Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 24 Tháng Tám, 2019, 07:52:28 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Khu VI kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975  (Đọc 64378 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #40 vào lúc: 18 Tháng Mười Hai, 2011, 06:27:40 AM »

I. ĐÁNH BẠI PHẢN CÔNG MÙA KHÔ
LẦN THỨ NHẤT CỦA MỸ - NGỤY Ở TRONG KHU
(giữa năm 1965 đến giữa năm 1966)

Mùa mưa năm 1965 trên toàn Miền đi đôi với việc ồ ạt đưa quân chiến đấu Mỹ và chư hầu vào để ngăn chặn chiều hướng thất bại của quân ngụy, Mỹ cũng đã chuẩn bị tiến hành cuộc phản công mùa khô lần thứ nhất, theo kế hoạch chiến lược “chiến tranh cục bộ” của chúng.

Khu VI lúc bấy giờ tuy không phải là một chiến trường trọng điểm, nhưng quân địch phải lo đối phó nhằm giảm bớt những thất bại nặng nề của ngụy quân, ngụy quyền ở trong Khu. Chúng đưa thêm quân cộng hòa và quân biệt động của khu chiến thuật và vùng chiến thuật xuống những nơi xung yếu như các thị xã Phước Long, Blao, Phan Thiết, v.v. để tăng cường phòng thủ và giữ cho địa phương quân khỏi tiếp tục bị tan rã. Mặt khác, địch cũng ráo riết bắt lính đôn quân tại chỗ để bổ sung quân số, khôi phục và phát triển thêm quân địa phương và bổ sung cho các lực lượng của trên.

Đầu tháng 12 năm 1965, chủ lực ngụy ở chiến trường Khu VI có 7 tiểu đoàn cộng hòa, 1 tiểu đoàn biệt động, 4 đại đội thám kích, 15 đại đội biệt kích, 4 đại đội hải đoàn,… (so với cuối năm 1964 tăng gấp đôi); lực lượng địa phương quân có 79 đại đội bảo an (tăng 18 đại đội), 3 đại đội thám báo, 3 đại đội và 1 trung đội cảnh sát, 5.700 dân vệ…

Từ tháng 8 năm 1965 đã có 900 tên Mỹ vào khảo sát, chuẩn bị vị trí và cơ sở hậu cần cho lực lượng Mỹ vào đứng ở Phan Rang - Tháp Chàm. Sau đó có 800 lính của lữ dù Mỹ 101 và một bộ phận quân Nam Triều Tiên đến triển khai xây dựng khu vực Tháp Chàm - Thành Sơn, Ninh Chữ (Phan Rang) thành vị trí tiền tiêu, bảo vệ cho căn cứ quân sự liên hợp Cam Ranh. Tại Đà Lạt, chúng xây dựng đài truyền tin trên đỉnh núi Bà (Langbiang) cao 2.000 mét ở tại Phan Thiết quân Mỹ cũng bắt đầu đổ vào chốt đóng ở Camp Êsépic.

Tuy quân Mỹ mới triển khai thế đứng chân ở một số nơi (đến tháng 12 năm 1965 tổng số quân Mỹ đã có 2.000 tên) nhưng cũng đã có tác dụng “hà hơi tiếp sức” cho quân ngụy. Bọn này bắt đầu dựa vào thế của Mỹ, củng cố lại tinh thần đang sa sút.

Sau xuân hè năm 1965, lực lượng quân khu nhờ tuyển được tân binh của địa phương và được trên bổ sung thêm(1) nên phát triển khá nhanh.

Đến cuối năm 1965, quân số toàn Quân khu lên 9.141 người (đầu năm 1965 chỉ có 5.266). Trừ một số biệt phái sang các đội vũ trang công tác và các ngành, Quân khu quản lý 8.241 người. Về tổ chức đơn vị, lực lượng chủ lực của Quân khu đã có Trung đoàn (thiếu) 346(2), một tiểu đoàn bộ binh độc lập (Tiểu đoàn 186) và một tiểu đoàn trợ chiến (Tiểu đoàn 145). Lực lượng tập trung tỉnh có 2 tiểu đoàn (Tiểu đoàn 482 Bình Thuận và Tiểu đoàn 810 Tuyên Đức), 10 đại đội bộ binh, 2 đại đội trợ chiến (Bình Thuận và Ninh Thuận), một số phân đội đặc công, trinh sát, công binh. Lực lượng huyện có 6 đại đội và 23 trung đội dân quân du kích (so với đầu năm 1965, tăng gấp đôi về số lượng. Riêng du kích xã và du kích thôn tăng gấp ba lần (6591/2625). Các lực lượng vũ trang được phân bố theo tỷ lệ hợp lý(3).

Mùa mưa năm 1965, trên các hướng trọng điểm, bộ đội Khu và tỉnh vừa xây dựng củng cố, vừa cùng với du kích và các lực lượng chính trị bám các vùng ven thị xã, chi khu, đánh bọn dũi ra lấn chiếm, phát triển mở rộng phong trào du kích chiến tranh, cả ở vùng giải phóng và tranh chấp.

Bắt đầu mùa khô tháng 11 và tháng 12 năm 1965, Quân khu sử dụng Tiểu đoàn 840 phối hợp với địa phương mở đợt tiến công ở Kiến Đức (Quảng Đức). Sau nhiều lần phục kích, địch không đi, Tiểu đoàn 840 và lực lượng địa phương chuyển sang phá ấp Bù Nơ trên đường 14 (đoạn từ Sùng Đức đi Tuy Đức); phục kích đánh diệt một chi đội xe bọc thép và một đại đội thám báo của chi khu Kiến Đức đi tiếp viện. Các khu ấp Bù Nơ, Bù Có được giải phóng, nhưng sau đó phần lớn dân đã bị địch tác động, hù dọa chạy về gần chi khu.

Sau trận Bù Nơ, Bù Có, Quân khu chủ trương diệt cứ điểm Bu Prăng (một cứ điểm độc lập nằm sâu căn cứ, khống chế cả một vùng ngã ba biên giới), để mở rộng hành lang và cửa khẩu ở biên giới Cam-pu-chia và để qua “đánh thắng trận đầu” nhằm xây dựng truyền thống cho Trung đoàn 346 được Bộ mới bổ sung vào.

Trận đánh đã không thành công. Nguyên nhân: do bản thân lực lượng có nhược điểm, nhưng chủ yếu là do vận dụng phương án tác chiến không thích hợp, giải quyết tư tưởng và cách đánh không tốt giữa mật tập bằng đặc công và dùng hỏa lực bắn chuẩn bị cho bộ binh đánh cường tập khi bị lộ. Tiểu đoàn 840 bị thương vong cao, nhiều cán bộ chỉ huy ưu tú của các phân đội, đại đội đã hy sinh; chất lượng đơn vị bị giảm sút.

Phối hợp với lực lượng của Khu, ở hướng Phước Long, các lực lượng vũ trang ta đã đánh diệt một trung đội địch chốt trên cao điểm núi Bà Rá và đánh bọn địch bung ra lấn chiếm, các thôn ấp, giải phóng xung quanh các chi khu Phước Bình, Đức Phong.

Lực lượng của tỉnh Quảng Đức đánh địch vận chuyển trên đường 14 các đoạn từ Đức Lập đi Gia Nghĩa, Đức Lập đi Sérêpock.


(1) Trong năm 1965 Quân khu đã tuyển được 2.700 tân binh và Bộ chi viện vào được 2.033 tân binh.
(2) Quân khu điều đồng chí Phạm Văn Kha, Tham mưu phó Quân khu về làm trung đoàn trưởng, đồng chí Phạm Hoài Chương chính trị viên phó tỉnh đội Bình Thuận về làm phó chính ủy trung đoàn.
(3) Lực lượng thuộc Quân khu có 3.252 người, lực lượng thuộc tỉnh và huyện có 4.716 người, lực lượng dân quân du kích có 9.932, trong đó riêng du kích các loại là 6.591 người.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #41 vào lúc: 18 Tháng Mười Hai, 2011, 06:28:51 AM »

Ở Lâm Đồng, Tiểu đoàn 186 cùng với lực lượng địa phương đánh mở thêm các ấp ven Blao và trên đường 20. Nhưng lúc này địch đã tăng cường trung đoàn 47 (sư đoàn 23) ngụy cùng với lực lượng địa phương quân của Lâm Đồng, có phi pháo Mỹ yêm trợ, tiến hành càn quét, lấn chiếm lại mảng giải phóng bắc Blao, chiếm lại khu Tân Rai và lập lại trại biệt kích Tân Rai để đánh phá sâu vào căn cứ ta, giải tỏa đường 20. Do đó, kết quả hoạt động của Tiểu đoàn 186 và lực lượng địa phương cũng bị hạn chế.

Đặc biệt, Tuyên Đức tiếp tục chuyển được thế tiến công lên khá hơn. Lực lượng của tỉnh bám phá ấp, phá kìm ở Xuân Thành, Xuân Trường trên đường 11. Tháng 9 năm 1965 ta tập trung lực lượng đánh phá hai khu ấp chiến lược Tiêng Liêng và DuTờNăng ở đông bắc Đà Lạt để đưa đồng bào dân tộc bung về căn cứ. Kết quả diệt được đồn dân vệ Tiêng Liêng, bám trụ liên tục hai ngày trong hai khu ấp, đánh lui bọn địch chi viện. Nhưng do cơ sở chính tị tại chỗ yếu nên không động viên được dân bung về căn cứ.

Ở Đà Lạt, tháng 11 và tháng 12 năm 1965 cũng có những hoạt động tốt hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng, diệt được ba tên tề ác ở Nam Thiên, rải truyền đơn chống Mỹ - ngụy trong nội ô. Cuối tháng 12 năm 1965 đội biệt động do đồng chí Nguyễn Văn Sơn (tức Hùng (sau này được tuyên dương Anh hùng các lực lượng vũ trang) chỉ huy đánh bọn sĩ quan và chuyên viên kỹ thuật Mỹ ở khách sạn Les Revines, diệt hàng chục tên và phá hủy một số xe quân sự, gây được tiếng vang lớn.

Trên tuyến ven biển, Tiểu đoàn 482 Bình Thuận cùng với lực lượng huyện và du kích mở hoạt động ở Phan Rí, Duồng, Tuy Phong, đánh diệt và làm an rã bảy trung đội bảo an và dân vệ, phá banh bốn ấp ở bắc Tuy Phong, làm lỏng rã kìm nhiều ấp khác. Ngoài ra, còn tiến công uy hiếp mạnh các đồn bót và “ấp chiến lược” nằm dọc theo đường số 1 từ Hồng Thái, Lương Sơn vào đến vùng Tam Giác - Hàm Thuận. Các trận đánh nhỏ, lẻ của bộ đội địa phương huyện và du kích được đẩy lên đều và mạnh, vừa tiến công vào vùng sâu vừa bám đánh bọn dũi ra lấn chiếm; liên tục đánh phá cắt đứt giao thông đường số 1, số 8 và đường sắt. Các trận đánh vào các ấp vùng sâu gây mất an toàn nên quân địch phải ra lệnh giới nghiêm ở các thị trấn Hòa Đa, Chợ Lầu và thị xã Phan Thiết…

Cùng với thời gian này, chủ lực của Quân giải phóng miền Nam giành thắng lợi lớn ở chiến trường Đông Nam Bộ: diệt hàng trăm tên xâm lược, bắn rơi 4 máy bay ở Đất Cuốc (8 tháng 1); tập kích diệt hàng nghìn tên xâm lược, phá hủy 35 xe tăng, 20 đại bác 105 milimét ở Bầu Bàng (12 tháng 11); diệt 2.100 địch, loại khỏi vòng chiến đấu ba tiểu đoàn thuộc Sư đoàn 1, bộ binh Mỹ và Trung đoàn 7 (Sư đoàn 5) ngụy ở Dầu Tiếng (20 - 27 tháng 11).

Đòn tiến công của miền Đông Nam Bộ và hoạt động của Khu VI đã làm rung chuyển hệ thống phòng thủ phía đông bắc Sài Gòn của Mỹ - ngụy. Nhưng với lực lượng đông, trang bị mạnh, lại là thời điểm quân Mỹ mới vào nên bọn cầm đầu Mỹ - ngụy một mặt chống đỡ các đòn tiến công của ta; mặt khác vẫn dồn sức phản kích ra vòng ngoài.

Ngày 9 tháng 12 năm 1965, lần đầu tiên quân Mỹ đổ hai tiểu đoàn (của Lữ 173) và một số phân đội lính Úc cùng với Sư đoàn 10 ngụy mở cuộc càn quét, đánh phá ác liệt liên tục vào vùng giải phóng Hoài Đức - Tánh Linh trong 20 ngày.

Và cũng lần đầu tiên trên chiến trường Quân khu VI, địch sử dụng nhiều máu bay, xe tăng, pháo binh đánh phá quyết liệt vào các xã Nghi Đức, Sùng Nhơn, Mêpu, Tề Lễ, Tà Bao, Bác Núi… làm chết gần một trăm đồng bào, cào đốt hàng trăm nóc nhà và cướp đi hàng trăm tấn lúa, gạo. Bộ đội địa phương, du kích ngày đêm quần bám, đánh trả quyết liệt, diệt trên ba trăm tên, bắn rơi 5 máy bay, bắn cháy một xe bọc thép, thu 32 súng các loại.

Đồng chí huyện đội trưởng Lương Văn Năm (sau này được tuyên dương Anh hùng liệt sĩ các lực lượng vũ trang nhân dân) cùng một bộ phận lực lượng của huyện bị địch vây ép giữa cánh đồng trống, đã anh dũng chiến đấu bắn rơi một máy bay trực thăng và an toàn rút khỏi vòng vây.

Quân ta chiến đấu anh dũng, nhưng do lực lượng địch quá đông, càn dai dẳng trên một diện rộng, hỏa lực, phi pháo, xe bọc thép nhiều… nên ta chỉ đánh được tốt trong thời gian đầu, sau đó phải giãn ra. Các cơ quan lãnh đạo, chỉ đạo của huyện, xã cũng bị bật ra khỏi địa bàn. Địch đã lấn chiếm được vùng giải phóng huyện Tánh Linh và gom hơn 10.000 dân ở phía bắc sông La Ngà đưa về các khu đồn ở phía nam sông, chỉ còn lại khoảng 2.000 dân(1).

Sau khi địch chấm dứt càn quét, cán bộ, bộ đội và du kích đã giúp dân còn lại ổn định cuộc sống. Tuy bị tổn thất nặng, mọi người vẫn giữ vững ý chí chiến đấu, ra sức bố phòng và sản xuất, sẵn sàng đánh trả những cuộc càn quét mới.

Trong những tháng cuối năm 1965, ở chiến trường Khu VI địch đã đưa thêm quân Cộng hòa và quân Biệt động ở khu và ùng chiến thuật xuống những nơi xung yếu để tăng cường phòng thủ và giữ cho địa phương quân khỏi bị tan rã. Mỹ cũng bắt đầu mở những cuộc càn quét, lấn chiếm vùng giải phóng, với bom đạn, phi pháo, xe tăng dày đặc. Ta có nhiều tổn thất, 45.000 dân bị gom. Mặc dầu vậy, trên toàn chiến trường từ nam Tây Nguyên đến vùng biển cực nam Trung Bộ, phối hợp chung với toàn Miền, ta vẫn tiếp tục phát triển thế tiến công, tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, mở thêm một số thôn, ấp giải phóng và tranh chấp. Đồng thời, ta cũng tiếp tục củng cố, xây dựng giữ vững phần lớn các vùng giải phóng và đánh trả địch càn quét lấn chiếm.


(1) Từ mùa mưa 1965, Miền đã có kế hoạch hợp đồng với Quân khu: cho Sư đoàn 5 ra đứng tại Tánh Linh - Hoài Đức để cùng với lực lượng địa phương xây dựng và bảo vệ vùng giải phóng quan trọng này. Nhưng Sư đoàn 5 ra chậm nên khi địch càn quét, lấn chiếm, chỉ có bộ đội địa phương và du kích đánh trả.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #42 vào lúc: 18 Tháng Mười Hai, 2011, 06:29:16 AM »

Vào đầu năm 1966, Mỹ - ngụy bắt đầu thực hiện cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ nhất. Trên chiến trường trọng điểm miền Đông Nam Bộ và Khu V, Mỹ tiến hành những cuộc hành quân lớn để “tìm diệt” lực lượng và cơ quan đầu não của ta. Đồng thời, địch cũng lấy chiến trường đồng bằng sông Cửu Long làm chiến trường chính để thực hiện gọng kìm “bình định” nhằm giành nguồn nhân lực, vật lực dồi dào cho cuộc chiến tranh.

Đối với Khu VI (một địa bàn trên tuyến nối liền Nam Bộ và miền Trung, có đường biên giới khá dài với Cam-pu-chia) địch tiến hành đồng thời kế hoạch hai gọng kìm “tìm diệt” và bình định” để bảo đảm an toàn cửa ngõ phía đông và đông bắc Sài Gòn. Đến tháng 3 năm 1966, địch bắt đầu đưa một bộ phận quân Mỹ ở miền Đông Nam Bộ ra càn quét đánh phá vùng giải phóng tỉnh Phước Long.

Tháng 4 năm 1966, một lữ đoàn Mỹ mở hành quân Austin đánh phá vùng ráp ranh hai tỉnh Bình Thuận, Bình Tuy và một số nơi trong vùng căn cứ Bình Thuận. Tháng 5 năm 1966, một lữ đoàn quân Mỹ đổ quân đánh chiếm lại vị trí Bù Gia Mập và đánh phá tuyến nam - bắc đường 14. Máy bay Mỹ ném bom, bắn phá có tính chất huy diệt từng vùng ở các khu căn cứ của ta. Quân ngụy cũng bung ra đánh phá các vùng ven đường 20 - thị xã Blao, thị xã Phan Thiết, khu Tam Giác - Hàm Thuận nhất là trục đường số 8…

Về phía ta: sau khi củng cố xong Trung đoàn chủ lực 346, còn thành lập thêm hai tiểu đoàn tập trung tỉnh, trang bị vũ khí có hạn nhưng cũng có cải tiến hơn trước.

Phối hợp chiến đấu với miền Đông Nam Bộ, được Bộ Tư lệnh Miền tăng cường Trung đoàn 16, Bộ Tư lệnh Quân khu tập trung hai trung đoàn mở chiến dịch tiến công trên hướng đông bắc Phước Long, nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực thuộc lực lượng cơ động của Tiểu khu Gia Nghĩa và của vùng chiến thuật II, giải phóng hoàn toàn đường 14 (từ Bắc Kiến Đức đến BuPrăng) và cả tuyến biên giới nối liền với Bù Gia Mập. Đồng chí Tư lệnh Quân khu trực tiếp chỉ đạo chiến dịch thời gian trong hai tháng.

Đợt một: đầu tháng 2 năm 1966, quân ta bất ngờ nổ súng tiêu diệt cứ điểm Tuy Đức ở ngã ba đường 14 đi BuPrăng; ta không thực hiện được kế hoạch diệt viện vì địch không đi. Ta chuyển qua bao vây, uy hiếp mạnh cứ điểm BuPrăng đến ngày thứ mười bảy nhưng địch không đến viện mà chỉ phản ứng bằng phi pháo.

Bộ chỉ huy chiến dịch liền chuyển kế hoạch cho Trung đoàn 16 tập trung đánh diệt cứ điểm BuPrăng, cứ điểm cuối cùng của hướng này; đồng thời cho Tiểu đoàn 840 thọc sâu vào khu vực Nhân Cơ, phía đông Kiến Đức để gây áp lực, buộc địch co về lo đối phó ở bên trong.

Trung đoàn 16 đánh cứ điểm BuPrăng không dứt điểm, phải chuyển qua bao vây, uy hiếp. Tiểu đoàn 840 phục kích trên đường Nhân Cơ đi Gia Nghĩa đã diệt gọn được một đại đội bảo an, phá hủy 4 xe GMC; gây thối động mạnh đối với bọn địch ở đây, và nhân thời cơ đó phát triển sâu xuống Đạo Nghĩa, cùng với các đội mũi công tác phá vỡ hệ thống ấp chiến lược của địch. Trước tình hình đó, địch phải rút bỏ BuPrăng, chịu mất Tuy Đức. Một vùng rộng lớn được mở ra từ biên giới phía tây Đaksong (của Quảng Đức) vào đến đông hành lang và cửa khẩu của Miền nằm dọc theo biên giới Cam-pu-chia.. Đoạn đường 14 phía bắc Kiến Đức được giải phóng, tạo thế liên hoàn giữa tỉnh Phước Long và Quảng Đức.

Sau chiến dịch này, Miền rút Trung đoàn 16 và điều động Trung đoàn 346 (thiếu) của Quân khu về Miền, chỉ để lại Tiểu đoàn 840. Vậy là lúc này Quân khu cũng chỉ còn lại hai tiểu đoàn bộ binh như cũ.

Cuối tháng 3 năm 1966, địch cho một bộ phận quân Mỹ từ miền Đông Nam Bộ ra cùng quân ngụy càn quét, lấn chiếm các vùng nông thôn giải phóng của tỉnh Phước Long. Quân Mỹ dùng chiến thuật tập kích bằng trực thăng đổ chụp, kết với quân ngụy ở địa phương bung ra đánh phá, hòng đánh bật các lực lượng vũ trang và chính trị của ta ra khỏi các ấp. Nhưng nhờ các xã giải phóng (như Phú Văn, Phước Quả, Đức Hạnh, v.v.) đã xây được làng chiến đấu, phát động được phong trào du kích nên ta đã đánh trả địch có hiệu quả, bảo vệ được nhân dân và các vùng giải phóng.

Đầu tháng 5 năm 1966, địch huy động phần lớn Sư đoàn Bộ binh số 1, đổ Lữ 1 (Sư đoàn 101) dù và 2 tiểu đoàn quân ngụy mở cuộc hành quân liên tục trong mười bảy ngày đêm (1 - 17 tháng 5) đánh dọc theo tuyến biên giới Phước Long, trọng điểm là vùng Bù Gia Mập. Địch dùng cả xe tăng, pháo tự hành và hỏa lực lưu động, dùng trực thăng cơ động đổ quân lùng sục sâu, mật độ hỏa lực phi pháo dày đặc.

Mặc dù đã có sự chuẩn bị sẵn sàng đánh Mỹ, nhưng cũng chưa hình dung hết được tình chất ồ ạt, ác liệt của binh khí kỹ thuật và hỏa lực Mỹ, cho nên lúc đầu ta có bị lúng túng, một bộ phận cán bộ và chiến sĩ dao động, chùn bước.

Sau hơn nửa tháng quần bám chiến đấu quyết liệt, ta đã gây nhiều tổn thất cho Mỹ - ngụy. Chúng phải chấm dứt cuộc càn. Qua trận này, ta tổ chức đi nghiên cứu lại trận địa, phát hiện được những chỗ sơ hở của chúng, rút kinh nghiệm tập huấn cho cán bộ, chiến sĩ.
« Sửa lần cuối: 06 Tháng Hai, 2012, 06:30:47 PM gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #43 vào lúc: 18 Tháng Mười Hai, 2011, 06:30:42 AM »

Lúc này trên chiến trường nam Tây Nguyên, ngoài các cuộc càn quét bằng bộ binh, quân Mỹ còn tăng cường đánh phá bằng phi pháo và dùng chất độc hóa học phát quang rừng, phá hoại hoa màu. Ngày đêm máy bay B52 rải bom tọa độ, máy bay B57 “cắt bom lén” làm cho việc ăn ở, đi lại, hoạt động của bộ đội và nhân dân trở nên căng thẳng. Nhưng dần dần mỗi người cũng quen với các loại máy bay, bom đạn Mỹ và rút kinh nghiệm đề phòng có hiệu quả. Vấn đề công sự, thế ăn ở, được đặt lên hàng đầu để bảo vệ mình và tiêu diệt địch.

Mùa mưa năm 1966, Tiểu đoàn 840 còn hoạt động sâu vào vùng Nhân Cơ, Đạo Nghĩa và phát triển vào Khiêm Đức. Quân số của tiểu đoàn lúc này tuy đông và trang bị tốt, nhưng lại bị đau yếu quá nhiều, một bộ phận phải lo chuyển tải lương thực, nên kết quả hoạt động của tiểu đoàn bị hạn chế. Ngoài trận phục kích diệt ba xe GMC chở lính gần cầu Đakke, thì chủ yếu là dùng đội công tác hoạt động phân tán, đánh nhỏ lẻ, mở phong trào. Tuy vậy, cũng làm cho hệ thống ấp chiến lược và dinh điền từ Kiến Đức đến Gia Nghĩa bị lỏng rã, đường 14 bị cắt đứt.

Ở Lâm Đồng, sau những trận càn quét, lấn chiếm vùng Tân Rai và đường 20 hồi tháng 12 năm 1965 của lực lượng cộng hòa, Tiểu đoàn 186 và bộ đội tập trung tỉnh vẫn đứng vững ở địa bàn xung quanh thị xã Blao. Xuân hè 1966, Tiểu đoàn 186 cùng với lực lượng vũ trang địa phương giữ được hoạt động liên tục vào vùng ven thị xã Blao, hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị trong thị xã, giữ được thế tranh chấp và làm chủ được nhiều ấp trên đường 20; buộc địch phải thường xuyên tăng cường cho hướng Blao từ một đến hai tiểu đoàn cộng hòa và biệt động quân để đối phó.

Tháng 6 năm 1966, Tiểu đoàn 186 đã đánh diệt một đại đội của Tiểu đoàn “cọp đen” ở buôn Đinh Trang Hoạch, diệt gọn đồn cấp đại đội cầu Đại Nga trên đường 20 và đánh thiệt hại nặng Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 44) ngụy từ Blao viện đến. Sau trận này ta còn làm rã hệ thống kìm của địch từ Phú Hiệp đến đèo Blao, uy hiếp lại con đường 20.

Ở Tuyên Đức, sang năm 1966, ta vừa lo xây dựng căn cứ đứng chân mới của tỉnh ở tây nam Đức Trọng, tạo bàn đạp phát triển vào Đà Lạt từ phía tây, vừa chỉ đạo các lực lượng vũ trang và đội công tác bám đánh địch; vũ trang tuyên truyền vào các ấp trên đường 20 kéo dài, đường 20 (thuộc Đức Trọng) làm lỏng rã kìm một số ấp. Các đội biệt động và du kích mật tiếp tục hoạt động diệt ác, rải truyền đơn trong nội ô và vùng ven Đà Lạt. Tháng 3 năm 1966, đội biệt động có một trung đội bộ binh của Tiểu đoàn 810 phối hợp đã tập kích sân bay Cam Ly, tiêu diệt trên một trăm tên, trong đó có một số lính công binh đang sửa sân bay, phá hủy 5 máy bay, đốt cháy một triệu lít xăng. Trận đánh đã gây tiếng vang lớn, hỗ trợ kịp thời cho cuộc đấu tranh chính trị mới bắt đầu của nhân dân thị xã Đà Lạt.

Trong 6 tháng đầu năm 1966, địch tiếp tục tăng cường lấn chiếm, bình định các vùng giải phóng: Hoàng Đức, Hàm Thuận, khu Lê Hồng Phong.

Địch sử dụng nhiều tiểu đoàn của sư đoàn 23 và sư đoàn 10 (của vùng III chiến thuật), từng lúc có một bộ phận quân Mỹ càn quét, đánh phá để tiêu diệt lực lượng ta, tiến hành bình định tại chỗ hoặc gom, xúc dân về các trọng điểm của chúng. Phi pháo cũng đánh phá ác liệt hơn vào các vùng giải phóng và yểm trợ cho càn quét. Chúng dùng những biện pháp như tăng cường bộ máy kìm, bắt rào làng để kiểm soát dân, bắt quần chúng học “tố cộng”, tác động chiến tranh tâm lý kìm chặt quần chúng và vơ vét sức người, sức của.

Các lực lượng vũ trang tỉnh, huyện và du kích đã được xây dựng, phát triển cả về số lượng và chất lượng trong năm 1965. Phong trào du kích chiến tranh đã chuyển lên một bước mới. Nhờ vậy, vào năm 1966, mặc dầu địch ra sức phản công, các lực lượng ta vẫn đứng vững trên các địa bàn, đánh trả có hiệu quả các âm mưu, thủ đoạn của địch. Nổi rõ là chiến trường Tam Giác - Hàm Thuận. Đầu năm 1966, vùng giải phóng Bình Thuận có gần 100.000 dân và phong trào du kích chiến tranh đang chuyển lên mạnh. Tuy quân chiến đấu Mỹ chưa vào, nhưng chủ lực ngụy ở vùng chiến thuật II phối hợp cho tiểu khu đã cùng với quân địa phương ra sức đánh phá, lấn chiếm.

Từ mùa Xuân năm 1966, theo sự chỉ của Quân khu, Bình Thuận đưa Tiểu đoàn 482 về hoạt động ở địa bàn Tam Giác - Hàm Thuận, để cùng với lực lượng địa phương đánh tiêu diệt sinh lực địch, giữ vững và mở rộng vùng giải phóng. Đồng thời, cũng qua đó mà xây dựng Tiểu đoàn 482 thành một tiểu đoàn mạnh, đánh được trong mọi địa hình, thời tiết, chuẩn bị sẵn sàng đánh quân Mỹ.

Bước vào hoạt động, ngày 21 tháng 2 năm 1966, Tiểu đoàn 482 phục kích trên đường 8 đánh đoàn vận chuyển của chi khu Ma Lâm từ Phan Thiết về, diệt gọn đại đội 888 bảo an và gần hết sáu trung đội dân vệ của chi khu. Sau đó, đánh viện từ Phan Thiết lên, đánh thiệt hại một tiểu đoàn cộng hòa, một đại đội bảo an, diệt gần hai trăm tên, bắt sống 123 tên, thu trên 100 súng, ta dùng xe GMC chở chiến lợi phẩm về căn cứ, phá hủy 6 xe khác, bắn rơi một máy bay(1). Đầu tháng 3 năm 1966 tập kích ban ngày vào khu ấp Tầm Hưng diệt và đánh thiệt hại nặng hai đại đội bảo an, hai trung đội dân vệ, sát thương 150 tên, bắt sống 75 tên, thu trên 100 súng(2). Đêm 18 tháng 6, tập kích diệt gần hết một tiểu đoàn cộng hòa vừa đến thay quân lấn chiếm ở khu Bình An, buộc địch phải từ bỏ ý định đóng tại đồn Bình An. Trận tập kích hai đại đội bảo an tại Tân Điều chiều 26 tháng 6 vào lúc trời chưa sáng, diệt 111 tên, bắt sống 55 tên, thu 95 súng, 5 máy bộ đàm. Các trận đánh khác ở Đại Nẫm - Phú Hội, đồi Đất Đỏ và phục kích đường số 1 ở bắc Ngã Hai ta cũng diệt nhiều địch, bắt nhiều tù binh và thu vũ khí… Nhìn chung, những trận đánh tiêu diệt trên đường 8 Tam Giác - Hàm Thuận thật sự đã gây thối động mạnh trong bọn địch ở Bình Thuận. Chúng đánh giá Tiểu đoàn 482 là đơn vị “thiện chiến”, “chịu chơi”, “đánh rất ác” và một số bảo nhau: gặp “Hoành Sơn” (mật danh của Tiểu đoàn 482) là phải “Chạy ngay, không nhận chiến”.


(1) Trận này do đồng chí Nguyễn Văn Cang (Đảng) chỉ huy.
(2) Trận Tam Hưng do đồng chí Tâm (Quang) chỉ huy.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #44 vào lúc: 18 Tháng Mười Hai, 2011, 06:31:11 AM »

Kết hợp với những trận đánh tập trung tiêu diệt, bộ đội địa phương, du kích và các đội công tác bám đánh nhỏ, lẻ thường xuyên vào bọn bung xỉa, bọn biệt kích thám báo, bọn bình định và tề vệ trong ấp, bao vây bắn tỉa các đồn bót, đánh phá giao thông. Du kích mật cũng đánh một số trận táo bạo, bất ngờ, tiêu hao địch ở vùng sâu. Hoạt động tác chiến của các loại quân đã hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị và binh vận của quần chúng.

Cho đến cuối mùa hè và sang mùa mưa năm 1966, con đường số 8 ở Tam Giác vẫn là con đường “đầy máu và nước mắt” như bọn địch đã thú nhận. Không những không giải tỏa được con đường này, không lấn chiếm bình định được địa bàn Tam Giác, mà còn bị lỏng rã kìm thêm một số ấp ở vùng sâu, sát thị xã Phan Thiết.

Trên các hướng khác của Bình Thuận, phong trào du kích chiến tranh cũng phát triển khá tốt. Bắc Bình Thuận, Thuận Phong, Hàm Tân, Hoài Đức,… bộ đội địa phương và du kích hoạt động liên tục, vừa cùng với các đội công tác bám vào các ấp đánh địch và trụ lại phá kìm, đánh bọn địch bung xỉa ra càn quét giữ được các vùng giải phóng, vừa đánh phá giao thông. Tháng 4 năm 1966, quân Mỹ đổ quân càn vào khu Lê Hồng Phong, các lực lượng vũ trang, du kích và nhân dân ở đây đã dựa vào làng chiến đấu, đánh trả, tiêu hao và hạn chế được sự lùng sục, đánh phá của chúng. Riêng du kích xã Hồng Thái đã sát thương 48 tên Mỹ. Ở Tánh Linh, Hoài Đức, Sư đoàn 5 chủ lực Miền kết hợp với bộ đội địa phương mở đợt hoạt động đánh phản kích bọn lấn chiếm, tập kích tiêu diệt một tiểu đoàn địch tại Võ Xu nhưng ta cũng chưa đánh bât được bọn lấn chiếm ra khỏi Tánh Linh.

Đến mùa mưa năm 1966, đường quốc lộ số 1 phía nam và bắc thị xã Phan Thiết vẫn tiếp tục bị đánh phá làm gián đoạn, đường sắt Bắc Nam đi qua khu Tam Giác - Bình Thuận và Long Khánh chưa khôi phục được.

Tháng 3 năm 1956, lực lượng tập trung của Ninh Thuận đánh diệt đồn bảo an Nha Tiên Lễ tại Văn Lâm, diệt một đại đội, san bằn đồn, sau đó kết hợp với đấu tranh chính trị và binh vận, giành quyền tranh chấp, làm chủ một số ấp và phá lỏng kìm thêm nhiều ấp ở mảng nam của tỉnh. Trong lúc đó, ở Bác Ái, Mỹ ném bom, bắn pháo có tính chất hủy diệt từng vùng ở căn cứ. Thôn Tham Dú xã Phước Trung chỉ có 200 dân, nhưng máy bay Mỹ đã giội xuống đây 300 quả bom tạ, 300 quả bom lửa, hàng ngàm quả bom bi và đạn pháo, đạn hỏa tiễn, nhằm bảo vệ an toàn cho căn cứ không quân Thành Sơn và quân cảng Cam Ranh. Nhưng nhân dân vẫn ngoan cường bám đánh trả lại địch.

Đi đôi với đẩy mạnh tiến công quân sự, phong trào đấu tranh chính trị và binh vận trong khu vẫn được duy trì với những nội dung chống phá bình định, chống gom đân, chống bắt lính, chống bắn pháo bừa bãi vào cá xóm làng, phản đối rải chất độc hóa học phá hoại mùa màng, phản đối dùng xe M13 ủi phá hoa màu. Quần chúng đã quan tâm làm công tác binh vận, kêu gọi chồng, con, em và ra sức tranh thủ binh lính, sĩ quan địch đồng tình trong các cuộc đấu tranh. Đặc biệt là mùa hè năm 1966 đã diễn ra phong trào đấu tranh chính trị mạnh mẽ của quần chúng đô thị. Tại hầu hết các thị xã và một số thị trấn lớn trong khu như: thị xã Đà Lạt, Blao, Phan Thiết, Phan Rang, Lagi đã có những cuộc mít tinh biểu tình với những khẩu hiệu chính trị đòi lật đổ Thiệu - Kỳ, chống Mỹ xâm lược. Phong trào xuất phát tự sự chống đối của các phe phái đối lập trong nội bộ địch, lấy sinh viên, học sinh phật tử làm lực lượng nòng cốt và đã lôi cuối được đông đảo quần chúng ở đô thị tham gia. Bắt đầu từ miền Trung và lan nhanh vào các đô thị phía Nam. Ta nhân đó thâm nhập, lái phong trào đi vào chiều hướng có lợi cho cách mạng, cho quyền lợi dân sinh và dân chủ của nhân dân.

Điển hình là phong trào đấu tranh chống chính quyền Mỹ - Thiệu - Kỳ ở Đà Lạt kéo dài từ ngày 28 tháng 3 đến tháng 5 năm 1966 mà điểm cao là cuối tháng 4 năm 1966. Mở đầu là sinh viên đại học Đà Lạt cùng học sinh các trường Trần Hưng Đạo, Bùi Thị Xuân, Bồ Đề… do một nhóm cơ sở sinh viên phát động và lãnh đạo, bằng hình thức bãi khóa, nêu ra khẩu hiệu dân sinh kết hợp với khẩu hiệu chính trị đòi tự do, dân chủ, đòi Mỹ phải tôn trọng chủ quyền Việt Nam, đòi quyền tự quyết, v.v. Cuộc đấu tranh nhanh chóng lan đến chợ Hòa Bình, được cơ sở ở chợ hướng dẫn đã lôi cuốn cả tiểu thương, nhân dân lao động tham gia bãi thị; đã tập hợp được lực lượng dưới tên gọi “Lực lượng thanh niên học sinh, sinh viên tranh thủ dân chủ Đà Lạt”.

Nhiều cuộc mít tinh liên tiếp xảy ra. Ở khu chợ Hòa Bình ngày 1 tháng 4 năm 1966, trên 3.000 quần chúng vũ trang gậy gộc kéo đến phòng thông tin Mỹ trao tuyên bố đòi Mỹ rút khỏi Đà Lạt, trao cho thị trưởng Đà Lạt ba yêu sách:

- Dùng đài phát thanh và xe thông tin thông báo tin tức cuộc đấu tranh cho nhân dân biết.

- Cấp một trụ sở để hoạt động.

- Bảo vệ an toàn cho lực lượng đấu tranh.

Địch từ chối. Đoàn biểu tình lập tức xông vào chiếm giữ đài phát thanh Đà Lạt, phát tuyên bố “Mười muốn, mười không” (muốn hòa bình, muốn tự quyết,… không muốn đàn áp, bóc lột, không muốn làm lính đánh thuê…), hằng ngày truyền đi những tin tức và tình hình đấu tranh, những bài chính luận chống Mỹ, ngụy, kêu gọi đồng bào đoàn kết đấu tranh, phát những bản nhạc hùng tráng thời kỳ Cách mạng tháng 8 năm 1945 âm vang cả thành phố. Sau ba ngày, địch mới huy động được lực lượng cảnh sát dã chiến, biệt động quân đánh chiếm lại đài phát thanh. Quần chúng đã chống trả quyết liệt và hủy nhiều máy móc trước khi rút lui.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #45 vào lúc: 18 Tháng Mười Hai, 2011, 06:31:29 AM »

Cuộc đấu tranh ngày càng đông đảo các tầng lớp nhân dân Đà Lạt hưởng ứng nhiệt liệt. Có những cuộc biểu tình với hàng vạn người kéo đến tòa hành chính tỉnh chất vấn bọn ngụy quyền, phản đối hành động đàn áp. Địch đã nhiều lần huy động lực lượng đến chiếm lại khu chợ Hòa Bình, đàn áp các đoàn biểu tình, nhưng không thực hiện được. Từ ngày 5 tháng 4 năm 1966 trở đi, lực lượng đấu tranh đã thực sự làm chủ khu Hòa Bình trung tâm thành phố, thành lập đội tự vệ lấy tên là “đội quyết tử”, ban hành một số quy định tạm thời.

Ngày 21 tháng 4 năm 1966, bọn ngụy quyền tỉnh vừa bày trò thương lượng với ban lãnh đạo đấu tranh, vừa cho bọn tay sai lùng bắt, khủng bố. Quần chúng phẫn nộ vũ trang gậy gộc, kéo đến tòa Hành chính. Địch trắng trợn đàn áp, bắn chết bốn sinh viên, học sinh và làm bị thương một số.

Ngày 26 tháng 4 năm 1966, lực lượng đấu tranh tổ chức một đám tang lớn, hàng chục ngàn người đi đưa, biến thành một cuộc biểu tình, tuần hành với khí thế căm thù, sôi sục, có các đại biểu học sinh, sinh viên từ Sài Gòn, Huế, Quy Nhơn về dự.

Sau đó, thanh niên học sinh, sinh viên tiếp tục đấu tranh với nhiều hình thức phong phú: tổ chức “đêm không ngủ”, “đốt lửa trại để nhìn rõ mặt kẻ thù”, tổ chức phiên tòa xử án tội phạm chiến tranh, đốt hình nộm Giôn-xơn, Mắcnamara, Taylo, Thiệu - Kỳ. Tuy bị địch thẳng tay đàn áp, nhưng phong trào vẫn tiếp diễn sôi nổi, kéo dài đến tháng 5 năm 1966.

Đây là cuộc đấu tranh quy mô đông đảo, quyết liệt và dài ngày nhất trong lịch sử đấu tranh chính trị ở Đà Lạt; có lúc làm tê liệt mọi hoạt động của địch trong thành phố. Thể hiện tinh thần chống Mỹ xâm lược, thể hiện lòng yêu nước của nhân dân, tinh thần dám nổi dậy giành làm chủ của quần chúng ngay cả ở Trung tâm thành phố đầu não của một tỉnh.

Cuộc đấu tranh đã gây cho địch nhiều bất ngờ, lúng túng, và giúp cho ta nhận rõ hơn tinh thần cách mạng của quần chúng và vai trò của đấu tranh chính trị, có thêm kinh nghiệm về khẩu hiệu và hình thức tập hợp quần chúng xuống đường đấu tranh.

Tuy vậy, sự lãnh đạo của Đảng bộ địa phương lúc bấy giờ chưa bám sát phong trào, không nắm được diễn biến tình hình của cuộc đấu tranh, không có chủ trương lãnh đạo kịp thời, để cuộc đấu tranh kéo dài và kết thúc trong bất lợi.

Mặt khác, Tuyên Đức chưa tận dụng kịp thời cơ này để đẩy mạnh tiến công địch, mở vùng ở nông thôn, hỗ trợ lại cho phong trào đô thị.

*
*   *

Phát huy thắng lợi của năm 1965, bước vào cuối mùa hè thu năm 1966, ta vẫn giữ được thế chủ động tiến công địch trên các chiến trường. Không những ngăn chặn địch lấn chiếm, mà còn mở thêm một số mảng giải phóng và tranh chấp mới. Đặc biệt việc mở tuyến biên giới và đường 14 đông bắc Phước Long, qua đó mở rộng căn cứ, hành lang và giải quyết tiếp tế là một thắng lợi có ý nghĩa đối với Khu và cả đối với Miền lúc bấy giờ.

Như vậy là kế hoạch phản công mùa khô lần thứ nhất của Mỹ - ngụy trên chiến trường quân khu cơ bản đã bị thất bại. Tuy vậy, kết quả diệt địch và giành dân còn hạn chế, do chưa đánh giá hết âm mưu và thủ đoạn của địch, nhất là đối với đối tượng tác chiến mới là quân Mỹ, việc chuẩn bị thế trận đánh với quân Mỹ chưa làm được kịp thời và sâu kỹ. Những nơi quân Mỹ đánh phá mạnh, phi pháo ác liệt, thì ta gặp khó khăn, lúng túng, việc tổ chức lực lượng chiến đấu và trang bị tư tưởng cho bộ đội chưa bảo đảm nên khi lâm trận thì trong cán bộ, chiến sĩ và nhân dân phát sinh tư tưởng dao động, sợ thương vong, ngán ngại ác liệt, hy sinh, không ít trường hợp thủ tiêu chiến đấu.

Để khắc phục tình hình đó, Khu ủy và Quân khu ủy phải đặt vấn đề bồi dưỡng nâng cao ý chí chiến đấu, phẩm chất khí tiết cách mạng, xây dựng quyết tâm đánh Mỹ đến cùng, hú trọng củng cố đơn vị cơ sở, đưa hai phần ba đảng viên và hầu hết đoàn viên thanh niên lao động tham gia lực lượng du kích.

Về Đảng: trọng tâm là xây dựng chi bộ ba tốt, đảng viên ba tốt, cán bộ phải nêu cao vai trò tiền phong, gương mẫu đi đầu trong chiến đấu và công tác. Đồng thời, tổ chức rút kinh nghiệm qua hoạt động và chiến đấu. Trên cơ sở đó mà có nội dung thực tiễn để bồi dưỡng cán bộ tại trường Quân chính Quân khu, thiết thực nâng cao chất lượng chiến đấu của các lực lượng vũ trang khi bước vào “một cuộc đọ sức mới”.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #46 vào lúc: 18 Tháng Mười Hai, 2011, 06:32:05 AM »

II. LÀM THẤT BẠI VỀ CƠ BẢN Kế HOẠCH “BÌNH ĐỊNH VÀ TÌM DIỆT”
CỦA MỸ - NGỤY TRONG CUỘC PHẢN CÔNG MÙA KHÔ LẦN THỨ HAI
TRÊN CHIẾN TRƯỜNG QUÂN KHU
(Đầu mùa mưa 1966 đến cuối năm 1967)

Tháng 10 năm 1966, Trung ương Cục, Quân ủy Miền quyết định điều chỉnh chiến trường Khu VI lần thứ hai: tách hai tỉnh Phước Long và Quảng Đức nhập với tỉnh Bình Long thành Khu X, để chăm lo xây dựng căn cứ và hành lang của Miền. Khu VI với các tỉnh còn lại: Lâm Đồng, Tuyên Đức, Ninh Thuận và Bình Thuận (gồm có cả tỉnh Bình Tuy của địch). Có nhiệm vụ chính là lo mở phong trào ở các tỉnh đồng bằng và một phần nam Tây Nguyên, gắn với vùng rừng đông Nam Bộ, bám giữ địa bàn, giữ vững hành lang thông suốt từ Quân khu về Miền và biên giới Cam-pu-chia.

Ngày 7 tháng 11 năm 1966, Bộ Tư lệnh Quân khu tiến hành bàn giao lực lượng và hai tỉnh Phước Long và Quảng Đức cho Quân khu X, đồng chí Bì Định (Tư Khiêm) (Phó Bí thư Khu VI và chính ủy Quân khu VI) làm Bí thư Khu ủy kiêm chính ủy Quân khu X.

Bộ tư lệnh Quân khu VI gồm các đồng chí: Nguyễn Minh Châu (Tư lệnh), Trần Lê (Bí thư Khu ủy - Kiêm Chính ủy Quân khu), Nguyễn Thành công (Phó tư lệnh - Kiêm tham mưu trưởng), Phan Văn Hược (Phó chính ủy - Kiêm Chủ nhiệm chính trị Quân khu VI).

Lực lượng Quân khu VI vẫn giữ nguyên các tiểu đoàn: 840, 186, 145, chỉ rút một số cán bộ, chiến sĩ để làm nòng cốt xây dựng một tiểu đoàn và ba cơ quan cho Quân khu X.

Tháng 11 năm 1966, các cơ quan Quân khu VI chuyển về đứng chân ở nam đường 20, vùng giáp ranh giữa Lâm Đồng và Bình Thuận. Từ đây, Khu VI có gần đồng bằng hơn nhưng lại xa trên, xa đường hành lang chiến lược, phải tự lực nhiều. Với địa bàn mới, khu có hai trọng điểm:

- Một là Bình Thuận: chủ yếu là khu vực bao quanh thị xã Phan Thiết và tiếp giáp với các khu căn cứ quan trọng của ta nơi đông dân, nhiều của và nơi đây cũng là nơi địch luôn luôn giành giật với ta.

- Hai là Lâm Đồng: chủ yếu là vùng dân cư và dọc trục lộ 20, con đường chiến lược nối liền Sài Gòn với Đà Lạt và chia chia cắt nam Tây Nguyên với đồng bằng.

Các tiểu đoàn chủ lực của Quân khu được sử dụng ở trọng điểm: Tại Bình Thuận, Tiểu đoàn 840, và Tiểu đoàn 482 của tỉnh tại Lâm Đồng. Tiểu đoàn 186 và Tiểu đoàn 145 (trợ chiến) của Quân khu.

Ngoài ra Quân khu còn tổ chức tiểu đoàn vận tải H50 (đa phần là chị em nữ), có nhiệm vụ đứng chân ở phía bắc đường 20 đến biên giới Cam-pu-chia để vận tải vũ khí, đan dược về chiến trường và bảo đảm đường hành lang từ Quân khu về Miền.

Đến đầu năm 1967, do địa bàn Bình Thuận quá dài trong tình hình địch bung đánh phá phức tạp, việc đi lại khó khăn, lại được sự đồng ý của Trung ương Cục nên Khu ủy và Quân khu ủy đã tách mảng bắc của tỉnh Bình Thuận gồm ba huyện (Phan Lý, Hòa Đa, Tuy Phong) và K.67 của tỉnh Tuyên Đức để thành lập tỉnh Bắc Bình trực thuộc khu (đáng lẽ lúc ấy không lập tỉnh Bắc Bình mà lập tỉnh Bình Tuy thì đúng hơn). Việc này đến tháng 8 năm 1968 đã điều chỉnh lại, và cả hai nơi đã phát huy được vai trò của mình.

Trên toàn Miền, mùa khô năm 1965-1966, cuộc phản công chiến lược lần thứ nhất, với mục tiêu là tìm diệt “chủ lực Việt cộng” phá chiến tranh du kích, giành chủ động chiến lược, tiến hành “bình định” đã không thực hiện được. Đó là điều bất ngờ sau cuộc đọ sức đầu tiên và sau keo thất bại đầu tiên của Mỹ. Ngày 24 tháng 7, Tổng thống Mỹ Giôn-xơn thú nhận: “Binh sĩ Mỹ đã tham gia một cuộc chiến tranh kỳ lạ, gay go, chống lại một kẻ địch thiện chiến, ngoan cường mà chưa một đạo quân nào của Mỹ trước đây đã gặp phải”.

Thất bại ở chiến trường lại bị dư luận trong nước và thế giới phản đối, nhưng tập đoàn tư bản lũng đoạn Mỹ vẫn ngoan cố tiếp tục leo thang, mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc, ném bom bắn phá Hà Nội, Hải Phòng, cho máy bay chiến lược B52 ném bom phía bắc khu phi quân sự; tăng quân, tăng binh khí kỹ thuật, ráo riết chuẩn bị cho cuộc phản công chiến lược mùa khô 1966-1967 ở miền Nam với chiến lược hai gọng kìm “tìm diệt và bình định”.

Trước tình hình ấy, ngày 17 tháng 7 năm 1966, Hội đồng Quốc phòng tối cao nước Việt Nam dân chủ cộng hòa họp. Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi toàn ân chống Mỹ, cứu nước. Người khẳng định quyết tâm sắt đá của nhân dân ta là: “Chiến tranh có thể kéo dài năm năm, mười năm, hai mươi năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ. Không có gì quý hơn Độc lập, Tự do. Đến ngày thắng lợi, ta xây dựng lại đất nước đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”.

Tiếp theo, Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ban bố lệnh động viên cục bộ - một bộ phận sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ dự bị và một bộ phận công dân thuộc ngạch dự bị, nhưng chưa phục vụ tại ngũ, sẽ được gọi vào quân đội, để tăng cường sức mạnh kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
« Sửa lần cuối: 27 Tháng Hai, 2012, 02:40:30 PM gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #47 vào lúc: 18 Tháng Mười Hai, 2011, 06:34:53 AM »

Ở Khu VI ngày 28 tháng 6 năm 1966, quân Mỹ vào đóng chốt ở Camp Êsépic, Bà Gò, lầu Ông Hoàng, Mường Mán, Tân Nông - Giếng Chùa,… (Bình Thuận). Tháng 3 năm 1967, một bộ phận của lữ dù 101 Mỹ và Trung đoàn 30 (Sư đoàn Bạch Mã - Nam Triều Tiên) đến triển khai ở sân bay Thành Sơn và xung quanh cảng Ninh Chữ (Ninh Thuận), (không tính lực lượng chuyên môn kỹ thuật).

Ở Tuyên Đức, một đại đội công binh Mỹ cùng một đại đội công binh Úc chiếm giữ và mở rộng sân bay Cam Ly. Sau đó, từng lúc có các đơn vị của lữ 173, một bộ phận của Sư 25 “Tia chớp nhiệt đới” và trung đoàn bộ binh thiết giáp Mỹ… từ căn cứ miền Đông Nam Bộ ra đánh phá Bình Thuận, Bình Tuy, Lâm Đồng. Sân bay Thành Sơn đã có 27 máy bay phản lực, ba L19 và nhiều trực thăng. Quân chủ lực ngụy có hai sở chỉ huy trung đoàn, 10 tiểu đoàn, 21 đại đội lẻ. So với đầu năm 1966 tăng 3 tiểu đoàn, 8 đại đội; cơ giới và pháo binh cũng tăng nhiều. Chủ lực ngụy phần lớn đóng ở Bình Thuận và Lâm Đồng. Tổng số lực lượng cả Mỹ - ngụy có mặt thường xuyên trên chiến trường Quân khu là 33.025 tên, gấp hơn năm lần lực lượng của ta lúc bấy giờ(1).

Mỹ - ngụy tập trung gần một trăm phần trăm lực lượng vào việc càn quét đánh phá nông thôn và căn cứ; khoanh vùng lần lượt chà xát từng khu vực ở các tỉnh trong khu. Máy bay B.52 ném bom rải thảm các vùng căn cứ (kể cả khu Lê). Pháo đạn từ ngoài biên thường xuyên bắn vào các vùng căn cứ, vùng giải phóng của ta. Máy bay trực thăng đổ chụp hết nơi này đến nơi khác. Biệt kích thường lùng để tiêu hao lực lượng ta và gom xúc dân.

Cuối tháng 5 năm 1966, Hội nghị Khu ủy lần thứ 5 đề ra nhiệm vụ trước mắt là: “… quyết tâm giữ vững và phát triển thế chủ động tiến công địch, nhằm tiêu hao tiêu diệt và làm tan rã lực lượng và hậu phương địch, đánh bại các âm mưu mới của chúng, đẩy địch lùi sâu hơn nữa vào thế bị động lúng túng, giành về ta những nông thôn còn lại, đưa phong trào thị xã, thị trấn lên, nhanh chóng xây dựng vùng giải phóng và vùng căn cứ thành hậu phương vững mạnh… Xây dựng và phát triển lực lượng ta về mọi mặt, để kịp thời tranh thủ và đáp ứng thời cơ, góp phần chung với toàn Miền giành thắng lợi lớn”.

Trong mùa mưa năm 1966, các lực lượng trong toàn Quân khu tiếp tục duy trì thế chủ động tiến công địch, tranh thủ củng cố các mặt và chuẩn bị cho mùa khô đến. Các cơ quan và các đơn vị trực thuộc Quân khu Bộ thì di chuyển về căn cứ và địa bàn mới.

Trong chỉ thị nhiệm vụ hoạt động quân sự đông xuân 1966 - 1967, Thường vụ Khu ủy và Quân khu ủy nêu rõ: “Ra sức đẩy mạnh tiến công, tiêu hao tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, phá ấp, phá kìm, giải phóng dân và giữ dân, mở rộng vùng ta, đồng thời tích cực đánh bại mọi kế hoạch càn quét, đánh phá mùa khô của địch, giữ vững các vùng căn cứ giải phóng”.

Vào đợt, chủ lực Quân khu cùng các lực lượng vũ trang địa phương và các đội vũ trang công tác đã triển khai hoạt động đều. Nhưng ở chiến trường trọng điểm, nam Bình Thuận gặp khó khăn, do địch đang bung ra đánh phá mạnh. Lực lượng ta tuy có chuẩn bị tư tưởng từ trước, những vẫn chưa lường hết được mức độ ác liệt của hỏa lực, phi pháo, các binh khí kỹ thuật, và sức cơ động nhanh của quân kỵ binh không vận Mỹ, nên đã bị bất ngờ và lúng túng, không đánh được.

Tháng 10 năm 1966, mở mảng hoạt động mùa khô, tỉnh dùng toàn bộ lực lượng tỉnh và bộ đội địa phương Hàm Thuận, tập kích tiêu diệt chi khu Ma Lâm để gây đà khôi phục lại thế tiến công của ta. Trận đánh diễn ra rất quyết liệt, ta diệt gần hết các mục tiêu trong chi khu, thu vũ khí (cả trung liên, đại liên, cối 82-60 ly) nhưng không dứt điểm được lô cốt “mẹ”(2). Bị thương vong nhiều ta phải rút lui. Trên đường về căn cứ, hai lần bị quân Mỹ phát hiên và đánh vào đội hình, gây thêm tổn thất. Khuyết điểm thuộc về chỉ đạo và chỉ huy: đã không rút kinh nghiệm kỹ các trận đánh ở Hoài Đức - Tánh Linh (Bình Thuận) và Bù Gia Mập (Phước Long) để chuẩn bị chu đáo cho bộ đội.

Sau một thời gian củng cố, tháng 2 năm 1967, tỉnh tổ chức trận đánh Chi đoàn xe bọc thép Mỹ (thường ngày cơ động càn quét ở Tam Giác, chiều tối về cụm lại ở cây số 6 đường 8). Ta sử dụng Đại đội 481 đặc công, Đại đội 5 trinh sát, hỏa lực của Tiểu đoàn 482 và trinh sát của Đại đội 430 bộ đội địa phương Hàm Thuận, đêm 17 tháng 2 năm 1967 tập kích vào đội hình địch. Sau gần mười phút chiến đấu, ta phá hủy và bắn cháy 13 xe M.113 và M.118, diệt nhiều tên, chỉ còn mấy chiếc tháo chạy về Phan Thiết. Cùng lúc đặc công ta dùng mìn ĐH10 đánh vào trận địa pháo Mỹ ở Bà Gò, sát thương hàng chục tên. Trận địa pháo bị tê liệt không hoạt động được.

Cùng thời gian này, quân Mỹ và Nam Triều Tiên càn lớn vào căn cứ Lê Hồng Phong. Đại đội 440 cùng du kích địa phương liên tục quần bám, đánh diệt 230 tên, phá hủy 2 xe bọc thép, bắn rơi 2 máy bay lên thẳng. Ta giành thắng lợi.

Những trận đánh Mỹ nói trên tuy chưa lớn, nhưng đã cổ vũ mạnh mẽ quân và dân Bình Thuận, bước đầu làm sáng tỏ khả năng đánh Mỹ và thắng Mỹ trong bộ đội và nhân dân. Nhưng do hằng ngày và cả đêm “tàu gáo”(3) Mỹ còn qua lại lùng sục, chỉ điểm cho pháo và trực thăng bắn phá hoặc đổ quân tập kích, nên tình hình vẫn rất căng thẳng. Vấn đề bức xúc lúc này là phải làm thế nào để phát triển phong trào đánh Mỹ rộng rãi, đều khắp trong tất cả các lực lượng, các địa phương, nhất là phải chống cho được chiến thuật “trực thăng nhảy cóc”, “đổ chụp” và xe tăng của địch, phát động phong trào diệt xe tăng bằng súng trường bá đỏ và phong trào bắn máy bay địch cả phía trước và phía sau.


(1) Tổng số lực lượng của ta là 6.174 người, gồm 2.112 thuộc Quân khu, 2.201 thuộc tỉnh và 1.816 thuộc lực lượng huyện.
(2) Lô cốt “mẹ” là lô cốt cao nhất nằm ở trung tâm chỉ huy của chi khu.
(3) Loại máy bay trinh sát nhỏ hình như cái gáo dừa múc nước, nên nhân dân và bộ đội gọi là “tàu gáo” hay “tàu rọ”. Nó hoạt động rất linh hoạt, có thể bay nhanh hay bay chậm hoặc dừng tại chỗ, bay rất thấp để kiểm soát người ngoài đồng ruộng, trên đường đi trong các xóm nhá, chòi rẫy, để kêu ra trình diện, chúng nghi ngờ ai thì bắt chở đi. Nó có nhược diểm: bắn dễ cháy và rớt ngay. Như do ta chưa nắm được tính năng, nhược điểm của nó, nên bước đầu có ngán, không dám bắn. Thực tế, đã có đồng chí dùng súng nắn bắn rớt “tàu gáo”.
« Sửa lần cuối: 21 Tháng Một, 2012, 09:19:09 AM gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #48 vào lúc: 29 Tháng Mười Hai, 2011, 09:16:15 AM »

Ở hướng Lâm Đồng, các lực lượng của ta bước vào mùa khô hoạt động có khá hơn. Lực lượng của tỉnh và Tiểu đoàn 186, Tiểu đoàn 145 vẫn đứng vững trên các khu vực đã phản công, vận dụng tốt phương thức hoạt động tập trung, phân tán linh hoạt, liên tục tiến công địch cả phía đông và phía tây Blao, làm địch bị căng kéo, dàn mỏng, hỗ trợ cho phong trào đấu tranh của nhân dân trên trục đường 20 và xung quanh thị xã Blao. Đại đội 210 của tỉnh tập kích diệt một trung đội địch ở ấp Đạ Nghịch, một trong những ấp vành đai bảo vệ thị xã Blao, buộc địch phải co lại.

Tiểu đoàn 186 có một trung đội bộ đội địa phương và đội công tác K3 phối hợp phục kích trên đường 20 (đoạn từ Đông An Lạc đến ngã ba Trảng Bia), dùng phương thức phá cầu, phá đường để dụ địch từ tiểu khu ra. Địch từ tiểu khu mò ra theo đúng dự kiến. Sau 15 phút chiến đấu ta làm chủ hoàn toàn trận địa, diệt một đại đội bảo an, đại đội 3 (tiểu đoàn 1) Cộng Hòa, một trung đội thám báo, một chi đội thiết giáp, bắn rơi 2 máy bay L.19, bắn chết và làm bị thương trên 200 tên, phá hủy 17 xe quân sự (có 3 xe bọc thép), thu trên 30 súng. Đặc biệt là đã tiêu diệt được đại đội 544 bảo an, một đơn vị ác ôn khét tiếng ở Lâm Đồng, nên đã có tác dụng lớn đối với phong trào.

Tiếp theo, tiểu đoàn đã phân tán hoạt động sâu vào vùng yếu, dùng hình thức vũ trang tuyên truyền, diệt ác, phát động quần chúng mở phong trào ở các ấp Tân Thanh, Tân Hóa… Lực lượng đặc công, biệt động và Đại đội 210 của tỉnh nhiều lần hoạt động vào nội thị. Tháng 12 năm 1966, ta diệt bót Thánh Tâm sát nội ô và pháo kích vào tiểu khu, gây rối loạn trong thị xã.

Ta làm chủ đường 20, đoạn từ cầu Đạ Nga đến ấp 16. Tổ chức vui tết với nhân dân (tết Đinh Mùi 1967) ở các ấp và các sở. Binh lính địch muốn vào phải chấp hành đúng theo những điều quy định của cách mạng.

Ở Tuyên Đức: vào đầu mùa khô 1966-1967, sau khi được Quân khu bổ sung thêm lực lượng (Đại đội 816 về làm bộ đội địa phương huyện Đức Trọng; Đà Lạt được tăng cường thêm một đại đội biệt động) đã đẩy hoạt động lên khá hơn. Đã bám đánh địch, phá ấp, phá kìm trên đường 20, 11 và lấn sâu vào vùng ven Đà Lạt, mở được thế tranh chấp trong nhiều ấp như : Quảng Hiệp, Định An, Klong A, Klong B, nhà máy chè Cầu Đất, Bằng Tiên, Quảng Thừa, v.v. Tháng 12 năm 1966, lực lượng tỉnh và thị xã tập kích đánh thiệt hại nặng một đại đội biệt động quân ngụy tại đồn Tân Lạc, sát Đà Lạt.

Mùa đông 1966, Tiểu đoàn 840 từ Phước Long hành quân về vị trí mới, ở bắc Bình Thuận, đứng giữa hai huyện Tuy Phong và Hòa Đa. Ở đây, hàng năm đến vụ mùa, tất cả các lực lượng vũ trang, các cơ quan quân dân chính đảng đều phải dốc lực lượng ra phía trước để giúp dân bảo vệ mùa, vừa thu mua vận chuyển lúa ngay từ ngoài đồng để có ăn và dự trữ. Địch cũng ra sức càn quét và kiểm soát gắt gao, buộc nhân dân phải mang hết lúa về ấp chiến lược. Nhưng nhân dân vốn có truyền thống cách mạng, đã tìm mọi cách cất giấu lúa để dành cho cách mạng. Có những lúc địch làm căng quá, dân đã bí mật chỉ ruộng của họ để ban đêm ta vào gặt mang đi cất giấu và sau đó báo lại số lượng cho họ biết.

Quân khu giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn 840 là cố gắng đánh tiêu diệt một số đại đội bảo an để hỗ trợ cho phong trào địa phương và căng kéo địch, chi viện cho nam Bình Thuận.

Đầu tháng 1 năm 1967, Tiểu đoàn 740 hạ quyết tâm tiến công tiêu diệt cứ điểm yếu khu Duồng, bằng vận dụng chiến thuật tập kích, kết hợp một bộ phận đặc công luồn sâu, ém sẵn. Trận đánh diễn ra trong đêm 7 tháng 1 năm 1967(1). Sau gần một giờ chiến đấu ngoan cường, ta đã tiêu diệt hoàn toàn cứ điểm, diệt và bắn sống hầu hết bọn địch (gồm Đại đội 119 bảo an, hai trung đội dân vệ và bọn bình định), làm chủ trận địa và thu chiến lợi phẩm.

Sau trận đánh, địch không dám phản ứng ngay, và phải bỏ luôn cứ điểm Duồng.

Tiểu đoàn 840 chuyển qua hoạt động phân tán, từng đại đội kết hợp với các đội công tác đánh bọn kìm kẹp, phát động quần chúng, chuyển các ấp Duồng, Hội Tâm, Thanh Lương, Lâm Lộc lên thế tranh chấp. Bọn địch ở Hòa Đa - Phan Lý cũng bớt hung hăng. Bộ đội địa phương và các đội công tác ở đây càng có điều kiện hoạt động sâu vào thị trấn Phan Rí, Chợ Lầu, Long Lương…

Ở Ninh Thuận: vào đợt hoạt động mùa khô, các lực lượng triển khai đánh nhỏ các ấp ở vùng sâu, kết hợp với phá ấp, phá kìm đưa lên tranh chấp được 3.000 dân ở một số ấp như: Phước Lập, Từ Thiên, Hòa Thủy, Mỹ Nghiệp, Thanh Tín (Thuận Nam). Bộ đội địa phương và du kích Bác Ái, Anh Dũng vừa tích cực chống càn quét và bắn máy bay bảo vệ căn cứ vừa đưa lực lượng ra tham gia đánh địch ở phía trước như phá kìm, chống lấn chiếm, phá hoại giao thông trên đường số 11 và đường số 1.

Vào mùa khô địch càng đánh rộng ra các vùng giáp ranh căn cứ để hỗ trợ cho bình định bên trong. Đi đôi với dùng bộ binh, địch càng tăng cường hoạt động, phi pháo, hóa học mật độ dày, liên tục và ác liệt hơn. Nhất là vùng Tam Giác huyện Hàm Thuận, khu Lê Hồng Phong, Hoài Đức (Bình Thuận). Các huyện miền núi Bác Ái, Anh Dũng (Ninh Thuận) và vùng căn cứ bắc Bảo Lộc (K1 - Lâm Đồng). Chúng dùng B52 đánh vào vùng núi Lâm Đồng và khu Lê Hồng Phong (Bình Thuận). Hoạt động của hải thuyền và pháo của hạm đội Mỹ cũng thường xuyên uy hiếp bắn phá vào các vùng dọc bờ biển Ninh Thuận và Bình Thuận, nhất là căn cứ Lê Hồng Phong và những nơi chúng nghi là bàn đạp, trú quân của ta.


(1) Ban chỉ huy trận đánh: Tiểu đoàn trưởng Lê Du, chính trị viên Võ Đức Nhi, đồng chí Phan Văn Hược - Phó chính ủy, chủ nhiệm chính trị Quân khu cùng đi với Sở chỉ huy.
« Sửa lần cuối: 21 Tháng Một, 2012, 09:22:00 AM gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #49 vào lúc: 29 Tháng Mười Hai, 2011, 09:16:47 AM »

Trước tình hình này, Quân khu đã tăng cường công tác chính trị, chỉ đạo chuyển cách hoạt động của các lực lượng vũ trang, xây dựng thôn xã, cơ quan chuyển cách ăn ở, sản xuất của nhân dân cho sát hợp để tránh bị tiêu hao và đánh được địch.

Bộ đội địa phương và du kích huyện Hoài Đức từ ngày 9 đến ngày 29 tháng 12 năm 1966 đã kiên quyết đánh trả cuộc càn của một lực lượng khá lớn quân hỗn hợp Mỹ - ngụy, diệt 167 tên, đánh hỏng 5 xe M113, bắn rơi một trực thăng, bảo vệ được dân còn ở lại phía bắc sông La Ngà. Du kích khu Lê, Hàm Thuận… đã kết hợp sử dụng cả chông, mìn, bom bi trong chiến đấu, gây nhiều tiêu hao tổn thất cho địch.

Các tỉnh khác du kích và nhân dân cũng ra sức củng cố và làm thêm các tuyến bố phòng, đào hầm trú ẩn, xây dựng công sự chiến đấu, chuyển qua thế ăn ở phân tán theo ruộng rẫy, vừa sản xuất, vừa bố phòng và chiến đấu chống càn quét, chống phi pháo. Nhờ đó mà nhiều cuộc càn quét, đánh phá, gom xúc dân ở các xã căn cứ, địch không những không làm được mà còn bị đánh thiệt hại nặng.

Địch tập trung đánh phá ác liệt, chủ yếu vào gọng kìm bình định. Đấu tranh chính trị và binh vận của nhân dân trong mùa đông năm 1966 tiếp tục phát triển. Sau những cuộc đấu tranh phá trò hề bầu cử quốc hội bù nhìn của Thiệu - Kỳ hồi tháng 9 năm 1966, nhiều cuộc đấu tranh trực diễn vẫn liên tiếp diễn ra mỗi cuộc độ bốn mươi, năm mươi người, kéo đến quận, đến đồn bốt của địch, chống bắn phi pháo vào xóm làng, đồng ruộng, chốt bắt bớ bừa bãi.

Những nơi có quân Mỹ đóng hoặc đi càn quét, đồng bào vẫn mạnh dạn xáp vào đấu tranh trực diện với chúng, như ngăn chặn đầu xe tăng Mỹ ủi phá hoa màu, mô mả, chống bắn pháo bừa bãi, chống rải chất độc hóa học, v.v. Có cuộc đấu tranh chúng phải nhượng bộ, xoa dịu hoặc bồi thường. Ở xã Hàm Liêm (Hàm Thuận) trong một cuộc càn của Mỹ, chị em đã trực tiếp đưa truyền đơn vạch trần tính chất phi nghĩa và tàn bạo của cuộc đấu tranh mà Mỹ đang tiến hành, khiến chúng phải suy nghĩ và dừng lại sau khi xúm nhau đọc.

Công tác binh vận cũng tranh thủ được nhiều binh lính ngụy đồng tình với các cuộc đấu tranh của nhân dân. Cũng có người tỏ ra chán ghét cuộc chiến tranh, bộc lộ tinh thần chống Mỹ. Tình trạng dao động đào ngũ về nhà làm ăn cũng phát triển. Sau trận đánh đồn Ma Lâm của Bình Thuận tháng 10 năm 1966 có hai trung đội tâm lý chiến và bốn mươi lính bảo an đào rã ngũ. Sau trận đánh ngày 29 tháng 11 năm 1966 của Tiểu đoàn 186 trên đường 20, có hơn một trăm lính bảo an bỏ trốn.

Như vậy, màu đông, địch có lấn chiếm được vùng Tam Giác của Bình Thuận nhưng thực tế chưa bình định được. Ở các nơi khác, vẫn mở rộng diện lỏng kìm, đưa một số ấp lên tranh chấp và làm chủ (18 ấp 8.000 dân). Lâm Đồng - Tuyên Đức và Bắc Bình mở được nhiều hơn, sát vào thị xã, thị trấn, trục giao thông. Đến cuối năm 1966 vùng tranh chấp và giải phóng trong toàn khu có 144.000 dân.

Đợt hoạt động xuân 1967: đêm 23 tháng 2 năm 1967 một bộ phận nhỏ của Tiểu đoàn 186 cùng với lực lượng địa phương đánh tiêu diệt một trung đội dân vệ “ấp chiến lược” số 5, kết hợp với phá cầu, phá đường; tổ chức trận địa phục kích trên đường 20 (cách quận lỵ Di Linh từ ba đến năm ki-lô-mét) để kéo địch đến viện - địch thường đi viện theo thứ tự từng cấp (lực lượng án ngữ tại chỗ, chi khu, tiểu khu). Sáng 24 tháng 2 một đại đội bảo an kéo đến cứu viện bị ta diệt gọn.

Trưa đó, tên quận trưởng Di Linh cùng hai đại đội bảo an cơ động của chi khu mò đến, cũng bị quân ta diệt gọn (kể cả quận trưởng). Phán đoán quân địch còn tiếp cứ, ban chỉ huy trận đánh nhanh chóng cho thu dọn chiến trường, củng cố, ngụy trang lại công sự, đợi địch tới tiếp viện. Mặc dù máy bay và pháo địch oanh kích dữ dội vào trận địa, thả bom napan đốt cháy cả cỏ cây trên mặt đất, nhưng quân ta vẫn giữ nguyên đội hình bố trí và kiên trì chờ địch. Quả nhiên, chiều ngày 24 tháng 12, tiểu đoàn quân biệt động số 53 từ Tiểu khu Blao kéo xuống. Chúng không ngờ ta vẫn tiếp tục bố trí lại trận địa cũ nên cả tiểu đoàn bị đánh tiêu diệt một phần lớn. Như vậy, liên tiếp trong một ngày, bộ đội ta chiến đấu rất mưu trí, dũng cảm, đã đánh ba trận, diệt và làm thiệt hại ba đại đội bảo an, ba đại đội biệt động quân, bắn rơi bốn máy bay và thu nhiều súng đạn.

Bọn địch còn lại ở Chi khu Di Linh vô cùng hoảng hốt, kêu cứu liên tục, buộc địch phải rút quân Mỹ đang càn quét về tăng cường cho Di Linh.

14 giờ ngày hôm sau (25 tháng 2), phát hiện được vị trí của ta, quân Mỹ dùng hóa học tập kích và phi pháo bắn chuẩn bị ác liệt, sau đó đổ chụp lên trận địa ta. Tiểu đoàn 186 đã kiên cường bám công sự đánh trả, bắn rơi hai trực thăng, đánh thiệt hại nặng một đại đội Mỹ, giữ vững được trận địa cho đến tối mới di chuyển.

Trong hai ngày liên tiếp bị đánh bốn trận, thiệt hại đó không những gây hoang mang cho hàng ngũ ngụy quân, ngụy quyền ở Lâm Đồng mà còn gây tác động mạnh đối với bọn địch ở Tuyên Đức.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM