Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Tư, 2020, 04:47:17 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Cách mạng tháng Tám 1945 - Toàn cảnh  (Đọc 162235 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9404


Lính của PTL


« Trả lời #60 vào lúc: 30 Tháng Tám, 2011, 05:29:29 PM »

Ban quân sự được thành lập để chỉ đạo các đơn vị tự vệ chiến đấu, các đội tuyên truyền xung phong. Đội Danh dự đảm nhận việc trừng trị phần tử phản động, mật thám. Đồng chí Nguyễn khang, ủy viên Thường vụ Xứ ủy Bắc Kỳ trực tiếp chỉ đạo phong trào Hà Nội và lãnh đạo đội Damnh dự. Ban cán sự Thành ủy đổi là Ban Thành ủy. Trung ương và Xứ ủy Bắc Kỳ cũng trực tiếp chỉ đạo các tổ chức ở Hà Nội như: Văn hóa cứu quốc, ban tài chính, ban mua sắm vũ khí, dược phẩm. Việc mở lớp huấn luyện quân sự chính trị tại ngoại thành các vùng Bắc Ninh, Hà Đông và tham dự lớp “quân chính kháng Nhật” ở chiến khu Việt Bắc cũng do Trung ương và Xứ ủy giúp đỡ.

Ở mỗi cấp, Trung ương, Xứ ủy, Thành ủy đều đều có ban công vận phụ trách công nhân đấu tranh. Tháng 4.1945, công nhân nhà máy điện, nhà máy nước, nhà máy in Viễn Đông (I.D.E.O). đòi trả lương ban ngày thử bảy, đòi bán gạo, chống đuổi thợ. Bọn chủ nhà in không thực hiện lời hứa, công nhân lại đình công 24 giờ. Tháng 5.1946, công nhân viên chức nhà thương Đồn Thủy (giành cho người Nhật), công nhân xưởng sửa chữa ô tô S.T.A.I, công nhân các cửa hiệu bào chế dược phẩm đấu tranh. Tại hiệu thuốc Satsanhơ, công nhân cùng với nhân viên người Pháp làm công lấy được nhiều thuốc gửi lên chiến khu Việt Bắc. Công nhân nhà máy bia, rượu, nước đá, ngành lục lộ cũng đình công đòi tăng lương.

Tháng 6.1945, công nhân các nơi như nhà máy điện, nước, sửa chữa cơ khí, quân khí, công nhân bốc vác bến phà đem nguyên liệu máy móc gửi cho Việt Minh. Tổ chức công nhân cứu quốc tăng lên hàng ngàn hội viên chính thức và hàng vạn quần chúng cảm tình.

Hoạt động của các độ tự vệ chiến đấu, đọi tuyên truyền xung phong trở nên tích cực khẩn trương trong các cuộc mít tinh ở Mễ trì, chợ Canh để giải thích về bản tuyên ngôn của Mặt trận Việt Minh, kêu gọi nhân dân ủng hộ và tham gia chống Nhật cứu nước.

Ngày 10 và 11.5, Đoàn thanh niên cứu quốc Hoàng Diệu đột nhập vào các trước Gia Long, Kỹ nghệ thực hành để diễn thuyết, tại Láng hôm đó cũng có cuộc mít tinh. Ngày 13.5, ở nhà máy rượu có diễn thuyết, rải truyền đơn, treo cờ. Các cuộc mít tinh chớp nhoáng nối nhau được tổ chức ở Bưởi, Ngã Tư Sở, Ngã Tư Vọng, chợ ngoại thành, trên các tàu điện, các rạp phim, phòng thông tin, nhà hát, cầu Vẹt tàu điện. Các đội viên tuyên truyền xung phong xuất hiện và rút đi một cách bất thần, bọn mật thám, sĩ quan Nhật không kịp ứng phó. Có khi cả cảnh sát Nhật, chính quyền bù nhìn cũng bị lực lượng Việt Minh áp đảo, vô hiệu hóa trên đường phố, trong công sở. Một số cuộc mít tinh của Đại Việt hoặc sĩ quan Nhật bị Việt Minh chuyển thành diễn đàn cách mạng.

Những tin thắng lợi của chiến tranh du kích ở khu Việt Bắc và ở các nơi liên tiếp được truyền về làm cho Hà Nội càng thêm sôi động khí thế cách mạng. Các làng Xuân Trạch, Ngọc Giang, Cổ Loa đấu tranh với hào lí đòi khất nợ, hoãn nợ thuế. Việc cứu đói được giải quyết bằng mọi cách, các làng Phú Gia, Thượng Cát lấy thóc gạo không nộp cho Nhật để nấu cháo cứu đói, vận động hào lí bán chức phó lí cho nhà giàu lấy mỗi chức 5.000 đồng và hai tạ gạo, lấy lại 2.000 đồng quỹ làng để dùng vào việc cứu đói.

Làng Võng La phá được kho thóc 100 tấn gạo của Nhật, làng Mọc phá kho thóc vừa có đội tự vệ tuyên truyền hỗ trợ vạch tội phát xít Nhật. Dọc đường từ Chèm đến Bưởi, đội tự vệ cứu quốc đánh chặn, tịch thu những xe bò chở thóc của Nhật. Các kho thóc của Nhật ở các phố Bắc Ninh, Lò Lợn, bến Phà Đen, dọc đường bờ sông thường xuyên bị đánh phá.

Chính quyền Nhật và tay sai ở nội, ngoại thành, các vùng nông thôn kế cận Hà Nội lâm vào tình thế bất lực. Ủy ban giải phóng bí mật, Ban Việt Minh đã hình thành ở các làng thuộc tổng Bưởi. Nhân dân ở đây mỗi khi có việc hành chính đều tìm đến ban Việt Minh mà giải quyết, bỏ qua những hương lí trong làng. Một số chánh tổng, lí trưởng tự tìm đến Việt Minh xin được hợp tác. Tại các làng ở Dịch Vọng, Cầu Giấy, chùa Sét, Bưởi, làng Tư, làng Tám, cán bộ cách mạng đi lại hoạt động công khai. Văn phòng khâm sai Bắc Kỳ thường xuyên có truyền đơn của Việt Minh trong ngăn kéo làm việc. Những tay sai nguy hiểm bị đội Danh dự trừng trị. Ngày 18.6, tên Nhu bị bắn ở ngã tư phố Giăccanh Lavơrăng (dốc phố Bà Triệu ngày nay), ngày 20.6, tên Cao Long bị bắn ở đầu làng Thụy Khê; tháng 7, tên Nguyễn Sinh bị bắn tại bến xe điện Cầu Mới (khu vực Ngã Tư Sở hiện nay). Những nhân viên cảnh sát, lính bảo an, nhân viên chính quyền bù nhìn thành phố có cảm tình với Việt Minh ngày tăng dần thêm. Họ được đưa vào tổ chức Cảnh sát cứu quốc bí mật, Quân nhân cứu quốc bí mật. Họ báo trước cho Việt Minh những cuộc vây ráp của Nhật, hoặc làm ngơ cho cán bộ, chiến sĩ Việt Minh khi hoạt động hoặc đi đường.

Qua cao trào chống Nhật, lực lượng chủ trương và lực lượng vũ trang đã đủ mạnh để tiến hành Tổng khởi nghĩa. Lực lượng Nhật đã suy yếu, lực lượng phản động thân Nhật đã phân tán. Tuy nhiên, nhận thức về số phận của Nhật thì còn rất khác nhau trong các tầng lớp xã hội, tổ chức, đảng phái và cả trong nội bộ Việt Minh. Có ý kiến cho là Nhật sẽ bị Đồng minh kéo vào đánh nên chỉ lo trừ Pháp thôi. Một vài ý kiến khác lại cho là đã có Nhật đánh Pháp rồi, ta chỉ việc đứng về phía Nhật, rồi tự khắc Đồng minh sẽ đuổi Nhật ra khỏi nước ta. Đó là tư tưởng xem nhẹ Nhật, ỷ lại vào quân Đồng minh.

Vì vậy, Trung ương, Xứ ủy và Thành ủy thấy cần phải triệt để cô lập Nhật để đánh Nhật, biểu dương sức mạnh của cách mạng hơn nữa, tận dụng triệt để lực lượng dân tộc dân chủ. Cụ thể là tranh thủ quần chúng trong các tổ chức hợp pháp như Hội truyền bá học quốc ngữ, Hội hướng đạo, Tổng hội sinh viên. Hình thức sinh hoạt công khai của các hội này được sử dụng để tuyên truyền cách mạng; kêu gọi sinh viên không treo cờ Nhật trong các ngày lễ hội; không ghi tên đào tạo công chức do Nhật mở; vận động các công chức gia nhập Việt Minh; vận động các nhà tư sản, đại địa chủ mua tín phiếu Việt Minh, tham gia tổ chức Việt Nam cứu quốc hội.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9404


Lính của PTL


« Trả lời #61 vào lúc: 30 Tháng Tám, 2011, 05:31:54 PM »

Đến tháng 8.1945, lực lượng Nhật bị cô lập cao độ. Trong tổ chức Đại Việt thân Nhật cũng đã có một số quần chúng tìm đến liên lạc với Việt Minh. Chiến tranh thế giới thứ hai đến hồi kết thúc. Quân Đồng minh chuẩn bị kéo vào Đông Dương đánh Nhật. Quân Nhật ở Hà Nội lần lượt rút khỏi các công sở, xí nghiệp về tập trung trong các doanh trại. Nội các Trần Trọng Kim tuyên bố từ chức rồi chuyển thành “Chính phủ lâm thời”, muốn tìm gặp đại diện Mặt trận Việt Minh.

Ngày 13.8, trong cuộc gặp gỡ với Việt Minh, đại diện Khâm sai Bắc Kỳ đề nghị Việt Minh tham gia “Chính phủ lâm thời”, không gây xung đột và chống lại Nhật, hãy để họ đứng ra nhận bàn giao quyền độc lập và vũ khí từ Nhật. “Chính phủ lâm thời” còn gửi “huấn lệnh” cho thanh niên, khuyên họ không nên hành động vội vã.

Một số đảng phái thân Nhật cũng muốn nắm lấy chính quyền, xin Nhật vũ khí để chống lại Việt Minh. Ngày 12.8, nhóm Phụng sự quốc gia biểu tình. Ngày 13.8, nhóm Đại Việt quốc xã biểu tình và họp bàn việc “củng cố quốc gia của Việt Nam”.

Ngay sau khi nghe tin quân Nhật đầu hàng Đồng minh không điều kiện, hội nghị toàn quốc của Đảng Cộng sản Đông Dương đã họp, quyết định phát lệnh Tổng khởi nghĩa trong toàn quốc, giành chính quyền trước khi quân Đồng minh tiến vào nước ta.

Lúc này, ở ngoại thành hầu hết bộ máy chính quyền cũ đã trở nên vô hiệu. Lí trưởng các làng Hoàng Mai, Quỳnh Lội, Tương Mai tự nguyện nộp triện cho Việt Minh và Ủy ban dân tộc giải phóng. Ở nội thành vẫn còn các công sở, cơ sở kinh tế của Nhật, của chính quyền bù nhìn với lực lượng bảo an, cảnh sát tăng cường canh gác. Nhật vẫn giúp đỡ tay sai thân Nhật. “Chính phủ lâm thời” còn ra tuyên cáo với Nhật: “muốn khôi phục tín nhiệm của Hoàng thượng, toàn thể nội các chúng tôi quyết không lùi một bước trước một sự khó khăn nào cả để làm tròn các sứ mệnh kiến thiết quốc gia, củng cố nền độc lập Tổ quốc. Chùng tôi vẫn hợp tác chặt chẽ với nhà đương cục Nhật Bản và chúng tôi không bao giờ quên rằng quân đội Nhật giải phóng cho ta ra ngoài cái ách áp chế của một ngoại quốc”(1).

Ngày 15.8, Nhật trao cho Kham sai Bắc Kỳ Đội bảo an binh, Ti liêm phóng Trung ương, Nha học chính, Trường đại học, Sở kiểm duyệt báo chí.

Khi lệnh Tổng khởi nghĩa của Trung ương về tới Hà Nội (15.8.1945), các cán bộ phụ trách cùng đội trưởng các đội tự vệ chiến đấu, tuyên truyền xung phong triệu tập. Tại chùa Hà (Dịch Vọng), một hội nghị bất thường được tiến hành để kiểm lại lực lượng và vạch ra kế hoạch hành động theo phương châm:

- Diễn thuyết để thu hút quần chúng.

- Tổ chức mít tinh đê thăm dò thái độ Nhật.

- Sẵn sàng đối phó bằng lực lượng vũ trang với Nhật.

Tối 15.8.1945, Đội tuyên truyền xung phong tổ chức diễn thuyết đồng thời ở ba rạp hát lớn trong thành phố: Tố Như, Quảng Lạc, Hiệp Thành. Tại đây quần chúng nhân dân được thông báo tin Nhật đã đầu hàng và kêu gọi sẵn sàng xuống đường đấu tranh giành chính quyền.

Ở mọi nơi, mọi lúc, các báo, đài đồng loạt truyền tin Nhật đầu hàng. quân Đồng minh sẽ vào Hà Nội giải giáp quân Nhật. Bọn Nhật ở Hà Nội tỏ ra hoang mang, chán nản rõ rệt.

Cùng lúc với hội nghị chùa Hà, cuộc họp của Xứ ủy Bắc Kỳ cũng được tiến hành tại làng Vạn Phúc (Hà Đông). Ban Xứ ủy quyết định khởi nghĩa từng phần trong 10 tỉnh đồng bằng, thành lập Ủy ban quân sự cách mạng ở Hà Nội.

Ngay sau đó, đồng chí Nguyễn Khang, ủy viên Thường vụ Xứ ủy Bắc Kỳ ra Hà Nội phụ trách cuộc họp tại số nhà 101 phố Gămbetta (nay là phố Trần Hưng Đạo) để bàn về việc giành chính quyền ở Hà Nội với tinh thần chủ động khởi nghĩa, không trông chờ vào quân Đồng minh. Quá trình khởi nghĩa được xác định là phải có sự phối hợp giữa lực lượng vũ trang và lực lượng chính trị, tránh xung đột đổ máu trong lúc quân Nhật đang hoang mang, ngụy quyền mất chỗ dựa. Qua nắm tình hình, Mặt trận Việt Minh ở Hà Nội được biết sẽ có một cuộc mít tinh lớn của Tổng hội viên chức vào ngày 17.8. Việt Minh quyết định sẽ chuyển cuộc mít tinh này thành cuộc mít tinh tuần hành của quần chúng, biểu dương lực lượng cách mạng.


(1) Những ngày khởi nghĩa ở Hà Nội, Nhà xuất bản Thanh niên, Hà Nội, 1974, tr. 51.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9404


Lính của PTL


« Trả lời #62 vào lúc: 30 Tháng Tám, 2011, 05:33:41 PM »

Ngày 16.8, đang lúc Tổng hội công chức họp ở Hội quán Trí Tri thì lực lượng cứu quốc và tuyên truyền xung phong tung truyền đơn và dương cờ đỏ búa liềm, cuộc họp phải giải tán.

Trong khi đó, Ủy ban khởi nghĩa họp mở rộng tại nhà bà Hai Nhã, xóm Duệ Tú, xã Dịch Vọng để kiểm điểm tình hình chuẩn bị khởi nghĩa và cụ thể hóa kế hoạch phá cuộc mít tinh của Tổng hội công chức ngày 17.8.

Qua cuộc tiếp xúc ngày 16.8.1945 với nội các Trần Trọng Kim, đại biểu Việt Minh biết rõ thêm: cả chính quyền Trần Trọng Kim và các tổ chức thân Nhật đều muốn được Nhật giao cho chính quyền, nhưng Nhật lại thỏa hiệp với Anh - Mĩ - Tưởng để được che chở để phòng bị Việt Minh tấn công.

Sáng ngày 17.8, “Hội đồng tư vấn Bắc Kỳ”(1) họp tại trụ sở hội Khai Trí tiến đức (Câu lạc bộ Thống Nhất) với mục đích chống lại cuộc khởi nghĩa do Việt Minh lãnh đạo.

Chiều ngay 17.8, cuộc mít tinh của Tổng hộ công chức bắt đầu tại Nhà hát lớn. Hàng vạn quần chúng ở nội và ngoại thành đến dự, có nhiều lính bảo an, cảnh sát đến giữ trật tự. Cuộc mít tinh vừa khai mạc thì cờ đỏ sao vàng xuất hiện. Đám đông quần chúng xôn xao “Cờ Việt Minh!”, “Cờ Việt Minh!”. Lính bảo an, cảnh sát ngơ ngác, cả hội trường Nhà hát sôi động. Các đội viên đội tự vệ dồn ban tổ chức mít tinh vào một góc rồi chiếm lấy diễn đàn. Lá cờ đỏ sao vàng lớn từ tầng hai Nhà hát Lớn buông xuống. Các đội viên tuyên truyền xung phong báo tin Nhật đầu hàng Đồng minh, tuyên bố đường lối cứu nước của Việt Minh, kêu gọi nhân dân thành phố ủng hộ Việt Minh, đả đảo chính quyền thân Nhật và tay sai, không khí hưởng ứng tràn ngập. Dưới sự hướng dẫn của đội tự vệ chiến đấu, nhân dân nhanh chóng chuyển thành hàng ngũ xuống đường tuần hành. Đoàn tuần hành từ Nhà hát diễu qua phố Tràng Tiền, ra bờ hồ Hoàn Kiếm. Các khẩu hiệu “Ủng hộ Việt Minh”, “Đả đảo bù nhìn”, “Việt Nam hoan toàn độc lập”… vang lên. Nhân dân hai bên đường nhập vào làm cuộc tuần hành càng thêm dông. Đến vườn hoa Chí Linh, đoàn tuần hành có thêm binh lính bảo an. Đoàn biểu tình qua các phố Hàng Đào, Hàng Ngang, chợ Đồng Xuân, Cửa Bắc, Phủ toàn quyền Nhật. Đến Cửa Nam, đoàn tách ra thành những tốp nhỏ đi về các ngã phố, các cửa ô và ra ngoại thành. Tại khu vực Hàng Ngang, Hàng Đào, Bờ Hồ, lính bảo an trong nhóm tuần hành có bắn một loạt súng trước khi giải tán. Đến 9, 10 giờ đêm, rải rác trong thành phố vẫn còn tiếng hô khẩu hiêu.

Cuộc tuần hành này cho thấy lực lượng cách mạng của quần chúng đã được khẳng định. Tin này nhanh chóng được truyền sang các địa phương khác.

Tối 17.8.1945, Khâm sai Bắc Kỳ Phan Kế toại xin từ chức. Ban lãnh đạo Thường vụ và Xứ ủy triệu tập cuộc họp bất thường tại làng Vạn Phúc (Hà Đông). Hội nghị nhận định: quân Nhật đã hoang mang đến cực điểm, lực lượng cách mạng đã ở thế áp đảo, nhân dân Hà Nội đang nóng lòng hành động. Xứ ủy quyết định phát động khởi nghĩa ở Hà Nội và Hà Đông.

Cùng thời gian này, cuộc họp mở rộng của Ủy ban quân sự cách mạng Hà Nội tiến hành, quyết định phải khởi nghĩa gấp bằng lực lượng đông đảo của quần chúng với các đội tự vệ chiến đấu, đội tuyên truyền xung phong dẫn đầu. Những vị trí cần phải chiếm trước là Phủ Khâm sai, Tòa thị chính, Trại bảo an binh, Ti liêm phóng, Kho bạc. Cuộc khởi nghĩa phải thực hiện ngay trong lúc khí thế cách mạng đang sục sôi, nếu chần chừ lực lượng phàn cách mạng sẽ đủ thời gian đối phó. Thời gian bắt đầu khởi nghĩa là 10 giờ (khi còi báo giờ thành phố vang lên). Theo kế hoạch, ngày 19.8, sẽ mở đầu là cuộc mít tinh lớn, sau phát triển thành cuộc tuần hành, giành chính quyền toàn thành phố. Nếu quân Nhật xung đột vũ trang thì đội tự vệ chiến đấu, đội vũ trang tuyên truyền phải phối hợp lực lượng giải phóng quân ở Chiến khu về để cùng đánh chúng.

Sáng sớm ngày 18.8.1945, Ủy ban quân sự cách mạng chuyển vào ngôi nhà số 101 phố Gămbetta (phố Trần Hưng Đạo hiện nay). Kế hoạch của ngày 19.8 được cụ thể thêm một nước nữa: đoàn biểu tình khi xuống đường sẽ tách làm hai khối. Khối đến chiếm Phủ Khâm sai, Kho bạc, Tòa Thị chính; khối chiếm Trại Bảo an binh, Ti liêm phóng. Các tổ chức cứu quốc, đơn vị tự vệ chiến đấu thì đóng chốt ở các phố quan trọng để bảo vệ đoàn biểu tình, chủ động đối phó khi cần thiết. Đồng chí Nguyễn Huy Khôi soạn lời kêu gọi, đồng chí Nguyễn Khang soạn khẩu hiệu và truyền đơn bằng cả tiếng Nhật và tiếng Việt.

Cô lập và vô hiệu hóa lực lượng Nhật được chú đặc biệt. Bản hiệu triệu của Ủy ban cách mạng kêu gọi quân Nhật không can thiệp vào cuộc khởi nghĩa, không được chống lại Việt Minh, quân Nhật sẽ được yên ổn về nước. Tinh thần ấy được in trong truyền đơn, tung vào trại lính Nhật.

Sự hỗ trợ cho Hà Nội của các vùng lân cận cũng rất cần thiết. Các huyện xung quanh Hà Nội (Thanh Trì, Phú Xuyên, Thường Tín, Hoài Đức, Đan Phượng, Gia Lâm) và các vùng giáp Hà Nội của tỉnh Bắc Ninh, Hà Đông, Sơn Tây phải giành được chính quyền trước ngày 19.8.

Từ ngày 18.8, không khí chuẩn bị khởi nghĩa ở Hà Nội bừng bừng trong thành phố. Những mô tô, xe đạp của các đội viên Đội tuyên truyền xung phong hoạt động rầm rộ. Nhân dân tự nguyện may cờ, đón tài liệu của Việt Minh, sắm sửa vũ khí thô sơ (gậy, giáo, mác, liềm…), phân phát truyền đơn, dán áp phích…

Sáng sớm ngày 19.8, cả Hà Nội rực màu cờ đỏ sao vàng. Nhiều nhà máy không hoạt động, chợ vắng người, hiệu buôn đóng cửa. Khắp nơi nơi vang lên những tiếng hô khẩu hiệu: “Đả đảo chính phủ bù nhìn”, “Thành lập Chính phủ Cộng hòa dân chủ Việt Nam”, “Anh em binh lính hãy mang súng gia nhập Việt Minh”.


(1) Do nội các Trần Trọng Kim lập ra.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9404


Lính của PTL


« Trả lời #63 vào lúc: 30 Tháng Tám, 2011, 05:35:53 PM »

Từ các hướng ngoại thành quần chúng mang theo súng ống, gậy gộc, mã tấu, dao phát bồ, câu liêm kéo vào trung tâm thành phố tập trung ở quảng trường Nhà hát Lớn. Lúc 11 giờ, cuộc mít tinh bắt đầu. Trước máy phát thanh, đồng chí Nguyễn Huy Khôi đọc lời hiệu triệu của Việt Minh.

“Hỡi quốc dân đồng bào.

Nhân danh Việt Minh, từ trên diễn đàn này chúng tôi gửi lời chào cứu quốc thân ái toàn thể đồng bào đã đến dự cuộc biểu tình ngày hôm nay một cách nhiệt liệt và đông đảo. Sự tham gia hăng hái ấy là một dấu hiệu rất lạc quan, chứng tỏ lòng nhiệt thành yêu nước của đồng bào mà đồng chí đã đặt vào Việt Minh. Đó là một khích lệ vô cùng cảm động trong giờ phút nghiêm trọng này, qua những cuộc khởi nghĩa võ trang bùng nổ khắp xứ, tất cả những chiến sĩ yêu nước càng thêm phấn khởi, không lúc nào lại tin tưởng ở sự thành công bằng lúc này. Nhưng trách nhiệm cũng vì thế mà nặng nề và chúng tôi xin nhận trách nhiệm nặng nề đó.

Trong lúc quân đội Nhật theo lệnh của Nhật hoàng, đã bãi chiến khắp các mặt trận, và bọn đế quốc Pháp nuôi cuồng vọng khôi phục chính quyền ở Đông Dương đang ngóc đầu lăm le hoạt động, chúng ta cần phải có một thái độ thật rõ rệt, thật đường hoàng, thật cương quyết.

Đối với quân Nhật, chúng ta sẽ rất ôn hòa, tránh tất cả những sự xô xát vô ích, bất lợi cho cả đôi bên, đồng thời chúng ta có thể dùng ngoại giao làm cho Nhật hiểu rõ tình thế, tán thành cách mạng Việt Minh và trao khí giới cho ta.

Đối với bọn Pháp có dã tâm khôi phục chủ quyền ở Đông Dương, chúng ta phải cương quyết đối phó và nếu cần phải quyết chiến, chống những cuộc xâm lăng của chúng cũng như của tất cả đế quốc khác.

Nhưng muốn được như thế điều cần thiết lúc này là chúng ta phải thành lập một chính phủ cộng hòa dân chủ Việt Minh trong đó dân chúng được tham dự chính quyền để tự định đoạt số phận của mình.

Chính phủ nhân dân cách mạng Việt Nam ấy sẽ ban bố những quyền tự do cho toàn thể quốc dân, sẽ cai thiện sinh hoạt vật chất và tinh thần cho dân chúng và đồng thời tổng động viên lực lượng toàn quốc để bảo vệ và củng cố độc lập chân chính của nước nhà. Chỉ có chính phủ nhân dân cách mạng mới đủ uy tín và năng lực để lãnh đạo dân tộc ta đến một tương lai rực rỡ, xứng đáng với quá khứ oanh liệt còn ghi trong quốc sử.

Hỡi quốc dân đồng bào!

Hãy tự tin, tự cường, hãy tỏ cho thế giới biết đến công sức dồi dào, đến ý chí chiến đấu cường liệt của dân tộc Việt Nam, luôn luôn vươn tới một cảnh đời phóng khoáng và độc lập. Hãy cùng chúng tôi hô to những khẩu hiệu này:

- Đánh đổ mọi lực lượng xâm phạm đến nền độc lập Việt Nam.

- Đả đảo bọn Pháp muốn khôi phục chủ quyền ở Đông Dương.

- Đánh đổ chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim.

- Thành lập chính phủ Cộng hòa dân chủ Việt Nam.

- Việt Nam hoàn toàn độc lập.

- Cách mạng giải phóng thành công muôn năm”(1).

Khi lời hiệu triệu vừa dứt, quần chúng hô vang những khẩu hiệu rồi chuyển thành cuộc biểu tình có vũ trang theo những hướng đã định.

Ở Phủ Khâm sai, từ hôm trước có hai đại đội lính bảo an đã được điều đến đây để canh gác và ứng phó với cách mạng. Dưới sự chỉ đạo của các đồng chí Nguyễn Khang, Lê Trọng Nghĩa, Nguyễn Duy Thân, đoàn biểu tình đập cửa, hô khẩu hiệu. Chỉ đến khi Nguyễn Xuân Chữ (đứng đầu “Ủy ban chính trị” của Khâm sai) bị bắt, binh lính ở đây mới chịu hạ vũ khí đầu hàng. Đồng chí Nguyễn Khang dùng điện thoại của Phủ Khâm Sai gọi hàng các tỉnh trưởng ở Hà Nam, Nam Định, Hải Phòng, Bắc Ninh.

Ở Trại Bảo an binh, bọn chỉ huy rất ngoan cố không chịu mở cửa trại cho đoàn biểu tình và trì hoãn việc đầu hàng, giao nộp vũ khí. Các chiến sĩ tự vệ phải dùng áp lực vũ trang chiếm kho vũ khí và các vị trí then chốt trong trại. Đồng chí Trần Đình Long và Lê Trọng Nghĩa gặp chỉ huy Nhật nói rõ lập trường của Việt Minh sẽ để cho quân Nhật được yên ổn. Đến 5 giờ chiều, sau khi nghe đại biểu Việt Minh thuyết phục chúng mới rút đi.

Ở Ti Liêm phóng Bắc Kỳ, những nhân viên mậ thám đã trốn đi gần hết, chỉ còn lại những nhân viên hành chính, căn cước, tùy phái. Khi đoàn biểu tình đến, viên chánh thanh tra chấp nhận bảo vệ hồ sơ để bàn giao cho cách mạng.

Ở Tòa thị chính, Thị trưởng Trần Văn Lai đã chờ sẵn để trao công sở cho Việt Minh.

Ở các nơi khác như Kho bạc, sở Bửu điện, sở Cảnh sát thành phố, nhà máy Avia, đoàn biểu tình không gặp trở ngại gì, nắm quyền kiểm soát một cách dễ dàng.

Đến chiều tối ngày 19.8, Việt Minh lần lượt giành chính quyền, làm chủ toàn thành phố. Các chụp đèn phòng không khắp nơi được gỡ bỏ. Tối 19.8, Ủy ban quân sự cách mạng họp bàn việc tổ chức chính quyền cách mạng cấp xứ, cấp thành. Các ủy ban nhân dân cách mạng cấp xã được thành lập; dưới sự điều hành của Ủy ban nhân dân cách mạng, các tổ chức Công nhân cứu quốc, Thanh niên cứu quốc giữ vai trò nòng cốt của cơ quan chính quyền các cấp. Họ được biên chế vào các cơ quan: Trại Bảo an binh, Ti Liêm phóng, Kho bạc, Bắc Bộ phủ, Thị chính, Sơ Cảnh sát thành phố. Các công việc trước mắt của các cơ quan này là canh gác, bảo vệ, trừ gian, trật tự, an ninh thành phố.

Ở các nhà máy lớn, tư sản Pháp vẫn được phép quản lí kinh doanh, điều hành sản xuất, sử dụng công nhân nhưng có sự hợp tác với Ủy ban cách mạng. Ủy ban cách mạng chịu trách nhiệm duy trì những hoạt động trong thành phố về điện, nước, giao thông, sản xuất, buôn bán được diễn ra bình thường.

Ngày 21.8.1945, đồng chí Trường Chinh về Hà Nội. Thường vụ Trung ương, Xứ ủy họp về việc tổ chức bộ máy chính quyền cách mạng ở cấp Trung ương, Xứ, Thành. Tối 21.8, Trung ương ban hành thiết quân luật, bãi bỏ một số thuế, cho phép buôn bán gạo vào thành phố, tịch thu hàng hóa lậu của Nhật. Các nhân sĩ có tinh thần dân tộc được bổ sung vào Ủy ban nhân dân cách mạng cấp xứ, cấp thành.

Ngày 25.8.1945, Hồ Chí Minh về đến Hà Nội.

Ngày 26.8.1945, một cuộc mít tinh biểu dương lực lượng cách mạng được tổ chức trước Đại biểu phái bộ Đồng minh. Hồ Chí Minh trình bày đường lối, chính sách ngoại giao, nội trị của chính quyền nhân dân cách mạng.

Ngày 31.8.1945, hai đội Giải phóng quân về đến Hà Nội.

Ngày 2.9.1945, Ủy ban Dân tộc giải phóng - Chính phủ Lâm thời ra mắt nhân dân Hà Nội và cả nước tại Quảng trường Ba Đình. Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.


(1) Cách mạng tháng Tám, Nhà xuất bản Sử học, Hà Nội, 1960, tr. 47, 48.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9404


Lính của PTL


« Trả lời #64 vào lúc: 02 Tháng Chín, 2011, 08:06:35 AM »

HƯNG YÊN(*)

Hưng Yên được thành lập vào năm Minh Mạng thứ 12 (1831), là vùng đất phù sa màu mỡ ở đồng bằng sông Hồng, nhưng cũng là nơi thường xảy ra vỡ đê, lụt lội, mất mùa, vv.

Dưới thời Nguyễn nhân dân Hưng Yên tích cực tham gia các cuộc khởi nghĩa Phan Bá Vành (1821-1827), Cao Bá Quát (1854), Lê Duy Cự (1854), Cai Vàng (1862). Sau khi Pháp hạ thành Hưng Yên (28.3.1883), khởi nghĩa Bãi Sậy bùng lên, dựng cờ “bình Tây phạt tội”, tấn công giặc Pháp và tay sai, đứng đầu là Hoàng Cao Khải, tổng đốc Hưng Yên lúc bấy giờ.

Những năm 20 của thế kỉ 20, phong trào để tang Phan Chu Trinh và đòi ân xá Phan Bội Châu cũng lan rộng ở nhiều nơi trong tỉnh. Trong khí thế của phong trào yêu nước lên mạnh, nhiều người Hưng Yên đã tham gia Việt Nam Quốc dân Đảng (1927-1929) và trở thành trụ cột của tổ chức này như Phó Đức Chính, Lê Thành Sơn, Tô Hiệu, Tô Chấn, vv. Bên cạnh đó, cơ sở của Việt Nam Cách mạng Thanh niên cũng được gây dựng ở Sài Thị và Đông Quang từ năm 1928. Các hoạt động tuyên truyền, giác ngộ của chi bộ Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở đây phát triển mạnh, dù bị giặc đàn áp và ráo riết truy lùng. Năm 1929, chi bộ Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Sài Thị phát triển thành chi bộ Đông Dương Cộng sản Đảng Sài Thị. Sau Hội nghị thành lập Đảng (2.1930), theo chỉ thị của Trung ương, chi bộ Đông Dương Cộng sản Đảng Sài Thị chuyển thành chi bộ Đảng Cộng sản Đông Dương Sài Thị. Chi bộ này cùng với các tổ chức nông hội đỏ tại địa phương giữ vai trò lãnh đạo phong trào đấu tranh của nhân dân Hưng Yên, đồng thời phát triển thêm các cơ sở Đảng tại địa phương.

Cuối năm 1930, đầu năm 1931, chi bộ Sài Thị và Ngọc Lập bị đàn áp nặng nề, có thời điểm phải tạm ngừng hoạt động và mất liên lạc với bên ngoài. Từ tháng 7.1935, các cơ sở cách mạng bắt đầu được phục hồi ở thôn Đào Xá (Ân Thi). Trong khoảng thời gian 1935-1936, nhiều tù chính trị từ Côn Đảo và Sơn La trở về kết hợp với các cán bộ tại địa phương tiếp tục khôi phục, đẩy mạnh hoạt động của các cơ sở cách mạng ở Ân Thị và phát triển rộng ra nhiều vùng khác trong tỉnh.

Tháng 2.1938, chi bộ ghép Liễu Khê - Liễu Ngạn - Ngu Nhuế được thành lập. Sau đó lãnh đạo thắng lợi hai cuộc đấu tranh của nhân dân chống phụ thu và lạm bổ.

Từ năm 1939, hưởng ứng lời kêu gọi của Trung ương Đảng, phong trào đấu tranh hợp pháp bằng mít tinh, biểu tình diễn ra rộng khắp ở Hưng Yên. Nhiều hội nông dân, “tự vệ đội” được thành lập, tạo thành các tổ chức tập hợp và đoàn kết quần chúng, gây dựng lực lượng cho cách mạng.

Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ (1939), quân Pháp và tay sai tăng cường đàn áp, khủng bố các cán bộ và các tổ chức cách mạng đi vào hoạt động bí mật, chuyển trọng tâm về vùng nông thôn. Cuối năm 1939, đầu năm 1940, các cơ sở cách mạng trong tỉnh đã bí mật mở rộng liên lạc với Xứ ủy Liên tỉnh B, với cơ sở cách mạng ở Thái Bình và Bắc Ninh.

Sau khởi nghĩa Bắc Sơn, khởi nghĩa Nam Kỳ, địch tập trung kiểm soát nghiêm ngặt. Tuy vậy, Hưng Yên vẫn là địa bàn hoạt động tương đối an toàn. Các cán bộ dựa vào những hội tập võ, hội bát âm, hội hát trống quân để nằm vùng, tuyên truyền, tiếp tục dây dựng cơ sở. Trong hơn 1 năm, các tổ chức phản đế (Thanh niên phản đế, Nông dân phản đế…), tổ chức Phụ nữ giải phóng lần lượt được xây dựng. Nhiều tổ chức thống nhất tới tổng, huyện (như Ban Chấp hành Thanh niên phản đế ở tổng Hoàng Tranh, Phù Cừ).

Đến cuối năm 1941, các thôn có tổ chức quần chúng đã tăng gấp 3 lần, từ 10 thôn lên 30 thôn, hội viên phản đế hơn 60 người. Tuy nhiên, phong trào vẫn phát triển chưa đều.

Cùng với việc vận động, tập hợp quần chúng vào những tổ chức thích hợp, các hình thức đấu tranh cũng được áp dụng để từng bước rèn luyện lực lượng, chủ yếu là rải truyền đơn, treo cờ, mít tinh ban đêm… Cờ búa liêm bắt đầu xuất hiện trong những dịp kỉ niệm lớn (ngày Quốc tế Lao động, ngày kỉ niệm Cách mạng tháng Mười Nga) tai những nơi tập trung đông người như chợ Gò, chợ Trương (Kim Động), chợ Thi (Ân Thi), chợ Đường Cái, ga Đình Dù (Văn Lâm), dọc đường 39… Cuộc mít tinh lớn được tổ chức vào ban ngày ở Đậu An tháng 5.1941 nhân kỉ niệm ngày Quốc tế Lao động có hơn 50 hội viên phản đế và đông đảo quần chúng nhân dân các huyện Phù Cừ, Ân Thi, Kim Động tham gia, thực sự là một cuộc biểu dương lực lượng, góp phần tích cực thúc đẩy phong trào đi lên, giác ngộ và gây dựng niềm tin cho quần chúng vào Đảng, vào cách mạng.

Trong phong trào đấu tranh những năm 1940-1941, nhiều phần tử ưu tú đã xuất hiện. Trên cơ sở đó, đầu năm 1941, ở Hưng Yên lần lượt ra đời các chi bộ Đảng ghép: Nhân Dục - thị xã hưng Yên, Quang Lâm - Ải Quang (Phù Cừ), Ninh Thôn - Trại Thôn (Ân Thi) - Ngải Dương (Văn Lâm), vv. Hưng Yên trở thành một trong những nơi có nhiều cơ sở nhất ở Liên tỉnh B.

Sự mở rộng của các chi bộ Đảng và phong trào ở Hưng Yên đòi hỏi phải có một tổ chức lãnh đạo thống nhất. Đầu tháng 71.941, dưới sự của đạo của Trung ương Đảng và Xứ ủy, hội nghị các chi bộ Đảng diễn ra ở Ninh Thôn (Ân Thi). Hội nghị đã quyết định các vấn đề chính:

- Chuyển Mặt trận phản đế thành Mặt trận Việt Minh, mở rộng cơ sở, gây dựng lại các cơ sở cũ, xây dựng cơ sở mới.

- Vận động quần chúng đấu tranh (đặc biệt là ủng hộ phong trào du kích Bắc Sơn).

- Tích cực chống khủng bố của địch, đặc biệt ở Kim Động.

- Cử ra Ban Tỉnh ủy lâm thời.

Hội nghị này là kết quả của quá trình bền bỉ vận động quần chúng nhân dân, đánh dấu việc chính thức thành lập Đảng bộ tỉnh Hưng Yên, thể hiện sự lớn mạnh của phong trào cách mạng địa phương. Sau hội nghị, các phong trào phản đế nhanh chóng chuyển thành phong trào cứu quốc, Mặt trận Việt Minh và lá cờ đỏ sao vàng được giới thiệu trong nhân dân. Các cơ sở Đảng mới tiếp tục mở ra ở Mễ Sở (Văn Giang), Văn Nhuệ (Ân Thi).

Cuối năm 1941, địch tăng cường khủng bố ở Ninh Bình, Hưng Yên, bắt giam nhiều cán bộ cách mạng. Một số nơi phong trào lắng xuống nhưng vẫn tiếp tục hoạt động bí mật. Ngày 17.8.1942, địch đưa tù chính trị ra xét xử. Buổi xét xử đã trở thành buổi “các bị cáo” lên án, vạch mặt tội ác của Pháp - Nhật, kêu gọi nhân dân đứng lên, đoàn kết đánh đuổi kẻ thù. Giặc phải vội vã đưa số tù chính trị này trở lại trai giam.

Trong đợt khủng bố kéo dài suốt hai năm 19412-1942, phong trào cách mạng gặp phải những tổn thất nặng nề. Việc liên lạc với bên ngoài bị gián đoạn. Trước tình hình đó, Trung ương đã cử đồng chí Hoàng Quốc Việt về Hưng Yên kiểm tra tình hình và trực tiếp chỉ đạo phong trào. Nhiều cán bộ từ các nơi khác cũng được tăng cường về Hưng Yên. Việc khôi phục lại phong trào đến cuối năm 1942, đầu năm 1943, đã thu được kết quả đáng kể.

Chính sách bóc lột của Pháp - Nhật ngày càng tàn ác. Liên đoàn thóc Nhật ở Bần (Mỹ Hòa), ở Thụy Lôi (Tiên Lữ) ra sức bóp nặn nhân dân. Nhật - Pháp còn tiến hành đàn áp, mị dân, hòng kéo nhân dân xa rời phong trào cách mạng. Tỉnh ủy Hưng Yên kịp thời ra chủ trương: lấy việc tố cáo mạnh mẽ tội ác của giặc, mở rộng ảnh hưởng của Việt Minh, hướng dẫn quần chúng đấu tranh… để khơi dậy tinh thần dân tộc, chú trọng công tác tư tưởng, phát triển cơ sở tại những nơi địch còn sơ hở như chùa chiền, chấp hành triệt để nguyên tắc bí mật. Tỉnh ủy cũng cụ thể hóa chủ trương này bằng cách phát thư kêu gọi nhân dân chống cướp bóc, chống nhổ ngô trồng đay và thầu dầu, hô hào nhân dân gia nhập Việt Minh đánh đuổi Pháp - Nhật. Do vậy, các cuộc đấu tranh đòi hoãn thuế, đòi bán thóc gạo theo giá hợp lí, chống trồng đay… đã diễn ra. Phong trào cũng lan vào các chùa chiền, có sự tham gia của các tăng ni, phật tử.


(*) Người viết: Phạm Thu Hà, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9404


Lính của PTL


« Trả lời #65 vào lúc: 02 Tháng Chín, 2011, 08:09:01 AM »

Tháng 3.1943, thực hiện nghị quyết của Trung ương yêu cầu các địa phương phải dặt mình trong tình thế khẩn cấp, Tỉnh ủy Hưng Yên đề ra các nhiệm vụ công tác cụ thể: đẩy mạnh hoạt động, ra báo “Bãi Sậy” lưu truyền rộng rãi trong tỉnh.

Tháng 10.1943, địch tăng cường đàn áp, lùng bắt Trần Đăng Ninh và Hoàng Quốc Việt nhưng phong trào vẫn tiếp tục lên cao.

Đầu năm 1944, Cứu ủy Liên tỉnh B cử đồng chí Bang về chỉ đạo phong trào ở Hưng Yên. Theo chủ trương chung, các chi bộ Đảng ở Hưng Yên phải đưa người vào tổ chức của địch để tranh thủ quần chúng, đặc biệt là thanh niên, hình thành khu an toàn Bãi Sậy, tạo chỗ đứng vững cho phong trào và tạo điều kiện cho cán bộ hoạt động bí mật. Việt Minh ở Bãi Sậy cài được người vào binh lính ở đồn Bần. Quần chúng nhân dân tham gia Việt Minh ngày càng đông đảo. Đến tháng 3.1945, hơn 100 thôn trong toàn tỉnh có cơ sở Việt Minh với hơn 2000 hội viên. Quần chúng được tổ chức lại và được hướng dẫn, rèn luyện phương pháp hoạt động. Từ đây, một lực lượng chính trị lớn đã hình thành.

Cùng với lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang (các đội tự vệ) cũng được tạo dựng, rèn luyện, góp phần tạo nên một phong trào quần chúng đấu tranh mạnh mẽ và rộng khắp.

Giữa năm 1945, tình hình ở Hưng Yên có những thay đổi. Tuần phủ Trần Hữu Vị khét tiếng gian ác được chuyển lên làm tỉnh trưởng. Một trung đội Nhật về đóng ở thị xã, lính khố xanh tăng lên hơn 100 tên. Tổ chức thanh niên phản động và Bảo an được xây dựng ở các địa phương để lôi kéo thanh niên. Quân Nhật và tay sai tăng cường đán áp nhân dân, gây nên làn sóng căm phẫn dữ dội. Điều đó càng đưa quần chúng tiến gần hơn với Việt Minh. Tỉnh ủy Hưng Yên lập tức phát động một cao trào kháng Nhật cứu nước trong toàn tỉnh.

Trận đánh đồn Bần (12.3.1945) đánh dấu thắng lợi đầu tiên của Việt Minh ở an toàn khu Bãi Sậy. Thắng lợi đó có ảnh hưởng lớn đến quần chúng và lan rộng ra các tỉnh xung quanh. Đồng chí Võ Nguyên Giáp gọi đây là “trận đánh du kích kiểu mẫu ở đồng bằng”. Từ đây, cao trào kháng Nhật lên cao, mang tính chất rộng rãi, liên tục, có sự liên kết chặt chẽ giữa các vùng. Việt Minh hô hào nhân dân không nộp thuế cho giặc, cảnh cáo bọn hào lí ở nhiều xã, thôn. Phong trào phá kho thóc cũng nổ ra, bắt đầu ở Giai Phạm (Yên Mỹ), Bần (Mỹ Hào), Đống Long (Kim Động). nhân dân còn chặn xe thóc trên đường 39, giành thuyền thóc trên sông Luộc. Việt Minh đồng thời lãnh đạo quần chúng vận động nhà giàu cho vay cứu đói, chia thóc cho dân. Hơn 600 tấn thóc đã được chia cho dân nghèo trong tháng 5 và tháng 6.1945. Trước khí thế mạnh mẽ của quần chúng, bọn tri huyện ở nhiều nơi phải nhượng bộ, lúng túng.

Từ phong trào chống thuế, phá kho thóc, Việt Minh tiếp tục tổ chức các cuộc mít tinh, biểu tình, diễn thuyết, vạch mặt bọn Nhật và tay sai ở Kim Động, Mỹ Hào, Văn Lâm. Cuộc mít tinh lớn nhất thu hút hàng ngàn người diễn ra ở Đậu An tháng 5.1945. Cùng thời gia này, lực lượng ở Bãi Sậy được thống nhất với lực lượng trong toàn tỉnh, thành lập Ủy ban Việt Minh tỉnh Tán Thuật, tạo nên một tổ chức lãnh đạo thống nhất phong trào chuẩn bị cho khởi nghĩa.

Tháng 6.1945, Việt Minh ở Văn Lâm phối hợp với Việt Minh ở huyện Thuận Thành (Bắc Ninh) tổ chức cướp súng ở Văn Lâm. Cùng lúc, các đội tự vệ tổ chức nhiều tổ phục kích quân Nhật trên đường chúng về gây áp lực thu thóc ở Ân Thi. Các đội trừ gian tiêu diệt tên Bá Nông cầm đầu bọn Đại Việt phản động chống phá cách mạng ở Bần, tiêu diệt Lý Phách ở Mỹ Hào, Cánh Quỳ ở Ân Thi. Ở nhiều xã thuộc Văn Lâm, Yên Mỹ, Văn Giang, lực lượng Việt Minh mạnh, chính quyền của giặc chỉ còn tồn tại trên danh nghĩa, các Ủy ban giải phóng dân tộc nhanh chóng được thành lập.

Từ tháng 7.1945, việc chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang được tiến hành khẩn trương. Tháng 8.1945, Việt Minh ở một số huyện đã chuẩn bị các trận đánh úp.

Tình hình quốc tế và trong nước biến chuyển nhanh chóng, cổ động nhân dân Hưng Yên tiến lên đấu tranh với một khí thế mạnh mẽ. Nhiều cơ sở Đảng và Việt Minh ở các huyện dù chưa có chỉ thị từ Trung ương đã dựa vào chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” ngày 12.3.1945 tổ chức nhân dân nổi dậy, tấn công vào các phủ huyện. Trong vòng 5 ngày từ 14 đến 18.8.1945, chính quyền địch ở nhiều huyện đã bị Việt Minh liên tiếp tiến công.

Ngày 14.8.1945, khởi nghĩa ở Phù Cừ.

Ngày 15.8.1945, khởi nghĩa ở Khoái Châu.

Ngày 16.8.1945, lực lượng cách mạng tấn công đồn Bần lần thứ 2.

Ngày 17.8.1945, khởi nghĩa ở Mỹ Hào, Văn Giang, Tiên Lữ.

Ngày 18.8.1945, Hưng Yên nhận được lệnh khởi nghĩa từ Trung ương. Hội nghị Tỉnh ủy được tiến hành cấp tốc ở Thổ Cốc (Yên Mỹ) ra quyết định:

- Những nơi đã đánh úp chính quyền thì tổ chức mít tinh quần chúng, giải tán chính quyền địch, thành lập chính quyền cách mạng lâm thời.

- Những nơi khác tiếp tục khởi nghĩa bằng biểu tình và vũ trang của quần chúng.

- Ngày 22.8.1945, tổ chức tổng biểu tình, huy động lực lượng tự vệ, hội viên cứu quốc và đông đảo quần chúng nhân dân về chiếm tỉnh lị.

Sau hội nghị Tỉnh ủy, Ủy ban giải phóng dân tộc huyện Phù Cừ thành lập, tạo nên niềm tin và cổ vũ nhân dân khắp các huyện trong tỉnh khởi nghĩa giành chính quyền.

Ngày 19.8.1945, giành chính quyền ở Yên Mỹ.

Ngày 20.8.1945, ở Kim Động, sau hội nghị gấp rút ở Tạ Xá Hạ của Việt Minh, lực lượng tự vệ, cứu quốc quân và quần chúng nhân dân chia làm hai mũi tiến vào huyện đường. Tri huyện Kim Động bỏ trốn. Lực lượng cách mạng đi khắp các ngả đường tuyên truyền chiến thắng.

Ngày 21.8.1945, mít tinh, biểu tình diễn ra ở huyện đường Văn Lâm, chính quyền địch ở Văn Lâm nhanh chóng suy sụp, chính quyền cách mạng của nhân dân được thành lập.

Ngày 22.8.1945, toàn tỉnh tiến hành tổng biểu tình, mít tinh giành chính quyền trong cả tỉnh. Việt Minh đọc lệnh khởi nghĩa và lời kêu gọi của Hồ Chí Minh, thông báo tin thắng lợi ở Hà Nội và nhiều tỉnh khác, phổ biến các chính sách của Việt Minh, kêu gọi nhân dân ủng hộ Việt Minh giành chính quyền, tuyên bố xóa bỏ chính quyền thực dân phong kiến, thành lập chính quyền cách mạng.

Đêm 22.8.1945, Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Hưng Yên được thành lập và ra mắt vào sáng ngày 23.8.1945 trong một cuộc mít tinh lớn với hàng vạn người tham gia tại thị xã Hưng Yên. Từ 22 đến 25.8.1945, chính quyền cách mạng ở các cơ sở đã cơ bản được xác lập.

*

Như vậy, từ 14 đến 22.8.1945, Cách mạng tháng Tám đã diễn ra mau chóng ở Hưng Yên từ khởi nghĩa từng phần tiến lên Tổng khởi nghĩa. Nhân dân Hưng Yên, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Mặt trận Việt Minh, tích cực chuẩn bị lực lượng, luyện tập và chủ động chớp thời cơ giành chính quyền. Cuộc khởi nghĩa diễn ra bằng đấu tranh chính trị của quần chúng là chủ yếu kết hợp với bạo lực vũ trang. Do vậy, lực lượng cách mạng giành được chính quyền từ tay kẻ địch ít đổ máu. Sự chỉ đạo kịp thời của Trung ương Đảng, Xứ ủy và sự sáng tạo, chủ động nắm bắt tình hình, phát động quần chúng khởi nghĩa của Đảng bộ địa phương là một trong những nhân tố quan trọng đưa đến thắng lợi cuối cùng.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9404


Lính của PTL


« Trả lời #66 vào lúc: 02 Tháng Chín, 2011, 08:11:31 AM »

HẢI DƯƠNG(*)

Dưới ách thống trị của đế quốc và phong kiến, nhân dân Hải Dương không ngừng đấu tranh để giành độc lập và quyền sống của mình. Từ khi thực dân Pháp xâm lược (1858) đến năm 1930, ở Hải Dương đã có nhiều cuộc đấu tranh chống lại bọn cướp nước và bán nước.

Ngay sau khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời (3.2.1930), hai chi bộ đầu tiên ở Hải Dương được thành lập: Chi bộ mỏ than Mạo Khê (do đồng chí Nguyễn Văn Cừ tổ chức) và chi bộ thôn Đọ Xá (Chí Linh, do đồng chí Trần Cung tổ chức). Từ đây, phong trào cách mạng Hải Dương dưới sự lãnh đạo trực tiếp của chính đảng vô sản, ngày càng có ảnh hưởng sâu rộng trong quần chúng.

Trong phong trào cách mạng 1930-1931, Hải Dương diễn ra các cuộc đấu tranh của công nhân và nông dân đòi quyền lợi, tiêu biểu là công nhân mỏ than Mạo Khê và nông dân Đọ Xá. Đồng thời hoạt động rải truyền đơn, treo cờ búa liềm hưởng ứng phong trào đấu tranh của Xô viết Nghệ - Tĩnh diễn ra sôi nổi. Năm 1931, thực dân Pháp tăng cường khủng bố nên phong trào tạm thời lắng xuống. Trong những năm 1932-1935, các cơ sở cách mạng tiếp tục được gây dựng, dưới sự chỉ đạo của đồng chí Nguyễn Lương Bằng.

Trong phong trào dân chủ 1936-1939, cách mạng Hải Dương tiếp tục hồi phục và phát triển mạnh. Các đoàn thể dân chủ được thành lập ở thị xã Ninh Giang, thị xã Hải Dương; ở các huyện Vĩnh Bảo, Nam Sách, Thanh Hà, Kim Thành, Cẩm Giàng. Sách báo công khai của Đảng, các đoan thể dân chủ như “Dân chúng”, “Đời nay”, “Tin tức”… được truyền bá rộng rãi, góp phần vào việc tuyên truyền, giáo dục quần chúng đấu tranh. Phong trào đấu tranh đòi quyền lợi của công nhân và nông dân diễn ra rầm rộ khắp tỉnh, tiêu biểu là công nhân nhà máy rượu, sở lục lộ Hải Dương, nhà máy nước Ninh Giang, mỏ than Mạo Khê; nông dân ở huyện Thanh Hà, Vĩnh Bảo… Phong trào dân chủ 1936-1939 đã mở đầu cho một thời kì phát triển mới của cách mạng ở Hải Dương.

Khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, Hải Dương cùng cả nước thực hiện chủ trương của Đảng chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, tiến hành cuộc vận động giải phóng dân tộc, chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Sau vụ khủng bố của địch cuối năm 1939, phong trào cách mạng lắng xuống. Đến năm 1940, hai chi bộ ở Tạ Xá (Nam Sách) và Hàm Ếch (Chí Linh) được thành lập và tích cực lãnh đạo quần chúng đấu tranh. Tháng 6.1940, Đảng bộ Hải Dương mở hội nghị ở Tạ Xá để nghe phổ biến nghị quyết VI của Trung ương, bàn kế hoạch mở rộng phong trào cách mạng trong tỉnh và thành lập Ban Tỉnh ủy. Hội nghị Tạ Xá đánh dấu một bước trưởng thành của Đảng bộ Hải Dương. Từ đây, việc xây dựng cơ sở Đảng càng được đẩy mạnh, Ban huyện ủy Nam Sách ra đời, trực tiếp lãnh đạo phong trào ở địa phương. Tiếp đó, chi bộ nhà máy nước thị xã Hải Dương và chi bộ Đồn Bối (Nam Sách) được thành lập.

Cùng với việc xây dựng Đảng, công tác củng cố, mở rộng mặt trận phản đế được coi trọng. Hầu hết quần chúng cách mạng đều được đưa vào các tổ chức phản đế, những nơi có cơ sở mạnh đã thành lập Mặt trận phản đế xã. Riêng các huyện Nam Sách, Kim Thành, Thanh Hà lập được Mặt trận phản đế huyện. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Mặt trận phản đế, đã thu hút được đông đảo quần chúng tham gia, đồng thời còn tranh thủ được cảm tình của một số hào lí, địa chủ.

Cuối năm 1940 đầu năm 1941, phong trào cách mạng ở Hải Dương tạm thời lắng xuống do sự khủng bố gắt gao của địch. Đảng bộ Hải Dương đã quyết định chuyển trọng tâm về hoạt động tại nông thôn, lấy nông thôn làm căn cứ, xây dựng Mặt trận phản đế, mở rộng cơ sở quần chúng, thành lập Ban Tỉnh ủy - cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng bộ Hải Dương, từng bước chuẩn bị mọi mặt cho cuộc khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền.

Phong trào cách mạng Hải Dương được nhen lên từ những năm 1942-1944; sau ngày Nhật đảo chính Pháp (9.3.1945), phong trào thực sự phát triển mạnh, các cơ sở cách mạng được hồi phục nhanh chóng. Đầu tháng 3.1945, đồng chí Nguyễn Kha được Xứ ủy Bắc Kỳ cử về cùng với các đồng chí cán bộ cốt cán của tỉnh họp bàn kế hoạch thống nhất các lực lượng cách mạng ở Hải Dương. Dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, ban Việt Minh tỉnh, phong trào cách mạng ở Hải Dương đã phát triển thành cao trào kháng Nhật cứu nước mạnh mẽ, rộng khắp. Giữa tháng 3.1945, khắp nơi trong tỉnh nổi dậy phá kho thóc, gạo của Nhật. Chỉ trong vòng một tháng, Hải Dương đã lấy được 1.507 tấn thóc chia cho nhân dân, cứu được hàng vạn người khỏi chết đói. Cùng với phong trào phá kho thóc, phong trào chống thuế cũng phát triển ở nhiều nơi như Tứ Kỳ, Vĩnh Bảo, Cẩm Giàng.

Đầu tháng 4.1945, đồng chí Trần Đức Thịnh, Xứ ủy viên Bắc Kỳ, được cử về trực tiếp lãnh đạo phong trào tỉnh Hải Dương. Hội nghị cán bộ cốt cán của tỉnh được triệu tập ở Đông Thôn (Thanh Miện), nghe truyền đạt chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, đồng thời đề ra nhiệm vụ trước mắt, cụ thể của địa phương là tiến tới xây dựng đội tự vệ, mua sắm vũ khí, thành lập căn cứ quân sự, để chờ thời cơ tiến lên khởi nghĩa giành chính quyền. Hội nghị chỉ định Ban Tỉnh ủy lâm thời, gồm 5 đồng chí: Nguyễn Kha, Vũ Duy Hiệu, Nguyễn Công Hòa, Trần Cung, Hải Thanh, do đồng chí Nguyễn Kha làm Bí thư.

Ngày 10.5.1945, tại chùa Bắc Mã (Đông Triều), 2 tiểu đội vũ trang đầu tiên của tỉnh được thành lập. Trong tháng 5.1945, lớp huấn luyện chính trị được mở tại chùa Bắc Mã để bồi dưỡng và đào tạo cán bộ, có 50 đại biểu đến dự.

Đến đầu tháng 7.1945, ở Hải Dương có hàng trăm Ủy ban giải phóng dân tộc được thành lập. Lúc này, ở nhiều nơi của Hải Dương đã có tình thế hai chính quyền song song tồn tại: chính quyền bù nhìn thân Nhật và Ủy ban giải phóng dân tộc (hoặc các tổ Việt Minh hoạt động bí mật hay bán công khai) điều hành mọi công việc trong thôn, xá. Ở chiến khu Đông Triều có gần 500 du kích tập trung, được trang bị đầy đủ vũ khí, thực sự trở thành chiến khu du kích vững chắc. Các độ tự vệ khác cũng tăng cường tấn công địch, như tự vệ Kim Thành, Phả Lại, Chí Linh… Cuối tháng 7.1945, phong trào cách mạng phát triển rầm rộ khắp các huyện phía hữu ngạn sông Thái Bình. Cơ sở Đảng và Việt Minh ở các huyện Tứ Kỳ, Thanh Miện, Ninh Giang, Bình Giang, Cẩm Giàng lãnh đạo nhân dân phá kho thóc, tấn công vào phủ huyện tước vũ khí, thu sổ sách, tài liệu của địch.


(*) Người viết: ThS. Nguyễn Thị Thế Bình, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9404


Lính của PTL


« Trả lời #67 vào lúc: 02 Tháng Chín, 2011, 08:12:35 AM »

Từ 13 đến 17.8.1945, Tỉnh ủy Hải Dương mở Hội nghị cán bộ ở Đông Thôn (Thanh Miện) bàn kế hoạch đẩy mạnh mọi hoạt động, đợi lệnh của Trung ương tiến lên Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Khi được tin Nhật đầu hàng Đồng minh, Tỉnh ủy Hải Dương quyết định phát động toàn dân Tổng khởi nghĩa. Hội nghị Tỉnh ủy kết thúc ngày 15.8.1945, cán bộ về ngay địa phương lãnh đạo khởi nghĩa. Không khí Tổng khởi nghĩa giành chính quyền sôi nổi khắp nơi trong tỉnh.

Ngày 17.8.1945, huyện Cẩm Giàng mở đầu khởi nghĩa giành chính quyền ở tỉnh Hải Dương. Quần chúng nhân dân từ các xã, đội ngũ chỉnh tề, mang theo cờ đỏ sao vàng và vũ khí tiến vào huyện đường, Bọn quản lại, binh lính hảng sợ đầu hàng, giao vũ khí, sổ sách cho cách mạng. Sau khi chiếm được huyện lị, quần chúng nhân dân tiến về giành chính quyền ở các xã.

Tại thị xã Hải Dương, 3 giờ chiều ngày 18.8.1945, lực lượng cách mạng đã biến cuộc mít tinh của chính quyền bù nhìn tổ chức nhằm ủng hộ chính phủ Trần Trọng Kim thành cuộc mít tinh ủng hộ Việt Minh. Dưới sự chỉ đạo của cán bộ Việt Minh, đoàn biểu tình diễu hành qua các đường phố, giương cao cờ đỏ sao vàng, hô vang các khẩu hiệu “Ủng hộ cách mạng”; “Ủng hộ Việt Minh”; “Đảo đảo chính phủ bù nhìn thân Nhật”. Trước khí thế của quần chúng các viên chức trong chính quyền thân Nhật nhanh chóng giao nộp các công sở. Nhưng trại Bảo an binh không chịu giao nộp vũ khí ngay, Mặt trận Việt Minh đã phát động quần chúng bên ngoài làm áp lực, kết hợp với binh lính bên trong đấu tranh, buộc chúng phải giao toàn bộ vũ khí cho cách mạng. Cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở tỉnh lị Hải Dương hoàn toàn thắng lợi.

Tin huyện Cẩm Giàng và tỉnh lị Hải Dương khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi lan đi nhanh chóng, khiến cho ngụy quyền hết sức hoang mang, dao động. các phủ, huyện nhân đà đó cũng kịp thời phát động quần chúng nổi dậy giành chính quyền: 19.8 - huyện Gia Lộc, Thanh Miện; 20.8 - huyện Tứ Kỳ, Vĩnh Bảo, Ninh Giang, Bình Giang; 21.8 - huyện Kim Môn; 22.8 - huyện Thanh Hà. Tiếp sau các phủ, huyện, cơ sở Việt Minh ở các thôn, xã cũng lần lượt tịch thu triện bạ của hào lí, tuyên bố xóa bỏ chính quyền cũ, thiết lập Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời.

Ngày 25.8.1945, đông đảo quần chúng nhân dân kéo về thị xã Hải Dương dự cuộc mít tinh ở sân Tòa sứ (trụ sở Tỉnh ủy ngày nay). Tại đây, Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời Tỉnh (do đồng chí Vũ Duy Hiệu làm Chủ tịch) đã ra mắt công chúng. Chính quyền cách mạng ở khắp các cơ sở trong tỉnh cũng được thành lập.

Như vậy, chỉ trong một thời gian ngắn (từ 17 đến 22.8.1945) dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ và Mặt trận Việt Minh tỉnh, nhân dân Hải Dương đã nhất tề vùng dậy khởi nghĩa giành chính quyền một cách nhanh chóng và triệt để.

*

Cuộc Cách mạng tháng Tám ở Hải Dương nằm trong diễn biến chung của Tổng khởi nghĩa trong cả nước, mang những nét chung, đồng thời có những đặc điểm riêng:

Về hình thái diễn biến, Cách mạng tháng Tám ở Hải Dương đi từ khởi nghĩa từng phần đến Tổng khởi nghĩa; khởi nghĩa bắt đầu từ nông thôn, đến thành thị và kết thúc ở nông thôn. Ngay từ sau ngày Nhật đảo chính Pháp, dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, Ban Việt Minh, nhân dân Hải Dương tăng cường thành lập các đội tự vệ chủ trương, xây dựng chiến khu Đông Triều, trang bị vũ khí, phát triển cơ sở Đảng và Việt Minh trong quần chúng, chờ thời cơ sẵn sàng khởi nghĩa. Ngay sau khi Nhật đầu hàng Đông minh, khởi nghĩa giành chính quyền ở huyện Cầm Giàng thắng lợi (17.8.1945), tạo đà cho thị xã Hải Dương giành chính quyền (18.8.1945). Khởi nghĩa thắng lợi ở tỉnh lị Hải Dương là nhân tố quan trọng thúc đẩy việc giành chính quyền ở các huyện lị, thôn xã còn lại một cách nhanh chóng, thuận lợi.

Trong quá trình chuẩn bị cho cách mạng, Hải Dương luôn quán triệt tinh thần khởi nghĩa vũ trang, nhưng khi tiến hành khởi nghĩa, do điều kiện thuận lợi, nên hầu hết các nơi trong tỉnh đều dùng bạo lực chính trị của quần chúng, có lực lượng bán vũ trang hỗ trợ làm hình thức khởi nghĩa giành chính quyền chỉ yếu. Một số nơi quân địch ngoan cố, nhưng Ủy ban cách mạng đã thực hiện sách lược mềm dẻo, tổ chức quần chúng đấu tranh, giành thắng lợi trọn vẹn và không đổ máu.

Tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở Hải Dương diễn ra sớm, nhanh chóng và triệt để vì điều kiện khách quan và chủ quan thuận lợi, kẻ thù hoang mang cực độ, sự chỉ đạo đúng đắn của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, ảnh hưởng của phong trào cách mạng sôi nổi trong cả nước; quần chúng nhân dân trong tỉnh sôi sục căm thù địch, đoàn kết trong Mặt trận Việt Minh và sẵn sàng chiến đấu hi sinh cho cách mạng, Đảng bộ Hải Dương có sự chuẩn bị lâu dài, chu đáo về mọi mặt, vận dụng sách lược tấn công kẻ địch khôn khéo, làm hàng ngũ của chúng phân hóa tan rã nhanh chóng, khi thời cơ đến đã kiên quyết phát động quần chúng nhân dân vùng lên khởi nghĩa giành chính quyền.

Cách mạng tháng Tám ở Hải Dương để lại nhiều bài học quý báu. Một là, phải nhận thức rõ vai trò cách mạng của nông dân, kiên trì giáo dục, giác ngộ họ đấu tranh, xây dựng nông thôn thành chỗ dựa vững chắc, là cơ sở để thực hiện khởi nghĩa từng phần ở nông thôn, tiến tới Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong toàn tỉnh. Hai là, phải chuẩn bị chu đáo mọi mặt, nắm đúng thời cơ, kiên quyết phát động toàn dân dũng cảm, kịp thời đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền. Ba là, phải tăng cường đoàn kết nhân dân toàn tỉnh trong một mặt trận thống nhất, triệt để lợi dụng mâu thuẫn của địch, tập trung mũi nhọn vào kẻ địch chủ yếu. Bốn là, tăng cường vai trò lãnh đạo của tổ chức Đảng các cấp trong tỉnh - nhân tố cơ bản để tạo nên thắng lợi của cách mạng.

Với truyền thống kiên cường, bất khuất của nhân dân, dưới sự lãnh đạo sáng suốt, nhạy bén của Đảng bộ và Mặt trận Việt Minh, Hải Dương là một trong những tỉnh đầu tiên giành được chính quyền trong Cách mạng tháng Tám 1945.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9404


Lính của PTL


« Trả lời #68 vào lúc: 02 Tháng Chín, 2011, 08:17:51 AM »

KIẾN AN(*)

Khi thực dân Pháp hoàn thành xâm lược Việt Nam, cũng như nhiều tỉnh khác ở Bắc Kỳ, Kiến An trở thành đất “bảo hộ” của chính quyền thực dân. Chính sách kinh tế, văn hóa phản động của chính quyền thực dân và tay sai làm xuất hiện hàng hoạt các cuộc đấu tranh của nhân dân trong tỉnh.

Những năm 20 và 30 của thế kỉ 20, ở nhiều huyện của Kiến An các tổ chức quần chúng như “Thanh niên”, “Hội gặt”, “Hội cấy”, “Hội tương tế”… được xây dựng khá rầm rộ, là cơ sở để hình thành các chi bộ cộng sản của Kiến An (ở Trung Hành, Cổ Am…).

Giai đoạn 1939-1943, phong trào cách mạng ở Kiến An gặp rất nhiều khó khăn do sự khủng bố liên tục của địch. Từ giữa năm 1943, việc xây dựng và chỉ đạo phong trào cách mạng ở Kiến An do Xứ ủy Bắc Kỳ trực tiếp điều hành. Hoạt động tích cực của các cán bộ Xứ ủy được điều về tăng cường cho Hải Phòng - Kiến An đã góp phần phục hội và phát triển phong trào cách mạng ở đây. Nhiều tổ chức cứu quốc ở vùng nông thôn Kiến An dần được gây dựng lại (Kiến Thụy, An Lão, An Dương).

Đến cuối năm 1944, ở tỉnh lị Kiến an cơ sở Việt Minh đã được xây dựng cả trong trại lính khố xanh. Tháng 11.1944, cuộc họp cán bộ để phối hợp hoạt động giữa Hải Phòng và Kiến An được tổ chức, từ đó phong trào Việt Minh ở Hải Phòng - Kiến An được thúc đẩy phát triển mạnh hơn.

Tháng 12.1944, Ban lãnh đạo Việt Minh tỉnh Kiến An đã tổ chức cuộc mít tinh với sự tham gia của hàng trăm hội viên. “Ban cán bộ Việt Minh tỉnh Kiến An đã công khai ra mắt, kêu gọi nhân dân ủng hộ phong trào du kích Cao - Bắc - Lạng, giới thiệu điều lệ, chương trình hành động của Mặt trận Việt Minh”(1).

Những chính sách phản động của phát xít Nhật sau đảo chính Pháp (9.3.1945) càng thôi thúc mọi tầng lớp nhân dân tích cực tham gia phong trào kháng Nhật cứu nước. Tại Kiến An, phong trào phá kho thóc để g nạn đói diễn ra mạnh mẽ. Nhân dân được sự hỗ trợ đắc lực của lực lượng tự vệ đã tiến hành phá hàng loạt kho thóc lớn của bọn địa chủ ở các huyện Kiến Thụy, Tiên Lãng, Thủy Nguyên, An Dương. Các đội tự vệ của huyện Thủy Nguyên, Tiên Lãng, An Lão còn chặn đánh cả các thuyền chở lương thực của Nhật trên sông Luộc, sông Lạch Tray, Kinh Thầy. Việc tổ chức các lực lượng vũ trang cũng được đẩy mạnh. Các huyện Kiến thụy, Thủy Nguyên, An Lão đều có từ 2 đên 3 trung đội tự vệ… Cuối tháng 4.1945, “Đội tuyên truyền võ trang” cua tỉnh được thành lập và đã có nhiều hoạt động sôi nổi thu hút được sự hưởng ứng của quần chúng. Đội tuyên truyền võ trang không chỉ tổ chức các buổi diễn thuyết công khai mà còn tiến hành các hoạt động trừng trị những tên Việt gian và tay sai ác ôn. Công tác vận động binh lính người Việt trong quân đoàn Nhật cũng được chú trọng. Được sự vận động của cơ sở cách mạng ở Kiến An, 20 binh lính trong trại Bảo an binh ở tỉnh lị Kiến An đã mang 62 súng cùng 500 viên đạn bí mật chuyển ra ngoài để đưa lên chiến khu Đông Triều(2).

Từ tháng 7.1945, phong trào cách mạng ở Kiến An phát triển hết sức mạnh mẽ. Ngày 12.7.1945, nhân dân nhiều xã của huyện Kiến Thụy phối hợp với tự vệ Tiên Lãng đã lật đổ chính quyền tay sai Nhật ở xã Kim Sơn và thiết lập chính quyền cách mạng, thành lập “Ủy ban dân tộc giải phóng” Kim Sơn. Nhật đem quân khủng bố phong trào cách mạng, nhân dân Kim Sơn dưới sự lãnh đạo của Ủy ban dân tộc giải phóng đã anh dũng chiến đấu đánh bại cuộc khủng bố của Nhật, giữ vững được chính quyền vừa giành được. Sau sự kiện Kim Sơn, hoạt động vũ trang của tự vệ các huyện (phục kích, đột nhập tước khí giới…) diễn ra thường xuyên hơn và đều thu được thắng lợi.

Việc Nhật tuyên bố đầu hàng Đông minh vô điều kiện (14.8.1945) đã đưa đến những bước nhảy vọt của cách mạng - tình thế cách mạng trực tiếp đã xuất hiện. Ở tỉnh lị Kiến An, quân Nhật hoảng sợ rút hết về Hải Phòng, chính quyền tay sai của Nhật tê liệt, tan rã, cơ hội “ngàn năm có một” để nhân dân Kiến An giành lấy chính quyền đã đến. Dù đang bị lụt lớn, lệnh Tổng khởi nghĩa của Trung ương đến chậm, nhưng căn cứ vào tinh thần chỉ thị ”Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, Tỉnh bộ Việt Minh Kiến An đã quyết định khởi nghĩa gianh chính quyền ở phủ Kiến Thụy trước.

Đêm 14 rạng sáng 15.8.1945, các hội viên Cứu quốc cùng đông đảo quần chúng cách mạng có lực lượng tự vệ các xã Kim Sơn, Lão Phong, Kính Trực, Đoàn Xá… làm xung kích đã tiến hành tước vũ khí và giành chính quyền ở phủ lị Kiến Thụy. Chiều 15.8.1945, Ủy ban cách mạng lâm thời phủ Kiến Thụy được thành lập.

Ngày 16.8.1945, quần chúng cách mạng và tự vệ Tiên Lãng phối hợp với tự vệ Kiến Thụy đã tiến hành giành chính quyền ở huyện lị. Ngày 19.8.1945, Ủy ban cách mạng lâm thời huyện Tiên Lãng đã ra mắt công chúng.

Ở An Lão, đêm 16 rạng ngày 17.8.1945, tự vệ Câu Trung đã tước vũ khí của lính bảo an, làm chủ huyện lị.

Ngày 21.8.1945, tự vệ cùng quần chúng ở An Dương đã xóa bỏ chính quyền tay sai, lập Ủy ban cách mạng lâm thời.

Ở Thủy Nguyên, ngày 22.8.1945, trong cuộc mít tinh lớn tại sân vận động Dực Liễn, Ủy ban cách mạng lâm thời cũng chính thức ra mắt trước nhân dân.

Thắng lợi dồn dập ở các huyện cùng với tin tức giành chính quyền ở thủ đô dội về càng làm cho không khí cách mạng ở tỉnh lị Kiến An thêm sôi sục. Tỉnh trưởng Kiến An tìm cách bắn tin ra ngoài xin gặp Việt Minh để “bàn giao” chính quyền.

Ngày 21.8.1945, Ban lãnh đạo Việt Minh huyện An Lão đã điều động lực lượng tự vệ chia thành 3 mũi tiến hành tước vũ khí tại trại Bảo an binh. Được tin Việt Minh huyện An Lão đánh chiếm tỉnh lị Kiến An, ngày 22.8.1945 Ban lãnh đạo khởi nghĩa tỉnh đã huy động lực lượng tự vệ huyện Kiến An, Tiên Lãng kéo lên tỉnh lị giành chính quyền, bắt tỉnh trưởng và tuyên bố xóa bỏ chính quyền tay sai. Chiều 22.8.1945, ta hoàn toàn làm chủ tỉnh lị Kiến An.

Chiều 24.8.1945, tại sân vận động trung tâm tỉnh lị, trước 5 vạn nhân dân, Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Kiến An đã ra mắt quần chúng.

Ngày 25.8.1945, ở những nơi khác trong tỉnh việc giành chính quyền cũng hoàn thành. Cách mạng tháng Tám ở Kiến An toàn thắng.

*

Cách mạng tháng Tám ở Kiến An từ khởi nghĩa từng phần đến tổng khởi nghĩa, thắng lợi ở các huyện lị tạo điều kiện cho khởi nghĩa ở tỉnh lị giành thắng lợi nhanh chóng; việc giành chính quyền ở tỉnh lị lại giúp cho thắng lợi của cách mạng ở các vùng còn lại.

Khởi nghĩa giành chính quyền ở Kiến An diễn ra khá sớm, hầu như không gặp sự kháng cự đáng kể nào của quân Nhật và tay sai, do đó hạn chế được tổn thất và đổ máu. Mặc dù chưa nhận được lệnh Tổng khởi nghĩa của Trung ương nhưng với tinh thần chủ động, tích cực và sự nhạy bén, sáng tạo, Tỉnh bộ Việt Minh đã kịp thời lãnh đạo nhân dân đứng lên giành chính quyền; ở nhiều huyện, khởi nghĩa giành thắng lợi từ khá sớm (15.8.1945).

Khởi nghĩa giành chính quyền ở Kiến An đã phát huy tới mức cao nhất lực lượng chính trị của quần chúng với lực lượng vũ trang địa phương, tạo nên sức mạnh tổng hợp đè bẹp ý chí phản kháng của kẻ địch. Trong khởi nghĩa ở Kiến An, lực lượng tự vệ các huyện và của tỉnh chính là đội quân nòng cốt, xung kích cho lực lượng chính trị của quần chúng nhân dân.

Thắng lợi của khởi nghĩa giành chính quyền ở Kiến An đã tạo điều kiện thuận lợi để khởi nghĩa giành chính quyền ở Hải Phòng diễn ra thuận lợi, nhanh chóng.


(*) Người viết: ThS. Trần Nam Trung, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
(1) Lịch sử Đảng bộ Hải Phòng, tập 1 (1930-1955), Nhà xuất bản Hải Phòng, tr. 184.
(2) Lịch sử Đảng bộ Hải Phòng, sđd, tr. 191.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9404


Lính của PTL


« Trả lời #69 vào lúc: 02 Tháng Chín, 2011, 08:22:06 AM »

HẢI PHÒNG(*)

Hải Phòng là vùng đất có lịch sử lâu đời, giàu truyền thống yêu nước. Năm 1888, Hải Phòng trở thành một “nhượng địa của thực dân Pháp” và dần hình thành một thành phố cảng, công nghiệp lớn của cả Đông Dương - do đó, phong trào công nhân cảng sớm hình thành và lớn mạnh.

Từ những năm 20 của thế kỉ 20, Hải Phòng là một “đầu cầu” quan trọng để thiết lập quan hệ giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới. Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập (3.2.1930), đến lúc Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, phong trào chống Pháp giành độc lập dân tộc liên tiếp nổ ra. Trong các phong trào cách mạng 1930-1931, 1936-1939, Hải Phòng đã có những đóng góp xứng đáng cho sự lớn mạnh của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền.

Chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra, thực hiện nghị quyết Trung ương 6, Ban cán sự khu ủy B(1) đã chuyển hướng hoạt động từ công khai, hợp pháp sang hình thức bí mật, bất hợp pháp, củng cố những cơ sở cách mạng đã bị địch phá vỡ, chắp nối những cơ sở còn lại, duy trì phong trào đấu tranh của công nhân và nhân dân lao động ở Hải Phòng và khu mỏ(2). Tuy nhiên, do sự khủng bố ác liệt của kẻ thù và sự lúng túng của đội ngũ cán bộ trước những biến chuyển mau lẹ của tình hình nên việc thực hiện chủ trương của Khu ỷ còn nhiều hạn chế. Ngày 1.12.1939, đồng chí Tô Hiệu, Bí thư Thành ủy Hải Phòng bị thực dân Pháp bắt. Từ đó đến năm 1942, cơ quan Thành ủy Hải Phòng liên tục bị địch phá, phải lập đi, lập lại nhiều lần (từ tháng 3.1940 đến tháng 4.1941, cơ quan lãnh đạo Đảng bộ Hải Phòng bị địch phá vỡ 5 lần).

Sau hội nghị Trung ương 8 (5.1941), việc xây dựng tổ chức Việt Minh, xây dựng căn cứ địa cách mạng… được xúc tiến mạnh mẽ ở nhiều địa phương. Ở Hải Phòng, phong trào cách mạng đang gặp rất nhiều khó khăn, làm cho việc triển khai nghị quyết này chậm và gặp nhiều trở ngại.

Từ giữa năm 1943, do cơ quan lãnh đạo của Đảng bộ chưa lập lại được nên Xứ ủy Bắc Kỳ trực tiếp xây dựng và chỉ đạo phong trào cách mạng ở Hải Phòng và Kiến An. Hoạt động tích cực của các cán bộ Xứ ủy được phái về công tác ở Hải Phòng đã góp phần đưa phong trào cách mạng ở đây dần khởi sắc và phát triển mạnh mẽ.

Các tổ chức cứu quốc của Mặt trận Việt Minh ở cả nội và ngoại thành được xây dựng lại, số lượng hội viên ngày càng đông thu hút không chỉ công nhân, nông dân mà cả thanh niên, học sinh, trí thức tham gia. Nhiều chi bộ cộng sản được khôi phục hoặc thành lập mới.

Đến cuối năm 1944, ở cả Hải Phòng và Kiến An có gần 1000 hội viên cứu quốc và hàng trăm đội viên tự vệ bí mật. Sự chuyển biến mạnh mẽ của phong trào cách mạng ở Hải Phòng đã tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân và các lực lượng cách mạng ở đây tiến tới cao trào kháng Nhật cứu nước và khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi mùa thu năm 1945

Sau cuộc đảo chính của Nhật (9.3.1945), tại Hải Phòng, Kiến An các đọi tự vệ phối hợp với quần chúng đã phá nhiều kho thóc của Nhật và bọn địa chủ ở khắp các xã, huyện. Ở Hải Phòng, công nhân, có lực lượng tự vệ hỗ trợ, đã phá kho gạo trung chuyển của Nhật và kho bột mì Laniên chia cho các gia đình bị đói. Chủ trương đúng đắn đó của Việt Minh đã đáp ứng kịp thời nguyện vọng bức thiết của nhân dân lao động và thổi bùng ngọn lửa cách mạng trong quần chúng.

Nhiều cán bộ thoát khỏi nhà tù đế quốc được Xứ ủy Bắc kỳ cử về tăng cường cho phong trào Hải Phòng - Kiến An. Tháng 4.1945, Hội nghị cán bộ Hải Phòng và Kiến An được triệu tập để phổ biến và triển khai chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” của Đảng. Hội nghị đã quyết định một số chủ trương cấp bách: “Phát động phong trào mua sắm vũ khí, phát triển, mở rộng các đội tự vệ cứu quốc. Chống Nhật bắt lính, thu thóc, thu thuế, mở rộng các hình thức đấu tranh, trừng trị những tên đầu sỏ tay sai cho Nhật”(3).

Để chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa giành chính quyền, việc xây dựng củng cố lực lượng vũ trang, bán vũ trang càng được đẩy mạnh. Các độ tự vệ bí mật trong công nhân, các đội tự vệ cứu quốc và du kích ở vùng nông thôn phát triển mạnh. Hoạt động của lực lượng tự vệ, vũ trang đã hỗ trợ và củng cố thêm cơ sở cách mạng, tăng thêm lòng tin và niềm phấn khởi của nhân dân, đồng thời làm cho bọn tay sai đế quốc - phát xít càng thêm hoảng loạn và không dám hung hăng chống phá cách mạng như trước.

Từ tháng 7.1945, phong trào cách mạng ở Hải Phòng - Kiến An phát triển mạnh, ảnh hưởng của Mặt trận Việt Minh lan rộng. Ngày 3.6.1945, chiến khu Đông Triều được thành lập đã cổ vũ và hỗ trợ cho phong trào cách mạng ở Hải Phòng phát triển thuận lợi, nhân dân một số địa phương của Hải phòng đã tích cực góp người, góp của ủng hộ chiến khu. Các hoạt động vận động, thuyết phúc binh lính người Việt trong quân đội ngụy được tăng cường. Công nhân xi măng đã thuyết phục được hai tiểu đội lính khố xanh đem toàn bộ vũ khí vào chiến khu. Công nhân Hải Phòng đã vận động lính thủy trên tàu chiến Pháp lấy hai súng đại liên cùng ba thủy thủ gia nhập chiến khu. Hầu hết các xí nghiệp, nhà máy ở Hải Phòng đã tổ chức Việt Minh. Các Hội truyền bá quốc ngữ, đoàn “Hướng đạo”, tổ chức thanh niên “Phan Anh” tích cực hoạt động mở rộng thành công cứu quốc trong công nhân, viên chức trí thức, thanh niên học sinh. “Hội quân nhân cứu quốc” cũng được thành lập ở trại bảo an binh, trại lính khố đỏ, trại thủy quân. Hoạt động của các đội viên tuyên truyền xung phong cũng được đẩy mạnh, nhiều cuộc mít tinh được tổ chức ở các khu vực ven thành phố như Lạc Viên, Thượng Lý, Đông Khê, Dư Hàng. Các “Ủy ban công xưởng” của công nhân được thành lập, tổ chức rèn dao găm, mã tấu, cung cấp cho tự vệ và quần chúng. Công nhân xưởng in Phong Châu (phố Cầu Đất) đã thuyết phục chủ nhân in truyền đơn và các loại tài liệu cho cách mạng. Tự vệ công nhân nhà ga Hải Phòng đã phối hợp với quần chúng các khu phố đập tan âm mưu đen tối của thực dân Pháp địch từ Hải Phòng lên phối hợp với tàn quân Pháp ở Côn Minh đang định nhảy dù xuống Miền Bắc nước ta.


(*) Người viết: ThS. Trần Nam Trung, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
(1) Gồm Hải Phòng, Hải Dương, Kiến An, Vùng mỏ.
(2) Lịch sử Đảng bộ Hải Phòng, tập 1 (1930-1955), Nhà xuất bản Hải Phòng, tr. 169.
(3) Lịch sử Đảng bộ Hải Phòng, tập 1 (1930-1955), Nhà xuất bản Hải Phòng, tr. 189.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM