Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 19 Tháng Năm, 2024, 10:02:36 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Gia Định Thành Thông Chí  (Đọc 41790 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
KGBFSBCIA
Thành viên
*
Bài viết: 231


« Trả lời #20 vào lúc: 08 Tháng Bảy, 2011, 07:24:24 pm »

BÁT CHIÊN GIANG (RẠCH BÁT CHIÊN)

Ở thượng lưu sông Hưng Hòa, là giới hạn cuối cùng phía bắc của trấn này. Bờ phía tây là nơi đồn đạo Tuyên Oai trú đóng. Phía trước đạo xuống phía nam 37 dặm đến đồn cũ Phong Ca Khơ me, là giới hạn cuối cùng hạ lưu sông Bát Chiên. Ở trước đạo cách nửa dặm là nơi người Việt (<32><157>), người Hoa, người Cao Miên chung sống, họ trao đổi nhau những thổ sản của núi rừng chằm ao, ở đó có sở tuần ty coi việc thuế khóa và cước phí, cứ 10 phần thâu 1 phần. Lại cách 100 dặm đến đồn cũ Thông Bình, 74 dặm đến sông Vàm Gia (Vàm Dừa) là địa đầu thượng lưu sông Bát Chiên.

Sông nầy nước ngọt mà đục, dòng nước quanh co, cỏ cây rậm rạp <40b>, có nhiều sóc của dân Cao Miên. Là nơi bùn lầy nước đọng, đến lúc mưa lụt, nước dâng đầy tràn, trên đất có thể đi thuyền được, cho nên khách buôn thường lén chở hàng hóa theo sông Bát Chiên qua sông Vàm Gia, đến Cầu Nôm rồi tới Nam Vang để trốn thuế. Đạo thủ Tuyên Oai quản lý cả 2 chi thủ Phong Ca Khơ me và Thông Bình, chia giữ chỗ hiểm yếu để kiểm soát các việc vượt biên trái phép và tuần phòng nơi biên giới, ấy là vùng địa đầu quan trọng.

VÀM GIA (SÔNG VÀM DỪA) (<33><158>)

Ở thượng lưu sông Bát Chiên, là giới hạn cuối cùng về phía tây của trấn nầy. Ngày xưa khi mới khai thác, nhân dân ở đây hãy còn ít ỏi nên đồn Phong Ca Khơ me đặt ở chỗ nầy để làm giới hạn cho người Việt và người Thổ; nay nhân dân sinh sống ngày càng đông, đất ruộng được mở mang ra tới phía trên đạo Tuyên Oai nhưng cư dân khi đi về thường bị xét hỏi rất bất tiện, nên tháng 4 năm Gia Long thứ 18 (1819), vua có chỉ chuẩn dời đồn Phong Ca Khơ me sang chỗ đồn Thông Bình, dời đồn Thông Bình sang xứ Vàm Gia <41a> sát biên giới Cao Miên, tương ứng từ xa với các đạo Tiền Giang và Tân Châu, ấy là để khi hữu sự tiện bề thông báo cho nhau. Sông ở trước đồn chia làm 2 nhánh: nhánh hướng tây chảy qua Ba Cầu Nôm rồi chảy ra Tiền Giang, đến thượng du đạo Tân Châu, ngược lên tới Nam Vang đến thành của quốc vương Cao Miên; nhánh hướng nam chảy xuống sông Hiệp Ân ra Tiền Giang, 70 dặm nữa đến đồn mới Hùng Ngự (Hồng Ngự).

ĐẠI TIỂU HẢI CHÂU (CÙ LAO ĐẠI TIỂU)

Dài 35 dặm, bề ngang 8 dặm, nổi lên giữa lòng cảng, chia ra làm hai cửa tả hữu Đại Hải, Tiểu Hải, còn gọi là Trấn Hải châu, ở đây cây cối rậm tốt, dân cư có 5 thôn: Phú Thạnh Đông, Tân Phong, Long Thới, Long Hòa, Thỉ Lập (<34><159>) chia nhau để ở, xóm làng ruộng đất trồng trọt chăn nuôi, cùng nhau sống yên ổn. Ở giữa nổi lên gò cao, có nước ngọt chảy ra, người ở đó làm xong nông vụ, lại đi biển đánh bắt, không để phí sức thừa, có thể gọi là dân biển và làm ruộng (<35><160>).

QUỚI SƠN CHÂU (CÙ LAO CỒN TÀU)

Cù lao nằm ở phía tây ngã ba cửa biển lớn, chu vi 8 dặm, thế đất uốn khúc quanh co như hình con rồng <41b>. Có cù lao đất che kín phía bắc con sông ; nằm xiên phía đông dòng sông Bạc Sa (tục gọi là cồn Tàu nằm phụ ở phía tây bắc Hải Châu), nằm đối xiên đông lưu sông. Cù lao nầy đứng một mình giữa sóng gió, thế núi khí hùng (<36><161>), cuộc đất sức mạnh (<37><162>), bến bờ vững chắc, có thể hình thành được bề thế to lớn, cây cối sum sê, đất đai phì nhiêu, có sinh khí thịnh vượng, có hai thôn Hoàng Long và Quới Sơn ở đây.

THỚI SƠN CHÂU (CÙ LAO THỚI SƠN)

Cù lao nằm ở phía tây sông lớn Mỹ Tho, chu vi 5 dặm, cồn Tôn (tục gọi cù lao Họ) (<38><163>) phụ vào phía nam, lấy cây cao làm tinh phong (<39><164>) che chắn, ở đây đất bồi khí vượng, dân thôn Thới Sơn sống ở cù lao ấy.

PHÚ AN CHÂU (CÙ LAO PHÚ AN)

Tục gọi là cù lao Bãi Đắm (<40><165>), ở phía tây sông lớn Mỹ Tho, chu vi 8 dặm, ruộng vườn rất tốt, có dân 2 thôn Phú An Tây và Phú An Lộc ở đó. Cù lao có sông rộng, nước trong, bóng nước tiếp chân trời, trông xa vạn khoảnh, đúng là một cảnh tiên vậy.

KIẾN LỢI CHÂU

Tục gọi là cù lao Trà Luật (Trà Luộc) (<41><166>) ở tổng Kiến Lợi nằm về phía bắc hạ lưu Tiền Giang, làm tinh biểu cho sông Trà Luật (Luộc) (Sông rộng 29 tầm, nước lớn sâu 21 thước ta, nước ròng sâu 16 thước ta, bờ phía tây có chợ Trà Luật (Trà Luộc) cách trấn lỵ về phía tây 55 dặm, về phía bắc 8 dặm rưỡi đến ngã ba sông. Ngả đông bắc cách 4 dặm đến sông Ba Lai, ngả bắc 26 dặm rưỡi đến giồng Trà Luật (Trà Luộc), có chợ thôn quê, cuối dòng sông đầy bùn cỏ gọi là chằm Khoai.) Giồng này dài hơn 5 dặm, có dân năm thôn Long Phú, Phú Hòa, An Tân, Giao Long, An Thủy Đông cư ngụ. Ở đây ruộng vườn xanh tốt.

THI HÀN CHÂU (CÙ LAO CÁI THIA)

Ở phía bắc sông Tiền, thuộc tổng Kiến Phong, dài 42 dặm. Sông Thi (tục gọi là vàm Cái Thia, rộng 70 tầm, sâu 6 tầm. Đi về bờ phía bắc nửa dặm có chợ, tục gọi là chợ Cái Thia, phía đông thuộc thôn Mỹ Đức Đông, phía tây thuộc thôn Mỹ Đức Tây, còn chợ thì ở giữa tên là chợ Mỹ Đức, nhưng thôn Mỹ Đức Đông lại là đất xây dựng huyện trị (lỵ). Đi 45 tầm đến ngã ba sông. Dòng sông lớn phía tây là sông Đại Hội, tục gọi là sông Cái Cối (<42><167>), do các con sông nhỏ chạy dọc theo một số thôn xóm đều tụ hội lại đó nên mới gọi là sông Đại Hội. Đi 27 dặm ngoài đến xóm nhỏ Tam Tự, rồi chảy ra sông Hàn, tới nhánh Bắc Tiền Giang thành sông Đức Lương. Phía đông là thôn Mỹ Đức Tây, còn phía tây là thôn Mỹ Lương. Mười một dặm đến ngã ba Vàng Nhứ, từ ngã ba đi về bắc 17 dặm ngoài tới chằm cùng. Từ ngã ba đi 5 dặm rưỡi về phía nam đến sông Mỹ Luông tục gọi là Rạch Miễu, là giới hạn của sông Đại Hội, nước lớn đầy ghe thuyền mới tới lui được) phía đông ôm nắm sông Hàn (tục gọi là Vàm Hàn), phía tây ôm hợp lưu của hai sông Thi và sông Hàn mà cù lao nhô ở giữa nên mới gọi là cù lao Thi Hàn. Lại vì cù lao ấy nổi lên sáu đầu nhọn bày hàng kế tiếp nên còn gọi là Lục Châu Đầu. Đầu phía đông cồn thứ nhất là đất của hai thôn Mỹ Lương và Hòa Lộc, cồn thứ hai là đất của thôn Mỹ Hưng, cồn nhỏ thứ ba làm trụ đá (để trụ) (<43><168>) cho ngã ba sông Cổ Lịch. (Sông rộng 28 tầm, sâu 12 thước ta chảy về bắc 2 dặm rưỡi đến ngã ba. Từ ngã ba chảy về đông bắc 7 dặm, nhập vào sông Đại Hội, chảy về phía tây bắc 10 dặm lại cũng nhập vào sông Đại Hội). Cồn thứ tư là đất của thôn Mỹ Thuận. Cồn thứ năm là đất của thôn Mỹ An Đông. Cồn thứ sáu là đất của hai thôn Thanh Hưng và Mỹ Long (Luông) (<44><169>), cây cối cao lớn khác thường, ruộng vườn phì nhiêu, nhân dân theo nghề làm ruộng, đánh cá.

LONG ẨN CHÂU (CÙ LAO LONG ẨN)

Cù lao nầy làm trụ biểu cho sông Long Ẩn, (rộng 38 tầm, sâu 2 tầm, cách phía tây trấn 124 dặm chảy vào phía bắc 6 dặm đến ngã ba sông. Nhánh bắc chảy vào chằm cùng. Nhánh tây nam chảy 9 dặm ra sông lớn). Cù lao nầy dài 3 dặm ở phía bắc lưu Tiền Giang, có thôn Mỹ Xương đầy ruộng vườn dân cư, phía đông nhìn sang sông Bình Giang (rộng 72 tầm, sâu 11 thước ta cách phía tây trấn 118 dặm. Đi về phía bắc 6 dặm đến ngã ba. Nhánh bắc chảy 3 dặm rưỡi là vào chằm cùng, có ruộng vườn dân cư. Nhánh tây nam chảy 5 dặm rưỡi hiệp lưu với sông Long Ẩn).

Phía tây trông về sông Cần Lố (rộng 32 tầm, sâu 21 thước ta, cách phía tây trấn 141 dặm rưỡi, chảy về bắc chừng 25 dặm là cùng nguồn). Sông quanh co vắng vẻ, có nơi như vực sâu, giữa nổi một cồn hình trạng có bờm và đuôi ngoắc nguẩy yêu kiều giữa sông lớn mênh mông, giống như con giao long giỡn nước, nhưng đầu sừng còn chưa lộ rõ. Cồn nhỏ cây thấp, lại giống con giao long ẩn nấp giữa vực sâu, nên gọi là Long Ẩn (Rồng núp).

Ô CHÂU (CÙ LAO QUẠ)

Ở phía bắc lưu Tiền Giang, phía nam của cù lao Long Ẩn, làm bình phong ngoài cho sông Long Ẩn. Nơi đây vườn cau sum sê, cây cối xanh tươi, bến bờ sâu thẳm, có nhiều hang ổ cá tôm, bầy quạ thường tụ tập ở đấy để bắt tôm cá, nên mới gọi là cù lao Quạ. Cù lao nầy dài hơn 7 dặm, có dân thôn Nhân Hậu Đông ở đấy.

BA LĂNG CHÂU (CÙ LAO BA LĂNG)

Ở phía bắc thượng lưu Tiền Giang, nằm bổ thẳng vào sóng cả của sông dài, nên gọi là Ba Lăng. Cù lao dài 5 dặm, có tre và cây cối rậm rạp, ruộng cao, đất tốt thích hợp với cây bông vải, thuốc lá, chè, dưa, các thứ cây ăn quả, mè, đậu, mới lập thôn Tân An ở đấy.
Logged
KGBFSBCIA
Thành viên
*
Bài viết: 231


« Trả lời #21 vào lúc: 08 Tháng Bảy, 2011, 07:25:14 pm »

<43a> VIÊN (VƯỜN RẪY)
Ở hụyện Kiến Đăng và Kiến Hưng, vườn cau ở đây sum sê. Cau tươi, cau sấy và cau khô nhà nào cũng có, người ta chất đống ngoài sân, dựa trong lẫm để bán đi các nơi xa gần.

LÂM TẨU (RỪNG SÁC)

- Ở Cần Lộc (tại nhánh tây cửa Lôi Lạp (Soi Rạp) thông với cửa Tiểu), có cây dà, cây đước.

- Ở sông Tra, Gò Công, sông Lá Dừa, cảng Ba Lai thì có lá dừa nước.

- Ở Rạch Chanh, Bát Chiên thì có cây tràm và không tâm bồ (tục gọi là cỏ bàng). (<45><170>)

- Ở Bạch Ngưu, Đốc Vạn và Hồng Ngự thì có rừng tre, tất cả đều là vật có lợi.

CHẰM AO

Huyện Kiến Đăng từ đông sang tây tiếp giáp vùng biên giới Cao Miên có nhiều bưng biền, chằm, ao, cá tôm dùng ăn không hết. Cứ đến tháng 4, 5, khi mưa xuống nước tràn thì cá sinh trưởng đầy dẫy kiếm ăn ở trong ruộng, trong đầm. Phàm những nơi có nước và có cỏ dù sâu chỉ độ hơn tấc ta cũng có cá ở; từ tháng 10 trở đi hết mùa mưa, nước rút, cá xuống (<46><171>) sông cho nên lệ có thu thuế cá <43b>, gọi là thuế dư cấp, ai bỏ tiền đấu được thầu mới được hành nghề. Ở thượng lưu sông, người ta đắp đập chắn ngang, khiến cho cá không bơi ngược dòng lên bờ được; ở giữa sông dựng tấm đăng bằng tre chận dòng nước kỹ lại để giữ cá rồi bắt đem bán cho người buôn, dùng sọt mà đong đổ vào ghe lớn, đổ nước ngọt vào và thường phải dùng gàu thay nước, cá được thay nước sạch, có nhiều nhớt nên sức chịu đựng lâu dễ sống, chủ cá thu được mối lợi lớn. Lại có một dãy địa phương như kinh mới Rạch Chanh, Bắc Giang, tuy đóng thuế điền, nhưng nghề nghiệp chính lại là đào ao nuôi cá bán để nạp thuế (<47><172>). Ấy là nguồn lợi sông chằm thật là vô cùng.

---------------------------------------

Chú thích:

(<1><126>) Nguyên văn bản in kèm bản dịch của Nguyễn Tạo chép "Kiến Định (定) giồng". Nguyên văn VHN lưu trữ cũng chép Kiến Định. Nhưng nguyên văn in kèm bản dịch của nhóm dịch giả VSH thì lại chép "Kiến An (安) giồng" Thật ra cả ba bản nguyên văn nêu trên chỉ là bản sao chép viết tay mà sai sót rõ nét thì rất nhiều, nhưng dị bản này thật khó xác định mà bản in khắc gỗ thì không còn nên đành lấy theo số đông "Kiến Định".

(<2><127>) Dự (蕷), tức Thự dự (薯蕷) là củ mài, ăn và làm thuốc được, còn gọi là Hoài sơn (懷山)

(<3><128>) Giồng Lữ (呂墥). Theo người dân địa phương Cai Lậy, Đồng Tháp thì đây là giồng Lũy, gò Lũy, tức tên giồng mà ngày xưa quan binh đã đắp lũy, đóng đồn (壘墥).

(<4><129>) Giồng Sao: Nguyên văn viết 墥:. Chữ : nầy tra trong tự điển Nôm không thấy.

(<5><130>) Tập Đình hầu là người khách Quảng Đông tính rất hung bạo, nhiều lần Nguyễn Nhạc muốn giết đi. Tập Đình biết ý phản lại Tây Sơn làm loạn, sau đó chạy về Quảng Đông và bị Tổng đốc nhà Thanh bắt giết.

(<6><131>) Tức Thủ Dầu Một, nay là thị xã tỉnh lỵ Bình Dương.

(<7><132>) Ý chịu tang cho Thái Thượng vương Duệ Tông và Tân Chánh vương (Mục vương) bị Tây Sơn giết.

(<8><133>) Hào Hàm (崤函): Chữ Hào (崤) cũng viết là B. Hào Sơn cũng viết là Hào Cốc (崤谷) là góc phía đông của ải Hàm Cốc, cho nên ải Hàm Cốc cũng gọi là Hào Hàm. Hàm Cốc quan là một cửa ải rất vững chắc của nhà Tần (Trung Quốc), nay thuộc vùng Hà Nam.

(<9><134>) Ngô giang (吳江): Là tên tắt của Ngô Tùng giang (吳淞江) ở cảnh địa tỉnh Giang Tô, xưa gọi là Lạp Trạch, cũng gọi là Tùng giang (松江), Nam giang, Tùng Lăng giang, Ngô Thục giang, tục gọi là Giang Châu hà, cửa sông gọi là Ngô Tùng khẩu. Sông này chặn ngay yết hầu của Trường Giang, là một cửa sông cực kỳ quan yếu của miền Nam Trung Quốc.

(<10><135>) Thường Sơn xà (常山蛇) Tức rắn Thường Sơn ở Cối Kê rất lợi hại, cắn mổ được đủ hướng. Ai vô ý nắm bắt phía đầu thì đuôi nó ngoặt về trước chích nọc độc ngay. Ai nắm đuôi để bắt thì bị đầu nó quay lại cắn. Còn ai đè nó ở giữa lưng thì đầu đuôi cùng quay lại cắn chích, còn gọi là Suất Nhiên. Nhân rắn độc dữ chống đỡ được nhiều phía tấn công nên Tôn Võ Tử có đặt ra một trận pháp gọi là Thường Sơn Xà trận, trận thế ứng đối mọi phía như thân con rắn Thường Sơn. Cửa ải Kiếm Các vùng Thiểm Tây có rất nhiều loại rắn nầy gián tiếp ngăn chặn quân địch tấn công ải.

(<11><136>) Phụ ngung hổ (負嵎虎): Ta thường đọc là phụ ngung hổ tức cọp tựa góc núi ăn thua đủ. Loài cọp khi bị săn đuổi túng thế đổ quạu trụ lại dựa lưng vào góc núi chống cự là rất nguy hiểm. Sách Mạnh Tử nói: "Có đám đông rượt hổ. Hổ trụ lại dựa lưng góc núi chống cự, chẳng ai dám tới gần". (Hữu chúng trục hổ, hổ phụ ngung,vô cảm xanh). Lương Sơn Bạc là cái chằm, nơi cát cứ của 108 tay hảo hán do Tống Giang cầm đầu hồi đời Tống chống lại triều đình. Danh tiếng anh hùng Lương Sơn Bạc được miêu tả sinh động trong truyện Thủy Hử.

(<12><137>) Nguyên văn viết chữ Nôm chó (C) hơi mờ nhòe trông giống như chữ Hán vãng (往) nên có sách đọc là giồng Vãng (chờ chỉ giáo).

(<13><138>) Nguyên văn viết結 tức Kết, nhưng người địa phương gọi đây là giồng Két.

(<14><139>) Bản nguyên văn do VHN lưu trữ chép 88 dặm (八十八里).

(<15><140>) Súc (畜): tức là vùng cư dân của một bộ lạc, tiếng Nôm đọc là sóc. Ngày nay, ở miền Tây Nam bộ có rất nhiều sóc của người Khơ me, cũng như ở Tây Nguyên có nhiều "buôn" của người dân tộc. Thật ra sóc là âm của tiếng Khơ me Srok chỉ một làng xóm.

(<16><141>) Nguyên văn "Hoa dân", chữ Hoa (華) có nghĩa là tinh hoa, vàng son rạng rỡ, văn minh. Người Trung Quốc tự xưng mình là Trung Hoa, còn chung quanh đều là "man di, mọi rợ". Người Việt xưa cũng bắt chước tự xưng mình là "Hoa nhân", để phân biệt với các "man di" xung quanh là Thượng, Lào, Miên (Campuchia), Tiêm La (Thái Lan). Ai cũng có tinh thần tự tôn dân tộc quá đáng.

(<17><142>) Nguyên văn viết 奇婚 tức Kỳ Hôn nhưng còn gọi theo tên ngoài là Trà Hôn hay Cà Hôn.

(<18><143>) Chữ này nguyên văn có bản chép液, có bản chép掖 nhưng đều tra không ra, tạm đọc theo tiếng Hán là Dịch.

(<19><144>) Thời Pháp thuộc, cù lao Rồng là nơi an trí các người mắc bịnh Hansen (bịnh cùi, hủi) do các dì phước đạo Thiên Chúa coi sóc.

(<20><145>) Mỗi miệng đáy mắc vào hai cây cọc cắm sâu xuống lòng sông. Miệng đáy bằng lưới hình phễu, mép miệng trên ngang mặt nước, mép miệng dưới sát đáy sông kéo lên kéo xuống nhờ cặp nài. Do nước chảy mạnh, bao nhiêu tôm cá trôi vô miệng tuôn vào đuôi miệng đáy gọi là cái đụt. Tùy theo cá tép chạy nhiều hay ít mà thời gian đổ đụt lâu hay mau.

Logged
KGBFSBCIA
Thành viên
*
Bài viết: 231


« Trả lời #22 vào lúc: 08 Tháng Bảy, 2011, 07:25:38 pm »

(<21><146>) Nguyên văn viết波淶, chữ Nôm 淶 có thể đọc lai, rai, rài nhưng nhân dân Nam Bộ gọi đây là cửa Ba Lai, sông Ba Lai, còn sông Tân Thới thì mới gọi là vàm Rài (淶).

(<22><147>) Trong PCGBC, Trương Vĩnh Ký chép sông này còn gọi là rạch Bà Bèo.

(<23><148>) Trương Vĩnh Ký trong PCGBC chép là Gằm Giang.

(<24><149>) Nguyên văn viết該礼. Chữ 礼 âm Hán Việt đọc lễ có nghĩa là lạy. Chữ Nôm: lạy phải viết đủ là D hoặc E. Đây có lẽ tác giả viết chữ Lạy theo ý. Từ lạy đọc thành lậy. Cai Lậy là chợ trên Quốc lộ 4, có đường quẹo vô Mộc Hóa.

(<25><150>) Nguyên văn viết芹露. Chữ 露 đọc theo Hán Việt là lộ, đọc theo Nôm là lố. Đọc Cần Lố là đúng theo cách gọi của địa phương.

(<26><151>) Nguyên văn pha trạch 陂澤 dịch là bưng biền, là nơi quanh năm đất sình lầy lấp xấp nước, mọc đầy năn lác.

(<27><152>) Nguyên văn viết魚虌 tức ngư miết là cá và con ba ba. Trong GĐTTC魚虌 để chỉ thủy sản nói chung, Trịnh Hoài Đức thường dùng chữ Ngư miết này. Nếu dịch "cá rùa" thì không hợp với phương ngữ miền Nam. Hai chữ này miền Nam thường dịch là "cá tôm" hay "cá mắm", tức ngoài Bắc dịch là "cá mú".

(<28><153>) Từ đo lường phương (方) không thấy trong tự điển Hán Việt. Căn cứ vào cách tính của Lê Thành Khôi trong cuốn Histoire du Vietnam, thì 1 phương gạo bằng 30 lít gạo.

(<29><154>) Thời Trịnh Hoài Đức chỉ sử dụng thước ta hay Trung Quốc. Từ 1890, một (1) thước ta tương đương 0,4 m (4 dm). Thước Trung Quốc tương đương 0,32 m.

(<30><155>) Chữ tiểu quán (小舘) với nghĩa là "xóm nhỏ" được tác giả dùng ở đoạn nói về "Bảo Định hà". "Bát Đông giang" và "Thi Hàn châu".

(<31><156>) Nguyên văn bản VHN lưu trữ chép bách bát thập lý (百八十里) tức 180 dặm. Bản VSH và bản Nguyễn Tạo đều chép bách thập bát lý tức 118 dặm.

(<32><157>) Trong toàn bộ sách này, Hoa nhân chỉ người Việt, Đường nhân chỉ người Hoa. Di phần nhiều chỉ người Khơ me.

(<33><158>) Trương Vĩnh Ký trong PCGBC chép Vàm Gia giang gọi là Vàm Gia mà không dịch là Vàm Dừa. Điều này có thể đúng vì nhiều địa phương chỉ gọi bằng tên chữ Hán.

(<34><159>) Hai chữ Thỉ Lập (始立) không phải tên thôn mà có nghĩa là "mới thành lập". Nhưng như vậy thì chỉ tính được có 4 thôn, thiếu một thôn. Vậy tạm dịch theo nghĩa tên thôn cho đủ 5.

(<35><160>) Nguyên văn Ngư mục chi dân (魚牧之民). Trịnh Hoài Đức thường dùng chữ mục (牧) để chỉ người làm ruộng như trong bài thơ "Chu thổ sừ vân" trong Cấn Trai thi tập ông viết: Phá hiểu sừ vân mục tử trù, nghĩa là "Vừa tưng bửng sáng nông dân đã làm đồng". Nếu hiểu "mục tử" là kẻ chăn trâu là lạc xa ý tác giả.

(<36><161>) Nguyên văn Sơn long khí hùng (山竜氣雄). Sơn long là từ phong thủy chỉ thế núi.

(<37><162>) Nguyên văn Khôn mã lực kiện (坤馬力健). Khôn mã là từ khoa phong thủy chỉ "Cuộc đất".

(<38><163>) Nguyên văn chép 戶. Chữ này âm Hán Việt là hộ, nhưng âm theo chữ Nôm là họ. Vậy đây là cù lao Họ. Truyện "Gia Định Thành Thông Chí " được copy từ diễn đàn Lương Sơn Bạc (LuongSonBac.com)

(<39><164>) Nguyên văn tinh phong (星峰) là từ khoa phong thủy chỉ cái cồn nổi chắn ngang cửa sông.

(<40><165>) Nguyên văn chép罷耽, tức bãi Đắm. Vương Hồng Sển đọc theo Trương Vĩnh Ký là bãi Đám có khi nhầm, do lỗi morasse vì chữ đám Nôm viết là坫. Nhóm dịch giả VSH ghi là bãi Doãn cũng chưa đúng.

(<41><166>) Nguyên văn viết Trà Luật (茶律) nhưng Trương Vĩnh Ký trong PCGBC chép là cù lao Trà Luộc, tên chữ là Kiến Lợi châu.

(<42><167>) Tuy chữ Nôm cối thường được viết chữ hội (会 - 會) và bộ mộc (木) bàng, tức là桧hay檜, nhưng Trịnh Hoài Đức viết chữ cối với chữ cữu (cựu) đầu (臼) tức cái Cối Xay, và chữ hội (会 - 會) thì theo ý chúng tôi sự chỉ ý càng rõ nét hơn khi viết với Mộc bàng, vậy tục danh sông Đại Hội chính là Cái Cối vậy!

(<43><168>) Để trụ (砥柱) nguyên chỉ núi. Sách Thủy kinh hà thủy chú: "Khi xưa vua Vũ trị nạn lụt, phàm gò núi nào cản nước thì đục bỏ, vì cần phá núi, thông sông. Sông bao quanh núi rẽ nhánh mà chảy. Nhìn ngọn núi trong dòng sông như cây trụ cho nên mới nói là trụ đá, tức để trụ".

(<44><169>) Mặc dù miếu hiệu vua Gia Long viết chữ (隆), còn thôn Mỹ Long viết chữ (龍) nhưng khi phát âm cũng trùng là long nên phải kỵ húy đọc trại là luông.

(<45><170>) Không tâm bồ (空心蒲) tức cỏ bàng dùng để dệt đệm, bao cà ròn.

(<46><171>) Từ đặc biệt miền Nam để gọi cá lên xuống theo mùa mưa. Đầu sa mưa, cá từ sông theo đường nước mưa chảy xuống sông lội ngược lên đồng gọi là cá lên . Giữa tháng 10, trời dứt mưa, cá theo nước chảy ra sông gọi là cá xuống.

(<47><172>) Thuế điền nộp nhẹ hơn các ngành nghề khác. Người dân tiếng là đóng thuế điền làm ruộng, nhưng thật là đào liếp nuôi cá lợi nhiều mà đóng thuế ít.
Logged
KGBFSBCIA
Thành viên
*
Bài viết: 231


« Trả lời #23 vào lúc: 08 Tháng Bảy, 2011, 07:26:52 pm »

2d.
Trấn Vĩnh Thanh (1)

THOẠI SƠN (<1><173>)

Tục gọi là núi Sập, ở huyện Vĩnh Định, bờ phía đông sông Thoại Sơn (tục gọi rạch Ba Rách), phía bắc cách cửa Thoại Hà hơn 69 dặm. <44a> Từ sông lớn quanh phía bắc sang đông, đến trấn thành 283 dặm. Núi cao 20 trượng, chu vi 11 dặm rưỡi, đỉnh núi nguy nga, cây cao bóng cả, đẹp đẽ trang nghiêm tợ như cái lọng đẹp ở biên giới phía tây. Có Hương Tuyền (suối Thơm) chảy về tây 50 tầm đến đường sông mà bề sâu thuyền có thể đi được. Phía tây nam chân núi có Bửu Sơn (tục gọi là núi Cậu), xanh tốt cao 7 trượng, chu vi 1 dặm rưỡi, suối ngọt, đất tốt, cỏ cây tươi mượt, sơn dân ở vây quanh. Vì vùng gần Cao Miên, hoang vu mút mắt, nếu dùng đường thủy thì phải do đường Kiên Giang; mà con sông này đầy cỏ lác, bùn lầy ứ đọng, chỉ lúc mưa lụt ghe thuyền mới qua lại được. Tháng 4 năm Mậu Dần, niên hiệu Gia Long thứ 17 (1818), vua sai Trấn thủ Vĩnh Thanh là Thống chế Thoại Ngọc hầu Nguyễn Văn Thoại kinh lý đường sông, việc hoàn thành, vua ban cho tên núi là Thoại Sơn để nêu danh tốt thần núi và cũng để ghi thành tích công lao của bậc nhân thần. Lại lệnh cấm dân chợ, dân Thổ đốn chặt cây cối để giữ lấy sinh khí, nhìn thấy non xanh mây phủ, suối đá ngọc ôm, thần <44b> sông nhượng đức, mẹ đất chứa linh, trấn giữ miền hiểm yếu, nêu sức mạnh để củng cố cõi Nam ta mà dâng thọ. Ôi! Hùng tráng lắm thay!

BA THÊ SƠN (NÚI BA THÊ) (<2><174>)

Cao 30 trượng, chu vi 13 dặm, cách phía tây bến Thoại Hà 18 dặm rưỡi, ba ngọn vươn xanh chập chùng cổ thụ tươi mát, cấm dân không được chặt. Mặt trước giáp với bưng biền, cỏ rậm bùn lầy. Thoại Ngọc hầu nhân đó đào cho thông ra, rộng 20 tầm để cho thuyền bè đi lại. Người Cao Miên ở theo triền núi và đường rừng, họ vừa sống bằng nghề săn bắn ở núi, lại còn câu cá ở ao chằm, thu được 2 mối lợi.

TÀ CHIẾU SƠN (NÚI TÀ CHIẾU) (<3><175>)

Cao 12 trượng, chu vi 5 dặm, ở cách phía bắc núi Ba Thê 2 dặm. Nơi đây núi non hiểm hóc, đứng giữa vũng lớn trông như hạt ngọc linh châu vừa lấy ra khỏi hộp; ngắm xem màu cây xanh lam cùng sắc nước trắng ngời, ráng chiều rọi xuống như gấm vóc chấp chới, cảnh trí có thể vẽ thành bức tranh đẹp.

TRÀ NGHINH SƠN (NÚI TRÀ NGHINH)

Cao 10 trượng, chu vi 5 dặm, ở cách phía đông bắc núi Tà Chiếu 1 dặm rưỡi, đỉnh núi chênh vênh tròn trịa, sườn cong, suối trong mát, tre cây tươi tốt, có nhiều cầm thú đậu ở.

TƯỢNG SƠN (NÚI VOI)

Cao hơn 8 trượng, chu vi 3 dặm, sườn núi lởm chởm, đầu lưng sừng sững như khi xưa Tử Kiều lên chơi núi Hà Sơn hóa đá, để lại vật cũ. Núi này ở phía nam cách đồn Châu Đốc hơn 9 dặm, cách bờ phía đông nam thượng lưu sông Vĩnh Tế 2 dặm, cây rừng xanh tốt, ở đó có đá thủy tinh.

CA ÂM SƠN (NÚI CA ÂM)

Cao 10 trượng, chu vi 7 dặm quanh co mà dài, cách phía đông nam chỗ đầu láng bùn 3 dặm, ngọn đứng cao chơ vơ hình như cây lọng dựa vách núi treo ngậm mây, suối cong nhả ngọc. Có các loại cây giáng hương, tốc hương, <45b> cây cối xanh tốt, cầm thú béo tốt. Phía đông hướng xuống ruộng phẳng, phía tây nhìn hồ chằm, người Việt, người Thổ cày cấy chăn nuôi, và câu cá chài lưới ở dưới chân núi.

NAM SƯ SƠN (NÚI NAM SƯ)

Cao 8 trượng, chu vi 2 dặm, cách phía đông nam náo khẩu (láng bùn) 3 dặm rưỡi. Ở về phía nam núi Ca Âm, núi tròn trịa như đống vàng giữa hồ nước, hình thế đoan trang thanh tú.

KHÊ LẠP SƠN (NÚI KHÊ LẠP) (<4><176>)

Cao 3 trượng, chu vi 3 dặm, cách về phía đông láng bùn 5 dặm. Núi này chịu lép vế núi Ca Âm mà lui về đông nam, ngọn cao lêu nghêu, bóng cây tùng trúc giao nhau, nai hươu thường nằm nghỉ dưới bóng mát. Lại có ruộng cày, có chằm đánh cá, dân đi tìm sanh lợi thường đến nương náu chỗ này.

CHÚT SƠN (NÚI CHÚT) (<5><177>)

Cao 6 trượng, chu vi 1 dặm, ở đầu phía bắc núi Tà Biệt (Béc), cách láng bùn về phía đông nam 1 dặm rưỡi; thế núi cong tròn, cây cối tốt tươi.

TÀ BEC SƠN (<6><178>)

Cao 20 trượng, chu vi 6 dặm, ngọn chòm rải rác, mặt quay đông, lưng hướng tây, không đứng cùng dãy với các núi khác mà chỉ ở lệch riêng một bên láng bùn <46a> nên mới gọi là Tà Biệt. Núi nhỏ mà có vẻ tự cường, thấp thỏi mà bất khuất, có khí tượng rất lỗi lạc.

NÚI BA XÙI (XUÔI - XUI) (<7><179>)

Cao 40 trượng, chu vi 12 dặm, hình trạng như đóa hoa phù dung đẫm sương xanh tốt vậy. Ở về phía bắc núi Ất Giùm, cách bờ phía đông nam trung lưu sông Vĩnh Tế 15 dặm; chóp núi cao ngất, núi động huyền ảo, cây cối cao to, cầm thú béo tốt ra vào từng đàn, cây mã vĩ hương mọc trên đỉnh núi, súc sa mật (<8><180>) mọc ở dưới chân đồi, cửa que (củi) nhà tranh, quây quần thành thôn xóm mà ở.

ẤT GIÙM SƠN (NÚI ẤT GIÙM) (<9><181>)

Cao 40 trượng, chu vi 13 dặm, hình núi quanh co mà dài, xòe cánh ngẩng đầu như loan bay nhạn liệng, cùng núi Ba Xùi đối diện vươn lên cách bờ phía đông nam trung lưu sông Vĩnh Tế 13 dặm; nhìn xuống ao hồ, ngoảnh mặt đồng ruộng, giữa nổi núi cao, trên núi có trầm hương, trong hang có sa nhân, giáng hương, cây sao, cây bời lời, cây huỷnh <47a>, cây cối rậm rạp, cành lá xen nhau. Lại có suối nước vắt ngang lưng núi cuồn cuộn chảy ra, nhân dân sống dựa theo chân núi, tạo thành thôn xóm, đúng là vùng chợ búa đông đúc ở miền núi.

NAM VI SƠN (NÚI NAM VI) (<10><182>)

Cao 30 trượng, chu vi hơn 8 dặm, cách cửa láng bùn về nam 28 dặm, ở sau núi Ba Xùi làm thành bình phong phía nam che chằm bùn lầy để giữ linh khí. Núi cao lớn, hút nhả khí mây mù, có các loài cây sao, cây bời lời, cây huỷnh cành nhánh ken nhau. Có lệnh cấm dân không được đốn chặt. Lại có các thứ trầm hương, sa nhân. Hùm, beo, nai, hươu, ung dung ra vào gò cỏ béo mượt bên suối ngọt. Những dân miền núi và những kẻ ẩn dật dựng nhà, cất chòi, cày cấy dưới chân núi.

ĐÀI TỐN SƠN (NÚI ĐÀI TỐN) (<11><183>)

Cao 50 trượng, chu vi hơn 20 dặm, ở phía đông nam sông Vĩnh Tế, phía tây bắc Thoại Hà. Hình núi như cái đài cao sừng sững hướng thìn tỵ, nên mới gọi tên là Đài Tốn. Cách phía đông núi Ất Giùm hơn 10 dặm, đứng cao chất ngất, trội hẳn các núi khác, thác tuôn treo vải, động nhả khói sương. Núi có cây trầm hương, tốc hương, sa nhân, cây sao, giáng hương, sam (thông), trúc sum sê xanh tốt, đường tắt quanh co, có dấu người qua lại. Gần có ruộng đồng, <47b> xa có chằm ao, kẻ cày ruộng, người đánh cá, ở theo từng nghề. Thỉnh thoảng nghe gà gáy trăng dưới núi, chó sủa xuân trong động, thật là một cảnh hướng yên hà ngoài thế tục.
Logged
KGBFSBCIA
Thành viên
*
Bài viết: 231


« Trả lời #24 vào lúc: 08 Tháng Bảy, 2011, 07:27:36 pm »

CHƠN GIÙM SƠN (NÚI CHƠN GIÙM) (<12><184>)

Ở địa phận phủ Chơn Giùm (<13><185>) Cao Miên, cách bờ phía tây bắc trung lưu sông Vĩnh Tế 10 dặm; hình núi như hoa sen cặm trên mặt đất, đỉnh núi cao nhọn, hang hố gồ ghề, mây trắng thường bay mịt mờ, ấy là khí từ mỏ bạc nghi ngút bốc lên. Thổ sản có các vật quý hiếm như cây giáng hương, bạch mộc hương, sa nhân, sao. Người Việt, người Tàu và người Cao Miên cất nhà sát nhau để ở, kết thành thôn xóm chợ búa, nương theo nguồn lợi chằm rừng, sông núi mà sống.

SÂM ĐĂNG SƠN (NÚI SÂM ĐĂNG) (<14><186>)

Ở phía đông núi Chơn Giùm, cách phía tây mạt lưu láng bùn độ 1 dặm. Đất đá chồng chất, cây cối um tùm, phía dưới có nhiều đá lởm chởm rải rác.

ĐẠI BÀ ĐÊ SƠN (NÚI ĐẠI BÀ ĐÊ) (<15><187>)

Ở về phía đông nam núi Chơn Giùm, cách bờ phía tây bắc trung lưu sông Vĩnh Tế 1 dặm. Núi cao hang hiểm, thông đỏ tre xanh, cây cối tươi tốt, dân miền núi cất nhà ở đấy.

TIỂU BÀ ĐÊ SƠN (NÚI TIỂU BÀ ĐÊ) <48a>

Núi cao mà nhỏ, cong mà dài, ở phía tây núi Đại Bà Đê, cách bờ phía tây bắc trung lưu sông Vĩnh Tế 1 dặm rưỡi.

LONG HỒ GIANG (SÔNG LONG HỒ) (<16><188>)

Sông này chảy đến quanh co, chảy đi vòng vèo, dòng ngang uốn lượn, nước đọng trong ngần, bốn mùa ngon ngọt; cồn cát cao thấp xa gần, thôn xóm la liệt khắp đông tây ẩn hiện như rừng, như động, như vực, như đầm, nên mới gọi là Long Hồ (Hồ Rồng). (Sông) Chảy bao quanh phía bắc trấn thành rồi hợp lưu với Tiền Giang, mở thành một cách hùng vĩ cái hào thiên tạo, rộng 49 tầm, sâu 11 tầm. Phía đông nam có dòng sông nhỏ chảy đều rồi mạnh, nhanh dần qua phía đông 30 dặm rưỡi đến ngã ba đồn Kiên Thắng ở sông Ba Kè (<17><189>). Nhánh phía hữu chảy vào nam 26 dặm rưỡi đến sông Trà Ôn hợp lưu với Hậu Giang. Nhánh phía tả chảy qua đông 85 dặm đến đồn Tân Thắng ở Mân Thít lại hợp cùng hạ lưu Tiền Giang rồi đổ ra biển; thật nơi tiện lợi cho việc lưu thông của thuyền bè.

TIỀN GIANG (SÔNG TRƯỚC)

Ở phía tây trấn, nguồn sông nầy ở phía bắc từ Ai Lao xuống Cao Miên đến Nam Vang, theo hướng đông chảy đến Cầu Nôm Tân Châu <48b> qua sông Đại Tuần trước trấn Vĩnh Thanh đến Ba Lai Mỹ Tho rồi chảy về nam ra hai cửa biển Đại, Tiểu, ấy là dòng chính của sông lớn ban đầu. Ở sông Đại Tuần chảy xuống bến bờ chia ra 3 nhánh: một nhánh qua phía đông trấn làm sông lớn Long Hồ, xuống phía nam ra cửa biển Cổ Chiên; một nhánh là sông lớn Hàm Luông, về phía nam đến hai cửa biển Băng Côn và Ngao Châu; một nhánh qua sông dưới Ba Lai đến Tiên Thủy, xuống phía nam ra cửa biển Ba Lai. Thế nước ôm quanh cồn nọ, dựa vào bãi kia, có tới tám ngã ba sông, nhiều nhánh đan xuyên qua Hậu Giang, trông xuống trấn Vĩnh Thanh như là một biển sao, các ngôi sao đan ken nhau. Sông ngòi nhiều nên dân xứ ấy giỏi nghề sông nước, ở đây không ghe thuyền thì không đi lại được. Nước ngọt tươm ướp, khi làm lúa thì chỉ làm cỏ và cấy mạ, mà lúa gặt thì gấp trăm. Còn trong vườn thì có nhiều trầu cau, dưa quả, dâu, mè; mương ngòi thì đầy cả cá - tôm - rùa - lươn; ai nấy tự của nhà dùng đủ, chẳng cần mua sắm ở chợ. Dân cư thì trước vườn, sau ruộng, tất cả đều có sản nghiệp làm ăn, mọi người được cho là giàu có.

<<49a> HẬU GIANG (SÔNG SAU)> (<18><190>)

Ở phía tây nam trấn. Thượng lưu sông từ phía đông thành Nam Vang Cao Miên, chảy xuống Châu Đốc, qua Mạt Cần Đăng (<19><191>); nam đổ xuống đồn Cường Oai ở Lấp Vò rồi qua đồn thủ Trấn Giang Cần Thơ, đến đạo Trấn Di, ra cửa biển Ba Thắc (<20><192>); nước dầm thấm khắp cả ruộng vườn, bao hàm cả cồn bãi bờ bến, là nguồn thủy lợi rất lớn, lúa gạo cá tôm dùng ăn không hết.

ĐẠI TUẦN GIANG (SÔNG VÀM TUẦN) (<21><193>)

(Xưa có Tuần ty ở đấy, tục gọi là Tuần cái, nay đã dời bỏ). Sông này cách phía bắc trấn hơn 9 dặm, phía nam thông đến trước trấn, phía tây thông với Sa Đéc, phía đông chảy xuống hai cửa biển Ngao Châu và Ba Lai. Dọc sông có cây bần rậm tốt, sóng vàng lấp lánh, rộng 9 dặm, sâu 28 tầm. Bờ phía bắc là địa giới trấn Định Tường. Sông Thi Hàn là đường trạm sông đi ngang qua để tiếp xúc các nơi khác.

HÀM LUÔNG GIANG (SÔNG HÀM LUÔNG) (<22><194>)

Cách trấn về phía đông 83 dặm rưỡi. Sông rộng 5 dặm, sâu 49 tầm, như là vực rồng, hang giao, ở đó thường có cá to, sấu lớn trồi lên hụp xuống. Bờ phía đông là địa giới huyện Tân An, bờ tây là địa giới huyện Vĩnh Bình. Nước chia ra 3 ngả: một ngả chảy xuống phía đông Tiền Giang 59 dặm <49b> đổ ra cửa biển Ba Lai; một ngả chảy vào nam Tiền Giang 84 dặm rưỡi, rồi đổ ra cửa biển Ngao Châu. Nước thường trong ngọt, sóng gió dập dình, có cái hứng nhìn một cái trông rõ mênh mông vạn khoảnh.

SÔNG TIÊN THỦY (TỤC GỌI LÀ SÓC SÃI HẠ) (<23><195>)

Ở về phía đông sông Hàm Luông, cách trấn về phía đông 96 dặm. Sông rộng 4 tầm, sâu 1 tầm, làng xóm chợ búa rất đông đúc, ghe thuyền tụ tập. Nước chia làm 2 nhánh. Nhánh phía nam nước trong veo, nhánh phía bắc bùn đục ngầu, giống như sự phân chia đục trong của sông Kinh, sông Vị (<24><196>), nhưng vị nước đều ngon ngọt, pha trà có mùi thơm ngon, nếu dùng để tắm thì được trơn sạch nên gọi là Tiên Thủy (nước Tiên). Ngoài cửa sông lớn có nhiều cá sấu, có con to bằng chiếc xuồng, tính rất hung dữ, người đi qua phải coi chừng. Dân trong vùng phàm có những ngòi nhỏ, dùng chở gạo củi, hay tưới rửa, thì ở miệng ngòi phải trồng cọc dày kín, để ngăn dòng nước cho khỏi nạn cá sấu.

MỸ LỒNG GIANG (SÔNG MỸ LỒNG) (<25><197>)

Ở phía đông sông Hàm Luông, cách phía đông trấn 103 dặm rưỡi, rộng 18 tầm, sâu 11 thước <50a> ta. Vào sông nầy đi xuống hướng đông 3 dặm, nơi bờ phía bắc là chợ Bến Tre (Trúc Tân), quán xá dày đặc; 3 dặm rưỡi bên bờ nam là chợ Mỹ Lồng, phố xá liền nhau, buôn bán đông đúc. Có những vườn cau rậm như rừng, quả lớn lại sai, nên cau Mỹ Lồng rất nổi tiếng. Xuống phía đông 5 dặm chảy ra cửa sông Phước Thạnh (tục gọi là Cái Sậy (<26><198>), thuộc địa phận thôn Phước Thạnh) cửa sông rộng 3 tầm, sâu 2 tầm, vào nam chảy ra biển Ba Lai.

BÌNH PHỤNG GIANG THƯỢNG KHẨU (THƯỢNG KHẨU SÔNG BÌNH PHỤNG)

(Tục gọi là thượng vàm Cái Muối (<27><199>), ở địa phận thôn Bình Phụng), ở phía tây sông lớn Long Hồ, rộng 6 tầm, sâu 3 tầm, cách trấn về phía đông 7 dặm rưỡi. Chảy đi 23 dặm thì đến ngã ba sông; nhánh phía tây nam chảy 1 dặm rưỡi đến Kinh Bố (Vải) (<28><200>), rồi ra sông lớn. Hướng nam đổ ra hải cảng Cổ Chiên, nhánh đông nam chảy 1 dặm rưỡi đổ vào phía nam sông Bình Phụng rồi chảy xuống hải cảng Ngao Châu.

CẦN THAY THƯỢNG GIANG (SÔNG CẦN THAY THƯỢNG) (<29><201>)

Ở bờ phía đông sông lớn Long Hồ, cách phía đông trấn 38 dặm, theo sông lớn chảy về nam rồi ra cửa biển Cổ Chiên. Từ cửa sông nầy đi về phía đông 2 dặm đến ngã ba sông. Nhánh phía bắc thông với sông Phú Sơn tục gọi là Cái Ớt ở địa phận thôn Phú Sơn, <50b> chảy 25 dặm rưỡi nữa đến chợ Bình Định là tên thôn tục gọi là chợ Cần Thay, nơi đây chợ búa đông đúc, buôn bán tụ hội tấp nập; chảy hơn 4 dặm nữa ra hạ khẩu sông Cần Thay, rồi đổ ra cửa biển Ngao Châu.
Logged
KGBFSBCIA
Thành viên
*
Bài viết: 231


« Trả lời #25 vào lúc: 08 Tháng Bảy, 2011, 07:28:25 pm »

THƯỢNG THẦM GIANG (<30><202>)

Tục gọi là Cái Dâu Thượng, ở bờ phía tây sông Hàm Luông, cách trấn về phía đông 38 dặm rưỡi. Sông rộng 3 tầm, sâu 2 tầm, chỗ cuối nguồn có ruộng vườn dân cư, chạy dọc theo sông lớn xuống phía nam 4 dặm rưỡi đến sông Trung Thầm; sông nầy rộng 3 tầm, sâu 2 tầm; chảy 5 dặm rưỡi đến sông Hạ Thầm, khúc sông nầy rộng 3 tầm, sâu 2 tầm, đều là cùng nguồn, ở đó cũng có ruộng vườn dân cư, họ sống bằng nghề nông và trồng dâu nuôi tằm.

AN VĨNH GIANG (<31><203>)

Là tên thôn, tục gọi là Cái Mơng Lớn, ở bờ phía tây sông Hàm Luông, cách phía đông trấn hơn 86 dặm, rộng 25 tầm, sâu 14 tầm. Cách phía tây 10 dặm đến sông nhỏ Lan Sái. Sông nầy ở bờ phía bắc, 14 dặm <51a> nữa đến chỗ ngã ba cửa kinh; ngả kinh phía tây chảy ra sông nhỏ, quanh về hướng nam đổ ra cửa biển Cổ Chiên; ngả phía nam chảy 1 dặm rưỡi đến chợ Ba Vát (<32><204>). Chợ nầy ở bờ phía đông, ở đây phố xá liền nhau, ghe thuyền đậu san sát, đó là huyện lỵ Tân An. Đi 15 dặm rưỡi nữa đến sông nhỏ Lê Đầu (<33><205>) (tục gọi là sông Mỏ Cày), ở bờ phía tây rộng 4 tầm, sâu 1 tầm, quán xá đông đúc. Chảy thêm 4 dặm ra sông Thanh Thủy (sông Nước Trong), rồi chảy về nam thông ra cửa biển Băng Côn.

BA LA GIANG (<34><206>)

Tục gọi là Cái Mít, ở phía đông hạ lưu sông lớn Hàm Luông, rộng 26 thước ta, sâu 8 thước ta, cách phía đông trấn hơn 128 dặm. Trước cửa sông có nổi lên cái cồn nhỏ, từ cồn ấy có lạch nhỏ chảy xuống phía nam hơn 9 dặm đến sông nhỏ Sơn Đốc, ở đây có dân cư, rồi chảy ra cửa biển Ngao Châu.

VĨNH ĐỨC GIANG (<35><207>)

Vĩnh Đức là tên thôn, tục gọi là Ba Tri Ớt, ở phía đông cuối sông Hàm Luông, rộng 8 tầm, sâu 2 tầm <51b>, cách phía đông trấn 165 dặm rưỡi ở cuối nguồn có quán xá đông đúc, nhiều người theo nghề biển.

CHÂU THỚI GIANG (<36><208>)

Châu Thới là tên thôn, tục gọi là Ba Tri Cá; ở phía tây hạ lưu sông Ba Lai; rộng 4 tầm, sâu hai tầm, cách phía đông trấn 112 dặm rưỡi, chảy theo hướng tây rồi quanh vào nam 9 dặm rưỡi đến ngã ba sông có chợ Giồng Trôm, nhánh sông phía đông chảy 45 dặm đổ ra sông Châu Bình (tên thôn, tục danh Ba Tri Chàm) (<37><209>) rộng 4 tầm, sâu 2 tầm, chảy vào nam rồi đổ ra cửa biển Ba Lai. Nhánh phía nam chảy 45 dặm đổ ra sông Mỹ Ân, rộng 5 tầm, sâu 3 tầm, rồi chảy ra cửa biển Ba Lai. Hai bên bờ sông là rừng sác, dân miền biển ở đây hãy còn thưa thớt.

MÂN THÍT GIANG (SÔNG MÂN THÍT) (<38><210>)

Ở bờ tây hạ lưu sông lớn Long Hồ của Tiền Giang, cách trấn về phía nam 55 dặm rưỡi. Bờ phía bắc có đồn thủ ngự Tân Thắng, chợ búa đông đúc, là trị sở huyện Vĩnh Bình <52a>. Cửa sông rộng 7 tầm, sâu 5 tầm. Về phía tây đi 34 dặm rưỡi đến ngã ba Cái Nhum (<39><211>); ngả phía bắc chảy 12 dặm rưỡi đến sông Song Tông (tục danh Kè Đôi) (<40><212>) ở địa phận hai thôn Tân Điền và Định Thới, lại có tên là sông Thới Điền, nằm ngang với cửa sông Cần Thay Thượng, cửa sông rộng 6 tầm, sâu 5 tầm, phía bắc đến trấn 45 dặm. Ngả sông phía tây chảy 50 dặm đến ngã ba sông Kiên Thắng.

KIÊN THẮNG GIANG (<41><213>)

Tục gọi là Ba Kè, đó là đồn thủ ngự Kiên Thắng, rộng 12 tầm, sâu 6 tầm, cách trấn về phía tây nam 30 dặm. Sông chia 3 ngả: ngả phía đông chảy 85 dặm rưỡi đến sông Mân Thít; ngả phía tây 26 dặm rưỡi đến sông Trà Ôn. Ruộng vườn ở đây mới khai phá, cây cỏ hãy còn rậm rạp, là một con đường thủy giao thông quan trọng.

AN PHÚ GIANG

An Phú là tên thôn, tục gọi là Vũng Liêm. Sông rộng 18 tầm, sâu 8 tầm, ở bờ phía tây sông lớn Long Hồ. Chảy qua hướng tây bắc 2 dặm có chợ nhỏ; 36 dặm đến ngã ba Khu Ân rồi hiệp lưu với sông Kiên Thắng. Nơi đây, người Việt và người Thổ chung sống với nhau, họ <52b> chuyên nghề làm ruộng, phát cỏ cấy mạ và đắp đập bắt cá, dùng sức ít mà được lợi nhiều, làm lụng, nghỉ ngơi tùy lúc nhưng không ăn chơi, rảnh rỗi. Truyện "Gia Định Thành Thông Chí " được copy từ diễn đàn Lương Sơn Bạc (LuongSonBac.com)

LÁNG THÉ GIANG (SÔNG LÁNG THÉ) (<42><214>)

Rộng 30 tầm, sâu 27 thước, ở bờ phía tây sông lớn Long Hồ, cách trấn về phía nam 85 dặm rưỡi. Trước cửa sông có cồn nhỏ, cây cỏ rậm rạp, lên phía tây 20 dặm rưỡi đến sông nhỏ Cần Chông (<43><215>) rồi ăn thông với sông lớn Hậu Giang, nhưng sông nầy hẹp nhỏ lại bị lấp cạn, thuyền bè khó đi; đất còn hoang vu chưa khai khẩn hết.

TRÀ VANG GIANG (SÔNG TRÀ VINH) (<44><216>)

Rộng 13 tầm, sâu 5 tầm, ở phía tây sông Cổ Chiên. Nơi đây có đồn thủ ngự Quang Phục, người Việt và người Thổ ở chung nhau, chợ phố liên tiếp, thuyền buôn tụ hội, tạo thành một doi biển đông đảo nhất ở miền biển. Thuở trước nơi đây là vùng đất thuộc Cao Miên, năm Canh Tý thứ 3 (1780), vì có việc cần phải trưng dụng dân phu quân lính mà tù trưởng Trà Vinh lúc ấy là <53a> Ốc nha (<45><217>) Suốt ương ngạnh không chịu phụng mạng. Triều đình sai quan chinh thảo, nhưng vì xứ ấy đầy rừng rậm chằm lớn, hoang vu rậm rạp, chúng chiếm cứ chỗ rừng bụi hiểm trở, lấy tài bắn nỏ làm sở trường, thường dùng trận phục ngưu dò xét quân ta sơ hở thì cưỡi trâu dài chân lớn móng, bày đội ra xung kích, bầy trâu vừa đạp vừa húc chọi, nên quân ta không thắng được.Ngoài tháng 4, Ngoại hữu Thượng tướng quân Phương Quận công tự cầm quân tinh nhuệ, dùng khiên da, súng lớn, bắn tiến vào rừng sâu và cho đốn cây cối thật quang đãng, rồi vây chặt sào huyệt của chúng. Chúng mất thế hiểm yếu, thế cùng, quân ta một trận bắt hết, giết bọn đầu đảng cừ khôi, còn dư đảng đều được phủ dụ, cảm hóa thành dân lương thiện. Năm Đinh Mùi (1787), khi mới Trung hưng đã dùng dân ấy làm binh lính đồn Oai Viễn; họ từng theo chinh thảo có công trạng, nay có lệnh: phàm sự việc thuộc người Việt ta thì do Tri huyện Vĩnh Bình xử lý, còn dân Cao Miên thì thuộc đồn Oai Viễn xử lý; nếu như người Việt, người Thổ liên can nhau, thì 2 nha phải cùng nhau xem xét, xử lý <53b>. Nhờ sự sắp đặt tổ chức rõ ràng như vậy, nên người người đều an cư lạc nghiệp, phân nửa những gò hoang đất trống đều được khai khẩn thành ruộng vườn để trồng trọt.

TÂN HỘI GIANG

Tân Hội là tên thôn, tục gọi là Cái Tàu Hạ, ở bờ phía nam Tiền Giang, rộng 20 tầm, sâu 3 tầm, cách trấn về phía tây hơn 30 dặm. Phía đông nam xuống đến ngã ba Cái Ngang; nhánh phía bắc thông với sông Long Hồ, rồi chuyển về nam 60 dặm đến ngã ba sông Kiên Thắng; theo hướng đông chảy ra sông An Phú và sông Láng Thé rồi hiệp với Tiền Giang; chảy hướng tây ra sông Trà Ôn rồi gặp sông Hậu Giang, đó là đường giao thông được cả bốn phía.

NHA MÂN GIANG (SÔNG NHA MÂN) (<46><218>)

Ở bờ phía nam Tiền Giang, cách trấn về phía tây 35 dặm, rộng 29 tầm, sâu 13 thước ta. Theo hướng nam chuyển lên tây 175 dặm, qua các ngòi nhỏ Tam Miếu (Ba Miếu), Giồng Sao, Trà Cát (<47><219>), Đồ Bà (Chà Và), Cam Phù Ly, đến sông Cái Vồn rồi đổ ra sông lớn Hậu Giang. Nơi đây có nhiều người Việt mới đến khai khẩn ruộng vườn.

THƯỢNG CẦN THƠ GIANG KHẨU (CỬA SÔNG THƯỢNG CẦN THƠ <54a>)

Ở bờ phía nam Tiền Giang, cách trấn về phía tây 52 dặm rưỡi; rộng 37 tầm, sâu 13 thước ta; chuyển từ đông sang nam 37 dặm thì dòng sông hẹp dần, đến ngã ba Sơn Chiết, nhánh phía tây đến thượng khẩu Thâm Khê (Ngòi Sâu) rồi ra Bàu Hốt, thông với Hậu Giang; nhánh phía nam đến Du Khê, ra Trà Mơng rồi cũng thông với Hậu Giang. Sông nầy đối bờ với đường sông ở trấn Cần Thơ, suốt đường sông nầy cây tre 2 bên bờ ngọn ngả ra giao nhau, làm trở ngại thuyền bè đi lại; ruộng vườn ở đây còn thưa trống, vì người ta mới đến lập nghiệp.
Logged
KGBFSBCIA
Thành viên
*
Bài viết: 231


« Trả lời #26 vào lúc: 08 Tháng Bảy, 2011, 07:29:10 pm »

SA ĐÉC GIANG (SÔNG SA ĐÉC) (<48><220>)

Ở bờ phía nam Tiền Giang, rộng 42 tầm, sâu 28 thước ta, cách trấn về phía tây 56 dặm rưỡi. (Trước chỗ này cách 4 dặm ở bờ phía nam có sông nhỏ Cái Sơn, rộng 9 tầm, sâu 10 thước ta, có cầu ngang thông với chợ Sa Đéc); về phía tây nam 7 dặm rưỡi đến ngã ba mương Nàng Hai (Nhị Nương), ở đây dân đều làm nhà sàn trên sông để ở. Sông ở đây hẹp, quanh co um tùm, thuyền bè khó đi lại. Nước sông trong ngọt, vườn ruộng rất tốt, nhân dân đông đúc giàu có, có đạo Đông Khẩu đóng ở phía nam, chợ phố liền nhau, thuyền bè đông đúc, là chỗ đại đô hội của trấn nầy. Phía trái có xóm Tiên Phổ (thuộc Tân Quy Đông, cát trắng ngăn đục như cái mõm nhô môi ra, gió mát, sông lặng, người ta thường đậu thuyền nơi đây, không hề có ruồi muỗi quấy nhiễu, nên mới gọi là Tiên). <55b>. Phía phải có cồn Phụng Nga như bức la thành hộ vệ, núi sông hiểm yếu, bờ cõi vững bền. Chảy qua tây nam 33 dặm có Rạch Dầu (Du Câu) ở bờ phía tây, rạch Nàng Hai ở bờ phía đông, rạch Sa Nhân ở bờ phía tây, rồi đến ngã ba Nước Xoáy, mạch đất như cuốn bó lại nguồn xa của dòng nước, để giữ lấy vượng khí.

HỒI LUÂN THỦY TAM KỲ (NGÃ BA NƯỚC XOÁY) (<49><221>)

Tục gọi là Nước Xoáy, ở địa phận thôn Tân Long. Phía tây có ngòi nhỏ thông với sông Thủ Ô, cạn hẹp khó đi; nhánh phía bắc đi 33 dặm đến sông Sa Đéc; nhánh phía nam đi hơn 71 dặm qua kinh Cường Oai (tục gọi là Cái Tắt Lai Vung) (<50><222>), đến Kỳ Can (Cán Cờ), Thung Dung, rồi đến sông Cường Oai ra sông Hậu Giang; nhánh phía tây chảy 18 dặm cũng qua kinh Cường Oai chuyển theo ngòi Lưu Thủy đến sông Thủ Ô rồi đến ngã ba sông: nhánh phía bắc đi 6 dặm đến sông Hội An, rồi chảy ra Tiền Giang; nhánh phía tây chảy hơn 71 dặm xuống sông Cường Oai rồi ra Hậu Giang, chỗ nầy nước chảy xoáy quanh, là đường thông suốt bốn hướng từ nơi giao hợp của Tiền Giang, Hậu Giang <56a>. Năm Đinh Mùi (1787), lúc mới Trung hưng, Thế Tổ tạm đồn trú ở đây để hiệu lịnh binh tướng các lộ, giữ lấy thế chính giữa chặn lấy nơi hiểm yếu, thu được nhiều công lớn (<51><223>), ấy là một vùng đất có hình thắng vậy.

LONG PHỤNG GIANG (SÔNG LONG PHỤNG) (<52><224>)

Ở bờ phía nam Tiền Giang, cách đạo Đông Khẩu về phía tây 2 dặm rưỡi; rộng 10 thước ta, sâu 7 thước ta, khi nước lên đi qua Du Câu (Rạch Dầu), rồi hợp với sông Sa Đéc, hai bên bờ sông ruộng vườn rất tươi tốt.

TÂN ĐÔNG GIANG (<53><225>)

Tân Đông là tên thôn, tục gọi là Cái Bè Cạn, ở bờ phía nam Tiền Giang; rộng 26 tầm, sâu 9 thước ta, cách đạo Đông Khẩu về phía tây hơn 8 dặm. Nơi đây ruộng nhiều, dân đông, trước mặt có bãi bùn ngầm mới nổi, làm thành cái cồn chắn trước cửa sông. Bãi dài 4 dặm, bề ngang bằng nửa bề dài, khi nước lên thuyền bè không biết đi lầm vào (<54><226>) đều bị mắc cạn, nên gọi tên là Cạn. Từ cửa sông chảy vào nam 25 dặm đến ngã ba sông: Nhánh phía bắc chảy 14 dặm rưỡi đến ngòi Tân Khai (tục gọi là Mương Đào) (<55><227>), rộng 7 tầm, sâu 9 thước ta) <56>, rồi chảy ra Tiền Giang; nhánh phía đông đến rạch Sa Nhơn (Nhiên) (<56><228>) rồi hợp lưu với sông Sa Đéc.

MỸ AN GIANG (<57><229>)

Mỹ An là tên thôn, tục gọi là Đất Sét, ở bờ phía nam Tiền Giang; rộng 5 tầm, sâu 1 tầm. Trước cửa sông có cồn nổi, đất cát màu mỡ, thích hợp với việc trồng các loại dưa, quả; cách đạo Đông Khẩu về phía tây 56 dặm rưỡi. Về phía nam 8 dặm đến cùng nguồn. Nơi đây gò đất rất màu mỡ, thổ nhưỡng ở đây hợp các loại bí rợ, bắp, khoai, đậu, thuốc lá.

HỘI AN GIANG (<58><230>)

Hội An là tên thôn, tục gọi là Cái Tàu Thượng, ở bờ phía nam Tiền Giang, rộng 1 dặm rưỡi, sâu 19 thước ta, cách đạo Đông Khẩu về phía tây 60 dặm. Cửa sông đối diện với cù lao Tòng Sơn, cù lao Trâu (<59><231>) và cù lao Tinh (<60><232>), làm ứng tinh hộ vệ phía ngoài để ngăn cơn gió, tạt chân ngọn nước xói, đấy là một chỗ đất rất tốt. Từ đấy chảy về nam 55 dặm rưỡi đến ngã ba sông: nhánh phía nam chảy 24 dặm rưỡi đến sông Cường Thành rồi đổ ra Hậu Giang, nhánh phía bắc chảy 70 dặm rưỡi xuống sông Sa Đéc rồi đổ ra Tiền Giang.

CỰU CHIẾN SAI THỦ SỞ <57a> (THỦ SỞ CŨ CHIẾN SAI) (<61><233>)

Ở phía tây sông Trà Thôn 80 tầm (sông nầy ở bờ phía nam Tiền Giang, sông rộng 4 tầm, sâu 3 thước ta, chảy qua phía tây nam thông với sông Lễ Công, dọc bờ sông có ruộng vườn và dân cư, phía sau đó còn có rừng rậm - sông nầy mùa thu, đông vẫn đi được, đến mùa xuân, hạ nước lại cạn, nhiều người đắp đê để bắt cá tôm) cách phía tây đạo Đông Khẩu 80 dặm, nay thủ sở ấy đã dời đi nơi khác.

LỄ CÔNG GIANG THƯỢNG KHẨU (<62><234>)

Tục gọi là vàm Ông Chưởng; cửa sông nầy rộng 8 tầm, sâu 8 thước ta. Trước cửa sông có cù lao nhỏ và nhân tên sông mà gọi tên cù lao ấy (cù lao Ông Chưởng), ở cách phía tây đạo Đông Khẩu 90 dặm rưỡi. Sông chảy vào nam 60 dặm rưỡi đến hạ khẩu rồi hợp lưu với Hậu Giang. Bờ phía tây có sở thủ ngự Hùng Sai (<63><235>), bờ phía tây thượng khẩu có miếu thờ Khâm sai Chưởng cơ Lễ Thành hầu Nguyễn (Nguyễn Hữu Cảnh) (<64><236>) vì dân ở đấy cho rằng ông có công dẹp yên Cao Miên, khai thác đất này, nên nhân dân nhớ công đức mà lập miếu thờ, cũng có ý giống như chuyện dân không nỡ chặt cây cam đường để nhớ Thiệu Bá (<65><237>), lập đền Phục Ba ở Việt Đông (<66><238>), lập miếu Võ Hầu ở Vân Nam (<67><239>). Việc lấy tên của ông đem đặt <57> tên sông là muốn người sau muôn đời không quên ơn đức của ông vậy. Đến như huân nghiệp rực rỡ của ông đã được ghi rõ trên lá cờ đặt ở đền thờ chính ở Biên Hòa. Nơi đền chính này đều có lễ cúng cấp quốc gia xuân thu hai lần và lễ này đã được ghi vào Hội điển (<68><240>) của triều đình.

VÀM NAO (<69><241>)

Tục gọi cửa sông là vàm, âm gần với chữ phàm. Theo sách Thủy Kinh Chú chép thì nhà Ngụy sai Hạ Hầu Uyên cùng Trương Hấp đem quân đến Ba Thục (Tây Thục). Lưu Bị đưa quân ra phiếm khẩu (<70><242>), tức là nơi cửa sông.

Chữ nầy thiết âm là phù phạm hay phù phong tùy theo dùng bằng hay trắc, nhưng nghĩa thì đồng nhau. Tục viết là Vàm Nao (汎B), nhưng chữ B nầy ít khi được dùng nên nay sửa lại viết là洨.

Thượng khẩu vàm nầy ở phía nam Tiền Giang, rộng 8 tầm, sâu 2 tầm. Chảy vào phía nam 75 dặm rưỡi đến hạ khẩu, rồi nhập vào Hậu Giang. Ở phía tây có sở thủ ngự, dọc theo bờ sông người Việt lập ruộng vườn, nhà đất, phía sau có rừng, là nơi có sóc của các tộc người Miên.

ƯU ĐÀM GIANG (<71><243>)

Tục gọi là Tắt Cây Sung, rộng 7 tầm, sâu 2 tầm ở phía nam Tiền Giang, cách đạo Đông Khẩu về phía tây 94 dặm. Chảy về nam hơn 76 dặm đến sông Đàm Giang rồi hợp lưu với Hậu Giang. Dọc theo bờ sông là ruộng vườn nhà cửa của người Việt, phía sau là rừng, nơi người Cao Miên ở chen lộn.

<55a> TÂN GIANG (<72><244>)

Tục gọi là Cái Mới, rộng 12 tầm, sâu 2 tầm, ở về phía nam bờ Tiền Giang, cách đạo Đông Khẩu về phía tây 143 dặm, cách trấn 200 dặm. Đây là chỗ giáp giới giữa trấn Vĩnh Thanh và phủ Nam Vang của Cao Miên. Chảy về nam 2 dặm rưỡi đến ngã ba sông: Nhánh phía đông 59 tầm, nhánh phía tây 38 tầm, đều vào chằm cùng, ở đây có dân Việt và dân Cao Miên sinh sống chen lộn. Chỗ cắt ngang Tiền Giang rộng 830 tầm 2 thước ta, chảy ngược lên Nam Vang của Cao Miên. Khoảng trung lưu có 3 cù lao là Cổ Cà (<73><245>), Cần Thay và Cổ Cang (<74><246>). Lên xa nữa là Cổ Điệp, ở đó có thủ sở của Cao Miên.
Logged
KGBFSBCIA
Thành viên
*
Bài viết: 231


« Trả lời #27 vào lúc: 08 Tháng Bảy, 2011, 07:29:58 pm »

CHÂU ĐỐC GIANG (SÔNG CHÂU ĐỐC)

Ở phía tây thượng lưu Hậu Giang, rộng 70 tầm, sâu 9 tầm, cách trấn về phía tây 327 dặm, thủ sở Châu Giang ở bờ đông Hậu Giang. Đồn Châu Đốc ở bờ phía tây sông Châu Đốc, thủ phủ Mật Luật (<75><247>) nước Cao Miên ở bờ phía đông sông Châu Đốc, đó là địa giới quan ải của trấn Vĩnh Thanh và nước Cao Miên. Phía bắc đi 25 dặm về phía tây sông nầy có sông Phong Cần Thăng, <56b> đi về phía tây 60 dặm qua đường cũ của Cao Miên đến láng (bưng) bùn Ca Âm (<76><248>), chỉ mùa mưa mới đi được, còn mùa nắng thì khô cạn và bùn lầy, ở đây mọc nhiều cây cỏ lúa, cách 10 dặm về phía tây sông nầy có sông Cam La Ngư chảy vào chằm cùng, cách 3 dặm về phía đông sông nầy có kinh Lăng Lý, tục gọi là Tắt Nục, lúc nước lụt có thể đi qua sông rộng rãi Bình Thiên rồi ra Hậu Giang; cách 10 dặm là sông Lò Khù Ngư, đến đây thì đầm ao khắp nơi rồi cùng. Ngoài cửa sông Châu Đốc theo dòng Hậu Giang chảy về nam, sông rộng 300 tầm, sâu 10 tầm, nước lớn ròng gì cũng ở mức ấy thôi, cách 6 dặm rưỡi đến sông Tham Lung, sông nầy rộng 6 tầm, sâu 10 thước ta, cùng nguồn.

VĨNH TẾ HÀ (KINH VĨNH TẾ)

Ở về phía tây đồn Châu Đốc. Năm Kỷ Mão (1819) niên hiệu Gia Long thứ 18, đo thẳng từ hào sau phía phải đồn Châu Đốc lên phía tây, qua láng (bưng) bùn Ca Âm đến Kỳ Thọ (tục gọi là Cây Kè) dài 44.412 tầm <57a> thành ra 205 dặm rưỡi (mỗi dặm bằng 1.700 thước nam), đặt tên là sông Vĩnh Tế. Vua ban dụ cho Trấn thủ trấn Vĩnh Thanh là Thống chế Thoại Ngọc hầu Nguyễn Văn Thoại, Hữu quân Hữu bảo vệ Vệ úy, Chưởng cơ Tuyên Quang hầu Phan Văn Tuyên đôn đốc dân phu trấn Vĩnh Thanh mỗi phiên 5.000 người, lính thú đồn Oai Viễn 500 người, Chiêu trùy Tôn La Ha Toàn Phù người Cao Miên đem quân dân mỗi phiên 5000, ngày 15 tháng 12 khởi công. Trừ đoạn láng bùn 4.075 tầm không đào đến, còn thật sự đào là 26.279 tầm, cân nhắc chỗ đào khó dễ, nhân lực nặng nhẹ, bắt đầu từ miệng hào đến láng bùn đất khô cứng có 7.575 tầm là phần việc của người Việt, còn đất bùn nhão có 18.704 tầm là phần việc của dân Cao Miên. Đào bề ngang 15 tầm, sâu 6 thước ta, quan cấp mỗi tháng cho mỗi người là 6 quan tiền và 1 phương gạo (<77><249>) <57b>. Đến ngày 15 tháng 3 năm đầu thời Minh Mạng (1820) thì xong việc, cộng thành sông mới, bề dài 140 dặm, nối tiếp sông cũ đến cửa biển Hà Tiên, tổng cộng dài 205 dặm rưỡi mà đường sông đi lại rất thông. Từ đó kế hoạch quốc gia về biên giới cũng như sự buôn bán của nhân dân cùng hưởng sự tiện lợi vô cùng.

CA ÂM NÁO KHẨU (BƯNG BÙN CA ÂM) (<78><250>)

Ở khoảng giữa sông Vĩnh Tế; dài hơn 18 dặm rưỡi, bề rộng bằng nửa bề dài, sâu khoảng 5 thước ta, hình bầu dục, có mỏm như hoa sen, hoa phù dung nghiêng soi; phía nam gối núi Ca Âm, nên mới gọi tên ấy. Dãy Ất Giùm ở phía đông, dãy Chơn Giùm (Chan Sum) uốn quanh ở phía tây; gió kín khí tụ, nước trong sóng gợn, hoa sen nở rộ, mùi thơm bay xa trăm dặm, cá tôm rất nhiều, bắt dùng không hết.

ĐẦM GIANG (<79><251>) (SÔNG ĐẦM)

Ở bờ phía đông Hậu Giang, rộng 6 tầm, sâu 8 thước ta, phía đông thông với sông Ưu Đàm phần thuộc về Tiền Giang, cách phía tây trấn 220 dặm. Ngược lên phía bắc, nước chia làm 2 nhánh: 9 dặm qua Du Giang, cửa sông ở bờ tây <60a> rộng 3 tầm, sâu 8 thước ta, tới cùng nguồn; cách 3 dặm qua sông Bà Đê, sông nầy ở phía bờ đông rộng 5 tầm, sâu 2 tầm đến cùng nguồn, 4 dặm rưỡi qua sông Chông Cần Trang, sông nầy ở bờ tây, rộng 2 tầm, sâu 8 thước ta, đến cùng nguồn, đến đây lại hiệp làm một dòng, vì giữa sông lớn có 2 cù lao lớn Cần Trang và Bà Dơm (<80><252>) nằm ngăn ở giữa, 2 bên bờ sông rừng tre um tùm, cây cối ven sông xiên ngang che lấy mặt sông, người Việt và người Thổ cùng ở xen nhau. Ruộng tốt mới khai khẩn, dân nuôi bắt cá đồng bán tươi, làm mắm, làm khô, muối măng chua, đốn tre kiếm sống.

MẠT CẦN ĐĂNG GIANG (SÔNG MẠT CẦN ĐĂNG)

Ở bờ phía tây Hậu Giang, rộng 6 tầm, sâu 2 tầm, chảy về phía tây nam 17 dặm hợp lưu với Thoại Hà, người Việt, người Thổ ở xen nhau, có rừng sác liền nhau.

THOẠI HÀ (<81><253>)

Tục gọi là Ba Rách, rộng 8 tầm, sâu 14 thước ta, cách trấn về phía tây 214 dặm. Ở bờ phía tây 4 dặm rưỡi <60b> đến ngã ba sông, hợp với sông Cần Đăng; qua tây nam 59 dặm đến cửa sông Lạc Dục; từ đấy đi về nam 57 dặm rưỡi đến ngòi nhỏ Song Giang, bùn ứ, cây cỏ ngăn lấp, thuyền bè không đi được. Tháng 11 niên hiệu Gia Long thứ 16 (1817), vua sai Trấn thủ trấn Vĩnh Thanh là Thoại Ngọc hầu điều dân Việt và dân Thổ 1.500 người, cấp cho gạo tiền để đốn chặt cây cối, đào vét cho thông, bề ngang sông là 12 tầm, sâu 4 thước ta, trong 1 tháng thì xong, ăn thông với thủy đạo Kiên Giang, nhân dân Việt, Thổ đi lại đều tiện lợi. Vua ban tên là Thoại Hà để ghi nhớ công của người bề tôi.

TIỀN TRÀNG GIANG (SÔNG TRƯỜNG TIỀN) (<82><254>)

Ở bờ phía đông Hậu Giang, rộng 3 tầm, sâu 1 tầm. Nguyên ngày trước có xưởng quan đúc tiền Ba Thắc ở đấy nên mới gọi tên ấy. Chảy xuống đông hơn 1 dặm có nhánh chảy về nam thông với Qua Giang (tục gọi là Cái Bí) rồi chảy ra sông lớn, nhánh chảy xuống đông hơn 1 dặm hợp lưu với sông Cường Thành.

CƯỜNG THÀNH GIANG

Tục gọi là sông Lấp Vò, ở bờ phía đông sông Hậu Giang, rộng 12 tầm, sâu 18 thước ta, cách trấn về phía nam 178 dặm rưỡi <61a>. Bờ phía nam có Du Giang, chảy ra sông lớn; cách bờ nam nửa dặm đến thủ sở Cường Thành, ở đây có chợ búa đông đúc. Lại 50 tầm đến ngã ba sông: nhánh phía bắc thông với sông Qua Giang, sông Trường Tiền, rồi chảy ra sông lớn; nhánh phía đông 70 dặm đến ngã ba nữa; nhánh phía bắc thông với sông Hội An rồi ra Tiền Giang, nhánh phía đông qua sông Thủ Ô, sông Hồi Luân, ra sông Sa Đéc, rồi cũng thông với Tiền Giang. Hai bên bờ sông đều có ruộng vườn, dân cư.

CƯỜNG OAI GIANG

Tục gọi Lai Vung, ở bờ phía đông Hậu Giang, rộng 15 tầm, sâu 18 thước ta. Thủ sở Cường Oai ở phía bờ bắc, ở đây chợ quán đông đúc, cách phía nam trấn 160 dặm rưỡi, chảy xuống hướng đông 71 dặm đến mương nhỏ rồi nhập vào sông Hồi Luân, thông với sông Sa Đéc rồi chảy ra Tiền Giang.

BÀU HỐT GIANG (<83><255>)

Ở bờ phía đông Hậu Giang, rộng 3 tầm, sâu 1 tầm; chảy về phía đông 1 dặm đến ngã ba: Nhánh phía bắc 1 dặm rưỡi chảy ra cửa Thâm Câu (Ngòi Sâu) rồi nhập vào sông lớn; nhánh xuống phía đông 1 dặm rưỡi đến ngã ba sông, chia nhánh phía bắc thông với thượng khẩu sông Cần Thơ rồi chảy ra Tiền Giang; nhánh phía nam chảy hơn 2 dặm qua Du Khê, ra Trà Mơng rồi nhập vào sông lớn, đối mặt với đạo Trấn Giang, Cần Thơ.

CẦN THƠ GIANG (<61b> SÔNG CẦN THƠ)

Ở bờ phía tây Hậu Giang, rộng 8 tầm, sâu 5 tầm, cách trấn về phía nam 210 dặm rưỡi. Bên bờ phía tây là thủ sở đạo Trấn Giang, ở đây chợ phố đông đúc, buôn bán rất sầm uất. Từ sông lớn chảy vào nam 121 dặm rưỡi ra cửa biển Ba Thắc; từ cửa sông đi lên hướng tây 8 dặm rưỡi đến ngã ba sông: nhánh phía bắc chuyển qua hướng đông 1 dặm rưỡi, thông với sông Bình Thủy rồi ra Hậu Giang (trước đó nửa dặm chảy về Bắc, rồi chuyển qua hướng đông 1 dặm, chảy ra Ô Môn (<84><256>) thông với Hậu Giang); nhánh phía tây chảy 78 dặm rưỡi đến Nê Trạch (tục gọi là Ba Láng), 165 dặm rưỡi nữa ra cửa Cảng Nhỏ đạo Kiên Giang (tục gọi Cửa Bé). Đường đi qua chỗ Nê Trạch, từ cuối đông qua xuân nước cạn, bùn nhão cạn lấp; từ hạ qua đông, nước mưa tràn ngập cả bến bờ, ghe thuyền cưỡi lên cỏ, lướt trên lục bình mà đi, chọn đường tới lui, cứ trông theo rừng rậm 2 bên nhận chừng nhớ dấu đường mà đi. Ở đây vắng ngắt không có dân cư, lại có nhiều ruồi muỗi và đỉa khiến người qua lại rất khổ.
Logged
KGBFSBCIA
Thành viên
*
Bài viết: 231


« Trả lời #28 vào lúc: 08 Tháng Bảy, 2011, 07:30:37 pm »

VỒN GIANG (SÔNG CÁI VỒN) (<85><257>)

Ở bờ phía đông Hậu Giang, rộng 32 tầm, sâu 5 tầm, cách trấn về phía nam 72 dặm rưỡi. Chảy về phía đông bắc 3 dặm rưỡi đến sông Đông Thành (tục gọi Cái Tràm thuộc đất thôn Đông Thành Trung), rồi ra sông lớn; lại chảy thêm hơn 171 dặm rưỡi thì thông với sông Nha Mân, Tiền Giang.

TRÀ ÔN GIANG (SÔNG TRÀ ÔN) (<86><258>)

Ở phía đông hạ lưu Hậu Giang, rộng 14 tầm, sâu 7 tầm, cách trấn về phía nam 57 dặm. Phía bắc lên sông Cần Thơ 26 dặm, thuộc huyện Vĩnh Bình, bờ phía tây là tổng Vĩnh Trường, bờ phía đông là tổng Bình Chánh (<87><259>), có đồn Oai Viễn và đồn điền của lính thú Cao Miên đóng. Ở đây chợ phố đông đúc, là nơi người Việt, người Tàu và người Cao Miên tụ tập đông đảo. Qua phía đông 26 dặm rưỡi đến ngã ba La Vách (<88><260>), đi qua 2 sông nhỏ Trà Côn và Sa Cô rồi đến ngã ba Kiên Thắng: nhánh phía đông chảy 85 dặm rưỡi đến sông Mân Thít rồi hợp lưu với sông lớn Long Hồ; nhánh phía tây chảy hơn 30 dặm thì đến trấn thành, đều là nhà cửa ruộng vườn của dân cư, gà gáy chó sủa văng vẳng, là đất đã khai khẩn hết.

BA THẮC GIANG (<62> SÔNG BA THẮC) (<89><261>)

Ở phía nam hạ lưu Hậu Giang, cách trấn về phía nam 117 dặm, rộng 30 tầm, sâu 7 thước ta (?), có thủ sở đạo Trấn Di (<90><262>) đóng ở bờ phía bắc, cù lao Hổ (tục gọi là cù lao Dung) nổi lên phía nam, chảy 36 dặm đến cửa biển Ba Thắc. Từ cửa sông đi về hướng tây 60 dặm đến Tàu Trường, đây là nơi đậu của tàu buôn đường biển, người Việt, người Tàu và người Cao Miên ở chung với nhau, đường phố chợ búa nối dài liên tiếp. Cách 66 dặm đến ngã ba Nguyệt Giang (tục gọi Sóc Trăng); nhánh phía bắc 23 dặm đến sông Phủ Đầu (tục gọi là Bố Thảo, là âm tiếng Tàu của từ Phủ Đầu) (<91><263>), ngược dòng lên tây bắc 165 dặm rưỡi qua Ba Dinh (Ba Rinh), Tầm Vu, Cái Tàu, Cái Cao, Thầy Quang rồi đến cảng lớn đạo Kiên Giang (tục gọi là cửa Lớn): nhánh phía tây (Sóc Trăng) chảy 8 dặm rưỡi đến chợ Bãi Xàu (<92><264>) (Mỹ Xuyên), ở đây có phố xá liền nhau, người Việt và người Thổ ở xen nhau, họ chuyên phơi muối đỏ (dân địa phương gọi là muối đen) đem bán để kiếm sống. Lại cách 25 dặm rưỡi đến ngã ba Lộ Cảnh (Cổ Cò - do sông này dài mà cong nên mới gọi là Cổ Cò); nhánh phía nam chảy 17 dặm rưỡi ra cửa biển Mỹ Thanh; từ cửa biển đi về phía bắc, tới Bãi Xàu, qua chằm bùn, mé đông là địa giới trấn Vĩnh Thanh, nhánh phía tây chảy <63a> 231 dặm rưỡi qua Trà Nô (Trà Nho) (<93><265>), Cái Tràm rồi đến đạo Long Xuyên (Cà Mau).

AN THỚI GIANG

Tục gọi là Vàm Rài, ở thôn An Thới Trung, nằm về bờ phía đông hạ lưu Hậu Giang, rộng 12 tầm, sâu 3 tầm, có sở thủ ngự ở đấy, người Việt và người Cao Miên ở xen nhau.

NGAO CHÂU HẢI MÔN (CỬA BIỂN BÃI NGAO)

Cách trấn về phía nam 168 dặm, rộng 2 dặm, khi nước lên sâu 5 tầm, nước ròng sâu 2 tầm. Bờ phía đông cách hơn 2 dặm đến sông Mộc Miên (Cây Gòn) (rộng 5 tầm, sâu 2 tầm đến cùng nguồn), 2 dặm nữa đến Tinh Giang (rộng 2 tầm, sâu 1 tầm đến cùng nguồn), 13 dặm đến sông Vĩnh Đức, 2 dặm rưỡi đến cảng Bãi Ngao (<94><266>) chảy ra biển, phía ngoài có thủ sở phụ đóng giữ. Ngang cảng có sông Long Tân (rộng 5 tầm, sâu 3 tầm đến cùng nguồn), 18 dặm rưỡi đến Ngư Giang (rộng 2 tầm, sâu 2 tầm đến cùng nguồn), 12 dặm đến sông Cổ Miếu (rộng 3 tầm, sâu 2 tầm đến cùng nguồn), 11 dặm đến Giá giang (<95><267>) (rộng 4 tầm, sâu 2 tầm đến cùng nguồn), hai bên bờ sông nầy <63b> có ruộng vườn nhà cửa dân cư, giữa sông đùn lên hai cù lao Cát và Đất, phía đông là cù lao Đất (Thổ Châu) dài hơn 2 dặm, phía tây là cù lao Cát (Sa Châu) dài hơn 5 dặm, sở thủ ngự đóng ở phía nam cù lao, có dân cư của 2 thôn Giao Long và An Thạnh. Nơi đây gò đất phì nhiêu, cây cối xanh tốt, làm hai con cá trấn giữ cửa biển, khóa thủy khẩu, khống chế hải quan. Phía đông là cửa cảng Bãi Ngao, phía tây là cửa cảng Băng Côn, rộng 50 tầm, khi nước lên sâu 9 thước ta, nước ròng sâu 2 thước ta. Phía ngoài cửa cảng bờ tây cách Giá giang 22 dặm rưỡi đến sông Giao Thạnh (tục gọi rạch Xuôi Trối (<96><268>), nơi đây mới lập thôn Giao Thạnh, rộng 3 tầm, sâu 1 tầm, cùng nguồn) thủ sở Băng Côn đóng xa về phía tây; phía đông có cù lao Thủy Liễu (cù lao Bần), phía tây có cù lao Lộc (cù lao Nai), đều đứng trước mé biển, cây cối xanh tốt.

CỔ CHIÊN HẢI MÔN (CỬA BIỂN CỔ CHIÊN)

Rộng 11 dặm rưỡi, khi nước lên sâu 32 thước ta, nước ròng sâu 18 thước ta, cách phía nam trấn 143 dặm rưỡi, 2 bên trổ nhiều sông nhỏ, đều có mọc nhiều cây dừa nước, dân ở đây cắt lá bện thành tấm (<97><269>) <64a> khổ dài rộng hơn các nơi khác, rồi chở bè đem bán được lợi rất lớn. Trong cảng có cù lao Cổ Chiên, đầu cù lao đối diện với sông Tầm Vu, đuôi cù lao chận giữ sông Long Toàn (tục gọi là rạch Thâu Râu thuộc đất thôn Long Toàn) dài 45 dặm, bề ngang độ 10 dặm, có dân cư của 3 thôn Phước Hòa, Phú Thạch và Phước Long, sở thủ ngự đóng ở phía nam. Cách phía nam ngoài vùng biển ấy 2 dặm rưỡi có cù lao Phù Châu, rừng cây rậm rạp. Phía đông nam ngoài biển cách 33 dặm rưỡi đến cù lao Đại Châu dài 12 dặm rưỡi, bề ngang bằng nửa bề dài, đầu phía bắc gọi là Ngao Chử (tục gọi cồn Ngao), đầu phía nam gọi là Noãn Chử (cồn Trứng), có sở thủ ngự đóng để tuần phòng giặc biển, có dân cư 2 thôn Trường Lộc và Thới Hòa ở đây. Nơi đây đất đai phì nhiêu, phía nam có cù lao Tam Động dài 4 dặm, ở đó có dân biển sinh sống, họ đều trồng thuốc lá, khoai lang và làm nghề chài lưới, cây cối ở đó rất xanh tốt.

BA RÀI (LAI) HẢI MÔN (CỬA BIỂN BA RÀI (LAI))

Rộng hơn 9 dặm, khi nước lên sâu 7 tầm, nước ròng sâu 10 thước ta, ở về cuối sông Hậu Giang, <64b> ngược dòng lên phía tây bắc 60 dặm đến đạo Trấn Di. Dọc theo ven sông, ven biển cây cỏ rậm rạp, trong đều là gò đất, người Tàu và người Cao Miên đều trồng thuốc lá, củ cải, dưa quả rất to mà ngon. Theo biển nầy lên phía tây thì liền tiếp với cửa biển Mỹ Thanh; ngoài cảng có cồn Lợi, cồn Tổ nhưng chỉ có cù lao Trứng (cồn Nóc) (Noãn châu) là lớn hơn, ngư dân ở đây chuyên nghề chài lưới và câu cá.
Logged
KGBFSBCIA
Thành viên
*
Bài viết: 231


« Trả lời #29 vào lúc: 08 Tháng Bảy, 2011, 07:31:32 pm »

2d.
Trấn Vĩnh Thanh (2)

MỸ THANH HẢI MÔN (CỬA BIỂN MỸ THANH)

Rộng 10 dặm, khi nước lên sâu 12 thước ta, nước ròng sâu 4 thước ta. Bờ phía tây có thủ sở, người Việt, người Tàu, người Cao Miên đến sinh sống ở đó, quán xá đông đúc; thổ sản ở đây là thuốc lá, dưa quả và phơi tôm khô (<98><270>). Ngoài cảng về phía đông có cồn cát ngầm, dài chừng 5 dặm, ghe thuyền phải lo tránh.

BÍCH TRÂN CHÂU (CÙ LAO BÁT TÂN) (<99><271>)

Ở phía bắc trấn thành, chu vi 12 dặm, sắc cây xanh biếc, ánh nước long lanh như ngọc bích. Lại có tên là Bát Tân, ý nói bến nước thông cả tám hướng. Nơi này làm cồn cát bảo vệ cho sông Long Hồ, <65a> hai bên khép lại như cái vạt áo, quanh vòng ôm lấy hai thôn Bình Lương và An Thành. Bên bờ có những ngư dân phơi lưới, treo tơi, ẩn hiện nơi ngọn rừng, gốc cây. Sông thu thuyền câu giỡn nguyệt, hát hò dưới rặng bần, lênh đênh bên cồn cát trắng, bập bềnh qua lại, tạo nên lạc thú của dân chài.

VĨNH TÙNG CHÂU (CÙ LAO VĨNH TÙNG) (<100><272>)

Ở phía tây cù lao Bích Trân, dài 4 dặm, cây cau, dây trầu ở đây rất xanh tốt, quít bưởi rung rinh, có dân cư thôn Vĩnh Tùng ở đấy, cảnh trí thâm u thanh tĩnh.

TÂN CÙ CHÂU (CÙ LAO TÂN CÙ) (<101><273>)

Ở phía bắc sông Hàm Luông, cù lao uốn khúc, nổi lên giữa mặt kính hồ, như một vành cong nét vẽ chân mày nằm vắt ngang. Cành trúc rủ la đà quét mặt sóng, ngọn cau dựng đứng khều tầng mây, ở đó có dân cư của 2 thôn Tân Cù và thôn Bình An sinh sống. Cảnh vật khác hẳn nơi chợ búa ồn ào.

TRƯỜNG CHÂU (CÙ LAO DÀI)

Ở hạ lưu sông lớn Long Hồ, chu vi 30 dặm, ở đó có dân cư của 5 thôn Phú Thới, Phước Khánh, Thới Bình, Thanh Lương và Bình Thạnh. Nơi đây ruộng vườn ngăn nắp sạch sẽ, phong thủy thanh tú, có những cây thủy mai (mù u) đơm ngọc, hương toán (<102><274>) (xoài) đeo vàng, đáng gọi là nơi sung túc nhàn tĩnh.

PHỤ LONG CHÂU (CÙ LAO PHỤ LONG)

Cù lao nầy nằm phụ cận theo sông Hàm Luông nên gọi là Phụ Long (Luông). Có lũy tre xanh uốn khúc bao quanh vũng nước của thôn Phụ Long <65a>. Đồng bằng cò đậu, cây ban tối quạ về, đượm cảnh trí tự nhiên của làng mạc cạnh sông nước.

THANH SƠN CHÂU

Tục gọi là cù lao Cái Cấm, cù lao này nằm giữa sông Hàm Luông, dân của 3 thôn Thanh Sơn, Thanh Xuân và Tân Thông sống ở đó, trông giống dãy núi xanh chống giữa khoảng không, sóng bạc vỗ bên bờ, như là bóng dải đất giữa mặt trăng (<103><275>), là cảnh giới thần tiên vậy.

PHỤNG NGA CHÂU (CÙ LAO PHỤNG NGA) (<104><276>)

Ở bờ phía bắc sông Sa Đéc, vừa cong vừa dài 10 dặm. Phía đông là cù lao Phụng (tục gọi là cù lao Tân Phụng), phía tây là cù lao Nga (tục gọi là cù lao Cái Nga), có dân của 4 thôn Tân Phụng, Sùng Văn, Tân Lâm và An Tịch sinh sống ở đó. Đất nầy chỉ thuộc một khu nhưng có ngòi nhỏ ở giữa nên chia ra làm hai, như hai nửa viên ngọc bích ghép lại vậy. Ở đấy vườn xanh rậm, tàu cau rủ đuôi chim phụng, bến sông tắm đàn nga, đó là nguyên nhân ban đầu đưa đến gọi tên là Phụng Nga. Nơi đây tuy là nhà cửa chốn lâm tuyền nhưng lại gần thành thị. Kẻ ưa nhàn tĩnh thì đến bến phía bắc thả thuyền qua Tiền Giang để giặt dải mũ ở sông Thương Lang (<105><277>) <66a>. Người ưa phồn hoa thì đến bến phía nam đưa chân xuống Sa Đéc vui chơi thú chợ Lạc Dương (<106><278>). Có ruộng để cày nên làm nông phu cũng tốt, có sông để câu nên làm ngư phủ cũng hay, đủ cả thú vui cho mọi giới, đáng gọi là một cù lao giàu có đầy đủ vậy.

DINH CHÂU (<107><279>)

Tục gọi là cù lao Giêng, ở thượng lưu Tiền Giang, cách trấn về phía tây 117 dặm. Trước kia là đất thuộc đạo Tân Châu, ở đây có dân cư của 4 thôn: Toàn Đức, Mỹ Hưng, Toàn Đức Đông và Phú Hưng.

Phía tây nam có cù lao nhỏ dân cư của 3 thôn: Tân Phước, Phú An và Tân Tịch ở đấy.

Phía đông nam có cù lao nhỏ dân cư của thôn Tân Thới ở đó.

Ba cù lao này đứng sóng vai nhau, bốn phía đều sóng nước, nghiễm nhiên trở thành dáng dấp ba đảo tiên Bồng Lai, Phương Trượng, Doanh Châu vậy. Từ đấy lên phía bắc có rừng tre xanh um, thân tre cao lớn khác thường, cành rễ quấn nhau rậm rịt khắp phía. Bên trong lắm hồ ao, cá đồng chen chúc, dân bắt cá kéo đến từng nhóm 5, 10 người, họ sục bùn, vạch cỏ tìm bắt cá đem ướp mắm hoặc phơi khô, rồi chặt tre kết bè chở bán khắp các ngả, cùng nhau cậy nhờ mối lợi của thiên nhiên.

NGƯU CHÂU (CÙ LAO TRÂU)Ở thượng lưu Tiền Giang, có 2 thôn Tân Hòa, Tân Thuận ở đây. Đất thích hợp các loại thổ sản là thuốc lá, bông vải và dưa quả.

TÒNG SƠN CHÂU (CÙ LAO TÒNG SƠN)Nằm về phía đông sông Mỹ Luông ở Tiền Giang, có thôn Tòng Sơn ở đấy. Bốn bề đều là sóng to, trông như đám lục bình nổi trên mặt sông; mặt trời chiếu dọi cá nược (<108><280>), ngọn gió đung đưa hạc nước, thật đầy đủ cảnh trí vùng sông nước !

TÊ CHÂU (CÙ LAO TÂY) (<109><281>)

Ở thượng lưu Tiền Giang, có thôn Tân Hưng ở đấy. Cù lao Lộc (Nai) ở phía đông, cù lao Ngãi ở phía tây, cù lao Trư (Heo) ở phía bắc, cù lao Hỏa Đao (Dao Lửa) (<110><282>) ở phía nam; như hình dáng hoa mai vậy. Nơi đây có tre xanh tốt, là hang vực, lùm bụi để loài thú ẩn nấp.

LONG SƠN CHÂU (<111><283>)

Tục gọi là cù lao Cái Vừng, ở thượng lưu Tiền Giang, dài hơn 47 dặm, lồi lõm góc cạnh giống như đầu rồng, phía đông cách đạo thủ mới Tân Châu 5 dặm rưỡi, cách trấn về phía tây 174 dặm rưỡi, xóm Tân Phú Lâm ở đấy; <67a> kế tiếp phía đông có cù lao Tản Dù, cũng phía đông ấy còn có cù lao Đồ Bà (Chà Và) (<112><284>), tất cả giăng thành hình chữ nhất mà có lớn nhỏ thứ tự khác nhau. Nơi đây rừng tre um tùm, đường sông thông nhau, bờ phía tây là đồn mới Tân Châu, bờ phía đông là đồn mới Chiến Sai, bờ phía bắc là đồn mới Hùng Ngự (Hồng Ngự), có địa thế là một ải quan hùng mạnh chặn giữ chỗ hiểm yếu.

NĂNG GÙ CHÂU (CÙ LAO NĂNG GÙ) (<113><285>)

Ở phía trước hạ khẩu vàm Nao (<114><286>) thuộc Hậu Giang dài 9 dặm, có thôn Bình Lâm ở đấy. Ở đây rừng tre um tùm, đầy dẫy ao cá, phàm dân ở vùng thượng lưu Hậu Giang khai thác tre cây, cá tôm làm nghề sinh nhai hàng ngày, thứ nữa họ còn trồng bông kéo sợi, rồi sau nữa mới làm ra lúa gạo
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM