Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Tư, 2020, 05:58:36 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Kế sách giữ nước thời Lý - Trần  (Đọc 71003 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11364



« Trả lời #30 vào lúc: 28 Tháng Bảy, 2008, 09:33:51 PM »



Chế độ phong kiến thời Lý - Trần là chế độ phong kiến tập quyền theo thể chế quân chủ. Tuy khuynh hướng chuyên chế ít nhiều đã xuất hiện, nhưng nhìn chung các vương triều lúc tiến bộ đều tìm cách thực hiện chính sách “thân dân”, “khoan thư sức dân” về mặt chính trị.

Với tinh thần ấy, năm 1052, Lý Thái Tông cho đúc chuông lớn đặt ở Long Trì để dân “Ai có oan ức không bày tỏ được thì đánh chuông ấy để tâu lên”1. Năm 1158, Lý Thần Tông lại cho đặt hòm đống ở giữa sân chầu để ai cần nói việc riêng thì bỏ thư vào đó. Những hình thức nới rộng dân chủ như vậy đã có tác dụng tạo ra một không khi hòa dịu trong xã hội. Vua Lý Thái Tổ còn dựng cung Long Đức ở ngoài hoàng thành, trong khu vực phố phường đông đúc cho Thái tử Phật Mã ở để có điều kiện “gần dân và xem xét việc dân”, “hiểu biết thêm những chuyện dân gian”. Vì thế đến khi hoàng Thái tử nối ngôi (tức Lý Thái Tông) đã kế thừa được đức tính “khoan từ nhân thứ và thương dân” của vua cha, thường đi kinh lý bốn phương, biết được nỗi khổ của dân chúng. Sử chép: Năm 1028, Lý Thái Tông thân đi đánh dẹp ở Trường Yên. Vua lệnh: ai dám cướp bóc của dân thì chém. Quân sĩ đều nghiêm lệnh, không xâm phạm mảy may. Đại quân vào thành, dân chúng tranh nhau dâng trâu rượu đầy đường2. Lý Thái Tổ là bậc minh quân, có công đức lớn với dân với nước. Cho nên sử thần Ngô Sĩ Liên đã có lời bình rằng: “Lý Tổ (Lý Thái Tồ) dấy lên, tự trời báo điềm tốt... có đức tốt có ngôi tốt, bởi vì lòng dân quy phụ. Ngọa triều hoang dâm bạo ngược mà Lý Tổ thì nổi tiếng khoan nhân, trời tìm người làm chủ dân, dân theo về người có đức, trừ Lý Tổ ra còn ai hơn nữa3.

Chế độ phong kiến quân chủ tập quyền thời Lý - Trần còn ở giai đoạn trẻ trung nên khoảng cách giữa “Thiến tử” và “thần dân”, giữa vua và tôi, giữa quý tộc và bình dân chưa lớn lắm. Các vua Lý, vua Trần chưa phải là “những kẻ chuyên chính náu mình trong cung điện”, vẫn giữ được mối liên hệ nhất định với cộng đồng, với dân chúng.

Nhà vua và những người cầm quyền trong triều nhiều khi đã tỏ ra thông cảm với nỗi khổ đau, cực nhọc của thường dân. Tháng 10-1055, vua Lý Thánh Tông nhân lúc tiết trời giá lạnh mà cảm thương đến cả “những kẻ bị giam trong ngục xiềng khổ sở”. Vua nói với quần thần: “Trẫm ở trong cung nào lò sưởi ngự, nào áo lót cầu mà còn rét như thế này, nghĩ đến người tù giam trong ngục, khổ sở về gông cùm, chưa biết rõ ngay gian, ăn lại không no bụng, áo không kín mình, gió rét khổ thân, hoặc có kẻ chết không đáng tội, trẫm rất thương xót. Vậy hạ lệnh cho hữu ty phát chăn chiếu và mỗi ngày hai lần phát cơm4. Cũng như vua Thái Tông trước đây, vua Lý Thánh Tông còn ra lệnh cấm quan coi ngục không được sai người tù làm việc riêng cho mình, ai phạm thì xử 80 trượng, thích chữ vào mặt và đày đi xa. Một lần nhà vua ngự ở điện Thiên Khánh xử kiện. Khi ấy công chúa Động Thiên đứng hầu bên cạnh, vua chỉ vào công chúa bảo ngục lại (quan coi ngục) rằng: “Ta yêu con ta, như lòng ta làm cha mẹ dân; nhân dân không biết mà mắc vào hình pháp, ta rất lấy làm thương. Từ nay về sau, không cứ tội nặng hay nhẹ, đều nhất luật khoan giảm5... Như trên mà xét thì Lý Thánh Tông quả là một vị vua anh minh, nhân hậu. Các sứ thần nhà Lê đã chép về vua Thánh Tông như sau: vua khéo kế thừa, thực lòng thương dân, trọng việc làm ruộng, thương kẻ bị hình, vỗ về người xa, yên ủi người gần..., sửa sang việc văn, phòng bị việc võ, trong nước yên tĩnh. Có thể gọi là bậc vua tốt”6.

Những cử chỉ “gần dân” để “hiểu dân” thấy xuất hiện nhiều trong lịch sửthời bấy giờ. Các nhà vua thường tự thân mình hay phái các quan đại thần đi kinh lý ở vùng xa để hiểu dân và biết rõ tình hình đất nước. Lý Thường Kiệt thường nhiều lần được cử đến các vùng đất xa ở phía nam Tổ quốc. Vua Lý ... đã từng đi kinh lý ở các miền rừng núi, ven biển và hải đảo để tìm hiểu phong tục nhân dân, ghi chép về sản vật, địa giới và nắm chắc tình hình bố phòng đất nước. Vua Trần Thái Tông hay tổ chức những chuyến lên rừng núi hay vào các vùng quê. Đã có lần nhà vua nói với các quần thần rằng: “Trẫm muốn ra ngoài chơi để được nghe tiếng nói của dân và xem xét lòng dân, cho biết tình trạng khó khăn của dân7.

Ngay sau khi lên ngôi, Lý Công Uẩn về quê ở châu Cổ Pháp, đã cho các bô lão trong hương tiền và lụa theo thứ bậc khác nhau. Cũng như vậy, năm 1231, vừa lên ngôi, Trần Thái Tông đã ngự về hành cung Tức Mặc, ban yến cho các bô lão trong vùng và ban áo lụa theo thứ bậc. Năm 1262, Thượng hoàng lại về đây mở tiệc lớn, các hương lão từ 60 tuổi trở lên cho tước mỗi người hai tư, đàn bà cho hai tấm lụa. Các phủ lộ được lệnh lập kho chứa thóc, dự trữ lương thực để phòng khi gặp thiên tai, mất mùa, đói kém. Nhà nước dựa vào nguồn lương thực đó để chẩn cấp cho dân nghèo và những người gặp nạn. Nói chung, quan tâm úy lạo, cứu trợ dân nghèo là biểu hiện tư tưởng tiến bộ của các bậc minh quân thuở ấy.

Sự kiện có ý nghĩa nhất mà sử sách thường nhắc đến là hội nghị Diên Hồng năm 1284 cùng với tiếng hô đồng thanh “quyết đánh” của đại biểu các bô lão từ các làng xã trong toàn quốc, biểu hiện tinh thần dân chủ, sự quan tâm của triều đình đối với nhân dân và vai trò quan trọng của nhân dân các địa phương mà đại diện là những người cao tuổi trong sự nghiệp đánh giặc giữ nước của dân tộc. Thời Trần, trong nông thôn bên cạnh hệ thống chính quyền địa phương gồm các đại tư xã, tiểu tư xã, nhà nước vẫn duy trì và tôn trọng hệ thống già làng có uy tín trong nhân dân.

Bấy giờ bình dân làng xã là tầng lớp đông đảo nhất tạo nên bề mặt đáy của cấu trúc hình chóp xã hội Đại Việt. Quan tâm đến nông dân là quan tâm đến lớp người có khả năng đóng góp nhiều nhất về nhân lực và vật lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.

Chính sách “an dân” thời Lý - Trần còn thể hiện trên phương diện lập pháp và hành pháp Bộ luật thành văn đầu tiên của nước ta được ban hành vào thời Lý, năm 1042. Sang thời Trần, năm 1230, nhà nước ban hành sách Quốc triều thông chế gồm 20 quyển. Sau đó lại ban hành sách Quốc triều hình luật. Đến đời Trấn Dụ Tông, nhà vua sai Trương Hán Siêu và Nguyễn Trung Ngạn biên định bộ Hình thư để ban hành. Rất tiếc rằng các bộ luật thời Lý - Trần đã thất truyền, ta không có cơ sở để so sánh về các bộ luật sau này như luật Hồng Đức (thời Lê), luật Gia Long (thời Nguyễn). Song có thể nghĩ rằng ở giai đoạn mà giai cấp phong kiến dân tộc đang độ phát triển thì luật pháp của họ còn bao hàm tính chất dân chủ nhất định. Sử cũ ta chép về việc ban hành bộ luật đầu tiên như sau: “Nhâm Ngọ, năm thứ tư (1042) xuống chiếu đổi niên hiệu làm Minh Đạo năm thứ nhất, ban sách Hình thư. Trước kia trong nước việc kiện tụng phiền nhiễu, quan giữ việc hình câu nệ luật văn, cốt làm khắc nghiệt, thậm chí bị oan uổng, vua lấy làm thương xót, sai trung thư sửa định luật lệnh, châm chước cho thích dụng với thời bấy giờ, chia ra môn loại, biên ra điều khoản, làm sách hình luật của một triều đại, để cho người xem dễ hiểu. Sách làm xong, xuống chiếu ban hành, dân lấy làm tiện. Đến đây phép xử hình thản nhiên rõ ràng8. Vua Lý là người trực tiếp xét xử ở điện Thiên Khánh. Để việc xử án được công minh, nhà vua có thể nghe được nỗi oan trái của dân, triều đình cho đạt chuông lớn ở sân điện ai còn có oan ức gì cứ việc đánh chuông kêu lên. Sang thời Trần, bộ máy nhà nước hoàn thiện hơn, công việc xét kiện được chuyển giao cho cơ quan chuyên trách với một quyền hạn độc lập nhất định. Tuy nhiên, để bảo đảm sự xét xử công bằng, nhà nước còn đặt thêm cơ quan kiểm pháp. Do đó, việc xét xử đảm bảo nghiêm túc và khách quan. Pháp luật thời Lý thì rộng rãi khoan dung, pháp luật thời Trần có phần nghiêm minh, hà khắc hơn; nhưng nhìn chung cả giai đoạn Lý - Trần, pháp luật nhà nước còn phần nào quan tâm và chiếu cố đến quyền lợi của dân chúng.

Sinh ra trong một xã hội cởi mở, mâu thuẫn giai cấp chưa thật gay gắt, pháp luật thời Lý - Trần có phần khoan rộng, nhân ái và thân dân cũng là điều dễ hiểu. Tuy nhiên, đối với một số tội trạng như mưu phản, trộm cướp (nhất là trộm trâu bò), quan thuế nhũng nhiễu và ăn của đút lót, tham ô, v.v… thì luật pháp lại có những hình phạt nặng nề. Chẳng hạn, tội trộm, giết trâu bò xử 80 trượng rồi đày làm khao giáp. Vợ người đó cũng bị xử 80 trượng và bắt đi ở nuôi tằm. Người thu thuế quá lệ cũng bị xử như tội ăn trộm. Có thể nói pháp luật thời Lý - Trần có nhiều điều tiến bộ, hợp lòng dân. Câu nói của Trần Nhật Duật rằng: “ … Ở đâu cũng có phép nước”, chứng tỏ tính chất lành mạnh, quy củ trong xã hội thời bấy giờ - một xã hội mà giai cấp thống trị đang trên đường phát triển của nó.
_____________________________________
1, 2. Đại Việt sử ký toàn thư, sđd, t.I. tr.204, 226.
3, 4. Đại Việt sử ký toàn thư, sđd, t.I. tr.206, 229.
5, 6. Đại Việt sử ký toàn thư, sđd, t. I, tr.232, 232.
7. Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, .sđd, t.II, tr. 64
8. Đại Việt sử ký toàn thư. Sđd, t.I, tr. 219. Việt sử lược, Lịch triều hiến chương loại chí cũng chép tương tự.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11364



« Trả lời #31 vào lúc: 28 Tháng Bảy, 2008, 09:35:23 PM »


III. TÁC DỤNG CỦA “KHOAN THƯ SỨC DÂN” TRONG SỰ NGHIỆP GIỮ NƯỚC

Trong xã hội phong kiến, giai cấp quý tộc vốn bản chất là bóc lột, có mâu thuẫn đối kháng với nhân dân mà đông đảo là nông dân. Tuy nhiên thời Lý - Trần, giai cấp quý tộc phong kiến nước ta còn ở giai đoạn trẻ trung, chưa phát triển đến mức xơ cứng, tính chuyên chế trong xã hội chưa cao, khoảng cách vật chất và tinh thần trong đời sống xã hội giữa quan lại và bình dân chưa lớn, chưa trở thành quá xa lạ và cách biệt; mâu thuẫn giữa giai cấp phong kiến và nông dân còn được hòa hoãn. Chính vì vậy, vào thời kỳ phát triển đi lên của các vương triều đó, mối quan hệ hai chiều giữa quý tộc và bình dân, mà chủ yếu giữa tầng lớp quý tộc phong kiến và nông dân công xã đang được củng cố và được phát huy tốt trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.

Giai cấp phong kiến buổi đầu thời Lý, thời Trần đã làm trọn nghĩa vụ của mình trong vai trò lãnh đạo đất nước, gần gũi và quan tâm đến đời sống của nhân dân. Với những chính sách tiến bộ của mình, trong đó có chính sách an dân, khoan thư sức dân, các vương triều Lý - Trần đã làm hòa dịu mâu thuẫn xã hội, bảo đảm kết hợp giữa quyền lợi giai cấp và quyền lợi dân tộc.

Kế sách khoan thư sức dân trên đây đã góp phần tạo nên một không khí chính trị lành mạnh có lợi cho sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Đối với giai cấp quý tộc nhờ vậy mà họ bảo vệ được vương quyền thống trị trên cơ sở hòa hoãn giai cấp và độc lập dân tộc. Với những chính sách cởi mở của mình, nhà nước phong kiến đã cố kết được dân tộc, đoàn kết toàn dân, tập hợp được đông đảo nhân lực, vật lực cho sự nghiệp chung, đặc biệt khi đất nước có họa xâm lược.

Làng xã nông nghiệp là cơ sở của xã hội Đại Việt, là chỗ dựa của chính quyền phong kiến nước ta. Nếu như người nông dân không ủng hộ thì sự nghiệp đánh giặc giữ nước sẽ không thể thắng lợi. Nỗi lo lắng của vua Lý Cao Tông rằng: “dân đã oán thì trẫm biết dựa vào ai”, cũng xuất phát từ ý nghĩ ấy. Do đó, những chính sách an dân tiến bộ thời Lý - Trần có tác dụng tích cực, củng cố vững chắc thêm nền tảng, xã hội. Tầng lớp bình dân, giảm bớt đói nghèo, khổ đau; cuộc sống nơi thôn dã thêm phần vui vè, họ càng nhận thức trách nhiệm của mình mỗi khi quốc gia hữu sự. Mối quan hệ cộng đồng ấy càng tạo điều kiện thuận lợi cho nhiệm vụ chống thiên tai và giặc giã. Nông dân làng xã đóng vai trò quan trọng và thường xuyên trong công cuộc trị thủy - thủy lợi. Thời Lý, nhà nước chủ trương đắp đê quai vạc lấn biển và một số đoạn đê quan trọng như đê Cơ Xá (sông Hồng). Thời Trần ra lệnh đắp đê từ đầu nguồn đến bãi biển để chống thiên tai, lũ lụt và mở thêm diện tích canh tác. Hệ thống đê điều quy mô cùng với hệ thống sông ngòi, ao hồ, kênh rạch chằng chịt trên đồng bằng châu thổ đã hình thành từ thời Lý - Trần chứng tỏ sự đóng góp lớn lao của nhân dân, trong đó lực lượng nông dân làng xã là đông đảo nhất. Nếu chính quyền không động viên được sức dân thì những công trình công cộng lớn đó không thể tiến hành và không hoàn thiện được.

Cư dân thời Lý - Trần chủ yếu là cư dân nông nghiệp sống trong các làng xã, động bản. Cuộc sống cộng đồng làng xã là cơ sở của cộng đồng quốc gia dân tộc. “Tình làng nghĩa nước”, “nước mất nhà tan”, “nước nhà chung sức” là nếp suy nghĩ chung của mọi người. Cho nên, ngay từ xưa, người nông dân đã có ý thức sâu sắc rằng, nếu để kẻ thù cướp nước, dày xéo quê hương thì mọi người mất cả tổ tiên, mất gia đình, mất cả nền văn hóa dân tộc, phải chịu cảnh sống nô lệ, lầm than tủi nhục. Vì vậy, “quốc gia hữu sự, thất phu hữu trách”, mỗi khi có xâm lăng thì giữ nước là nhiệm vụ thiêng liêng của mỗi người dân sống trên lãnh thồ này “muôn người như một xem việc nước như việc nhà, coi việc bảo vệ độc lập là công việc cửa bản thân mình. Đó chính là động cơ thúc đẩy mọi người dân Việt chiến đấu hy sinh; và cũng chính là cơ sở tinh thần - chính trị của xã hội Đại Việt mà nhà nước phong kiến thời Lý - Trần đã biết động viên, phát huy mạnh mẽ trong chiến tranh bằng những chính sách an dân thích hợp của mình.

Ở Đại Việt, lực lượng vũ trang nhiều thứ quân: quân triều đình, quân địa phương, dân binh là hệ thống tổ chức quân sự hoàn chỉnh được đông đảo nhân dân tham gia và trở thành lực lượng nòng cốt của toàn dân đánh giặc. Sử gia Phan Huy Chú nhận xét rằng: “Đại để lúc vô sự thì phục binh ở nơi thuận tiện, khi có nạn thì hết sức chống cự. Thế là thời Trần nhân dân ai cũng là binh, nên mới phá được giặc dữ, làm cho thế nước được mạnh”1.

Sự tham gia đánh giặc giữ nước của nhân dân các địa phương thể hiện rõ nét ở vai trò chiến lược của làng xã, mà nòng cốt của nó là lực lượng dân binh. Đó là tổ chức quân sự mang tính chất truyền thống, tự nguyện và bán vũ trang ở các làng, xã, động bản đã được nhà nước Lý - Trần công nhận và thể chế hóa. Với tổ chức quân sự này “trăm họ, muôn dân” đều có thể trực tiếp hay gián tiếp đóng góp vào sự nghiệp quốc phòng trong thời bình cũng như thời chiến.

Thời Lý - Trấn, trước khi bước vào các cuộc chiến tranh giữ nước, không chỉ ở kinh thành Thăng Long mà ngay cả ở mỗi phủ đệ vương hầu, đặc biệt từ các hương ấp, làng bản đã diễn ra không khí náo nức chuẩn bị đánh giặc. Nhiều làng, xã đã mở lò luyện võ, “toàn dân sắm sửa vũ khí và đóng thuyền chiến”, tự vũ trang và sẵn sàng ra nhập đội quân cứu nước. Khi chiến tranh xảy ra, nhân dân khắp nơi sôi nổi, nhiệt tình gia nhập các tồ chức dân binh, sẵn sàng thực hiện “tiểu dân thanh tra dã” (nhân dân làm vườn không nhà trống) và đáp lời kêu gọi của triều đình: “Tất cả các quận huyện trong nước, nếu có giặc ngoài đến đều phải liều chết mà đánh, nếu sức không địch nổi thì cho phép lẩn tránh vào rừng núi, không được đầu hàng giặc”2.

Thời Lý, năm 1075, trong 10 vạn quân tiến sang đất Tống thực hành cuộc tập kích chiến lược “tiên phát chế  nhân”, phá tan các căn cứ xuất phát xâm lược của quân giặc đã có hàng vạn thổ binh vùng biên giới phía bắc nước ta, dưới sự lãnh đạo của các thủ lĩnh địa phương, các tù trưởng yêu nước như Tôn Đản, Thân Cảnh Phúc, Hoàng Kim Mãn, Lưu Kỷ, Vi Thủ An, v.v.. Các đạo thổ binh đó từ các châu động, các bản làng tạo thành các mũi tiến công quan trọng sang triệt phá các đồn trại giặc ở dọc biên giới, rồi phối hợp với đạo quân chủ lực do Lý Thường Kiệt chỉ huy, tiến lên bao vây, công phá thành Ung Châu của giặc Tống.

Đến cuối năm 1076, đầu năm 1077 một lần nữa quân của các châu, động phía bắc lại có mặt trong các mũi đánh chặn, tiêu hao quân xâm lược khi chúng vượt biên giới tiến công xâm lược nước ta. Đội quân của Thân Cảnh Phúc cùng nhân dân địa phương đã dùng cả voi chặn đánh quyết liệt cánh quân Tống ở ải Quyết Lý (Chi Lăng - Lạng Sơn) và sau đó thường xuyên tổ chức các trận đánh nhỏ, tập kích và phục kích phía sau lưng địch, tiêu hao và quấy phá quân Tống khi chúng đóng ở bờ bắc sông Như Nguyệt. Nhân dân tham gia cuộc kháng chiến chống Tống thật đông đảo, nhiệt tình như lời thú nhận của Tể tướng Vương An Thạch trước vua Tống rằng: “Dân Man (chỉ người Đại Việt - TG) kéo hết cả nhà theo” và “cả nước Giao Chỉ nhà có 6 người thì 5 người tòng quân, còn một người không đi được nên phải ở lại”3. Sức mạnh của đoàn kết dân tộc mà biểu hiện cụ thể ở sự tham gia chiến đấu của toàn dân là nguồn gốc tạo nên chiến thắng vang dội, trong cuộc kháng chiến chống 30 vạn quân xâm lược Tống do Quách Quỳ và Triệu Tiết chỉ huy.

Sang thế kỷ XIII, dưới sự lãnh đạo của vương triều Trần, cuộc chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc phát triển cả bề rộng lẫn bề sâu. Bấy giờ tầng lớp quý tộc còn tập hợp được đông đảo dân chúng quanh mình để đánh giặc. Quân đội Nguyên - Mông đã giành thắng lợi ở nhiều nơi, nhưng khi tiến vào nước ta chúng đã gặp phải một cuộc chiến tranh hoàn toàn khác. Chiến lược của quân Nguyên - Mông là tiến đánh như chớp giật, đi đến đâu chúng cướp của cải và lương ăn,  bắt người bản xứ phục vụ mình; nhưng điều đó chúng không thể thực hiện được ở Đại Việt. Trái lại, ở đây chúng không chỉ phải đọ sức với quân đội nhà Trần, mà còn phải đương đầu với cả toàn thể nhân dân, với cả một dân tộc không chịu khuất phục. Do lòng yêu nước nồng nàn, nhân dân cả nước đã thực hiện nghiêm mệnh lệnh kháng chiến của triều đình: “Tất cả các quận huyện trong nước, nếu có giặc ngoài đến đều phải liều chết mà đánh...”. Những nơi có giặc đi qua, nhân dân đã cất giấu lương thực, làm vườn không nhà trống. Việc đó đã gây cho địch nhiều khó khăn. Trong cả ba lần chiến tranh, quân Nguyên - Mông đều khốn đốn vì thiếu lương ăn, không những thuyền lương bị quân nhà Trần đánh tan mà còn vì chúng không tài nào cướp được lương thực trong nhân dân.
_______________________________________
1. Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Sđd, tIV, tr.6.
2. Tống Liêm: Nguyên sử, Thương vụ ấn thư quán, q. 209.
3. Lý Đào: “Tục tự trị thông giám trường biên”, q.275. Dẫn theo Hoàng Xuân Hãn: Lý Thường Kiệt, Sđd.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11364



« Trả lời #32 vào lúc: 28 Tháng Bảy, 2008, 09:39:29 PM »


Nguyên sử cũng phải thừa nhận rằng, khi quân Nguyên - Mông tiến vào nước ta thì “người Giao Chỉ bèn bỏ nước trống không, chạy trốn bằng đường biển”, hoặc “người Giao Chỉ giấu hết thóc gạo rồi trốn đi...” khiến chủ tướng Thoát Hoan “... đem quân vào sâu (đất Việt - TG) mà không thấy một người nào...”. Đó là do nhân dân các làng xã thực hiện kế “thanh dã”, “bất hợp tác” với kẻ thù. Vì thế, quân giặc đã lâm vào cảnh “không có lương ăn”, buộc phải tổ chức các cuộc hành quân “tìm lương” trong các làng xã. Nhân dân ở khắp nơi đã liều chết chống lại các cuộc hành quân cướp bóc của quân Nguyên - Mông. Sách Đại Việt sử ký toàn thư khi tổng kết cả ba lần kháng chiến cho biết cả nước chỉ trừ có hai hương Bàng Hà và Ba Điểm hàng giặc, còn hầu hết làng xã Đại Việt đều dựa vào lũy tre làng, anh dũng chiến đấu, chặn đứng và làm thất bại các cuộc hành quân của quân thù. Điển hình là dân làng Cổ Sở (xã Yên Sở) trong các năm 1258 và 1288, đã hai lần đánh bại sự cướp phá của quân Nguyên - Mông, bảo vệ làng xóm mình. Văn bia chùa Hương Phúc (1324) cũng phản ánh cuộc chiến đấu anh dũng của nhân dân làng Uyên Duyên (Thanh Hóa) do viên đại toát (xã trưởng) Lê Mạnh chỉ huy đã đánh tan một đội quân của Toa Đô khi chúng tiến qua địa phận xã mình trong giai đoạn cuộc kháng chiến lần thứ hai. Mùa xuân năm 1285, nhân dân làng Xối Đông (xã Trung Đông, huyện Nam Ninh, Nam Hà) đã tổ chức ba đồn binh để đánh giặc và đã đánh tan một cánh quân của Ô Mã Nhi ở cầu Vô Tình khi chúng sang sông cướp phá. Năm 1288, nông dân tại Yên Hưng (Quảng Ninh) đã phối hợp với quân triều đình chống lại cuộc hành quân cướp lương của tướng Ô Mã Nhi sau khi đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ bị tiêu diệt. Dân làng Phả Lễ, Phục Lễ đã phục kích, tiêu diệt một đội quân của Ô Mã Nhi khi chúng vào cướp lương thực, gà vịt đem xuống thuyền. Nhân dân các địa phương đã hợp tác với quân triều đình để tiêu diệt từng bộ phận và phá tan âm mưu cướp lương thực tại chỗ của quân giặc. Trong tập Sử biên niên của Ba Tư, Rasít Utđin (1247 - 1318) đã viết về phong trào toàn dân chống quân giặc cướp bóc (1288) ở Đại Việt như sau: “... Bỗng nhiên từ biển, từ rừng, từ núi xuất hiện những đội quân nước đó (chỉ Đại Việt - TG) đánh tan đạo quân của Tu Gan (Thoát Hoan) đang lao vào cướp bóc...”.

Trong khi đó, nhân dân lại tích cực giúp đỡ quân đội triều đình về mọi mặt. Đền thờ Vua Bà ở gần sông Bạch Đằng là đền thờ một phụ nữ đã mang lương thực ủng hộ quân đội và mách cho Hưng Đạo Vương ngày con nước của sông này. Có những thanh niên như Võ Nguyên ở làng Do Lễ (Tam Hưng, Thủy Nguyên, Hải Phòng) đang cày ruộng gặp đạo quân Trần đi qua đã xin phép mẹ già đi theo Hưng Dạo Vương đánh giặc, lập công...

Trong cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông, nhân dân các dân tộc nước ta đều kề vai sát cánh chiến đấu bảo vệ nền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ?

Hoạt động chiến đấu của nhân dân ở khắp nơi đã làm quân địch khiếp sợ. Những dội dân binh thời Trần đã đóng vai trò chiến lược của nó trong chiến tranh, những đội quân đó có mặt ở khắp các địa phương từ miền ngược đến miền xuôi, ngay trong lòng địch, phối hợp với quân triều đình trong quá trình chiến tranh, từng bước tiêu hao, làm suy yếu rồi phản công tiêu diệt và quét sạch quân thù. Các đội dân binh tiêu biểu như của Trần Thông, Nguyễn Lạp, Nguyễn Tuyền, Nguyễn Thế Lộc, Nguyễn Lĩnh, Lương Uất, Hà Tất Năng, Hà Đặc, Hà Chương, v.v. đã được lịch sử dân tộc mãi mãi ghi nhớ công lao của họ trong sự nghiệp đánh giặc giữ làng, giữ nước. Sự đóng góp lớn lao của nhân dân các làng xã là cơ sở của chiến tranh nhân dân và chiến tranh du kích, nguồn gốc sức mạnh của các cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông.

Tính nhân dân trong cuộc chiến tranh chống xâm lược thế kỷ XIII còn thể hiện ở sự tham gia của tất cả các tầng lớp xã hội vào cuộc chiến đấu vì sống còn của dân tộc. Lực lượng chủ yếu tất nhiên là những người nông dân tự do ở các làng xã hay là những người nông dân lệ thuộc trong các thái ấp: nông nô và nô tỳ - đẳng cấp có địa vị thấp nhất xã hội bấy giờ đã có những cống hiến lớn lao vào cuộc kháng chiến. Những đội quân vương hầu mà lực lượng chủ yếu là nô tỳ cũng có tác dụng rất quan trọng. Phạm Ngũ Lão từ một gia nhân của Trần Quốc Tuấn đã có công lớn, trưởng thành trong chiến đấu và trở thành một vị tướng tài ba. Yết Kiêu, Dã Tượng, Nguyễn Địa Lô là những gia nô của Trần Quốc Tuấn đã lập chiến công xuất sắc. Nguyễn Địa Lô, một tay cung giỏi đã bắt chết tên Việt gian Trần Kiện trên đường chạy sang Trung Quốc. Yết Kiêu, Dã Tượng trung thành và dũng cảm khiến Trần Quốc Tuấn cảm động nói: “Ôi, chim hồng hộc có thể bay cao được tất phải nhờ vào sáu trụ cánh, nếu không có thì cũng như chim thường thôi”. Vua Trần Nhân Tông mỗi lần ngự chơi ngoại thành gặp bọn nô tỳ đứng xem thì cho gọi họ lại hỏi: “mày là gia nô nhà ai?”. Khi về vua thường dặn các vệ sĩ của mình không được thét đuổi họ, vua nói: “Ngày thường thì bao nhiêu người hầu hạ xung quanh, đến khi nước nhà gặp hoạn nạn thì chỉ thấy có bọn ấy thôi”. Đó cũng là sự đánh giá của vua Trần Nhân Tông và Trần Quốc Tuấn về vai trò, công lao của tầng lớp nông nô, nô tỳ trong cuộc kháng chiến.

Chiến thắng của cuộc chiến tranh nhân dân Đại Việt chống xâm lược hồi thế kỷ XIII là sự trả lời đanh thép trước câu hỏi đầy hách dịch của viên tướng Nguyên Ô Mã Nhi Bạt Đô năm 1285 với Đỗ Khắc Chung: “Bọ ngựa giám chống xe, liệu sẽ ra sao?”. Bản thân Ô Mã Nhi cùng với toàn bộ đoàn thuyền chiến hùng mạnh của nhà Nguyên đã vĩnh viễn không bao giờ trở về sau trận Bạch Đằng năm 1288.

Vấn đề là tại sao một kẻ chinh phục hùng mạnh như đế quốc Nguyên - Mông đã từng chiến thắng ở khắp nơi lại bị thất bại thảm hại cả ba lần ở Đại Việt? Bởi vì khác với các nước ở Bắc Á và Đông Âu, khi đến Đại Việt, giặc Nguyên - Mông đã vấp phải một cuộc kháng chiến hoàn toàn khác lạ. Đó là một cuộc kháng chiến toàn diện, toàn dân đánh giặc dưới sự lãnh đạo tài tình của một bộ tham mưu thống nhất nhiều mưu lược.

Vương quốc Khômexmơ ở Trung Á, nước Nga cũng như các nước Đông Âu khác, bán đảo Triều Tiên hay nước Kim và Nam Tống ở Trung Quốc đều lần lượt bị người Mông Cổ chinh phục. Không phải vì nhân dân ở các nước đó không anh dũng chiến đấu mà chủ yếu do những người đứng đầu các nhà nước phong kiến đều bất lực, không tập hợp và động viên được sức mạnh nhân dân. Ở Khômexmơ, vua Muhamét trước đó đã đi ngược lại nguyện vọng của dân chúng. Chế độ phong kiến ở Nga và Đông Á đang trong giai đoạn phân quyền, không có khả năng lãnh đạo nhân dân; nền thống trị ở nước Kim và Nam Tống đang lúc suy thoái, bị nhân dân chống đối liên tục. Những điều đó hoàn toàn khác với ở Đại Việt, lúc chế độ phong kiến tập quyền đang phát triển, giai cấp phong kiến thời Trần đang đóng vai trò lịch sử và đã có những biện pháp thích hợp nhằm động viên và đoàn kết toàn dân trong cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc.

Sức mạnh của toàn dân đoàn kết là cội nguồn thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông. Sau chiến tranh, Trần Quốc Tuấn đã tổng kết rằng: “mới rồi Toa Đô, Ô Mã Nhi bốn mặt bao vây, vì vua tôi cùng lòng, anh em hòa mục, cả nước góp sức, giặc tự bị bắt” và “hơn bốn năm qua, giặc sang đánh phá, từ nơi rừng núi đến ruộng đồng bị tàn phá hầu hết. Vậy mà nhân dân vẫn một lòng hướng về triều đình, xuất tài xuất lực, đi lính đóng thuế, làm nên một lực lượng mạnh cho triều đình chống giặc”. Chính ví thế ông đã đề nghị vua Trần Nhân Tông nới nhẹ sức dân, cứu tế và miễn thuế cho dân, nhất là đối với những nơi bị giặc tàn phá. Và cũng vì thế ông đã nhắc vua Trần Anh Tông “khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước”.

Trên đây là những biểu hiện cụ thể về kết quả của những chính sách an dân tiến bộ thời Lý - Trần. Dương nhiên, với bản chất của nhà nước phong kiến, những tư tưởng tiến bộ trong kế sách “khoan thư sức dân” khó lòng mà thực hiện đẩy đủ. Khi giai cấp phong kiến đang đóng vai trò tích cực thì mối quan hệ giữa vua và tôi, giữa quý tộc và bình dân được duy trì tốt và phát huy tác dụng trong sự nghiệp giữ nước. Ngược lại, vào các giai đoạn cuối của mỗi triều đại, giai cấp thống trị sống xa rời dân chúng, đi ngược lại những tư tưởng tiến bộ trên. Đó chính là lúc vương triều đã suy đồi, đối lập với nhân dân và hậu quả là thế nước suy yếu. Cuối cùng hoặc họ bị nhân dân đấu tranh lật đổ hoặc bị thất bại trước họa xâm lăng. Điều này thể hiện rõ vào giai đoạn cuối thời Lý và cuối thời Trần. Trong phần tư nửa đầu thế kỷ XIII, vương triều Lý suy yếu. Kinh thành Thăng Long mấy lần bị đốt phá, đời sống nhân dân vô cùng cực khổ. Chính quyền nhà Lý mất chỗ dựa từ dân. Đó là thời cơ để thế lực phong kiến họ Trần khống chế quyền chính rồi giành ngôi báu từ tay họ Lý. Đến cuối thế kỷ XIV, từ đời vua Trần Dụ Tông, triều Trần trở nên suy yếu. Nhân dân chống lại triều đình và tầng lớp quý tộc phong kiến. Chính quyền bất lực không đoàn kết được nhân dân chống lại các cuộc xâm lăng cướp phá của Chiêm Thành. Nền độc lập dân tộc bị đe dọa. Sự bất lực của vương triều lúc đó đã dẫn tới kết quả tất yếu là nhà Trần mất quyền lãnh đạo, triều Hồ thay thế triều Trần.

Tóm lại, muốn ổn định đất nước, muốn cho thế nước được mạnh, đánh thắng giặc ngoại xâm, bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc thì giai cấp thống trị làm sao giữ được lòng dân, đoàn kết được toàn dân trên cơ sở những chính sách tiến bộ của mình. Khoan thư sức dân luôn luôn là thượng sách giữ nước. Tư tưởng và kế sách “khoan thư sức dân” thời Lý - Trần đã góp phần tăng cường thế mạnh đất nước, là cơ sở để nhà nước phong kiến huy động sức dân, tạo nên thắng lợi trong các cuộc phạt Tống, bình Chiêm và chống Nguyên - Mông xâm lược.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11364



« Trả lời #33 vào lúc: 28 Tháng Bảy, 2008, 09:41:24 PM »


CHƯƠNG VI.

CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI KHÔN KHÉO NHẰM NGĂN NGỪA CHIẾN TRANH, GIỮ YÊN BIÊN THÙY, KIẾN TẠO HÒA BÌNH, XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC.


Từ thế kỷ X, với bộ máy quản lý đất nước thời tiết độ sứ họ Khúc, họ Dương đến các vương triều Ngô, Đinh, tiền Lê, hoạt động đối ngoại đã từng bước được triển khai, dần dần vào nền nếp giành được những thành tựu quan trọng. Nhưng quan trọng hơn là bài học kinh nghiệm về chính sách đối ngoại trong thời chiến, cũng như thời bình vì mục tiêu giữ nước và dựng nước của một thế kỷ đầy biến động.

Vào các thế kỷ XI - XIV, trên con đường phục hưng, phát triển toàn diện của quốc gia Đại Việt, các nhà nước quân chủ trung ương tập quyền Lý - Trần đã thừa hưởng kinh nghiệm, kế tục hoạt động đối ngoại từ thế kỷ trước, nâng lên thành quốc sách với đường lối chính sách khôn khéo có hiệu quả trong bối cảnh lịch sử mới.

Để nhận thức về hoạt động đối ngoại thời Lý - Trần chúng ta sẽ lần lượt đề cập đến những vấn đề sau đây:


I. ĐẶC ĐIỂM VỀ QUAN HỆ VÀ TƯƠNG QUAN CỦA ĐẠI VIỆT TRONG KHU VỰC.

Lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước cho đến thế kỷ XI chứng minh khá rõ ràng quốc gia Đại Việt đã tồn tại và phát triển trong mối quan hệ phức tạp không mấy thuận lợi, với các nước láng giềng.

Cho dù có ai đó vô tình hay cố ý từ nghi ngờ đi đến phủ định quốc gia Văn Lang - Âu Lạc thời sơ sử từng tồn tại độc lập trên vùng lưu vực sông Hồng, sông Mã, sông Lam từ thiên niên kỷ I trước công nguyên, thì thực tế lịch sử, không chỉ qua truyền thuyết, huyền thoại được cố định thành văn bản, mà qua các tài liệu sử học, khảo cổ học, dân tộc học, nhân chủng học, địa lý lịch sử... đã khẳng định ngược lại. Cho dù sự phát triển của quốc gia đó có trải qua những bước thăng trầm, không bình thường, thì Văn Lang - Âu Lạc - Vạn Xuân - Đại Cồ Việt - Đại Việt vẫn hiện ra như một dòng chảy, quanh co, gấp khúc, nhưng mãnh liệt và liên tục trong không gian, thời gian lịch sử đã được xác định.

Tách ra từ khối Bách Việt, người Lạc Việt và một bộ phận người Tây Âu (còn gọi là người Tây Việt), đã dựng nên nước Văn Lang - Âu Lạc độc lập, tự chủ trong khu vực ảnh hưởng của Trung Hoa cổ đại với nền văn minh sông Hoàng - một nền văn minh lớn của nhân loại ở phương Đông cổ đại. Thế nhưng sức hấp dẫn, lôi cuốn của văn minh sông Hoàng không diễn ra trong hòa bình êm ả. Nó được thể hiện bằng con đường áp đặt, chinh phục của các nhà nước quân chủ cầm quyền, theo đó là một bộ máy đô hộ. Kinh đô Cổ Loa, với hàng vạn mũi tên đồng đã được khai quật, nhiều vết tích của hệ thống thành hào cùng với những địa danh, nhân danh gắn liền với nhân vật lịch sử Thục An Dương Vương của quốc gia Âu Lạc đâu phải chỉ là chuyện huyền thoại? Cũng như quốc gia đó bị rơi vào ách đô hộ ngoại bang qua các vương triều Tần, Hán, Tấn, Tống, Tề, Lương, Đường trên một ngàn năm là chuyện của quả khứ lịch sử rõ ràng. Nếu như các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giữ nước của Hai Bà Trưng (40 – 43), Bà Triệu (248), Lý Nam Đế với nước Vạn Xuân (từ 544 đến 605), Mai Thúc Loan (Mai Hắc Đế - 722), Bố cái đại vương Phùng Hưng (791) chưa giành được thắng lợi, thì đến đầu thế kỷ X từ mở đầu của họ Khúc (905) đến Ngô Quyền với chiến thằng Bạch Đằng (938) đã “kết thúc hoàn toàn thời kỳ mất nước kéo dài hơn ngàn năm. Dân tộc ta đã giành lại được quyền làm chủ đất nước. Một thời kỳ độc lập lâu dài của dân tộc bắt đầu”1.

Thế nhưng sau loạn “năm đời mười nước”, nhà Tống lên cầm quyền ở Trung Hoa, giấc mộng chiếm lại quốc gia của người Việt ở phía nam vẫn chưa dứt đối với họ. Hai lần xâm lược của nhà Tống vào thời Tiền Lê (cuối năm 980 đầu 981) và thời Lý (1077) đã chứng minh điều đó. Khi Trung Hoa bị người Mông Cổ chinh phục dẫn đến nền thống trị của nhà Nguyên (từ năm 1271 đến năm 1368), lại một phen quốc gia Đại Việt phải chịu đựng ba lần xâm lược các năm 1257 - 1258, 1285, 1287 - 1288. Nhà Minh thay thế nhà Nguyên năm 1368, nguy cơ bị xâm lược lại đến gần với Đại Việt, đã thành hiện thực năm 1406 dưới thời nhà Hồ.

Từ những sự kiện lịch sử nói trên, dù không muốn cũng phải thừa nhận một sự thực: quốc gia Đại Việt thời Lý - Trần đất không rộng, người không đông, vừa mới giành lại được độc lập tự chủ vẫn nằm trong mưu đồ thôn tính, lập lại ách đô hộ của các vương triều Trung Hoa. Tình thế đó đặt các vương triều Lý- Trần ở một thế ứng xử, quan hệ rất khó khăn, phức tạp để đất nước được tồn tại và tiếp tục phát triển. Các vương triều Tống, Nguyên, Minh không nhìn nhận Đại Việt như một quốc gia độc lập có chủ quyền. Trong con mắt của họ, Đại Việt chỉ là một nước nhỏ, một chư hầu của mình.

Ở phía tây - bắc, vào thế kỷ XI, Đại Việt giáp với nước Đại Lý (Nam Chiếu cũ), một quốc gia của người Di, người Thái thành lập vào nửa đầu thế kỷ VIII, trung tâm là Đại Lý (Côn Minh - Trung Quốc). Đó là một quốc gia mạnh, giáp Ấn Độ ở phía tây, Thổ Phồn (Tây Tạng) ở phía bắc, còn phía đông nam giáp Đại Việt. Từ nửa sau thế kỷ VIII nhà Đường suy yếu, Nam Chiếu nhiều lần đánh phá Giao Châu. Năm 863, Nam Chiếu từng đánh chiếm phủ Tống Bình - lỵ sở của An Nam đô hộ phủ (Hà Nội ngày nay), chia quân đóng giữ Giao Chỉ cho đến năm 865 mới bị Cao Điền- một viên tướng của nhà Đường đánh lui. Nước Đại Lý bị người Mông Cổ đánh chiếm vào các năm 1253 – 1256, để sau đó bị chia thành phủ huyện, sáp nhập vào bản đồ Trung Hoa bắt đầu từ vương triều Nguyên.

Về phía tây, Đại Việt có quan hệ với các bộ tộc người Môn-khme mà sử cũ thường chép là Lão Qua. Ai Lao lúc này đang trong tình trạng xáo động trước làn sóng di cư của người Thái tràn xuống phía Nam: vì sự xâu xé lẫn nhau giữa các quốc gia tự trị, dẫn đến bị thống trị của vương quốc Chân Lạp (khme) từ thế kỷ XIII, của vương quốc Xukhôthai thế kỷ XIV. Cho đến giữa thế kỷ XIV, năm 1353 với cuộc đấu tranh của Phạ Ngừm, họ mới được giải phóng, lập nên quốc gia Lạng Xạng (nước Lào ngày nay).

Về mặt nam, sau dãy Hoành Sơn (đèo Ngang), là nước Champa (Chiêm Thành) của người Chăm chiếm giữ dải đất hẹp ven biển miền Trung và nam Trung Bộ ngày nay. Người Chăm từng bị ách đô hộ của phong kiến Trung Hoa, vốn là quận Nhật Nam dưới thời đô hộ của nhà Hán. Vào cuối thế kỷ thứ II, Khu Liên cầm đầu người Chăm nổi dậy đánh phá quận huyện, giết bọn quan lại đô hộ lập nên nước Lâm Ấp, kinh đô là Trà Kiệu (Quảng Nam), tức là Chiêm Thành sau này. Dưới thời Bắc thuộc, Lâm Ấp nhiều lần đem quân cướp phá Cửu Chân, Giao Châu vào các năm 353, 399, 415, 431, buộc quan quân đô hộ phải đánh đuổi. Vào giữa thế kỷ VI ở Giao Châu, Lý Nam Đế nổi dậy đánh đuổi thứ sử Tiêu Tư, lập nên nước Vạn Xuân năm 544, thì một năm trước - năm 543 Lâm Ấp đem quân sang xâm lấn. Lý Nam Đế phải sai Phạm Tu đi đánh. Như vậy, Lâm ấp (Chiêm Thành) với Đại Việt bước vào thời độc lập tự chủ lâu dài đã có một di sản quan hệ trong quá khứ không thuận chiều. Tình trạng này sẽ còn tiếp diễn trong nhiều thế kỷ sau. Chép về nước Chăm Pa xưa Rênê Gruxê (Réné Grousset) viết: “Người Chăm đã từng chiến đấu chống người Khme cùng nền văn minh Ấn Độ ở phía tây, vì người Khme như đã biết, từng nhiều phen tìm cách chinh phục họ vào thế kỷ XII. Về phía bắc, người Chăm không ngừng gây chiến tranh chống người An Nam thuộc khu vực văn minh Trung Hoa”2.

Từ những nét khái quát nói trên có thể nhận thấy từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIV, nhà nước Lý - Trần, trong quan hệ với các nước láng giềng, có nổi lên vấn đề quan trọng sống còn là đối phó với hành động xâm lược, quấy rối chủ yếu của Chiêm Thành từ phía nam và hành động tấn công, thôn tính của các vương triều phong kiến Trung Hoa từ phía bắc. Vấn đề này hầu như trở thành nguy cơ thường trực. Trong thực tế, mối đe dọa đó còn nguy hiểm hơn khi Chiêm Thành có quan hệ thần phục Trung Hoa, và ngược lại, Trung Hoa có biểu hiện liên kết với Chiêm Thành, hoặc biến Chiêm Thành thành địa bàn chiến lược nhằm gây sức ép, tấn công, thủ tiêu nền độc lập của quốc gia Đại Việt.

Trong bối cảnh lịch sử mang đặc điểm quan hệ láng giềng và tương quan lực lượng đó, tất yếu buộc các nhà nước thời Lý - Trần phải có hoạt động đối ngoại như thế nào nhằm tạo thế cho đất nước không chỉ tồn tại mà còn phát triển vững mạnh.
________________________________________
1. Lịch sử Việt Nam. NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1971, t.I, tr.141
2. Réné Grousset: Histoire de L Asie. Presses Universitaires de France, Paris 1947. p. 111
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11364



« Trả lời #34 vào lúc: 28 Tháng Bảy, 2008, 09:44:32 PM »


II. MỀM DẺO NHƯNG KIÊN QUYẾT TRONG QUAN HỆ VỚI PHƯƠNG BẮC

Trong hoạt động đối ngoại của các nhà nước phong kiến Việt Nam thời trung đại nói chung, thời Lý - Trần nói riêng, quan hệ với Trung Hoa ở phía Bắc nổi lên hàng đầu và là mối quan tâm bậc nhất. Lý do khá rõ ràng. Trong suy nghĩ và hành động của các nhà nước phong kiến Trung Hoa cho đến cận đại - nhà Thanh, bao giờ họ cũng nhìn nhận Đại Việt - Việt Nam (quốc hiệu từ năm 1804 thời Gia Long) như một nước chư hầu, phiên thuộc, phải thần phục. Dường như sau hơn 1000 năm đô hộ, với tư thế là một quốc gia lớn mạnh, có quan hệ liền kề về không gian, lãnh thổ, có nhiều nét tương đồng về văn hóa, văn minh, các tập đoàn phong kiến cầm đầu đế chế Trung Hoa tự cho mình quyền “che chở”, “định đoạt” của “Thiên triều” đối với một nước nhỏ ở phía nam, mặc dù ách đô hộ đã thực sự chấm dứt từ đầu thế kỷ X. Hiệp ước Thiên Tân ký ngày 9-6-1885 giữa Pháp và nhà Thanh nhằm phân chia quyền lợi của họ ở Việt Nam là một bằng chứng.

Từ thế kỷ XI, các nhà nước thời Lý - Trần hẳn đã nhận thức được điều đó. Tuy nhiên, tranh thủ sự hỗ trợ, ủng hộ của quốc gia láng giềng trong tinh thần hòa hiếu tôn trọng lẫn nhau, cùng tồn tại là cần thiết, không có cách nào khác tốt hơn điều đó trong quan hệ đối ngoại bất kỳ ở đâu và lúc nào. Đặc biệt quốc gia Đại Việt trong tương quan với Trung Hoa, một quốc gia có lịch sử dựng nước lâu đời, rộng lớn, với một nền văn minh rực rỡ, đầy hấp dẫn của phương Đông cổ trung đại, thì sự tranh thủ đó lại càng cần thiết.

Dường như lịch sử đã tạo điều kiện và tiền đề cho mối quan hệ đó tiếp diễn với những nét đặc biệt. Tuy nhiên, quan hệ đối ngoại và hệ quả của nó bao giờ cũng tùy thuộc vào cả hai bên hữu quan. Ở đây, mưu đồ lập lại nền đô hộ trên đất Đại Việt vẫn thường trực ở phía Tống, Nguyên, Minh, nhưng giữ vững quyền tự chủ quốc gia Đại Việt do người Việt làm chủ, là điều bất di bất dịch, không thể nhân nhượng của nhà nước Lý - Trần. Tinh thần này được biểu hiện mạnh mẽ như một tuyên ngôn đanh thép trong thơ Lý Thường Kiệt - người anh hùng dân tộc đã tổ chức, điều hành chiến tranh giữ nước thắng lợi đầu năm 1077: “Nam quốc sơn hà, Nam đế cư…”

Tuy nhiên, hoàn toàn không phải vô cớ, từ thế kỷ X, với họ Khúc, đến các vương triều Ngô, Đinh, Tiền Lê, sau khi lên cầm quyền đều “xin mệnh” và nhận tước phong của Nam Hán, Lương, Tống. Không chỉ nhận tước phong mà còn thường xuyên phái sứ giả sang triều cống, tỏ ý thần phục. Với hình thức đó, các nhà nước thời này đã tranh thủ sự “công nhận”, khẳng định tính hợp thức trong quan hệ bang giao giữa hai nước cùng song song tồn tại. Nhưng một khi vượt quá giới hạn đó, thì dù là tiểu vương quốc Nam Hán ở ven biển đông Nam Trung Hoa, hoặc Đại Tống hùng mạnh làm chủ toàn Trung Hoa, uy hiếp độc lập dân tộc xâm lược lãnh thổ Đại Việt là lập tức bị giáng trả đích đáng, buộc phải rút quân về nước. Bài học và kinh nghiệm lịch sử trong quan hệ đối ngoại với phương Bắc từ thế kỷ X được các nhà nước Lý - Trần kế thừa, ứng dụng và nâng lên tầm cao mới.

Ngay sau khi lên ngôi, đầu năm 1010, Lý Thái Tổ đã cử viên ngoại bang Lương Nhậm Văn và Lê Tái Nghiêm sang nhà Tống biếu sản vật vật địa phương nhằm kết nối giao hảo1. Không phải không có căn nguyên khiến Tống Chân Tông không theo ý muốn từ chối của quần thần khi ông ta nói: “Họ Lê thay nhà Đinh, họ Lý cũng bắt chước làm theo. Ta đối với Lê hay Lý nào có khác gì”2 và nhận lễ sính. Liền cuối năm đó, nhà Tống cử sứ giả sang phong Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ) làm Giao Chỉ quận vương, Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ3. Hẳn rằng bài học thất bại cay đắng trong chiến tranh xâm lược vào cuối năm 980 đầu 981 thời Tống Thái Tông trên chiến trường Đại Cồ Việt còn thấm đậm trong đầu vị vua kế nghiệp - Tống Chân Tông, mặc dù 30 năm đã trôi qua. Mặt khác, về phía Tống, mối họa nước Liêu, Khiết Đan ở phía bắc cùng hòa ước Thiều Châu ký năm 1004 với Khiết Đan còn chưa ráo mực kèm theo gánh nặng cắt đất, cống nạp cho Khiết Đan mỗi năm 10 vạn lạng bạc và 20 vạn tấn lụa không cho phép vua Tống có thái độ khác đối với Đại Việt, ngoài việc kết mối hòa hiếu.

Để tranh thủ sự đồng tình, công nhận, kết mối giao hảo, giao lưu với Trung Hoa, vua Lý Thái Tổ cử sứ giả sang Tống đáp lễ vào năm 1011 và kết hảo năm 1012. Tiếp đó, tuy chưa thành lệ định kỳ, nhưng nhà Lý thường cử sứ giả sang Tống báo tin thắng trận trong đánh dẹp hoặc biếu, cống nạp ngựa, voi, tê ngưu, cũng có khi kèm theo vàng bạc (năm 1126). Đã thành thường lệ, mỗi khi vua Đại Việt mất, nhà Tống cử sứ gỉa sang phúng viếng và tiếp tục sách phong vua mới lên ngôi. Đó là các trường hợp: Lý Thái Tông năm 1029, Lý Thánh Tông năm 1055, Lý Nhân Tông năm 1073, Lý Thần Tông năm 1132, Lý Anh Tông năm 1139, đều sách phong Giao Chỉ quận vương.

Như vậy, cho đến giữa thế kỷ XII, mặc dù đã có sự đụng độ lớn với nhà Tống trong chiến tranh vệ quốc trên chiến trường Như Nguyệt vào thế kỷ trước, nhưng bằng biện pháp mềm dẻo về quan hệ giao hảo, các vua nhà Lý đã tranh thủ được sự công nhận quyền tự chủ của đất nước Đại Việt. Sau thất bại, nhà Tống buộc phải công nhận quốc gia Đại Việt nhưng vẫn cố níu lấy quyền lực của một thời đã qua, dù chỉ là hư quyền, quyền phong vương cho chư hầu. Các vua nhà Lý trong quan hệ đối ngoại không lấy đó làm quan trọng. Điều quan trọng hơn là “sông núi nước Nam vua nước Nam ở” đã thực sự trở thành hiện thực. Lịch sử lại được chứng kiến trong khi Đại Việt ngày một phát triển, mở mang, thì vương triều Tống ngày một suy yếu. Từ sau khi nước Kim chia quân tấn công đất Tống vào năm 1125, diệt Bắc Tống vào năm 1127, tiếp đến nhà Nam Tống (từ năm 1127 đến 1279) trượt dài trên con đường đầu hàng nước Kim, để rồi cả hai cùng chung số phận chịu bại vong trước vó ngựa của người Mông Cổ, nhường cho nhà Nguyên quyền thống trị Trung Hoa. Trong bối cảnh suy vong đó, năm 1164, Tống Hiếu Tông - vua thứ hai của Nam Tống sau khi lên ngôi, để biểu thị quyền lực của mình, đồng thời tranh thủ Đại Việt, đã lập lại việc làm của nhà Bắc Tống phong vương cho Lý Anh Tông, nhưng không phải là Giao Chỉ quận vương mà là An Nam quốc vương. Từ đây, Giao Chỉ quận được thay bằng An Nam quốc. Các nhà nước phong kiến Trung Hoa đã từ bỏ quan niệm Đại Việt như một quận phiên thuộc của họ, mà phải thừa nhận là một quốc gia đường hoàng.

Tuy nhiên, danh hiệu An Nam quốc vương, theo sử sách, cũng chỉ được nhà Tống sử dụng phong cho Lý Cao Tông năm 1186, Trần Thái Tông năm 1229. Nhà Nguyên lên cầm quyền năm 1260, theo thói thường, để thông báo và biểu thị uy quyển của mình, lại phong cho Trần Thái Tông năm 1261 như nhà Nam Tống đã làm. Từ đây, danh hiệu “An Nam quốc vương” chỉ còn được nhà Nguyên lặp lại trong hai trường hợp kỳ quặc. Đó là phong cho Trần Di Ái vào năm 12814 và Trần Ích Tắc vào năm 12865.
_________________________________________
1. Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1983 tr.241.
2. Việt sử thông giám cương mục, Nxb Văn - Sử - Địa , Hà Nội, 1957. t.III. tr.41.
3. Đại Việt sử ký toàn thư, sđd. tr. 243, Việt sử thông giám cương mục, Sđd, tr.43.
4. Trần Di Ái là chú họ của Trần Nhân Tông. Nhà vua từ chối không sang chầu Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt, cử Di Ái cùng với Lê Mục, Lê Tuân đi sứ. Nhân dịp này, Hốt Tất Liệt thừa cơ phong Trần Di Ái làm An Nam quốc vương, lập chính quyền bù nhìn từ Trung Hoa đưa về chiếm Đại Việt vào năm 1282. Bị đánh chặn ngay từ biên giới Trần Di Ái sợ trốn về nước, bị trị tội đổi tên là Trần Ái, đồ làm khao giáp binh phủ Thiên Trường - Theo Đại Việt sử kí toàn thư. Sđd. t. II, tr. 30
5. Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc là con Trần Thái Tông, hàng quân Nguyên trong cuộc kháng chiến lần thứ hai, năm 1285.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11364



« Trả lời #35 vào lúc: 28 Tháng Bảy, 2008, 09:49:39 PM »


Điều cần lưu ý là các vua nhà Trần trong quan hệ bang giao với Tống, Nguyên, Minh vẫn giữ lễ thường qua lại thăm viếng, chúc tụng, cống nạp phương vật như các triều trước, nhưng khi lên ngôi không dâng biểu cầu phong. Việc nhà Tống, nhà Nguyên phong vương cho Trần Thái Tông chỉ là hành động đơn phương của họ. Sử gia Phan Huy Chú có nhận xét về tình hình phong vương thời Trần như sau: “Các vua Trần được nhường ngôi, chưa từng cầu phong ở Trung Quốc (...). Vì nhà Nguyên rất bất bình với nhà Trần, cho nên, về sau dù có sính sứ đi lại, mà lễ sách phong suốt đời nhà Nguyên không thi hành nữa”1.

Minh Thành Tổ lên ngôi ở Kim Lăng năm 1368, sai Địch Tế Dân sang “thăm” Đại Việt hẳn là để thông báo quyền lực của nhà Minh ở Trung Hoa. Vua Trần Dụ Tông sai Lễ bộ thị lang Đào Văn Đích sang cũng chỉ với mục đích đáp lễ2. Năm 1370, Nghệ Tông lên ngôi, vua Minh sai Diêm Nguyên Phục, đạo sĩ cùng Triều Thiên đem lễ trâu và lụa sang tế thần núi Tản Viên và các thủy thẩn sông Lô. Diêm Phục vào Thăng Long làm lễ tế xong còn khắc bài văn tế do chính vua Minh viết vào bia đá trước khi về nước3. Hành động ngang ngược trịch thượng đó của Minh Thành Tổ báo hiệu một tương lai không tốt đẹp trong quan hệ giữa hai nước. Việc giao hảo hòa bình hữu nghị chấm dứt, mở đầu một thời kỳ chiến tranh lạnh giữa nhà Minh có tham vọng chinh phục Đại Việt với nhà Trần đang chèo lái trên bước đường suy yếu vào cuối thế kỷ XIV.

Trong quan hệ đối ngoại với phương bắc, qua các việc làm như nhận sắc phong (chủ yếu là thời Lý) cống nạp dưới dạng “biếu”, “tặng”, cử sứ giả thăm viếng chúc tụng, các nhà nước thời Lý - Trần đã tỏ ra mềm dẻo, nhún nhường. Mặt khác, họ cũng hiểu rõ đối tượng - những nhà nước thay nhau cầm quyền ở một quốc gia lớn mạnh, rất có ý thức về bá quyền của mình đối với lân bang. Nhưng các nhà nước đó không phải lúc nào cũng mạnh. Chính vì vậy, đối sách mềm dẻo, tỏ thái độ thần phục là cần thiết để có được hòa hiếu, tôn trọng lẫn nhau cùng tồn tại hòa bình. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là để mất chủ quyền. Một khi họ tỏ thái độ không thiện chí với mục đích xâm lược, các nhà nước Lý - Trần đã dùng biện pháp cứng rắn để giữ quốc thể, tranh thử hòa hoãn nhằm xây dựng lực lượng, huy động toàn quân, toàn dân cầm vũ khí bảo vệ Tổ quốc.

Tình hình này biểu hiện rõ rệt nhất ở những năm trước chiến tranh vệ quốc thời Trần, đặc biệt là thời gian giữa cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông, lần thứ nhất và lần thứ hai. Sau đó là từ năm 1369 trở đi với vương triều Minh thay nhà Nguyên cầm quyền ở Trung Hoa.

Vào thế kỷ XIII nhân loại đã chứng kiến hành động xâm lăng bành trướng của đế quốc Mông Cổ từng gây chấn động kèm theo bao nỗi kinh hoàng đối với nhiều quốc gia Âu - Á từ Hắc Hải đến bờ Thái Bình Dương. Vó ngựa của Mông Cồ đã tràn xuống châu Á với mục tiêu đầu tiên là nam Trung Hoa của nhà Tống. Năm 1253: Mông Cổ đánh chiếm nước Đại Lý (Nam Chiếu) để uy hiếp mặt tây nam Trung Hoa. Ba năm sau (năm 1256), Đại Lý mất. Tiếp đó, quân Mông Cổ nhằm vào Đại Việt hòng biến Đại Việt thành địa bàn tiến công Trung Hoa từ phía nam.

Mở đầu việc xâm lược Đại Việt, viên tướng Mông Cổ Ngột Lương Hợp Thai nhiều lần sai sứ sang dụ hàng vua Trần Thái Tông4. Vua Trần không những không trả lời, còn bắt giam sứ giả và tích cực chuẩn bị chống giặc. Việc làm này của vua Trần, nhìn từ góc độ đối ngoại, một mặt tỏ thái độ kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền của Đại Việt, mặt khác, vẫn giữ thiện chí với Trung Hoa do nhà Nam Tống cầm quyền. Tinh thần đó còn thể hiện ở việc sau khi đánh đuổi quân xâm lược Mông Cổ tháng 8 năm Mậu Ngọ (1258), vua Trần vẫn tiếp tục sai sứ sang thông hiếu với nhà Tống. Nhưng khốn thay, nhà Nam Tống lại tỏ ra quá yếu đuối trước sức tấn công của quân Mông Cổ. Cuối cùng chính quyền Hán tộc bị xóa sổ với việc Lục Phú Tư ôm Tống Đế Bính nhảy xuống eo biển Nhai Sơn (Quảng Dông) tự tử năm 1279.

Như vậy, trong khoảng thời gian từ 1257 đến 1279, trong việc đối ngoại với Trung Hoa, nhà nước Đại Việt đứng trước hai tình thế: đế quốc Mông Cổ đang bành trướng, thôn tính, làm bá chủ Trung Hoa, và nhà Tống từ suy yếu, tan rã, một bộ phận đẩu hàng, đi đến thất bại hoàn toàn. Cũng trong thời gian này, nguy cơ xâm lược Đại Việt của quân Mông Cổ đã thành sự thực vào năm 1257 và sẽ còn tiếp tục, một khi họ chiếm được Trung Hoa. Trước tình thế đó, để hòa hoãn, thăm dò và chuẩn bị đối phó, Trần Thái Tông đã thực hiện đồng thời việc đặt quan hệ thông hiếu với Mông Cổ. Sử chép cũng vào tháng 8 năm Mậu Ngọ (1258) vua Trần “sai Lê Phụ Trần, Chu Bác Lãm sang Nguyên (đúng ra là gặp chúa Mông Cổ vì đến năm 1271, Hốt Tất Liệt mới đổi tên nước là Nguyên - TG). Lúc này sứ Nguyên sang đòi lễ vật hàng năm, đòi tăng thêm tiền cống, vua sai Lê Phụ Trần đi sứ, lấy Bác Lãm làm phó. Cuối cùng quy định ba năm một lần tiến cống coi là thường lệ”5. Cùng với từng bước thôn tính Trung Hoa, chúa Mông Cổ Hốt Tất Liệt, qua con đường ngoại giao, nhiều lần cho sứ giả sang từ “chiêu an”, “vỗ về”, phong vương cho Trần Thái Tông (năm 1261)6, đến đòi vua Trần “phải thân sang chầu, con em phải làm con tin, lại phải kê số dân, chịu quân dịch, nộp thuế má và vẫn có đặt quan đạt lỗ hoa xích để thống trị. Cứ mấy việc ấy là để tỏ lòng thành thực thần phục”7. Rõ ràng chúa Mông Cổ tính chuyện hòa bình nô dịch, thôn tính Đại Việt. Nhận thức điều đó, vua Trần khôn khéo, một mặt không cự tuyệt dứt khoát, mặt khác tìm mọi cách thoái thác trì hoãn để tránh mọi đụng độ vào lúc công việc chuẩn bị chiến tranh chưa đủ. Về chức đạt lỗ hoa xích là chức quan mà Mông Cổ đặt ở các nước bị chiếm để kiểm soát, vua Trần chịu chấp nhận nhưng tìm mọi cách mua chuộc, vô hiệu hóa. Vua Trần thác bệnh không sang chầu, không cho con em làm con tin, nhận chiếu thư không lạy, còn các thứ cống nạp, chỉ chiếu lệ ba năm một lần. Về phía Mông Cổ, sau khi đã chinh phục toàn bộ Trung Hoa, Hốt Tất Liệt tỏ thái độ quyết liệt hơn. Ý đồ chuyển từ đối đầu bằng ngoại giao sang đối đầu bằng quân sự ngày càng lộ rõ. Hốt Tất Liệt xuống chiếu đe dọa: “Nếu quả thật không tự vào ra mắt được thì lấy vàng thay thân, hai hạt châu thay mắt, thêm vào đó, lấy hiền sĩ, phương kỹ, con trai, con gái, thợ thuyền, mỗi loại hai người để thay cho sĩ nhân. Nếu không thì hãy tu sửa thành trì mà đợi xét sử”8. Những lời đe dọa đó không làm cho vua Trần nao núng. Nhưng, để kéo dài thêm thời gian chuẩn bị, vua Trần Nhân Tông thác bệnh, cử chú họ là Trần Di Ái thay mình dẫn đầu đoàn sứ giả sang Nguyên vào năm 1281. Nhân cơ hội này Hốt Tất Liệt trắng trợn thực hiện hành động xâm lược, mở đầu bằng việc lập chính quyền bù nhìn, phong Trần Di Ái làm An Nam quốc vương và “hạ chiếu” cho Trần Nhân Tông: “Ngươi đã cáo bệnh không vào chầu, nay cho ngươi được nghỉ mà thuốc thang điều dưỡng, ta đã lập chú ngươi là Di Ái thay ngươi làm vua nước An Nam, coi trị dân chúng của ngươi...”9. Năm 1282 Hốt Tất Liệt cho quân hộ tống Trần Di Ái sang, bị quân dân Đại Việt đón đánh tan ở biên giới. Trần Di Ái sợ trốn về nước, phải chịu tội đổi tên, đồ làm khao giáp binh.
____________________________________________
1. Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Viện sử học, Nxb khoa học xã hội, Hà Nội, 1992, ph. Bang giao chí, tr.90.
2, 3. Đại Việt sử ký toàn thư. Sđd, t. II, tr. 145.
4. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.II, tr.25, chép vào tháng 8 năm Nguyên phong thứ 7 (1257) có sứ Nguyên sang. Hà Văn Tấn - Phạm Thị Tâm: Cuộc kháng chiến chống Nguyên – Mông, thế kỷ XIII. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1970, đã tham khảo các sách của Trung Quốc xác định sứ Nguyên sang ba lần vào các tháng 8, 9, 11 năm Đinh Tỵ (1257), chú thích 2, tr.63-64
5, 6. Đại Việt sử ký toàn thư, sđd, t.II, tr.27, tr 30.
7. “Chiếu chế Đại Nguyên” năm 1260, trích theo An Nam chí lược của Lê Tắc. q.II, tư liệu đánh máy của Viện Sử học.
8. Chiếu của Hốt Tất Liệt năm 1279, dẫn theo Hà Văn Tấn, Phạm Thị Tâm: Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên – Mông, thế kỷ XIII. Sđd. tr. 110.
9. Chế chiếu Đại Nguyên năm 1281 dẫn theo An Nam chí lược, Sđd.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11364



« Trả lời #36 vào lúc: 28 Tháng Bảy, 2008, 09:51:04 PM »


Sau thất bại đó, năm 1283 Hốt Tất Liệt đòi nhà Trần giúp binh lương cho chúng đánh Chiêm Thành. Vua Trần cự tuyệt. Nguy cơ xâm lăng tới gần và đã trở thành hiện thực vào đẩu năm 1285.

Hơn một phần tư thế kỷ (từ 1258 đến 1284.) hòa bình có được bằng con đường đối ngoại khôn khéo, nhà nước thời Trần đã tranh thủ thời gian hàn gắn vết thương chiến tranh năm 1257, xây dựng củng cố lực lượng, huy động toàn quân, toàn dân sẵn sàng chiến đấu, và đã chiến thắng quân Nguyên trong hai cuộc chiến tranh vệ quốc liên tiếp xảy ra vào các năm 1285, 1287 - 1288, đè bẹp ý chí xâm lược của chúng. Năm 1293, nhà Nguyên lại mượn cớ vua Trần Nhân Tông không vào chầu để chuẩn bị đánh chiếm Đại Việt. Nhưng đầu năm 1294 Nguyên Thế tổ Hốt Tắt Liệt chết, Nguyên Thành Tông lên ngôi, xuống chiếu bãi binh. Từ đây, quan hệ đối ngoại giữa nhà Nguyên với nhà nước Trần trở lại với nghi thức bang giao thời bình theo truyền thống.

Bước vào giữa thế kỷ XIV, Trung Hoa lại lâm vào loạn lạc. Nhà Nguyên suy yếu trước các cuộc nổi dậy ở nhiều nơi, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa Hoàng Cân (Khăn vàng) của Lưu Phúc Thông ở Hoa Trung với khẩu hiệu tiêu diệt nhà Nguyên, khôi phục nhà Tống. Một trong những người cầm đầu lực lượng Hoàng Cân ở An Huy là tướng Chu Nguyên Chương, xuất thân từ nông dân nghèo, nổi lên như một nhân vật chủ chốt cầm đầu nghĩa quân từ năm 1355. Sau hơn 10 năm chiến đấu, Chu Nguyên Chương đánh đuổi nhà Nguyên khỏi Đại Đô (Bắc Kinh) năm 1368 thâu tóm toàn Trung Hoa, lên ngôi hoàng đế, đặt tên nước là Minh, hiệu là Minh Thành Tổ.

Minh Thành Tổ giữ ngôi từ năm 1368 đến 1399 là một ông vua giỏi, đem lại cho Trung Hoa một bước phát triển mới trên con đường xây dựng quốc gia phong kiến trung ương tập quyền. Nhưng Minh Thành Tổ cũng là người tích cực thực hiện chính sách bành trướng thế lực với phương châm: “viễn giao, cận công”, “dĩ Di trị Di”. Với tinh thần đó, một năm sau khi lên ngôi, năm 1369, Minh Thành Tổ sai Ngưu Lượng, Trương Dĩ Minh sang tặng vua Trần Dụ Tông ấn vàng và sắc rồng - một hình thức bố cáo ân uy, ràng buộc, vỗ về của thiên tử đối với chư hầu. Năm 1370, Minh Thành Tổ tự làm chúc văn sai sứ thần sang tế thần sông núi Đại Việt. Nhà Minh vừa lên cầm quyền đã “liếc mắt” về phía Đại Việt. Trong khi đó ở Đại Việt, sau cái chết của Dụ Tông (năm 1369) xảy ra vụ Dương Nhật Lễ1. Năm 1370, người con thứ ba Trần Minh Tông được vương hầu họp ở sông Đại Lại (sông Lèn, Thanh Hóa) dẫn quân về Thăng Long giành lại ngôi vua (tức Trần Nghệ Tông). Tuy nhiên, lúc này nhà Minh còn lo ổn định tình hình ở Trung Nguyên và bình định vùng Vân Nam, chưa trực tiếp với tay đến Đại Việt. Hơn 10 năm sau, năm 1384, vua Minh sai bọn Dương Bàn, Hóa Nguyên mang tờ sớ của bộ Hộ sang Đại Việt đòi lương để cấp cho quân lính Minh đóng ở Lâm An (Vân Nam). Hai tháng sau, vua Trần mới đáp: “Đã sai hành khiển ty Trần Nghiêu Du đôn đốc chuyển vận sứ ty các lộ vận chuyển lương thực tới địa đầu huyện Thủy Vĩ giao nộp rồi”2. Năm sau nhà Minh lại sai sứ sang đòi nộp 20 tăng nhân. Năm 1386, sai Lâm Bột sang đòi các giống cây cam, vải, mít, nhãn; lại sai Lý Anh sang mượn đường đánh Chiêm Thành, đòi 50 con voi, đặt các dịch trạm từ phủ Nghệ An cung cấp cỏ, thức ăn, đưa voi đến Vân Nam3. Những yêu sách của nhà Minh hẳn đã gợi cho triều đình Trần nhớ lại chuyện hơn 100 năm trước (năm 1281), quân Nguyên đã hạch sách, đòi mượn đường đi đánh Chiêm Thành, để sau đó xâm lược Đại Việt. Lại một lần nữa phải thực hiện chính sách đối ngoại mềm dẻo, hòa hoãn để chuẩn bị lực lượng đối phó. Vua Trần cho người đem các giống cây sang nhưng vì không chịu được rét đến nửa đường cây đều chết khô cả; còn yêu sách đòi cho mượn đường không thấy sử chép vua Trần phản ứng ra sao. Có thể nghĩ rằng nhà vua tìm cớ thoái thác. Năm 1395, Nhà Minh bình định vùng Quảng Tây, lại sai người sang đòi năm vạn quân, 50 thót voi, 50 vạn thạch lương, đưa đến biên giới để họ dùng vào việc quân4. Cũng vào năm này họ đòi nộp nhà sư, phụ nữ xoa bóp, người bị thiến. Vua Trần Thuận Tông, thực quyền trong tay thượng hoàng Trần Nghệ Tông và Hồ Qúy Ly, chỉ nộp chiếu lệ. Vua Trần không cấp voi và quân lính, cho đem một ít lương thực đến Đồng Đăng và nộp các loại người, mỗi thứ một ít.

Mặc dù vào buổi cuối Trần, đất nước Đại Việt đang gặp nhiều khó khăn: nội bộ vương triều lục đục, xã hội có nhiều biến động, quan hệ Việt - Chiêm căng thẳng, nhưng Trần Nghệ Tông, người đã từng nói: “Triều đình dựng nước, có luật pháp, chế độ riêng, không theo quy chế nhà Tống là vì Nam - Bắc, nước nào làm chủ nước đó ...” và Hồ Qúy Ly - người có hoài bão: “Làm thế nào có được 100 vạn quân để chống giặc Bắc” hẳn đã không chịu bán rẻ chủ quyền đất nước cho nhà Minh. Họ cũng đã khôn khéo ứng biến trong quan hệ đối ngoại, nhằm tránh những căng thẳng dẫn đến chiến tranh trong tình thế còn nhiều bất lợi, và chưa chuẩn bị được lực lượng. Nhưng sự việc xảy ra sẽ xảy ra. Quân Minh xâm lược Đại Việt năm 1406. Đó là việc của Vương triều Hồ. Chỉ biết rằng nhà Trần, bằng đường lối đối ngoại hợp lý, ít nhất cũng hòa hoãn được tình thế trước một đối thủ mới, đầy tham vọng xâm lược từ mặt bắc, để có được rảnh tay đối phó, dẹp yên mặt nam trong suốt gần 40 năm cuối thế kỷ XIV.
____________________________________________
1. Nhập Lễ: con người làm trò tên là Dương Khương. Vợ Dương Khương có mang, vào cung diễn trò “Vương mẫu hiến bàn đào”. Cung Túc vương Nguyên Dục là con trưởng của Dụ Tông thấy nàng đẹp, lấy làm vợ. Khi sinh ra Nhật Lễ, Dục nhận làm con mình. Dục chết vào năm 1364. Đến khi Trần Dụ Tông mất. Nhật Lễ được hoàng thái hậu đón về đưa lên ngôi.
2. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd , t.II. tr.170. Thủy Vĩ thuộc vùng Lào Cai.
3, 4. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.II, tr.172, 189.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11364



« Trả lời #37 vào lúc: 28 Tháng Bảy, 2008, 09:53:27 PM »


III. LINH HOẠT NHƯNG KIÊN QUYẾT VỚI PHƯƠNG NAM

Trong quan hệ đối ngoại với các quốc gia phía nam vào thời Lý -Trần chủ yếu là quan hệ với Chiêm Thành. Như đã trình bày trong phần trên, ở mặt nam, tây nam, quốc gia Đại Việt thời Lý - Trần, ngoài Chiêm Thành còn có các tộc Lão Qua (sử còn chép là Ai Lao) và Chân Lạp. Vào thời này Lão Qua, Chân Lạp từng có quan hệ giao hảo với Đại Việt dưới dạng cống nạp. Tuy nhiên, cũng có lúc không mấy êm ả vì hành động quấy rối cướp phá vùng biên địa khiến nhà nước Lý - Trần phải đem quân đánh dẹp. Nhưng các biểu hiện trên xuất hiện không nhiều, không phải là mối quan tâm chính của nhà nước thời này. Về phía nam, nhà nước Lý - Trần đặc biệt quan tâm đến Chiêm Thành. Điều đó có lý do và nguồn gốc lịch sử của nó.

Chiêm Thành và Đại Việt, mặc dù có lịch sử lập nước sớm, muộn khác nhau, có cội nguồn văn hóa văn minh khác nhau, nhưng đều là quốc gia nhỏ bé trong khu vực ở vào đường giáp ranh của hai nền văn minh lớn của phương Đông cổ đại. Thế nhưng từ khi lập nước (thế kỷ II) trên dải đất hẹp ven biển phía đông Trường Sơn, từ Đèo Ngang trở vào với các tên gọi Lâm Ấp (các thế kỷ II - VII), Hoàn Vương (các thế kỷ VIII - IX) rồi Chiêm Thành (Chăm Pa từ thế kỷ IX) họ vẫn thường xuyên cướp phá, tiến công bên ngoài dãy Hoành Sơn. Là cư dân nông nghiệp nương rẫy, kết hợp với ít nhiều lúa nước trải dọc ven biển, người Chiêm đồng thời rất thiện nghề biển. Họ thường tổ chức đánh phá Đại Việt bằng đường biển.

Bước vào thời kỳ độc lập, tự chủ, thời quốc gia Đại Cồ Việt, năm 979 chúa Chiêm huy động đoàn chiến thuyền đưa Ngô Nhật Khánh, cựu sứ quân, Phò mã của vua Đinh, vì thù riêng đã chạy sang Chiêm Thành - theo đường biển vào vùng cửa sông Đáy ngày nay nhằm tấn công kinh đô Hoa Lư. Gặp bão tố, thuyền chiến bị đắm hết, chỉ có thuyền của chúa Chiêm thoát được về nước1. Sử còn chép vào năm 982 thời tiền Lê, Lê Hoàn đã cử Từ Mục và Ngô Tử Canh đi sứ, bị Chiêm Thành bắt giữ. Đó là nguyên nhân khiến cùng năm Lê Hoàn tự làm tướng đi đánh, tiến công đến tận kinh đô Đồng Dương (Indrapura - Quảng Nam)2 “san phẳng thành trì, phá hủy tông miếu”3. Cuộc chinh phạt kéo dài đến một năm trời. Mười nam sau, nhà nước Đại Cồ Việt thả hơn 360 người Chiêm bị bắt về nước.

Bước sang thời Lý - Trần, quan hệ Việt - Chiêm có thể nói là nhộn nhịp, nhưng ấm lạnh thất thường. Nếu như sự đe dọa cướp phá từ phía nam của Chiêm Thành là hiện tượng bề nổi tạo nên nỗi nhức nhối của nhà nước Lý - Trần, thì còn mối lo khác nặng nề hơn ở dạng tiềm ẩn. Đó là kẻ thù xâm lược phương Bắc rất có ý thức liên kết hoặc sử dụng đất Chiêm Thành để tấn công Đại Việt.

Trong cuộc xâm lược năm 1076, giặc Tống đã “ước hẹn với các nước Chiêm Thành và Chân Lạp cùng sang lấn cướp”. Sang thế kỷ XIII, trong các lần xâm lược của Nguyên Mông, Chiêm Thành từng có lúc là mục tiêu của chúng nhằm biến nước này thành địa bàn tiến công Đại Việt từ phía nam. Trong cuộc xâm lăng lần thứ hai, giặc Nguyên đã đánh Chiêm Thành từ năm 1282, tạo nên một gọng kìm thứ hai khá nguy hiểm do Toa Đô cầm đầu tiến vào Đại Việt năm 1285.

Từ những dẫn liệu trên, ta lưu ý đến mối quan hệ tay ba: Trung Hoa - Đại Việt - Chiêm Thành. Trước hết, Chiêm Thành và Đại Việt đều là đối tượng chinh phục, buộc phải thần phục của Tống, Nguyên, Minh. Trong mối quan hệ tay ba đó, Đại Việt rơi vào thế hai đầu đều bị uy hiếp, tạo nên tình trạng biên cương bắc- nam không yên ổn.

Cho đến cuối thời Lý, sử chép năm lần người Chiêm Thành quấy rối, cướp phá Nghệ An vào các năm 1132, 1166, 1177, 1203, 1218. Trong các lần quấy rối trên, có lẽ vụ xảy ra vào năm 1166 đời Lý Anh Tông, khi sứ Chiêm đến Ô, Lý, dùng quân phong thủy vượt biển cướp bóc vùng ven biển dẫn đến việc hành binh của Tô Hiến Thành năm 1167. Về vụ này, Việt sử thông giám cương mục chép rõ: “Hiến Thành đem quân đến nước Chiêm, đưa thư cho chúa Chiêm, quở trách vế việc không giữ lễ phiên thần, lại bày tỏ sự lợi hại để chiêu dụ. Chúa Chiêm sợ sai sứ sang dâng châu báu và những sản vật địa phương để xin hòa. Nhà vua y cho, hạ chiếu bảo Hiến Thành đem quân về”4. Toàn thư chép thêm “Từ đấy Chiêm Thành giữ lễ phiên thần, dâng cống không thiếu”5.

Đến đây, hơn hai thế kỷ quan hệ đối ngoại với Chiêm Thành, nhà nước thời Lý, bằng biện pháp cứng rắn là chủ yếu, đã đẩy lùi được Chiêm Thành, buộc chúa Chiêm phải cắt đất, thần phục, cống nạp. Chính sách đối ngoại với phương Nam của nhà Lý được các vua Trần kế tục mạnh mẽ, có chăng khác biệt ở biện pháp linh hoạt hơn. Thời Trần, Chiêm Thành thực hiện “nghĩa vụ phiên thần” dưới dạng cống nạp có phần đều đặn hơn, tuy không định kỳ. Tính đến đầu thế kỷ XIV, sử chép chín lần Chiêm Thành cống nạp vào các năm 1228, 1241, 1262, 1266, 1267, 1269, 1270, 1282, 1301. Ý nghĩa kinh tế của việc cống nạp này không đáng kể, chủ yếu về mặt chính trị: khẳng định uy thế của Đại Việt. Điều này chưa có được ở thời Lý. Sử cũ có cho biết từ khi nhà Lý suy yếu, người Chiêm Thành thường đến cướp bóc ven biển. Vua Trần Thái Tông sai sứ sang dụ. Chiêm Thành tuy có sang cống nạp nhưng muốn đòi lại đất cũ và có ý “nhòm ngó” Đại Việt, dẫn đến việc Trần Thái Tông thân chinh vào năm 1252, bắt được vợ chúa Chiêm, nhiều thần thiếp và người Chiêm6. Tiếp theo lần tiến đánh này, với ba lần đánh thắng giặc Nguyên -Mông dưới triều Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, chúa Chiêm sợ uy, chịu thần phục Đại Việt cũng là điều dễ hiểu. Với uy thế đã có, năm 1301 thượng hoàng Trần Nhân Tông (đã nhường ngôi cho Trần Anh Tông từ năm 1293) tổ chức cuộc vãn du nhiều nơi, có sang Chiêm Thành. Quan hệ giao hảo này dẫn đến cuộc hôn nhân lịch sử giữa công chúa Huyền Trân và chúa Chiêm là Chế Mân vào năm 1306. Chế Mân dâng hai châu Ô, Lý làm sinh lễ. Một năm sau vào năm 1307, Trần Anh Tông đổi hai châu Ô, Lý thành châu Thuận, châu Hóa (miền đất nam Quảng Trị, Thừa Thiên và bắc Quảng Nam ngày nay).

Nhưng lịch sử có những bất ngờ khôn lường. Cùng năm 1307, Chế Mân chết. Vua Trần sai Trần Khắc Chung sang Chiêm Thành lập mưu đưa Huyền Trân và thế tử Đa Da về nước, thoát khỏi tục lệ khắc nghiệt của vương quốc Chiêm, không bị lên giàn thiêu chết theo chồng. Từ đây, mối quan hệ Việt - Chiêm trở nên căng thẳng, có thể nói kéo dài hầu như suốt thế kỷ XIV. Miền đất Ô, Lý trở thành vùng tranh chấp.

Năm 1311, chúa Chiêm kế vị là Chế Chí có hành động chống Đại Việt. Trần Anh Tông xuất binh tiến vào kinh đô Chà Bàn bắt Chế Chí đem về, phong em Chế Chí là Chế Đà A Bà Niêm là Á hầu, cho quyền giữ nước7.

Việc làm trên biểu thị quyết tâm của nhà Trần đẩy lùi Chiêm Thành, mở đầu một chặng mới trong quan hệ đối ngoại. Chúa Chiêm cũng tỏ ra không nhượng bộ. Thừa buổi suy yếu của vương triều Trần, đã nhiều lần Chiêm Thành tấn công Đại Việt vào các năm 1353, 1361, 1362, 1365, 1366 với mục đích đòi lại vùng đất hai châu Ô, Lý. Đặc biệt từ sau vụ Dương Nhật Lễ, Nghệ Tông lên cầm quyền (từ năm 1370) quan hệ Việt - Chiêm trở nên hết sức căng thẳng. Thời kỳ chiến tranh triền miên bắt đầu.

Vào thời gian này, như đã trình bày, về phương Bắc, Chu Nguyên Chương lên cầm quyền ở Trung Hoa, lập nên nhà Minh đã nhòm ngó, yêu sách Đại Việt. Trong khi đó, Chiêm Thành nhiều lần tấn công Đại Việt vào các năm 1371, 1376, 1377, 1380, 1382, 1383, 1389, 1390. Đã ba lần quân Chiêm vào tận Thăng Long (1371, 1377, 1378) khiến vua Trần phải lánh nạn, và một lần tiến đến kinh đô vào năm 1383. Hẳn rằng nhận thức được mối hiểm họa khó lường từ phía nam, các vua Trần đã tổ chức đánh trả quyết liệt. Trong cuộc chiến, nhiều lần người đứng đầu hai nước trực tiếp cầm quân và cũng đã có người bỏ mạng ở chiến trường. Đó là trường hợp vua Trần Duệ Tông bị phục binh Chiêm giết trong trận tiến công kinh đô Chà Bàn vào năm 1377 và chúa Chiêm là Chế Bồng Nga bị trúng tên chết ở Hải Triều (Nam Hà ngày nay) trong lần tấn công Đại Việt năm 1390.

Sau cái chết của Chế Bồng Nga, tình hình vương triều Vijaya không ổn định, nội bộ bất hòa, dẫn đến suy yếu. Trong khi đó, nhà nước buổi cuối Trần mà thực quyền trong tay Hồ Qúy Ly đã tích cực dùng biện pháp quyết liệt nhằm chấm dứt hiểm họa Chiêm Thành để rảnh tay chuẩn bị đối phó với họa xâm lăng của nhà Minh từ phía bắc. Cuộc hành quân của Hồ Hán Thương- con trai Hồ Qúy Ly và là vua thứ hai vương triều Hồ, vào năm 1402 buộc chúa Chiêm là Ba Đích phải dâng đất Chiêm Động, Cổ Lũy, đổi thành Thăng, Hoa, Tư Nghĩa, đưa biên giới phía nam của Đại Việt đến vùng Đức Phổ, Quảng Ngãi (bắc Nghĩa Bình ngày nay) đã chứng minh điều này.
_________________________________________
1, 3. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.I. tr. 211, 219; Việt sử thông giám cương mục. Sđd. t.III. tr. 11, 17.
2. Năm 999. Kinh đô Chiêm Thành chuyển về Chà Bàn (Vigaya - Bình Định).
4. Việt sử thông giám cương mục, Sđd, t.IV
5. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.I, tr. 346.
6. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.II. tr. 84.
7. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.II, tr. 96.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11364



« Trả lời #38 vào lúc: 28 Tháng Bảy, 2008, 09:55:01 PM »


IV. KẾT HỢP NGOẠI GIAO VỚI BIỆN PHÁP QUÂN SỰ NHẰM KẾT THÚC CHIẾN TRANH, BẢO VỆ BIÊN CƯƠNG

Công cuộc phục hưng đất nước thời Lý - Trần đặt ra cho những người cầm đầu Đại Việt một yêu cầu bức thiết: chung sống hòa bình với các lân bang. Thế nhưng có được hòa bình hay không, không chỉ tùy thuộc vào nguyện vọng của Đại Việt. Mặt khác, đối với một dân tộc kiên cường, từng nhiều phen chống ách đô hộ của ngoại bang và cuối cùng đã giành được độc lập, tự chủ sau hơn một ngàn năm bị mất nước, thì không phải là hòa bình trong danh dự mà là hòa bình với độc lập tự chủ và lãnh thồ toàn vẹn.

Như đã trình bày, từ khởi nguyên lịch sử đã đặt quốc gia Văn Lang - Âu Lạc rồi Đại Cồ Việt - Đại Việt vào một vị trí địa lý khá đặc biệt. Vùng châu thổ không mấy rộng lớn nhưng màu mỡ, đồng thời là tụ điểm giao lưu trong khu vực từ bốn phía bắc, nam, tây, đông, cả đường biển lẫn trên đất liền. Với vị trí địa lý đó, người Đại Việt thời Lý - Trần có điều kiện tiếp xúc, hấp thụ những tinh hoa của các nguồn văn hóa, văn minh của nhân loại. Đó là một thuận lợi lớn. Nhưng với vị trí địa lý đó, trong quá trình hình thành, phát triển hoặc suy vong của các quốc gia thời cổ trung đại theo quy luật “mạnh được yếu thua”, nước Đại Việt lại trở thành mục tiêu nhòm ngó, thôn tính của các nước láng giềng. Chính vì vậy mà nhà nước thời Lý - Trần đã buộc phải nhiều lần huy động cả nước cầm vũ khí, và quân dân Đại Việt trở thành thiện chiến. Tuy nhiên, bên cạnh việc tổ chức chiến tranh giữ nước khi có ngoại xâm, còn một vấn đề không kém quan trọng là bảo vệ vùng biên cương, ngăn chặn những hành vi “gặm nhấm” diễn ra trong thời bình, chủ yếu ở mặt bắc. Ở mặt nam, tây nam, tuy có thường xuyên bị Chiêm Thành, Chân Lạp, Lão Qua quấy rối, lấn cướp1, nhưng nhà nước Lý - Trần đã ra quân đánh dẹp và giành được thắng lợi. Trong khi đó ở mặt bắc, nhà nước Lý - Trần phải đương đầu với một quốc gia mạnh do các vương triều Tống, Nguyên, Minh cầm đầu.

Quan hệ đối ngoại với Trung Hoa, từ đầu thời Lý cho đến khi nổ ra cuộc xâm lăng của nhà Tống, qua các hình thức cầu phong, thăm viếng, cống nạp..., ngoài mục đích giao hảo, cùng tồn tại hòa bình, còn hàm chứa một mục tiêu sâu xa do lịch sử để lại. Đó là việc xác định chủ quyền của Đại Việt ở vùng đất biên cương còn chưa được hoạch định rõ ràng, do các thổ tù, châu mục bản địa quản giữ và nhà nước thời Lý chưa quản lý được chặt chẽ. Hơn nữa, cư dân ở đây lại là các tộc thiểu số cùng sinh sống trên địa bàn thuộc vùng lãnh thổ biên cương của hai quốc gia Đại Việt và Trung Hoa. Về cư dân này, nhà sử học Đào Duy Anh đã có nhận định chính xác: “Đặt ở hai phía biên giới Việt - Trung từ Cao Bằng đến Móng Cái, tuy đã thuộc vào bản đồ của hai nước, nhưng cư dân đều là dân tộc thiểu số - quan trọng nhất là người Tày và người Nùng (xưa là Choang) - một bên thì chịu sự ky mi2 của chính trị và văn hóa Trung Quốc, một bên thì chịu sự ky mi chính trị và ảnh hưởng văn hóa của Việt Nam”3. Nhìn nhận từ góc độ khác về vùng biên cương phía bắc, tác giả Nguyễn Thế Anh viết: “Hiển nhiên, các thủ lĩnh địa phương đó không thừa nhận những quy phạm và giá trị của chế độ quan liêu khổng giáo. Họ dễ mua chuộc và chia rẽ cũng như khó khuất phục và hợp nhất. Từ đó, họ tạo thành yếu tố rối động cho hai chính quyền Việt Nam và Trung Hoa, những hành động không hợp thời của họ (đột kích, xâm phạm biên giới) có thể là nguyên nhân xung đột (giữa hai nước)”4.

Trước tình hình phức tạp của vùng đất biên cương phía bắc như vậy, nhà nước Lý - Trần, về đối nội, đã kết hợp biện pháp mềm dẻo (trao quyền tự quản, gả công chúa cho thổ tù, châu mục - chủ yếu ở thời Lý) với biện pháp cứng rắn, hành quân đánh dẹp khi cần thiết để thực hiện quyền quản lý của nhà nước. Về phía đối ngoại đã tỏ thiện chí, phối hợp hành động, hoặc kịp thời dẹp yên để tránh những xung đột đáng tiếc nhằm giữ yên biên cương.

Điển hình cho vụ rắc rối biên cương vào thời này có lẽ là vụ Nùng Trí Cao xảy ra từ năm 1041, bắt đầu bằng việc giữ động Lôi Hỏa, Thảng Do (đều thuộc Cao Bằng ngày nay) lập nên nước Đại Lịch. Tất nhiên Nùng Trí Cao bị chính quyền nhà Lý (thời Lý Thái Tông) đánh dẹp. Trí Cao bị bắt, nhưng được vua Lý tha, lại cho thêm đất để tự quản. Phục tùng nhà nước thời Lý được bảy năm, đến năm 1048, Trí Cao lại giữ động Vật Ác (tây bắc Cao Bằng) chống lại triều đình. Bị nhà Lý đánh, Trí Cao phải hàng. Năm 1049 Trí Cao đem quân vào đất Tống, cướp phá Ung Châu. Năm 1050 Trí Cao giữ động Vật Dương lập nước Nam Thiên. Năm 1052, Trí Cao xưng Hoàng đế, đặt quốc hiệu Đại Nam, xin quy phụ nhà Tống. Không được chấp nhận, Trí Cao đánh đất Tống, bị nhà Tống đánh bại, bị giết ở Đại Lý (Vân Nam) vào năm 10535. Trong khi đánh dẹp Trí Cao, nhà Tống sai Lương Châu sang Đại Việt xin binh. Lý Thái Tông xuống chiếu cho Điện tiền chỉ huy sứ Vũ Nhĩ làm chiêu thảo sứ tiếp viện cho nhà Tống, nhưng Tống Địch Thanh can vua Tống, liên minh không thành6.

Tuy nhiên, biên cương phía bắc không phải lúc nào cũng giải quyết được thuận lợi dễ dàng, đặc biệt khi hành động xâm lược đã thành hiện thực và chiến tranh vệ quốc không tránh khỏi với Đại Việt. Nếu như trong ba lần chống giặc Nguyên - Mông thời Trần, quân dân Đại Việt đã quét sạch giặc, thu hồi toàn bộ đất đai, thì ở thời Lý, trong cuộc kháng chiến chống Tống, vấn đề phức tạp hơn nhiều. Sử sách cho biết tháng 1 - 1077 quân Tống do Quách Quỳ, Triệu Tiết cầm đầu, theo hai đường thủy, bộ tiến vào Đại Việt, hẹn với Chiêm Thành, Chân Lạp cùng sang xâm lấn. Âm mưu lôi kéo Chiêm Thành, Chân Lạp không thành; giặc Tống bị quân dân Đại Việt, dưới sự chỉ huy của Lý Thường Kiệt, chặn đứng và tiêu diệt nặng ở Như Nguyệt (sông Cầu). Sau khi đẩy giặc vào thế cùng, tiến thoái đều khó khăn, Lý Thường Kiệt chuyển sang kế đuổi giặc và thu hồi đất đai bằng biện pháp “dùng biện sĩ để bàn hòa. Không nhọc tướng tá, khỏi tốn máu mủ mà bảo an được tông miếu”7. Sứ giả của Lý Thường Kiệt là Kiều Văn Úng đến quân doanh Quách Quỳ hẹn với nhà Tống: “xin hạ chiếu rút đại binh về thì sẽ lập tức sai sứ sang tạ tội và triều cống”8 chấp nhận “chỗ nào quân Tống đã chiếm được là của đất Tống”9... Đề nghị bàn hòa của Lý Thường Kiệt đã mở lối thoát cho Quách Quỳ và Triệu Tiết. Tháng 3 - 1077, quân Tống rút về nước. Lần đầu tiên trong lịch sử, với Lý Thường Kiệt xuất hiện sự phối hợp “vừa đánh vừa đàm” để giành thắng lợi trong giữ nước. Tuy nhiên, sau khi giặc rút quân, các vùng đất Quảng Nguyên, Tư Lang, Tô Mậu, Môn, Quang Lang (thuộc Cao Bằng, Bắc Lạng Sơn ngày này) tạm thời do nhà Tống chiếm giữ lập tức được đặt ra với người cầm đầu nhà nước Đại Việt. Đồng thời với việc rút quân của giặc, quân ta chiếm lại các đất Quang Lang. Tư Lang10, Môn và phao tin sẽ chiếm lại Quảng Nguyên, Tô Mậu, dọn đường cho hoạt động đối ngoại giành lại phần lãnh thổ còn bị giặc chiếm giữ.
______________________________________
1. Lão Qua, tức Ai Lao đã nhiều lần quấy rối, lấn cướp vừng Tây Bắc, tây Thanh Hóa, Nghệ An ngày nay vào các năm 1297, 1301, 1329, 1334, 1346 đều bị Đại Việt đẩy lùi.
2. Ràng buộc lỏng lẻo.
3. Đào Duy Anh: Đất nước Việt Nam qua các đời, tr. 188.
4. Nguyễn Thế Anh: “La frontière Sino - Vietnamiene du xième au XVII ème Seiècle” trong Les frontiènes du Việt Nam, nhiều tác giả, Nxb L’ Harmatan, Paris, 1989, t.69.
5. Tham khảo Việt sử lược, tr. 84 - 92. Tống sử “Liệt truyện” Địch Thanh và phần “Giao Chỉ”, tài liệu đã dẫn. Đại Việt sử ký toàn thư, t.I, tr. 270, 273, 277, 279, 280.
6. Tham khảo Việt sử lược, Sđd, tr. 84 - 92; Tống sử “Liệt truyện” Địch Thanh và phần “Giao chỉ”. tài liệu đã dẫn, Đại Việt sử ký toàn thư, t.I, tr. 270, 273, 277, 279, 280.
7. “Bia chùa Linh Xứng” – Theo Hoàng Xuân Hãn: Lý Thường Kiệt, q.2, tr. 293.
8, 9. Theo Hoàng Xuân Hãn: Lý Thường Kiệt. q.II, tr. 293 - 294.
10. Theo Tống sử Thần Tông, chép “Năm Hy Ninh thứ 10 (1077) tháng 2 quần thần dâng biếu về việc lấy lại được những châu Quảng Nguyên và Tô Râu, đổi Quảng Nguyên thành Thuận Châu”.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11364



« Trả lời #39 vào lúc: 28 Tháng Bảy, 2008, 09:56:39 PM »


Liền sau khi giặc rút quân, vua Lý Nhân Tông cử Lý Kế Nguyên đến biên giới bàn việc dâng biểu đòi lại đất. Trong biểu có phạm húy nhà Tống, Triệu Tiết lúc này vẫn lưu giữ Quế Châu và sung chức An phủ sứ Quảng Tây không nhận, đề nghị chữa lại và tâu về triều với gợi ý: “Người Giao sai tụi Lý Kế Nguyên tới biên giới cùng với quân ta bàn việc. Tôi muốn bảo quân ta lấy ấn tín triều đình mà hiểu dụ Càn Đức, ra lệnh cho y trả lại những nhân khẩu đã cướp, rồi triều đình sẽ cấp đất cho”1. Vua Tống bằng lòng.

Đầu năm 1078, Vua Lý “sai Đào Tông Nguyên đem biếu nhà Tống năm con voi và xin trả lại các châu Quảng Nguyên, Tô Mậu, và những người các châu ấy bị bắt”2.

Để đổi lại. vua Tống đòi tha số người bị bắt giữ trước đây. Năm 1079 vua Lý trả cho nhà Tống 221 người về nước bằng đường biển3. Nhà Tống trả lại đất Thuận Châu (tức là đất Quảng Nguyên)4.

Để tiếp tục giành lại các vùng đất chưa đòi được, nhà Lý một mặt, cử sứ giả sang nhà Tống năm 1082 cống hai con voi, 100 chiếc sừng tê, ngà voi để xin đất5, mặt khác, năm 1083 lại cho quân tập trung dọc biên thùy gần châu Quy Hóa mà Tống sử chép “lấy cớ đi tầm nã Nùng Trí Cao”6. Năm 1084, vua Lý sai thị lang bộ binh Lê Văn Thịnh - người đỗ đầu khoa minh kinh bác học đầu tiên vào năm 1075 - tới trại Vĩnh Bình (Quảng Tây) cùng với Tả giang tuần kiểm ty nhà Tống là Thành Trạc hội bàn về việc cương giới7. Phái viên của nhà Tống chỉ trả lại đất đã chiếm giữ trong cuộc hành binh năm 1077. Những đất do tù trưởng dâng nộp từ trước không thuộc diện bàn trả. Lê Văn Thịnh đã biện luận: “Đất thì có chủ. Các viên coi giữ đất mang nộp và trốn đi thì đất ấy trở thành vật của chủ. Sự chủ giao cho mà tự lấy trộm đã không tha thứ được, mà trộm của hay tàng trữ thì pháp luật cũng không cho phép. Huống chi nay chúng lại mang đất trộm dâng để làm nhơ bẩn sử sách của nhà vua”8. Lê Văn Thịnh còn tỏ thái độ khiêm nhường, ông nói: “Kẻ bồi thần này không dám tranh giành”9. Tinh thần đó của phái bộ Đại Việt còn toát lên trong thư Văn Thịnh gửi cho Hùng Bản, một nho thần xuất thân tiến sĩ, coi giữ Quế Châu như sau: “Thành Trạc đã nói sẽ vạch địa giới ở phía nam 18 xứ sau này: Thương Điện, Hạ Lôi, Ôn Nhuận, Anh, Dao, Vật Dương, Vật Ác, Kế Thành, Cống, Lục, Tần, Nhân, Động, Cảnh, Tư, Kỳ, Kỷ, Huyện và nói những xứ ấy đất thuộc Trung Quốc. Bồi thần tiểu tử này chỉ biết nghe mệnh, không dám cãi lại. Nhưng những đất ấy, mà họ Nùng đã nộp đều thuộc Quảng Nguyên. Nay may gặp thánh triều ban bố hàng vạn chính lệnh khoan hồng, sao lại chuộng những miếng đất đấy sỏi đá, lam chướng này mà không cho lại nước tôi, để giúp kẻ ngoại thần”10. Qua thương nghị ở Vĩnh Bình, nhà Tống trả lại cho Đại Việt “6 huyện 3 động”11. Đời Lý Nhân Tông đã nhiều lần đòi đất Vật Dương, Vật Ác nhưng nhà Tống không nghe12.

Như vậy, trong buổi đầu phục hưng, nước Đại Việt đã phải đương đầu với đội quân xâm lược của nhà Tống. Nhà nước thời Lý đã kết hợp cả quân sự và ngoại giao để sớm chấm dứt chiến tranh, kiến tạo hòa bình. Tiếp theo sức mạnh vũ khí ở chiến trường là hoạt động đối ngoại linh hoạt, mềm dẻo để bảo toàn lãnh thổ biên cương. Tuy nhiên, vẫn còn phần đất mà các thổ tù đã nộp cho nhà Tống từ trước không đòi lại được.

Nhà Trần thay nhà Lý cầm quyền từ năm 1225. Với ngót hai thế kỷ hòa bình xây dựng (từ năm 1077 đến năm 1258), quốc gia Đại Việt đã đủ sức đánh tan ba cuộc xâm lược Nguyên Mông xảy ra trong vòng 30 năm trời (từ 1258 đến 1288). Lúc này, cho dù quân Nguyên Mông có mạnh nhưng thế và lực của Đại Việt đã vững vàng, do đó, không chỉ đuổi được giặc mà còn giữ vững được biên cương.

Sử có cho biết vào năm 1345 đời Trần Dụ Tông, nhà Nguyên đã sai sứ giả Vương Sĩ Thành sang hỏi về cột đồng. Vua Trần sai Phạm Sư Mạnh đi biện bạch rồi cũng yên chuyện13. Chắc hẳn nhà nước thời Trần không quên việc tương tự đã xảy ra hơn 70 năm trước (năm 1272): Hốt Tất Liệt sai người sang hỏi về cột đồng Mã Viện, vua Trần Nhân Tông sai viên ngoại lang Lê Kính Phu đi hội khám, trả lời: “dựng lâu năm đã bị mai một, không còn tung tích gì nữa”14. Bấy giờ nhà Nguyên còn đang ở thế mạnh, giờ đây nhà Nguyên đã bước vào giai đoạn suy yếu, do đó, biên cương của Đại Việt cũng yên ổn.


*
*   *


Hoạt động đối ngoại của bất cứ một nhà nước nào, xét cho cùng đều thông qua mối quan hệ với các quốc gia hữu quan nhằm thực hiện có hiệu quả công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước của mình. Để thực thi hoạt động đối ngoại có hiệu lực, trước hết tùy thuộc vào sự sáng suốt của nhà nước. Đó là “biết mình, biết người” là nhận thức đúng đắn các mối tương quan lực lượng, xác định lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài của dân tộc để đề ra được đường lối, chính sách đối ngoại đúng đắn đối với từng đối tượng trong từng trường hợp và hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Chính sách đó được thể hiện thông qua biện pháp cụ thể với những hình thức linh hoạt, phong phú và đa dạng.

Từ thế kỷ XI, nhiệm vụ lịch sử đặt ra cho các nhà nước thời Lý - Trần đã khá rõ ràng. Đó là giữ vững nền độc lập dân tộc, khôi phục, xây dựng đất nước, tạo thế đứng cho quốc gia phát triển thịnh vượng.

Vào các thế kỷ XI - XIV khu vực Động Nam Á lục địa đã trải qua nhiều biến động trước làn sóng thiên di của người Thái tràn về phía nam, trước sự tranh giành, phân chia lãnh thổ giữa các bộ tộc, các quốc gia đã và đang trên con đường xác lập. Trong bối cảnh đó, có quốc gia hưng thịnh, oanh liệt một thời để nhanh chóng rơi vào cảnh suy tàn như Chân Lạp - đế quốc Ăng Co, hoặc trải qua nhiều sóng gió để đi đến lập nước như Lạng Xạng (Lào), Sukhôthai (Thái) hoặc bị thôn tính, sáp nhập hoàn toàn như Đại Lý ... Trong khi đó quốc gia Đại Việt có lịch sử dựng nước lâu đời, từng trải qua thăng trầm, đang bước vào thời ky phục hưng trong thế bị kẹp vào giữa hai quốc gia mạnh yếu. rộng hẹp khác nhau, nhưng đều có lịch sử dựng nước từ một đến nhiều thiên niên kỷ trước và có quan hệ không mấy êm đẹp.

Trước tình thế bất lợi của nhà Trần, vào những thập kỷ cuối của thế kỷ XIV, Trần Nguyên Đán khuyên vua nhường để mong được yên15.

Trong mối quan hệ khu vực, láng giềng như trên, các nhà nước Lý - Trần không chỉ biết mình mà còn biết khá rõ về người, do đó tỏ ra sáng suốt, linh hoạt trong đối ngoại.

Lịch sử đã chứng minh trong suốt bốn thế kỷ, nhà nước Lý - Trần đã động viên nhân dân cầm vũ khí chiến đấu anh dũng đánh thắng mọi cuộc xâm lăng từ hai phía bắc, nam để đất nước Đại Việt tồn tại vững mạnh trong khu vực. Trên cơ sở sức mạnh kiên cường đó, nhà nước thời Lý - Trần có một chính sách đối ngoại khôn ngoan đối với từng đối tượng: mềm dẻo, nhún nhường có điều kiện và kiên quyết đối với Trung Hoa, vừa linh hoạt vừa cứng rắn với Chiêm Thành. Sự kết hợp giữa sức mạnh của vũ khí với chính sách đối ngoại đó đã bảo đảm thế chủ động của Đại Việt trong cuộc cạnh tranh mất còn theo quy luật “mạnh được yếu thua” giữa các quốc gia đang diễn ra trong khu vực trong thời đại phong kiến.

Bảo vệ được độc lập tự chủ, giữ vững biên cương phía bắc, đẩy lùi Chiêm Thành về phía nam là sức mạnh của Đại Việt thời Lý - Trần, trong đó, hoạt động đối ngoại góp phần không nhỏ. Thời đại đặt ra những vấn đề và được giải quyết theo những quy luật của thời đại đó, hoạt động đối ngoại của nhà nước Lý - Trần là sản phẩm lịch sử chịu sự chi phối và quy định của lịch sử.
____________________________________________
1. Dẫn theo Hoàng Xuân Hãn: Lý Thường Kiệt, tr. 314.
2. Đại Việt sử ký toàn thư. t.I, tr. 293
3, 4. Việt sử thông giám cương mục, t.III. tr. 95-96.
5. Tống sử, tài liệu đã dẫn - việc này sử cũ của ta không chép.
6. Theo Tống sử, tài liệu đã dẫn. Thực ra Nùng Trí Cao đã chết từ năm 1053, có lẽ tầm nã dư đảng của Nùng Trí Cao thì đúng hơn.
7. Theo Việt sử lược, Sđd, tr. 115; Đại Việt sử ký toàn thư. Sđd. t.I: tr. 294; Việt sử thông giám cương mục. t.III, tr. 97, vỉệc này, Tống sử phần “Giao Chi”, chép vào năm 1083.
8. Dẫn theo Hoàng Xuân Hãn: Lý Thường Kiệt, sđd, tr. 337.
9. Việt sử thông giám cương mục. t.III. tr. 97.
10. Dẫn theo Hoàng Xuân Hãn: Lý Thường Kiệt, Sđd, tr. 338.
11. Việt sử thông giám cương mục, theo Danh tiết lục của Trần Kỳ Đằng chép rõ 6 huyện Bảo Lạc và 6 động Túc Tang. Tống sử, tài liệu đã dẫn: chép “6 huyện Bắc Lạc và hai động Túc Tang”. Toàn thư chỉ chép “6 huyện 3 động”. Các tác giả Việt sử thông giám cương mục trong lời cẩn án, nghi ngờ địa danh Bảo Lạc và Túc Tang vì Tống chưa hề chiếm đất này và cho rằng có thể 6 huyện ở động này là đất Quang Lang, Tư Lang mà nhà Tống đã nhập vào Quảng Nguyên, đổi thành Thuận Châu. Ban đầu (năm 1079) nhà Tống trả phần Quảng Nguyên (một phần của Thuận Châu) đến đây, định biên giới thì trả lại hết, Sđd, t.III. tr. 97, 98.
12. Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.II, tr.129. Đào Duy Anh trong Đất nước Việt Nam qua các đời, đất Vật Ác do Tông Đản và con nộp cho Tống vào năm 1062, Tống đổi thành Thuận An. Vật Dương là đất Nùng Trí Hội đem nộp, Tống đổi là Quy Hóa, có thể là khoảng châu Quy Thuận (Quảng Tây) giáp tây bắc Cao Bằng ngày nay, tr.190.
13. Đại Việt sử ký toàn thư, t.II: tr.129.
14. Đại Việt sử ký toàn thư, t.II: tr.37.
15. Đại Việt sử ký toàn thư, t.II: tr.181.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM