Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 01 Tháng Tư, 2020, 03:18:56 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tiểu Luận Về Chiến Tranh - Frederick Engels  (Đọc 43609 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
DesantnhikVDV
Thành viên
*
Bài viết: 2103


Никто, кроме нас


« Trả lời #130 vào lúc: 26 Tháng Năm, 2011, 07:54:15 PM »

[74]. Éc-da-rê-déc-vơ trong quân Phổ bộ phận dự bị gồm những người đến tuổi làm nghĩa vụ quân sự nhưng trong thời bình do nguyên nhân nào đó dược hoãn vào ngạch thường trực gọi là Éc-dat-rê-déc-vơ. Éc-dat-rê-déc-vơ mà thời hạn phục vụ quy đinh là 12 năm được sử dụng dể bổ sung cho quân đội thời chiến.-165.

[75]. Ý nói đến cuộc khởi nghĩa năm 1808 ở Tây Ban Nha chống lại sự thống trị của Na-pô-lê-ông mở đầu cuộc chiến tranh giải phóng dân lộc của nhân dân Tây Ban Nha chống bọn chiếm đóng Pháp trong những năm 1808- 1814, trong cuộc đấu tranh chống quân đội của Na-pô-lê-ông, người Tây Ban Nha sử dụng đặc biệt rộng rãi chiến thuật du kích.-173.

[76]."The Daily news" ("Tin tức hàng ngày")- tờ nhật báo của phái tự do Anh, cơ quan của giai cấp tư sản công nghiệp, xuất bàn dưới tên đó ở Luân Đôn từ năm 1846 đến năm 1930.- 175.

[77]. Ý nói đến ranh giới của công sự phòng thủ thành phố cũ đã bị phá hủy vào thế kỷ XVIII vị trí cũ của công sự ấy hiện đã xây dựng phố có trồng cây.- 176.

[78]. Pa-le đơ Giuy-xyít (Sở tư pháp)- công thự của tòa án ở Pa-ri.-176.

[79].Don-đéc-buốc (tên gọi hiện nay là Xen-néc-buốc)- một trong những cứ điểm trên trận đia có công sự Đuýp-pen án ngữ lối sang đảo An-den trong thời kỳ chiến tranh của Phổ và áo chống Đan Mạch năm 1864 (xem chú thích 62). Sau một cuộc vây đánh kéo dài, ngày 18 tháng Tư 1864 quân Phổ chiếm được trận địa Đuýp-pen buộc quân Đan Mạch rút lui về An-den. Cuộc chiến đấu chiếm trận địa Duýp-pen chứng minh vai trò tăng lên của pháo binh trong hoạt động vây đánh.- 177.

[80]. Ý nói đến cuộc nội chiến ở Mỹ 1861- 1865.- 191.

[81]. Ý nói đến các hoạt động quân sự của đạo quân các bang miền Bắc nhằm chiếm hai đia điểm quan trọng nhất của quân miền Nam: Vích-xbéc-gơ bang Mít-xi-xi-pi) và Rích-mơn (bang Viếc-gi-ni-a thủ phủ của Liên bang miền Nam). Trong thời gian 1862 - 1863, quân miền Bắc đã nhiều lần cố chiếm Vích-xbéc-gơ, nhưng chi sau khi tổ chức phối hợp hành động giữa lính lục quân với hạm đội đường sông, ngày 1 tháng Bảy 1863 sau cuộc bắn pháo dữ dội họ mới chiếm được một trong những lô cốt vuông của cứ điểm. Ngày 3 tháng Bảy 1863 Vích-xbéc-gơ đầu hàng.

Mưu toan đầu tiên định chiếm Rích-mơn do quân miền Bắc thực hiện vào tháng Tư 1862 kết thúc bằng thất bại của quân đội của họ trong cuộc chiến đấu ở ngoại vi thành phố. Cuộc vây đánh Rích-mơn lần thứ hai tổ chức trong thời kỳ tổng tấn công của tất cả các lực lượng quân sự của các bang miền Bắc bắt đầu vào tháng Năm 1864. Sự chống cự của quân đội các bang miền Nam đóng ở Rích-mơn lợi dụng trận địa có công sự xây dựng ở đó đã kéo dài cho tới tháng Tư 1865 khi thành phố bị quân của tướng Gran-tơ chiếm lĩnh.- 192.

[82]. Trong trận Tu-đê-la (Bắc Tây Ban Nha) ngày 23 tháng Mươi một 1808 trong thời kỳ chiến tranh giải phóng dân tộc của Tây Ban Nha chống sự thống trị của Na-pô-lê-ông, quân đoàn của nguyên soái Lan-nơ của Pháp đã lợi dụng sự phân tán của quân Tây Ban Nha để đánh bại họ. Tàn quân của quân Tây Ban Nha bại trận đã rút lui về Xa-ra-gốt.- 192.

[83]. Ý nói đến cuộc chiến tranh Áo - Pháp năm 1809 buộc Na-pô-lê-ông I rút quân cận vê và kỵ binh khỏi Tây Ban Nha, Áo đã thua cuộc do thất bại của quân đội Áo ở Va-gram ngày 5 - 6 tháng Bảy năm 1809. Theo hòa ước Suên-brun ký tháng Mười 1809 giữa Pháp và Áo thì Áo bị cắt mất một phần quan trọng lãnh thổ và trên thực tế đã mất quyền độc lập về chính trị.- 194.

[84]. Để xây dựng một phòng tuyến thứ ba trên các đường phố đề phòng quân địch chọc thủng tuyến pháo đài và tường lũy: tháng Chín 1870 tại Pa-ri đã thành lập một "ủy ban chiến lũy" do A. Rô-sơ-phoóc đứng đầu, ủy ban này đã tổ chức xây dựng trên đường phố Pa-ri những công sự phòng ngự- chướng lũy và chiến hào- nhưng đã không được sừ dụng trong thời kỳ bị bao vây.- 196.

[85]. Ăng-ghen nói đến cuộc đàm phán giữa Ba-den và Bi-xmác về ký kết ngừng bắn tiến hành vào kháng Chín- tháng Mười và tan vỡ ngày 24 tháng Mười 1870; cũng khoảng thời gian đó đã tiến hành chuẩn bị cho cuộc đàm phán giữa chính phủ quốc phòng và Bi-xmác trên cơ sở đề nghị hòa giải của Anh; cuộc đàm phán này tiến hành giữa Chi-e và Bi-xmác ở Véc-xây từ ngày 1 đến 6 tháng Mười một 1870 và kết thúc không kết quả.- 197.

[86]. Ý nói đến các tỉnh vốn thuộc Phổ trước khi mở rộng lãnh thổ bằng sự sáp nhập vào những năm 1864- 1866 những đất đai mới, tức các tinh: Đông và Tây phổ Bra-đen-buốc, Pô-mê-ra-ni, Xi-lê-di, Pô-dơ-nan, Dắc-den, tỉnh Ranh.- 197.

[87]. Ý nói đến đoàn đại biểu của chính phủ quốc phòng gồm có Glê- Bi-du-en, Crê-mi-ơ và Phu-ri-sông được cử đến Tua vào giữa tháng Chín 1870 để tổ chức kháng chiến chống sự xâm lược của Đức tại các tỉnh và để thực hiên quan hê đối ngoại. Từ đầu tháng Mười đến khi chiến tranh kết thúc, đoàn đại biểu chịu sự lãnh đạo của Gam-béc-ta, bộ trưởng Bộ lục quân kiêm bộ trưởng Bộ nội vụ. Hoạt động của đoàn đại biểu ở Tua nhằm thành lập và trang bị cho nhiều đội quân lớn. Đầu tháng Chạp 1870, đoàn đại biểu chuyển sang Boóc-đô.- 198.
Logged
DesantnhikVDV
Thành viên
*
Bài viết: 2103


Никто, кроме нас


« Trả lời #131 vào lúc: 26 Tháng Năm, 2011, 07:55:08 PM »

[88]. Người Ba Lan ớ nước (Wasserpolacken)- tên gọi sử dụng từ thế kỷ XVII cho những người Ba tan cư trú ở Thượng Xi-lê-di và sống bằng nghề chở gỗ trên sông Ô-đem về sau tên gọi đó dành riêng cho những người Ba Lan cư trú ở Thượng Xi-lê-di chịu sự thống trị của Phổ mấy thế kỷ nay.

Người Ma-dua - người Ba Lan cư trú ở đông bắc Ba Lan và ở phía nam Đông Phổ cũ. Bất chấp chính sách đồng hóa cưỡng bức của người Đức, người Ba Lan- Ma-dua cư trú ở Đông Phổ cũ vẫn giữ được đặc điềm dân tộc của mình. Trong sách báo lịch sử Đức thế kỷ XIX lưu hành quan điểm sai lầm cho rằng người Ma-dua cư trú ở Đông Phổ đã mất hết mọi quan hệ với dân lộc Ba Lan.- 200.

[89]. Những Freischaaren của Ba-đen - những đơn vị tình nguyện chiến dấu trong hàng ngũ quân đội cách mạng của Ba-đen - Pphan-xơ chống lại quân đội Phổ xâm nhập Pphan-xơ và Ba-đen trong thời kỳ cuộc khởi nghĩa 1849 ở miền Nam và miền Tây nước Đức để bảo vệ hiến pháp đế chế. Các đơn vị quân tình nguyện của Ba-đen và Pphan-xơ không có một tổ chức rõ ràng và có đặc điểm là kém kỷ luật và huấn luyện tồi về quân sự. Ăng-ghen đã từng tham gia hoạt động của đơn vị tình nguyện của Vi-lích gồm toàn công nhân và nổi bật về mặt kỷ luật và sức chiến đấu. Ăng-ghen đã trình bày tỉ mỉ về những đơn vị tình nguyện trong quân đội cách mạng Ba-đen và Pphan-xơ trong tác phẩm "Phong trào đòi hiến pháp đế chế ở Đức" (xem C.Mác và Ph. Ăng-ghen, Toàn tập, tiếng Việt, Nhà xuất bản chính trì quốc gia, Hà Nội. 1993, t.7. tr. 151-276).

Tại sông Bun-Ran gần Ma-nát-xát (cách Oa-sinh-tơn 30 km), ngày 21 tháng Bảy 1861 đã diễn ra trận đánh lớn đầu liên trong cuộc nội chiến ở Mỹ 1861- 1865. Trong trận này quân miền Bắc gồm lính tình nguyện huấn luyện kém, phần lớn mới nhập ngũ được mấy tháng đã bị quân chính quy của các bang chiếm hữu nô lệ miền Nam đánh bại.

Lính tình nguyện Anh- những đơn vị vũ trang đia phương thành lập ở Anh năm 1859- 1861. Theo đạo luật tổ chức các đơn vị tình nguyện 1863 thì lính tình nguyện phải trải qua ít nhất là 30 bài tập và chỉ được gọi nhập ngũ khi quân thù xâm nhập nước Anh. Trong những bài viết về quân tình nguyện (xem C.Mác và Ph. Ăng-ghen Toàn lập tiếng Nga, Nhà xuất bản sách chính trị, Mát-xcơ-va, 1960. t.15). Ăng-ghen đã phê bình tổ chức quân sự tồi: chất lượng sĩ quan kém và chế độ huấn luyện kém của họ. - 204.

[90]. Quân hướng đạo (Guides)- những đơn vị chuyên môn trong nhiều quân đội châu Âu sử dụng làm quân dẫn đường cho các đơn vi quân đội; trong quân đội Pháp thời kỳ Đế chế thứ hai cũng như thời kỳ Na-pô-lê-ông I, quân hướng đạo làm nhiệm vụ bảo vệ bộ chỉ huy và làm đội cảnh vệ riêng của bản thân hoàng đế. - 208.

[91]. Trong trận Lai-pxích ngày 16 - 19 tháng Mười 1813 quân đội của Na-pô-lê-ông I đã thua liên quân của các nước tham gia Liên minh thứ sáu chống Pháp là Nga, Phổ, Áo và Thụy Điển. Kết quả của chiến thắng đó là sự giải phóng hoàn toàn nước Đức khỏi sự thống tri của Na-pô-lê-ông.- 209.

[92]. Sau khi chế độ Đế chế thứ hai sụp đổ vào ngày 4 tháng Chín 1870, Ba-den từ chối kiên quyết phá vây ở Mét-xơ và trong tháng Chín- tháng Mười năm đó ông ta đã trực tiếp bắt đầu thương lượng với Bi-xmác (về cuộc đàm phán này, cũng xem chú thích 85) nhằm đạt mục đích quân Đức rút bỏ việc bao vây Mét-xơ và sử dụng những đơn vi bị vây hãm để khôi phục nền đế chế; Bi-xmác đưa ra điều kiện sơ bộ là đòi nguyên hoàng hậu nhiếp chính thừa nhận chuyển giao cho Đức vùng An-da-xơ và Lo-ren-nơ. Những cuộc thương lượng ấy bị chắm dứt khi Ơ-giê-ni dang lưu vong ở Anh cự tuyệt điều kiện của Bi-xmác.- 211.

[93]. Cuộc viễn chinh Mê-hi-cô- cuộc can thiệp vũ trang của Pháp, ban đầu là cùng với Tây Ban Nha và Anh vào Mê-hi-cô, trong những năm 1862- 1867, nhằm mục đích đè bẹp cuộc cách mạng ở Mê-hi-cô và biến Mê-hi-cô thành thuộc địa của các nước châu Âu. Anh và Pháp cũng có ý đồ là chiếm được Mê-hi-cô thì sẽ dùng nước này làm bàn đạp can thiệp vào cuộc nội chiến ở Mỹ, đứng về phía miền Nam theo chế độ chiếm hữu nô lệ. Mặc dầu quân đội Pháp chiếm được thủ đô Mê-hi-cô và tuyên bố thành lập "đế chế" đứng đầu là đại công tước Áo Mắc-xi-mi-li-an, tay chân của Na-pô-lê-ông III: nhưng do cuộc đấu tranh giải phóng anh dũng của nhân dân Mê-hi-cô, bọn can thiệp Pháp đã bi thất bại và phải rút quân khỏi Mê-hi-cô năm 1867. Cuộc viễn chinh Mê-hi-cô ngốn mất của Pháp những khoản chi tiêu rất lớn đã gây cho Đế chế thứ hai tổn thất nặng nề.- 211.

[94]. Ăng-ghen nói đến cuốn cách nhỏ của Na-pô-lê-ông III xuất bản không ký tên ở Bruy-xen mùa thu năm 1870: "Campagne de 1870. Des causes qui ont amené la capitulation de Se dan. Par un officier attaché à l état- Major Général. avec les plans de la place et de balaille". ("Chiến dịch năm 1870. Về những nguyên nhân dẫn lới sự đầu hàng của Xê-đăng. Do một sĩ quan làm việc ở Bộ lổng tham mưu viết, kèm bản đồ cứ điểm và bản đồ trận đánh").- 213.

[95]. "Mémoires et correspondance politique et militaire du roi Joseph". Paris, 1854. t.lV, p. 425 ("Hồi ký và thư tín chính trị và quân sự của vua Giô-dép". Pa-ri, 1854. t. IV, tr. 425). - 217.

[96]. Những người chinh phục xứ Ác-ca-đi hay những người chăn cừu xứ Ác-ca-đi- tên gọi châm biếm những người ngây thơ và vô tư lự: thành ngữ này bắt nguồn từ tên một vùng của xứ Pê-lô-pôn-nét thời cổ tức vùng Ác-ca-đi: theo thần thoại Hy Lạp, dân cư vùng này rất ngây thơ và có phong lục rất giản đơn.- 218.
Logged
DesantnhikVDV
Thành viên
*
Bài viết: 2103


Никто, кроме нас


« Trả lời #132 vào lúc: 26 Tháng Năm, 2011, 07:56:12 PM »

[97]. Ý nói đến lập trường của người Anh trong thời kỳ chiến tranh giành độc lập của các thuộc địa của Anh ở Mỹ (1775-1782) kèm theo một phong trào du kích có tính chất quần chúng ở trong nước và hoạt động của quân tình nguyện là thành phần chủ yếu của quân đội của bọn khai khẩn Mỹ.- 226.

[98]. Tại Măng-ta-na, ngày 3 tháng Mười một 1867, quân Pháp hoạt dộng phối hợp với đội cận vệ đánh thuê của giáo hoàng đã đánh bại quân của Ga-ri-ban-đi định tiến vào La Mã với mục đích sáp nhập lãnh đia của giáo hoàng vào l-ta-li-a; thất bại của quân Ga-ri-ban-di là dấu hiệu cho sự tăng cường hoạt động của bọn phản động. - 226.

[99]. Năm 1857- 1859 ở Án Dộ đã xảy ra cuộc khởi nghĩa nhân dân quy mô lớn chống lại nền thống trị của Anh. Cuộc khởi nghĩa bùng nổ mùa xuân năm 1857 trong các đơn vị gọi là bộ đội Xi-pan của quân đội Ben-gan tuyển mộ trong dân cư bản địa và đã bao trùm những khu vực rộng lớn ở miền Bắc và miền Trung Ấn Dộ. Động lực cơ bản của cuộc khởi nghĩa là nông dân và dân nghèo làm nghề thủ công ở thành phố. Do bọn phong kiến địa phương lãnh đạo: cuộc khởi nghĩa đó thất bại vì tính chất cát cứ phong kiến của Án Dộ, vì sự khác nhau về tôn giáo và đẳng cấp cũng như vì ưu thế kỹ thuật- quân sự của bọn thực dân.-226.

[100]. Trong trận Cun-mơ gần Oóc-lê-ăng ngày 9 tháng Mười một 1870, các quân đoàn 15 và 16 thành lập lại thuộc tập đoàn quân Loa-rơ của Pháp dưới quân chi huy chung của tướng Ô-ren-lơ De Pa-la-đin-nơ đã đánh bại quân đoàn 1 Ba-vi-e thua kém về quân số do tướng Phôn Đe Tan chỉ huy.-229.

[101]. Ý nói đến những hiệp ước mà Pháp thuộc phải ký với những nước tham gia liên minh thứ sáu và thứ bảy chống Pháp là Anh, Áo, Phổ và Nga sau khi đế chế của Na-pô-lê-ông bị sụp đổ năm 1814 và sau khi Na-pô-lê-ông khôi phục lại quyền lực một thời gian ngắn lại bị lật đổ lần thứ hai vào năm 1815.

Theo hòa ước Pa-ri ký ngày 30 lháng Năm 1814, Pháp mấl hầu hết đất đai chinh phục được trong thời kỳ nền cộng hòa và nền đế chế và trở về biên giới ngày 1 tháng Giêng 1792 trừ những đất đai không đáng kể ở biên giới phía bắc, phía đông và đông- nam.

Theo Hoà ước Pa-ri ký ngày 20 tháng Mười một 1815. Pháp mất những cứ điểm quan trọng vè mặt chiến lược ở biên giới phía bắc, phía đông và đông- nam mà Hòa ước Pa-ri năm 1814 giữ lại cho nó. Để củng cố chế độ quân chủ của vương triều Phục tích Buốc-bông: cứ điểm biên giới đông- bắc Pháp sẽ do một đạo quân 15 vạn người của các nước đồng minh đóng giữ cho đến cuối năm 1818.-234.

[102]. Ngày 15 tháng Bảy 1840: Anh, Nga, Phổ, Áo và Thổ Nhĩ Kỳ đã ký kết ở Luân Đôn không có sự tham gia của Pháp một hiệp đinh về giúp đỡ xun-tan Thổ chống lại người thống trị Ai-cập là Mô-ha-mét A-li được Pháp nâng đỡ. Kết quả của việc ký kết hiệp định đe dọa nổ ra chiến tranh giữa Pháp với đồng minh các nước châu Âu, nhưng vua Lu-i-phi-lip không dám tiến hành chiến tranh, đã từ bỏ việc ủng hộ Mô-ha-mét- A-li.-235.

[103]. Khẩu đội phá hoại- khẩu đội pháo công thành dùng để phá hoại lỗ châu mai và tiêu diệt pháo của cứ điểm bị vây.-238.

[104]. Ăng-ghen nói đến cuộc khủng hoảng ngoại giao nẩy sinh vào đầu tháng Mười một 1870 do Nga phế bỏ những điều khoản của hiệp ước Pa-ri năm 1856 (hòa ước ký ngày 30 báng Ba 1856 giữa các nước tham gia chiến tranh Crưm: một bên là Pháp, Anh, Xác-di-ni và Thổ Nhĩ Kỳ cũng như Áo và Phổ và một bên là Nga) cấm Nga duy trì hạm đội ở Hắc Hải. Hành động đó được sự ủng hộ của chính phủ Bi-xmác hy vọng qua đó bảo đảm được lập trường thuận lợi của chính phủ Nga hoàng đối với điều kiện giảng hòa của Phổ đối với Pháp. Anh và Áo- Hung tỏ ý phản đối xét lại hiệp ước Pa-ri nhưng không thể chống lại một cách hữu hiệu yêu cầu của Nga. Tại hội nghị quốc tế gồm đại biểu của Nga, Anh, Áo- Hung, Đức, Pháp, I-ta-li-a và Thổ Nhĩ Kỳ họp vào tháng Giêng tháng Ba 1871 ở Luân Đôn, ngày 13 tháng Ba đã ký kết một hiệp nghị thủ tiêu các điều XI, XIII và XIV của hiệp ước Pa-ri năm 1856. Như vậy là đã bỏ việc cấm Nga và Thổ Nhĩ Kỳ có hạm đội và cứ điểm trên Hắc Hải và đã khôi phục chủ quyền của Nga ở khu vực này.-238.

[105]. Ý nói đến bài xã luận đăng trên tờ "Pall Mall Gazelte" số 1805. ngày 25 tháng Mười một 1870.-245.

[106]. Cùng với hai con trai của mình là Ri-sớt-ti và Mi-nốt-li. Giu-dép-pơ Ga-ri-ban-đi đã chỉ huy những đơn vi cảnh vệ quốc gia và những đơn vi quân tình nguyện ngoại quốc đứng về phía nước Cộng hòa Pháp tham gia cuộc chiến tranh Pháp- Phổ từ mùa thu 1870. Các đơn vi của Ga-ri-ban-đi hợp nhất với tập đoàn quân Vô-he-dơ đã tiến hành những hoạt động quân sự tích cực tại miền Đông nước Pháp. Một trong những đội quân của Ga-ri-ban-đi do con trai ông. Ri-sớt-ti chỉ huy qua một trận chiến dấu ở Sa-ti-ông kéo dài hai tuần kể lừ ngày 19 tháng Mười một 1870 đã đánh bại một đơn vi lan-ve Đức.-245.

[107]. "Journal de Bruxeles" ("Báo Bruy-xen")- tờ nhật báo của bọn tăng lữ báo thủ Bỉ, cơ quan của tập đoàn Thiên Chúa giáo, xuất bản từ năm 1820.-255.
Logged
DesantnhikVDV
Thành viên
*
Bài viết: 2103


Никто, кроме нас


« Trả lời #133 vào lúc: 26 Tháng Năm, 2011, 07:56:51 PM »

[108]. "Moniteur"- tên gọi tắt của tờ nhật báo Pháp "Le Moniteur universel" báo đại chúng") xuất bản ở Pa-ri từ năm 1789 đến năm 1901. Từ năm 1799 đến năm 1869 là cơ quan chính thức của chính phủ. Trong thời gian Pa-ri bị vây tờ báo này xuất bản đồng thời ở Pa-ri và Tua rồi cả ở Boóc-đô, là cơ quan chính thức của đoàn đại biểu của chinh phủ quốc phòng do Gam-béc-ta lãnh đạo.-261.

[109]. Trong trận Loa-nhi-pu-pri ở cách đông- bắc Oóc-lê-ăng khoảng 40 km, ngày 2 tháng Chạp 1870 quân đội Đức thuộc tập đoàn quân của công tước Mếch-clen-bua đã đánh bại quân đoàn 16 và 17 do các tướng Săng-đi và Sô-ni chi huy, thuộc tập đoàn quân Loa-rơ.-261.

[110]. Ý nói đến tờ "Berhner Börsen - Couner" ("Thông tin thị trường chứng khoán Béc-lin"), tờ nhật báo cơ quan của sở giao dịch Béc-lin xuất bản 1868- 1933. -271.

[111]. "Die Tages-presse" ("Nhật báo")- tờ nhật báo ở Áo, cơ quan của Đảng nhân dân, một đảng của giai cấp tiểu tư sản Đức, xuất bản ở Viên từ năm 1869.-271.

[112]. G.H. Pertz "Das Le ben des Feldmarschalls Grafen Neithardt von Gneisenau". Band II,Berlin: 1865 (G. H. Pét-xơ "Thân thế của thống chế bá tước Nai-hác-đơ Phôn Gnai-đơ-nau", t.II , Béc-lin, 1865).-275.

[113]. Ý nói đến cuộc khùng bố những người tham gia phong trào đối lập trong giới trí thức Đức vào thời kỳ tiếp sau cuộc chiến tranh chống nước Pháp của Na-pô-lê-ông. Nhiều thành viên của các hội thể thao học sinh đại học ra đời ngày từ thời kỳ đấu tranh giải phóng chống sự thống trị của Na-pô-lê-ông và tích cực tham gia cuộc đấu lranh này đã đứng lên chống lại chế độ phản động của các quốc gia ở Đức, đã tổ chức các cuộc biểu tình chính trị yêu cầu thống nhất nước Đức. Tại hội nghi các bộ trưởng các quốc gia chính ở Đức họp tại Các-xbát tháng Tám 1819 người ta đã thông qua những biện pháp đàn áp những người tham gia phong trào này, họ được mệnh danh là "bọn mi dân".-275.

[114]. Ý nói đến trung đoàn cảnh vệ của giáo hoàng tổ chức và huấn luyện theo kiểu lính du-a-vơ (xem chú thích 15) và bổ sung bằng những người tình nguyện lấy trong thanh niên quý tộc Pháp. Sau khi quân đội l-ta-li-a chiếm La Mã và thủ liêu quân lực thế tục của giáo hoàng vào tháng Chín 1870, lính du-a-vơ của giáo hoàng được chuyển về Pháp cái tổ thành "quân đoàn tình nguyện phương Tây" và nằm trong tập đoàn quân Loa-rơ 1 và 2 chiến đấu chống quân Đức. Chiến tranh kết thúc, quân đoàn tình nguyện này tham gia đàn áp Công xã Pa-ri rồi sau đó bị giải tán.-279.

[115]. Xem chú thích 70.-290.

[116]. Trong trận Vin-le- Brê-tôn-nê (cũng gọi là trận A-mi-en, trên kia Ăng-ghen đã nhắc đến trận đánh này bằng cái tên trận A-mi-en trong "Tiểu luận về chiến tranh.- XXIX" xem lập này tr. 25") tại
Noóc-măng-đi ngày 27 tháng Muời một 1870, tập đoàn quân phương Bắc của Pháp đã bị thua tập đoàn quân 1 của Đức do tướng Man-toi-phen chỉ huy.- 305.

[117]. "Karlsruher Zeitung" ("Báo Các-lơ-xru-ê")- tờ nhật báo, cơ quan của chinh phủ Ba-đen, xuất bản ở Các-lơ-xru-ê từ năm 1757.-307.

[118]. Ý nói đến tờ "Kölnische Zeitung" ("Báo Khuên"), tờ nhật báo Đức xuất bản ở Khuên dưới tên ấy từ năm 1802, phản ánh lập trường của giai cấp tư sản thuộc phái tự do bảo hoàng: thời chiến tranh Pháp-Phổ tích cực ủng hộ yêu cầu sô-vanh là sáp nhập An-da-xơ và Lo-ren-nơ phản đối chính thể cộng hòa ở Pháp; thời kỳ Công xã Pa-ri yêu cầu võ trang đàn áp cách mạng ở Pa-ri.-308.

[119]. Dự đoán của Ăng-ghen được hoàn toàn chứng thực. Trận đánh có tính chất quyết định giữa tập đoàn quân miền Đông của Pháp dưới quyền tướng Buốc-ba-ki và quân đội Đức của tướng Véc-đe đã xảy ra về hướng Li-den gần Ben-pho những ngày 15- 17 tháng Giêng 1871. Quân Pháp mặc dù chiếm ưu thế rất lớn về số lượng vẫn không giành được thắng lợi và sau trận đánh buộc phải bắt đầu rút lui, trong quá trình này đạo quân của Buốc-ba-ki đã bị tiêu diệt. Ăng-ghen đã mô tả trận đánh ấy (cũng gọi là trận Ê-ri-cua) cũng như cuộc rút lui sau đó của quân Pháp trong các bài "Tiểu luận về chiên tranh.- XXXVII". và "Tai họa của Buốc-ba-ki" (xem tập này. tr. 323-324 348-352). -309.

[120]. Trong trận Lơ-măng ~ miền Tây nước Pháp ngày 10 -12 tháng Giêng 1871, quân đội Đức do hoàng thân Phri-drích- Các-lơ chi huy đã đánh bại tập đoàn quân Loa-rơ thứ hai thành lập lại do tướng Săng-đi chi huy: Săng-đi đã buộc phải rút lui vì thiệt hại nặng.-313.

[121]. Ý nói đến "Königlich Preußischer Staats - Anzeiger" ("Người truyền tin quốc gia của nhà vua Phổ") - tờ nhật báo ở Đức, cơ quan chính thức của Chính phủ Phổ, xuất bản với tên đó ở Béc-lin từ năm 1851 đến năm 1871.-316.

[122]. Ý nói đến cuộc điều động của quân đội Anh - Pháp trong thời kỳ chiến tranh Crưm từ đia điểm đóng quân đầu tiên của họ ở Thổ Nhĩ Kỳ là Ha-li-pô-li đến Vác-na để giúp quân Thổ Nhĩ Kỳ trên chiến trường Đa-nuýp vì tháng Năm 1854 quân Nga đã mở đầu các hoạt động quân sự chống Xi-li-xtơ-ri. Kế hoạch dó không được thực hiện vì Chính phủ Nga hoàng đứng trước sự đe dọa của hành động chung của Áo đã bắt đầu chuẩn bi về quân sự với các nước đồng minh, đã buộc phải ngừng bao vây Xi-li-xlơ-ri và rút quân khỏi các công quốc vùng Da-nuýp. Quân đội liên quân điều đến Vác-na lúc đó sau này sẽ được sử dụng để đánh Xê-va-xtô-pôn.-321.

[123]. A. W. Kinglake. "The lnvasion of the Crimea; its Origin. and an Account of its Progress down to the Death of Lord Raglan", Vol.II, p.38-40. Edinburg and London, 1863 (A. U. Kinh-lếch. "Cuộc xâm nhập Crưm, sự mở đầu của nó và sự phát triển về sau của nó cho đến khi huân tước Ra-glan mất", t.II, tr. 38-40: Ê-đin-bớc và Luân Đôn 1863).-321.
Logged
DesantnhikVDV
Thành viên
*
Bài viết: 2103


Никто, кроме нас


« Trả lời #134 vào lúc: 26 Tháng Năm, 2011, 07:57:40 PM »

[124]. Trong trận Xanh-căng-tanh ở đông-bắc nước Pháp ngày 19 tháng Giêng 1871, tập đoàn quân thứ nhất của Đức do Guê-ben chi huy đã đánh bại tập đoàn quân phía bắc của Pháp do Phai-đéc-bơ chỉ huy. Thất bại này làm cho quân Pháp mất hẳn tinh thần và chấm dứt hoạt động tích cực của nó ở vùng này.-323.

[125]. Ăng-ghen nói đến cuộc nổi loạn của phái bảo hoàng trong thời kỳ cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỳ XVIII, cuộc nổi loạn bắt đầu tháng Ba 1793 tại tỉnh Van-đây và sau đó lan rộng sang các tỉnh Brơ-ta-nhơ và Noóc-măng-đi. Quần chúng chủ yếu của bọn phiến loạn là bộ phận dân cư đia phương bị bọn thầy tu và quý tộc phản cách mạng xúi bẩy và khống chế. Cuộc nổi loạn ở Van-đây và Brơ-ta-nhơ bị dẹp tan năm 1795- 1796 nhưng người ta còn mưu toan phát dộng lại vào nãm 1799 và những năm sau.-326.

[126]. Trận Buy-dăng-van (còn gọi là trận Mông-tơ-rê hay Môn-va-lê-ri-en) xảy ra ngày 19 tháng Giêng 1871, bốn tháng sau khi Pa-ri bị vây. Đó là trận xuất kích cuối cùng từ khi Pa-ri bị vây do Tơ-rô-suy tổ chức nhằm mục đích làm kiệt hẳn sức và làm mất tinh thần quân vệ binh quốc gia, do đó làm cho dân cư và quân lính tin rẳng không thể tiếp lục bảo vệ thành phố được nữa. Trong thời gian xuấl kích tiến hành không có sự chuẩn bị cần thiết, người ta đã không phối hợp được hành động của các đơn vi tấn công và không có những lực lượng dự bị cần thiết. Mặc dầu binh sĩ Pháp chiến đấu dũng cảm, cuộc xuất kích đã bị đẩy lùi ở tất cả mọi điểm.- 328.

[127]. Như Ăng-ghen đã đoán trước, đạo quân miền Đông rút lui sau trận đánh thất bại ngày 15-17 tháng Giêng 1871 ở Ê-ri-cua đã bi dồn về biên giới Thụy Sĩ và ngày 1 tháng Hai buộc phải chạy sang lãnh thổ Thụy Sĩ và hạ vũ khí.- 331.

[128]. "Provinzial - Correspondenz" (thư tín tỉnh")- tờ báo của Chính phủ Phổ thành lập năm 1862 ở Béc-lin.-333.

[129]. Theo lệnh của Ba-den, tư lệnh quân Pháp ở Mét-xơ, người đã bắt đầu đàm phán với Bi-xmác nhằm dựa vào đội quân bị vây ở Mét-xơ để khôi phục nền đế chế, tháng Chín 1870 Buốc-ba-ki đi Chi-xhéc-xlơ ở Anh, nơi mà nguyên hoàng hậu nhiếp chính Ơ-giơ-ni lưu vong. Lý do trực tiếp của chuyến đi đó là lời tuyên bố của Rê-nhi-ê, mọi phần tử phiêu lưu ở Pháp, với Bi-xmác và Ba-den rằng hình như Ơ-giê-ni đồng ý liến hành đàm phán và cử ông ta làm đại biểu toàn quyền. Nhưng sứ mạng của Buốc-ba-ki không đáp ứng được nguyện vọng của phái Bô-na-pác-tơ vì Ơ-giê-ni cự tuyệt nhượng An-da-xơ và Lo-ren-nơ .-336.

[130]. Ý nói đến Hiệp định ngừng bắn và đầu hàng của Pa-ri do Bi-xmác và Pha-vrơ ký ngày 28 tháng Giêng 1871. Việc chinh phủ quốc phòng ngừng tiếp tục chống bọn xâm lược Phổ và đầu hàng nhục nhã có nghĩa là phản bội lợi ích dân tộc của Pháp, những lợi ích này đã bi hy sinh cho ý đồ của giai cấp thống trị hòng sử dụng tất cả mọi lực lượng để đàn áp phong trào cách mạng trứng nước. Khi ký hiệp nghi Pha-vrơ đã chấp nhận những yêu cầu sỉ nhục mà Phổ đưa ra: thanh toán trong vòng hai tuần khoản tiền bồi thường là 200 triệu phăng, nộp phần lớn các cứ điểm ở Pa-ri, nộp pháo dã chiến và đạn dược của quân đoàn Pa-ri. Nhưng Bi-xmác và Pha-vrơ không dám đưa vào hiệp nghị điều khoản về tước vũ khí quân vệ binh quốc gia Pa-ri gồm phần lớn là công nhân. Hiệp nghị đã quy định tiến hành trong một thời gian ngắn việc bầu cử nghị viện quốc dân, cơ quan sẽ quyết đinh vấn đề ký hòa ước.-338.

[131]. Xem chú thích 87.-339.

[132]. Ăng-ghen nói đến nguyện vọng của bọn đia chủ, tư sản và quân phiệt Phổ muốn thôn lính đất đai của Pháp là An-da-xơ và Lo-ren-nơ cũng như yêu sách của chúng đòi một khoản bồi thường chiến phí rất lớn.-342.

[133]. Ngày 19 tháng Hai 1871 là ngày hết hạn ngừng bắn theo hiệp định ký kết giữa Bi-xmác và Pha-vrơ ngày 28 tháng Giêng 1871 (xem chú thích 130). Mặc dầu phương tiện chống cự của Pháp chưa cạn nhưng hoạt động quân sự chống lại quân Phổ không được khôi phục. Được nghị viện quốc dân chính thức cử ra đứng đầu quyền hành pháp. Chi-e bắt tay ngay vào việc thương lượng để ký hòa ước kết thúc bằng việc ký hòa ước sơ bộ ở Véc-xây ngày 26 tháng Hai mà điều kiện do Bi-xmác đưa ra và sau đó là hòa ước chính thức ngày 10 tháng Năm tại Phran-phuốc trên sông Mai-nơ (xem tập này tr.470-472 cũng như chú thích 211 và 458).-342.

[134]. Hiệp định Lơ-Ve-ri-ê (Thụy Sĩ) được ký ngày 1 tháng Hai 1871 giữa tướng Clanh-sa thay Buốc-ba-ki làm tư lệnh tập đoàn quân miền Đông và tổng tư lệnh quân đội Thụy Sĩ, tướng Héc-xôốc-gơ, theo hiệp đinh này quy đinh điều kiện quân đội Pháp tiến vào đất Thụy Sĩ thì quân Pháp phải trao cho người Thụy Sĩ vũ khi, trang bị và đạn dược của mình.-351.

HẾT
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM