Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Tám, 2020, 02:54:04 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Cách mạng tháng Tám 1945 - Toàn cảnh  (Đọc 165113 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9813


Lính của PTL


« Trả lời #160 vào lúc: 05 Tháng Mười, 2011, 08:27:36 am »

VẤN ĐỀ NẮM THỜI CƠ VÀ KIÊN QUYẾT HÀNH ĐỘNG
TRONG TỔNG KHỞI NGHĨA THÁNG TÁM 1945

KIỀU THẾ HƯNG(*)

Chủ nghĩa Mác - Lênin xem việc nắm vững thời cơ và kiên quyết hành động khi có thời cơ là “nghệ thuật lãnh đạo cách mạng” của Đảng của giai cấp vô sản. Đồng thời nó thể hiện rõ tính chất, phẩm chất, lòng trung thành, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, trình độ, tài nghệ của người cộng sản. Thật ra, ở bất cứ cuộc đấu tranh nào trong xã hội có giai cấp, vấn đề thời cơ là yếu tố quan trọng, luôn được chú trọng. Ba nhân tố trong học thuyết quân sự từ thời cổ đại đã nêu rõ: thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Nhận thức về ba nhân tố này khác nhau ở các thời kì lịch sử, nhưng có lẽ đều nhất trí xem thiên thời là yếu tố hàng đầu. Chủ nghĩa Mác - Lênin, xuất phát từ quan điểm về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử, khẳng định “nhân hòa” là nhân tố quan trọng nhất.

Thời cơ là nhân tố khách quan, xuất hiện khi tình thế cách mạng được hình thành, song nhận thức đúng thời cơ là yếu tố chủ quan. Trong mọi hành động của con người, khi nào thống nhất được điều kiện khánh quan với nhận thức chủ quan thì sẽ đạt được thành công. Dĩ nhiên, mục tiêu, tính chất chính yếu của hành động, tinh thần, thái độ của nhận thức thời cơ có ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả thu được.

Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, chúng ta cũng nhận thấy nhiều chiến thắng lẫy lừng trong công cuộc chống ngoại xâm, đều liên quan đến việc ông cha ta đã nắm bắt tài tình thời cơ và kiên quyết hành động để tận dụng thời cơ. Một dẫn chứng cụ thể là việc Quang Trung đại phá quân Thanh năm 1789. Thời cơ quyết chiến mà Quang Trung lựa chọn là vào dịp Tết Nguyên đán, khi quân Mãn Thanh chủ quan khinh địch, lo ăn chơi. Với cuộc hành quân thần tốc, quân Tây Sơn đã đánh nhanh, tiêu diệt địch vào lúc chúng bất ngờ và giành được thắng lợi huy hoàng.

Cách mạng tháng Tám 1945 là “sự lặp lại” lịch sử ở đỉnh cao với việc kế thừa và phát triển về nghệ thuật nắm thời cơ và kiên quyết hành động tận dụng thời cơ.

Có thể rút ra một số bài học, kinh nghiệm về vấn đề này như sau:

1. Dự đoán đúng thời cơ, Đảng và Hồ Chí Minh đã lãnh đạo nhân dân ta nắm thời cơ đấu tranh giành thắng lợi cách mạng.

Cuối năm 1939, khi Chiến tranh thế giới thứ hai nổi ra, Nguyễn Ái Quốc ở nước ngoài đã cho rằng cơ hội cho cách mạng Việt Nam sắp đi đến thắng lợi. Người đến miền nam Trung Quốc hoạt động để tìm cách về nước lãnh đạo cách mạng.

Ngày 20.6.1940, nước Pháp bại trận, đầu hàng, bị phát xít Đức chiếm đóng. Hồ Chí Minh chỉ rõ cơ hội giành độc lập cho đất nước sắp đến, nên cùng một số cán bộ khác nhanh chóng về nước hoạt động.

Tháng 5.1941, Hội nghị Trung ương lần thứ 8 của Đảng đã xác định hoàn chỉnh đường lối, phương pháp cách mạng Việt Nam. Đồng thời, Hội nghị chỉ rõ: “Cuộc cách mạng Đông Dương phải kết liễu bằng một cuộc khởi nghĩa vũ trang”; bời vì những điều kiện, cơ hội tiến hành Tổng khởi nghĩa giành độc lập, giành chính quyền sắp tới ở nước ta đã khá chín muồi. Điều này thể hiện ở những điểm cơ bản sau:

- Mặt trận Việt Minh phát triển thống nhất trên toàn quốc.

- Nhân dân Việt Nam không thể sống được nữa dưới ách thống trị của Pháp, Nhật, sẵn sàng đứng lên khởi nghĩa.

- Phe thống trị khủng hoảng đến cực điểm trên nhiều mặt kinh tế, chính trị, quân sự, mâu thuẫn ngày một sâu sắc và tất yếu sẽ lật đổ nhau.

- Điều kiện quốc tế thuận lợi: nhân dân Trung Quốc đánh thắng quân Nhật, cách mạng Pháp, Nhật sẽ nổ ra, Đồng minh và Liên Xô đại thắng. Đồng minh quân Anh - Mĩ - Tưởng sẽ vào Đông Dương.


(*) Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
« Sửa lần cuối: 05 Tháng Mười, 2011, 08:33:14 am gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9813


Lính của PTL


« Trả lời #161 vào lúc: 05 Tháng Mười, 2011, 08:32:54 am »

Những điều kiện khách quan này tác động đến cách mạng nước ta (nhiều thuận lợi song cũng có không ít khó khăn), nhưng muốn hành động khi cơ có hội, chúng ta phải “có một lực lượng toàn quốc đủ sức mạnh gây ra và củng cố cho cuộc khởi nghĩa”, phải chuẩn bị lực lượng đón thời cơ thuận tiện, phải tiến hành “khởi nghĩa từng phần”, giành chính quyền từng địa phương đi tới Tổng khởi nghĩa giành chính quyền toàn quốc”(1).

Vấn đề chủ động chuẩn bị lực lượng cách mạng cũng góp phần thúc đẩy thời cơ chín muồi để tiến tới Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Nhận thức vấn đề này, Đảng Cộng sản Đông Dương từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra đã chuẩn bị lực lượng, chuyển hướng chỉ đạo chiến lược. Nghị quyết đã xác định quan điểm, đường lối cụ thể, đúng đắn, phù hợp với tình hình mới để trực tiếp tổ chức, lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân tiến hành chuẩn bị đầy đủ mọi mặt cho Cách mạng tháng Tám, như xây dựng Đảng vững mạnh, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, xây dựng Mặt trận Việt Minh, mở rộng khối đại đoàn kết dân tộc, xây dựng lực lượng vũ trang, căn cứ địa cách mạng, khu giải phóng, tập dượt cho Đảng và nhân dân ta giành, giữ chính quyền cách mạng, xây dựng mở rộng quan hệ đoàn kết quốc tế…

Ngày 6.6.1941, trong Thư gửi đồng bào toàn quốc, Kính cáo đồng bào, Nguyễn Ái Quốc nêu rõ: phong trào cách mạng trước 1941 chưa thành công không phải vì đế quốc mạnh, nhưng “một là vì cơ hội chưa chín, hai là vì nhân dân ta chưa hợp lực đồng tâm”. Người kêu gọi “cơ hội giải phóng đã đến rồi”, muốn đánh Pháp, đuổi Nhật phải “toàn dân đoàn kết"(2).

Ngày 21.12.1941, Người lại viết bài Thế giới đại chiến và phận sự dân ta nêu rõ: “Chiến tranh thế giới nổ ra đem lại tổn thất đau khổ cho bao người, nhưng tạo ra cơ hội thuận lợi cho cách mạng giải phóng giành độc lập nước ta nổ ra thắng lợi. Nhân dân ta có nhiệm vụ đại đoàn kết toàn dân cứu nước”(3).

Tháng 7.1944, sau khi thoát khỏi nhà tù Tưởng Giới Thạch về Pác Bó, Hồ Chí Minh quyết định hoãn cuộc khởi nghĩa do Liên Tỉnh ủy Cao - Bắc - Lạng chủ trương. Người cho rằng, quyết định của Tỉnh ủy chỉ mới căn cứ vào tình hình một địa phương Cao - Bắc - Lạng, không tín đến tình hình cả nước, cơ hội chưa chín muồi. Nếu khởi nghĩa non, đế quốc có điều kiện đàn áp, khởi nghĩa sẽ thất bại.

Người chỉ rõ: thời kì cách mạng hòa bình đã qua nhưng thời kì Tổng khởi nghĩa vũ trang toàn dân chưa đến. Nếu chỉ đấu tranh chính trị thì không đưa được phong trào đi lên, nhưng khởi nghĩa vũ trang thì sẽ thất bại. Cần phải tìm hình thức đấu tranh thích hợp để đưa phong trào tiến lên. Đã đến lúc bước vào đấu tranh vũ trang. Tuy vậy, vẫn phải xem chính trị quan trọng hơn quân sự. Trong tình hình lúc bấy giờ, Người đề ra phương châm kết hợp đấu tranh chính trị và đấu tranh quân sự, việc phát triển lực lượng vũ trang phải dựa vào dân, vào phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng cách mạng làm cơ sở xây dựng lực lượng vũ trang, tiến hành đấu tranh vũ trang(4).

Quyết định trên đây của Hồ Chí Minh chẳng những bảo toàn được lực lượng cách mạng mà còn rút ra hiểu biết và bài học khởi nghĩa cho cán bộ, nhân dân ta về vấn đề thời cơ và lựa chọn thời cơ khởi nghĩa.

Tháng 10.1944, Người đã có Thư gửi đồng bào toàn quốc, thông báo về sự đồng tình giúp đỡ cách mạng Việt Nam của bốn trăm năm mươi triệu nhân dân Trung Quốc. Người chủ trương mở Đại hội Quốc dân, bầu ra một cơ cấu (chính quyền) để có đủ lực lượng, uy tín lãnh đạo việc cứu quốc, kiến quốc và ngoại gao với các nước. Cơ hội giải phóng đã đến, bởi vì: “Phe xâm lược gần đến ngày bị tiêu diệt. Các đồng minh quốc sắp tranh được sự thắng lợi. Cơ hội cho dân tộc ta giải phóng chỉ trong một năm, hoặc năm rưỡi nữa. Thời gian rất gấp ta mở “toàn quốc đại biểu đại hội” nhanh”(5).

Ngày 22.12.1944, theo chỉ thị của Hồ Chí Minh, đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân được thành lập, nhằm chính quy hóa dần lực lượng vũ trang cách mạng, tiến tới thành lập Quân giải phóng Việt Nam (5.1945)(6).

Ngày 9.3.1945, đúng như dự đoán của Đảng, mâu thuẫn giữa Nhật - Pháp đến mức tột cùng, nên Nhật lật đổ Pháp để độc chiếm Đông Dương. Tình thế thay đổi mau chóng tạo cơ hội thuận lợi cho cách mạng. Thường vụ Trung ương Đảng kịp thời ra chỉ thị lịch sử “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” (12.3.1945). Chỉ thị nêu rõ kẻ thù chính của cách mạng và nhân dân ta là Pháp - Nhật, nay chỉ còn lại phát xít Nhật nhưng thời cơ khởi nghĩa chưa chín muồi. Trong tình hình ấy, Đảng và Việt Minh phát động cao trào kháng Nhật cứu nước (tiền khởi nghĩa), khởi nghĩa từng phần, giành chính quyền từng địa phương, tiến lên Tổng khởi nghĩa giành chính quyền toàn quốc khi thời cơ chín muồi.


(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng - Toàn tập, tập 7 (1940-1945), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.129-132.
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 3, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 197-198.
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 3, sđd, tr. 208-219.
(4) Võ Nguyên Giáp: Từ nhân dân mà ra, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1969, tr.130-134.
(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 3, sđd, 505 - 506 và 507.
(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 3, sđd, 505 - 506 và 507.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9813


Lính của PTL


« Trả lời #162 vào lúc: 05 Tháng Mười, 2011, 08:36:23 am »

2. Nhận thức đúng thời cơ đã tới, phát động toàn dân nổi dậy tổng khởi nghĩa giành độc lập, giành chính quyền trong toàn quốc.

Đầu tháng 8.1945, nước ta bước vào ngưỡng cửa của một cuộc cách mạng. Tình hình thế giới và trong nước chuyển biến mau lẹ. Tình thế và thời cơ cách mạng xuất hiện.

Ngày 13.8.1945, phát xít Nhật tuyên bố đầu hàng Đồng minh, thời cơ khởi nghĩa giành chính quyền và độc lập có một không cho nước ta đã đến. Nhận định này xuất phát từ tình hình cụ thể:

“ - Nhật chính quốc đã bị Đồng minh và Liên Xô đánh bại. Giặc Nhật ở Đông Dương như rắn mất đầu, hoang mang, chia rẽ cực điểm. Chính quyền Việt gian - tay sai của Nhật hoang mang, lúng túng, tê liệt.

- Tầng lớp trung gian ngả theo cách mạng.

- Cao trào cách mạng của toàn dân luôn sục sôi. Cơ sở và tổ chức Việt Minh phát triển, lớn mạnh. Toàn dân và các lực lượng vũ trang cách mạng sẵn sàng nổi dậy khi có lệnh khởi nghĩa của Người và của Đảng.

- Đảng Cộng sản Đông Dương quyết tâm phát động Tổng khởi nghĩa toàn quốc”.

Trước tình hình khẩn cấp của cơ hội “ngàn năm có một”, không chần chừ, do dự, Đảng quyết tâm lãnh đạo nhân dân Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong toàn quốc. Quyết tâm ấy thể hiện ở khẳng định của Hồ Chí Minh: “lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hi sinh đến đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”(1).

Nắm vững thời cơ, từ ngày 13 đến ngày 15.8.1945, Hội nghị toàn quốc Đảng Cộng sản Đông Dương họp tại Tân Trào (Tuyên Quang) quyết định phát động và lãnh đạo toàn dân Tổng khởi nghĩa giành chính quyền từ tay phát xít Nhật và tay sai của chúng trước khi quân Đồng minh vào Đông Dương. Hội nghị thông qua những vấn đề quan trọng để lãnh đạo cuộc khởi nghĩa như mục tiêu, khẩu hiệu, nguyên tắc chỉ đạo cuộc khởi nghĩa, nhiệm vụ chủ yếu trước mắt và chính sách đối nội, đối ngoại của Đảng và chính quyền cách mạng sau khi khởi nghĩa thành công.

3. Rèn luyện khả năng nắm đúng thời cơ và tổ chức hành động, thể hiện trình độ nghệ thuật lãnh đạo, quyết tâm chiến đấu giành thắng lợi của Đảng, thu hút sự hưởng ứng của quần chúng.

Trong nghệ thuật lãnh đạo Tổng khởi nghĩa giành chính quyền, Đảng rất chiến sĩ trọng vấn đề thời cơ khởi nghĩa, làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu thế nào là thời cơ và vai trò quan trọng quyết định thắng lợi chắc chắn của thời cơ Tổng khởi nghĩa cách mạng. Đảng khẳng định cách mạng nổ ra phải có thời cơ thuận lợi, nhưng thời cơ cách mạng lại rất quý hiếm, đã ít xảy ra, lại xảy ra trong thời gian ngắn. Vì vậy việc tổ chức lãnh đạo của Đảng phải chuẩn bị kĩ lưỡng, toàn diện từ lâu, không làm cho ỷ lại, chờ đợi thời cơ mà phải ra sức hăng hái, kiên trì đấu tranh để góp phần tạo ra thời cơ cách mạng, làm cho thời cơ cách mạng xuất hiện và chín muồi để khởi nghĩa và khởi nghĩa thắng lợi toàn vẹn, chắc chắn, bảo toàn lực lượng cách mạng, tránh được tổn thất cho cách mạng và cho nhân dân.

Tính chính xác, khoa học của việc chọn đúng thời cơ đến để nổi dậy là điều quan trọng, quyết định thắng lợi. Đảng quyết định khởi nghĩa vào trung tuần tháng 8.1945 là chuẩn xác, đúng đắn và chắc chắn giành thắng lợi. Bởi vì, nếu khởi nghĩa toàn quốc trước ngày 9.3.1945 thì tuy có cơ hội thuận lợi, nhưng thời cơ vẫn chưa chín muồi. Sau khi hai kẻ thù, đế quốc phát xít Pháp - Nhật, quật đổ nhau, chỉ còn phát xít Nhật, nhưng Nhật vẫn còn mạnh, nền thống trị của Nhật, tay sai chưa khủng hoảng, hoang mang, chia rẽ đến cực điểm. Vì vậy, nếu khởi nghĩa Nhật vẫn có điều kiện đàn áp cách mạng, lực lượng trung gian chưa ngả theo cách mạng, toàn quốc mới đang chuẩn bị khởi nghĩa, cách mạng chưa thành cao trào trong toàn quốc… Tiến hành Tổng khởi nghĩa sẽ gặp rất nhiều khó khăn và thất bại.

Nếu sau ngày Nhật đầu hàng (14.8.1945) mà không phát động Tổng khởi nghĩa toàn quốc thì cơ hội tốt “ngàn năm có một” sẽ qua đi. Quân đội Đồng minh kéo vào nước ta, chúng giúp bọn Việt gian, phản cách mạng dựng ra chính phủ bù nhìn, tay sai, duy trì chế độ thực dân, đàn áp, chống phá cách mạng. Khi ta chưa lập ra được chính quyền toàn quốc thì không có cơ sở pháp lí đấu tranh chống lại âm mưu xâm lược của các nước đế quốc… Cách mạng sẽ bị đàn áp, thất bại.

Trong Tổng khởi nghĩa, Đảng không chỉ nắm được tình thế cách mạng, chọn đúng thời cơ đã chín muồi để quyết định Tổng khởi nghĩa mà còn có nghệ thuật tổ chức chỉ đạo Tổng khởi nghĩa, quyết định chính xác, hành động dũng cảm, mau lẹ, kịp thời và biết cách đánh địch, giành thắng lợi chắc chắn và ít đổ máu.

Mác cho rằng: khởi nghĩa phải có “thời cơ thuận lợi, chắc chắn”. Ổng chỉ rõ: “khởi nghĩa là một nghệ thuật, không được đùa với khởi nghĩa, phải liên tục tiến công địch, phòng ngự là con đường chết; phải giành thắng lợi ở một trận đầu, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”(2). Điều này đòi hỏi Đảng phải rèn luyện trong thực tiễn cách mạng.

Lênin cũng chỉ ra: “khởi nghĩa là một nhiệm vụ đòi hỏi phải có nghệ thuật chọn thời cơ để phát động khởi nghĩa và một tinh thần anh dũng gấp bội”(3). Do đó, “thà hi sinh đến người cuối cùng chứ quyết không để địch chạy thoát” và “nắm lấy chính quyền là sự nghiệp của khởi nghĩa”(4). Đây là biểu hiện quyết tâm và tài nghệ, sự sáng tạo trong lãnh đạo.

Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, làm phong phú thêm lí luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về khởi nghĩa giành chính quyền trong cách mạng, như vấn đề chuẩn bị lực lượng tiến hành khởi nghĩa từng phần, giành chính quyền từng địa phương, tiến tới Tổng khởi nghĩa giành chính quyền toàn quốc khi thời cơ chín muồi; tập dượt cho Đảng và nhân dân giành, giữ chính quyền khi chưa Tổng giành được chính quyền toàn quốc; trong khởi nghĩa giành chính quyền, sử dụng bạo lực cách mạng của quần chúng, kết hợp hai lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang, hai hình thức đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang; sử dụng sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân, của sự thống nhất lực lượng toàn dân nổi dậy để giành thắng lợi; phối hợp chặt chẽ giữa các vùng, các địa phương trong khởi nghĩa giành chính quyền.

Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng tháng Tám đã để lại những bài học khởi nghĩa cho công cuộc đấu tranh cách mạng của Đảng và nhân dân ta ở những giai đoạn cách mạng sau. Thắng lợi trong kháng chiến chống Pháp, đặc biệt trong mùa xuân 1975, chứng tỏ sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng trong việc nắm thời cơ và quyết tâm hành động.

Trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên cả nước, ngày nay, nhân dân ta có những vận hội, nhiều thuận lợi cơ bản, nhưng cũng phải đương đầu với không ít khó khăn, gặp vô vàn nguy cơ và thử thách to lớn, ảnh hưởng không nhỏ đến sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Kế thừa và phát huy những bài học kinh nghiệm trong đấu tranh giải phóng dân tộc, trong Cách mạng tháng Tám 1945, trong kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ về việc nắm bắt thời cơ, kiên quyết hành động để đạt mục tiêu chiến lược, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta hòa nhập vào thế giới và khu vực, tranh thủ những thuận lợi, thời cơ, khắc phục những khó khăn, vượt qua các nguy cơ để tiếp tục đi theo con đường đã khẳng định, đã giành nhiêu thắng lợi mà không chệch hướng xã hội chủ nghĩa.

Bài học về nắm thời cơ và kiên quyết hành động trong Cách mạng tháng Tám còn “nóng hổi” trong cuộc cuộc xây dựng đất nước ngày nay.


(1) Võ Nguyên Giáp: Từ nhân dân mà ra, sđd, tr. 130 - 134.
(2) Mác - Ăngghen: Tuyển tập, tập II, sđd, tr. 356-357.
(3) Lênin - Mác - Ăngghen: Chủ nghĩa Mác, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, tr. 439 - 446.
(4) Lênin: Toàn tập, quyển 26. M. tr.204.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9813


Lính của PTL


« Trả lời #163 vào lúc: 05 Tháng Mười, 2011, 08:43:32 am »

LỰC LƯỢNG VŨ TRANG
TRONG CÁCH MẠNG THÁNG TÁM

NGUYỄN MINH ĐỨC(*)

Trong cuộc đấu tranh lật đổ chế độ tư bản chủ nghĩa, chế độ thực dân để giải phóng nhân dân bị áp bức, giành độc lập, xây dựng xã hội văn minh, tiến bộ, nhất định phải dùng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng. Bạo lực cách mạng mà Đảng của giai cấp vô sản lãnh đạo nhân dân đấu tranh bao gồm hai lực lượng: lực lượng chính trị quần chúng và lực lượng vũ trang nhân dân.

Xây dựng lực lượng chính trị quần chúng là điều quan trọng mà Đảng rất quan tâm, vì nó tạo nên một sức mạnh to lớn để giành chiến thắng quyết định. Song, kẻ thù bao giờ cũng dùng vũ khí để đàn áp mọi cuộc đấu tranh cách mạng, chúng chỉ chịu khuất phục khi bị đánh bại. Vì vậy, cần phải có lực lượng vũ trang nhân dân để chiến thắng, khi quân địch buộc chúng ta phải cầm súng. Lực lượng chính trị quần chúng là cơ sở để xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, như Hồ Chí Minh khẳng định: “Muốn có đội quân vũ trang, phải có đội quân tuyên truyền vận động, đội quân chính trị trước đã, nên phải làm ngay, sao cho đội quân chính trị ngày càng đông. Phải có quần chúng giác ngộ chính trị tự nguyện vác súng thì mới thắng được”(*).

Tiếp thụ truyền thống kinh nghiệm của tổ tiên ta trong việc xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân bên cạnh quân đội của triều đình, phát triển và nâng cao trên cơ sở lí luận chủ nghĩa Mác - Lênin về quân sự và những hoạt động thực tiễn của bản thân, Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chú trọng việc xây dựng các loại lực lượng vũ trang trên cơ sở xây dựng, phát triển phong trào cách mạng của nhân dân.

Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh “đem sức ta mà giải phóng cho ta”(2), ngay sau khi vừa ra đời (3.2.1930), Đảng Cộng sản Việt Nam đã phát động và lãnh đạo phong trào cách mạng 1930-1931 mả đỉnh cao là Xô viết Nghệ - Tĩnh. Thực hiện đường lối được xác định trong Chánh cương vắn tắt - cương lĩnh đầu tiên của Đảng - Đảng đã “tổ chức ra quân đội công nông”(3). Chủ trương này thể hiện tư tưởng mà Nguyễn Ái Quốc đã trình bày trong bài giảng Công tác của Đảng trong nông dân, tại Trường Quân sự của những người Cộng sản Đức ở Matxcơva vào cuối năm 1927: “Thông thường, bất kì một phong trào cách mạng nghiêm chỉnh nào trong nông dân đều nhất thiết phải sử dụng hình thức hoạt động vũ trang (nghĩa là những hoạt động quân sự thực sự là những toán du kích nông dân) chống lại sự lộng quyền của bọn địa chủ, bọn cho vay nặng lãi, những công chức chính phủ…, đó là điều hoàn toàn cốt lỗi để bàn luận công tác quân sự của Đảng trong nông dân suốt thời gian dài”(4)

Đội tự vệ công nông mà nòng cốt là đội “Xích vệ” (Tự vệ đỏ) ra đời trong phong trào Xô viết Nghệ - Tĩnh, thể hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về quan điểm, chủ trương đúng đắn của Đảng về bạo lực cách mạng. Việc xây dựng và hoạt động của lực lượng vũ trang nhân dân đầu tiên này để lại nhiều bài học quý báu cho cuộc đấu tranh giành chính quyền sau này.

Trong phong trào cách mạng 1939-1945 tiến tới Tổng khởi nghĩa, việc xây dựng các lực lượng vũ trang và các căn cứ cách mạng ở Việt Bắc và nhiều địa phương trong nước là một điều kiện quan trọng để chuẩn bị lực lượng cho cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945. Trong số các lực lượng vũ trang này phải kể đến Cứu quốc quân, ra đời trong cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn (1940), Đội du kích Pác Bó (thành lập cuối năm 1941), Đội du kích Ba Tơ, ra đời trong cuộc khởi nghĩa Ba Tơ (11.3.1945).

Sự chuẩn bị tích cực các lực lượng, trong đó có lực lượng vũ trang cách mạng, được tiến hành từ sau khi Hồ Chí Minh về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Khi đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc là “vấn đề cần kíp nhất” lúc bấy giờ, Hội nghị lần thứ 8 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng ở Pác Bó (1941) đã quyết định phải xúc tiến công tác chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang, coi đây là nhiệm vụ trung tâm của Đảng và nhân dân Việt Nam trong thời kì tiến tới Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Muốn giành được thắng lợi quyết định cần phải chuẩn bị đầy đủ, để có những điều kiện khách quan và chủ quan cần thiết vùng lên khởi nghĩa khi thời cơ đến. Để có những điều kiện như vậy, một trong những lực lượng cần quan tâm đặc biệt là “phải có những tổ chức tiểu tổ du kích, du kích chính thức và tổ chức binh lính đế quốc”(5).

Thực hiện chủ trương của Đảng, các đội du kích Bắc Sơn, tuy bị kẻ thù lùng sục, truy đuổi để tiêu diệt, song vẫn duy trì và phát triển. Trên cơ sở đó, các trung đội Cứu quốc quân ra đời và ngày một trưởng thành, trở thành lực lượng nòng cốt xây dựng căn cứ địa cách mạng và phát động phong trào đấu tranh của quần chúng. Một sự kiện cần nhấn mạnh là trong điều kiện vô cùng khó khăn, gian khổ bị địch đàn áp khốc liệt, Trung đội Cứu quốc quân thứ hai được thành lập ngày 15.9.1941 tại rừng Khuôn Mánh, thôn Ngọc Mỹ, xã Tràng Xá, Vũ Nhai.

Sau cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ thất bại (tháng 11.1941), một số đội du kích nhỏ vẫn tiếp tục hoạt động ở nhiều địa phương, dù lực lượng yếu, phải đối phó với kẻ thù mạnh hơn mình gấp nhiều lần, song các đội vũ trang này vẫn hoạt động liên tục cho đến Cách mạng tháng Tám.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong những năm 1943-1944, phong trào cách mạng phát triển làm cơ sở cho việc xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang. Ngày 25.2.1944, Trung đội Việt Nam Cứu quốc quân thứ ba ra đời tại Lũng Khuổi Kịch (Sơn Dương, Tuyên Quang).

Từ đó, tại căn cứ địa Cao Bằng và nhiều địa phương khác ở Việt Bắc, các lực lượng vũ trang và nửa vũ trang được thành lập và phát triển, hỗ trợ cho các lực lượng chính trị của quần chúng. Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc xây dựng lực lượng vũ trang; bời vì “không có lực lượng vũ trang thì không thể đánh thắng được bọn áp bức…”(6). Người chăm lo tổ chức các đội tự vệ, tự vệ chiến đấu, đào tạo cán bộ chỉ huy quân sự, biên soạn tài liệu để huấn luyện cho cán bộ và đội viên các lực lượng vũ trang.

Việc thành lập Độ Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân ngày 22.12.1944, theo Chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là một bước ngoặt trong sự phát triển lực lượng vũ trang cách mạng, chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Đây là tổ chức tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam. Như lời khẳng định của Hồ Chí Minh “Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân là đội quân đàn anh, mong cho chóng có những đội quân đàn em khác.

Tuy lúc đầu quy mô của nó còn nhỏ, nhưng tiền đồ của nó rất vẻ vang. Nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có thể đi từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam”(7). Lời tiên đoán của Hồ Chí Minh đã trở thành sự thật; từ một đội quân với 34 chiến sĩ đã lần lượt thành lập ở nhiều nơi trong nước những đội du kích, góp phần vào thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945 và phát triển thành Quân đội nhân dân hùng mạnh trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, kháng chiến chống Mĩ, cứu nước và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ngày nay.


(*) TS. Đại tá, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam.
(*) Dẫn theo Vũ Anh: Hồi kí Bác Hồ, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1960, tr. 120.
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 3, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 554.
(3) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng - Toàn tập, tập 7, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 118.
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 2, sđd, tr. 4.
(5) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng - Toàn tập, tập 7, sđd, tr. 130.
(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 5, sđd, tr. 350.
(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 3, sđd, tr. 505.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9813


Lính của PTL


« Trả lời #164 vào lúc: 05 Tháng Mười, 2011, 08:48:18 am »

Ngày 9.3.1945, Nhật đảo chính Pháp, trong Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, Thường vụ Trung ương đã ra lệnh “huy động đội tự vệ tước vũ khí của binh lính (Pháp) bại trận đào ngũ, dao động, mất “tinh thần”, và “phát động du kích ở những nơi có địa hình, địa thế”(1). Như vậy, trong tình hình mới, có lợi cho cách mạng, việc chuyển sang các hình thức đấu tranh cao hơn trước, nhưng tổng biểu tình tuần hành, bãi công chính trị, mít tinh công khai, bãi thị, bất hợp tác với Nhật về mọi phương tiện đấu tranh vũ trang, khởi nghĩa từng phần, đòi hỏi phải có lực lượng vũ trang lớn mạnh.

Thấm nhuần quan điểm đường lối của Đảng,thực hiện Chỉ thị của Thường vụ Trung ương Đảng, nhiều địa phương (có địa phương chưa nhận được chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, đã quyết định khởi nghĩa giành chính quyền, khi xét đã có đủ điều kiện - trong đó có một điều kiện quan trọng là xây dựng được lực lượng vũ trang. Ở Miền Bắc, chính quyền cách mạng đã được thành lập ở nhiều xã, châu và huyện, khi mà Cứu quốc quân và nhân dân ở các địa phương đã khởi nghĩa thắng lợi. Các tỉnh Miền Trung từ Nghệ An đến Ninh Thuận đều tích cực chuẩn bị lực lượng để khởi nghĩa, nhưng khởi nghĩa từng phần mới diễn ra ở Quảng Ngãi, với sự ra đời của Đội du kích Ba Tơ. Ở Nam Kỳ, sau cuộc khởi nghĩa năm 1940 các đội du kích được duy trì và hoạt động đến Cách mạng tháng Tám 1945.

Trong tình hình này, để đẩy mạnh hơn phong trào cách mạng, Đảng ta thấy rằng cần phải tăng cường hoạt động của các lực lượng vũ trang. Hội nghị quân sự cách mạng của Đảng (tham dự chỉ có đại biểu các tỉnh phía Bắc) họp từ ngày 15 - 20.4.1945 tại Hiệp Hòa (Bắc Giang) đã quyết định phát triển lực lượng vũ trang, nửa vũ trang và thống nhất các lực lượng vũ trang sẵn có của Đảng thành Việt Nam Giải phóng quân. Sau Hội nghị quân sự Bắc Kỳ, cao trào chống Nhật, cứu nước trong cả nước phát triển mạnh mẽ, tiến tới Tổng khởi nghĩa.

Ngày 13.8, vừa nhận được tin phát xít Nhật bại trận và đầu hàng Đồng minh, Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc được thành lập và lúc 23 giờ cùng ngày, Quân lệnh số 1 được công bố: “Giờ tổng khởi nghĩa đã đánh! Cơ hội cơ một cho quân, dân Việt Nam vùng dậy giành lấy độc lập của nước nhà!… Chúng ta phải hành động cho nhanh, với một tinh thần vô cùng quả cảm, vô cùng thận trọng… Cuộc thắng lợi hoàn toàn nhất định sẽ về ta!”(2).

Cuộc Tổng khởi nghĩa bùng nhổ nhanh chóng, kịp thời, đúng thời cơ, theo đường lối, chủ trương của Đảng đã vạch ra thống nhất cho cả nước. Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương tránh đổ máu trong cuộc đấu tranh giành chính quyền khi quân Nhật đã mất tinh thần, chính quyền tay sai rệu rã, nhưng trong những trường hợp cần thiết không thể không “tập trung lực lượng, kịp đánh vào các đô thị và trung tâm của quân địch, đánh chẹn các đường rút lui của chúng, tước vũ khí của chúng”; cần phải huy động nhân dân “đem hết tâm lực ủng hộ đạo quân giải phóng, sung vào bộ đội, xông ra mặt trận đánh quân thù”(3).

Đúng như dự đoán của Đảng và Hồ Chí Minh, phương thức đấu tranh chính trị, thương lượng hòa bình, về cơ bản, đưa lại thắng lợi, không phải đổ máu, song do sự ngoan cố, tính chất phản động mà một số đơn vị quân đội Nhật và bọn tay sai cũng chống lại quyết liệt. Cuộc đấu tranh giành chính quyền ở một số nơi diễn ra gay go, phức tạp; chúng ta phải dùng đến bạo lực vũ trang mới giành thắng lợi. Trong những trường hợp này, lực lượng vũ trang cách mạng đã phối hợp với quần chúng nhân dân để giành và giữ chính quyền cách mạng và chúng ta cũng chịu những tổn thất không nhỏ.

Ở Vĩnh Yên, trong cuộc giành chính quyền ở thị xã, ngày 31.8.1945, hội phản động Quốc dân Đảng, Đại Việt, dựa vào quân Tưởng đã xả súng vào đoàn biểu tình làm hàng trăm người chết và bị thương.

Tại Hải Ninh (nay thuộc Quảng Ninh), lực lượng vũ trang cách mạng đã phải tổ chức tấn công bọn phỉ người Hoa, bọn Việt quốc, Việt cách theo đuổi quân Tưởng. Cuộc đấu tranh phải giành đi giật lại nhiều lần giữa ta và bọn phản động theo Tưởng, mãi đến giữa năm 1946 mới giành được thắng lợi, song nhiều đồng bào bị tàn sát rất dã man.

Tại Thái Nguyên, từ ngày 20.8.1945, cuộc chiến đấu giữa Chi đội Giải phóng quân và quân Nhật cũng diễn ra quyết liệt trong một thời gian dài, chủ yếu ở trại lính khố xanh, nơi quân Nhật đóng.

Tại Tuyên Quang, cuộc xung đột vũ trang giữa lực lượng vũ trang cách mạng và quân Nhật cũng diễn ra, đặc biệt trong trận đánh ngày 20.8.1945, Quân cách mạng chỉ có súng trường, gậy, dao, kiếm, lựu đạn song với tinh thần chiến đấu dũng cảm đã tấn công vào trại lính Nhật, buộc chúng phải đầu hàng. Ngày 21.8, tại Ỷ La quân cách mạng lại tấn một bộ phận quân Nhật từ Hà Giang kéo về Tuyên Quang mà không chịu giao nộp vũ khí. Quân ta đã diệt 30 lính Nhật, bắt và tước vũ khí số còn lại.

Ở Quảng Ngãi, lực lượng vũ trang cách mạng, nòng cốt là các đơn vị của Đội du kích Ba Tơ, đã nhiều lần tổ chức các cuộc tấn công lực lượng quân đội Nhật đóng ở thị xã, chặn đánh các cuộc hành quân của chúng ra các huyện. Các trận thắng ở Mỏ Cày (Đức Phổ), Thi Phổ (Tư Nghĩa) thể hiện tinh thần chiến đấu ngoan cường của lực lượng vũ trang cách mạng Quảng Ngãi, được quần chúng hết lòng ủng hộ.

Như vậy, trong Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945, hầu hét các tỉnh đều kết hợp chặt chẽ giữa lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang, trong đó vai trò lực lượng chính trị là quyết định, lực lượng vũ trang làm nhiệm vụ xung kích, hỗ trợ. Tuy nhiên, không có lực lượng vũ trang đủ, ạnh thì cuộc đấu tranh chính trị của quần chúng nhân dân sẽ gặp không ít khó khăn, vì địch ngoan cố, chống trả quyết liệt. Ở những địa phương không có xung đột vũ trang thì lực lượng vũ trang cách mạng vẫn hỗ trợ đắc lực cho quần chúng đánh chiếm các công sở của chính quyền địch (như ở Hà Nội), bảo vệ các cuộc biểu tình, tuần hành của quần chúng, buộc địch phải đầu hàng.

Việc xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang nhân dân trong thời kì Cách mạng tháng Tám xác nhận tính đúng đắn của tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa lực lượng chính trị quần chúng và lực lượng vũ trang nhân dân khi tiến hành khởi nghĩa và chiến tranh cách mạng. Tư tưởng của Người đã soi sáng, chỉ đạo việc xây dựng Quân đội nhân dân hùng mạnh: “Quân đội ta là quân đội nhân dân, do dân đẻ ra, vì dân mà chiến đấu”(4).


(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng - Toàn tập, tập 7, sđd, tr. 370.
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng - Toàn tập, tập 7, sđd, tr. 421.
(3) Sđd, tr. 421.
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 6, sđd, tr. 318.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9813


Lính của PTL


« Trả lời #165 vào lúc: 07 Tháng Mười, 2011, 03:35:53 pm »

Ý NGHĨA VÀ TẦM VÓC LỊCH SỬ
CỦA CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945

TƯỞNG PHI NGỌ (*)

Trong sự phát triển của lịch sử loài người, mối quan hệ giữa các tộc người, các châu lục ngày càng xích gần nhau. Với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, quan hệ này càng chặt chẽ, thường xuyên hơn và ngày nay, chúng ta đang sống trong thời kì toàn cầu hóa, thế giới hóa. Ảnh hưởng tác động của thế giới đến các dân tộc và ngược lại đã chi phối sự phát triển của lịch sử loài người và mỗi quốc gia.

Nhận thức được điều này trong quá trình đi tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới và xác định con đường cứu nước đúng cho nhân dân ta. Đây là công lao to lớn đầu tiên của Hồ Chí Minh, mở đầu cho nhiều công lao khác của Người với dân tộc và nhân loại.

Sự đóng góp của Người trong việc đưa Cách mạng tháng Tám 1945 thắng lợi làm cho cuộc cách mạng này có ý nghĩa và tầm vóc lịch sử to lớn trong thế kỉ 20, không những trong nước mà trên bình diện quốc tế là một đóng góp như vậy.

Cũng như lịch sử thế giới nói chung, lịch sử của thế kỉ 20 là lịch sử của tất cả các dân tộc đã có những đóng góp vào quá trình xã hội loài người. Ý nghĩa quốc tế của một sự kiện không phải vì nó xảy ra ở một nước giàu mạnh, mà vì tác động của sự kiện ý nghĩa quyết định đối với hiện tại và cả trong tương lai không chỉ đối với dân tộc mình mà với nhiều dân tộc khác. Cách mạng tháng Tám 1945 ở Việt Nam có tầm vó vĩ đại, vì “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”(1).

Ý nghĩa trong nước và quốc tế của Cách mạng háng Tám 1945 ngày càng thể hiện rõ rệt và được xác nhận.

Đối với Việt Nam, đây là cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đầu tiên trong lịch sử nước ta sau mấy nghìn năm dựng nước. Nó không những chứng tỏ rằng con đường cứu nước, do Hồ Chí Minh lựa chọn, Đảng xác định, nhân dân kiên trì thực hiện là đúng mà còn mở ra một thời kì mới trong lịch sử, sau một nghìn năm độc lập dân tộc, thoát khỏi ách thống trị hàng chục thế kỉ của phong kiến phương Bắc. Đó là thời kì độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, nhân dân thực sự làm chủ đất nước. Vì vậy, Cách mạng tháng Tám được xem là “khâu đột phá” cho sự phát triển của đất nước, nhân dân Việt Nam trên con đường độc lập, tự do, văn minh, tiến bộ, hợp với quy luật lịch sử của xã hội loài người.

Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám nâng cao vai trò, vị trí của dân tộc Việt Nam - một dân tộc đã đóng góp vào nền văn minh nhân loại những thành tựu của các nền văn hóa rực rỡ thời Văn Lang - Âu Lạc, Đại Việt, Sa Huỳnh, Óc Eo… những chiến công lừng lẫy trong đánh thắng kẻ thù, từng có mưu đồ làm bá chủ thế giới, như Mông - Nguyên. Với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, Việt Nam mở đầu cho thời kì các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc đi vào kỉ nguyên độc lập, tự do, văn minh, tiến bộ thực sự. Con đường đi tới còn nhiều chông gai, gian khó, và phải đương đầu với các thế lực phản động trong nước và quốc tế, phải vượt qua tập tục, tàn dư tư tưởng cũ, song cuộc đấu tranh này nhất định sẽ thắng lợi.

Ý nghĩa, tầm vóc lịch sử của Cách mạng tháng Tám đối với dân tộc thể hiện tập trung ở việc mở đầu có tính quyết định cho sự chấm dứt hoàn toàn mọi chế độ áp bức dân tộc, giai cấp, tạo nên sức mạnh để giành tiếp những thắng lợi to lớn trên con đường phát triển tương lai đầy chông gai, gian khổ.

Ý nghĩa, tầm vóc lịch sử của Cách mạng tháng tám không giới hạn trong phạm vi dân tộc, đất nước mà còn tỏa sáng trên thế giới, như một sự kiện lớn, quan trọng của thế kỉ 20.

Bước vào thế kỉ 20, do sự phát triển kinh tế, khoa học - kĩ thuật, mà tình hình chính trị, xã hội của thế giới có nhiều biến đổi to lớn, sâu sắc. Chủ nghĩa tư bản đang trong quá trình hoàn thành việc chuyển từ giai đoạn tự do cạnh trang sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Thời kì này diễn ra vào 30 năm cuối của thế kỉ 19, đến thời điểm trước Chiến tranh thế giới thứ nhất nổ ra. Về hình thức, đặc điểm của hai giai đoạn này có sự khác nhau, song không hề làm thay đổi bản chất của chủ nghĩa tư bản.

Cuối thế kỉ 19 đầu thế kỉ 20, các nước tư bản đế quốc, về cơ bản, đã phân chia xong thế giới, biến phần lớn các nước ở Châu Á, Châu Phi, khu vực Mĩ Latinh thành các nước thuộc địa và phụ thuộc. Nói chung, cơ cấu kinh tế - xã hội của tất cả các nước thuộc địa và phụ thuộc là chế độ bóc lột phong kiến cũ được duy trì và chồng lên nó là ách thống trị tư bản chủ nghĩa. Bên cạnh các giai cấp cơ bản trước kia - nông dân và phong kiến - đã xuất hiện các giai cấp mới của xã hội thuộc địa: công nhân, tiểu tư sản và tư sản (tư sản dân tộc và mại bản).

Bối cảnh lịch sử thế giới, cùng với những biến chuyển sâu sắc của xã hội Việt Nam, do chinh sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp gây nên, đã tác động mạnh mẽ đên phong trào giải phóng dân tộc nước ta. Phong trào Cần Vương - thực chất là phong trào đấu tranh chống Pháp cứu nước của nhân dân Việt Nam - đã thất bại, nhưng cuộc đấu tranh yêu nước theo xu hướng dân chủ tư sản cũng sớm bộc lộ những mặt yếu và không thể thành công.

Trong cuộc hành trình “thần kì” qua các châu lục, các nước có chế độ chính trị, xã hội khác nhau, Hồ Chí Minh đã xác định con đường cứu nước phù hợp với thời đại mới mà Cách mạng tháng Mười Nga 1917 đã mở ra.


(*) ThS. Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.
(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 6, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 159.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9813


Lính của PTL


« Trả lời #166 vào lúc: 07 Tháng Mười, 2011, 03:40:11 pm »

Bằng “cảm tính tự nhiên” và sự nhạy cảm về chính trị, cũng như kinh nghiệm đấu tranh thực tiễn, Hồ Chí Minh đã nhận thấy “… Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu, hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu như thế.

… Cách mạng tháng Mười mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc và cả loài người, mở đầu một thời đại mới trong lịch sử, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên thế giới”(1).

Người đã tiếp nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, học tập kinh nghiệm của Cách mạng tháng Mười, đã dưa cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam theo con đường cách mạng vô sản - con đường duy nhất trong thời đại mới của lịch sử nhân loại có thể đưa các dân tộc thuộc địa, phụ thuộc đến thắng lợi hoàn toàn. Nhận thức ý nghĩa lịch sử - toàn thế giới của Cách mạng tháng Mười Nga, tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã xác định con đường cách mạng vô sản trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, khi mà ở nhiều nước thuộc địa và phụ thuộc con đường cứu nước dân chủ tư sản, do giai cấp tư sản lãnh đạo, vẫn giữ vai trò độc tôn.

Cách mạng tháng Tám ở Việt Nam đã thắng lợi một cách toàn diện và triệt để, trong khi cùng một bối cảnh, điều kiện lịch sử sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai vừa kết thúc mà ở nhiều nước thuộc địa cách mạng không nổ ra, hoặc không thắng lợi triệt để. Thực tế lịch sử này đã chứng minh con đường Cách mạng tháng Tám đã trải qua là đúng. Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945 là sự xác nhận bằng thực tiễn rằng: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”(2). Bởi vì, “Chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc: cả hai cuộc giải phóng chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và của cách mạng thế giới”(3).

Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám ở Việt Nam còn thể hiện ý nghĩa quốc tế và tầm vóc lịch sử của nó: trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc phải đi theo con đường cách mạng vô sản, tuân thủ những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tiếp thụ những bài học, kinh nghiệm quý báy của Cách mạng tháng Mười Nga, song lại phải linh hoạt, sáng tạo, chủ động, vận dụng phù hợp với điều kiện lịch sử của đất nước. Như vậy, mới giành được thắng lợi; nếu rập khuôn, giáo điều sẽ thất bại.

Cuộc cách mạng ở các nước thuộc địa và phụ thuộc, theo con đường cách mạng vô sản, trước hết phải làm nhiệm vụ một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, xét cho cùng cũng là cuộc đấu tranh giai cấp, song nó phải làm nhiệm vụ trực tiếp là chống kẻ thù xâm lược đang thống trị, áp bức các tầng lớp nhân dân. Vì vậy, cuộc cách mạng giải phóng dân tộc phải huy động mọi giai cấp, tầng lớp nhân dân có tinh thần yêu nước đấu tranh cho mục tiêu độc lập dân tộc, tập hợp trong mặt trận dân tộc thống nhất, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Trong cuộc đấu tranh này, “chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước”(4). Cách mạng tháng Tám thắng lợi đã xác nhận ý nghĩa quốc tế của nó đối với cuộc đấu tranh giải phóng của các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc. Nó khắc phục được các khuynh hướng sai lầm thường gặp trong phong trào giải phóng dân tộc lúc bấy giờ ở một số nước. Đó là các khuynh hướng “hữu khuynh”, hoặc “tả khuynh” để ngọn cờ lãnh đạo rơi vào tay độc quyền của giai cấp tư sản dân tộc, thậm chí của bọn phản động, đội lốt “yêu nước”, tiến bộ, hoặc đề cao “đấu tranh giai cấp”, không tập hợp được đông đảo các lực lượng yêu nước… Ý nghĩa quốc tế của Cách mạng tháng Tám 1945 ở đây thể hiện ở vai trò của Mặt trận dân tộc thống nhất, động viên sức mạnh của mọi tầng lớp nhân dân yêu nước để thực hiện mục tiêu chiến lược của Đảng Cộng sản, cũng là mục tiêu của toàn thể dân tộc.

Sự sáng tạo của Đảng và Hồ Chí Minh thể hiện sự trung thành với những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, kiên định con đường mà Cách mạng tháng Mười đã trải qua để giải quyết một cách cụ thể những vấn đề được đặt ra, chưa xuất hiện ở các thời kì lịch sử trước. Tiếp thụ chủ nghĩa Mác, ngay từ năm 1924, Nguyễn Ái Quốc khi khẳng định tính đúng đắn, phổ biến của học thuyết này vẫn cho rằng: “Dù sao thì cũng không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được…”. Do đó, cần phải “xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông”. Việc “xem xét” mà Nguyễn Ái Quốc nêu lên không phải việc “xét lại”, “nghi ngờ” các nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, như có kẻ vu cáo, “phê phán” Người “xa rời đấu tranh giai cấp”, “đặt vấn đề dân tộc cao hơn giai cấp”…

Sự vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin và học tập kinh nghiệm Cách mạng tháng Mười của Hồ Chí Minh và Đảng ta một cách sáng tạo, để đưa cách mạng thới thắng lợi.

Ý nghĩa lịch sử to lớn của Cách mạng tháng Mười Nga 1917 là đánh dấu một thời đại mới ra đời trong sự phát triển xã hội loài người, bắt đầu bằng thời kì quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Trong điều kiện và bối cảnh lịch sử ấy, Cách mạng tháng Tám 1945 thắng lợi lại đưa tới sự vùng dậy của các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc để được giải phóng, xây dựng các quốc gia độc lập hùng mạnh, văn minh tiến bộ. Vì vậy, đi theo Cách mạng tháng Mười song Cách mạng tháng Tám không làm như Cách mạng tháng Mười, tức là thực hiện ngay nhiệm vụ xóa bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa, lập nền chuyên chính vô sản, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cách mạng tháng Tám là cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, trước tiên phải đánh đổ chế độ thuộc địa, giành độc lập, giải quyết những nhiệm vụ chống phong kiến, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ những thành quả của cách mạng để xây dựng xã hội ấm no, hạnh phúc, giầu mạnh theo con đường xã hội chủ nghĩa.

Thực tiễn 60 năm qua (1945-2005) chứng minh con đường mà Cách mạng tháng Tám sau khi thắng lợi đã thực hiện tốt đẹp, tuy phải trải qua nhiều hi sinh, tổn thất. Do đó, Cách mạng tháng Tám được xem là một sự kiện trọng đại, có ý nghĩa, tầm vóc lịch sử trong việc mở đầu quá trình làm sụp đổ chế độ thực dân cũ, cổ vũ nhân dân các nước bị áp bức đấu tranh tự giải phóng, giành độc lập, tự do.

*

Trong lịch sử xã hội loài người, đặc biệt trong thế kỉ 20, Cách mạng tháng Tám có ý nghĩa và tầm vóc lịch sử to lớn. Đối với Việt Nam, nó đem lại sự giải phóng khỏi ách thống trị thực dân, mở đầu kỉ nguyên độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội. Đối với thế giới, nó “nổi lên như là một trong những cuộc cách mạng có sức sống và làm đảo lộn nhiều nhất”(5), và đã mở đầu cho quá trình phi thực dân hóa, cho sự hình thành hệ thống các quốc gia độc lập dân tộc.


(1) Hồ Chí Minh: Cách mạng tháng Mười vĩ đại mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc, trong Toàn tập, tập 12, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 300-301.
(2) Hồ Chí Minh: Con đường cứu nước và giải phóng dân tộc trong thời đại ngày nay, trong Toàn tập, sđd, tập 9, tr. 314.
(3) Hồ Chí Minh: Cuộc kháng chiến… trong Toàn tập, sđd, tập 1,tr. 416.
(4) Hồ Chí Minh: Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ, trong Toàn tập, sđd, tập 1, tr. 464.
(5) Stein Tonnesson: The Vietnamese Revoloution of 1945, Roosevelt, Ho Chi Minh an De Gaullle in a World at a War, Sage Publications, 1991, London, New Bury Park - New Dehli, tr. 426.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9813


Lính của PTL


« Trả lời #167 vào lúc: 07 Tháng Mười, 2011, 03:44:16 pm »

QUAN HỆ CỦA VIỆT MINH VỚI LỰC LƯỢNG
ĐỒNG MINH CHỐNG PHÁT XÍT TRONG ĐẤU TRANH
GIÀNH THẮNG LỢI CHO CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945

NGUYỄN XUÂN HỠI (*)

Sau 30 năm tìm đường cứu nước, mùa xuân năm Tân Tỵ (1941) Nguyễn Ái Quốc từ đất Trung Quốc vượt biên giới Việt - Trung ở cột mốc (108) về Pác Bó (Cao Bằng). Người đã xây dựng vùng đất này thành chỗ đứng chân của cách mạng, mở các lớp huấn luyện đào tạo cán bộ và thành lập các tổ chức, đoàn thể cứu quốc.

Nguyễn Ái Quốc đã chủ trì Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ VIII, họp từ ngày 10 đến ngày 19.5.1941, tại Pác Bó (Cao Bằng). Hội nghị đã thảo luận những nhiệm vụ chủ yếu trước mắt của cách mạng Việt Nam, trong đó có vấn đề quan hệ giữa cách mạng Việt Nam và Đông Dương với sự phát triển của cách mạng thế giới: “Cuộc cách mạng Đông Dương là một bộ phận của cách mạng thế giới và giai đoạn hiện tại là một bộ phận dân chủ chống phát xít… Vận mạng của dân tộc Đông Dương lại chung với vận mạng nước Trung Quốc cách mạng và Liên bang Xô Viết”(1). Vì vậy, từ căn cứ địa Việt Bắc, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã chủ động mở rộng quan hệ với lực lượng Đồng minh chống phát xít, tăng cường thế và lực cho cách mạng Việt Nam, tiến lên giải phóng đất nước.

Đến giữa năm 1942, sức tiến công của quân Nhật bắt đầu suy yếu và chuyển sang thế phòng ngự trên chiến trường Thái Bình Dương. Trước tình hình ấy, cuộc chiến tranh chống Nhật và phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc Đông Nam Á ngày càng phát triển nhanh chóng. Nhưng lúc bấy giờ Mặt trận Việt Minh chưa có mối quan hệ với lực lượng Đồng minh chống phát xít. Vì vậy, việc hợp tác với Trung Quốc, một nước lớn trong khối Đồng minh chống phát xít ở ngay bên cạnh căn cứ địa Việt Bắc của chúng ta là rất cần thiết và tạo nên thế mạnh cho cách mạng Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc đã nói rõ tư tưởng của minh về vấn đề đó trong bài viết trên báo “Việt Nam độc lập” ngày 21.8.1942: “Quan hệ Trung Quốc - Việt Nam đã từng thân thiện trong lịch sử, nay lại cùng bị Nhật xâm lược, có một kẻ thù chung là Nhật, một mục đích chung là đuổi giặc Nhật”… Hai dân tộc, “đồng tâm hiệp lực, khăng khít giúp đỡ lẫn nhau thì cuộc giải phóng chung của chúng ta sẽ nhanh chóng thành công”.

Nguyễn Ái Quốc đã nhận thấy rằng, Mặt trận Việt Minh cần phải có cuộc gặp gỡ chính thức với Chính phủ Tưởng Giới Thạch để bàn về quan hệ giữa hai bên trong cuộc đấu tranh chống Nhật giải phóng đất nước.

Từ căn cứ địa Việt Bắc, Nguyễn Ái Quốc đã “vâng lệnh Đoàn thể đi cầu viện”(2). Người đã chủ động sang Trung Quốc tạo cơ sở mở rộng quan hệ với lực lượng Đồng minh chống Nhật. Để chuẩn bị thủ tục cho chuyến “bang giao” đó, Ngời đã nói rõ với đồng chí Vũ Anh lấy đá mềm khắc cho Người hai con dấu: một con dấu của “Việt Nam Độc lập Đồng minh” và một con dấu của “Quốc tế phản xâm lược Việt Nam Phân hội”; đồng thời Nguyễn Ái Quốc đã tự tay viết hai “Giấy ghới thiệu” của các tổ chức trên “Cử Cụ Hồ Chí Minh đi gặp Chính phủ Trung Quốc”. Từ đó cái tên Hồ Chí Minh chính thức xuất hiện trên các diễn đàn chính trị - xã hội, đối nội, đối ngoại cũng như các văn bản, báo chí, tác phẩm chính luận và thi ca của Người. Sau khi chuẩn bị xong những thủ tục cần thiết, ngày 13.8.1942 Hồ Chí Minh lên đường sang Trung Quốc, đi bộ hơn hai tuần đến huyện Tĩnh Tây thì bị chính quyền địa phương Tưởng Giới Thạch bắt giữ. Sau khi bị bắt, Người biết rằng nếu không có sự can thiệp của quốc tế và sự phản đối của dư luận ở trong và ngoài nước thì chúng không trả tự do cho mình. Vì vậy, Người đã tìm mọi cách bí mật gửi thư về nước, hướng dẫn biện pháp vận động để cho những lời khai của Người và những nội dung vận động trong nước gửi ra phù hợp với nhau. Từ đó, một phong trào rộng rãi đòi trả tự do cho Hồ Chí Minh được phát động, hàng trăm bức thư của các Hội cứu quốc ở vùng căn cứ địa Việt Bắc và của nhiều Việt kiều ở Hoa Nam gửi cho Chính phủ Tưởng Giới Thạch đòi thả nhà cách mạng Hồ Chí Minh.

Năm 1943, lực lượng Đồng minh bắt đầu phản công quân Nhật ở Thái Bình Dương và quân Mĩ, Anh có nhiều khả năng đổ bộ vào Đông Dương. Trước tình hình ấy, việc Chính phủ Trung Quốc đề ra kế hoạch chuẩn bị “Hoa quân nhập Việt” càng trở nên cấp bách. Trong giới lãnh đạo Trung Quốc lúc bấy giờ, từ Tưởng Giới Thạch đến Trương Phát Khuê, đều thấy cần phải nhanh chóng củng cố lại Ban lãnh đạo “Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội” và tìm mọi cách đưa Việt Minh vào hội này, vì Việt Minh có thực lực ở trong nước. Để tranh thủ Việt Minh, lúc đó họ nghĩ đến Hồ Chí Minh, một lãnh tụ có uy tín của Việt Minh đang bị giam ở Quảng Tây.

Vì vậy, ngày 10.9.1943, Trương Phát Khuê đã ra lệnh trả tự do cho Hồ Chí Minh và mời Người tham gia Ban trù bị Đại hội toàn quốc của “Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội”. Lúc đầu Hồ Chí Minh không nhận, nhưng sau đó Trương Phát Khuê trực tiếp viết thư cho Người với lời lẽ coi sự đồng ý của Người như điều kiện để được trả tự do. Trong điều kiện lúc bấy giờ, Hồ Chí Minh cũng nhận thấy việc mời Người vào Ban trù bị Đại hội toàn quốc của “Việt Cách” chứng tỏ Tưởng Giới Thạch phải chấp nhận những đảng phái cánh tả của cách mạng Việt Nam vào tổ chức chính trị của chúng. Do từ chối không có lợi nên Người đã nhận lời tham gia Ban trù bị Đại hội “Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội”.

Trong những ngày còn ở Trung Quốc, Hồ Chí Minh đã gặp đồng chí Lê Tùng Sơn, đại biểu Hội giải phóng Việt Nam (bộ phận Việt Minh ở nước ngoài) đến Liễu Châu tham gia Ban trù bị Đại hội “Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội”. Sau một số lần họp, Hội nghị Ban trù bị vẫn chưa thống nhất được về thời gian họp và số lượng đại biểu Việt Minh tham gia Đại hội. Để mở lối thoát cho sự bế tắc này, Hồ Chí Minh đã đưa ra sáng kiến là họp Hội nghị đại biểu hải ngoại trước để thống nhất các lực lượng cách mạng Việt Nam ở nước ngoài, đồng thời để trù bị cho Đại hội toàn quốc của “Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội”. Đại hội đó sẽ họp một năm sau cuộc họp đại biểu hải ngoại và sẽ do Hồ Chí Minh chuẩn bị bố trí địa điểm trong khu giải phóng Việt Bắc. Sáng kiến trên đây của Hồ Chí Minh đã được Trương Phát Khuê tán thành và đề nghị Người dự thảo kế hoạch thực hiện.


(*) ThS. Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
(1) Văn kiện Đảng, tập 3 (1930-1945), tr. 216.
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 3, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1983, tr. 735.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9813


Lính của PTL


« Trả lời #168 vào lúc: 07 Tháng Mười, 2011, 03:49:12 pm »

Đến tháng 3.1944, Hội nghị đại biểu hải ngoài “Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội” được tiến hành tại Liễu Châu (Trung Quốc). Tại Hội nghị này, Hồ Chí Minh đã đọc hai bản tham luận: “Về Phân hội quốc tế chống xâm lược của Việt Nam” và “Về các đảng phái trong nước”(1).

Nội dung của hai bản tham luận trên đã đề cập đến nhiều vấn đề, trong đó về đối ngoại lúc này cần phải liên hệ với lực lượng Đồng minh chống Nhật nhanh chóng tiến lên giải phóng đất nước; “… Nếu thiếu một sức mạnh nhất trí của cả nước, thiếu sự giúp đỡ mạnh mẽ của bên ngoài thì cuộc vận động giải phóng khó thành công được, nhất là hiện nay Việt Nam đang đứng trước hai tên cướp xâm lược hung ác của phương Đông và phương Tây, càng cần toàn dân nhất trí và càng cần sự giúp đỡ của bên ngoài”(2). Người còn nói rõ: Hiện nay, sự thật chỉ cần mở rộng khối đoàn kết toàn dân để làm cho bên trong lực lượng vững mạnh, làm cho bên ngoài tranh thủ các bạn Đồng minh giúp đỡ tận tình, trước hết là sự gúp đỡ của Trung Quốc, có thế mới thực hiện được mục tiêu giải phóng dân tộc”(3). Quả đúng như vậy, sự giúp đỡ của các nước Đồng minh trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai là một trong những nhân tố quan trọng nhằm đưa cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam đến thắng lợi hoàn toàn. Bởi vì, sức mạnh bên trong là yếu tố chủ quan của bản thân cộng đồng dân tộc cần được kết hợp với sức mạnh của thời đại, của loài người tiến bộ, sự đồng tình ủng hộ của lực lượng Đồng minh càng làm tăng thế và lực cho cuộc đấu tranh của dân tộc nhanh chóng đi đến thành công.

Khi đánh giá kết quả của Hội nghị nói trên, Hồ Chí Minh đã nói với Lê Tùng Sơn là: “Thắng lợi! Ta giam gia hội nghị này là đúng. Không nên ảo tưởng với Tưởng Giới Thạch, nhưng phải lấy Trung Quốc làm cái cầu để tranh thủ các nước Đồng minh”(1). Thực tế cho thấy, qua cuộc hop này Tưởng Giới Thạch đã phải chấp nhận để cho Đảng Cộng sản Đông Dương và Việt Minh vào trong Mặt trận liên minh Trung - Việt để chống kẻ thù chung là chủ nghĩa phát xít. Vì vậy, họ đã để cho Hồ Chí Minh được tương đối tự do hoạt động ở vùng Hoa Nam.

Thắng lợi to lớn hơn nữa là sau Hội nghị đại biểu hải ngoại của “Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội” nói trên, Tưởng Giới Thạch đã phải để cho Hồ Chí Minh được về nước tiếp tục lãnh đạo cách mạng.

Trong thời gian ở Liễu Châu, do có quan hệ với Trương Phát Khuê, Hồ Chí Minh đã được làm quen với một số sĩ quan của Mĩ trong tổ chức OSS (Office Strategic Services - Tổ chức tình báo của Mĩ trong Chiến tranh thế giới thứ hai) và OWI (Office of War Information - Tổ chức thông tin chiến tranh của Mĩ trong Chiến tranh thế giới thứ hai), tạo thuận lợi để Người liên hệ với tướng Sênôn chỉ huy Quân đoàn không quân của Mĩ ở chiến trường Tây Nam Trung Quốc.

Sau một thời gian, Trương Phát Khuê xin ý kiến của Tưởng Giới Thạch về việc trả lại tự do cho Hồ Chí Minh, ông ta đã nhận được điện văn trả lời của Viện trưởng hành chính - Trương Trị Trung, thửa lệnh của Tưởng Giới Thạch báo cho biết: “Hội nghị đại biểu hải ngoại của “Việt Cách” đã họp xong để cho Hồ Chí Minh về nước hoạt động”(5). Và mãi cho đến ngày 9.8.1944, Trương Phát Khêu mới để cho Hồ Chí Minh được hoàn toàn tự do chuẩn bị về nước. Ngày 20.9.1944, Hồ Chí Minh cùng 18 cán bộ rời Liễu Châu (Trung Quốc) về Cao Bằng để trực tiếp lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc.

Trong Thư gửi đồng bào toàn quốc (tháng 10.1944), Hồ Chí Minh đã nêu rõ: “Phe xâm lược gần đến ngày bị tiêu diệt. Các đồng minh quốc sắp tranh được thắng lợi cuối cùng… Cơ hội cho dân tộc ta giải phóng chỉ trong một năm hoặc một năm rưỡi nữa. Thời gian rất gấp ta phải làm nhanh!”. Cuối bức thư, Người đã kêu gọi các đảng phái và các đoàn thể ra sức chuẩn bị “Toàn quốc đại biểu Đại hội” để bầu ra một tổ chức “đủ lực lượng và uy tín, trong thì lãnh đạo việc cứu nước, kiến quốc, ngoài thì giao hiệp với các hữu bang”(6).

Trong thời gian ở Trung Quốc, nhất là sau khi được tự do ở Liễu Châu, Hồ Chí Minh đã theo dõi chặt chẽ những diễn biến của tình hình thế giới qua báo chí, đài phát thanh và các cuộc gặp với nhiều chính khách nước ngoài để có những quyết sách đúng đắn đưa con thuyền cách mạng Việt Nam đến thắng lợi. Cũng trong Thư gửi đồng bào toàn quốc, Người đã nói là: “Trong sự rủi lại có sự may. Nhân dịp ở ngoài mà tôi hiểu rõ tình hình thế giới và chính sách của hữu bang…”(7) trước hết là Trung Quốc, Mĩ, Anh, Pháp đối với phong trào độc lập dân tộc nói chung và đối với các nước Đông Dương nói riêng. Người cũng biết ý đồ của Mĩ qua kế hoạch của tổng thống Rudơven (tháng 2.1945) nhằm thiết lập một Hội đồng thác quản (Trusteeship) cho Đông Dương gồm một đại biểu Pháp, một đại biểu Trung Quốc, một đại biểu Mĩ và một đại biểu Liên Xô. Điều đó nhằm phá sự độc quyền của chủ nghĩa thực dân cũ của Pháp ở xứ thuộc địa này. Vói tình hình thực tế lúc bấy giờ, chính sách giải thế hệ thống thuộc địa, chống chế độ thực dân kiểu cũ của Tổng thống Rudơven hoàn toàn bất lợi cho Pháp và đó là điều mà ta có thể lợi dụng để tạo thêm sức mạnh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Qua quá trình phân tích và sự hiểu biết sâu sắc đối với nền chính trị - quyền lực quốc tế, với tinh thần thực tiễn, Hồ Chí Minh đã rút ra kết luận là phải gặp Mĩ, tranh thủ sự đồng tình của Mĩ, tìm kiếm quan hệ ở mức độ nào đó với Mĩ để cho Mặt trận Việt Minh, cách mạng Việt Nam có một vị trí nhất định trong phe Đồng minh chống phát xít và triệt để phân hóa chủ nghĩa đế quốc, tạo thuận lợi cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.

Trong thời gian Chiến tranh thứ hai, ở Côn Minh (Trung Quốc) Mĩ có Quân đoàn không quân 14 với trên 300 máy bay chiến đấu dưới quyền chỉ huy của tướng Sênôn. Quân đoàn không quân này có nhiệm vụ hỗ trợ cho bộ binh Trung Quốc ở mặt trận Quảng Tây và đánh tan quân Nhật ở Việt Nam. Cuối năm 1944, Mĩ đã cho nhiều máy bay sang đánh phá quân Nhật ở miền Bắc Đông Dương, có lần một chiếc máy bay bị hỏng rơi vào khu rừng gần thị xã Cao Bằng và viên trung úy phi công William Shaw nhảy dù xuống được tự vệ địa phương của Mặt trận Việt Minh cứu giúp rồi đưa lên vùng căn cứ gần biên giới gặp Hồ Chí Minh.


(1), (2), (3) Theo tài liệu lưu trữ tại Viện Bảo tàng Cách mạng Việt Nam.
(4) Lê Tùng Sơn: Nhật kí một chặng đường, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1978, tr. 126.
(5) Lê Tùng Sơn: Nhật kí một chặng đường, sđd, tr. 126.
(6), (7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 3, sđd, tr. 375-376.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9813


Lính của PTL


« Trả lời #169 vào lúc: 07 Tháng Mười, 2011, 03:52:08 pm »

Nắm lấy cơ hội thuận lợi này, Người quyết định đích thân đưa viên trung úy Shaw trả cho Bộ chỉ huy Mỹ ở Côn Minh. Mục đích là làm cho người Mĩ thấy rõ sức mạnh của Mặt trận Việt Minh và phải chú ý tới tổ chức này ở Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống phát xít Nhật. Trên cơ sở đó, Người chủ động đặt vấn đề mở rộng quan hệ với Mĩ cũng như lực lượng Đồng minh chống Nhật.

Vào đầu năm 1945, Hồ Chí Minh đã cùng với viên Trung úy phi công Mĩ lên đường đi Côn Minh. Trong chuyến đi công cán với tinh thần chủ động mở quan hệ ngoại giao với Mĩ và lực lượng Đồng minh chống Nhật lần thứ hai này, Hồ Chí Minh không bị phía Trung Quốc gây khó khăn gì, vì Người có sẵn hộ chiếu dài hạn do Trương Phát Khuê cấp trong thời gian ở Liễu Châu trước đây.

Trong những ngày từ 17 đến 20.3.1945 tại Côn Minh, Hồ Chí Minh đã gặp Sáclơ Phen thuộc Tổ chức cứu trợ không quân Mĩ. Kết quả là, Mĩ hứa giúp Việt Minh bằng cách thả dù xuống vùng căn cứ địa Việt Bắc một số vũ khí, thuốc men và điện đài, phái một nhân viên người Mĩ đi cùng với Hồ Chí Minh giúp về kĩ thuật thu phát tin qua máy vô tuyến diện. Đến ngày 20.3.1945, Hồ Chí Minh gặp tướng Sênôn ở Hoa Nam. Trong cuộc tiếp kiến đó, tướng Sênôn đã cảm ơn Việt Minh cứu thoát viên phi công Mĩ. “Hồ Chí Minh đã nói rới Sênôn là bổn phận của những người chống phát xít là làm tất cả những gì có thể làm được để giúp Đồng minh”(1).

Trước khi rời Côn Minh, tướng Sênôn đã tặng Hồ Chí Minh 6 khẩu súng ngắn, với cơ số đạn cần thiết, thuốc chữa bệnh và một số tiền. Người đã không nhận tiền, chỉ nhận súng, đạn và thuốc chữa bệnh; Người tỏ lời cảm ơn và mong sau này được người Mĩ giúp đỡ nhiều hơn.

Sau đó, Hồ Chí Minh rời Côn Minh về đến Cao Bằng vào đầu tháng 5.1945. Người đã nói với Đồng chí Võ Nguyên Giáp cần chọn một địa điểm trung tâm ở Việt Bắc, thuận tiện cho việc liên lạc với miền xuôi, miền ngược và ra nước ngoài. Tân Trào (Tuyên Quang) là chỗ thích hợp nhất đã được lựa chọn. Cùng đi về Tân Trào có hai người Mĩ là Phơranki Tan (người Mĩ gốc Hoa) và Măcxim - những người được Salơ Phen cử theo Hồ Chí Minh để phục vụ liên lạc điện đài với lực lượng Đồng minh - quân Mĩ ở Côn Minh (Trung Quốc).

Ngày 16.7.1945, thiếu tá Tômat cùng với một số người Mĩ đã nhảy dù xuống là Kim Lung (Tuyên Quang) và được bố trí ở trên núi Tân Trào. Số người Mĩ này làm nhiệm vụ liên lạc với cơ quan đại diện của Mĩ ở Côn Minh và huấn luyện kĩ thuật sử dụng vũ khí cho một số cán bộ quân Giải phóng của ta ở Việt Bắc.

Người Mĩ đã cung cấp cho Việt Minh một số vũ khí, thuốc men bằng cách thả dù xuống căn cứ địa Việt Bắc hoặc đưa đến Nam Ninh (Trung Quốc) để sau đó chuyển vào Việt Nam.

Chiến tranh thế giới thứ hai sắp kết thúc. Ngày 6.8.1945, Mĩ ném quả bom nguyên tử đầu tiên xuống thành phố Hirôsima; tiếp đó, ngày 9.8.1945, Mĩ ném quả bom nguyên tử thứ hai xuống thành phố Nagaxaki. Liên Xô đã tuyên chiến và đập tan đội quân Quan Đông của Nhật ở Đông Bắc Trung Quốc. Ngày 15.8.1945, Chính phủ Nhật ra lệnh cho quân đội ngừng chiến đấu và đầu hàng không điều kiện.

Tin quân Nhật đầu hàng truyền đi khắp nước ta và thổi bùng ngọn lửa cách mạng của nhân dân ta lên cao chưa từng thấy. Quân đội Nhật ở Đông Dương như rắn mất đầu, bị tê liệt hoàn toàn. Ở Tân Trào, Hồ Chí Minh nói với Võ Nguyên Giáp: “Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hi sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”().

Từ ngày 13 đến ngày 15.8.1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng Cộng sản Đông Dương đã họp ở Tân Trào, đề ra chủ trương kịp thời lãnh đạo toàn dân khởi nghĩa giành chính quyền và cử ra Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc.

Sau đó, Đại hội Quốc dân cũng họp ở Tân Trào. Đại hội đã quyết định thành lập Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam, tổ chức tiền thân của Chính phủ lâm thời, do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Sau Đại hội Quốc dân ở Tân Trào, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư kêu gọi đồng bào cả nước nổi dậy Tổng khởi nghĩa giành chính quyền, Người nói: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc đã đến. Toàn quốc dân đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà giải phóng cho ta. Nhiều dân tộc trên thế giới đang ganh nhau tiến bước giành độc lập. Chúng ta không thể chậm trễ”(3).

Ngày 19.8.1945, cuộc Tổng khởi nghĩa đã giành thắng lợi rực rỡ ở thủ đô Hà Nội, tiếp đó là thắng lợi ở Huế ngày 23.8, thắng lợi ở Sài Gòn ngày 25.8 và trong phạm vi cả nước chính quyền đã về tay nhân dân.

Ngày 2.9.1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam mới đọc bản Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình lịch sử. Người tuyên bố Việt Nam: “thoát li hẳn quan hệ thực dân với Pháp, xó bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã kí về Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam”(4).

Người cũng đã tỏ lòng tin “rằng các nước Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các hội nghị Têhêran và Cựu Kim Sơn quyết không thể không công nhận quyền độc lập của Việt Nam”(5).

Tóm lại, có thể nói giai đoạn lịch sử 1941-1945 chứa đầy những sự kiện lớn làm rung chuyển toàn thế giới. Cuộc chiến tranh thế giới thứ hai như một trận cuồng phong đã cuốn hút trên 70 nước với hàng trăm triệu người khắp năm châu vào cuộc chiến lửa đạn mịt mù.

Công lao vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh là trong cơn bão tố chiến tranh đó, bằng nhãn quan chính trị sắc bén và sự phân tích một cách khoa học chính xác, Người đã thấy được xu thế phát triển của tình hình quốc tế và trong nước một cách sáng suốt. Từ căn cứ địa Việt Bắc, Hồ Chí Minh đã chủ động liên hệ với lực lượng Đồng minh chống phát xít để tăng cường thế và lực của cách mạng Việt Nam tiến lên giải phóng dân tộc. Trong giai đoạn lịch sử sôi động này của đất nước, Hồ Chí Minh đã kiên trì gắn cách mạng nước ta với cách mạng thế giới, gắn sức mạnh của dân tộc với sự ủng hộ của lực lượng Đồng minh chống phát xít Nhật, giải phóng đất nước. Vì vậy, khi thời cơ đến vào giữa tháng 8.1945, chỉ trong vòng một tuần lễ, cả dân tộc ta đã vùng lên giành chính quyền trong phạm vi cả nước. Từ đây, đất nước ta bước sang một kỉ nguyên mới, nhà nước Việt Nam mới được ra đời với chính thể cộng hòa dân chủ, phấn đấu cho mục tiêu cao cả - khát vọng ngàn đời của dân tộc ta là độc lập cho đất nước, tự do và hạnh phúc cho nhân dân.


(1) Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh: Hồ Chí Minh - biên niên tiểu sử, tập 2, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gian, Hà Nội, 1993, tr. 220.
(2) Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử. Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1977, tr. 208.
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 3, sđd, tr. 380.
(4) Hồ Chí Minh: Tuyên ngôn Độc lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1975.
(5) Hồ Chí Minh: Tuyên ngôn Độc lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, sđd.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM