Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 29 Tháng Chín, 2020, 09:18:02 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: BTTM Xô viết trong chiến tranh-Tập 2  (Đọc 100077 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #200 vào lúc: 01 Tháng Hai, 2016, 03:13:54 pm »


*
* *

Khi còn đang diễn ra những trận đánh chiếm thành Viên, chúng ta chưa có điều kiện để phân tích các nguyên nhân thất bại của cuộc khởi nghĩa chống phát-xít đã được chuẩn bị trong thành phố, nhưng sau khi giải phóng thủ đô nước Áo thì vấn đề đó lại được đặt ra. Chúng ta được biết là ngày 15 tháng Tư, tức hai ngày sau khi giải phóng thủ đô Viên, có hai nhân vật tự xưng danh, một là chủ tịch và một là ủy viên ban chấp hành trung ương của phong trào Kháng chiến ở Áo — tổ chức «Nước Áo, hãy thức dậy» — tới gặp đồng chí tư lệnh quân quản thành phố. Họ tuyên bố rằng, trước đây họ là các sĩ quan trong quân đội Áo - Hung và hình như đã bị ngồi tù lâu ở các trại tập trung Đa-khau và Bu-khen-van của bọn phát-xít Đức, nhưng rồi họ đều nhờ chính tay bọn Hít-le mà thoát khỏi các trại tập trung. Theo lời kể của họ thì tổ chức này có công lớn trong cuộc đấu tranh chống bọn quốc xã.

Việc xuất hiện các nhân vật trên nhắc nhở chúng ta cần phải kiểm tra hoạt động của tổ chức đó. Chúng ta được biết, tổ chức này đặt trụ sở trong một ngôi nhà lớn ở Viên, trước mặt căn nhà có biển ghi cho biết đây là bộ tham mưu của các lực lượng Kháng chiến Áo. Tổ chức này cấp cho các hội viên những giấy chứng chỉ có đóng dấu.

Chủ nhân của ngôi nhà là một thành viên trong bộ tham mưu, có hàm nam tước, phục vụ trong quân đội Hít-le. Nhưng theo lời kể của y, thì y đã năm lần ngồi trong nhà tù của bọn Giét-xta-pô và cũng đã năm lần thoát khỏi nhà tù. Một thành viên khác trong bộ tham mưu là một hoàng thân, cũng đã từng phục vụ trong quân đội phát-xít Đức với quân hàm trung úy. Còn lai lịch quá khứ của nhiều nhân vật khác cũng đều có tính chất lập lờ như vậy. Chúng ta còn phát hiện thấy rằng, không một ai trong bọn họ có liên lạc với các nhóm Kháng chiến trong các xí nghiệp hoặc với phong trào khởi nghĩa. Chúng ta còn thấy rằng những kẻ cầm đầu tổ chức này không được nhân dân ủng hộ, tuy thế họ đã có những mưu toan từ trước, một khi Viên được giải phóng thì họ sẽ cướp lấy chính quyền. Chúng ta còn xác định được cả một số kẻ trong bọn họ đã tung ra những lời đồn đại, vu khống các chiến sĩ Liên Xô nhằm phá hoại uy tín của Hồng quân trong nhân dân.

Về sau này, chúng ta lại phát hiện thêm những tin tức còn quan trọng hơn là; tổ chức nói trên khi được thành lập đã được tình báo Mỹ A-len Đa-lét biết trước và giúp đỡ. Những kẻ cầm đầu tổ chức được Đa-lét ủng hộ, nhằm mục đích sẽ đứng ra cầm đầu các nhóm dân chủ ở các địa phương và nắm lấy quyển lãnh đạo phong trào Kháng chiến khi Viên được Hồng quân giải phóng. Còn sau này, để phục vụ các quyền lợi của Mỹ, bọn họ sẽ củng cố lập trường của các nhóm bảo thủ ở Áo và đảm bảo cho họ điều kiện để tiến tới điều khiển nước Áo. Những kẻ chủ mưu đó còn có ý định tách những đảng viên cộng sản ra khỏi phong trào Kháng chiến...

Những người hoạt động của tổ chức đó tiếp xúc với các giới trong chính phủ Pháp và Anh, đề nghị Pháp và Anh công nhận họ là «đại biểu duy nhất của mọi đảng phái, mọi nhóm Kháng chiến ở Áo và nói chung là của nhân dân Áo»1.

Những kẻ cầm đầu của nhóm nói trên đến gặp đồng chí tư lệnh quân quản thành phố Viên là để làm theo nguyên tắc: rèn thép khi còn nóng, đòi chúng ta thừa nhận công lao của họ, nói một cách khác là tính chất hợp pháp của các yêu sách của họ về địa vị lãnh đạo ở thủ đô nước Áo và trong cả nước nói chung. Để thực hiện điều đó, họ còn tự mệnh danh là ban chấp hành trung ương của phong trào Kháng chiến của Áo. Dù công việc lúc này phải nói là đang ngập tới tận cổ, nhưng đồng chí tư lệnh quân quản thành phố cũng đã tìm hiểu được thực chất của vấn đề.

Những người nêu trên còn cho biết là trong tổ chức của họ còn có một nhóm quân sự do thiếu tá Các Xô-côn đứng đầu. Họ đề cập tới cả vấn đề khởi nghĩa bị «thất bại» (theo như họ nói) trước đây.

Sau buổi nói chuyện đó, chúng ta được rõ là vì sao những người chống phát-xít đã hy sinh thân mình vượt qua lửa đạn đến đặt quan hệ với chúng ta, lại không thể phát động được cuộc khởi nghĩa ở Viên. Họ đã trở thành nạn nhân của lòng tin đối với những kẻ cầm đầu nhóm này. Những kẻ cầm đầu đang theo đuổi mục đích trái ngược với quyền lợi của những người Kháng chiến.
__________________________________
1. X. I. Vô-rô-si-lốp. Thành lập nên cộng hòa thứ hai ở Áo, 1968, tr. 41.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #201 vào lúc: 01 Tháng Hai, 2016, 03:14:52 pm »


Vào nửa cuối tháng Tư 1945, khi sắp bắt đầu mở cuộc tiến công quyết định vào Béc-lin, đặc điểm các sự kiện diễn ra ở nước Áo bấy giờ là đang bình thường hóa đời sống trong nước. Trong những ngày ấy, Bộ tổng tham mưu chúng tôi không chỉ nhận được những văn kiện có tính chất tác chiến-quân sự, mà còn cả những văn kiện có tính chất chính trị nữa. Cùng với việc giải phóng Viên, ở đây cũng đã xây dựng được những cơ sở hoạt động vững chắc hơn của các tổ chức dân chủ ở Áo. Các Ren-ne đã bắt đầu thực hiện các biện pháp thiết thực để thành lập Chính phủ lâm thời. Ông ta tỏ ra rất khéo léo về mặt chính trị, biết lợi dụng các đặc điểm của tình hình chiến tranh và không tiếc lời hứa hẹn trang trọng về tương lai. Nổi bật về mặt này là bức thư của C. Ren-ne gửi cho I. V. Xta-lin ngày 15 tháng Tư.

Đọc những dòng đầu của bức thư ấy, chúng tôi trong Bộ tổng tham mưu không nhịn được cười: Ren-ne ra sức nhấn mạnh việc mình trước đây tham gia phong trào cách mạng, trước hết là báo tin mình có những chỗ quen biết cá nhân «với nhiều chiến sĩ cách mạng tiên tiến Nga». Các mối quan hệ của ông ta cũng có những nét đặc sắc của nó, là nếu như chỉ có một lần ông ta được gặp V. I. Lê-nin trong một cuộc họp, thì với Tơ-rốt-xki và Ri-a-da-nốp, ông ta lại đã có quan hệ lâu dài. «Thế nhưng, cho đến nay, tôi vẫn chưa được dịp làm quen với cá nhân Ngài, đồng chí thân mến», — Ren-ne đã sử dụng danh từ «đồng chí» hết sức thân thiết với chúng ta và do đó có ý nói tới sự «gần gũi» về mặt tư tưởng với Xta-lin, mặc dầu lúc đương thời, trong cuốn «Chủ nghĩa Mác và vấn đề dân tộc» Xta-lin đã đập tơi bời các quan điểm của Ren-ne về vấn đề dân tộc.

Tuy vậy, quả thật trong bức thư của Ren-ne khó mà phân biệt được đâu là sự chân thành khâm phục sứ mệnh giải phóng của Hồng quân và đâu là sự xu nịnh vụ lợi. Chúng ta hãy xem hồi đó ông ta đã viết:

«Tôi và gia đình tôi được gặp Hồng quân tại nơi trú ngụ của mình ở Glô-gơ-nít (gần Vi-ne Nây-stát), nơi mà tôi và các đồng chí trong đảng tràn đầy lòng tin chờ đợi cái ngày đó. Bộ chỉ huy địa phương đối xử với tôi rất mực tôn trọng, đặt ngay tôi vào phạm vi được bộ chỉ huy bảo vệ, và trao lại cho tôi quyền được tự do hoạt động mà tôi buộc phải đau lòng từ bỏ nó trong thời kỳ chủ nghĩa phát-xít của Đôn-phút và Hít-le. Tôi hết lòng cảm kích được nhân danh cá nhân mình và thay mặt giai cấp công nhân Áo, chân thành ngỏ lời cảm ơn Hồng quân và cảm ơn Ngài, Ngài Tổng tư lệnh tối cao đây quang vinh».

Tiếp theo, Ren-ne khá thẳng thắn đề nghị giao cho ông ta quyền lãnh đạo đất nước. «Số phận đã run rủi, — ông ta viết, — cho tôi là người đầu tiên trong số những ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng xã hội - dân chủ còn ở lại trong nước, được nhận lại quyền tự do hoạt động. Đồng thời tôi còn có một hoàn cảnh may mắn khác nữa là với tư cách một vị chủ tịch cuối cùng của quốc hội nhân dân tự do, tôi có thể tự cho mình có quyền phát biểu thay mặt nhân dân Áo. Lại còn một lợi thế nữa của tôi là với tư cách thủ tướng đầu tiên của nước Cộng hòa Áo, tôi được ủy quyền tiến hành cải cách các cơ sở nhà nước trong việc tổ chức quản lý xã hội, do đó có thể tin cậy tôi trong việc khởi xướng và lãnh đạo sự nghiệp thức tỉnh nước Áo».

Nhận được những sự giúp đỡ cần thiết từ bộ đội của Tôn-bu-khin, Các Ren-ne viết: «Không có sự giúp đỡ của Hồng quân thì tôi không thể làm nên việc gì hết. Vì vậy, không riêng tôi mà cả «nền Cộng hòa Áo thứ hai» mai sau và giai cấp công nhân của nó phải mãi mãi biết ơn Ngài, thưa Ngài Nguyên soái, và biết ơn quân đội chiến thắng của Ngài».

Phần tiếp sau bức thư đề ngày 15 tháng Tư 1945 của Ren¬-ne là các ý kiến đề nghị. Ví dụ như, ông ta viết: «Chế độ Hít-le đã hãm chúng tôi vào tình trạng vô cùng hèn yếu. Chúng tôi sẽ bất lực đứng ở ngưỡng cửa các cường quốc lớn, khi mà châu Âu đang thực hiện những công cuộc cải cách. Hôm nay đây, tôi đề nghị Ngài tại hội nghị của những nước lớn, hãy rộng lòng quan tâm đến nước Áo, và nếu như lại có hoàn cảnh bi thảm nào xẩy tới thì mong Ngài lại hãy đặt chúng tôi dưới sự bảo vệ hùng cường của Ngài. Ngày nay, nạn đói và nạn dịch đang đe dọa chúng tôi, nạn mất đất những khi có cuộc đàm phán với các nước láng giềng cũng đang đe dọa chúng tôi. Ở dãy núi An-pơ sỏi đá này, hiện chúng tôi có rất ít đất đai canh tác, đất đai ấy chỉ cung cấp cho chúng tôi một ít thức ăn hàng ngày. Nếu lại mất đi một phần đất nữa thì chúng tôi không thể sống nổi».

Nói tiếp những suy nghĩ của mình, Các Ren-ne đụng tới các nước đồng minh của chúng ta: «Những người chiến thắng không thể có ý định để chúng tôi sống bắt lực. Thế nhưng phương Tây, như năm 1919 đã chứng minh, lại đã tỏ ra thiếu quan tâm đến việc bảo đảm cho chúng tôi những tiền đề tự chủ».

Cuối thư, là lời tuyên bố chính trị: «...Nhờ có sự phát triển hùng hậu của nước Nga mà nhân dân chúng tôi mới thấu hiểu tính chất lừa bịp của hai chục năm tuyên truyền của bọn quốc xã và vô cùng kinh ngạc trước những thành tựu to lớn của Liên Xô. Đặc biệt là giai cấp công nhân Áo tin tưởng hết lòng đối với các nước Cộng hòa xô-viết. Những người xã hội - dân chủ Áo sẽ hợp tác anh em với Đảng cộng sản và sẽ cùng nhau làm việc trên quyền bình đẳng để phục hồi nền Cộng hòa».

Nói về mối quan hệ của giai cấp công nhân Áo và tuyệt đại đa số nhân dân Áo với Liên Xô, Ren-ne rõ ràng là đã phản ánh đúng tinh thần hồi đó ở nước Áo.

I. V. Xta-lin trả lời C. Ren-ne: «Xin cảm ơn Ngài, đồng chí rất kính mến, về bức thư của Ngài gửi cho tôi ngày 15 tháng Tư. Ngài có thể tin chắc rằng, sự quan tâm của Ngài đến nền độc lập, toàn vẹn lãnh thổ và sự phồn vinh của nước Áo cũng chính là sự quan tâm của tôi». Đồng chí hứa sẽ sẵn sàng chi viện cho Áo mọi thứ tùy theo sức và theo khả năng.

Cuối tháng Tư, ở Áo đã thành lập Chính phủ lâm thời do Các Ren-ne đứng đầu, thành phần chính phủ có cả các đảng viên cộng sản. Được sự giúp đỡ của Liên Xô, ngày 15 tháng Năm 1955, ở Viên đã ký kết Hiệp ước quốc gia, củng cố nền trung lập và độc lập của nước Áo.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #202 vào lúc: 01 Tháng Hai, 2016, 03:15:53 pm »


*
* *

Ngay sau khi giải phóng Viên, việc đặt ra cần phải giải quyết là vấn đề quản lý thành phố. Tưởng chừng như đây không phải là công việc của Bộ tổng tham mưu, nhưng trong thời kỳ ấy, Bộ tổng tham mưu lại phải phụ trách. Chúng tôi biết rằng trong số 7 triệu dân Áo thì có tới 1 triệu rưỡi tập trung ở Viên. Trong thời gian đầu, chính quyền quân sự của ta lại phải quan tâm giải quyết vấn đề thức ăn và các nhu cầu khác.

Bộ tổng tham mưu cho rằng chính quyền quân sự, đặc biệt là đồng chí tư lệnh quân quản thành phố có thể giải quyết các nhiệm vụ quản lý Viên. Chúng tôi đề cử tướng A. V. Bla-gô-đa-tốp, phó tư lệnh tập đoàn quân 57 đảm nhiệm chức vụ này. Chúng tôi nói chuyện bằng điện thoại với Ph. I. Tôn-bu-khin, đồng chí tán thành ý kiến đó, rồi sau đây lập thành văn kiện để đệ trình lên Đại bản doanh. Nhưng Bộ tổng tư lệnh tối cao lại không đồng ý với các ý kiến của Bộ tổng tham mưu và bộ tư lệnh phương diện quân. Các đồng chí giải thích rằng, đề nghị của chúng tôi gửi lên chưa cân nhắc kỹ tới việc các vấn đề sinh hoạt trong nội bộ nước Áo, kể cả Viên, phải do chính người Áo giải quyết. Nếu như ở thủ đô nước Áo lại chỉ có chính quyền quân sự của Liên Xô thì như vậy sẽ trái với chính sách của Liên Xô cũng như những lời tuyên bố của Chính phủ Liên Xô về vấn đề nước Áo. Hơn nữa, chính quyền quân sự không thể phát huy được tính chủ động của nhân dân nhằm khôi phục các điều kiện sinh hoạt bình thường của thành phố ở mức độ mà một tòa thị chính Áo có uy tín, nắm vững mọi chi tiết về các điều kiện ở địa phương mình, có thể đảm đương được. Đó cũng chính là thực chất chính sách của Liên Xô đối với nước Áo đã được giải phóng: phải phát huy được tính chủ động và bình thường hóa sinh hoạt của nhân dân.

Chính vì lẽ đó mà các thành viên của Chính phủ Liên Xô và của Đại bản doanh Bộ tổng tư lệnh tối cao đã triệu tập phiên họp thường kỳ ở điện Crem-li chủ trương kiên quyết đề cử người Áo ra đảm nhiệm việc lãnh đạo Viên. Nhưng vì Tôn-bu-khin và cả C. Ren-ne lúc này đã bắt đầu thành lập Chính phủ lâm thời ở Áo, vẫn chưa đề cử người đứng ra làm thị trưởng thành phố Viên, nên Đại bản doanh có gửi cho Tôn-bu-khin bức điện sau: «Không thể để Viên không có thị trưởng. Cứ để cho những người có uy tín ở Áo thỏa thuận với nhau để đề cử người làm thị trưởng, còn đồng chí chí thông qua mà thôi». Vấn đề Viên tự quản và sự tham gia của chính quyền Áo trong việc lựa chọn thị trưởng Viên đã được giải quyết như thế đấy. Một thời gian sau, tướng Áo Kéc-ne ra làm thị trưởng Viên. Các tầng lớp nhân dân Áo đều tán thành việc đề cử ông ta làm thị trưởng. Kéc-ne là đảng viên đảng xã hội-dân chủ và trước đây, ông không thừa nhận chính quyền độc tài của bọn Đức quốc xã. Ông ta công khai phát biểu ý kiến về điều đó, nên đã bị bọn Hít-le bắt giam. Trước khi bộ đội Liên Xô tiến vào giải phóng Viên, ông ta còn đang bị ngồi tù. Ngay khi ở trong tù, ông ta vẫn tỏ ra là người yêu nước Áo và chống phát-xít. Ông ta là người ưa hoạt động, không phải chỉ am hiểu lĩnh vực quân sự, mà am hiểu cả những vấn đề chính trị phức tạp khác. Ông ta có uy tín lớn ở Viên. Tướng A. V. Bla-gô-đa-tốp, tư lệnh quân quản thành phố Viên, sau này làm việc có quan hệ chặt chẽ với thị trưởng Viên, đã báo cáo về ông ta là «một con người có tiếng là trung thực».

Thượng tướng A. I. Se-bu-nin, phó của Tôn-bu-khin, phụ trách về hậu cần, đã cộng tác tích cực với thị trưởng Viên. Se-bu-nin là một đảng viên cộng sản lâu năm, đã trải qua trường đời và trường quân sự, là người tổ chức giỏi về công tác hậu cần, nên rất thích hợp với công tác ở Viên. Se-bu-nin giải quyết tốt việc cung cấp lương thực cho nhân dân Viên, còn Kéc-ne cũng là một nhà hoạt động kinh tế xuất sắc, nên đã tìm mọi cách giúp đỡ các bạn đồng nghiệp Liên Xô.

Trong thời kỳ đầu ở thành phố Viên được giải phóng, chúng ta đã xây dựng chế độ làm việc: các bộ trưởng trong Chính phủ lâm thời Áo thường xuyên trao đổi với bộ tư lệnh và Hội đồng quân sự phương diện quân, để tìm mọi cách giải quyết tốt nhất các công việc khẩn cấp. Tất nhiên, những người Áo đưa ra nhiều đề nghị, và thông thường các đề nghị ấy đều có căn cứ và được thỏa mãn. Mọi công việc phục hồi được triển khai ở Viên và trong cả nước. Trong những năm chiến tranh những người xây dựng phải tạm gác nghề của mình, nay lại bắt tay vào công việc xây dựng. Ở Viên, đồng chí tư lệnh quân quản Liên Xô thường hay đến thăm các công trường xây dựng, nói chuyện với công nhân, giúp đỡ xe vận tải cho chính quyền địa phương, một số nơi còn được giúp cả sức lao động nữa.

Tướng Se-bu-nin còn phải giải quyết cả những vấn đề thật rắc rối. Nhưng, đồng chí là người am hiểu về lĩnh vực này, nên ít khi phạm phải thiếu sót. Song dẫu sao thì một đôi lần Kéc-ne cũng thấy ở Se-bu-nin có những thiếu sót. Đó là vấn đề cung cấp muối cho nhân dân thành phố. Se-bu-nin đã tính toán đủ số muối cần thiết cho nhân dân Viên và ra lệnh chở tới Viên. Nhưng ít lâu sau, Kéc-ne lại đề nghị xin thêm muối. Se-bu-nin băn khoăn hỏi lại thị trưởng Viên để tìm hiểu sự việc, và buộc phải thừa nhận thiếu sót của mình: hóa ra là đồng chí chưa tính đến số muối cần thiết cho việc làm bánh mì. Sự việc tuy nhỏ, nhưng nó chứng tỏ mối quan hệ thiết thực tốt đẹp giữa các đại biểu của Bộ chỉ huy Liên Xô với chính quyền Áo ở thành phố Viên vừa được giải phóng...

Bộ chỉ huy Liên Xô đã làm nhiều việc để khôi phục cuộc sống bình thường của nhân dân Áo đã được giải thoát khỏi ách thống trị phát-xít Hít-le. Để kết luận, tôi muốn nhấn mạnh một điều là tất cả những sự việc trên đã diễn ra khi mà những người dân Liên Xô phải chịu đựng thiếu thốn, sống bằng khẩu phần rất ít ỏi của mình, bởi vì các khu vực kinh tế ở phía Tây Liên Xô đã bị kẻ thù phá hoại nặng.

Việc bình thường hóa sinh hoạt của các nước đã được giải phóng khỏi bọn chiếm đóng Hít-le tiến hành đồng thời với việc chỉ đạo các hành động chiến đấu là một việc không đơn giản. Nó đòi hỏi những người có trách nhiệm phải thường xuyên ra sức giải quyết. Ph. I. Tôn-bu-khin, A. X. Giên-tốp và các cán bộ lãnh đạo khác của phương diện quân phải có một hệ thần kinh vững vàng và phải hết sức chú ý để nắm vững những vấn đề rất tế nhị, phức tạp ở địa phương. Điều đặc biệt khó khăn là lúc đó Ph. I. Tôn-bu-khin không được khỏe. Hầu như mỗi lần Bộ tổng tham mưu báo cáo về tình hình ngoài mặt trận, khi nói đến phương diện quân U-crai-na 3, thì I. V. Xta-lin hoặc đồng chí nào đó trong Đại bản doanh lại ân cần hỏi thăm sức khỏe của đồng chí tư lệnh. Nhiều nguyên soái, tướng lĩnh khác của chúng ta, những người hồi đó phải gánh vác nhiều công việc quá sức mình, cũng đều bị yếu sức. Nhưng trong những năm chiến tranh, các đồng chí đó đều rất ít nghĩ tới bản thân mình.

Khi kết thúc chiến tranh, bộ đội phương diện quân U-crai-na 3 vẫn tiến hành chiến đấu trên lãnh thổ Áo, chống các đơn vị Hít-le còn trụ lại ở các vùng rừng núi phía Tây nước Áo. Tại đây có một cánh quân địch với khoảng 450.000 tên, về mặt quân số đứng hàng thứ hai sau cụm tập đoàn quân «Trung tâm». Trên các tuyến đó, giờ chiến thắng mong đợi bấy lâu nay đã đến với người chiến sĩ xô-viết. Song, đã có tới trên 26.000 chiến sĩ và sĩ quan Liên Xô không được sống tới ngày tươi sáng ấy, họ phải trả giá bằng sinh mạng của mình ngay trước ngày nước Áo hoàn toàn được giải phóng...
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #203 vào lúc: 01 Tháng Hai, 2016, 06:34:03 pm »


CHƯƠNG MƯỜI MỘT
Hướng thứ yếu


Hướng thứ yếu nghĩa là thế nào. — Phần Lan đề nghị và từ chối đình chiến. —
C. A. Mê-rét-xcốp tại phương diện quân Ca-rê-li-a. —
Những cuộc hội đàm không chính thức ở Mát-xcơ-va. —
Chúng ta chuẩn bị tiến công. — Tiêu diệt. — Những cuộc hội đàm chính thức. —
Giải phóng Da-pô-li-a-ri-ê và miền Bắc Na Uy. — Đảo Bô-ri-khôm.


Những người làm công tác quân sự thường có khái niệm về hướng đột kích chủ yếu. Những nhiệm vụ chủ yếu của chiến tranh, chiến dịch hoặc chiến đấu đều được giải quyết ở đây; các lực lượng và phương tiện, hơn nữa lại là những thứ tốt nhất, đều được tập trung vào đây nhiều hơn, đồng thời đó cùng là hướng được đặc biệt chú ý đến. Bất kỳ người chiến sĩ, sĩ quan hoặc cán bộ chỉ huy nào cũng đều muốn chiến đấu trên hướng chủ yếu. Còn trên hướng thứ yếu, nhiệm vụ ít quan trọng hơn, lực lượng và phương tiện ít hơn, và cũng ít được chú ý hơn. Nhưng chiến đấu ở đây thật không dẽ dàng, thậm chí còn có thể khó khăn hơn.

Sườn phía Bắc của mặt trận Xô-Đức, kéo dài gần 1.600 ki-lô-mét, lại chính là hướng thứ yếu đó. Vòng Cực vô hình chung chia vùng này ra làm hai phần không cân bằng và không giống nhau. Ca-rê-li-a là miền có những buổi bình minh êm ả, rừng cây cổ thụ và những hồ nước trong xanh. Còn Da-pô-li-a-ri-ê là miền đài nguyên, cao nguyên cằn cỗi, lởm chởm đá cùng với những đồi núi lạnh lùng, những hồ rộng và sông chảy xiết thông ra biển. Đêm dài thăm thẳm chuyển sang ngày dài đằng đẵng. Thiên nhiên khắc nghiệt, thậm chí đến mặt trời cũng không thể nung chảy được lớp băng vĩnh cửu. Nhưng bờ biển Muốc-man-xcơ, có dòng hải lưu nóng, lại nhộn nhịp suốt năm, đưa tàu đi và đón tàu về.

Hai miền láng giềng này không giống nhau, mỗi miền lại có những của cải phong phú riêng như: gỗ, cá, kim loại...

Bộ chỉ huy Hít-le đã tính toán đến tầm quan trọng về mặt kinh tế và ý nghĩa chiến lược to lớn của chiến trường này đối với đất nước chúng ta trong các kế hoạch chiến tranh của chúng. Chúng đã đánh giá đúng vai trò giao thông đường biển và đường sắt của chúng ta chạy tới Muốc-man-xcơ. Vì vậy, ngay khi mới bắt đầu chiến tranh, vào cuối tháng Bảy 1941, quân địch đã triển khai tiến công lớn trên mọi khu vực tại hướng này ở bên sườn phía Bắc mặt trận Xô - Đức.

Tập đoàn quân 20, gọi là tập đoàn quân Láp-lan-đi của Đức, được huấn luyện tác chiến đặc biệt trong các điều kiện phức tạp ở phía Bắc, đã tiến tới miền duyên hải không đóng băng của biển Ba-ren, tới Muốc-man-xcơ và Bê-lô-mô-ri-e. Các đơn vị Phần Lan tiến công dọc theo những con đường hẹp bất lợi ở Ca-rê-li-a. Quân địch vọt lên phía trước, hy vọng chiếm được Da-pô-li-a-ri-ê và các đường sắt dẫn đến đó.

Ưu thế lực lượng trên khu vực đường bộ của mặt trận phía Bắc hồi đó thuộc về quân địch. Sau những trận đánh quyết liệt, mặc dù bị thiệt hại nặng, song, quân Đức và quân Phần Lan vẫn tiến được tới Ư-khơ-ta, Ru-gô-de-rơ, chiếm được Mét-ve-gie-gô-rơ-xcơ và Pê-tơ-rô-da-vốt-xcơ, vượt sông Xvia và xây dựng được căn cứ bàn đạp bên bờ Nam con sông này. Cuộc tiến công của địch đến tuyến này thì bị chặn lại. Từ đó cho mãi tới tháng Sáu 1944, tướng M. A. Cra-xcô-vét, chủ nhiệm hướng của phương diện quân ngày nào cũng xác định rằng tuyến tiền duyên của bộ đội Liên Xô ở đây hầu như không có gì thay đổi.

Mặt trận ổn định hoàn toàn không có nghĩa là cuộc sống thanh bình, êm ả. Ở Mật trận Ca-rê-li-a cũng như ở khu vực của tập đoàn quân độc lập 7 giữa hai hồ Ô-ne-giơ và La-đô-ga, tại eo đất Ca-rê-li-a, nơi bộ đội của phương diện quân Lê-nin-grát đang phòng thủ thành phố trên sông Nê-va là Lê-nin-grát, thường xuyên xảy ra những trận đánh có ý nghĩa địa phương, những trận này luôn luôn gây căng thẳng cho quân địch, không cho chúng có thể rút bớt các lực lượng ở đây để sử dụng vào hướng chủ yếu.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #204 vào lúc: 01 Tháng Hai, 2016, 06:34:50 pm »


Các tàu của Hạm đội Bắc ngày đêm rẽ sóng trên biển Ba-ren chuyên chở hàng của các nước đồng minh, bảo đảm phòng thủ các tuyến phía Bắc của đất nước về mặt đường biển và về mặt đường không bằng không quân. Các chi hạm đội của ta hoạt động trên hai hồ La-đô-ga và O-ne-giơ.

Khoảng không gian rộng lớn và không thuận lợi cho con người dường như đã ngốn vào đây biết bao nhân lực và khí tài. Các khái niệm tác chiến thông thường về mật độ bố trí bộ đội ngoài mặt trận, được tính bằng số lượng ki-lô-mét cho một sư đoàn và bằng số lượng xe tăng, pháo và súng cối trên một ki-lô-mét chính diện, được thể hiện bằng công thức trong đó con số ban đầu nhiều khi đã vượt quá 100, còn số lượng pháo và xe tăng trên một ki-lô-mét được tính bằng những con số đơn. Ví dụ, vào thời kỳ thuận lợi nhất, trên 1.600 ki-lô-mét chính điện cũng chỉ có tất cả 22 sư đoàn (mỗi sư đoàn trên 73 ki-lô-mét). Nhiều vùng hoang vắng khác chỉ có những chi đội độc lập và các đội tuần tiễu.

Xe tăng ở đây không có đất để triển khai, nên ít được sử dụng, trừ một số hướng địa hình cho phép cũng chỉ được sử dụng có hạn, nhưng lại phải bảo đảm khá phức tạp về kỹ thuật và công trình.

Việc phòng thủ ở sườn Bắc thực hiện theo nguyên tắc hoạt động trên một chính diện rộng. Phương diện quân Ca-rê-li-a có ít lực lượng và phương tiện, nên phải cố xoay xở lấy, thường đề nghị Đại bản doanh chi viện. Tổng tư lệnh tối cao gọi phương diện quân là «người lúc nào cũng hay xin». Đồng chí hiểu các điều kiện chiến đấu, thông cảm với tình hình của phương diện quân, nhưng không cho thêm quân. Vì còn phải nghĩ đến các hướng khác, hướng chủ yếu của chiến tranh.

Các đơn vị ở đây bố trí thành các ổ đề kháng trên từng hướng, thường không tiếp giáp được với nhau. Thông thường là tiểu đoàn, đại đội, có khi là trung đội, bị tách rời khỏi các đơn vị khác, chốt một thời gian dài ở những điểm cao, đường qua rừng, đầm lầy và núi hoặc những mục tiêu quan trọng khác. Các đơn vị trên lại hoạt động trong những điều kiện rét buốt của những ngày đông giá lạnh, trong những đêm trường Bắc Cực, tuyết phủ miền Ca-re-li-a và núi đá miền Bắc, đầm lầy, muỗi rừng rất độc. Các đơn vị này đã khéo léo dựa vào những khoảng đất khô giữa các vũng lầy và các ghềnh chảy xiết để bắn và đánh giáp lá cà tiện hơn. Việc cung cấp cho bộ đội ở đây khó khăn và phức tạp hớn gấp bội so với các nơi khác.

Sau khi chắc chắn ngăn chặn được cuộc tiến công của địch ở sườn Bắc mặt trận Xô - Đức năm 1941, Đại bản doanh và Bộ tổng tham mưu không chú ý nhiều lắm tới chiến trường này nữa. Mọi suy nghĩ của các đồng chí đều tập trung vào việc tiêu diệt quân địch trên các hướng chiến lược chủ yếu, nơi quyết định kết cục cuộc chiến tranh thế giới thứ hai và là trận địa then chốt để thọc vào hang ổ của con thú phát-xít. Chúng ta cần phải tiêu diệt quân đội Đức, lực lượng chủ yếu của chủ nghĩa phát-xít. Hồi đó, Đại bản doanh cho rằng Phần Lan cũng giống như những nước chư hầu khác của nước Đức phát-xít, khi cây đã bị lìa khỏi gốc, ắt là cành cũng bị héo khô.

Cuối năm 1943, không ai còn ngờ vực đến vấn đề bước ngoặt của chiến tranh nữa. Mọi tính toán nhằm giành lại quyền chủ động đã mất của bộ chỉ huy Hít-le bị sụp đổ tan tành ở Cuốc-xcơ. Chiến lược tiến công của phát-xít Đức bị phá sản hoàn toàn.

Những thắng lợi của các Lực lượng vũ trang Liên Xô mở mắt cho các nhà chính trị và chỉ huy quân sự của nhiều nước về triển vọng sắp tới của chiến tranh. Các đồng minh của chúng ta hoạt động tích cực hơn, cho quân đổ bộ lên bán đảo A-pen-nin. Nước I-ta-li-a ở bên phía phát-xít Đức đã rút ra khỏi chiến tranh. Phong trào Kháng chiến phát triển rộng khắp ở nhiều nước châu Âu bị quân xâm lược phát-xít Đức chiếm đóng. Thời gian này, chủ yếu là các lực lượng của khối liên minh chống Hít-le giữ quyền chủ động tiến công trên đất liền và ở ngoài biển.

Hội nghị Tê-hê-ran của «Tam cường» (từ ngữ hồi đó chỉ Ph. Ru-dơ-ven, I. V. Xta-lin và U. Sớc-sin, đại biểu cho ba đại cường quốc đồng minh) đã thông qua những quyết định rất quan trọng về việc mở mặt trận thứ hai và các chiến dịch sau này.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #205 vào lúc: 01 Tháng Hai, 2016, 06:35:42 pm »


Đầu năm 1944, Hồng quân gặp nhiều thuận lợi. Trong chiến cục mùa đông, Hồng quân đã phá vỡ tuyến phòng thủ của quân Hít-le ở Lê-nin-grát, ở Hữu ngạn U-crai-na và ở Crưm. Chiến thắng vẻ vang của các chiến sĩ sao đỏ không phải chỉ tự bản thân nó có ý nghĩa quan trọng, mà lần này, những chiến thắng ấy còn có ý nghĩa làm phá sản chiến lược phòng ngự của quân đội Hít-le trên mặt trận Xô-Đức và mở ra thời kỳ mới trong quá trình chiến tranh. Giờ đây mọi người biết suy nghĩ đều thấy rằng Liên Xô có thể đánh tan địch ngay trên lãnh thổ mình bằng những lực lượng của chính mình, giải phóng các dân tộc đang bị chiếm đóng ở châu Âu và hoàn toàn tiêu diệt nước Đức.

Thế nhưng, viễn cảnh đang làm nức lòng các dân tộc trên toàn thế giới ấy lại khiến các đồng minh của chúng ta và kẻ thù phải sợ hãi. Các giới cầm quyền Mỹ và Anh sợ mất uy tín về mặt tinh thần và chính trị nên buộc phải thực sự chuẩn bị mở mặt trận thứ hai.

Phe cánh của nước Đức phát-xít dần dần bị suy yếu nghiêm trọng thêm: Phần Lan dao động.

Bộ tổng tham mưu nhận thấy sự rồi loạn trong hàng ngũ bọn tay sai Phần Lan của Hít-le hồi giữa tháng Hai 1944, khi phương diện quân Lê-nin-grát và Vôn-khốp đánh cho tập đoàn quân 18 của địch đại bại. Tập đoàn quân này vây hãm    Lê-nin-grát từ năm 1941. Bộ đội Liên Xô giải phóng được Nốp-gô-rốt và Lu-ga. Các chiến sĩ của phương diện quân Lê-nin-grát tiến ra phía sông Nác-va, ở đây có thành phố cùng tên Nác-va là khâu phòng thủ mạnh của phát-xít Đức. Các chiến sĩ của phương diện quân Vôn-khốp, sau này là của phương diện quân Pri-ban-tích 3, đánh ra Pơ-xcốp và Ô-xtơ-rốp.

Chính phủ Phần Lan hiểu rằng, sau khi tiêu diệt các đơn vị phát-xít Đức ở Lê-nin-grát và Nốp-gô-rốt, Hồng quân sẽ tiến đánh Phần Lan. Phần Lan không đủ lực lượng để chống cự lại cuộc tấn công này, còn các đơn vị Hít-le thì bị thiệt hại nặng trên các hướng chủ yếu, nên cũng không thể chi viện nhiều được. Do đó, hồi giữa tháng Hai 1944, Phần Lan bắt đầu tìm cách tiếp xúc với A. M. Cô-lôn-tai, đại sứ của ta ở Thụy Điển. Mục đích của những buổi tiếp xúc này nhằm tìm cách rút ra khỏi chiến tranh và rút ra khỏi khối liên minh với Hít-le. Chính phủ Phần Lan cử I-u. C. Pa-a-xi-ki-vi, một nhà hoạt động nổi tiếng và có những quan điểm tiến bộ của Phần Lan, sang Thụy Điển. Là đại biểu của Phần Lan, ông ta có nhiệm vụ tìm hiểu các điều kiện đình chiến của Chính phủ Liên Xô.

Tuy vậy, các nhà cầm quyền ở Phần Lan vẫn nuôi hy vọng sẽ cứu vãn được tình thế, nên họ cử I-u. Pa-a-xi-ki-vi sang Thụy Điển còn nhằm mục đích trì hoãn thời gian bắt buộc phải đầu hàng sau này.

Cũng hồi đó, vào đầu tháng Hai, Đại bản doanh Liên Xô đã quyết định: khi phương diện quân Vôn-khốp tiến tới các con đường dẫn tới Pơ-xcốp và Ô-xtơ-rốp thì bộ đội của phương diện quân sẽ chuyển sang các phương diện quân Lê-nin-grát và Pri-ban-tích 2, còn bộ tham mưu và các cơ quan chỉ huy khác thì sang phương diện quân Ca-rê-li-a và sẽ chỉ huy phương diện quân này. Biện pháp đó là rất cần thiết. Bộ tham mưu của phương diện quân Vôn-khốp là một tập thể đoàn kết chặt chẽ, nắm vững các điều kiện chiến tranh ở phía Bắc, có kinh nghiệm lãnh đạo các chiến dịch tiến công lớn hơn là bộ tham mưu của phương    diện quân Ca-rê-li-a trước đây.

Ngày 13 tháng Hai, phương diện quân Vôn-khốp được giải thể; tướng K. A. Mê-rét-xcốp, tư lệnh phương diện quân, được triệu tập về Đại bản doanh. I. V. Xta-lin đề nghị đồng chí làm tư lệnh phương diện quân Ca-rê-li-a. Sau cuộc nói chuyện, K. A. Mê-rét-xcốp tỏ ra cũng giống như mọi người khác, ai cũng đều mong ước được chiến đấu trên hướng đột kích chủ yếu. Tuy nhiên, khi hiểu ra, K. A. Mê- rét-xcốp đã đồng ý giữ cương vị này. Tổng tư lệnh tối cao trình bày ngắn gọn tình hình chính trị ở Phần Lan và nhận xét rằng, bản thân đồng chí không tin Phần Lan sẽ sớm rút khỏi chiến tranh. Xta-lin chỉ thị cho Mê-rét-xcốp cần sớm trở về phương diện quân và đặc biệt lưu ý tới vấn đề trinh sát địch. Đồng chí còn góp thêm một ý kiến riêng: Phần Lan bắt đầu đàm phán hòa bình, nên I. V. Xta-lin yêu cầu trước hết cần đánh vào các đơn vị của Hít-le.

Đi đôi với việc tiến hành các biện pháp tổ chức trên, chúng ta còn áp dụng một số biện pháp khác như: gây sức ép về tâm lý đối với Phần Lan, thúc họ bước vào đàm phán.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #206 vào lúc: 01 Tháng Hai, 2016, 06:36:44 pm »


Khoảng nửa đêm ngày 14 tháng Hai, I. V. Xta-lin chỉ thị cho Bộ tổng tham mưu truyền lệnh cho tướng L. A. Gô-vô-rốp, tư lệnh phương diện quân Lê-nin-grát, phải chiếm được thành phố Nác-va trước ngày 17 tháng Hai. «Tình hình quân sự và chính trị đòi hỏi như vậy, — Xta-lin nhấn mạnh. — Hiện nay đó là vấn đề chủ yếu nhất. Tôi yêu cầu đồng chí tìm mọi biện pháp cần thiết để giải phóng Nác-va, không được chậm quá thời hạn quy định».

Nội dung bức điện đã nói rõ là giải phóng bờ Nam vịnh Phần Lan khỏi quân đội Đức sẽ tạo thêm nhân tố không thuận lợi đối với tình hình quân sự của Phần Lan. Và ta còn phải thấy rằng, bọn phát-xít Đức cũng hiểu rất rõ ý nghĩa của Nác-va nên chúng ngoan cố bám giữ lấy nó.

Các điều kiện đình chiến do phía Liên Xô đề ra cho Phần Lan là những điều kiện tối thiểu. Nó quy định phải cắt đứt quan hệ với nước Đức và giam chân quân Đức ở lại Phần Lan. Nếu việc giam chân quân Đức trên lãnh thổ Phần Lan là một nhiệm vụ khó khăn đối với Phần Lan, thì Liên Xô sẽ giúp đỡ thực hiện vấn đề này. Một trong những yêu cầu của Liên Xô là quân đội Phần Lan phải rút về biên giới của mình đã được quy định năm 1940 và khôi phục lại đường biên giới ấy, phải trao trả ngay các tù binh của Liên Xô và tù binh của quân đội các nước đồng minh. Tất cả những vấn đề khác sẽ để lại giải quyết trong cuộc hội đàm ở Mát-xcơ-va.

Trong lúc đang tiến hành các cuộc đàm phán ngoại giao phức tạp, K. A. Mê-rét-xcốp, tiếp theo là bộ tham mưu của đồng chí, đến Bê-lô-mô-rơ-xcơ, nơi đặt sở chỉ huy của phương diện quân Ca-rê-li-a. Đồng chí tư lệnh mới là người rất cởi mở và ham hoạt động, đã bắt tay ngay vào việc một cách thoải mái. Thượng tướng V. A. Phơ-rô-lốp, trước đây là tư lệnh phương diện quân, vui vẻ làm phó cho Mê-rét-xcốp, nhanh chóng giới thiệu cho Mê-rét-xcốp nắm vững tình hình và những đặc điểm hoạt động của bộ đội.

Trung tướng T. Ph. Stư-cốp, một trong những cán bộ chính trị giàu kinh nghiệm nhất, làm ủy viên Hội đồng quân sự phương diện quân, mới đến phương diện quân này vừa một tháng rưỡi. Đồng chí cũng đang tìm hiểu tình hình và rất hăng hái đi củng với đồng chí tư lệnh xuống các đơn vị để nắm tình hình. Trung tướng B. A. Pi-ga-rê-vích là người đã đứng tuổi, làm tham mưu trưởng phương diện quân. Đồng chí am hiểu công tác tham mưu, nhưng tiếc là chưa nắm vững kinh nghiệm tổ chức và chỉ huy các chiến dịch tiến công lớn trong điều kiện phức tạp như ở phương diện quân Ca-rê-li-a này. Về sau đồng chí phải bàn giao chức tham mưu trưởng phương diện quân cho tướng A. N. Cru-chi-cốp, một người giàu nghị lực hơn và có trình độ tốt về mọi mặt. Trước đó, Cru-chi-cốp đã chỉ huy thắng lợi tập đoàn quân độc lập 7 là tập đoàn quân thuộc biên chế của phương diện quân Ca-rê-li-a từ mùa xuân năm 1944.

Giữa K. A. Mê-rét-xcốp và các tư lệnh tập đoàn quân có những mối quan hệ tốt đẹp. Trung tướng V. I. Séc-ba-cốp chỉ huy tập đoàn quân 14 ở phía Bắc, trung tướng G. C. Cô-dơ-lốp chỉ huy tập đoàn quân 19; thiếu tướng L. X. Xcơ-vi-rơ-xki chỉ huy tập đoàn quân 26; trung tướng Ph. Đ. Gô-rê-len-cô chỉ huy tập đoàn quân 32 và từ tháng Chín 1944, trung tướng V. A. Glu-dơ-dốp-xki chỉ huy tập đoàn quân 7.

K. A. Mê-rét-xcốp còn tới cả Hạm đội Bắc là hạm đội hiệp đồng với phương diện quân tại những khu vực ven biển khá dài. Chỉ huy Hạm đội Bắc trong thời gian ấy là phó đô đốc Ắc-xê-nhi Gri-gô-ri-ê-vích Gô-lốp-cô, một người giàu năng khiếu, giàu lòng vị tha đối với những người xung quanh, thông minh và nhiệt tình. Tháng Bảy 1940, đồng chí được cử giữ chức tư lệnh Hạm đội Bắc. Khi 34 tuổi, đồng chí đã thành một cán bộ hải quân xuất sắc, biết đánh giá tình huống và ra những quyết định có căn cứ trong những giờ phút hiểm nghèo. Những ai đã từng chiến đấu và làm việc với đồng chí đều yêu mến và kính trọng đồng chí vì sự thông minh, lòng nhiệt tình và nhân từ của đồng chí.

Nghiên cứu mặt trận, K. A. Mê-rét-xcốp nhớ đến nhiệm vụ của Tổng tư lệnh tối cao trực tiếp giao cho về công tác trinh sát. I. V. Xta-lin không ưa báo cáo chậm trễ hoặc trì hoãn, mọi người cần phải nhớ đến điều đó. Tổng tư lệnh tối cao lại hay đặt những câu hỏi đột ngột, nên đây cũng là một việc thật khó khăn. Trong tháng Ba, hoạt động trinh sát của phương diện quân Ca-rê-li-a thu được những kết quả quan trọng. Các tù binh khai rằng, tập đoàn quân Láp-lan-đi của Đức gồm có quân đoàn «Na Uy», quân đoàn bộ binh 36 và quân đoàn miền núi 18 đã chuyển về hướng mới, hướng U-khơ-ta, do việc mở rộng dải phòng ngự của quân đoàn miền núi 18. Một số sư đoàn Phần Lan được đưa về phía sau, có lẽ để làm lực lượng dự bị.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #207 vào lúc: 01 Tháng Hai, 2016, 06:37:09 pm »


Công tác trinh sát được tăng cường, nên đã có thể phát hiện ra những chỗ yếu trong tuyến phòng thủ của địch, và có thể mở những mũi đột kích đánh trúng vào những nơi ấy. Ví dụ, ngày 20 tháng Ba, trung đoàn trưởng trung đoàn bộ binh 94 thuộc sư đoàn bộ binh 21 trên hướng Can-đa-lắc-sa, phát hiện thấy ở phía trước có chừng một tiểu đoàn Đức vừa mới xây dựng xong các công sự bằng tuyết. Trung đoàn trưởng quyết định tiêu diệt địch ngay khi chúng chưa kịp trụ bám vững chắc. Sư đoàn trưởng chuẩn y quyết định đó. Ngay trong ngày hôm ấy, trung đoàn đã mở mũi đột kích nhanh, mạnh vào tiểu đoàn này, bao vây và tiêu diệt chúng. Các tù binh khai rằng, tiểu đoàn được lấy từ lực lượng dự bị, có nhiệm vụ ngăn cản không cho quân Nga mở đường tiến vào hướng A-la-cuốc-ti.

Những tin tức trinh sát nhận được khiến chúng ta phải suy nghĩ. Quân địch rõ ràng đang chờ đợi và chuẩn bị đối phó với cuộc tiến công của ta. Bọn Đức bảo hộ cho các nhà chính trị Phần Lan có lẽ không còn tin cậy vào họ như trước kia nữa. Sự kiện trung đoàn 94 tiêu diệt tiểu đoàn Đức nói trên đủ chứng minh cho vấn đề này. Có thể cho rằng Phần Lan chưa có ý định chấm dứt chiến tranh, nếu như các sư đoàn của họ rút về sau làm lực lượng dự bị.

Tuy nhiên, họ vẫn cử đoàn đại biểu gồm có I-u. Pa-a-xi-ki-vi, K. En-ke-li và Ô. En-ke-li tới đàm phán ở Mát-xcơ-va để tiếp nhận sự giải thích cụ thể của Liên Xô về các điều kiện đình chiến. V. M. Mô-lô-tốp tiến hành các cuộc hội đàm. Ngày hôm trước, đồng chí triệu tập tôi đến, thông báo cho biết tôi sẽ dự các cuộc hội đàm ấy và cần chuẩn bị đầy đủ để sáng mai, lúc 10 giờ sẽ tới văn phòng của đồng chí, không mặc quân phục.

Mọi việc có thể tốt đẹp, vì tôi đã nhớ kỹ tình hình của cả hai bên ngoài mặt trận, nắm được đầy đủ một số vấn đề quân sự có thể có liên quan tới quá trình công tác. Nhưng có một điều là... tôi không có quần áo thường phục! Bạn đọc ngày nay chắc hẳn ngạc nhiên lắm, nhưng quả thật hồi trước chiến tranh chúng tôi không nghĩ tới loại quần áo ấy, vì ngoài công tác, chúng tôi cũng không mặc thường phục. Hồi trẻ, ngay cả khi đi xem hát chúng tôi cũng đeo súng lục và gươm bên hông và rất lấy làm hãnh diện. Cố nhiên, trong thời gian chiến tranh mà nghĩ đến bộ thường phục thì thật là một điều đại bất kính. Nhưng bây giờ, lại cần đến nó... Đồng chí bộ trưởng Bộ dân ủy ngoại giao giúp đỡ tôi, ra lệnh phải gấp rút may cho tôi một bộ thường phục màu đen. Thế là một người đàn ông chững chạc đến chỗ tôi với dáng điệu một ông phù thủy, ông ta đo người tôi từ đầu đến chân, và chỉ trong một đêm, bộ quần áo đã được may xong, và tôi không cần phải thử...

Phía Phần Lan nhận được những điều giải thích chi tiết về các điều kiện đình chiến. Cuối tháng Ba, phái đoán Phần Lan trở về nước. Nhưng ngày tháng trôi qua, tin tức trả lời vẫn biệt tăm...
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #208 vào lúc: 01 Tháng Hai, 2016, 06:38:12 pm »


*
* *

Sau khi tìm hiểu bộ đội và cơ quan tham mưu của phương diện quân Ca-rê-li-a, K. A. Mê-rét-xcốp thấy cần phải huấn luyện thêm các phương pháp hiện đại về tiến hành tác chiến và chiến đấu tiến công.

Bộ tổng tham mưu rất lo lắng đến các cơ quan chỉ huy bộ đội, vì vấn đề chỉ đạo tiến công vững chắc và liên tục trên một chính diện rộng trong điều kiện ở Da-pô-ỉi-a-ri-ê hoặc ở Ca-rê-li-a là một vấn đề rất khó khăn. Khi K. A. Mê-rét-xcốp tới Mát-xcơ-va, chúng tôi nói thẳng cho đồng chí biết điều đó. Mê-rét-xcốp cũng nhớ điều đó và trong tháng Tư năm 1944, phương diện quân đã triển khai rộng rãi việc huấn luyện tiến hành tiến công cho bộ đội. Tất cả mọi người đều tham gia — từ người chiến sĩ đến cán bộ chỉ huy các cấp, bắt đầu từ cấp trung đội và kết thúc ở khâu toàn thể phương diện quân.

Chúng ta có thể nói nhiều lời tốt đẹp về K. A. Mê-rét-xcốp và các bạn chiến đấu của đồng chí, những người đã tỏ ra rất kiên trì trong công tác huấn luyện bộ đội. Tổ chức huấn luyện như vậy trong lúc bấy giờ là một công việc khá phức tạp và khó khăn, nhưng tiết kiệm cho chúng ta được nhiều xương máu trong các trận đánh sau này. Ngày 19 tháng Tư, chính phủ Phần Lan trả lời không thể tiếp nhận các điều kiện đình chiến do Liên Xô đưa ra. Các phần tử phản động trong chính phủ lên nắm quyền bính ở Phần Lan — Ri-u-ti, Ta-ne và những tên đầu sỏ khác cầu cứu các đại biểu của nước Đức phát-xít.

Do chính phủ Phần Lan từ chối các điều kiện đình chiến, nên Đại bản doanh và Bộ tổng tham mưu buộc phải xem xét lại vấn đề, trước hết là nên tiêu diệt quân Đức hay quân Phần Lan. Trong lần báo cáo thường kỳ ở Đại bản doanh về các mặt trận, khi đề cập tới vấn đề này, A. I. An-tô-nốp nói rằng: bây giờ sau khi Phần Lan đã từ chối các điều kiện đình chiến, có lẽ nên bắt đầu tiến công vào quân đội Phần Lan là quân đội yếu hơn, chứ không nên bắt đầu tiến công vào quân phát-xít Đức. Tổng tư lệnh tối cao đồng ý với ý kiến đó. Song, đồng chí chỉ thị nên tạo ra tình huống khiến quân địch cho rằng, bộ chỉ huy Liên Xô đang theo đuổi mục đích đánh chiếm khu vực Pét-xa-mô. Hành động như vậy, theo ý kiến I. V. Xta-lin, có thể làm cho Phần Lan mất cảnh giác, không chuẩn bị tích cực đối phó lại các đòn tiến công của bộ đội Liên Xô ở khu vực Pê-tơ-rô-da-vốt-xcơ và ở Lê-nin-grát.

Bộ tổng tham mưu vạch ra kế hoạch khá đơn giản để đánh lạc hướng địch. Kế hoạch ấy dự định biểu dương lực lượng chuẩn bị tiến công của bộ đội Liên Xô tại khu vực Pét-xa-mô, kết hợp với Hạm đội Bắc cho quân đổ bộ lên khu vực bờ biển tiếp giáp với Na Uy. Ngày 20 tháng Tư, mọi chỉ thị cần thiết nhằm đánh lạc hướng địch đã gửi cho tư lệnh phương diện quân Ca-rê-li-a và Hạm đội Bắc. Còn trong thực tế, mọi ý định của ta lại nhằm đánh vào khu vực ở sườn phía Bắc của phương diện quân, nơi đóng quân của Phần Lan.

Ri-u-ti, Ta-ne và đồng bọn, những chính khách phản động của Phần Lan, không chịu tiếp nhận các điều kiện nhân đạo đình chiến của Liên Xô, phải chịu trách nhiệm trước sinh mạng hàng ngàn binh sĩ Phần Lan và Liên Xô đã hy sinh trong các trận đánh vào mùa hè năm 1944.

Tư tưởng kiên quyết tiến công tiêu diệt địch là cơ sở của ý đồ các chiến dịch ở sườn phía Bắc mặt trận Xô - Đức. Ngày 20 tháng Tư, các mũi đột kích đầu tiên của bộ đội Liên Xô phải giáng vào quân đội Phần Lan. Bộ tổng tham mưu cho rằng quân đội Phần Lan được trang bị và huấn luyện kém hơn quân Đức nên sẽ sớm bị thất bại.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #209 vào lúc: 01 Tháng Hai, 2016, 06:38:37 pm »


Theo tính toán của chúng ta, sau khi tiêu diệt quân đội Phần Lan, tập đoàn quân miền núi 20 của Đức đóng ở Da-pô-li-a-ri-ê sẽ bị suy yếu nặng. Sườn phía Nam khu vực phòng thủ của quân Đức sẽ bị sơ hở tạo nên nhiều khả năng cho bộ đội ta mở những mũi đột kích tiếp sau. Tình hình đó sẽ mở ra triển vọng cô lập các lực lượng chủ yếu của địch, cắt đường rút quân của chúng tới những bến cảng ở phía Tây Phần Lan và rút sâu vào lãnh thổ Na Uy.

Thứ tự hành động như vậy xuẫt phát từ tình hình diễn biến trong thời gian ấy. Các trung tâm quan trọng chủ yếu của Phần Lan có thể bị trực tiếp uy hiếp, vì khoảng cách tới đây cũng chẳng còn bao xa. Các lực lượng chủ yếu của quân Phần Lan đóng giữ tại đấy. Tiêu diệt được các lực lượng này sẽ dẫn tới chỗ làm sụp đổ toàn bộ hệ thống phòng thủ của Phần Lan. Hai phương diện quân Lê-nin-grát và Ca-rê-li-a, Hạm đội Ban-tích và các chi hạm đội cùng với số lớn không quân sẽ tham gia các chiến dịch tiến công này.

Thật vậy, các công sự của địch ở đây rất quan trọng. Đó là những công trình kiên cố của phòng tuyến Man-néc-hem khét tiếng trên eo đất Ca-rê-li-a và nhiều chướng ngại đủ loại được xây dựng rất khéo léo. Ở cả khu vực Xvia cũng có những công sự mạnh. Bộ đội chúng ta phải đột phá vào phòng tuyến ấy, nhưng trong tay Bộ chỉ huy Liên Xô cũng đã có đầy đủ các lực lượng và phương tiện.

Cuối cùng, Đại bản doanh quyết định như sau: phương diện quân Lê-nin-grát hiệp đồng với Hạm đội Ban-tích và không quân hoạt động tầm xa sẽ mở chiến dịch trên eo đất Ca-rê-li-a, còn phương diện quân Ca-rê-li-a được phối thuộc thêm chi hạm đội trên các hồ sẽ tiến công ở khu vực Xvia - Pê-tơ-rô-da-vốt-xcơ.

Phương diện quân Lê-nin-grát sẽ giáng đòn đột kích đầu tiên vào các lực lượng chủ yếu của địch. Nhiệm vụ của phương diện quân là đột phá tuyến phòng thủ của Phần Lan trên hướng Vư-boóc-gơ và tạo ra sự uy hiếp của quân đội Liên Xô thọc sâu vào nội địa Phần Lan tới các trung tâm kinh tế, chính trị chủ yếu, kể cả thủ đô Hen-xin-ki. Phương diện quân sẽ sử dụng một bộ phận lực lượng trên hướng thứ yếu tiến ra Xoóc-ta-va-la và dọc theo bờ Bắc hồ La-đô-ga tiến vào phía sau quân địch đang phòng ngự ở Ca-rê-li-a. Để tiến hành chiến dịch, tập đoàn quân 21, lấy từ lực lượng dự bị của Đại bản doanh, (từ cuối tháng Tư, tư lệnh tập đoàn quân là thượng tướng Đ. N. Gu-xép, cựu tham mưu trưởng phương diện quân Lê-nin-grát) được chuyển sang phương diện quân Lê-nin-grát.

Thấy bộ đội Liên Xô ở phía sau, quân Phần Lan đối diện với phương diện quân Ca-rê-li-a rất khó mà yên lòng được. Đến lúc ấy, cuộc tiến công của bộ đội K. A. Mê-rét-xcốp phải bắt đầu.

Đến lượt mình, kế hoạch chiến dịch của phương diện quân Ca-rê-li-a dự định sẽ mở mũi đột kích chủ yếu vào khu vực Xvia. Theo tính toán của chúng tôi, tập đoàn quân 7 cùng với số lớn phương tiện tăng cường tập trung ở đây, cho phép vượt sông Xvia đầy nước trong hành tiến. Đòn đột phá ở phía Bắc dọc theo bờ Đông hồ La-đô-ga sẽ bảo đảm tình hình có lợi ở bên sườn của khu vực Pê-tơ-rô-da-vốt-xcơ cho bộ đội Liên Xô tiến công ở đây, để sau này có thể tiến vào sau lưng quân Phần Lan. Các ý kiến nêu lên được cân nhắc cẩn thận, kế hoạch được xây dựng trong suốt tháng Tư và sang đến tháng Năm, có các tư lệnh phương diện quân cùng tham gia.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM