêu cứu của bố con tên Tín liền kéo đến hỗ trợ. Ông bị chúng bắn bị thương và bị bắt.

Bọn địch hân hoan, mừng rỡ vì đã bắt được một chỉ huy Công an Việt Minh tài giỏi. Chúng tìm mọi thủ đoạn thâm độc, xảo quyệt, từ dùng cực hình, tra tấn dã man, đến mua chuộc, dụ dỗ, nhưng Trần Bá Giản vẫn giữ vững khí tiết người Cộng sản, người chiến sĩ công an cách mạng kiên cường, bất khuất, quyết không khai báo để bảo vệ bí mật cho lực lượng, cho Đảng, cho cách mạng.

Không khuất phục được ông, ngày 17/6/1951, bọn địch đã giết hại ông, chúng treo đầu ông trên cây đa ven đường thôn Nhạo Sơn, nơi có đông người qua lại với tấm biển có dòng chữ “Việt Minh nhìn đây, hãy coi chừng”, hòng uy hiếp tinh thần của cán bộ và nhân dân ta. Địch còn cho quân canh gác đêm ngày, không cho đồng đội và thân nhân của ông đến lấy đầu ông đưa đi chôn, nhưng đến một buổi sáng, đầu của người anh hùng đã biến mất. Địch càng kinh hãi, khiếp sợ.

Gương chiến đấu hy sinh anh dũng và khí tiết cách mạng kiên cường, bất khuất của Trần Bá Giản là biểu tượng cao đẹp của người chiến sĩ CAND tận trung với Đảng, tận hiếu với dân, vì nước quên thân, vì dân phục vụ. Trần Bá Giản hy sinh nhưng tấm gương “sống dũng cảm, chết anh hùng” của ông đã được đồng chí, đồng đội và cán bộ nhân dân địa phương học tập, noi theo.

Trần Bá Giản đã được truy tặng Huân chương Chiến công hạng III. Ngày 1/9/2000, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trần Đức Lương đã ký Quyết định số 389KT/CTN, truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho liệt sĩ CAND Trần Bá Giản.

Ngày nay, dưới gốc đa thôn Nhạo Sơn, xã Thụy Sơn, nơi cách đây 56 năm, kẻ thù hèn hạ đã giết hại và treo đầu ông trên cành đa, vào những ngày Rằm, mồng Một nhân dân trong vùng vẫn tới thắp hương tại một ngôi miếu nhỏ. Mọi người tưởng nhớ đến ông, một người Anh hùng với những chiến công như huyền thoại
( Báo antg)
Logged
satthat
Thành viên
*
Bài viết: 160


« Trả lời #13 vào lúc: 18 Tháng Bảy, 2008, 10:52:02 PM »

HƯNG YÊN
TRUNG TƯỚNG NGUYỄN BÌNH

Nguyễn Bình tên khai sinh là Nguyễn Phương Thảo, quê làng An Phú, xã Giai Phạm, huyện Yên Mỹ nhưng sống ở thành phố Hải Phòng.

Ông sinh năm 1908 trong một gia đình trung lưu có 5 người con, ông là thứ 4, vóc dáng khỏe mạnh, khuôn mặt cương nghị, tính tình phóng túng. Từ ông toát ra một sự tự tin, một sức mạnh nội tâm được kiềm chế gây ấn tượng mạnh mẽ cho người đối thoại. Năm 17 tuổi đang học năm thứ 2 trường Trung học Hải Phòng, ông trốn gia đình vào Nam giao du với nhà văn giang hồ Vương Sơn. Sau ông kết thân với nhà văn, nhà báo Trần Huy Liệu bấy giờ là Đảng viên Việt Nam Quốc dân Đảng và trở thành Đảng viên tích cực của Đảng này, giữ chức Trưởng ban tổ chức. Năm 1928 Xứ bộ Việt Nam Quốc dân Đảng Nam Kỳ được thành lập, hoạt động với tôn chỉ: “Dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc”. Ông được bầu vào Ban chấp hành Xứ bộ, Trần Huy Liệu giữ chức Bí thư.

Năm 1929 ông và Trần Huy Liệu bị bắt, bị kết án 5 năm tù và đày Côn Đảo. Khi ở tù, được tiếp xúc với những đảng viên cộng sản, ông có thiện cảm với Đảng cộng sản. Chính vì vậy mà ông bị bọn cầm đầu Quốc dân Đảng thanh trừng, bị khoét mất mắt trái. Cũng từ đó ông nhận ra rằng khẩu hiệu của chủ nghĩa Tam dân thực chất chỉ là khẩu hiệu suông, còn bọn cầm đầu thì theo mục đích: “Vinh thân thì gia” và không ngần ngại thủ tiêu những đồng đảng khác chính kiến.

Năm 1935 mãn hạn tù, ông trở về quê nhà. Tuy bị quản thúc nhưng ông vẫn nuôi ý chí cách mạng, bí mật xây dựng Đông Triều làm căn cứ chống Pháp. Khoảng năm 1941-1942, ông được tổ chức Đảng và Việt Minh giao cho nhiệm vụ mua vũ khí chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa. Ông đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đồng thời còn vận động binh lính các đồn Thủy Nguyên, Cửa Ông, thị xã Kiến An cung cấp vũ khí. Nhờ súng đạn nhiều mà Đông Triều trở thành chiến khu vững vàng và chùa Bắc Mã là tổng hành dinh của quân giải phóng chiến khu Đông Triều.

Đêm 12/3/1945 ông tham gia đánh trận đồn Bần Yên Nhân, thu được nhiều thắng lợi. Trận đánh đồn Bần được coi là trận đánh kiểu mẫu ở đồng bằng. Tháng 4/1945 Hội nghị quân sự Bắc kỳ quyết định cả nước chia làm 7 quân khu, Bắc Bộ có 4, ông giữ chức Tư lệnh Đệ tứ quân khu (tức chiến khu Đông Triều gồm các tỉnh Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Hải Phòng, Hòn Gai, Móng Cái và Lạng Sơn).

Trong tháng 6, tháng 7 năm 1945 ông chỉ huy nhiều trận đánh lớn, thu được nhiều lương thực và vũ khí, như trận phục kích trên sông Kinh Thầy, trận tấn công đồng loạt 5 đồn Thanh Hà, Kinh Môn, Thuỷ Nguyên, Uông Bí, và Bí Chợ, đặc biệt là trận Quảng Yên. Trong các trận này thu 600 súng trường, 400 trung liên. Thừa thắng ông mang quân đi yểm trợ cuộc khởi nghĩa ở Hải Phòng, sau đó giải phóng Tiên Yên, Ba Chẽ, Hòn Gai, Cẩm Phả, Cát Bà.

Do có biệt tài về quân sự, tháng 9/1945 ông được Hồ Chủ tịch cử vào miền Nam lo việc thống nhất các lực lượng vũ trang tại chiến trường Nam Bộ, được giao giữ chức ủy viên quân sự Nam bộ kiêm khu trưởng khu VII, rồi Tư lệnh mặt trận Nam Bộ với toàn quyền quyết định các việc thuộc lĩnh vực quân sự tại Nam Bộ.

Trong những ngày đầu kháng chiến, tình hình Nam Bộ hết sức rối ren, phức tạp, có thể ví như thời kỳ “Thập nhị sứ quân” - gồm nhiều Đảng phái, anh hùng hảo hán và phải đối diện với một đội quân viễn chinh hùng hậu. Nguyễn Bình đã tìm mọi cách tập hợp các lực lượng kháng chiến dưới sự chỉ huy chung và nhanh chóng tổ chức một cuộc kháng chiến toàn lực, toàn diện. Đây là một công việc cực kỳ phức tạp, khó khăn, nhưng biết dựa vào quần chúng, lấy chính nghĩa thu phục lòng người, ông đã thành công trong sứ mệnh lịch sử này, góp phần thay đổi cục diện chiến trường có lợi cho ta, kìm hãm, đẩy lùi bước chân xâm lược của kẻ thù.

Những chiến công buổi đầu của quân dân Nam Bộ được gắn liền với tên tuổi Nguyễn Bình, khiến các giới chính trị, quân sự Pháp cũng phải kính nể.

Năm 1947, ông được kết nạp vào Đảng cộng sản Việt Nam.

Ngày 25/1/1948 Hồ Chủ tịch ký sắc lệnh phong cho ông hàm Trung tướng. Đây là trung tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Tháng 9/1951, theo yêu cầu của Trung ương, ông lên đường ra Bắc nhận nhiệm vụ mới. Trên đường đi ông bị giặc phục kích, hy sinh tại biên giới Việt - Miên.

Trung tướng Nguyễn Bình là người chỉ huy mưu lược, quyết đoán và dũng cảm, giữ kỷ luật nghiêm minh, lập nhiều chiến công xuất sắc ở những nơi nguy hiểm vào những thời điểm khó khăn nhất. Ông có công trong việc thống nhất lực lượng kháng chiến ở Nam Bộ và xây dựng Ban công tác thành (biệt động) Sài Gòn. Tháng 2 năm 1952 Hồ Chủ tịch ký sắc lệnh 84/SL truy tặng ông Huân chương Quân công hạng nhất. Ông cũng là người đầu tiên trong quân đội được nhận Huân chương cao quý này.

Sau khi ông qua đời, nhiều sách báo đã viết về ông như một hiện tượng đặc biệt về tài năng quân sự những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp.

Năm 2000, Bộ Tư lệnh quân khu VII đã di chuyển hài cốt ông về an táng tại nghĩa trang thành phố Hồ Chí Minh. Ông được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
( BÁO HƯNG YÊN)
Logged
satthat
Thành viên
*
Bài viết: 160


« Trả lời #14 vào lúc: 25 Tháng Bảy, 2008, 03:45:50 PM »

BÌNH ĐỊNH
Chân dung người anh hùng đánh bom cảm tử Ngô Mây
Ngô Mây – người anh hùng đánh bom cảm tử – là một nhân vật lịch sử nổi tiếng, đặc biệt đối với người dân Bình Định. Ngô Mây sinh năm 1924, quê ở xã Cát Khánh, huyện Phù Cát. Nhà nghèo, cha mất sớm, năm 1945 Ngô Mây cùng tham gia cướp chính quyền ở huyện lỵ. Tháng 7-1947, Ngô Mây từ biệt mẹ già nhập ngũ. Anh xung phong vào Tiểu đoàn 120, Đại đoàn 305. Ngô Mây hy sinh năm 1947. Tên của anh đã được đặt cho nhiều địa danh: Thị trấn Ngô Mây (Phù cát), phường Ngô Mây, đường Ngô Mây, trường THCS Ngô Mây (TP. Quy Nhơn)…

Tư liệu sau đây của Văn Phong (Báo SGGP) cho ta biết thêm người anh hùng bất tử ấy có một chân dung bình dị rất đời thường và có một tình yêu da diết…

Qua lời kể của đại tá Trần Tiến Lưu (nguyên chính trị viên tiểu đoàn), đại tá Nguyễn Tùng Vân (nguyên Trung đội trưởng Tiểu đoàn 50, hiện nghỉ hưu ở phường 9 – Đà Lạt), đại tá Quách Tử Hấp (nguyên đại đội trưởng) và một số đồng chí khác cùng đơn vị với anh Ngô Mây giúp chúng ta hiểu thêm về người anh hùng.

Ngày 19-12-1946, cuộc kháng chiến thần thánh chống quân xâm lược Pháp của nhân dân cả nước bùng nổ. Ở chiến trường Liên khu 5, các trung đoàn chủ lực của quân đội ta ra đời. Giặc Pháp có vũ khí hiện đại, quân đội ta vũ khí còn thô sơ đòi hỏi phải có ý chí chiến đấu kiên cường, mưu trí dũng cảm và trên hết phải có tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết dinh”.

Đại đội quyết tử của Tiểu đoàn 50, trung đoàn 94 (sau đổi thành Trung đoàn 108 – Anh hùng LLVTND) được thành lập trong bối cảnh đó. Việc tuyển chọn rất kỹ lưỡng, đặc biệt là ý chí quyết tử dù thanh niên ta thời đó không ai nao núng – sẵn sàng nhập ngũ. Đại hội tuyển được 160 chiến sĩ, trang bị 12 súng trường, 1 trung liên FM, còn lại là mã tấu, lựu đạn, chai xăng, mìn ba càng và 5 quả bom (mỗi quả 25kg). Sau một thời gian ngắn học tập chính trị, quân sự, mọi người đều khắc sâu hai chữ “quyết tử”. Đêm nào đơn vị cũng sinh hoạt tập thể, bộ đội vừa hát vừa vỗ tay vang dội xóm làng.

Từ khi về đại đội quyết tử, Ngô Mây xung phong nhận một quả bom. Sau một ngày luyện tập lăn lê, bò toài mệt nhoài, tối đến anh vẫn dành thời gian nâng niu lau chùi quả bom chờ ngày xung trận. Đại tá Nguyễn Tùng Vân kể lại: “Anh Ngô Mây là một lực điền cao lớn, da ngăm đen, một tay chơi bóng nhà binh số một của đại đội, táo bạo và có tốc độ nhanh và anh đã được họa sĩ Văn Giác chọn mẫu vẽ Người chiến sĩ Vệ quốc khu V”.

Nhiệm vụ của đại đội Ngô Mây trong trận đánh phục kích địch ngày 24-10-1947 ở Rộc Dứa – Suối Vối trên đường quốc lộ 19 – mặt trận An Khê (đường từ Quy Nhơn đi Gia Lai) là quyết diệt cho được xe tăng, xe bọc thép của giặc Pháp từ An Khê xuống. Cả đại đội đều xung phong nhận nhiệm vụ nhưng cuối cùng, đại đội trưởng Quách Tử Hấp và chính trị viên Đoàn Xảo chỉ huy trận đánh đã chọn Ngô Mây. Có lẽ vì anh là người rất khỏe, tập tành hăng hái lại chất phác. Có một chi tiết khá thú vị nữa là vì biết Ngô Mây “ăn luôn thiếu cơm và thường xuống nhà bếp xin thêm cơm cháy nên mỗi khi đánh nhau, khi hành quân đơn vị đều ưu tiên cho Ngô Mây nắm cơm to nhất” (lời đại tá Tùng Vân).

Chiều 23-10-1947, Ngô Mây kéo anh Phạm Trĩ (tiểu đội phó) ra sau rẫy sắn, trao một khăn lụa có viền chỉ đỏ, một tấm ảnh và 3 bức thư. Mây nói, một thư nhờ anh Trĩ đưa cho mẹ, một thư gửi lại anh em trong đơn vị, và một thư có cả ảnh và chiếc khăn này nhờ anh tìm gặp đưa cho Thu Hà người vợ chưa cuối của Mây. Mây đưa ảnh cho Trĩ xem. Ảnh chụp đôi mà chỉ có một. Đó là một cô gái đôn hậu, có mái tóc dài, còn người ngồi kế bên là Ngô Mây. Nhưng Mây đã dùng tăm hương đốt cháy hình mình, chỉ còn lại một bàn tay đặt trên vai hình ảnh người bạn đời chưa cưới. “Sao lại đốt?” – Trĩ hỏi. Mây đáp: “Mong Thu Hà quên đi. Để nhớ làm gì cho tội!”.

Đêm 23, đơn vị tập kết tại xóm Ké, làm lễ xuất quân. Ngô Mây cổ quàng khăn đỏ (tất cả các chiến sĩ quyết tử lúc đó, khi xung trận đều quàng khăn đỏ) ôm chặt trái bom, đứng trước cờ nghiêm trang tuyên thệ: “Xin thề, sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc”. 1 giờ sáng ngày 24, đơn vị hành quân chiếm lĩnh trận địa. Đại bộ phận bố trí phía Đông đường 19, có nhiệm vụ nổ súng bắn chặn nhằm thu hút địch. Bộ phận phía Tây (cách đó vài trăm mét), trong đó có Ngô Mây, lợi dụng rừng rậm áp sát đường để đảm bảo tính bất ngờ. Và đúng như dự kiến, khoảng 8 giờ ngày 24-10, một đoàn 4 xe GMC chở đầy lính Âu Phi từ An Khê chạy tới. Vừa thấy cầu bị cháy (đêm 23-10, quân ta đã đốt cầu Suối Vối), tên sĩ quan chỉ huy Pháp cho xe dừng lại. Ở phía Đông đường, quân ta đồng loạt nổ súng. Bọn giặc nhảy xuống xe dùng hỏa lực phản ứng mạnh. Súng trung liên của ta bắn được hai loạt 12 viên thì bị hóc đạn, sửa được bắn tiếp một loạt nữa lại hóc, đạn cũng chỉ còn 6 viên, súng trường mỗi cây 5 viên, cũng hết đạn. Ta tạm thời rút về hướng Đông. Vừa lúc ấy có tiếng xe thiết giáp ầm ầm chạy tới. Một xe AM to lớn đen sì dừng giữa trận địa. Đoàn xe 5 chiếc cụm lại, địch đứng khá đông quanh xe bọc thép. Tất cả chúng đều tập trung chú ý về hướng ta thu quân. Tên chỉ huy đứng trên xe AM quát to: “Việt Minh đâu, Việt Minh đâu?”.

Khi xe thiết giáp giặc nằm ngay trước mặt, giờ quyết định đã đến. Mây cởi đôi dép cao su và chiếc áo may ô còn lại trong người trao cho một đồng đội. Mây nói: “Tôi gửi lại cho anh em dùng vì những thứ này tôi không cần nữa! Tôi đi đây!”. Siết mạnh tay đồng đội, từ trong bụi rậm ở phía Tây đường trước sự ngơ ngác và khiếp đảm của lũ giặc Pháp, Ngô Mây như một mũi tên, bất ngờ lao ra, ôm bom 3 càng lao thẳng vào xe bọc thép giặc. Một tiếng nổ rung trời… Bọn giặc kinh hoàng vội vã tháo chạy. Một xe bọc thép, hai xe GMC và gần một trung đội lính Âu Phi trên xe, dưới đất bị tiêu diệt. Và Ngô Mây, người anh hùng quyết tử chỉ còn lại chiếc khăn quàng đỏ nằm vắt trên ngọn một cây cao. Năm ấy Ngô Mây vừa tròn 23 tuổi.

( Báo Bình Định)
Logged
satthat
Thành viên
*
Bài viết: 160


« Trả lời #15 vào lúc: 25 Tháng Bảy, 2008, 03:50:33 PM »

CAO BẰNG
Anh hùng Phùng Văn Khầu
Sinh ra và lớn lên ở Trùng Khánh (Cao Bằng), chàng thanh niên người Tày Phùng Văn Khầu khao khát một ngày được tham gia bảo vệ Tổ quốc. Mẹ mất sớm, nước mất, nhà tan, ông bỏ nhà tham gia quân đội khi chưa tròn 16 tuổi. Vào pháo binh, ông được biên chế vào Binh chủng Pháo binh E675 (trung đoàn 675). Ngày đầu làm quen với khẩu pháo thật khó khăn. Không biết chữ, không biết sử dụng máy ngắm, ông chỉ còn cách ngắm bắn qua nòng bằng mắt thường. Ban đầu ước lượng bằng mắt, ông bắn toàn trượt. Tập mãi rồi cũng quen, ông ngắm qua nòng không thua gì ngắm máy.

Những ngày tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ là những thời khắc không thể nào quên.  Cả đơn vị của ông có 3 khẩu đội (mỗi khẩu đội 9 người) được cấp ba khẩu pháo 75ly, mỗi khẩu nặng gần 500kg. Thông thường, để di chuyển được một khẩu pháo như thế, người ta phải tháo rời ra từng mảnh và chia cho 27 người khuân nhưng do yêu cầu nhiệm vụ, khẩu đội của Phùng Văn Khầu phải vào trận địa trước. Chỉ với 9 người, ông và các đồng chí trong khẩu đội phải vác nặng gấp 3, chiến đấu gấp 3 bình thường.

Với tinh thần mưu trí và ý chí chiến đấu ngoan cường, ông cùng các đồng đội liên tiếp tiêu diệt thành công các trận địa pháo, lô cốt của địch. 22 quả đạn pháo thì 21 quả trúng mục tiêu quân thù. Đồng đội của ông lần lượt hi sinh. 9 người còn 3, rồi 3 người còn 1. Còn lại một mình, ông quyết tâm trả thù cho đồng đội. Làm thay công việc của 8 người, ông đánh vật với khẩu pháo gần nửa tấn. Tất cả lòng căm thù, ý chí chiến đấu của ông tập trung vào nòng pháo, lần thứ nhất, với khoảng cách 150m, ông bắn trượt. Lần thứ hai, được chỉnh lại khoảng cách, quả pháo "chui tọt vào lỗ châu mai". Những quả sau đó "đã bắn là trúng". Trận đánh ấy, một mình một khẩu pháo 75ly, ông tiêu diệt được 5 khẩu pháo 105ly, 6 khẩu đại liên, 4 lô cốt, 1 kho đạn của địch. Chiến công của ông đã góp phần quan trọng vào chiến thắng Điện Biên lịch sử của quân và dân Việt Nam trong chiến tranh chống thực dân Pháp. 36 ngày đêm chiến đấu của cả khẩu đội giờ đã trở thành huyền thoại.

Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc, ông vinh dự được gặp Bác Hồ tại chiến khu Việt Bắc. Tháng 5 năm 1955, ông được Quân đội cử đi dự Liên hoan Thanh niên, sinh viên thế giới lần thứ 5 tại Vacsava (thủ đô Ba Lan). Trong năm đó, ông được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng quân đội. Những năm tiếp theo, ông được đi học văn hoá rồi trở thành sĩ quan quân đội, tham gia nhiều trận chiến đấu ác liệt chống Mỹ cứu nước tại Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Tà Cơn, Đường 9 nam Lào, Mậu Thân 68...

Cuộc chiến năm xưa đã lùi vào dĩ vãng. Khẩu pháo của đơn vị ông năm xưa trút lửa đạn xuống đầu thù giờ đây đang nằm ở Bảo tàng Chiến thắng Điện Biên Phủ. Khẩu pháo như một minh chứng nhắc nhở con cháu hôm nay và thế hệ mai sau giữ vững và phát huy truyền thống của những người đi trước "chiến đấu đến hơi thở cuối cùng".

Sau năm 1954 hàng nghìn người con Cao Bằng đã gia nhập đội quân Nam tiến, nhiều chiến sĩ đã chiến đấu dũng cảm, đạt thành tích vẻ vang, được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, đó là những tấm gương sáng chói cho muôn đời sau. Cùng với những tấm gương anh hùng ở mọi miền Tổ quốc, những người con anh hùng ở Cao Bằng đã góp phần vào sự nghiệp to lớn của cả dân tộc, xứng đáng được ghi danh vào lịch sử dân tộc Việt Nam thế kỷ XX./.

( Báo Cao Bằng)
Logged
satthat
Thành viên
*
Bài viết: 160


« Trả lời #16 vào lúc: 25 Tháng Bảy, 2008, 03:54:25 PM »

CAO BẰNG
Anh hùng liệt sỹ Bế Văn Đàn
Đồng chí Bế Văn Đàn, sinh năm 1931, dân tộc Tày, quê ở xã Quang Vinh (nay là xã Triệu Ẩu), huyện Phục Hoà, tỉnh Cao Bằng. Xuất thân trong một gia đình nghèo có truyền thống cách mạng, cha làm thợ mỏ, mẹ mất sớm, lớn lên đồng chí tham gia hoạt động du kích. Tháng l năm 1948 đồng chí xung phong vào bộ đội và tham gia nhiều chiến dịch, đồng chí luôn nêu cao tinh thần dũng cảm, tích cực vượt qua mọi khó khăn ác liệt, kiên quyết chấp hành mọi chỉ thị mệnh lệnh nghiêm túc, chính xác kịp thời, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Cuộc kháng chiến chống thực đân Pháp đang ở giai đoạn quyết liệt, Đảng ta quyết định mở chiến dịch Đông Xuân năm 1953 - 1954, đơn vị hành quân đi chiến dịch, đồng chí Bế Văn Đàn làm liên lạc tiểu đoàn. Một đại đội của tiểu đoàn được giao nhiệm vụ bao vây giữ địch ở Mường Pồn. Lúc đó, khi thấy lực lượng ta ít, địch tập trung hai đại đội có phi pháo yểm trợ liên tiếp phản kích, nhưng cả hai lần chúng đều bị quân ta đánh bật. Cuộc chiến đấu diễn ra căng thẳng và quyết liệt. Địch liều chết xông lên. Ta kiên quyết ngăn chặn, chốt giữ. Cần có lệnh cho đại đội quyết tâm giữ ở Mường Pồn bằng bất cứ giá nào, để các đơn vị khác triển khai lực lượng, thực hiện các chủ trương của chiến dịch. Mặc dù đồng chí vừa đi công tác về nhưng khi thấy chỉ huy thông báo đồng chí đã xung phong lên đường làm nhiệm vụ. Mặc cho bom rơi, đạn nổ, đồng chí đã dũng cảm vượt qua lưới đạn dày đặc của địch, xuống truyền đạt mệnh lệnh cho đại đội kịp thời, chính xác. Trong khi đó, trận chiến đấu diễn ra ngày càng ác liệt hơn, đồng chí được lệnh ở lại đại đội chiến đấu. Địch phản kích lần thứ ba, chúng điên cuồng mở đường tiến, đại đội bị thương vong nhiều, chỉ còn 17 người, bản thân Bế Văn Đàn cũng bị thương, nhưng đồng chí vẫn tiếp tục chiến đấu. Một khẩu trung liên của đơn vị không bắn được vì xạ thủ hy sinh. Khẩu trung liên của Chu Văn Pù cũng chưa bắn được vì không có chỗ đặt súng, tình thế hết sức khẩn trương, không ngần ngại Bế Văn Đàn chạy lại cầm 2 khẩu trung liên đặt lên vai mình và hô bạn bắn. Đồng chí Pù còn do dự thì Bế Văn Đàn đã nói: ''Kẻ thù trước mặt, đồng chí có thương tôi thì bắn chết chúng nó đi''. Đồng chí Pù nghiến răng nổ súng vào đội hình quân địch quật ngã hàng chục tên. Địch hoảng hốt bỏ chạy, đợt phản kích này của chúng bị bẻ gãy. Trong lúc lấy thân mình làm giá súng, đồng chí Bế Văn Đàn bị hai vết thương nữa và đã anh dũng hy sinh, hai tay vẫn còn ghì chặt súng trên vai mình. Tấm gương dũng cảm của đồng chí đã cổ vũ cán bộ, chiến sĩ trên toàn mặt trận hăng hái thi đua giết giặc lập công, góp phần làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu.

Đồng chí Bế Văn Đàn lúc hy sinh là tiểu đội phó, Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Tấm gương chiến đấu dũng cảm, chấp hành nghiêm mệnh lệnh của cấp trên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Do đó, trong đại hội mừng công của đơn vị, đồng chí Bế Văn Đàn được truy tặng Huân chương chiến công hạng nhất và được bình bầu là chiến sĩ thi đua số một của tiểu đoàn. Với những thành tích đặc biệt xuất sắc, ngày 31/8/1955, đồng chí được Quốc hội truy tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và Huân chương quân công hạng nhì.

Đồng chí Bế Văn Đàn là một người anh hùng liệt sĩ cùng hàng ngàn các anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống lúc tuổi đôi mươi, góp phần làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ ''nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng'' và đến Đại thắng mùa xuân năm 1975 lịch sử. Với những cống hiến đó, đồng chí không những là một tấm gương, một niềm tự hào của nhân dân các dân tộc Cao Bằng mà còn là niềm tự hào của nhân dân cả nước.

( Báo Cao Bằng)
Logged
satthat
Thành viên
*
Bài viết: 160


« Trả lời #17 vào lúc: 25 Tháng Bảy, 2008, 03:56:10 PM »

CAO BẰNG
Thiếu tướng Hoàng Sâm - Người đội trưởng đầu tiên của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân
Ngày 22/12/2006, Đội Việt Nam tuyền truyền giải phóng quân được thành lập tại Khu rừng Trần Hưng Đạo, xã Tam Kim, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng. Đồng chí Hoàng Sâm là chỉ huy của Đội.

            Đồng chí Hoàng Sâm, tên thật là Trần Văn Kỳ, sinh năm 1915, xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo ở xã Lê Lợi, huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình. Năm 1927, khi đồng chí Sâm mới 12 tuổi đã rời làng quê sang Xiêm (Thái Lan sinh sống). Năm 1928-1929, khi đồng chí Nguyễn Ái Quốc với bí danh là Thầu Chín sang hoạt động cách mạng ở Xiêm, Trần Văn Kỳ được chọn làm liên lạc trong suốt thời gian Người hoạt động ở Xiêm. Năm 1933, Trần Văn Kỳ được kết nạp vào Đoàn thanh niên cộng sản, sau đó được kết nạp vào Đảng cộng sản Đông Dương. Năm 1934, đồng chí Kỳ bị mật thám Thái Lan bắt và giao cho lãnh sự Pháp ở Băng Cốc tra tấn, hỏi cung. Sau gần một năm giam giữ vì không có chứng cớ cụ thể, chúng phải thả và trục xuất ngay sau đó. Rời Thái Lan, ông sang Quảng Tây, Trung Quốc, gặp Phùng Chí Kiên, tham gia “Điền kiểm quế biên khu du kích đội”- một tổ chức kháng Nhật của Đảng cộng sản Trung Quốc hoạt động ở 3 tỉnh biên giới Quảng Tây, Vân Nam, Quý Châu. Giữa năm 1940, ông học quân sự ở Trường Trương Bội Công, được gặp Thầu Chín (Nguyễn Ái Quốc) và được Người đặt cho bí danh là Hoàng Sâm. Sau đó ông cùng 40 cán bộ ở Cao Bằng từ bỏ Trường Trương Bội Công trở về nước hoạt động. Cuối năm 1940, Hoàng Sâm được dự lớp huấn luyện cán bộ về công tác tổ chức các đoàn thể quần chúng nhằm chuẩn bị thành lập mặt trận dân tộc dân chủ rộng rãi, lớp học này do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cùng các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Phùng Chí Kiên, Phạm Văn Đồng, Vũ Anh trực tiếp giảng dạy.

            Ngày 28/01/1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc từ Trung Quốc về Pác Bó – Cao Bằng. Tháng 5/1941, Người triệu tập Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 tại Khuổi Nặm. Hoàng Sâm được Nguyễn Ái Quốc giao nhiệm vụ tổ chức đường dây qua Lạng Sơn để đón đại biểu về dự hội nghị quan trọng này. Cuối năm 1941, Hoàng Sâm làm đội phó đội vũ trang Cao Bằng. Thời gian này, ở biên giới Việt – Trung, nạn thổ phỉ hoành hành dữ dội, Trần Sơn Hùng (bí danh của Hoàng Sâm) được chúng kiêng nể bởi sự gan dạ, dũng cảm và tài ba, có biệt tài phi ngựa không cần yên cương, bắn súng ngắn cả hai tay, bọn trùm phỉ khét tiếng như Voòng A Sáng, Voòng An Sính, Lý Xìu… nghe danh “ông Trần” đều phải kiêng nể. Hoàng Sâm không quản nguy hiểm vào tận sào huyệt của chúng thi bắn súng, cưỡi ngựa, ném lừu đạn. Những hoạt động khôn khéo, dũng cảm của Hoàng Sâm cùng với uy tín cá nhân của ông đã hạn chế sự phá phách, lộng hành của các toán phỉ, tạo điều kiện cho các hội cứu quốc ở vùng Lục Khu (Hà Quảng) phát triển. Tháng 7/1943, Hoàng Sâm được giao nhiệm vụ tổ chức, bảo vệ các tổ xung phong Nam Tiến. Chỉ huy đội vũ trang “Hộ lương, diệt ác” trừng trị bọn việt gian phản động và các nhóm quân Pháp đang gây tội ác ở Nguyên Bình, Ngân Sơn, Chợ rã. Ngày 22/12/1944, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập, Hoàng Sâm được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chọn làm Đội trưởng, trực tiếp chỉ huy các trận đánh Phai Khắt, Nà Ngần, Đồng Mu và Nà Ngần lần thứ hai. Sau ngày Nhật đảo chính (9/3/1945), Hoàng Sâm chỉ huy giải phóng các châu Ngân Sơn, Chợ rã, phía bắc Bạch Thông, giải tán bộ máy tổng lý, cường hào. Cuối tháng 3/1945, Hoàng Sâm cùng với Đàm Quang Trung chỉ huy các đơn vị đánh Nhật ở Phủ Thông, thành lập chính quyền cách mạng cấp xã ở đây. Tổng khởi nghĩa tháng 8/1945, ông chỉ huy đánh Nhật ở Bắc Kan, Thái Nguyên bảo vệ khu giải phóng Cao, Bắc, Lạng, Thái, Hà, Tuyên. Sau trận đánh Thái Nguyên ông đưa đơn vị về Vĩnh Yên tiêu diệt lực lượng Quốc dân Đảng phản động Đỗ Đình Đạo…

            Kháng chiến chống Pháp bùng nổ, ông làm Chỉ huy trưởng mặt trận Tây Tiến, khu trưởng chiến khu II, chiến khu III. Có nhiều câu chuyện như thần thoại về tài năng quân sự của Hoàng Sâm được bộ đội Tây Tiến và bà con các dân tộc Tây Bắc khâm phục truyền tụng. Năm 1948, Hoàng Sâm được phong quân hàm thiếu tướng, sau là đại biểu quốc hội các khoá II và III. Năm 1951-1953, ông là phái viên của Bộ tham gia chiến dịch với các đại đoàn 312, 304. Sau làm Đại đoàn trưởng 304, Chỉ huy trưởng mặt trận Trung – Lào. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, ông tiếp quản Hải Phòng. Cuối năm 1955, ông làm Tư lệnh quân khu Tả Ngạn, sau đó làm Tư lệnh quân khu Hữu Ngạn, Tư lệnh quân khu III.

            Năm 1962, Hoàng Sâm làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào với bí danh Chăn Di… được các đồng chí lãnh đạo nước Lào hết sức tin cậy và kính trọng. Về nước ông được cử làm Tư lệnh quân khu Trị Thiên Huế. Tháng 12/1968, Thiếu tướng Hoàng Sâm đã hy sinh anh dũng tại chiến trường Bình Trị Thiên. Ông ra đi ở tuổi 53, Hoàng Sâm là tướng tài bà, người học trò được Bác Hồ tin cậy và quý trọng.

( Báo Cao Bằng)
Logged
satthat
Thành viên
*
Bài viết: 160


« Trả lời #18 vào lúc: 26 Tháng Bảy, 2008, 09:50:45 AM »

CAO BẰNG
Anh hùng lực lượng vũ trang La Văn Cầu
Anh sinh ra và lớn lên trong một gia đình vốn có mối thù sâu sắc với đế quốc, phong kiến. Khi còn bé, anh chứng kiến cái chết uất ức của cha, hậu quả của những trận đòn tra tấn đánh đập dã man, kiệt sức rồi qua đời. Cuộc đời lam lũ cực khổ như đè nặng lên đôi vai nhỏ bé của anh từ thuở thiếu thời.

Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công, được nhiều cán bộ tuyên truyền giác ngộ, anh càng hiểu rõ nguồn gốc sự cực khổ của người nghèo và người dân mất nước, nên hăng hái tham gia vào công cuộc kháng chiến ở quê hương. Với khát khao được cầm súng giết giặc giải phóng đất nước, La Văn Cầu mới 16 tuổi đã khai tăng lên 18 tuổi để được vào bộ đội. Lúc đó là năm 1948, thời kỳ đầu của cuộc kháng Pháp vô cùng gian khổ, thiếu thốn. Nhưng niềm vui và ý chí đã giúp anh vượt qua khó khăn, vươn lên rèn luyện thành một chiến sĩ gương mẫu, giàu lòng nhân ái, nên được anh em đồng đội rất quí mến. Anh đã tham gia chiến đấu 29 trận trong các cương vị chiến sĩ và chỉ huy.

Trong trận phục kích ở đèo Bông Lau năm 1949, anh xung phong vào tổ xung kích đột phá trận đánh. Khi nổ súng, có lệnh xung phong, anh dũng cảm xông lên, phát hiện một tên Pháp ngồi trên xe tăng anh đã bắn hạ, rồi lao lên xe cướp súng. Ngoảnh lại sau, thấy 3 tên Pháp chạy tới, anh liền dùng khẩu súng vừa cướp được, bắn chết cả 3 tên, quyết không để bọn giặc chạy thoát, anh nhảy xuống xe, tiếp tục truy lùng diệt thêm 6 tên nữa.

Trong chiến dịch Biên Giới năm 1950, quân ta đánh đồn Đông Khê lần thứ nhất, anh bị đau chân vẫn kiên quyết xin đi chiến đấu. Trận đánh gặp khó khăn, đơn vị bạn bị thương vong nhiều, anh động viên anh em trong tiểu đội (hầu hết là tân binh), băng bó và cõng hết thương binh về nơi an toàn. Trên đường rút về căn cứ, địch nhảy dù phản kích, mặc dù chân đau và đuối sức, anh vẫn vác khẩu pháo 12 ly 7 thu được của địch, về tới đơn vị.

Trận đánh đồn Đông Khê lần thứ hai (1950), La Văn Cầu được phân công chỉ huy tổ bộc phá làm nhiệm vụ phá hàng rào và đánh lô cốt đầu cầu (cửa mở trận đánh). Phá được hai hàng rào thì hai đồng chí xung kích bị thương. Địch tập trung hỏa lực dữ dội và cửa mở, phá hủy mất của ta một số bộc phá ống. anh nghĩ ngay phải dành bộc phá đánh lô cốt, nên động viên anh em trong tổ gỡ mìn của địch và dũng cảm xông lên dùng mìn phá nốt hai hàng rào cuối cùng. Song tình huống diễn ra càng phức tạp hơn, khi tiến đánh lô cốt thì anh em đã bị thương tất cả, chỉ còn lại một mình anh. Không ngần ngại, anh ôm bộc phá xông tới lô cốt đầu cầu quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ “đột phá khẩu” của tổ. Nhưng khi vượt rào đến được giao thông hào thứ ba thì anh bị thương, ngất đi. Tỉnh dậy, thấy cánh tay phải của mình bị địch bắn gãy nát, nghĩ đến trọng trách chưa hoàn thành, anh quay trở lại khẩn thiết yêu cầu đồng đội chặt đứt cánh tay cho khỏi vướng víu, rồi tiếp tục xông lên đánh tan lô cốt đầu cầu, mở đường cho đơn vị xung phong diệt gọn đồn địch, kết thúc thắng lợi trận Đông Khê.

Tấm gương của La Văn Cầu đã cổ vũ phong trào thi đua giết giặc lập công trong toàn đại đoàn và trở thành lá cờ đầu trong phong trào thi đua sử dụng bộc phá công đồn, một hình thức chiến thuật mới của quân đội ta mở ra từ chiến dịch Biên Giới năm 1950.

La Văn Cầu được tặng thưởng một Huân chương Quân công hạng ba, Huân chương kháng chiến hạng nhất, phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Đại tá La Văn Cầu đã nghỉ hưu, trở về với đời thường, nhưng phẩm chất của người anh hùng mãi mãi là tấm gương sáng cho các thế hệ trẻ Việt Nam./.

( báo Cao Bằng)
Logged
satthat
Thành viên
*
Bài viết: 160


« Trả lời #19 vào lúc: 26 Tháng Bảy, 2008, 09:56:17 AM »

CAO BẰNG
Đàm Quang Trung, vị tướng tài danh
Thượng tướng Đàm Quang Trung (1921-1995) là một trong những vị tướng tài danh của Quân đội nhân dân Việt Nam

 

Ông tên thật là Đàm Ngọc Lưu, sinh ngày 12/9/1921 tại bản Nà Nghiềng, xã Sóc Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Ông tham gia hoạt động cách mạng từ năm 14 tuổi. Năm 1941, ông được Bác Hồ cử đi học ở trường Hoàng Phố (Trung Quốc) cùng các đồng chí Hoàng Văn Thái, Vũ Lập, Hoàng Minh Thảo, Nam Long... Ở trường Hoàng Phố, ông được học in litô. Nhân có đồng chí Phạm Văn Đồng sang, ông mạnh dạn xin đồng chí Đồng báo cáo với Bác được học quân sự. Người đồng ý và căn dặn: Chú Quang Trung phải học tập sử dụng thành thạo tất cả các loại vũ khí hiện có của cả đối phương nữa... sẽ đến lúc mình phải sử dụng tới.

 

Tháng 7/1944, Đàm Quang Trung chỉ huy Đội vệ binh bảo vệ Trung ương và Bác Hồ ở Tân Trào. Có 5 nhân viên tình báo Mỹ nhảy dù xuống Việt Bắc, Bác chỉ định Đàm Quang Trung làm Đại Đội trưởng Đại đội Việt - Mỹ. Ông thưa với Bác: Thiếu tá Thô Mát làm Tham mưu trưởng thì đại đội trưởng là cấp gì ạ? Bác nghiêm nét mặt bảo: Chú phải lo hoàn thành nhiệm vụ cho tốt, dù tá hay tướng đã là chiến sỹ cách mạng đều lo phục vụ nhân dân cho tốt. Bác tặng chú một màn cá nhân và chiếc đồng hồ quả quýt để dùng, để chú biết giờ giấc. Trong quân sự kỷ luật rất nghiêm, hiệp đồng chặt chẽ đến từng giây mới có thể đánh thắng được. Bây giờ chú là đại đội trưởng, sau này chú trở thành người chỉ huy cao hơn, vì vậy phải rèn luyện từ bây giờ.

 

Đàm Quang Trung còn được Bác Hồ, Tổng quân uỷ giao cho trọng trách chỉ huy ba cuộc duyệt binh, diễu binh lịch sử: Cuộc duyệt binh lớn, hùng tráng mừng Ngày Quốc khánh 2/9/1945, Bác Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập tại Quảng trường Ba Đình, thủ đô Hà Nội. Ngày 29/3/1946, chỉ huy cuộc diễu binh thiện chí giữa quân đội ta và quân đội Pháp ở Vườn hoa Canh Nông (nay là công viên đặt Tượng đài Lê-Nin). Ngày 1/1/1955, chỉ huy cuộc diễu binh đón mừng Trung ương Đảng, Bác Hồ và Chính phủ trở về Thủ đô thân yêu, sau 9 năm kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp thắng lợi bằng chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu.

 

Năm 1953-1954, Đàm Quang Trung, Sư đoàn phó Sư đoàn 312 đã giúp bạn đánh nhiều trận, giải phóng Thượng Lào. Tháng 10/1957, Quang Trung là học viên xuất sắc ở Trường Quân sự Frunde ở thủ đô Mát-xcơ-va (Liên Xô cũ) vinh dự được tham gia chủ tịch đoàn cuộc mít tinh trọng thể chào mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh sang dự lễ 40 năm Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười vĩ đại. Trong những năm đầu kháng chiến chống quân xâm lược Pháp, Đàm Quang Trung làm Tư lệnh Liên khu V. Đồng chí Quang Trung là vị tướng có tài, trí, sáng tạo xây dựng được ba trung đoàn 98 – 108. Trong trận đánh đồn Kông Pơ Long, đồng chí đã làm những xe lăn bằng rơm rạ, có sức vô hiệu hoá đạn súng trường, tiểu liên của địch; mở đột phá khẩu mà không dùng bộc phá hay cách đánh đặc công và đã tiêu diệt căn cứ Kông Pơ Long. Trong thời gian chống Mỹ, đồng chí là Tư lệnh Pháo binh có mặt ở mặt trận đường 9 Quảng Trị (B4) Quân khu IV. Sau là Tư lệnh Tăng thiết giáp, làm tham mưu cho Bộ Tổng Tư Lệnh trong nghệ thuật chiến dịch có pháo binh và xe tăng hiệp đồng tham gia các trận đánh. Ông được giao trọng trách Bí thư Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, kiêm Chủ tịch Hội đồng Dân tộc.

Dương Mạc Thạch, người chính trị viên của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân
Đồng chí Dương Mạc Thạch, sinh năm 1915, quê ở xã Gia Bằng (nay là xã Minh Tâm, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng) là người Đảng viên, Bí thư Chi bộ Đảng cộng sản đầu tiên của huyện Nguyên Bình và là người chính trị viên của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân (VNTTGPQ).

           
Đồng chí Dương Mạc Thạch vốn là người sáng dạ, thông minh, nhanh nhẹn, có hoài bão và chí hướng, năm 1934 đồng chí tham gia cách mạng và được kết nạp vào Đảng. Đồng chí là người cán bộ nhiệt tình với phong trào ở Nguyên Bình, vận động nhiều người theo cách mạng và cũng là một trong những hạt nhân lãnh đạo, là Bí thư Chi bộ đầu tiên của huyện Nguyên Bình. Năm 1940, đồng chí Dương Mạc Thạch là Ủy viên Ban chấp hành lâm thời tỉnh Cao Bằng, vốn là người am hiểu địa bàn, nắm chắc phong trào cách mạng và là người có uy tín ở địa phương, đặc biệt đối với đồng bào dân tộc, do vậy sau Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (tháng 5/1941) đến trước cách mạng tháng Tám năm 1945, đồng chí Dương Mạc Thạch được tổ chức phân công bám trụ hoạt động ở Nguyên Bình và vùng giáp ranh với Bắc Kạn. Tại những vùng này, đồng chí đã tích cực xây dựng và phát triển cơ sở, vận động đồng bào Tày, Nùng, Mông, Dao vào Hội cứu quốc, tổ chức Mặt trận Việt Minh ở các xã, tổng. Tháng 12/1942, các ban Việt Minh tổng đã họp tại Lũng Dẻ (châu Nguyên Bình) bầu ra Ban Việt Minh châu do đồng chí Dương Mạc Thạch làm chủ nhiệm. Đồng thời, đồng chí còn được Tỉnh uỷ phân công trực tiếp cùng với đồng chí Võ Nguyên Giáp “Nam tiến” xuống vùng Bắc Kạn để phát triển phong trào, tổ chức các đội tự vệ. Nhờ vậy, sau một thời gian các Chi bộ Đảng ở Ngân Sơn, Chợ Rã lần lượt được thành lập. Thời kỳ này, đồng chí Dương Mạc Thạch là Tỉnh uỷ viên Cao - Bắc - Lạng và là người cán bộ chủ chốt chỉ đạo xây dựng và phát triển phong trào khu vực này, vì vậy đồng chí là một đối tượng luôn bị địch săn lùng, truy bắt. Tháng 02/1944, trên đường xuống núi Phja Boóc gặp địch khủng bố gắt gao, đồng chí đã phải ở lại hoạt động ở các xã phía Bắc huyện Ngân Sơn và cũng tại đây, đồng chí đã 2 lần bị địch phục kích nhưng may mắn thoát được.

           
Ngày 22/12/1944, tại buổi lễ thành lập Đội VNTTGPQ, đồng chí Dương Mạc Thạch được cử làm chính trị viên của đội. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Võ Nguyên Giáp, đã cùng với đội trưởng Hoàng Sâm chỉ huy Đội VNTTGPQ làm nên chiến thắng ngay từ trận đầu. Buổi đầu, đội VNTTGPQ gặp rất nhiều khó khăn về tài chính (chỉ được cấp 50 đồng bạc Đông Dương), đồng chí đã vận động một số người quyên góp ủng hộ và bàn bạc, vận động gia đình mình ủng hộ Đội 500 đồng.

           
Sau khi đánh đồn Đồng Mu trở về, đầu năm 1945 khi Đội VNTTGPQ đã phát triển thành nhiều đại đội, đồng chí Dương Mạc Thạch được giao nhiệm vụ trực tiếp chỉ huy một đại đội hoạt động dọc đường 3b, vừa vũ trang tuyên ruyền, vừa chặn đánh quân Nhật ở Nà Phặc, Hà Hiệu, Đèo Giàng… Trong cách mạng tháng Tám năm 1945, đã cùng đơn vị tham gia giải phóng Thị xã Bắc Kạn, đến năm 1948 có thời kỳ làm Bí thư kiêm Chủ tịch Uỷ ban hành chính kháng chiến Bắc Kạn,… Giữa năm 1948, đồng chí được điều về Bộ Tư lệnh làm đặc phái viên các tỉnh miền núi, đầu năm 1949 được bổ nhiệm làm Trưởng phòng quốc dân Miền núi của Liên khu I.

           
Từ năm 1950, đồng chí Dương Mạc Thạch được cử đi học trường Chính trị Hà Nam (Trung Quốc), cuối năm 1951 về nước được bổ sung vào Tỉnh uỷ tỉnh Yên Bái sau đó được Trung ương điều lên Hà Giang. Gần 20 năm, đồng chí đã trải qua các chức vụ: Tỉnh uỷ viên, Chủ tịch Uỷ ban hành chính tỉnh, Phó Bí thư Tỉnh uỷ tỉnh Hà Giang. Tên tuổi của đồng chí đã gắn bó với quê hương nơi đây, đã góp phần xây dựng và phát triển đối với tỉnh miền núi đặc biệt khó khăn này. Đầu năm 1970 đồng chí Dương Mạc Thạch được điều về làm Bí thư Đảng uỷ Trường Đại học Nông nghiệp 3 Bắc Thái, cho đến tháng 8/1978 được nghỉ hưu, trở về sống tại quê hương Cao Bằng và mất một năm sau đó.

           
Sau hơn 40 năm tham gia hoạt động cách mạng, đồng chí Dương Mạc Thạch được giao trọng trách trên nhiều cương vị, nhiều vùng quê khác nhau. Trong buổi đầu cách mạng còn nhiều khó khăn, song đồng chí luôn tỏ rõ bản lĩnh vững vàng, sự quyết đoán của người chỉ huy quân đội, của người lãnh đạo, xứng đáng là một trong những người con ưu tú trên quê hương cách mạng Cao Bằng. Với những công lao to lớn đó, đồng chí Dương Mạc Thạch đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng huân chương Hồ Chí Minh, huân chương kháng Pháp hạng nhất và nhiều huân chương khác. Để gìn giữ và phát huy những truyền thống tốt đẹp mà cha ông để lại, mọi cán bộ, Đảng viên và nhân dân các dân tộc tỉnh Cao Bằng luôn không ngừng nỗ lực, phấn đấu xây dựng quê hương Cao Bằng ngày càng giàu đẹp xứng đáng là nơi thành lập Đội VNTTGPQ, là cái nôi của cách mạng Việt Nam.

( báo Cao Bằng)
Logged
Trang: « 1 2 3 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM