Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 25 Tháng Tám, 2019, 03:43:14 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Bình Phước kháng chiến (1945-1975)  (Đọc 71280 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #10 vào lúc: 28 Tháng Sáu, 2011, 06:54:37 AM »

Đúng như dự đoán của Đảng ta, ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật lật đổ Pháp độc chiếm Đông Dương. Ngày 12 tháng 3 năm 1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ta chỉ thị; “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Chỉ thị chỉ rõ lúc này “đế quốc phátxít Nhật là kẻ thù chính - kẻ thù cụ thể trước mắt - duy nhất của nhân dân Đông Dương”. Dưới ánh sáng của bản chỉ thị lịch sử, cao trào kháng Nhật cứu nước cuồn cuộn dâng lên khắp toàn quốc. Riêng phong trào đấu tranh cách mạng trong tỉnh từ tháng 3 năm 1945 đã phục hồi nhanh chóng. Nhiều cán bộ, đảng viên bị giặc bắt đã thoát khỏi nhà tù trở về địa phương hoạt động. Nhiều đồng chí đảng viên các nơi đã quy tụ về tỉnh, một số đảng viên phá nhà tù Bà Rá về đây cũng đã kết hợp với cơ sở ở địa phương để hoạt động chuẩn bị ráo riết cho Tổng khởi nghĩa.

Ngày 13 tháng 8 năm 1945, Hội nghị toàn quốc Đảng Cộng sản Đông Dương quyết định phải kịp thời lãnh đạo toàn dân Tổng khởi nghĩa giành chính quyền khi quân Đồng minh kéo vào Đông Dương.

Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc được thành lập. Quân lệnh số 1 của Ủy ban khởi nghĩa được truyền đi như hồi kèn xung trận. Giờ Tổng khởi nghĩa đã đến.

Ngày 16 tháng 8 năm 1945, Quốc dân Đại hội hợp ở Tân Trào, với đủ các đại biểu các đảng phái chính trị, các đoàn thể, các dân tộc, tôn giáo cả 3 miền đất nước. Đại hội tán thành chủ trương phát động Tổng khởi nghĩa của Đảng, thông qua Mệnh lệnh khởi nghĩa của Tổng bộ Việt Minh, cử Ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam tức Chính phủ lâm thời do Cụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

Thời cơ đã đến, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho đồng bào toàn quốc: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem hết sức ta mà tự giải phóng cho ta… Chúng ta không thể chậm trễ.

Tiến lên! Tiến lên!… Dũng cảm tiến lên!”(1).

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, 25 triệu đồng bào ta đã nhất tề vùng dậy tự giải phóng, sức mạnh như thác đổ, cuốn sạch lũ cướp nước và bán nước.

Quán triệt Nghị quyết của Trung ương và Xứ ủy Nam Kỳ về Tổng khởi nghĩa giành chính quyền, đồng chí Văn Công Khai - Bí thư Tỉnh ủy tổ chức ngay cuộc họp Tỉnh ủy mở rộng. Hội nghị quyết định: Thành lập Ủy ban khởi nghĩa của tỉnh do đồng chí Văn Công Khai phụ trách; các cơ sở lập ngay Ủy ban khởi nghĩa; ngày 25 tháng 8 năm 1945 tập trung lực lượng trong toàn tỉnh giành chính quyền tại thị xã; các thị trấn, đồn điền cao su đồng loạt khởi nghĩa.

Hội nghĩ đã khẳng định dù tình thế khó khăn thế nào cũng phải khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi.

Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy và Ủy ban khởi nghĩa tỉnh, nhân dân thị xã và các quận đã đứng lên giành chính quyền.

Tại Lộc Ninh, ngày 24 tháng 8 năm 1945, đội tự vệ do đồng chí Lê Đức Anh chỉ huy cùng với công nhân cao su và quần chúng tiến vào thị trấn cướp chính quyền. Bọn Nhật nổ súng chống cự nhưng chỉ sau 15 phút chiến đấu, đội tự vệ đã tiêu diệt 18 tên Nhật, thu 40 súng, buộc chúng phải xin hàng.

Cùng ngày, tại Bù Đốp, ta bao vây đánh địch thu được một kho súng. Đây là nguồn vũ khí giúp cho lực lượng vũ trang Lộc Ninh đánh địch sau này,

Lộc Ninh là một trong những nơi cướp chính quyền sớm nhất trong tỉnh Thủ Dầu Một.

Tại Hớn Quản (Bình Long), sáng 25 tháng 8 năm 1945 công nhân và nhân dân các đồn điền Quản Lợi, Xa Cam, Xa Trạch, Bình Sơn… tổ chức mít tinh rồi chuyển thành biểu tình có trang bị vũ khí chiếm nơi làm việc của bọn chủ, giành quyền làm chủ đồn điền. Trước sức mạnh của quần chúng cách mạng, hầu hết bọn chủ đồn điền và bọn chỉ huy Nhật đều run sợ, vội vàng giao lại nhà xưởng, kho tàng, máy móc, đồn điền cho nhân dân.

Sau khi giành quyền quản lý các đồn điền, lực lượng thành niên tiền phong cùng công nhân đã kéo về chợ Hớn Quản tổ chức mít tinh biểu dương lực lượng, sau đó cướp chính quyền quận lỵ.

Cũng trong sáng ngày 25 tháng 8 năm 1945, Ủy ban khởi nghĩa cử khoảng 100 công nhân Lộc Ninh - Hớn Quản và 50 công nhân người dân tộc thiểu số có trang bị vũ khí đến thị xã Thủ Dầu Một tham gia khởi nghĩa giành chính quyền.

Ở Bà Rá (Phước Long), bọn chỉ huy và bình lính Nhật không dám đi khủng bố, chờ quân đồng minh (quân Anh) đến để giao nộp vũ khí.

Tại thị xã Thủ Dầu Một, theo kế hoạch đã định, rạng sáng ngày 25 tháng 8 hàng chục ngàn đồng bào các nơi trong tỉnh kéo về thị xã. Đến 7 giờ sáng, một cuộc biểu tình lớn được tổ chức trước dinh tỉnh trưởng. Đồng chí Văn Công Khai - Bí thư Tỉnh ủy - Trưởng ban khởi nghĩa thay mặt Ủy ban tuyên bố xóa bỏ chính quyền phản động, thành lập chính quyền cách mạng.

Nhân dân Thủ Dầu Một dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã góp phần cùng cả nước xóa bỏ chế độ thực dân, phát xít, xây dựng nước Việt Nam độc lập.

Bình Phước giữ một vị trí địa lý tự nhiên, địa lý hành chính, địa lý quân sự quan trọng ở miền Đông Nam Bộ. Dân cư Bình Phước số đông là nông dân, công nhân cao su, đồng bào dân tộc thiểu số bị áp bức bóc lột nặng nề, có tinh thần yêu nước và đấu tranh chống ngoại xâm bất khuất. Từ trong phong trào công nhân, tổ chức Đảng Cộng sản đã ra đời từ rất sớm ở Bình Phước, và nhanh chóng trở thành tổ chức chính trị duy nhất lãnh đạo nhân dân đấu tranh cách mạng trong suốt các giai đoạn 1930-1931, 1936-1939, 1939-1945, góp phần làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám lịch sử năm 1945.

Trong dòng chảy chung của lịch sử dân tộc, lịch sử miền Đông Nam Bộ, những đặc điểm của Bình Phước đã tạo đặt những tiền đề quan trọng để quân và dân Bình Phước, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ ở địa phương.


(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr.554.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #11 vào lúc: 28 Tháng Sáu, 2011, 06:58:19 AM »

PHẦN THỨ NHẤT

BÌNH PHƯỚC TRONG KHÁNG CHIẾN
CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1945-1954)


CHƯƠNG MỘT

XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG, CHUẨN BỊ VÀ
THỰC HÀNH KHÁNG CHIẾN (9-1945 - 12-1946)

I. XÂY DỰNG CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG,
LỰC LƯỢNG VŨ TRANG VÀ CHUẨN BỊ KHÁNG CHIẾN

Trải qua gần một trăm năm đấu tranh đầy hy sinh, gian khổ, nhân dân ta đã giành được độc lập, tự do với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, đem lại “một cuộc đổi đời chưa từng có đối với mỗi người Việt Nam”. Trong không khí phấn khởi của những ngày đầu cách mạng, cùng với nhân dân cả nước, nhân dân vùng bắc Thủ Dầu Một, Biên Hòa gồm các quận Hớn Quản, Bà Rá, Bù Đốp(1) đã hăng hái tham gia vào công cuộc xây dựng và củng cố chính quyền mới.

Nhiệm vụ nặng nề và cần thiết đặt ra lúc này cho chính quyền cách mạng còn rất non trẻ là phải xây dựng bộ máy chính quyền các cấp, bảo đảm ổn định trật tự trị an, nhanh chóng khôi phục sản xuất và bảo vệ vững chắc những thành quả cách mạng.

Vượt ra khỏi sự cai trị của thực dân Pháp và phát xít Nhật, nhân dân bắc Thủ Dầu Một, Biên Hòa đã thật sự thoát khỏi kiếp nô lệ, làm chủ đời mình, làm chủ mọi tài sản do chính mình làm ra. Công nhân, nhân dân lao động cùng với đồng bào dân tộc thiểu số đoàn kết gắn bó nêu cao lòng yêu nước, cùng nhau góp phần xây dựng và bảo vệ quê hương, với lời thề: “Quết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy”(2). Các công chức cũ, xếp đội, cai tổng tự nguyện phục vụ chính quyền mới; nhiều địa chủ yêu nước cũng ủng hộ chính quyền, không ít người đem toàn bộ điền sản hiến cho cách mạng.

Tuy nhiên, ở các quận phía bắc Thủ Dầu Một, Biên Hòa còn gặp không ít trở ngại. Chính quyền cách mạng đang đứng trước những khó khăn về chính trị, quân sự, kinh tế. Kinh nghiệm tổ chức quản lý của ta còn nhiều hạn chế. Phần lớn cán bộ non yếu về kinh nghiệm chiến đấu, lực lượng quân sự còn mỏng, trang bị chủ yếu là giáo, mác, mã tấu mà nhiệm vụ cấp bách, cam go và phức tạp lúc này là phải tiêu diệt các thế lực phản cách mạng, giữ vững thành quả cách mạng.

Sau Cách mạng Tháng Tám, hầu hết các đồn điền cao su, các nhà máy sản xuất chế biến cao su đều ngừng hoạt động, nhiều kho xưởng, máy móc, hóa chất bị hư hại, thất thoát chưa được phục hồi; giới tư bản quản lý các nhà máy, đồn điền bỏ trốn; hàng ngàn công nhân lâm vào tình trạng không tiền, gạo, thực phẩm; lực lượng phân tán và mất sức lao động, mang nhiều bệnh nghề nghiệp, mãn tính do hậu quả của xã hội cũ để lại khiến cho việc khôi phục và phát triển ngành sản xuất cao su gặp khó khăn. Đội ngũ công nhân xe lửa, công nhân cao su và thợ thủ công lâm vào tình trạng mất việc làm. Tất cả hệ thống trường học, trạm y tế, khu nghỉ dưỡng hầu như không còn. Đại bộ phận nhân dân không biết chữ, bệnh dịch hoành hành nhiều nơi.

Những trở ngại trên cùng với nguy cơ xâm lược của thực dân Pháp khiến nhân dân bắc Thủ Dầu Một, Biên Hòa đứng trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Tuy nhiên, Cách mạng Tháng Thám thắng lợi là tiền đề, sức mạnh cho nhân dân vùng bắc Thủ Dầu Một, Biên Hòa vượt qua khó khăn, thử thách, đi lên xây dựng và bảo vệ chế độ mới.

*
*   *

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công chưa được bao lâu thì thực dân Pháp được sự hỗ trợ của quân Đồng minh Anh, quay trở lại xâm lược nước ta một lần nữa.

Âm mưu xâm lược Đông Dương của thực dân Pháp đã được đề ra từ khi nước Pháp còn bị phátxít Đức chiếm đóng và ngày càng ráo riết thực hiện khi phe đồng minh thắng trận trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Ngày 12-9-1944, Đờ Gôn (De Gaulle) chỉ định Mócđăng (Mordant) làm Tổng đại diện của chính phủ Pháp tại Đông Dương, đồng thời bên cạnh Chính phủ lâm thời, Pháp thành lập “Ủy an hành động giải phóng Đông Dương”. Ngày 24 tháng 3 năm 1945, Đờ Gôn tuyên bố “Đông Dương sẽ được thành lập theo kiểu liên bang gồm năm xứ (Nam Kỳ, Trung Kỳ, Bắc Kỳ, Cao Miên, Ai Lao), đứng đầu là một viên toàn quyền Pháp và liên bang này “sẽ cùng với nước Pháp xây dựng thành khối liên hiệp Pháp mà quyền đối ngoại sẽ do Pháp đại diện”. Ngày 22 tháng 8 năm 1945, Đại tá Xêđin (Cédille), người được Đờ Gôn trao chức Ủy viên cộng hòa Pháp tại Nam Việt Nam cùng với một tốp nhân viên quân sự và dân sự nhảy dù xuống Tây Ninh. Sau đó hai ngày, kế hoạch quay trở lại Đông Dương do Tướng Lơcờle (Leclerc) và Bộ tham mưu quân viễn chinh Pháp vạch ra được Ủy ban Đông Dương thông qua. Tập đoàn tư bản tài phiệt Pháp ra sức ủng hộ, tạo điều kiện để thực hiện kế hoạch này; đồng thời ráo riết cho việc chuẩn bị trở lại Đông Dương tái chiếm các cơ sơ kinh tế cũ của chúng. Theo J. Xanhtơni, đường thời là Ủy viên Cộng hòa Pháp ở Đông Dương cho rằng, chiếm được xứ sở này “sẽ thành một mối lợi vô cùng lớn lao có thể góp khá nhiều trong việc phục hồi kinh tế Pháp”(3).

Đông đảo công chức Pháp kiều, mật thám, chủ đồn điền của bộ máy cai trị cũ mừng rỡ trước hành động tái xâm lược của thực dân Pháp. Dựa vào thế lực Anh và và Pháp, bọn Tơrốtkít và tay sai thân Pháp, bọn đội lốt tôn giáo cũng hoạt động gây rối đón chủ cũ trở lại. Bọn phản động tung ra những khẩu hiệu đả kích, gây bạo loạn, vu khống chính quyền cách mạng, âm mưu dựng lên một “Chính phủ quốc gia liên hiệp” làm tay sai cho Pháp; các băng đảng trộm cướp thừa cơ cũng nổi dậy cướp phá…

Những diễn biến trên đã đặt ra nhiệm vụ lịch sử mới cho nhân dân các quận bắc Thủ Dầu Một, Biên Hòa là phải củng cố chính quyền cách mạng của nhân dân, bảo đảm trật tự trị an, xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng căn cứ địa, chuẩn bị tất cả mọi phương tiện về vật chất lẫn tinh thần để bước vào cuộc kháng chiến.


(1) Tỉnh Bình Phước ngày nay trong những năm 1945-1954 bao gồm một số quận của hai tỉnh Biên Hòa và Thủ Dầu Một. Khu vực Bình Long và một phần Lộc Ninh được gọi là quận Hớn Quản, phía đông bắc Lộc Ninh là quận Bù Đốp thuộc tỉnh Thủ Dầu Một. Khu vực Đồng Phú, Phước Long, Bù Đăng được gọi là quận Bà Rá thuộc tỉnh Biên Hòa (T.G).
(2) Văn kiện quân sự của Đáng, Nxb Quân đội nhân dân, 1976, t.2, tr. 13.
(3) Theo: J. Xanhtơni: Câu chuyện về một nền hòa bình bị bỏ lỡ, Pari, 1967, tr. 47.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #12 vào lúc: 28 Tháng Sáu, 2011, 07:02:16 AM »

*
*   *

Trong những ngày đầu khi cuộc Tổng kinh nghiệm giành thắng lợi hoàn toàn ở tỉnh Thù Dầu Một, Biên Hòa, Tỉnh ủy và các cấp bộ Đảng hai tỉnh đã tập trung vào việc chăm lo, xây dựng, củng cố chính quyền các cấp từ tỉnh đến cơ sở xem đây là vấn đề then chốt, sống còn của cách mạng.

Ngay trong ngày Tổng khởi nghĩa 26 tháng 8 năm 1945, Ủy ban nhân dân cách mạng các cấp ở tỉnh Thủ Dầu Một được thành lập. Bác sĩ Trần Công Vị làm Chủ tịch, đồng chí Văn Công Khai và Nguyễn Minh Chương làm Phó Chủ tịch. Ngày 27 tháng 8 năm 1945, tại cuộc mít tinh ở thị xã Biên Hòa, danh sách Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Biên Hòa được công bố gồm 5 đồng chí, do đồng chí Hoàng Minh Châu làm Chủ tịch, đồng chí Huỳnh Văn Hớn làm Phó Chủ tịch. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, theo chỉ thị của Chính phủ, Ủy ban nhân dân cách mạng các cấp đổi thành Ủy ban hành chính, Ủy ban hành chính do đồng chí Nguyễn Minh Chương làm Chủ tịch thay bác sĩ Trần Công Vị. Xứ ủy Nam Bộ điều đồng chí Nguyễn Văn Tiết về Thủ Dầu Một làm Bí thư Tỉnh ủy, đồng chí Văn Công Khai làm Phó Bí thư. Đồng chí Nguyễn Văn Thi làm Ủy viên quân sự. Tham gia chính quyền là những cán bộ chủ chốt, từng tham gia tích cực vào các hoạt động cách mạng, từng gắn bó với nhân dân trong các cuộc đấu tranh. Phần đông là những công nhân nghèo khổ, bị chủ sở, cai sếp hành hạ nên họ sớm giác ngộ cách mạng.

Ở đồn điền Thuận Lợi, ngay chính văn phòng chủ sở người Pháp, nay trở thành trụ sở của Ủy ban nhân dân cách mạng.

Tại thị trấn Hớn Quản, Ủy ban kháng chiến hành chính do đồng chí Tốt làm Chủ tịch và một số thành viên khác như: Nguyễn Văn Lâm làm Phó Chủ tịch, đồng chí Nghĩa làm Ủy viên quân sự. Các đồn điền Quản Lợi, Xa Cam, Xa Trạch, chính quyền cách mạng cũng được thành lập. Ngoài ra công nhân còn cử đại biểu tham gia ủy ban nhân dân địa phương, góp sức xây dựng chính quyền mới. Với trang bị vũ khí hầu hết còn thô sơ, giáo, mác, tầm vông vạt nhọn; từng địa phương phải tự lực, giải quyết bằng cách tổ chức bí mật lấy súng từ kho vũ khí của Nhật, hay mua bằng tiền, đổi bằng lương thực, thực phẩm. Hoặc tổ chức những trận phục kích nhỏ uy hiếp lính Nhật, tước vũ khí của chúng trang bị cho mình.

Sau khi Tỉnh ủy và Ủy ban tỉnh được củng cố, cấp ủy và chính quyền hết sức quan tâm tới việc xây dựng và phát triển lực lượng của cách mạng bao gồm lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang.

Tỉnh ủy chủ trương tích cực xây dựng bộ máy chính quyền, đặc biệt là tổ chức Việt Minh và các đoàn thể quần chúng. Đồng chí Nguyễn Đức Nhàn được cử làm Chủ nhiệm Tỉnh bộ Việt Minh. Các tổ chức Việt Minh ở các tổng, xã nhanh chóng được thành lập làm chỗ dựa cho chính quyền cách mạng. Các tổ chức, đoàn thể cứu quốc trong thanh niên, phụ nữ, công nhân, nông dân ra đời ở hầu hết các xã. Đây là những lực lượng chính trị có vị trí hết sức quan trọng trong việc bảo vệ chính quyền và là nền tảng thực hiện vũ trang toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân.

Trong các đồn điền cao su, nhà máy, xí nghiệp, các Ban quản trị công nhân được thành lập; bao gồm những công nhân ưu tú, những cán bộ từng đóng vai trò nòng cốt cùng quần chúng nhân dân, công nhân trong các hoạt động cách mạng, các cuộc đấu tranh giải phóng quê hương như: ở đồn điền cao su Lộc Ninh, đồng chí Lê Đức Anh là người lãnh đạo trực tiếp Ban quản trị công nhân. Cùng trong Ban quản trị đồn điền Lộc Ninh còn có: đồng chí Ba Quyên (lái xe), Ba Anh (công nhân), Ba Đèn, Cầu, Kỳ, Nân, Dậu,… tham gia quản lý đồn điền. Bên cạnh đó, trong các đồn điền còn xây dựng lực lượng tự vệ làm nhiệm vụ giữ gìn an ninh, trật tự, bảo vệ thành quả cách mạng. Thanh niên nam nữ hăng hái gia nhập lực lượng tự vệ đồn điền. Trong nhiều đồn điền cao su ở Hớn Quản, Lộc Ninh, Ban quản trị công nhân phát động phong trào thực hiện nếp sống mới, xây dựng tình đoàn kết giữa người Kinh và người Thượng.

Phối hợp với chính quyền cách mạng, Ban quản trị các đồn điền bắt tay vào xây dựng cuộc sống mới. Công nhân cao su Quản Lợi, Lộc Ninh, Thuận Lợi tham gia vào tổ chức công đoàn tiếp quản toàn bộ cơ sở vật chất do tư bản Pháp để lại, lấy lương thực, thực phẩm, tiền bạc còn lại trong kho phát cho công nhân và gia đình của họ. Toàn bộ nợ nần, tô thuế, lao dịch bị hủy bỏ. Rừng cây, nhà máy đã thuộc về tay công nhân. Nhưng vấn đề nổi trội lúc này là cứu đói. Phải giải quyết như thế nào? Khi việc khai thác chế biến cao su hầu hết đều ngừng hoạt động, số lương thực thực phẩm còn lại rất ít. Nhiều đồn điền bị bỏ hoang từ tháng 3 năm 1945, khi phát xít Nhật vào Đông Dương. Cuộc sống của người công nhân lâm vào hoàn cảnh bế tắc. Trước tình hình đó, Ủy viên Ban quản trị các đồn điền phối hợp với chính quyền cách mạng đi vận động công nhân tăng gia sản xuất, trồng khoai, chăn nuôi heo, gà vịt để chống đói và đã trở thành phong trào phát triển rộng khắp trong các đồn điền. Đồng thời, việc tăng cường phòng thủ, sẵn sàng ứng chiến với kẻ thù được đặc biệt chú trọng trong hầu khắp các đồn điền.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #13 vào lúc: 28 Tháng Sáu, 2011, 07:03:58 AM »

Để giữ gìn an ninh trật tự, bảo vệ thành quả cách mạng công nhân thành lập lực lượng tự vệ đồn điền trên cơ sở phát triển lực lượng Thanh niên Tiền phòng đồn điền, xí nghiệp có từ trước Cách mạng Tháng Tám. Hầu hết các đồn điền đều có lực lượng tự vệ từ một đến bốn tiểu đội được trang bị súng trường, súng săn, giáo mác. Các đội tự vệ thường xuyên luyện tập quân sự, canh gác và tuần tra bảo vệ vườn cây, nhà máy, công xưởng.

Cuộc sống mới đã được khởi sắc ở các nơi trên địa bàn Hớn Quản, Bà Rá, Bù Đốp. Ở khắp các làng, xã, buôn, sóc cuộc vận động mở lớp học xóa mù chữ được nhân dân hưởng ứng sôi nổi, nhiều người dân nghèo thất học đã biết đọc, biết viết. Trong nhiều đồn điền Xa Cam, Xa Trạch, Quản Lợi, Ban quản trị công nhân phát động phong trào xây dựng nếp sống mới, bài trừ mê tín dị đoan, rượu chè, cờ bạc; công nhân lương - giáo, Kinh - Thượng xóa bỏ hiềm khích cùng bắt tay đoàn kết xây dựng và bảo vệ cuộc sống mới.

Từ sau Tổng khởi nghĩa Tháng 8 năm 1945, công nhân cao su trực tiếp làm chủ nhà máy, kho tàng, công sở, vườn cây. Các tổ chức đoàn thể cách mạng ra đời. Lực lượng tự vệ công nhân hình thành hoạt động sôi nổi. Tất cả đã làm thay đổi bộ mặt của các đồn điền cao su.

Để bảo vệ chính quyền mới của cách mạng, ở khắp các làng, xã trong vùng bắc Thủ Dầu Một, Biên Hòa vấn đề tổ chức đơn vị vũ trang được đặt ra. Dựa trên cơ sở những tổ chức quần chúng có vũ trang trong Tổng khởi nghĩa và sự tập hợp tự nguyện của đông đảo công nhân, nông dân sau này, hàng loạt các đơn vị vũ trang tập trung được hình thành và phát triển nhanh chóng, với quân số, trang bị vũ khí và tên gọi chưa thống nhất. Lực lượng vũ trang nhân dân mang những tên gọi như: tự vệ, du kích, dân quân, thanh niên cứu quốc quân, cộng hòa vệ binh, tự vệ chiến đấu quân lần lượt ra đời thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân địa phương tham gia. Một số lực lượng được trang bị súng ống đủ loại chủ yếu là của Pháp và Nhật. Còn lại là vũ khí thô sơ, tầm vông, dao, kiếm và mũ sắt Nhật. Nhiệm vụ chủ yếu của những tổ chức này là mở kho lương thực, thực phẩm của giặc phân phát cho dân nghèo; thu gom vũ khí quân trang của giặc để trang bị cho ta; xây dựng và huấn luyện lực lượng vũ trang; vận động bà con tăng gia sản xuất, chăn nuôi để chống đói, tích cực vận động xóa mù chữ trong nhân dân, bảo đảm hệ thống giao thông an toàn, thông suốt; tiết kiệm trong việc chi tiêu hàng ngày; đề cao cảnh giác với địch, bảo đảm an toàn cho bộ máy chính quyền cách mạng. Tuy lực lượng vũ trang trên địa bàn Hớn Quản, Bù Đốp số lượng không nhiều, trang bị vũ khí kém, phức tạp về mặt tổ chức, thế nhưng tuyệt đại bộ phận là những cán bộ, chiến sĩ yêu nước được giáo dục, rèn luyện trong đấu tranh cách mạng, trưởng thành từ trong phong trào khởi nghĩa toàn dân. Trước yêu cầu của chính quyền cách mạng, các lực lượng vũ trang được khẩn trương xây dựng, củng cố về tổ chức, biên chế, trang bị và lãnh đạo chỉ huy. Đây là lực lượng chính trị hùng hậu, là nguồn sức mạnh to lớn giữ vai trò hết sức quan trọng trong công cuộc bảo vệ chính quyền nhân dân, chủ quyền dân tộc. Tuy kinh nghiệm chiến đấu chưa nhiều, trang bị còn thiếu thốn, nhưng lực lượng chính trị hùng hậu này sẽ đóng góp một phần quan trọng trong việc bảo vệ chính quyền cách mạng và là tiền đề để thực hiện vũ trang toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân.

Mỗi đồn điền trong quận Hớn Quản ngoài lực lượng tự vệ, còn tổ chức ra một lực lượng vũ trang mới đầu gọi là Vệ quốc quân, sau đổi là Vệ quốc đoàn. Tại đồn điền Xa Cam, đã tuyển lựa những trai tráng khỏe mạnh ở các làng, sở lập ra một đại đội với quân số khoảng 200 người, vũ khí trang bị có súng gỗ gắn lưỡi lê, súng hai nòng, tên nà-rưng mua của đồng bào dân tộc thiểu số, có cả một súng mút cơ tông lấy được của Nhật do một lính Nhật ở Xa Cam trốn ra theo ta giao nộp. Ở Lộc Ninh, chính quyền cách mạng phân công đồng chí Lê Đức Anh phụ trách quân sự trực tiếp tổ chức lực lượng Vệ quốc đoàn. Lực lượng này thu hút hàng ngàn thanh niên tích cực trong các làng cao su, nhưng vì vũ khí có ít nên không sung vào đội ngũ hết được.

Số thanh niên trên địa bàn bắc Thủ Dầu Một được tuyển biên chế thành các tiểu đội, trung đội, đại đội Vệ quốc đoàn có quân phục là quần áo bà ba màu nâu, mũ calô xanh, giày cao su. Do lực lượng này mặc đồng phục nâu nên được gọi là “bộ đội áo nâu” hay “đội quân áo nâu”. Đây là đội quân gồm công nhân cao su, đồng bào dân tộc thiểu số. Hầu như vũ khí chỉ có giác mác, tầm vông vạt nhọn.

Đồn điền cao su Thuận Lợi, lực lượng “Việt Nam mới”của đồng bào dân tộc ít người như S’tiêng, M’nông, Ch’Ro được duy trì, tăng cường và trang bị thêm vũ khí, song hầu hết vẫn là cung tên nên lực lượng này được gọi là “đội quân cung tên”.

Giữa tháng 9 năm 1945, Tỉnh ủy Biên Hòa thành lập trường Huấn luyện cán bộ quân sự đầu tiên ở miền Đông, hay còn gọi là Trại du kích Vĩnh Cửu do đồng chí Phan Đình Cống trực tiếp quản lý. Hàng trăm thanh niên tự vệ chiến đấu, công nhân, nông dân khắp nơi đã đến tham gia khóa học. Các chiến sĩ được huấn luyện vừa biết chiến đấu, chỉ huy chiến đấu, quản lý đơn vị; vừa biết làm công tác chính trị, binh vận, dân vận. Hầu hết các lớp học viên của trường sau này đều là những cán bộ nòng cốt xây dựng lực lượng vũ trang ở các địa phương trong đó có quận ở bắc Biên Hòa, Thủ Dầu Một.

Đến đầu năm 1946, tổ chức Quốc gia tự vệ cuộc tỉnh Thủ Dầu Một được thành lập, do ông Hồ Văn Nâu làm Trưởng ban. Quốc gia tự vệ cuộc có khoảng một tiểu đội bao gồm những thanh niên Tiền phong cũ và một số thanh niên khác tự nguyện tham gia, được trang bị các loại vũ khí tự tạo thô sơ như: gươm giáo, cung tên, tầm vông vạt nhọn, các loại vũ khí cướp được của địch (súng trường mút cơ tông của Nhật, lựu đạn, súng hai nòng). Mục tiêu của tổ chức này là diệt ác, trừ gian, và phát triển lực lượng để sẽ đảm đương những nhiệm vụ to lớn, nặng nề hơn.

Trong điều kiện vừa giành được chính quyền, những người lãnh đạo cách mạng ở Hớn Quản, Bà Rá, Bù Đốp đã phải đối phó ngay với nhiều kẻ thù cùng một lúc, và giải quyết thành công hàng loạt nhiệm vụ hết sức cấp bách như: thành lập hệ thống chính quyền và đoàn thể cách mạng, hình thành các đơn vị vũ trang, chống lại âm mưu của một số phần tử phản động thân Pháp, bảo đảm an toàn cho nhân dân. Đó là những nhân tố quan trọng để quân và dân Hớn Quản, Bà Rá, Bù Đốp chủ động bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #14 vào lúc: 29 Tháng Sáu, 2011, 08:03:17 AM »

*
*   *

Trong khi chính quyền mới còn gặp muôn vàn khó khăn về mọi mặt kinh tế, kinh tế, chính trị, quân sự…, thì đêm 22 rạng ngày 23 tháng 9 năm 1945, với trên 5.000 lính Nhật được sự hỗ trợ của quân Đồng minh Anh, thực dân Pháp bất ngờ nổ súng tiến công vào các cơ quan hành chính Nam Bộ và những cứ điểm quan trọng trong thành phố Sài Gòn, chính thức mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta một lần nữa.

Sáng ngày 23 tháng 9 năm 1945, Xứ ủy Nam Kỳ họp quyết định thành lập Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ do Trần Văn Giàu làm Chủ tịch và phát động nhân dân đứng lên tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Ngay chiều ngày 23 tháng 9, Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ đã phát đi lời kêu gọi: “Hỡi đồng bào! Từ giớ phút này, nhiệm vụ hàng đầu của chúng ta là tiêu diệt giặc Pháp, tiêu diệt tay sai của chúng”.

Theo lệnh của Ủy an Kháng chiến Nam Bộ, khắp nơi trong thành phố Sài Gòn nhân dân cùng với công nhân các công sở, nhà máy, xí nghiệp thực hiện triệt để chủ trương không hợp tác với địch. Mặt trận nội ô và xung quanh thành phố Sài Gòn dần dần hình thành bốn mặt bao vây quân địch. Cuộc chiến đấu diễn ra ngày càng ác liệt.

Trước hành động tái xâm lược của thực dân Pháp và cuộc chiến đấu của nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định, Tỉnh ủy Thủ Dầu Một chủ trương góp sức người và sức của với Sài Gòn - Chợ Lớn để ngăn chặn sự lấn chiếm của địch, chuẩn bị sẵn sàng đánh địch tại chỗ nếu chiến sự lan đến địa phương. Người dân khắp nơi sôi sục khí thế vào trận: “Mùa thu rồi ngày hăm ba, ta đi theo tiếng kêu sơn hà nguy biến. Rền khắp trời, lời hoan hô, dân quân Nam nhịp chân tiến ra trận tiền. Thuốc súng kém, chân đi không mà lòng người giàu lòng vì nước. Nóp với giáo mang ngang vai nhưng thân trai nào kém oai hùng”(1).

Và ngày 26 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi: “Tôi tin và đồng bào cả nước đều tin vào lòng kiên quyết ái quốc của đồng bào Nam Bộ… Chúng ta nhất định thắng lợi vì chúng ta có lực lượng đoàn kết của cả quốc dân”(2).

Máu chảy ruột mềm, cả nước dấy lên phong trào sôi nổi ủng hộ miền Nam kháng chiến. Hầu hết các tỉnh Bắc Bộ và Trung Bộ lập “Phòng Nam Bộ’ ghi tên những người tình nguyện vào Nam giết giặc. Khắp nơi diễn ra mít tinh, biểu tình, biểu thị quyết tâm kháng chiến. Đông đảo công nhân, nông dân, học sinh, sinh viên, viên chức… tự nguyện lên đường chiến đấu. Chỉ trong một thời gian ngắn, các tỉnh Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ tổ chức mỗi tỉnh từ một đến hai chi đội (tương đương trung đoàn hoặc tiểu đoàn) Nam tiến. Với sức mạnh của nhân dân cả nước đứng lên đánh giặc, ngay trong tuần lễ đầu, đã gây cho giặc Pháp nhiều khó khăn và tổn thất.

Nhận thức rõ tình hình đất nước có chiến tranh, Cùng với nhân dân cả nước, từ Hớn Quản, Lộc Ninh một đoàn xe tải chở thanh niên chiến đấu theo quốc lộ 13 tiến về Sài Gòn, chi viện cho trận tuyến Miền Đông. Đây là những chiến sĩ được tuyển chọn từ “đội quân áo nâu” và một “bộ phận tên ná” trong “đội quân cung tên” do đồng chí Lê Đức Anh chỉ huy. Với số lượng gần một đại đội, vũ khí ít (chỉ có vài khẩu súng lấy được của Nhật, Pháp trong thời gian khởi nghĩa, còn phần lớn là súng gỗ gắn lưỡi lê và giáo mác, cung tên), sng đội quân lên đường với lòng căm thù giặc sâu sắc và ý chí quyết tâm chiến đấu đến cùng “thà chết tự do còn hơn sống nô lệ”.

Tại mặt trận cầu Bến Phân (Hóc Môn), hoạt động của đội quân áo nâu, đội quân cung tên ở Hớn Quản, Lộc Ninh đã góp phần làm cho binh lính, sĩ quan sư đoàn thuộc địa số 9 của Pháp phải vất vả chống đỡ.

Mặc dù với những vũ khí thô sơ, thiếu kinh nghiệm chiến đấu, nhưng các chiến sĩ, công nhân cao su, đồng bào bắc Thủ Dầu Một đã chiến đấu anh dũng cùng với quân và dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định bao vây chặt quân địch trong thành phố. Nhiều người đã anh dũng hy sinh trên các chiến hào xung quanh thành phố.

Cùng với các chiến sĩ đánh giặc ở Sài Gòn, khắp nơi trong tỉnh Thủ Dầu Một phong trào quyên góp ủng hộ bộ đội đánh Pháp diễn ra sôi nổi. Lương thực, thực phẩm và các vật dụng khác của nhân dân, công nhân cao su và đồng bào dân tộc thiểu số ở Hớn Quản, Lộc Ninh chuyển về ngoại vi Sài Gòn, góp phần quan trọng bảo đảm nguồn lương thực, thực phẩm cho các lực lượng vũ trang chiến đấu bao vây địch.

Từ giữa tháng 10 năm 1945, sau khi tăng thêm viện binh, quân Pháp với sự hỗ trợ của quân Anh bắt đầu tổ chức các cuộc lấn chiếm ra ngoại vi Sài Gòn. Dấu hiệu chúng sẽ mở cuộc chiến tranh xâm lược ra các tỉnh Nam Bộ và Nam Trung Bộ. Trong đó các quận bắc Thủ Dầu Một, Biên Hòa cũng trở thành một trong số những mục tiêu bị đánh chiếm trong kế hoạch của thực dân Pháp.

Vì thế, đồng thời với hoạt động đánh địch tại mặt trận Sài Gòn - Chợ Lớn, công tác chuẩn bị đánh địch tại chỗ được xúc tiến mạnh mẽ trên khắp địa bàn bắc Thủ Dầu Một, Biên Hòa.

Ở tất cả các đồn điền Quản Lợi, Lộc Ninh, Thuận Lợi, Xa Cát, Xa Cam, lực lượng tự vệ và công nhân cao su tích cực chuẩn bị vũ khí, phương án sẵn sàng chiến đấu. Tại những vị trí hiểm yếu đều có các phân đội tự vệ công nhân cao su luân phiên canh gác ngày đêm. Các đội tự vệ người Kinh và đồng bào Thượng chuẩn bị tên ná tẩm thuốc độc, bùi nhùi, bố trí phục kích chặn đánh địch.

Trong đồn điền cao su Thuận Lợi, công nhân cao su Nguyễn Đình Kính vận động, tổ chức đội thanh niên tự trang bị vũ khí, hăng hái luyện tập quân sự. Hội phụ nữ cứu quốc cùng vận động được nhiều chị em tham gia bảo vệ đồn điền dưới sự điều hành của Ủy ban nhân dân Thuận Lợi.

Các đội thanh niên cách mạng ở Hớn Quản được trang bị dao găm, gậy tầm vông, dây thừng thường xuyên luyện tập. Đội thanh niên có nhiệm vụ tuần tra, canh gác, khi có vấn đề xảy ra thì thổi tù và báo động.

Trên quốc lộ 13 từ Chơn Thành đến lộc Ninh, chính quyền cách mạng huy động hàng ngàn dân cùng với bộ đội và tự vệ các xã ra đào đường, đốn cây, lập chướng ngại vật, bố trí các trận địa để ngăn chặn bước tiến của quân xâm lược.

Tại các đồn điền, làng sở, công nhân được chỉ đạo chuyển kho tàng ra rừng, đồng thời phá hủy các cơ sở sản xuất còn lại của địch, đưa dân ra khỏi các vị trí có khả năng địch sẽ tới chiếm. Ngoài ra còn vận động nhân dân thực hiện “vườn không nhà trống”, đồng thời tiến hành chặt cây, phá đường nhằm gây khó khăn cho quân địch. Cuộc vận động này được đồng bào bà con hưởng ứng. Một phong trào bất hợp tác với địch phát triển rầm rộ và lan nhanh khắp các đồn điền.

Lực lượng Vệ quốc đoàn của các đồn điền được lệnh rút vào rừng, di chuyển theo tài sản lương thực để sinh sống và chờ lệnh trên triển khai kháng chiến. Lúc này, Ủy ban hành chính, lực lượng cách mạng cùng nhân dân tạm thời rút vào rừng tránh sự đàn áp và khủng bố của địch, đồng thời xây dựng cơ sở vững chắc cho cuộc kháng chiến về sau.

Khi cuộc kháng chiến lan đến địa bàn các quận bắc Thủ Dầu Một, Biên Hòa, nhân dân nơi đây đã hăng hái thực hiện nhiệm vụ xây dựng chính quyền cách mạng, xây dựng cuộc sống mới và chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến, từ xây dựng lực lượng vũ trang cho đến việc tổ chức bố trí chặn đánh địch. Với tinh thần chủ động đó, đến trước khi những đạo quân viễn chinh Pháp sử dụng xe thiết giáp tiến chiếm các đồn điền cao su thì quân dân địa phương đã ở tư thế sẵn sàng chiến đấu. Đó là bước chuẩn bị ban đầu có ý nghĩa đặt tiền đề quan trọng cho công cuộc kháng chiến đã cận kề.


(1) Bài hát “Nam Bộ kháng chiến” của Tạ Thanh Sơn (T.G).
(2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.4, tr. 27.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #15 vào lúc: 29 Tháng Sáu, 2011, 08:04:36 AM »

II. BÌNH PHƯỚC KHÁNG CHIẾN, XÂY DỰNG VÀ
CỦNG CỐ LỰC LƯỢNG VŨ TRANG

Ngày 23 tháng 10 năm 1945, binh đoàn kỵ binh thiết giáp của đại tá Mát Xuy (Massu) đến Sài Gòn, đưa tổng số quân Pháp tại Sài Gòn lên tới 6.000, không kể 20.000 quân Anh và 40.000 quân Nhật. Có thêm viện binh, Leclerc bắt đầu tổ chức các cuộc tiến công chọc thủng vòng vây xung quanh Sài Gòn, lần lượt đánh chiếm các tỉnh Miền Đông và Miền Tây Nam Bô.

Trong các ngày 23 đến 25 tháng 10 năm 1945, quân Pháp đánh chiếm Thủ Dầu Một và Biên Hòa. Sau đó, chúng lần lượt đánh chiếm thị trấn Bến Cát cùng nhiều nơi khác dọc trên đường 13. Binh đoàn bộ binh cơ giới Pháp do đại tá Mátxuy (Massu) chỉ huy sau khi chiếm Tây Ninh, đã tiến lên phía bắc mở đường vào vùng đồng bào các dân tộc và các đồn điền cao su của Hớn Quản, Lộc Ninh, Bù Đốp. Tại đoạn Chơn Thành - Lộc Ninh, địch tổ chức tiến chiếm nhưng đều bị lực lượng ta đánh tiêu hao, buộc phải tạm lui.

Thấy được tầm quan trọng của địa bàn Hớn Quản, Bà Rá, Bù Đốp nơi tập trung nhiều các đồn điền cao su như: Lộc Ninh, Hớn Quản, Thuận Lợi, Đa Kia, Bù Đốp… một nguồn nguyên liệu đem lại giá trị kinh tế to lớn mà các nước phát triển đều muốn giành độc quyền trên thị trường thế giới nên việc bình định và phục hồi sản xuất ở các đồn điền trở thành mục tiêu chính của thực dân Pháp. Không những thế, nơi đây còn là vùng có giá trị chiến lược rất lợi hại về quân sự. Một mặt, là địa bàn rừng núi, dân cư thưa thớt phân bố không đều, lương thực thực phẩm khan hiếm, giao thông liên lạc khó khăn, vì thế, các đồn điền cao su dễ trở thành những trung tâm tiếp tế, cung cấp mọi nhu cầu cho kháng chiến. Mặt khác, lại là nơi có đường xe lửa Sài Gòn - Lộc Ninh; với các mục tiêu đường giao thông chiến lược quan trọng như quốc lộ 13, quốc lộ 14 chạy dài từ Bắc đến Nam nối liền Bình Phước với các tỉnh Nam Trung Bộ, Nam Tây Nguyên và Campuchia. Do đó, hơn hai tháng sau ngày chiếm Thủ Dầu Một, ngày 25 tháng 12 năm 1945, quân Pháp được quân Anh yểm trợ mở cuộc tiến công với quy mô lớn, chia làm hai hướng đánh chiếm vùng cao su ở Hớn Quản, Bà Rá, Bù Đốp. Hướng thứ nhất từ thị xã Thủ Dầu Một đánh lên, hướng thứ hai từ thị xã Tây Ninh đánh qua tạo thành hai gọng kìm tiêu diệt lực lượng ta. Mục tiêu chung của chúng là khai thông và kiểm soát hoàn toàn các địa điểm nằm dọc theo quốc lộ 13, cùng với các đồn điền cao su rộng lớn ở Hớn Quản, Lộc Ninh. Tuy nhiên, địch liên tiếp đụng phải chướng ngại vật và trận địa phục kích của du kích trên quốc lộ 13. Lực lượng công nhân cao su cùng nhân dân lao động, đồng bào dân tộc thiểu số chỉ có vũ khí thô sơ đã chống trả quyết liệt, ngăn chặn từng bước tiến của kẻ thù, tiêu diệt và làm bị thương một số tên địch.

Nhưng sau một thời gian cầm cự, do lực lượng quá chênh lệch giữa một bên là quân đội viễn chinh nhà nghề trang bị vũ khí hiện đại với một bên là những người công nhân cao su và du kích địa phương chỉ với gậy gộc, giác mác, tầm vông vạt nhọn, nên hiều anh chị em đã anh dũng hy sinh để bảo vệ chính quyền vừa mới giành được. Cuối cùng lực lượng cách mạng cùng nhân dân tạm thời rút vào rừng tránh sự vây ráp, khủng bố của địch để bảo toàn lực lượng. Tuy nhiên, do lực lượng chênh lệch đến tháng 2 năm 1946, hầu hết các địa phương, các đồn điền cao su đều bị thực dân Pháp đánh chiếm.

Ngày 8 tháng 11 năm 1945, quân Pháp đánh chiếm các đồn điền cao su dọc lộ 13, 14. Ngày 12 tháng 12, chúng chiếm Hớn Quản, Lộc Ninh, Bù Đốp.

Sau khi quân Pháp chiếm đóng Hớn Quản, Bà Rá, Bù Đốp, chúng lập lại tề xã, các đồn bốt, chi khu, cứ điểm quân sự tại các trung tâm đồn điền, các làng công nhân và dọc đường giao thông, quốc lộ 13, quốc lộ 14.

Tại đồn điền Thuận Lợi, trừ lực lượng cơ động ứng chiến, có trên một trung đội lính bảo vệ văn phòng chủ sở, các làng công nhân đều có đồn bốt do lính Marốc được trang bị vũ khí đầy đủ canh giữ. Đồn điền Thuận Lợi trở thành một căn cứ quân sự của địch với nhiều đồn bót xung quanh, sẵn sàng chi viện cho các địa bàn khác.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #16 vào lúc: 29 Tháng Sáu, 2011, 08:06:16 AM »

Ở Hớn Quản có tên Hai Tác, nguyên Ủy viên Ủy ban hành chính Hớn Quản đã phản bội, làm chỉ điểm cho Pháp bắn chết một số cán bộ chủ chốt của cách mạng như đồng chí Vị là đảng viên phụ trách quận bộ hành chính, đồng Nghĩa là ủy viên quân sự Ủy ban hành chính. Trung bình, tại mỗi đồn điền, địch đóng một chi khu quân sự với lực lượng thường trục khoảng 2 đại đội, gồm cả lính Âu Phi và lính Cao Miên. Những nơi lập được bộ máy kìm kẹp, chúng ra sức dụ dỗ, mua chuộc thanh niên đi lính cho chúng. Theo chân bọn lính viễn chinh, các chủ công ty đồn điền quay trở lại chiếm đoạt các đồn điền cao su cũ, phục hồi sản xuất. Quân đội Pháp cấu kết với bọn chủ đồn điền xây dựng các đồn điền cao su thành cơ sở quân sự và hậu cần, vừa bảo vệ an ninh tại chỗ, đồng thời làm bàn đạp bao vây và phong tỏa kinh tế căn cứ của ta. Chỉ riêng ở khu vực Đồng Xoài, Pháp thường xuyên duy trì hơn một tiểu đoàn, đóng đồn bốt khắp các khu vực dọc đường 14 từ Phước Hòa, Phước Vĩnh, Đồng Xoài đến quận lỵ Bà Rá.

Thực dân Pháp đẩy mạnh khủng bố và tăng cường các tổ chức tề điệp. Chúng tụ tập bọn tay chân là chủ đồn điền, tay sai ác ôn bị Nhật giam giữ trước đây, tổ chức lại bố máy cai trị địa phương và thi hành hàng loạt các cuộc bắn giết trả thù, và khủng bố những người tham gia cách mạng, tham gia thành công Thanh niên Tiền Phong khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám, tham gia lực lượng tự vệ công nhân, các đảng viên cộng sản; đồng thời lùng bắt công nhân, buộc họ trở lại công sở làm việc cho chúng.

Ngoài các đồn bốt, tháp canh, chi khu quân sự dùng để đàn áp và khủng bố công nhân, nhân dân cách mạng, quân viễn chinh Pháp còn dùng một công cụ khác không kém phần dã man nhằm đối phó với những người yêu nước cách mạng, đó là các trại tù. Đây là nơi lưu đầy dân phu cao su bỏ trốn hoặc những người mà chúng cho là “nổi loạn”. Những người bị bắt giam phần lớn là những cán bộ cách mạng. Mọi tù nhân đều chịu chung số phận đọa đày tàn nhẫn. Nhưng cũng chính trong thời gian bị giam cầm ở đây, họ đã biến trại tù thành trường học cộng sản, ngày đêm trau dồi đạo đức cách mạng. Khi có cơ hội là họ đào thoát trở về làm cách mạng triệt để hơn.

Dã man nhất là trận đàn áp ở đồn điền Kinkixa thuộc công ty CEXO (Lộc Ninh). Trong vài giờ, chúng đã bắn chết hàng trăm người, đốt trụi hàng trăm ngôi nhà. Cả làng công nhân chỉ còn một phụ nữ và một cháu bé 11 tuổi. Những vụ thảm sát này nằm trong hàng loạt hành động giết sách, đốt sạch, phá sạch tại các trận càn của địch ở vùng nông thôn.

Do không có phương tiện sinh sống, lại bị địch ruồng bố càn quét, một số công nhân cao su, một lần nữa trở lại cuộc sống lao động làm thuê cho tư bản thực dân Pháp. Người công nhân đã phải chua chát thốt lên rằng:

      “Trời cao cao mấy tầng mây
      Trời cao có thấu nỗi này cho chăng?”


Đối với đồng bào dân tộc thiểu số, ngay từ đầu năm 1946, thực dân Pháp xây dựng những đội quân địa phương để bảo vệ đường và căn cứ quân sự. Chúng dùng nhiều thủ đoạn lừa mị, mua chuộc, dụ dỗ hòng phá vỡ phong trào kháng chiến cứu nước của đồng bào ta. Nhưng chúng đa bị thất bại, đồng bào không theo giặc Pháp, chúng lại giở thủ đoạn đốt sạch, phá sạch các buôn làng, tăng cường bóc lột đồng bào, khoét sâu mâu thuẫn Kinh - Thượng. Thâm hiểm hơn, chúng kích động đồng bào dân tộc thiểu số bắn giết cán bộ người Kinh, lấy đầu cán bộ đem đến đồn Phát đổi lấy muối, vải. Ban đầu chúng treo giá 3 lít muối và 1 lít vải (xấu) cho mỗi cán bộ bị giết. Sau chúng nâng lên thành 20 lít rồi cả bao muối và vải. Cuối cùng chỉ cần cắt được tai cán bộ nộp cho Pháp thì vẫn được một bảo muối và vải vóc(1). Đồng thời chúng mua chuộc và tổ chức điểm chỉ viên và gián điệp để cung cấp tin thức cho chúng, chống lại ta.

Cùng với âm mưu chia rẽ về chính trị, tăng cường quân sự, thực dân Pháp còn bao vây ta về kinh tế hòng làm cho cán bộ chiến sĩ và đồng bào ta không có phương tiện sinh sống, đói rét, thiếu thuốc chữa bệnh và nhiều nhu yếu phẩm khác.


(1) Xem: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, tập 1 (1930-1945), Ban Thường vụ tỉnh ủy Sông Bé xuất bản, 1995, tr. 40.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #17 vào lúc: 29 Tháng Sáu, 2011, 08:09:01 AM »

*
*   *

Tất cả các hành động nêu trên của địch đã gây không ít khó khăn cho ta từ cuối năm 1945 và cả trong năm 1946. Song dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Thủ Dầu Một, quân và dân các quận Hớn Quản, Bà Rá, Bù Đốp, đã kiên cường từng bước một vượt qua mọi khó khăn, duy trì và đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ Tịch Hồ Chí Minh và Ủy ban kháng chiến Nam Bộ “Hỡi anh em binh sĩ, dân quân, tự vệ! Hãy nắm chặt vũ khí trong tay xông lên đánh đuổi thực dân Pháp, cứu nước” nhân dân các quận bắc Thủ Dầu một hăng hái đứng lên kháng chiến.

Trước thế tấn công áp đảo của địch, huyện lỵ, đồn điền cao su bị chiếm các cơ quan kháng chiến và lực lượng vũ trang phải phân tán, rút lui ra nhiều hướng. Ngay từ những ngày 21, 22 tháng 10 năm 1945, do nắm được ý đồ của thực dân Pháp sẽ lấn chiếm tỉnh lỵ, các cơ quan tỉnh đã rút khỏi thị xã Thủ Dầu Một, dời ra vùng nông thôn để bảo toàn lực lượng và tổ chức chiến đấu. Thực hiện chỉ thị “triệt để bãi chợ, bãi công và tiêu thổ kháng chiến” của Ủy ban kháng chiến Nam Bộ và theo chỉ đạo của Tỉnh ủy Thủ Dầu Một, hầu hết các gia đình công nhân, nông dân đều tản cư vào các xóm ấp ven đồn điền hoặc các vùng rừng núi. Công nhân đồn điền Thuận Lợi chuyển về Phước Long; công nhân đồn điền Quản Lợi di chuyển đến các điểm ở phía đông Sông Bé; công nhân cao su Xa Cam, Xa Cát chuyển vào khu vực giáp phía đông sông Sài Gòn. Trong các đồn điền, làng sở, nhân dân được chỉ đạo chuyển kho tàng tài liệu, máy móc vào rừng.

Ở vùng Lộc Ninh, Hớn Quản, ngay sau khi các gia đình công nhân tản cư, kho tàng cũng được đưa đến các nơi an toàn, lực lượng tự vệ đồn điền và bộ đội tiến hành phá hủy các cơ sở sản xuất còn lại: dân phá máy móc, đốt các kho chứa mủ cao su, lửa cháy âm ỉ suốt cả tuần lễ, vườn cây bị bỏ hoang trong nhiều tháng. Phong trào bất hợp tác với địch lan nhanh trong nhân dân, với khẩu hiệu “không làm cho giặc Pháp, không tiếp tế cho Pháp, không mua bán với Pháp, không dẫn đường cho Pháp”.

Các lực lượng dân quân được phân công bám các trục lộ giao thông, ven các làng xã diệt địch, trừ việt gian. Ban đêm những lực lượng này thường đột nhập vào những vùng địch chiếm đóng, bắn phá các đồn bốt địch, ban ngày rút ra ngoài phục kích.

Đầu tháng 12 năm 1945, lực lượng “đội quân áo nâu” (thành phần chủ yếu là lực lượng vũ trang chiến đấu của Quản Lợi, đồn điền Xa Cam, Xa Cát) đóng quân ở Sóc Tà Bái, bắc Sông Bé, huy động 2 phân đội đánh lính Nhật Bản ở làng sở Sóc Xiêm, thu 1 súng và một số lựu đạn, đồ dùng quân sự.

Ngày 10 tháng 12 năm 1945, cũng lực lượng ở Tà Bái với hơn 1 đại đội khoảng 150 người được trang bị 2 đại liên 12 ly 7 và 13 ly 2, một trung liên và 20 súng trường đã đánh phục kích quân Pháp ở bìa sở cao su XACO 28 thuộc đồn điền Quản Lợi. Hai ngày sau, ta lại tổ chức hai phân đội phối hợp với lực lượng vũ trang ở đông Bù Ka (phía đông sông Bé giáp với Bù Nho) đánh lính Nhật ở làng 2 đồn điền Đa Kia. Cùng với hoạt động của cánh quân ở Tà Bái, cánh quân ta ở Bù Nho cũng đột nhập vào Xẹcvixơ Técních (Service Technique) diệt tên việt gian chỉ điểm. Lúc này “đoàn quân áo nâu” của công nhân cao su Lộc Ninh do đồng chí Lê Đức Anh chỉ huy, đi chi viện cho mặt trận Sài Gòn, sau khi mặt trận này bị vỡ, đã rút về trấn giữ cầu Bến Phân Thủ Dầu Một, cũng được lệnh rút về xã Chánh Phú Hòa để củng cố và tăng cường lực lượng.

Giữa tháng 12 năm 1945, quân Pháp bung ra tiến công quân ta ở mạn đông sông Bé. Chúng triển khai lực lượng ở bờ tây sông tổ chức vượt sông. Quân ta nổ súng chống cự, giết và làm bị thương 3 tên, sau đó tổ chức rút lui bảo toàn lực lượng. Sau trận đánh này, các đơn vị vũ trang chiến đấu nhận lệnh rút về phía nam, vượt qua khu rừng phía tây Đồng Xoài về Phước Sang hợp lực với lực lượng chiến đấu do đồng chí Lê Đức Anh chỉ huy. Toàn bộ lực lượng kéo về Bình Mỹ - Bình Cơ bàn việc chấn chỉnh lại bộ đội, lo nguồn tiếp tế hậu cần, chuẩn bị cho đợt chiến đấu tiếp theo.

Tại Bù Đốp, đơn vị vũ trang ta đã đánh một trận giao thông vang dội trên quốc lộ 13. Đoàn xe quân sự của địch gồm 5 chiếc GMC, mỗi chiếc chở 30 lính Pháp đã lọt vào ổ phục kích của ta. Hai xe bị trúng mìn bốc cháy, 3 xe bị ta bắn bị thương, 60 tên địch bị giết. Ta làm chủ trận địa, thu nhiều vũ khí của địch để lại. Đối với giặc Pháp và tay sai, quốc lộ 13 được xem là “con đường đầy máu và nước mắt”.

Trước sự lớn mạnh của phong trào kháng chiến, giặc Pháp bắt đầu hoảng sợ; do đó chúng mở các cuộc khủng bố, tàn sát dã man đồng bào, lùng bắt và giết anh em cán bộ hòng dập tắt làn sóng đấu tranh của nhân dân. Ngày 20 tháng 12 năm 1946, chúng đã bắt và giết ông Ngô Tấn Nghi, bà Năm Phòng, bà Ba Cát(1)… Chúng cho ném xác bà Ba Cát xuống Cầu Đúc, cho quân canh giữ cẩn thận hòng giết những người đến lấy xác, đốt cháy rụi xóm Cầu Suối Đôi (Chơn Thành), giết ông Ngô Tấn Vĩnh, Ngô Tấn Ký(2). Cùng lúc, tên quan tư Moks chỉ huy lực lượng Pháp chiếm đóng Chơn Thành kết hợp với tên cò Ma Hu ở Hớn Quản tổ chức một cuộc vây ráp từ Hớn Quản xuống, từ Chơn Thành lên, tạo thành gọng kìm vây chặt xã Tân Quang. Trước tình thế đó lực lượng Thanh niên cứu quốc của xã phải rút vào rừng để bảo toàn lực lượng. Quân của tên cò Ma Hu bắt dân đưa về làm phu cho bọn chủ tư bản Pháp ở Hớn Quản. Còn tên Mosk cũng vây bắt một nửa số dân xã Tân Quang về Chơn Thành, đồng thời bắn chết 4 người mà hắn cho là Việt Minh, đó là ông Lâu, ông Năm nghiêm, ông Giỏi, ông Gặp. Ngoài ra tên Moks còn cho một cánh quân đánh vào khu vực Tàu Ô đốt sạch nhà cửa của bà con, bắn chết ông Hai Dâu, ông Tú, ông Bảy, ông Rừng, ông Gồng(3).

Tại Xa Cát và Xa Trạch cơ sở bị lộ, Pháp bắt một số người tra tấn, đánh đập. Trong số anh em công nhân bị bắt có anh xu Cảnh ở Xa Cát và một người nữa ở Xa Trạch bị địch xử tử hòng răn đe phong trào kháng chiến. Bị khủng bố bất ngờ, phong trào lắng xuống nhất là tầng lớp xu, ký tỏ ra hoảng sợ. Việc đi lại hoạt động hợp pháp gặp khó khăn, nhiều anh em ở các cơ sở phải thoát ly ra rừng như anh Mai (Nguyễn Hữu Mai) ở Xa Cát, anh Phê, anh Năng ở Xa Cam, anh Năm Thành (Nguyễn Khắc Thành) ở Xa Trạch…

Trước sự tấn công ồ ạt của giặc Pháp, tổ chức cách mạng trong buổi đầu còn non trẻ, gặp không ít khó khăn. Cán bộ nòng cốt một số hy sinh, một số tản mát khắp nơi. Hàng chục công nhân bị bắt bớ, tù đày. Thanh niên tự vệ chiến đấu rút ra rừng, chưa được củng cố, tổ chức lại. Ba con công nhân sau một thời gian sơ tán, vì cuộc sống buộc phải trở lại các đồn điền tiếp tục làm việc. Tuy vậy, các cán bộ cách mạng vẫn kiên cường bám trụ, tổ chức cơ sở, lãnh đạo nhân dân, công nhân đấu tranh, tham gia kháng chiến. Khí thế cách mạng vẫn ngày một lên cao.


(1) Tại Ủy ban nhân dân thị trấn Chơn Thành ngày nay (T.G).
(2) Hai người này là em của ông Ngô Tấn Nghi (T.G).
(3) Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Bình Long: Truyền thống đấu tranh cách mạng của quân và dân huyện Bình Long, 1988, tr.70.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #18 vào lúc: 29 Tháng Sáu, 2011, 08:10:32 AM »

*
*   *

Diễn biến chiến sự ở Nam Bộ càng thêm nóng bóng sau khi quân Pháp triển khai chiếm đóng một số tỉnh xung quanh Sài Gòn. Công cuộc kháng chiến đang đứng trước những thử thách mới, đòi hỏi sự lãnh đạo nhạy bén, đúng hướng và kịp thời của Trung ương đối với các tỉnh Nam Bộ.

Để giữ vững chính quyền cách mạng, một trong những vấn đề cơ bản mà Đảng bộ tỉnh Thủ Dầu Một quan tâm là vấn đề củng cố tổ chức, chấn chỉnh và hoàn thiện để xây dựng, phát triển lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang.

Ngày 25 tháng 10 năm 1945, Xứ ủy Nam Bộ triệu tập hội nghị mở rộng tại Cái Bè (Mỹ Tho) do đồng chí Hoàng Quốc Việt chủ trì. Hội nghị đề ra nhiệm vụ lãnh đạo đẩy mạnh cuộc kháng chiến và quyết nghị một số biện pháp nhằm giải quyết những vấn đề cấp bách của cuộc kháng chiến. Đó là chấn chỉnh tổ chức, tăng cường sự đoàn kết nhất trí trong từng cấp ủy địa phương, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng về mọi mặt, trước hết là việc xây dựng lực lượng vũ trang. Hội nghị xác định nguyên tắc: quân đội cách mạng phải đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng.

Chấp hành chỉ thị của Trung ương Đảng, ngày 10 tháng 12 năm 1945, Xứ ủy Nam Bộ triệu tập Hội nghị mở rộng tại một xã bên sông Vàm Cỏ Đông. Hội nghị quyết định giải thể Ủy ban kháng chiến Nam Bộ, thành lập Ủy ban kháng chiến Miền Nam do đồng chí Cao Hồng Lĩnh làm Chủ tịch, chia Nam Bộ thành ba khu 7, 8, 9. Khu 6 được thành lập gồm; Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định, Bà Rịa, Biên Hòa, Thủ Dầu Một và Tây Ninh, do Nguyễn Bình làm Khu bộ trưởng, Dương Văn Dương làm Khu bộ phó; Trần Xuân Độ làm Chính trị bộ chủ nhiệm. Hệ thống lãnh đạo của Đảng và hệ thống quân sự được thống nhất từ trên xuống, đã có tác dụng to lớn trong việc củng cố xây dựng các lực lượng vũ trang ở các địa phương.

Tiếp đó, ngày 20 tháng 11 năm 1945, đồng chí Nguyễn Bình với danh nghĩa phái viên của Trung ương triệu tập Hội nghị quân sự Nam Bộ tại xã An Phú (Hóc Môn - Gia Định) nhằm thống nhất quân đội, thống nhất chỉ huy và vạch chương trình hành động, phân chia khu vực hoạt động cho các đơn vị vũ trang và nhấn mạnh đến việc đoàn kết toàn dân, đoàn kết các giáo phái, chống lại chính sách chia rẽ lương giáo của địch.

Về mặt quân sự, các đơn vị vũ trang khẩn trương tập hợp lực lượng, nhiều đơn vị xây dựng thành tổ chức cấp chi đội (tương đương trung đoàn ngày nay). Hội nghị dự kiến tập trung các lực lượng vũ trang, tổ chức thành 25 chi đội lấy tên từ 1 đến 25 (tương đương trung đoàn).

Chi đội vũ trang của tỉnh Thủ Dầu Một ra đời lấy tên là Chi đội 1 do Huỳnh Kim Trương làm chi đội trưởng, Nguyễn Văn Thi làm chi đội phó, Vương Anh Tuấn, chính trị viên đã làm lễ ra mắt ở chiến khu An Sơn vào tháng 12 năm 1945. Chi đội 1 bao gồm nhiều thành phần tham gia: công nhân, nông dân, trí thức, giáo viên, học sinh, Thanh niên Tiền phong và một số lính Nhật,… Với tổng số 800 cán bộ, chiến sĩ được trang bị 80 súng trường, 10 súng phun lửa, 1 súng máy, 100 lựu đạn, 5 súng lục và nhiều đạn dược. Trên thực tế, các lực lượng vũ trang của Hớn Quản vì ở xa không nắm được kịp thời chủ trương trên, do đó vẫn chưa hội nhập vào Chi đội 1. Đến ngày 1 tháng 3 năm 1946, Chi đội 1 đã tổ chức thành 3 đại đội(1).

Cho tới cuối tháng 11 năm 1945, tình hình gặp nhiều khó khăn, giặc Pháp chiếm đóng sâu vào cả vùng căn cứ của ta, và đã mở thông được đường số 13 Sài Gòn - Lộc Ninh và đoạn đường số 14 lên Bù Đốp. Khi địch càn quét chiếm đóng lan rộng. hoạt động của chính quyền và đoàn thể ở cơ sở hầu như không còn. Tự vệ, du kích các xã thì đã nhập vào các đơn vị vệ quốc đoàn của chi đội. Căn cứ đóng quân và địa bàn hoạt động của bộ đội bị thu hẹp. Sau những trận chống càn quét bộ đội ta bị tiêu hao cả về người và vũ khí đạn dược. Cơ sở trong nhân dân thu hẹp. Địa bàn Hớn Quản, Bà Rá, Bù đốp với địa hình rừng rậm, ruộng ít, lương thực không đủ cho dân địa phương lại bị địch càn quét, phá hoại về kinh tế. Nguồn cung cấp lương thực thực phẩm, vũ khí từ trên chuyển xuống gặp khó khăn, tại địa phương thì cạn kiệt… Tuy gặp nhiều khó khăn gian khổ nhưng bộ đội và cán bộ vẫn kiên trì chịu đựng, tìm cách khắc phục khó khăn để sống và chiến đấu. Trong hoàn cảnh ấy nhiều đơn vị phải tự túc bằng cách vào rừng đào củ mài, cú nần, củ chụp… để ăn và đều quyết tâm tìm địch mà đánh, lấy vũ khí địch trang bị cho ta.


(1) Đại đội tương đương tiểu đoàn ngày nay (T.G).
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #19 vào lúc: 29 Tháng Sáu, 2011, 08:13:01 AM »

Trước tình hình này, Chi đội 1 và các đại đội chủ trương quay trở lại vùng địch mới chiếm. Bộ đội Biên Hòa do đồng chí Huỳnh Văn Nghệ chỉ huy gây dựng lại cơ sở cách mạng và cơ sở vũ trang trong vùng địch tạm chiếm. Các đại đội thuộc Chi đội 1 tổ chức vũ trang tuyên truyền, diệt tề trừ gian, tổ chức lại cơ sở quần chúng và tự vệ. Lực lượng bảo vệ căn cứ Khu bao gồm trung đội A do Nguyễn Đình Kính là chỉ huy trưởng, Lê Đức Anh làm chính trị viên, Nguyễn văn Hội và Lê Danh Cát làm chỉ huy phó trở về Thủ Dầu Một sáp nhập vào đại đội 3 Chi đội 1(1). Từ đây, đại đội 3 do các đồng chí Nguyễn Văn Ngọ làm đại đội trưởng, Nguyễn Văn Hội là đại đội phó, Lê Đức Anh làm chính trị viên. Đại đội hoạt động ở vùng cao su Hớn Quản, Bù Đốp và vùng đồng bào các dân tộc thiểu số. Đại đội 3 có ba trung đội. Các đơn vị này cương quyết trở về vùng địch tạm chiếm, dựa vào dân để tồn tại, hoạt động khôi phục phong trào.

Tháng 4 năm 1946, đồng chí Nguyễn Đức Thuận thay mặt Khu ủy Khu 7 chỉ định thành lập Tỉnh ủy Biên Hòa do đồng chí Trần Minh Trí làm Bí thư. Tháng 6 năm 1946, Chi đội 10 - đơn vị vũ trang của tỉnh Biên Hòa được thành lập do đồng chí Huỳnh Văn Nghệ làm chi đội trưởng. Lực lượng lúc này lên tới 1.000 người, 380 súng trường, nhiều súng máy, tiểu liên và súng cối. Chi đội 10 được chia làm 3 đại đội A, B, C. Địa bàn hoạt động của chi đội mở rộng lên đường 14, Đồng Xoài.

Các đại đội Vệ quốc đoàn của chi đội 10 - Biên Hòa phân tán thành từng đơn vị nhỏ xuống đứng chân, hoạt động tại các xóm ấp, dựa vào sự tiếp tế của các địa phương. Ban chỉ huy chi đội 10 được sự đồng ý của Ủy ban kháng chiến hành chính Biên Hòa chuyển các quận quân sự thành các Ban công tác liên thôn. Dưới Ban công tác liên thôn là Ban công tác xã. Đây là cơ quan quân sự địa phương giúp việc cho Ủy ban kháng chiến hành chính huyện, xã thực hiện nhiệm vụ quân sự trên địa bàn mình do chi đội 10 thống nhất chỉ huy. Thực hiện theo chủ trương này, trên địa bàn từ Bình Mỹ đến Bà Rá có Ban công tác liên thôn 7 của tỉnh Biên Hòa thường xuyên hoạt động.

Đến đây, cuộc kháng chiến ở địa bàn tỉnh Bình Phước (ngày nay) được tiến hành dưới sự lãnh đạo của tỉnh ủy Thủ Dầu Một và tỉnh ủy Biên Hòa.

Ngay từ tháng 6 năm 1945, các tổ chức công đoàn cũng đã gây dựng được cơ sở trong hầu hết các đồn điền ở Miền Đông Nam Bộ. Tuy tên gọi không thống nhất như Ủy ban công nhân, Nông dân cứu quốc, Nghiệp đoàn nhưng đều cùng một mục đích là vận động, tổ chức công nhân cao su đấu tranh đòi quyền dân sinh và ủng hộ kháng chiến. Các công đoàn của công nhân cao su Lộc Ninh, Bù Đốp, Hớn Quản, Thuận Lợi lần lượt ra đời. Các tổ chức này đến cuối năm 1946 đã thống nhất thành một hệ thống của Tổng Công đoàn Nam Bộ sau đổi tên là Liên hiệp nghiệp đoàn Nam Bộ với chủ trương:

- Củng cố và phát triển tổ chức công đoàn và các tổ chức cách mạng khác.

- Đưa thanh niên ra tiền tuyến.

- Mở mặt trận cao su chiến.

Vào tháng 12 năm 1946, theo chủ trương của Tỉnh ủy Thủ Dầu Một, Ban Cán sự Đảng của quận Hớn Quản - tức Quận ủy lâm thời được thành lập gồm 5 đồng chí: đồng chí Lê Đức Anh (mang mật danh là Hòa) làm Bí thư, Trần Quang Sang (mang mật danh là Khai) làm Phó Bí thư và các đơn vị Việt (mang mật danh là Bình), Nguyễn Văn Hội (mang mật danh là An), Lê Danh Cát (mang mật danh là Ninh)(2). Quận ủy lâm thời phân công trách nhiệm như sau: đồng chí Nguyễn Văn Hội, Lê Danh Cát lo công việc phát triển Đảng trong bộ đội bao gồm đại đội ở Hớn Quản, và 2 đại đội đang hoạt động ở Bến Cát; đồng chí Việt lo công tác phát triển Đảng trong cơ quan Công an; các đồng chí Lê Đức Anh, Trần Quang Sang lo công việc phát triển Đảng ở xã Tân Khai và trong đồn điền cao su. Việc thành lập Quận ủy lâm thời Hớn Quản đánh dấu bước phát triển quan trọng của phong trào kháng chiến ở vùng này. Quận ủy đề ra nhiệm vụ chỉ đạo chặt chẽ Hội nông dân, củng cố và phát triển thêm các cơ sở cách mạng, vận động thanh niên vào bộ đội, đồng thời bao vây, phá hoại kinh tế địch là một chủ trương lớn của Xứ ủy, Khu ủy Miền Đông nhằm làm tiêu hao tiềm lực và dự trữ kinh tế của địch, góp phần vào việc phát triển kinh tế kháng chiến bằng việc mở rộng “Mặt trận cao su chiến”. Dưới sự lãnh đạo của Xứ ủy, Ủy ban kháng chiến hành chính và Liên hiệp nghiệp đoàn cao su Nam Bộ ở quận Hớn Quản, Bù Đốp đã xây dựng nhiều tổ chức bí mật bên trong đồn điền cao su với nhiệm vụ phá hoại vườn cây, phá hoại việc khai thác mủ và cơ sở sản xuất, chế biến cao su của địch. “Mặt trận cao su chiến” trở thanh khẩu hiệu đấu tranh của công nhân cao su với nội dung: biến đồn điền cao su thanh chiến trường tiêu diệt địch.


(1) Đại đội bảo vệ căn cứ Khu bộ Khu 7 tại Chiến khu Đ (Lạc An) gồm 2 trung đội: Trung đội A (lực lượng Thủ Dầu Một) do Nguyễn Đình Kính làm chỉ huy trưởng, Trung đội B (lực lượng Biên Hòa) do Lê Văn Ngọc chỉ huy trưởng. Ban chỉ huy đại đội gồm: Lê Văn Ngọc (đại đội trưởng), Lê Đức Anh (chính trị viên), Nguyễn Văn Hội (đại đội phó) (T.G).
(2) Sau một thời gian các đồng chí Bình, An, Ninh chuyển sang công tác ở bộ đội và công an. Đến giữa năm 1947, đồng chí Lê Đức Anh được điều lên tỉnh làm chính trị viên Chi đội 1. Lúc này Ban cán sự Đảng của Quận được bổ sung thêm 3 đồng chí Chín Thinh, Tám Ngân, Mười Canh và đồng chí Trần Quang Sang được cử làm Bí thư. Sang năm 1948, đồng chí Tám Ngân hy sinh, Quận ủy bổ sung đồng chí Doãn Văn Mì, đến cuối năm 1948 lại được bổ sung thêm đồng chí Hai Lĩnh (T.G).
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM