Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 13 Tháng Mười Hai, 2019, 12:55:36 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)  (Đọc 74072 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9028


Lính của PTL


« Trả lời #40 vào lúc: 06 Tháng Bảy, 2011, 08:48:03 AM »

Năm 1952, Phân liên khu Miền Đông sáp nhập Khoa Quốc dân thiểu số và các đội vũ trang tuyên truyền tổ chức thành từng đội công tác đi về các buôn sóc đồng bào dân tộc thiểu số làm nhiệm vụ tuyên truyền giáo dục, tập hợp đồng bào tham gia kháng chiến, bảo vệ buôn sóc, cán bộ, chống địch càn quét. Lúc đầu, việc tuyên truyền giác ngộ cách mạng còn gặp nhiều khó khăn do bất đồng ngôn ngữ và phong tục tập quán giữa người Kinh và người dân tộc. Đặc biệt, đồng bào dân tộc chưa tin cách mạng, vì sợ bọn Pháp và các tên tổng, xã. Trong thời gian cai trị, chúng tuyên truyền xuyên tác, nói xấu cách mạng nên khi ta mới đến với đồng bào thì họ bỏ trốn ra nương rẫy, chỉ để người già cả ở nhà tiếp cán bộ cách mạng. Nhưng với quyết tâm xây dựng cơ sở cách mạng trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, cán bộ cách mạng đề ra phương châm “bám trên, nắm dưới” ra sức tranh thủ các già làng để khởi dậy tinh thần dân tộc, vạch ra những âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, giải thích để đồng bào dân tộc biết là chống giặc để giữ nương rẫy, núi rừng. Đối với các tên tổng xã, thông qua gia đình, ta giáo dục, phân tích tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân, đường lối chính sách dân tộc của Đảng để họ hiểu, dẫn đến giảm bớt những hành động tàn ác đối với cách mạng. Đối với những tên ngoan cố, ta đe dọa buộc chúng không được làm hại cách mạng, quấy nhiễu nhân dân. Đối với tầng lớp bên dưới, ta hướng vào các đối tượng nghèo khổ để giáo dục, thuyết phục họ tham gia hoặc giúp đỡ cho cách mạng chiến đấu chống giặc và giải thích cho họ khi cách mạng thành công sẽ làm cho họ và gia đình hưởng được không khí tự do. Trong quá trình cùng ăn, cùng ở, cùng làm nhiều cán bộ cách mạng đã tổ chức kết nghĩa ăn thề sống chết có nhau đã cảm hóa, thuyết phục được đồng bào dân tộc. Vì vậy, họ đã ủng hộ sức của, sức người cho cách mạng, điển hình là ông K Riềng ở Bù Koh, ông Đinh Phồng ở Bù Rưng, ông Diên ở Bù Tôn… Nhân dân tích cực giúp đỡ cán bộ cách mạng, bộ đội cung cấp lương thực, thuốc men và những mặt hàng nhu yếu phẩm khác; đồng thời thông báo tình hình hoạt động của địch. Nhờ vậy mà lực lượng ta ít bị tổn thất.

Lúc đầu ta sử dụng phương thức “lấy quần chúng vận động quần chúng” dựa vào mối quan hệ họ hàng, thân quen để tuyên truyền đường lối chính sách cách mạng, đạt hiệu quả ở các buôn, làng vùng Bù Na và vùng sông nước Đồng Nai. Về sau, nhằm đẩy mạnh hơn nữa việc giác ngộ cách mạng trong vùng đồng bào dân tộc, tháng 2 năm 1952 đội vũ trang tuyên truyền do đồng chí Ba Phú chỉ huy gồm 12 người được chia làm 4 tổ trực tiếp bám chắc địa bà từ Bù Nard đến cây số 81. Nhiệm vụ chính của đoàn là: Điều tra tình hình hoạt động của địch ở 3 bót Bù Nard, Bù Đăng và cầu 38. Nắm tình hình tư tưởng và đời sống của nhân dân. Đội vũ trang tuyên truyền đã xây dựng cơ sở cách mạng trong 9 ban dân tộc như: Bù Ka Rá, Bù Klôn, Đak Có, Bù Trạch, Bù Khiu, Ban Ranh, Bù Tinh, Bù Nard và Phùng Hà. Đồng thời, dựa vào những người đứng dần dân tộc họ ta cử đại diện gồm những ông như Ông Lâu, ông Có, ông Sa, ông Diêu,…

Từ năm 1952 trở đi, qua các lễ hội liên hoan hoặc những buổi lao động của đồng bào dân tộc ở các xã trong huyện Bù Đăng, ta đã cử cán bộ cách mạng trực tiếp đối với đồng bào cũng như sử dụng người Kinh buôn bán ở vùng đồng bào dân tộc cùng với thân nhân của những người có người thân đi lính để tuyên truyền, kêu gọi họ bỏ súng trở về với nhân dân.

Từ năm 1951 đến nửa đầu năm 1953, là thời kỳ khó khăn nhất đối với quân và dân bắc Thủ Dầu Một trong quá trình kháng chiến chống thực dân Pháp. Vừa tổ chức chiến đấu bảo vệ địa bàn, bảo đảm tiềm lực cho công cuộc kháng chiến, chống lại sự đánh phá ác liệt của địch, vừa chống chọi với bão lụt thiên tai. Thế nhưng, với ý chí kiên cường, tinh thần bền bỉ chịu đựng gian khổ, quân dân Hớn Quản, Bù Đốp cùng bới Miền Đông Nam Bộ sẵn sàng bước vào cuộc chiến đấu mới ngày càng gay go và quyết liệt hơn.

Đến mùa xuân năm 1953, cuộc kháng chiến của nhân dân ta thu được những thắng lợi to lớn. Trong gần 8 năm đó, Chiến tranh Đông Dương đã ngốn của nước Pháp bao nhiêu người và tiền của. Pháp đang lâm vào tình thế khó khăn nhất. Cuối năm 1953 đầu năm 1954, quân Pháp bị động lớn trên chiến trường toàn quốc, sinh lực địch bị tiêu hao khá nhiều. Tinh thần binh lính ngụy hoang mang giao động. Phong trào đấu tranh mạnh mẽ của nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới đòi chính phủ Pháp chấm dứt chiến tranh xâm lược ở Đông Dương, cuộc chiến tranh bị xem là “chiến tranh bẩn thỉu”, khiến cho thực dân Pháp ngày càng lúng túng, bối rối. Đầu tháng 5-1953, tướng Nava (Navarre), Tham mưu trưởng lục quân khối Bắc Đại tây dương được cử làm Tổng tư lệnh ở Đông Dương, được chính phủ Pháp cử làm Tổng chỉ huy các lực lượng viễn chinh Pháp ở Đông Dương đã vạch ra kế hoạch chiến lược quy mô lớn, tập trung quân để tấn công chủ lực của ta trong vòng 18 tháng buộc ta phải thương lượng theo những điều kiện mà chúng sắp dặt. Kế hoạch này đã được Mỹ chuẩn y và hà hơi tiếp sức cho chiến tranh của Pháp ở Đông Dương.

Tuy nhiên, ngay từ giữa năm 1953, Pháp buộc phải rút quân từ Nam Bộ chi viện cho chiến trường Trung Bộ và Lào làm cho số quân viễn chinh Pháp giảm xuống. Tại Thủ Biên, chúng rút 2 tiểu đoàn, 2 đại đội, 5 trung đội Âu Phi và một số đơn vị quân ngụy. Do thiếu quân và bị ta tấn công nên địch phải rút bỏ một số đồn bốt và tháp canh, để tổ chức thành những đơn vị cơ động trấn giữ đường 13, đường 14 với lực lượng thường xuyên từ 1 đến 2 tiểu đoàn. Mặc dù vậy, chúng vẫn tiến hành các hoạt động đánh phá càn quét liên miên gây cho ta nhiều khó khăn. Do ở một số địa phương, khi thực hiện phương châm vùng kháng chiến, ta có nhiều sai lầm, lệch lạc, rút lực lượng vũ trang vùng tạm chiếm về bổ sung cho bộ đội địa phương, giải tán lực lượng xã đội, chuyển du kích, một số cán bộ quân sự sang công tác dân vận hoặc công tác khác. Lợi dụng điều này, thực dân Pháp tập trung lực lượng tiến công mạnh vùng căn cứ và vùng du kích, đặc biệt ở đường 14 nhằm chia nhỏ một số căn cứ của ta và bao vây chiến khu Đ, khống chế các hoạt động của ta ở nhiều nơi trong đó có địa bàn tỉnh Bình Phước ngày nay.

Chủ trương của ta là tập trung lực lượng tiến công vào những hướng chiến lược quan trọng nhằm tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng đất đai, buộc địch phải bị động phân tán lực lượng hơn nữa để đối phó với ta trên những địa điểm xung yếu. Với phương châm tác chiến “tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt”. Tháng 9 năm 1953, Bộ Tư lệnh Phân liên khu kịp thời chỉ đạo đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích, đẩy mạnh hoạt động tiến công ở vùng sau lưng địch, và chủ trương cho tiểu đoàn 303 tỏa ra các huyện hỗ trợ cho bộ đội địa phương chống càn quét lấn chiếm. Bộ đội địa phương huyện Hớn Quản cùng với du kích các xã vùng du kích và vùng địch tạm chiếm đẩy mạnh các hoạt động tiêu hao sinh lực địch, buộc chúng phải dồn lực lượng đối phó. Các đội vũ trang tuyên truyền cùng với 2 đoàn công tác Phân liên khu về các xã móc nối, xây dựng lại cơ sở quần chúng và đội du kích. Phong trào đã dần dần phục hồi, có lợi cho ta. Nhanh chóng khắc phục những lệch lạc, đẩy mạnh hoạt động kháng chiến là những tiền đề quan trọng để quân và dân Bình Phước chuẩn bị cùng cả nước bước vào Chiến lược Đông Xuân 1953-1954.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9028


Lính của PTL


« Trả lời #41 vào lúc: 06 Tháng Bảy, 2011, 08:48:50 AM »

*
*   *

Thu đông 1953, cuộc kháng chiến bước vào giai đoạn quyết định. So sánh lực lượng giữa ta và địch đã có thay đổi theo chiều hướng có lợi cho ta. Từ phản công cục bộ bắt đầu từ Chiến dịch Biên giới, quân ta đang tiến lên phản công lớn.

Thực hiện kế hoạch Nava, từ tháng 9 năm 1953, trên chiến trường Đông Nam Bộ, nhiều đơn vị tinh nhuệ của thực dân Pháp phải rút đi. Tại Thủ Biên, chúng rút hai tiểu đoàn, 2 đại đội, 5 trung đội Âu Phi và một số đơn vị quân ngụy. Đến tháng 11, địch rút thêm 1 tiểu đoàn chính quy nữa. Đến cuối năm 1953, quân số địch trên địa bàn tỉnh chỉ còn 26.000 tên. Do thiếu quân và bị ta tiến công liên tục nên địch phải rút bỏ một số bốt và tháp canh, tổ chức thành những đơn vị cơ động trấn giữ đường 13, đường 14 với quân số thường xuyên từ 1 đến 2 tiểu đoàn để bảo vệ giao thông. Lực lượng quân Pháp và quân ngụy giảm đã gây hoang mang, giao động tinh thần quân ngụy. Đây là điều kiện thuận lợi cho chúng ta tiến công và phát huy công tác địch vận.

Trước tình hình đó, nhiệm vụ chiến đấu đặt ra cho quân đôi ta hết sức nặng nề. Từ năm 1953, lực lượng vũ trang nhân dân ngày càng lớn mạnh, các khu căn cứ không ngừng được củng cố và tại các chiến trường chính, quân chủ lực luôn giữ ưu thế về chuyển động tấn công. Sự thay đổi so sánh lực lượng trên cho phép Bộ Chính trị Trung ương Đảng vạch kế hoạch tác chiến mở cuộc tổng tấn công chiến lược Đông Xuân 1953-1954 tiến đến đánh bại hoàn toàn quân Pháp ở Việt Nam.

Đối với chiến trường Nam Bộ, Bộ Chính trị chủ trương đẩy mạnh du kích chiến tranh, tiêu hao, tiêu diệt dần sinh lực địch, đẩy mạnh công tác địch vận, mở rộng vùng căn cứ, đánh địch cả trên hai mặt trận rừng núi và phía sau lưng địch. Quán triệt Nghị quyết của Trung ương Đảng, Tỉnh ủy Thủ Biên nhanh chóng triển khai công tác tăng cường bồi dưỡng sức dân và duy trì các hoạt động vũ trang trên chiến trường Miền Đông. Dưới sự lãnh đạo của chi bộ Đảng tỉnh Thủ Biên, từ tháng 9 năm 1953 đến tháng 3 năm 1954, trên địa bàn Hớn Quản, Bà Rá, Bù Đốp đã xây dựng nhiều đội du kích, số đội viên du kích tăng nhanh. Dân quân tự vệ phát triển mạnh. Bộ đội tỉnh, huyện cùng dân quân du kích thực hiện đánh lẻ, tiêu hao lực lượng địch trên đường 13, đường 14.

Việc giữ vững và củng cố các căn cứ kháng chiến trong mọi hoàn cảnh vô cùng khó khăn do bão lụt và sự đánh phá của địch đã dẫn đến sự hồi phục phong trào kháng chiến trong năm 1953 sau một thời gian tạm lắng. Trong năm này, công tác xây dựng đoàn thể lại được đẩy mạnh, nhân dân hăng hái tham gia diệt tề, trừ gian, cung cấp nhiều tin tức quan trọng cho cách mạng, vận động binh sĩ ngụy trở về với nhân dân thông qua gia đình và người thân; vận động thanh niên tòng quân giết giặc, nổi bật nhất là phong trào đấu tranh chống địch gom dân, bắt lính, bắt xâu. Nhiều nơi, thanh niên tổ chức canh gác tìm cách đối phó mỗi khi quân địch luồn vào xóm ấp bắt lính. Đồng bào còn hỗ trợ các đội vũ trang tuyên truyền vận động thanh niên không đi lính cho Pháp, một số tình nguyện vào lực lượng du kích, bộ đội. Các cuộc đấu tranh chống nộp thuế, chống chủ tây đánh đập công nhân, đòi quyền dân sinh, dân chủ, đòi ngày làm việc 8 giờ… ở đồn điền Lộc Ninh, Phú Riềng thu được thắng lợi. Lực lượng du kích Hớn Quản, Bù Đăng, Phước Long được quần chúng hết lòng đùm bọc, chở che, dẫn đường, cung cấp lương thực đã thực hiện chống càn quét, phục kích đánh địch, điều tra nghiên cứu địa hình và phối hợp với quân chủ lực đánh nhiều trận trên đường 14. Ở khu vực đồn điền Thuận Lợi, đội vũ trang tuyên truyền Sông Bé hoạt động trong công nhân nắm tình hình địch, xây dựng cơ sở cách mạng, hoạt động vũ trang và giúp cho công nhân cao su nắm được diễn biến tình hình trên cả nước. Nhờ đó, đồng bào và công nhân cao su đã hưởng ứng chiến dịch Điện Biên Phủ bằng từng hạt gạo cân muối chắt chiu từ khẩu phần ăn hàng ngày.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9028


Lính của PTL


« Trả lời #42 vào lúc: 06 Tháng Bảy, 2011, 08:51:02 AM »

Xứ ủy Nam Bộ chủ trương gấp rút xây dựng và kiện toàn hệ thống căn cứ địa, coi đó là một yêu cầu chiến lược hết sức quan trọng. Nghị quyết quân sự năm 1951 của Xứ ủy và Bộ Tư lệnh Nam Bộ nhấn mạnh phải “củng cố và mở rộng căn cứ địa của Nam Bộ và các khu. Củng cố và xây dựng căn cứ địa mỗi tỉnh”(1). Thực hiện chủ trương đó, Tỉnh ủy Thủ Biên khẩn trương tổ chức thực hiện chỉ thị của Bộ Tư lệnh phân khu Miền Đông với 3 nhiệm vụ chính: Giữ vững và đẩy mạnh chiến tranh du kích, mở rộng vùng căn cứ du kích, mở rộng công tác địch ngụy vận, vừa vận động công nhân tiếp tục đấu tranh kinh tế với địch, kêu gọi công nhân ra khu kháng chiến, vừa tranh thủ tầng lớp cai, xu trong đồn điền tham gia đấu tranh chống việc bắt cai vừa cạo mủ vừa trông coi công nhân, chống việc đi cạo ngày chủ nhật. Không ít các chủ đồn điền đồn tình cùng công nhân đấu tranh chống bắt lính, chống bọn lính xét nhà công nhân, nộp thuế cho bộ đội và chính quyền kháng chiến. Từ đó, các bốt địch bị lung lay thu hẹp, một số xã vùng tạm chiếm trở thành vùng du kích, vùng du kích chuyển lên vùng giải phóng… Để đánh bại âm mưu địch và phát triển cuộc kháng chiến đến thắng lợi, cần có những căn cứ lớn, vững chắc làm chỗ đứng cho các cơ quan lãnh đạo, chỉ huy và lực lượng vũ trang, tạo nguồn dự trữ, cung cấp kịp thời nhu cầu ngày càng cao cho kháng chiến. Chiến khu Đ được xây dựng, mở rộng, phát triển thành căn cứ kháng chiến của Nam Bộ. Các căn cứ địa trên địa bàn tỉnh được củng cố và ngày càng mở rộng. Chiến khu Đ phát triển lên tới các huyện (thuộc tỉnh Bình Phước ngày nay) cùng với những căn cứ An Long - Tân Khai - Lại Uyên - An Ninh - Phước Sang hình thành nên một hệ thống căn cứ địa kháng chiến rộng lớn, liên hoàn.

Cùng với việc mở rộng khu vực căn cứ địa, mặt trận thông tin, tuyên truyền, văn hóa, văn nghệ, giáo dục, y tế phát triển mạnh mẽ và rộng khắp trong cán bộ, bộ đội và nhân dân. Các đoàn văn công của tỉnh đội, các độ văn nghệ của các tiểu đoàn bộ đội lưu diễn khắp các khu vực trong căn cứ với những vỡ diễn ca ngợi lòng yêu nước. Phong trào bình dân học vụ được đông đảo bộ đội, nhân dân theo học. Nạn chống mù chữ được phát triển trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Ngay từ năm 1948, tại các vùng căn cứ, dấy lên phong trào thực hiện nếp sống văn minh, vệ sinh phòng bệnh được nhân dân hưởng ứng.

Khẩu hiệu “Kháng chiến hóa văn hóa, văn hóa hóa kháng chiến” trở thành quan điểm sáng tác văn hóa, văn nghệ và là quan điểm làm cho cuộc kháng chiến mang màu sắc văn hóa mới, tiến bộ, xóa bỏ những phong tục lạc hầu trong cuộc sống.

Mặt trận Việt Minh, Hội liên hiệp quốc dân Việt Nam đối với các tổ chức thành viên gồm: các đoàn thể Công, Nông, Thanh, Phụ, Công giáo, Cao đài đã góp phần tích cực vận động đồng bào các tầng lớp, các giới, tín đồ tôn giáo tham gia kháng chiến và ủng hộ kháng chiến.

Trong những tháng đầu năm 1953-1954, ta đã mở những cuộc tiến công vào những hướng quan trọng tiêu diệt nhiều sinh lực địch, giải phóng nhiều vùng rộng lớn, buộc địch phải bị động phân tán lực lượng, bước đầu làm phá sản kế hoạch của Nava (Navarre). Lực lượng vũ trang kết hợp với du kích ở Hớn Quản đánh trên đường 13, đường 14 diệt hàng trăm tên, phá hủy nhiều xe quân sự.

Trên mảnh đất Thủ Biên, với chiến thắng Bến Cát, Lái Thiêu, Thủ Đức, đặc biệt chiến thắng Cầu Định đã làm nức lòng nhân dân trong tỉnh. Trong khí thế quyết chiến quyết thắng của quân và dân cả nước, công nhân, nông dân và đồng bào dân tộc thiểu số Hớn Quản, Bù Đốp cùng các đội vũ trang trong các đồn điền cao su đẩy mạnh chiến đấu, đánh diệt hàng chục tháp canh của địch, vận động binh lính ngụy mang súng về các vùng căn cứ tham gia kháng chiến. Các lực lượng vũ trang các huyện bám sát các đồn điền vùng tạm bị chiếm, liên hệ với lực lượng công nhân trong đồn điền phối hợp kế hoạch hành động nhằm góp phần cùng nhân dân cả nước đánh bại hoàn toàn thực dân Pháp xâm lược.

Trong các đồn điền cao su, các chủ sở đều tỏ ra hoang mang trước thất bại của thực dân Pháp ở Điện Biên Phủ. Tất cả các hoạt động của bọn lính bảo vệ đồn điền gần như bị tê liệt. Nhiều chủ sở bỏ đồn điền chạy về Sài Gòn.

Chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 7 tháng 5 năm 1954 đã kết thúc thắng lợi 9 năm kháng chiến trường kỳ, gian khổ và anh dũng của nhân dân ta, đưa tới việc ký kết Hiệp định Genève (năm 1954) công nhận độc lập, chủ quyền và thống nhất lãnh thổ toàn vẹn của nước ta, giải phóng một nửa nước.

Cách mạng nước ta đã chuyển giai đoạn, nhiệm vụ trước mắt là chuyển ngay hình thức đấu tranh từ vũ trang sang hòa bình, nhằm thực hiện Hiệp định Genève. Công việc phải triển khai ngay là sắp xếp lực lượng, chuyển quân tập kết. Xác định tinh thần ở lại miền Nam hoặc tập kết ra Bắc đều là nhiệm vụ, ý thức nhạy bén, cảnh giác cách mạng đã được quán xuyến từ Trung ương Cục(2) đến các cấp ủy, Đảng bộ địa phương.


(1) Nghị quyết quân sự năm 1951 của Bộ Tư lệnh Nam Bộ, Hồ sơ 43, phòng Nam Bộ, Kho Lưu trữ Bộ Quốc phòng.
(2) Đến tháng 10 năm 1954 tổ chức lại thành Xứ ủy. (T.G).
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9028


Lính của PTL


« Trả lời #43 vào lúc: 06 Tháng Bảy, 2011, 08:52:39 AM »

Ngày 30 tháng 7 năm 1954 tại vùng Bà Đả chiến khu Đ, Tỉnh ủy Thủ Biên tổ chức cuộc họp bất thường để triển khai thực hiện những công việc trước mắt và đề ra phương hướng hoạt động trong giai đoạn mới với hai nội dung chủ yếu là thực hiện hiệp định Genève và chuyển hình thức đấu tranh từ vũ trang sang chính trị. Về tình hình sắp tới, hội nghị dự kiến hai khả năng: một là, địch nghiêm chỉnh thi hành hiệp định, hai năm sau sẽ tổng tuyển cử, thống nhất đất nước; hai là, chúng rắp tâm phá hoại hiệp định, chống phá hòa bình, tổng tuyển cử, cuộc đấu tranh của nhân dân ta sẽ diễn biến phức tạp, kéo dài… Từ nhận định đó, hội nghị đã xác định, trong quá trình triển khai nhiệm vụ sắp tới phải thể hiện tinh thần sẵn sàng chuẩn bị ứng phó cả hai khả năng trên. Cụ thể những công việc cấp bách trước mắt là:

- Sắp xếp lực lượng đi, ở theo tinh thần “đi ở đều là nhiệm vụ”.

- Tổ chức mít tinh mừng hòa bình, tổ chức học tập văn bản hiệp định trong cả cán bộ và nhân dân.

- Từng ước chuyển căn cứ vào dân để lãnh đạo nhân dân đấu tranh.

- Các tổ chức Đảng rút vào bí mật, đưa một bộ phận lớn cán bộ và công khai hoạt động hợp pháp để trực tiếp lãnh đạo và cùng quần chúng đấu tranh với địch.

Theo hiệp định, các đơn vị vũ trang ở miền Nam sẽ chuyển quân tập kế theo thời hạn cho rừng vùng, từ 80 đến 300 ngày. Các đơn vị Thủ Biên và một số tỉnh ở miền Đông sẽ tập kết về Hàm Tân - Xuyên Mộc và chuyển quân ra Bắc trong vòng 80 ngày kể từ khi hiệp định có hiệu lực. Các đơn vị bộ đội, các đội vũ trang công tác, vũ trang tuyên truyền hoạt động vùng Hớn Quản, Lộc Ninh, Bù Đốp, Phú Riềng, Thuận Lợi, lần lượt rút về chiến khu Đ chuẩn bị tập kết. Vấn đề tư tưởng phải giải quyết lúc này là: nhận thức thắng lợi, xác định “đi ở đều là nhiệm vụ vinh quang”, tin tưởng ở Trung ương Đảng và Bác Hồ.

Theo sắp xếp lực lượng ở Tỉnh ủy Thủ Biên, bộ phận tập kết trong tỉnh được tổ chức thành một trung đoàn gồm cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang và cán bộ, nhân viên, dân, chính, Đảng, nhiều cán bộ các ngành khác. Cán bộ quân sự xã, du kích xã được quy định ở lại toàn bộ. Nhiều phương tiện, vũ khí được chôn giấu lại.

Ngày 15 tháng 8 năm 1954(1), tại Nhà Nai, chiến khu Đ, hàng vạn cán bộ, chiến sĩ, đồng bào tham gia cuộc mít tinh lớn mừng thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, mừng hòa bình, tiễn đưa bộ đội tập kết ra Bắc. Cuộc mít tinh kết thúc trong không khí chia tay vừa phấn khởi vừa bịn rịn, kẻ ở người đi đều tỏ rõ lòng son sắt thủy chung với Đảng, với Bác Hồ, dù tình huống nào cũng phải đi đến ngày Bắc Nam xum họp. Tuy nhiên, cũng không tránh khỏi những băn khoăn, những lo âu đang đặt ra với một thực tế thấy trước là ở miền Nam không còn chính quyền và lực lượng vũ trang cách mạng.

Chiến trường đã im tiếng súng. Đâu đâu nhân dân cũng phấn khởi. Mít tinh mừng hòa bình mừng chiến thắng diễn ra trên hầu khắp các vùng, có mặt cả dân trong các vùng tạm bị chiếm, trong các đồn điền. Ở Lộc Ninh, cờ đỏ sao vàng, băng khẩu hiệu “Hoan hô độc lập muôn năm”… trương cao trên nhà máy. Các đội văn nghệ quần chúng vừa hình thành, đi lưu diễn khắp làng ở cao su. Ở các đồn điền Bù Đốp, Đa Kia, Phú Riềng tuy chưa có cơ sở cách mạng trong công nhân, quần chúng vẫn tập trung biểu tình mừng hòa bình; dân công đòi chủ Tây trả về xứ là nơi đang có tự do, độc lập. Trên vùng Tân Thuận cũ như Bù Tếch I, Bù Tếch II, Bù Cát, Bù Nho, Bù Ting, là vùng tranh chấp trong kháng chiến chống Pháp, tuy dân có lo ngại địch trả thù vẫn tỏ nỗi phấn khởi.

Tuy nhiên, đến tháng 8 năm 1954, lực lượng địch bắt đầu kéo vào vùng giải phóng để tiếp quản và chọn người, lập bô máy tề thì không khí “mừng chiến thắng” bắt đầu lắng xuống…

*
*   *

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của quân và dân cả nước đã kết thúc thắng lợi. Đó là minh chứng sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn của Đảng, tinh thần anh dũng của quân và dân ta. Đồng thời nó cũng chứng tỏ sự sai lầm của thực dân Pháp trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Như sau này Tổng thống Pháp Míttơrăng, trong chuyến thăm Việt Nam tháng 2-1993 đã phát biểu: “Cuộc chiến tranh đó (Chiến tranh Đông Dương 1945-1954) đối với tôi luôn luôn là một sai lầm” .

Trong giai đoạn cuối cùng của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, mặc dù bị địch chia cắt, phong tỏa và càn quét liên miên, lại gặp khó khăn do thiên tai gây ra, quân và dân Bình Phước vẫn luôn kiên cường chiến đấu bảo vệ địa bàn, bảo vệ tiềm lực của cuộc kháng chiến, xây dựng củng cố chính quyền, lực lượng, củng cả nước tiếp tục bước vào cuộc kháng chiến mới - cuộc đấu tranh chống Mỹ - ngụy, hoàn thành Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.


(1) Có tài liệu nói 15 tháng 8 năm 1954. (T.G)
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9028


Lính của PTL


« Trả lời #44 vào lúc: 12 Tháng Bảy, 2011, 02:22:23 PM »

PHẦN THỨ HAI

BÌNH PHƯỚC TRONG KHÁNG CHIẾN
CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC (1954-1975)

CHƯƠNG BỐN

ĐẤU TRANH CHÍNH TRỊ, XÂY DỰNG
LỰC LƯỢNG CHÍNH TRỊ, LỰC LƯỢNG VŨ TRANG;
KHÔI PHỤC CĂN CỨ, TIẾN LÊN ĐỒNG KHỞI
GIẢI PHÓNG PHẦN LỚN NÔNG THÔN
(1954-1960)

I. CUỘC CHIẾN ĐẤU MỚI - ĐẤU TRANH CHÍNH TRỊ, DÂN SINH,
ĐỐI ĐẦU VỚI CHÍNH SÁCH “TỐ CỘNG” CỦA MỸ VÀ TAY SAI

Sau Hiệp định Genève 1954 về Đông Dương, Đảng ta xác định đường lối đấu tranh bằng phương pháp hòa bình để đi đến thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trên cả nước.

Tuy nhiên, kẻ thù mới là đế quốc Mỹ đã thay chân Pháp thực hiện âm mưu thôn tính miền Nam bằng chủ nghĩa thực dân mới; dựng lên chính quyền tay sai, thực hiện chính sách “tố cộng - diệt cộng”, đàn áp khốc liệt lực lượng cách mạng và yêu nước. Tình thế đặt ra cho cách mạng miền Nam không còn con đường nào khác là bạo lực chính trị kết hợp lực lượng vũ trang.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng thông qua đảng bộ địa phương, cuộc chiến đấu mới của nhân dân Bình Phước đã diễn ra gay go khốc liệt, từ đấu tranh chính trị, dân sinh đến đối đầu “tố cộng - diệt cộng”, chống đàn áp; phải xây dựng lực lượng chính trị, khôi phục căn cứ và lực lượng vũ trang để hỗ trợ đấu tranh chính trị, chống đàn áp tiến lên đồng khởi, giải phóng phần lớn nông thôn, góp phần tạo điều kiện chuyển sang đấu tranh cách mạng.

Tháng 9 năm 1954, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Nghị quyết về “Tình hình mới, nhiệm vụ mới và chính sách của Đảng”, xác định nhiệm vụ của nhân dân ta trên cả hai miền là đấu tranh thực hiện Hiệp định Genève, ra sức củng cố miền Bắc, giữ vững và đẩu mạnh cuộc đấu tranh chính trị của nhân dân ở miền Nam, nhằm củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lân và dân chủ trên cả nước. Nghị quyết chỉ rõ: cuộc đấu tranh cứu quốc không vì đình chiến mà kết thúc, song về phương châm đấu tranh thì phải thay đổi từ đấu tranh vũ trang chuyển sang đấu tranh chính trị, mọi hình thức đấu tranh kịch liệt (như kiểu khởi nghĩa và chiến tranh du kích) cần phải thay đổi ngay.

Với lực lượng được phân công ở lại, Xứ ủy Nam Bộ chỉ đạo duy trì, củng cố tất cả các tổ chức Đảng từ cơ sở trở lên. Các chi bộ xã, ấp được chia làm hai: chi bộ lộ và chi bộ mật. Các cấp ủy Đảng từ huyện trở lên phải hoạt động hoàn toàn trong vùng bí mật. Tháng 10 năm 1954, Trung ương Cục miền Nam đã được tổ chức lại thành Xứ ủy Nam Bộ cùng các Liên tỉnh ủy Miền Trung, miền Tây Nam Bộ, Liên tỉnh ủy miền Đông Nam Bộ được thành lập do các đồng chí Phan Đức (Tư Thưởng) làm Bí thư.

Trên các địa bàn Hớn Quản, Lộc Ninh, Sông Bé, Đồng Xoài(1)… phần lớn lực lượng ở lại đều về các địa phương hòa mình trong dân, làm đủ ngành, nghề để vừa kiếm sống vừa cùng đồng bào đấu tranh. Số cán bộ chủ trì từ huyện trở lên được bố trí vào các đồn điền cao su, nhà máy, xí nghiệp để lãnh đạo phong trào công nhân.

Đến ngày 10 tháng 10 năm 1954, địch tiếp quản toàn bộ tỉnh Thủ Dầu Một. Trong số 2 trung đoàn được điều về tỉnh có một trung đoàn Nùng Hoa phản động từ miền Bắc vào đóng ở Chơn Thành, chuẩn bị đánh phá chiến khu Đ và vùng rừng núi phía bắc của tỉnh.

Thực hiện từng bước âm mưu thôn tính miền Nam, bước đầu từ tháng 7 năm 1954 đến giữa năm 1956, bằng chính những công cụ của thực dân Pháp để lại như ngụy quân, ngụy quyền (được cải biên, đổi chủ…), đế quốc Mỹ và tay sai đã đánh sụp vây cánh và toàn bộ cơ cấu thống trị của thực dân Pháp, thay vào chế độ tay sai Mỹ do Ngô Đình Diệm (do Mỹ nuôi dưỡng và đưa về) cầm đầu. Buổi đầu chúng còn lo mị dân, tập trung loại trừ các thế lực thân Pháp, tạo cơ sở cho bước cơ bản tiếp theo là triển khai thực hiện chiến lược “tố cộng”, tập trung tiêu diệt lực lượng và phong trào cách mạng ở miền Nam. Chúng đã dụ dỗ hàng vạn đồng bào Công giáo ở miền Bắc di cư vào Nam, đưa vào các khu dinh điền. Số người di cư, người Hoa Nùng cũng được cắm vào các đồn điền cao su như ở các làng sở Phú Lố, An Lộc, Chà Là… (thuộc đồn điền Xa Cam và Xa Cát); khu trung tâm đồn điền Quản Lợi; làng sở Phú Riềng; làng sở Xa Cát có 28, Xa cô sud (nam); làng Sở Xa cô I, Xa cô II,… (thuộc đồn điền Quản Lợi); làng sở Văn Hiên đồn điền Xa Trạch,… Ngoài ra có một số dân một số tỉnh miền Trung được đưa vào làm ở các đồn điền nhưng không tập trung mà xen kẽ, phân tán trong dân nói chung.

Phía cách mạng, sau khi sắp xếp, triển khai lực lượng thì ngoài Đoàn thanh niên lao động vẫn tồn tại bên cạnh Đảng, các tổ chức quần chúng trong kháng chiến chống thực dân Pháp như mặt trận Liên Việt, các đoàn thể cứu quốc đều giải thể. Cơ sở cách mạng còn ở nông thôn và đồn điền nhưng nhìn chung ít và yếu. Lúc đầu việc đưa người của ta ra làm tề và tham gia dân vệ được thực hiện trót lọt, qua đó ta nắm khá tốt về tình hình địch, làm được nhiều giấy tờ hợp pháp cho một số cán bộ hoạt động công khai, còn phần lớn làm giấy tờ giả để tránh bộc lộ lực lượng.


(1) Đến lúc này, tỉnh Thủ Biên và hệ thống lãnh đạo tỉnh như trước tháng 7 năm 1954 vẫn tồn tại. Để phù hợp với tình hình mới, ngày 1 tháng 1 năm 1955, Xứ ủy quyết định tách tỉnh Thủ Biên trở lại thành hai tỉnh Thủ Dầu Một và Biên Hòa. Giữa tháng 1 năm 1955, Hội nghị đại biểu Đảng bộ Thủ Dầu Một họp phiên đầu tiên. Hội nghị đánh giá tình hình, đề ra phương hướng nhiệm vụ mới, bầu Ban chấp hành tỉnh Đảng bộ mới gồm 7 đồng chí do đồng chí Lê Đình Nhơn làm Bí thư. Tỉnh ủy chỉ đạo các địa phương móc nối, củng cố vững chắc các chi bộ xã, tổ chức đoàn thanh niên lao động bí mật làm lực lượng nòng cốt ở cơ sở trong đấu tranh, đưa người của ta ra làm đại diện, tham gia các ban tề; thành lập Ban địch tình, cùng các tổ chức quân báo xây dựng cơ sở trong vùng địch để nắm địch… (T.G)
« Sửa lần cuối: 10 Tháng Tám, 2011, 01:51:46 PM gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9028


Lính của PTL


« Trả lời #45 vào lúc: 12 Tháng Bảy, 2011, 02:25:03 PM »

Ở Hớn Quản, sau Hiệp định Genève, huyện ủy được củng cố do đồng chí Vũ Đình Thính (Chín Thính) làm Bí thư, đồng chí Tám Cường (còn gọi là Năm Điền) làm Phó Bí thư, đồng chí Năm Thành Ủy viên thường vụ. Đầu tháng 2 năm 1955, huyện ủy Hớn Quản được bổ sung một số ủy viên: Chín Chức, Sáu Quyền (còn gọi là Sáu Su, Bảy Ngà)(1). Để phù hợp với tình hình, huyện ủy chia làm hai bộ phận hoạt động ở hai tuyến khác nhau: bên trong và bên ngoài (công khai và bí mật) nhưng thực hiện nhiệm vụ chung là xây dựng cơ sở, tuyên truyền giáo dục, vận động nhân dân đấu tranh với kẻ thù. Trong vùng nông thôn, các xã Minh Thạnh, Tân Khai, Tân Thành, Tân Quang, Tân Lạc Phú đều có chi bộ Đảng. Ở các đồn điền Thuận Lợi, Bù Ka thuộc Hớn Quản, chi bộ Đảng được thành lập từ đầu tháng 11 năm 1954, gồm 4 đồng chí (Sa, Hữu, Nghi, Hoàng ) do Lê Sắc Nghi tức Bảy Nghi làm Bí thư. Ở Lộc Ninh, ngày 26 tháng 2 năm 1955, chi bộ Đảng đầu tiên trong chống Mỹ được thành lập do đồng chí Nguyễn Văn Tuyết làm Bí thư. Ở các vùng dân tộc, tuy chưa thành lập được chi bộ, nhưng có đảng viên hoạt động trong các sóc: sóc Tô có Điểu Do, Sóc Thu Bổn có Điểu Bốn, Sóc Lớn có đồng chí Lùi, ở Nha Bích có Điểu Minh, Lâm Nết,… Các cán bộ, đảng viên được pân công về các vùng lúc đầu chưa móc nối được với cơ sở, phải vào rừng đào củ mài ăn thay cơm, đốn củi lấy tiền đong gạo,… sống xa đồng bào, kiên trì chịu đựng mọi gian khổ. Dần dần mới bám rễ được vào dân, được dân đùm bọc, dựa vào dân để hoạt động.

Ở Sông Bé(1), sau Hiệp định Genève, theo phân công của Tỉnh ủy Thủ Biên, một số cán bộ cốt cán ở lại gồm Ba Phú, Lộc(3), Tuyên, Hảo, Ba Thiều, Ba Đấu… Các đồng chí bắt rễ cũ, bám trụ ở vùng Lý Lịch, Bù Tếch, Bù Nho, Bù Na, Tân Thuận, dọc đường 14 lên hướng Đồng Xoài, Bù Đăng. Hai chi bộ được thành lập: Chi bộ đồn điền cao su Bù Ka (3 đồng chí), chi bộ đồn điền Thuận Lợi (4 đồng chí).

Về phía địch, cùng với việc triển khai quân Hoa Nùng ở Chơn Thành, Hớn Quản, Lộc Ninh, Bến Cát, chúng thành lập các tiểu khu quân sự Thủ Dầu Một, Biên Hòa, mỗi tiểu khu có tiểu đoàn bảo an; thành lập các chi khu (cấp quận) có các trung đội bảo an, chi cảnh sát; xây dựng hàng loạt đồn bốt ở các đồn điền, làng xã, dọc các trục giao thông; kiểm soát các đường chiến lược 13, 14.

Dưới chế độ tay sai Mỹ, cấu tạo dân cư và chế độ ở các đồn điền cao su dần đổi khác; chế độ tự trị cao su ở các đồn điền bị bãi bỏ, thay vào đó là chế độ quân quản; chúng lập chính quyền xã, ấp - bộ máy hội tề. Ví dụ ở đồn điền Minh Thạnh chúng lập xã Minh Hòa, có thêm một số ấp xã Thanh Bình và Thanh Hương; đồn điền Quản Lợi lập 3 xã (Tân Lợi, Tân Hưng)…); đồn điền Xa Trạch lập xã Phước An; đồn điền Lộc Ninh lập 3 xã; đồn điền Xa Cát lập xã Minh Đức;… Vùng đồng bào dân tộc thời Pháp đã được khoanh vùng lập tổng, dưới tổng có sóc, thời Diệm vẫn vậy, có tề tổng, tề sóc. Công nhân các đồn điền không còn là “dân công tra” như trước mà đã trở thành “dân tự do”, làm cho chủ theo hợp đồng, công nhân tùy dịp làm theo thời vụ.

Mỹ - Diệm ban hành nhiều sinh sách như lập khu dinh điền để kiểm soát dân, tấn công vào các vùng căn cứ, kháng chiến cũ tách dân với lực lượng cách mạng “cải cách điền địa” nhằm xóa bỏ thành quả cách mạng thời chống Pháp đối với nông dân.

Để kiểm soát nhân dân, địch thực hiện nhiều biện pháp kìm kẹp như thành lập “ngũ gia, liên bảo”, các đoàn “công dân vụ” xuống các xã, ấp vừa tuyên truyền “bài phong đả thực”, nói xấu cách mạng vừa rình rập, truy tìm cán bộ, giám sát các gia đình có người tham gia cách mạng. Ở các đồn điền cao su, để tăng cường hiệu lực chế độ quân quản, chủ đồn điền Pháp cấu kết với ngụy quyền trong việc kìm kẹp công nhân; chúng góp phần nuôi dân vệ, mỗi đồn điền có từ 7 đến 10 người, trang bị từ 5 đến 7 súng.

Trước khi địch triển khai chính sách “tố Cộng” (từ tháng 3 năm 1955), địch còn dùng nhiều thủ đoạn mị dân, xoa dịu phong trào đấu tranh của quần chúng. Hai Đảng bộ Thủ Dầu Một, Biên Hòa lãnh đạo nhân dân đấu tranh chính trị dân sinh, chủ yếu bằng các hình thức công khai, hợp pháp như biểu tình, đưa kiến nghị đình công, bãi công.

Đầu tháng 8 năm 1954, công nhân các đồn điền bãi công ba ngày, cùng nông dân đấu tranh đòi trả tự do cho tù chính trị, trao trả hết tù binh, bãi bỏ thuế đảm phụ chiến tranh, tăng lương 20%.

Tháng 11 năm 1954, 40.000 công nhân ở các sở Quản Lợi, Lộc Ninh, Thuận Lợi, Dầu Tiếng tham gia đấu tranh đòi bãi bỏ chế độ cấp phát gạo mục, cá ươn, chống đánh đập, cúp phạt, sa thải, tăng lương, giảm giờ làm, chăm sóc công nhân đau ốm.

Đầu tháng 12 năm 1954, dưới sự lãnh đạo, vận động, của chi bộ Đảng ở Quản Lợi, 7.200 công nhân của sở tham gia đợt đấu tranh với những yêu cầu cụ thể về dân sinh ngày 16 tháng 12 năm 1954, công nhân từ các làng Sóc Trào, Sóc Gòn, Xa cô đơ, Xa cô xít, Xa cô 28, Trà Thanh và nhà máy Quản Lợi kéo về trung tâm chợ Quản Lợi. Bọn chủ đồn điền và ngụy quyền lo sợ, điều tiểu đoàn bảo an và chi cảnh sát đối phó. Chi bộ Đảng Quảng Lợi lãnh đạo công nhân vừa kiên trì đấu tranh vừa làm công tác binh vận, lôi kéo binh lính đồng tình với cuộc đấu tranh đồng thời mở rộng diện đấu tranh sang các đồn điền lân cận như Xa Cam, Xa Cát để tập hợp thêm lực lượng làm hậu thuẫn. Bọn chủ lo sợ, đã phải chấp nhận các yêu sách như bỏ việc cấp phát gạo mục, cấp gạo trắng loại 2; hủy bỏ chế độ đánh đập công nhân, tăng lương (17 đồng lên 26 đồng/ngày); tăng khẩu phần ăn cho người bệnh).

Phát huy thắng lợi trên, cuộc đấu tranh của 4000 công nhân các đồn điền cao su Phú Riềng, Thuận Lợi; cùng phương cách mở rộng diện và lôi kéo binh lính địch, lại thu được thắng lợi.


(1) Huyện ủy Hớn Quản lúc này còn có một người nữa là Năm Nhẫn, hoạt động được vài năm thì hàng giặc (T.G).
(2) Phước Long sau này (T.G).
(3) Chưa tìm ra họ người Kinh, hoạt động trong vùng đồng bào dân tộc cà răng, căng tai. Vì vậy còn có tên: “Lộc cà răng căng tai”. Không lầm với Tạ Quang Lộc. (T.G)
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9028


Lính của PTL


« Trả lời #46 vào lúc: 12 Tháng Bảy, 2011, 02:26:18 PM »

Đầu năm 1955, thừa lúc địch giải tán các ban hội đồng xã, thành lập hồi đồng hương chánh, ta vận động quần chúng đòi địch cho hội tề tiến hành bầu cử, qua đó đưa người của ta vào.

Năm 1955, lợi dụng những tổ chức, những “thuyết” dân chủ, tự do giải hiệu của địch như “Tổng liên đoàn lao động Việt Nam”, “thuyết” “hòa hợp giai cấp”, “lao tư lưỡng lợi”, “Đồng tiến xã hội”, “nghiệp đoàn không chính trị”… Xứ ủy chỉ đạo Ban công Vận Xứ lợi dụng tổ chức địch với nội dung “xanh vỏ đỏ lòng” hoặc lập ra các tổ chức hợp pháp, đưa cán bộ ta vào các nghiệp đoàn để tập hợp lực lượng, hướng dẫn công nhân đấu tranh.

Hưởng ứng chủ trương trên, dưới sự lãnh đạo của huyện ủy Hớn Quản, công nhân cao su đồn điền trong quận đã lập ra “Hội lao động tương tế” (tháng 3-1955).

Trong cuộc đấu tranh của công nhân cao su Hớn Quản đòi thành lập tổ chức nghiệp đoàn, đòi địch công nhân hội lao động tương tế, đã có 2 công nhân bị bắt (tháng 7-1955), nhưng cuộc đình công biến thành cuộc biểu tình của 3000 công nhân đồn điền Quản Lợi đã buộc tên Quận trưởng phải thả hai công nhân trên. Tại Lộc Ninh, ngày 3 tháng 3 năm 1955, cấp ủy Đảng Lộc Ninh huy động 12.000 công nhân Kinh, Thượng kéo về thị trấn Lộc Ninh đòi tăng lương, đòi trả lương cho người Thượng ngang lương người Kinh, đòi tự do hội họp. Cuộc đấu tranh tăng lên 17.000 người ngay trong ngày, chủ đồn điền Đờ Lalăng buộc phải chấp nhận yêu sách.

Những sự kiện này thúc đẩy phong trào đấu tranh đòi tự do nghiệp đoàn diễn ra sôi nổi và ngày càng quyết liệt ở các đồn điền. Ta chủ trương nâng phong trào lên với quy mô lớn hơn, tạo thế đấu tranh liên hoàn, buộc địch phải thi hành một số chính sách phù hợp với quyền lợi của công nhân.

Một cuộc đại hội đại biểu công nhân các đồn điền toàn miền Đông được tổ chức tại Lai Khê đã dẫn đến việc thành lập “Liên đoàn đồn điền Việt Nam”. Nhân ngày Quốc tế lao động 1-5-1955, liên đoàn đã huy động 40.0000 công nhân cao su miền Đông, đội ngũ chỉnh tề kéo về Sài Gòn, kết hợp với công nhân Sài Gòn biểu tình, thị uy đưa 16 yêu sách đòi Bộ Lao động, Bộ Nội vụ chính quyền Diệm phải giải quyết. Trong tình thế đang phải triệt phá, các thế lực thân Pháp, củng cố bộ máy cai trị, ngụy quyền buộc phải chấp nhận 16 yêu sách, viết thành văn bản gọi là “cộng đồng khế ước cao su Việt Nam”, có cả đại diện ngụy quyền, các chủ công ty cao su miền Đông, và đại diện công nhân đồng ký tên. Đây là thắng lợi chưa từng có trong lịch sử đấu tranh của công nhân cao su.

Tháng 3 năm 1955, trong khi đang tiếp tục thanh trừng vây cánh Pháp, Diệm ban hành chính sách “tố cộng giai đoạn 1”, tháng 5 năm 1955 phát động chiến dịch tố cộng, đồng thời từng bước loại trừ ngụy quyền Bảo Đại, dựng lên chính quyền tay sai Mỹ, triển khai “tố cộng”. Giai đoạn 1, bọn tình báo, gián điệp và cảnh sát núp dưới danh nghĩa các đoàn “công dân vụ” xuống xã ấp, khắp hang cùng ngõ hẻm, tổ chức điều tra nắm mạng lưới cơ sở cách mạng, nắm gia đình có người kháng chiến, lập danh sách phân loại dân để chuẩn bị “tố cộng” giai đoạn 2 nhằm diệt phong trào cách mạng ở miền Nam. Từ giữa năm 1955, số đảng viên, cán bộ kháng chiến lộ liễu nơi này nơi khác đã sa vào tay địch ngày càng nhiều. Cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam đi vào chiều hướng ngày càng ác liệt.

Tháng 7 năm 1955, kỷ niệm một năm ngày ký Hiệp định Genève, theo chỉ đạo của Tỉnh ủy Thủ Dầu Một, khắp nơi trong tỉnh đã nổ ra nhiều cuộc đấu tranh lớn nhỏ của đồng bào các giới, các dân tộc, đông nhất là phụ nữ, đưa kiến nghị đòi hiệp thương hai miền, chuẩn bị tổng tuyển cử. Ở đồn điền Thuận Lợi, cuộc đấu tranh đòi tăng 15% lương của công nhân lương dưới 1000 đồng/tháng đạt thắng lợi.

Tháng 10 năm 1955, để tạo cái vỏ gọi là “hợp hiến”, “hợp pháp” của chế độ tay sai Mỹ, Diệm bày trò “trưng cầu dân ý”, phế truất Bảo Đại. Các đoàn “công dân vụ” được tung xuống các đồn điền, thôn xóm, buôn sóc, ầm ĩ tuyên truyền “công đức” Ngô Đình Diệm. Bằng mọi hình thức, dân tẩy chay những buổi họp để gọi là”học tập đường lối cách mạng quốc gia”, “trưng cầu dân ý”. Đoàn công dân vụ 316 xuống đồn điền Quản Lợi để kết hợp với tề cưỡng bức dân đến nhà “xẹc” để “học”, bà con vạch trần trò lừa bịp của chúng, buổi họp giải tán giữa chừng, bọn công dân vụ cút luôn về Quản Lợi. Nhiều buổi “học” trở thành những buổi đấu tranh chính trị công khai, dân “tốc cáo ngược” bọn tay sai Mỹ. Dưới các hình thức tẩy chay, đình công, biểu tình. Công nhân các đồn điền cao su Quản Lợi, Xa Cam, Xa Cát, Lộc Ninh, Phước Bình, Thuận Lợi… kết hợp đấu tranh chống “học tập”, “trưng cầu dân ý” với đấu tranh đòi tăng lương. Trước sức mạnh quần chúng, nhiều chủ đồn điền Pháp buộc phải chấp nhận tăng lương cho công nhân. Ngày 1 tháng 5 năm 1956, 4000 công nhân Xa Trạch bãi công đòi tăng lương.
« Sửa lần cuối: 10 Tháng Tám, 2011, 01:50:16 PM gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9028


Lính của PTL


« Trả lời #47 vào lúc: 12 Tháng Bảy, 2011, 02:27:59 PM »

Dù bị “tẩy chay”, rạch phiếu bầu nhưng với trò bịp bợm, gian lận, Diệm vẫn “đắc cử”, chế độ tay sai Mỹ tiếp tục được “hợp thức hóa” với cuộc “bầu cử” riêng rẽ để nặn ra “quốc hội” (4-3-1956). Cũng như cuộc “trưng cầu dân ý” và “bầu cử tổng thống”, dù bị tẩy chay, “quốc hội” bịp bợm vẫn ra đời. Đây chính là thời gian tiến đến ngày tổng tuyển cử theo quy định của Hiệp định Genève, nhưng để chính thức chống lại, chính quyền tay sai Mỹ đánh đòn tâm lý với khẩu hiệu “Bắc tiến”, “lấp sông Bến Hải”… Để củng cố bộ máy cai trị từ Trung ương đến cơ sở, chúng tiến hành cái gọi là “thanh lọc nội bộ”, một mặt vừa tiến hành những bước triệt phá toàn bộ vây cánh Pháp, mặt khác vừa triển khai chiến lược cơ bản là “tố cộng” nhằm tiêu diệt lực lượng cách mạng ở miền Nam. Bên cạnh việc tăng cường lực lượng quân sự, tổ chức chiến trường, địch tổ chức bộ máy tố cộng từ Trung ương đến cơ sở, Hội đồng tố cộng Trung ương do Diệm làm chỉ tịch.

Giữa năm 1956, trong lúc ở miền Trung và cao nguyên, phong trào cách mạng bị tổn thất nặng thì trên chiến trường Nam Bộ, qua các phong trào “chống bầu cử gian lận”, đòi “hiệp thương tổng tuyển cử”, chống cướp đất và đòi giảm tô, ta đã nâng được phát triển đấu tranh chính trị lên cao. Đặc biệt ở một số nơi ta đã “cài” người vào nắm được chính quyền ở cơ sở, nhiều nhóm, vũ trang tự vệ, chống đàn áp đang hình thành dưới danh nghĩa giáo phái, Bình Xuyên. Địch đã phải thừa nhận và tự cảnh báo “Việt cộng đã lại xúc tiến mạnh mẽ hoạt động chính trị khắp thôn quê hẻo lánh, gây được nhiều cơ sở, tổ chức ra các đoàn thể vũ trang cùng với tàn dư của giáo phái hoạt động quấy rối, vũ trang ám sát cả ở miền Tây và miền Đông Nam phần”(1).

Ngày 7 tháng 7 năm 1956, Diệm chính thức lên nắm quyền, công khai tuyên bố “Không Hiệp thương tổng tuyển cử”, “đặt cộng sản ra ngoài vòng pháp luật”, “biên giới Hoa Kỳ đến vĩ tuyến 17”… vừa tăng cường bắt lính, đôn quân vừa hô hào “đặt miền Nam trong tình trạng chiến tranh”, “lấp sông Bến Hải”,…

Việc bình định giáo phái và các bước chuẩn bị đánh phá lực lượng cách mạng căn bản hoàn thành, địch huy động lực lượng cả vũ trang, chính trị, các đoàn tố cộng, bộ máy kìm kẹp ở cơ sở và mạng lưới tề điệp đã triển khai, từ trước… thực hiện chiến dịch “tố cộng” bằng lừa mị lẫn đàn áp, bằng cả đấu “tố”, “tấy não” lẫn hành quân chiến dịch đàn áp quy mô 1 đến 2 sư đoàn tăng cường.

Trên chiến trường miền Đông Nam Bộ, chiến dịch Trương Tấn Bửu (10-7-1956 - 24-2-1956) huy động 1 sư đoàn (dã chiến), tăng cường 2 trung đoàn độc lập, 1 hải đoàn xung phong cùng lực lượng dân chính tố cộng, đánh trên phạm vi toàn miền Đông kể cả phân khu Sài Gòn - Chợ Lớn, nhằm “tiêu diệt lực lượng và cơ sở “Việt Cộng” cùng tàn dư Bình Xuyên - Cao Đài, kiểm soát biên giới, tái lập an ninh, nông thôn”. Một bộ phận sư đoàn dã chiến 3 (tức sư 5 sau này) Vòng A Sáng chỉ huy triển khai quân trên địa bàn ba công ty lớn của Pháp là Đất Đỏ, Síp, Xét Xô, lấy Lộc Ninh làm điểm mở màn. Một khu vực tập trung quân khác là Phú Giáo lên Bù Đăng, nhưng chủ yếu là ở Bù Na, cơ sở liên lạc của ta ở Đồng Xoài nối liền giữa Phước Long với vùng đồng bằng phía Nam bị cắt đứt. Một mũi tấn công vô cùng lợi hại, mang tính quyết định trong chiến dịch “tố cộng” của địch là mũi tấn công tổng hợp vào mọi tầng lớp, các lớp “học tập” tố cộng trong dân và cả trong hàng ngũ địch, chú ý sử dụng bọn đầu hàng và lưới tề điệp phát hiện các đối tượng, trên cơ sở đó phân loại; thanh lọc, lập hồ sơ, khống chế từng đối tượng; “phát động quần chúng, tố cáo “tội ác cộng sản”, cưỡng bức vợ con cán bộ kháng chiến lấy chồng ác ôn, tuyên truyền “chủ nghĩa quốc gia”, ly gián cán bộ cách mạng và quần chúng, gài mật thám vào đội ngũ công nhân… Những cực hình thời trung cổ được đưa ra áp dụng, thủ tiêu bí mật… đặt những người cách mạng vào tình thế phải lựa chọn “hoặc chết hoặc quy hàng”.

Với khẩu hiệu “không, đánh cho có, có, đánh cho chừa”, “thà giết lầm còn hơn thả lầm”… địch đã tạo ra một không khí khủng khiếp bao trùm. Trong một đêm tháng 7 năm 1956, ở Quản Lợi địch bắt 82 người. Ở Xa Cam, Xa Trạch, Minh Thanh, mỗi nơi từ 40 đến 50 người. Một số đồng chí lãnh đạo “Liên đoàn đồn điền Việt Nam” sa vào tay giặc. Trong suốt chiến dịch “tố cộng, diệt cộng” trong khắp các đồn điền ở Bình Long không có ngày nào không có người bị bắt. Ở Lộc Ninh khi địch bắt đồng chí Trần Văn Đang, chủ tịch nghiệp đoàn, hàng ngàn đồng bào người Kinh, Xtiêng, Mơnông, Tà Mun… đấu tranh quyết liệt, chúng sả súng bắn chết và làm bị thương 48 anh chị em. Cảnh sát mật vụ chỉ điểm bắt hàng loạt cán bộ và quần chúng tích cực bị bắt đưa về giam ở Hớn Quản. do địch bắt được danh sách gia đình cơ sở cách mạng, chúng tiếp tục bắt thêm 50 cán bộ, cơ sở cốt cán. Anh chị em bị địch phơi nắng, dầm mưa, bỏ đói, bị tra khảo hành hạ đến chết hoặc bị thương tật, bệnh và chết tại nhà.


(1) Tài liệu tổng kết tình hình 1956 của Bộ Tổng tham mưu ngụy (T.G).
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9028


Lính của PTL


« Trả lời #48 vào lúc: 12 Tháng Bảy, 2011, 02:30:41 PM »

Lợi dụng chiến dịch “tố cộng, diệt cộng”, bọn chủ Pháp lần lượt tước đoạt những quyền lợi của công nhân mà trước đây họ đã đấu tranh quyết liệt để giành cho được như tổ chức nghiệp đoàn, hội tương tế ái hữu, văn hóa văn nghệ, bình dân học vụ… Các chế độ hà khắc được phục hồi: cúp phạt, đánh đập, chửi mắng, hàng loạt công nhân bị sa thải, hầu hết là những người tích cực trong đấu tranh. Sự cấu kết giữa ngụy quân, ngụy quyền với chủ Tây đã hiện rõ ở các đồn điền cao su Thuận Lợi, Xa Cam, Xa Trạch, Xa Cát, Minh Hòa, Minh Thạnh, Thuận Lợi, Phú Riềng…

Chỉ qua vài tháng đầu của chiến dịch Trương Tấn Bửu, lực lượng cách mạng bị tổn thất nặng. Có nơi như chi bộ Tân Khai có 9 đảng viên thì 7 đồng chí bị bắt cùng 5 cơ sở cách mạng. Ở các đồn điền, hàng trăm cán bộ nghiệp đoàn bị bắt, có một số bị tra tấn đến chết như các ông Cảnh, Ban, Điều.

Trên toàn tỉnh Thủ Dầu Một, lực lượng Đảng đã tổn thất bốn phần năm, có nhiều đảng viên tuy đã muốn vũ trang nhưng còn bị chỉ thị “điều lắng” của xứ ủy (số 04/HBC) và chỉ thị 01/HBC(1) của Liên tỉnh ủy miền Đông kìm chế.

Trước tình hình khó khăn, ác liệt mới, thường vụ Huyện ủy Hớn Quản đặt ra vấn đề cấp bách là phải chuyển hướng hoạt động để giảm bớt thiệt hại. Một số cán bộ bị lộ và có nguy cơ lộ được rút ra căn cứ ở rừng Minh Thạnh (khu vực Suối Sâu) đồng thời có kế hoạch móc nối với cơ sở bên trong để tiếp tục hoạt động chủ yếu là xây dựng cơ sở hợp pháp, phát động đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Genève. Với cơ sở bên trong vững vàng, rừng Minh Thạnh trở thành nơi nuôi dưỡng cán bộ thoát ly đầu tiên của Hớn Quản, Châu Thành sau năm 1954 (sau này Minh Thạnh được Nhà nước phong tặng là xã anh hùng). Những cán bộ đang nắm những cương vị trong các tổ chức công khai mà chưa bị lộ thì tiếp tục dựa vào công nhân để giữ thế hợp pháp, duy trì hoạt động, hết sức khéo léo để tránh sự khủng bố của địch. Cơ quan huyện ủy cũng được chấn chỉnh về tổ chức và phương thức hoạt động cho phù hợp với tình thế mới.

Nhờ có sự chuyển hướng thích hợp, tuy có bị tổn thất, đảng bộ Hớn Quản đã vượt qua một tình thế đầy khó khăn, phức tạp và duy trì được phong trào. Các cuộc đấu tranh của công nhân trong thời gian này đều giành được thắng lợi: cuộc bãi công chống sa thải của công nhân cao su Quản Lợi (15-5-1956); Cuộc đấu tranh với tỉnh trưởng Bình Long đòi thả 40 đại biểu công nhân cao su Hớn Quản (tháng 6-1956) của công nhân và nhân dân Bình Long; cuộc đình công một tuần lễ đòi tăng lương, giảm giờ làm, hạ giá sinh hoạt, nâng lương cho công nhân nữ của hàng vạn công nhân ở các đồn điền Quản Lợi, Xa Trạch, Xa Cam, Xa Cát (tháng 10-1956); cuộc đấu tranh đòi thả 8 đại biểu công nhân bị bắt của công nhân Quản Lợi;… Cuối năm 1956 tại Xa cô 28, địch bắt 4 công nhân (Đại, Hữu, Hậu, Mười Ba) cột sau xe Jeep rồi cho xe chạy, bắt công nhân xem để trấn áp tinh thần họ. Sự việc này dẫn đến cuộc đình công 6 ngày của công nhân Quản Lợi đòi địch chấm dứt bắt người và khủng bố dân. Chúng ngoan cố không giải quyết. Cuộc đình công vẫn tiếp tục với khí thế ngày một quyết liệt và được công nhân cao su hỗ trợ hàng trăm bao gạo. Chủ sở Quản Lợi buộc phải chấp nhận thực hiện yêu sách, đồng ý tăng lương (thêm 1 đồng 50/ngày) và bồi thường 4 ngày đình công.

Đối với vùng đồng bào dân tộc ở phía Bắc Biên Hòa(2), đi đôi với càn quét, lùng sục, đánh phá căn cứ, địch tiến hành gom dân ở Bù Na, Bù Tếch về Tà Lài, Định Quán nhằm tách cán bộ cách mạng với dân. Tình thế trở nên hết sức khó khăn, đặc biệt là vấn đề lương thực, nhưng lực lượng cách mạng và số đồng bào còn lại đặc biệt là ở hai xã Lý Lịch, Bù Cháp vẫn tồn tại bằng cả củ chụp, rau rừng. Đội công tác của đồng chí Ba Phú lúc đầu chỉ có Tuyên, Lộc, Hải, về sau bổ sung các đồng chí Hảo, Hồng, Lộc, Quý, Bốn… dựa vào vùng căn cứ cũ Lý Lịch, Bù Cháp, Bù Rưng, Bù Tôn, xây dựng cơ sở, phát triển lên vùng Bù Tếch I, Bù Tếch II, Bù Na, Bù Nho dọc đường 14 lên Đồng Xoài, Bù Đăng. Các cơ sở xây dựng được trong các buôn, sóc trở thành chỗ dựa vững chắc cho những bước tiếp theo của phong trào cách mạng tại địa phương ở tỉnh Phước Long sau này.


(1) Trích chỉ thị 01/HBC: “chủ yếu là đấu tranh chính trị, tuyệt đối không được dùng vũ trang, tránh mang động” (T.G).
(2) Thuộc Phước Long sau này (T.G).
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9028


Lính của PTL


« Trả lời #49 vào lúc: 12 Tháng Bảy, 2011, 02:32:01 PM »

Từ năm 1955, đồng thời với “chiến lược tố cộng”, địch ban hành hai chính sách lớn là “cải cách nông thôn” và lập “khu dinh điền, khu trù mật” nhằm thao túng nông dân, ổn định tình hình nông thôn và vùng yếu dọc biên giới… đồng thời tạo những căn cứ bao vây “Việt cộng”, nơi cung cấp tin tức tình báo, nơi xuất phát hành quân ngăn chặn sự xâm nhập của các lực lượng cách mạng… Chính sách dinh điền bổ sung cho “chiến lược tố cộng”. Thực hiện những chính sách này ở Hớn Quản, chính quyền Diệm đưa một số bộ phận dân di cư từ vùng Bùi Chu, Phát Diệm và dân từ Quảng Nam, Bình Định vào lập các khu dinh điền Căm Xe, Cấu Bà Và, Trung Lợi, Trực Đạo, Xóm Ruộng, Đồng Hưu, Sâm Vất,… và các khu trù mật Đông Phất, tổng Cui, Văn Hiên, ấp 23…, Bò Com, Nhà Bò. Ở mỗi xã đều có một hoặc hai khu trù mật. Riêng xã Hưng Phước (Bù Đốp) có tới 5 khu trù mật. Ở Bù Đăng, địch đưa một số đồng bào công giáo vùng Thanh Nghệ Tĩnh và hàng ngàn dân ở Quảng Nam, Quảng Ngãi vào dinh điền “khai phá miền Sơn Cước”. Từ đó, các dinh điền Đak War (Vĩnh Thiện), Bù Na (Nghĩa Trang), Vi Thiện (Thọ Sơn) hình thành. Ở các dinh điền 1, 2, 3 An Linh địch dồn dân địa phương ở riêng với khối người Bắc di cư. Trong các dinh điền, bên cạnh các biện pháp khống chế, “cải tạo” tư tưởng, tuyên truyền lừa bịp còn hệ thống tổ chức kìm kẹp, trong đó bênh cạnh lực lượng tề điệp có cả lực lượng vũ trang như bảo an, dân vệ. Cùng với chính sách dinh điền, công cuộc mở đường vào các chiến khu cũ cũng là một hình thức tấn công lực lượng kháng chiến kết hợp khai thác rừng. Đội quân cơ giới của Trần Lệ Xuân tiến vào rừng ủi phá cả mồ mả đồng bào, tạo thành những đường ngang dọc trong các căn cứ kháng chiến cũ như các “lộ ủi” Bù Đăng - Vĩnh Thiện, Ngã ba đương 10 (Đak Nhau) qua Đức Hạnh, đường từ Đồng Xoài vào Mã Đà - Bù Đăng, Đồng Nai Thượng…

Về tổ chức chiến trường, tổ chức hành chính, để tăng cường kiểm soát, triệt phá các căn cứ kháng chiến đồng thời nắm chắc vùng rừng núi nối liền Đông Nam Bộ với Tây Nguyên và Campuchia, một địa bàn chiến lược vùng đông - bắc Sài Gòn, ngày 2 tháng 10 năm 1956, Diệm ký sắc lệnh số 143/NV tách tỉnh Thủ Dầu Một thành hai tỉnh Bình Dương và Bình Long; tách Biên Hòa thành ba tỉnh Biên Hòa, Phước Thành và Phước Long.

Tỉnh Bình Long gồm các quận Hớn Quản, Lộc Ninh, Chơn Thành, thị xã An Lộc gồm 54 xã, 274 thôn ấp. Tỉnh Phước Long gồm các quận Phước Bình, Được Phong (Bù Đăng), Đôn Luân (Đồng Xoài), Bố Đức (Bù Đốp), Phước Hòa (Bù Gia Mập), thị xã Phước Long, gồm 19 xã, 274 thôn ấp.

Về diện tích, cư dân (tính đến tháng 7 năm 1959) của hai tỉnh như sau:

Tỉnh Bình Long: diện tích chung 2.334km2, diện tích canh tác 1.460km2, số dân 64.200 người, dân tộc thiểu số 15.193 người; mật độ 28 người;km2.

Tỉnh Phước Long: diện tích chung 4734km2, diện tích canh tác 4700km2, số dân 39.300 người, dân tộc thiểu số 18.788 người, mật độ 8 người/km2.

Chính sách ruộng đất, chính sách dinh điền của Mỹ - Diệm lại đặt ra những yêu cầu bức thiết mới trong đấu tranh chính trị, dân sinh của nhân dân, đặc biệt là nông dân ở miền Nam.

Nhìn lại từ sau tháng 7 năm 1954 đến cuối năm 1956, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, cấp ủy địa phương, cuộc đấu tranh của nhân dân Bình Long và vùng bắc Biên Hòa bắt đầu từ những mục tiêu chính trị, dân sinh với nội dung hợp pháp và chủ yếu bằng hình thức hợp pháp, đã chuyển dần sang một số nội dung chính trị “bất hợp pháp” khi địch triển khai “tố cộng”, đàn áp, tính chất ác liệt tăng dần, dần đến cả yêu cầu vũ trang tự vệ. Các đợt “tố cộng” bước 1, rồi bước 2 đã dồn các lực lượng cách mạng địa phương vào một tình thế hết sức khó khăn, ác liệt, nhiều tổn thất, nhưng đảng bộ địa phương đã có được sự chuyển hướng thích hợp, vừa tự vệ vừa duy trì phong trào để chuẩn bị những bước tiếp theo.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM