Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Tư, 2020, 07:13:15 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: James M. Lindsay - Randall B. Ripley - CIA được tái tạo như thế nào  (Đọc 9314 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
KGBFSBCIA
Thành viên
*
Bài viết: 231


« Trả lời #10 vào lúc: 23 Tháng Năm, 2011, 07:05:01 PM »

Trong những năm tiếp theo, từ đỉnh cao các năm 1975 - 1976, sự giám sát của Quốc hội đã dao động tuỳ theo mức độ tận tuỵ của từng giám sát viên đối với trách nhiệm giám sát của mình và việc phương tiện truyền thông đưa tin nhiều hay ít (và có tính thuyết phục đến đâu) về những việc làm sai trái của CIA. Tuy vậy, nhìn chung mức giám sát là tương đối cao, nhất là nếu so sánh với việc trước đây hầu như không có sự giám sát, hoặc xao nhãng một cách hiền lành. Trong nửa đầu nhiệm kỳ của Reagan, các nhà giám sát của Quốc hội đã giảm cường độ làm việc nhưng khi xảy ra vụ Iran, do một tờ báo Trung Đông tố giác, họ đã quay lại với công việc của mình.

Phản ứng về vụ bê bối Iran, nột uỷ ban của hai viện đã điều tra xem các quan chức chính quyền đã làm thế nào mà qua mặt được hệ thống giám sát mới. Sau đó, Quốc hội đã thông qua điều luật để thắt chặt hơn việc kiểm sóat. Trong các luật mới, có một điều khoản về chấn chỉnh các trách nhiệm của tổng thanh tra CIA, đòi hỏi Thượng nghị viện tổ chức tường trình để duyệt y chức vụ quan trọng này và yêu cầu tổng thanh tra phải báo cáo thường xuyên hơn cho Quốc hội (Fisher 1988; Kaiser 1994). Năm 1991, Quốc hội cũng thông qua luật giám sát công tác tình báo, chủ yếu để làm sáng tỏ và tăng cường tính trách nhiệm đối với các hoạt động ngầm (Conner 1993).

Sự chú ý của Quốc hội đối với việc kiểm tra công tác tình báo có những thăng trầm, nhưng xu hướng chung trong những giai đoạn cuối của chiến tranh lạnh là rõ ràng: chính sách tình báo đã bước vào thời kỳ có quan hệ đối tác giữa Quốc hội và ngành hành pháp. Như một Gíam đốc CIA đã nói, CIA thấy mình đứng ở vị trí giữa hai ngành và đôi khi nghiêng về phía ngành lập pháp (Gates 1992, 1994). Số lần tiếp xúc giữa CIA và Quốc hội đã tăng lên trong thời kỳ sau chiến tranh lạnh kết thúc.

Dấu hiệu khác của một cố gắng nghiêm chỉnh để theo dõi CIA và để thông báo cho công dân Hoa Kỳ biết ít nhất một số hoạt động cuả CIA là một loạt các cuộc điều trần tại Quốc hội từ năm 1991 đến năm 19945, trong đó các nhân chứng CIA trình bày công khai - một điều hiếm thấy trong chiến tranh lạnh (Johnson 1996). Năm 1993, Gíam đốc Woolsey có mặt trong tám lần điều trần công khai; trong những năm trước, thậm chí sau cuộc điều tra năm 1975 của Quốc hội và có những lời yêu cầu nên công khai hơn nữa, Gíam đốc CIA thường không bao giờ có mặt tại các buổi điều trần công khai trong toàn bộ kỳ họp của Quốc hội hoặc nếu có đến dự điều trần thì cũng không bao giờ qua một hay hai lần. Kết quả là giờ đây CIA có hai ông chủ Tổng thống và Quốc hội và đôi khi có cả một ông chủ thứ ba (Manget 1995) bởi vì toà án ngày càng xét xử nhiều vụ kiện có liên quan đến tình báo và thường xuyên xem xét các yêu cầu xin được cấp giấy phép để the dõi bằng thiết bị điện tử các mục tiêu an ninh quốc gia (được Luật theo dõi tình báo nước ngoài 1978 cho phép).

Tuy nhiên, Quốc hội vẫn không được biết những khía cạnh then chốt trong chính sách tình báo, và điều này được nhấn mạnh một cách đáng ngạc nhiên vào năm 1994. Qua công tác kiểm toán, các nhà lập pháp ngẫu nhiên biết được rằng Cơ quan do thám quốc gia (NRO), thành viên bí mật nhất trong cộng đồng tình báo chịu trách nhiệm giám sát việc chế tạo và phóng vệ tinh, đã chi quá mức 159 triệu USD để xây dựng sở chỉ huy mới tại vùng nông thôn Virginia. Sau đó, các báo cáo trong các năm 1995 - 1996 lại tiết lộ rằng NRO đã giấu không cho Quốc hội biết một khoản tiền 4 tỷ USD quỹ đen có được do tích luỹ các khoản phân bổ ngân sách (Chìa khoá đi vào vương quốc tình báo 1996). Hơn nữa, năm 1995 có tin CIA đã không báo cáo với Quốc hội (theo đúng yêu cầu của Luật pháp) các mối quan hệ của nó với Julio Roberto Alpirez, một đại tá người Goatemala bị nghi ngờ có dính ếiu vào việc giết hại một công dân Hoa Kỳ tại đó và cái chết của một người đàn ông Goatemala có vợ là công dân Hoa Kỳ (Weiner 1995a).

Như vậy, mức độ công khai hoá của CIA là một vấn đề tương đối trong thời kỳ sau chiến tranh lạnh. Hơn nữa, việc siết chặt các thủ tục giám sát chủ yếu do những tiết lộ liên quan đến vi phạm các luật lệ đôí nội của Hoa Kỳ chứ không phải do những thay đổi trên thế giới
Logged
KGBFSBCIA
Thành viên
*
Bài viết: 231


« Trả lời #11 vào lúc: 23 Tháng Năm, 2011, 07:05:37 PM »

(6)

Các mối quan hệ giữa Nhà Trắng và CIA trong thời kỳ được nghiên cứu ở đây có thể trình bày tóm tắt hơn. Dưới thời Reagan, CIA có quan hệ đặc biệt gần gũi với Nhà Trắng, chủ yếu do Giám đốc Casey là bạn thân của Tổng thống và là người quản lý cuộc vận động tranh cử trong cả nước của Reagan.

Casey là Giám đốc CIA đầu tiên được cử làm thành viên nội các. Hơn nữa, Reagan ủng hộ nhiệt tình Casey trong việc bí mật chống lại ảnh hưởng của Liên Xô (mà vào giữa nhiệm kỳ của mình Reagan đã gọi là đế chế độc ác). Đáng tiếc là việc cho phép CIA tự do hành động đã dẫn đến những điều thái quá như vụ bê bối Iran.

Dưới thời Bush (cha), CIA may mắn có một vị đứng đầu cơ quan hành pháp hiểu rõ và đánh giá cao công tác tình báo như bất cứ ai đã từng phục vụ ở địa vị cao nhất trong cơ quan đó (Andrew 1995). Bush cũng thông cảm với hầu hết những yêu cầu về ngân sách của CIA mặc dù ông đã chấm dứt các hoạt động ngầm.

Chính quyền Clinton thì lại khác, với đặc trưng là tương đối ít lưu tâm đến chính sách đối ngoại (ít nhất là vào những năm đầu). Sự cố về tình báo ở Somali trong cuộc khủng hoảng đầu tiên và quan trọng của chính quyền về chính sách đối ngoại thất bại trong việc tìm hiểu ý định, và thậm chí cả nơi ở của thủ lĩnh bộ lạc Somalia là Tướng Mohammad Farah Aideed - đã làm cho các quan chức Hội đồng An ninh quốc gia nghi ngờ tính hữu ích của CIA (Aspin 1994).

Năm 1994, do sự thôi thúc của Bộ trưởng Quốc phòng Les Aspin, phó Tổng thống Al Gore và Cố vấn an ninh quốc gia Anthony Lake, Tổng thống Clinton quyết định lập một uỷ ban của Tổng thống về vai trò và khả năng của cộng đồng tình báo, và đây là biểu hiện đầu tiên về sự quan tâm đầu tiên của ông đến phương hướng mà CIA phải đi theo trong nhiệm kỳ của mình (tài liệu đã dẫn). Tuy nhiên, Thượng nghị sĩ Iohn Warner (Đảng Cộng hoà - bang Virginia) lại nghĩ đến một uỷ ban khác hẳn: một cuộc điều tra của Quốc hội với mục đích chủ yếu là làm cho nhân dân Hoa Kỳ yên tâm rằng CIA là một tổ chức hữu hiệu, cần phải duy trì, không nên bị giải thể, và thậm chí không nên bị thu nhỏ. Uỷ ban tình báo của Thượng nghị viện (mà ông Warner là một thành viên) đã chấp nhận ý kiến của ông và thúc đẩy việc lập một uỷ ban điều tra thuần tuý của Quốc hội.

Thoả hiệp cuối cùng là một đạo luật được thông qua năm 1994 về lập một uỷ ban chung của Tổng thống và Quốc hội với tên gọi Uỷ ban về vai trò và khả năng của cộng đồng tình báo Hoa Kỳ. Đạo luật này cho phép Tổng thống chọn 9 thành viên của uỷ ban (tất cả đều thuộc Ban Cố vấn về tình báo đối ngoại của Tổng thống, kể cả phụ trách Ban đồng thời là Chủ tịch uỷ ban điều tra là Les Aspin), còn những người lãnh đạo Quốc hội của cả hai Đảng sẽ chọn 8 người còn lại (trong đó có Thượng nghị sĩ Warner). Uỷ ban bắt đầu làm việc vào tháng 3- 1995, và khi Aspin qua đời vào tháng 5 thì cựu Bộ trưởng Quốc phòng Harold Brown đã thay thế ông.

Báo cáo của Uỷ ban đưa ra tháng 3 -1996 đã chủ yếu đáp ứng các mục đích của Warner. Thay vì đề nghị những cải cách rộng lớn, Uỷ ban quan trọng này cuộc điều tra đầu tiên vê chính sách tình báo trong 20 năm - đã đề cao công tác tốt đẹp của các cơ quan tình báo, giữ nguyên ngân sách, nêu một vài gợi ý khiêm tốn về cải tiến và sau đó nó đã biến mất, không còn tiếng tăm gì nữa (Uỷ ban về vai trò và khả năng 1996).

Có lẽ di sản bền vững nhất của Uỷ ban đó là đã cố gắng giúp cho John Deutch mở rộng quyền lực trong cộng đồng tình báo bằng cách đề nghị rằng Giám đốc CIA có quyền cùng với các bộ trưởng các bộ có liên quan chuẩn y việc bổ nhiệm giám đốc của tất cả các cơ quan tình báo. Uỷ ban đó còn đề nghị giám đốc CIA được quyền rộng rãi hơn trong các quyết đinh về ngân sách liên quan đến toàn bộ cộng đồng tình báo mặc dù từng cơ quan tình báo có lẽ sẽ đấu tranh chống lại những đề nghị ấy với sự giúp đỡ của các đồng minh trong quốc hội. Như Deutch đã thừa nhận trong một giác thư riêng gửi Tổng thống: Không có gì đáng ngạc nhiên khi Bộ trưởng Quốc phòng, Ngoại trưởng, Tổng Chưởng lý và Giám đốc FBI đã nêu lập luận, trong đó có những lý lẽ, chống lại việc mở rộng quyền hạn của Giám đốc CIA đôí với những sự bổ nhiệm (Deutch 1996a,3).
Logged
KGBFSBCIA
Thành viên
*
Bài viết: 231


« Trả lời #12 vào lúc: 23 Tháng Năm, 2011, 07:06:14 PM »

(7)

Đối với một số nhà quan sát, rõ ràng có sự chống đối ở sâu trong cơ cấu CIA. Ví dụ, một nữ quan chức theo dõi điệp viên đã phát đơn kiện về việc cô ta cảm thấy bị phân biệt đối xử vì lý do giới tính, và nói rằng CIA tiếp tục là một pháo đài của những người đàn ông da trắng sôvanh (Đài Phát thanh quốc gia 1994).
Dù chưa bàn đến tính chân thực của lời khẳng định ấy, ta thấy việc đề bạt, cất nhắc phụ nữ và người da mầu trong CIA đã tăng chậm từ năm 1985 đến năm 1994. Giám đốc Woolsey thừa nhận rằng các nhóm thiểu số vẫn còn có ít đại diện trong lực lượng lao động của CIA và việc đề bạt phụ nữ và các nhóm thiểu số vẫn còn hạn chế, nhưng nói rằng ông dự định cải thiện tình hình đo trong nhiệm kỳ của mình (trích Weiner 1994a).

Khi Deutch nhận nhiệm vụ Giám đốc, ông đã cố gắng một cách có phối hợp để sắp xếp phụ nữ vào các vị trí cao trong cộng đông. Ông đã cử một phụ nữ làm giám đốc điều hành và tăng thêm nhhiều quyền cho chức vụ này và lần đầu tiên, một phụ nữ được chọn đứng đầu một vụ (Vụ khoa học và công nghệ).
Những căng thẳng về văn hoá giữa các nhà phân tích và các quan chức theo dõi điệp viên là khúc mắc khó gỡ hơn cho Woolsey và Deutch. Trong chiến tranh lạnh, đặc tính văn hoá nổi trội trong CIA đã có lợi cho mặt hoạt động bí mật của công tác tình báo: do thám Liên Xô và tiến hành các hoạt động bí mật mạnh mẽ chống lại các đại diện của họ tại các nước khác. Trái lại, một vài người lãnh đạo ban đầu của CIA tỏ ra coi thường các nhà phân tích có bằng cấp tiến sĩ trong khi ưa thích các quan chức khoẻ mạnh làm việc ở nước ngoài, những người tuyển dụng điệp viên và (ít nhất là trong huyền thoại) những người leo tường miệng ngậm dao găm vào ban đêm. Các nhà phân tích và các quan chức theo dõi điệp viên đi hai con đường chuyên nghiệp khác nhau, tư duy màu xám của một bên và hành động đẫm máu của bên kia trong cuộc chiến đấu chống chủ nghĩa cộng sản.

Để giải quyết tình trạng mâu thuẫn này, Woolsey đã thử nghiệm khái niệm cùng ngồi với nhau: sắp xếp để các quan chức phân tích và quan chức theo dõi điệp viên cùng ngồi làm việc ở một khu nhà để họ có thể cùng làm việc với nhau một cách trực tiếp hơn và hiểu biết nhau hơn. Điều quan trọng nhất là các nhà phân tích có thể thông báo tốt hơn cho các quan chức theo dõi điệp viên về các loại thông tin mà các quan chức hoạch định chính sách cần đến trong các bản đánh giá và các báo cáo tình báo khác; còn các quan chức theo dõi điệp viên giàu kinh nghiệm thực địa có thể bình luận, góp ý đối với những giải thích của phân tích viên về các diễn biến và tình hình trên thế giới.

Deutch tiếp tục cuộc thử nghiệm này mặc dù có ý kiến phê phán rằng quan hệ đối tác đó sẽ phá hỏng tính thuần tuý của sản phẩm phân tích do bị ô nhiễm bởi những quan chức hướng về hành động với các chương trình thực địa cần được bảo vệ. Deutch cũng chỉ định một nhà phân tích cao cấp trong Vụ Tình báo giữ chức Giám đốc Vụ Hoạt động, một người chưa từng chỉ đạo một điệp viên nào ở nước ngoài. Việc bổ nhiệm này không được nhiều quan chức Vụ Hoạt động tán thành.
Logged
KGBFSBCIA
Thành viên
*
Bài viết: 231


« Trả lời #13 vào lúc: 23 Tháng Năm, 2011, 07:06:39 PM »

Năm 1969, Chủ tịch Mahon đã yêu cầu CIA cắt 2 tỷ USD trong ngân sách của mình để giảm bớt sự to phình của bộ máy từ thời kỳ cuộc chiến tranh Việt Nam. Và CIA đã cắt giảm nhanh chóng. Hai thập niên sau, khi Quốc hội lại đòi cắt giảm thì CIA, lúc đó đã mất lập luận rắn độc rồi, lại một lần nữa phải tuân thủ ý muốn cắt giảm ngân sách đang thắng thế ở Quốc hội. Vậy liệu có lựa chọn nào khác không, đặc biệt là với một
Tổng thống không sẵn lòng đấu tranh để tăng chi tiêu cho tình báo?

Như Robert Gates, cựu GIám đốc CIA (người có nhiệm kỳ bắc cầu giữa hai thời kỳ) đã nói: "Vì yêu cầu tự bảo tồn mình hay vì một lý do nào khác, bộ máy viên chức đã đáp ứng nhiều hơn là sự nhận định của hầu hết những người ở bên ngoài . Trong nội bộ CIA đã có sự tái phân bổ hàng loạt các nguồn lực (Robert Gates nhấn mạnh) do sự kết thúc chiến tranh lạnh. Xin nêu ví dụ là ngân sách vừa rồi của chúng tôi trong năm tài khoá 1993; trong toàn bộ ngân sách đó chỉ có 13% các nguồn lực của CIA là nhằm vào Liên Xô cữ (so với khoảng 65% trong chiến tranh lạnh và có lúc còn cao hơn nữa). Chúng tôi cũng đã có sự tái phân bố lớn về nhân lực. Chúng tôi đã rút hàng mấy chục nhà khoa học và kỹ sư từ cơ quan nghiên cứu khoa học và vũ khí, rút họ khỏi chương trình vũ khí của Liên Xô để chuyển sang vấn đề phổ biến vũ khí. Loại công việc như vậy đã xảy ra trong toàn bộ cơ quan CIA (Gates 1994)".

Gates mạnh mẽ bác bỏ quan điểm cho rằng các cơ quan đông người kể cả CIA mắc bệnh trì trệ rất nặng, vô phương cứu chữa. Ông nhận xét rằng “Họ là những viên chức giỏi hơn thế rất nhiều. Nếu bạn trì trệ như vậy thì bạn không thể sống sót được đến bây giờ; Quốc hội sẽ cho bạn nhịn đói. Bạn cũng sẽ không thể giải đáp được những câu hỏi đang được nêu ra vì chúng trái ngược với những câu hỏi đã từng được nêu Gates 1994)".

Tuy vậy, Gates được hưởng những thuận lợi khác thường, trong đó có quan hệ thân thiết với Tổng thống Bush. Ông đã từng làm việc với Tổng thống từ hai đến ba giờ mỗi ngày liên tục trong ba năm trên tư cách là Phó cố vấn an ninh quốc gia trước khi quay trở về làm GIám đốc CIA . Quan hệ gần guĩ vẫn tiếp tục và như ông nhớ lại, mối quan hệ đó đã ảnh hưởng phi thường đến khả năng gây ảnh hưởng của ông đối với những người khác trong chính quyền mà ông phải thương lượng, kể cả các nhà giám sát chủ chốt của Quốc hội.

Gates nhớ lại đã sử dụng Quốc hội để gây ảnh hưởng với cộng đồng tình báo và ngược lạI. Ông kể rằng; Boren và David McCurdy (Đảng Dân chủ bang Oklahoma, Chủ tịch Uỷ ban thường trực đặc biệt của Hạ nghị viện về tình báo) và đã cùng hoạch định với nhau khá nhiều việc (trong việc quyết định các cơ quan tình
báo nên đi theo phương hướng nào trong thời kỳ mới). Gates nói tiếp:

"Tôi đã có thể trở lại gặp những người trong cộng đồng tình báo và nói: Các bạn có hai sự chọn lựa: các bạn có thể làm theo cách của tôI, và trong trường hợp này các bạn có tiếng nói trong việc quyết định này, hoặc là các vị ấy (các thành viên Quốc hội) sẽ bảo các bạn phải làm gì. Các vị ấy sẽ đi xa hơn tôi trong hầu hết các việc đó và có lẽ sẽ không làm việc đó một cách tốt đẹp. Chúng ta có thể làm tốt việc đó và chúng ta có thể làm một cách cơ bản khiến các vị đó sẽ phải rút lui đạo luật của họ (tại liệu đã dẫn)".
Logged
KGBFSBCIA
Thành viên
*
Bài viết: 231


« Trả lời #14 vào lúc: 23 Tháng Năm, 2011, 07:07:12 PM »

(8 )

Những nhóm lợi ích và phương tiện truyền thông

Trong gần suốt cuộc chiến tranh lạnh, CIA đã xa rời những người giám sát của chính phủ. Cũng như vậy, cố gắng của nó để giữ bí mật đối với các đối thủ nước ngoài, thể hiện rất rõ qua các hàng rào dây thép gai và trạm gác ở xung quanh trụ sở, cũng cách ly nó với các lực lượng đa nguyên thông thường khác trong xã hội Hoa Kỳ.

Nếu ta vẽ đồ thị về sự hiện diện của các nhóm lợi ích lợi chủ trương các chính sách tình báo cụ thể và đồ thị về vận động hành lang của CIA (giống như Lầu Năm góc hoặc FBI) thì tuyến đồ thị sẽ bằng phẳng, không có biến động lớn cho tới năm 1975. Và chỉ từ năm 1975, CIA mới bị những nhà điều tra của chính phủ và phương tiện truyền thông bao vây và tiến công.

Năm đó, một quan chức tình báo cao cấp của CIA từ chức và thành lập Hiệp hội các quan chức tình báo đã về hưu (ARIO) với mục đích là vận động các nhà lập pháp và nhân dân Hoa Kỳ ủng hộ các cơ quan tình báo. Mục đích này được một số đông các cựu quan chức tình báo tán thành và họ nhanh chóng tham gia hàng ngũ ARIO. Ít lâu sau, cá nhóm gây áp lực khác đã xuất hiện, có nhóm ủng hộ, có nhóm chống lại CIA. Theo một cách khác, CIA đã trở thành một bộ phận của chính phủ và vận động chính trị. Tuy nhiên, so với quy mô rộng lớn và ngân quỹ của những nhóm vận động hành lang rất thành công ở Hoa Kỳ, thì những nhóm quan tâm đến chính sách tình báo vẫn còn tương đối ít về số lượng và được cấp một số tiền khiêm tốn trong suốt những năm chiến tranh lạnh.

Tuy nhiên, do ngân sách của Lầu Năm góc giảm sau khi kết thúc chiến tranh lạnh, các nhà lãnh đạo công nghiệp lại tính đến các nhu cầu của ngàng tình báo về các thiết bị do thám phần cứng, đặc biệt là các vệ tinh tình báo tinh vi để thay thế các hợp đồng về xe tăng, tàu chiến và máy bay đang giảm đi (Kohler 1994). Các thành viên Quốc hội thuộc những đơn vị bầu cử có nhiều nhà máy sản xuất vũ khí đang có nguy cơ hết hợp đồng và mất công ăn việc làm - được yêu cầu giúp đỡ để cơ được các hợp đồng phục vụ tình báo kỹ thuật ( TECHINT ) như họ đã từng được yêu cầu để tìm kiếm hợp đồng của Bộ Quốc phòng và ngăn chặn việc đóng cửa các căn cứ quân sự. Việc kết thúc chiến tranh lạnh đã làm cho hoạt động chính trị theo phương thức nhóm lợi ích cổ đIển xâm nhập vào lĩnh vực chính sách tình báo vẫn còn rất mớimẻ này (Mintz 1995).

Tiếp theo các cuộc điều tra nóng bỏng năm 1975, các nhà quản lý công tác tình báo bắt đầu hiểu được bài học mà FBi và Lầu Năm góc đã rút ra vè tầm quan trọng của việc bảo vệ (nên hiểu là tuyên truyền) các kế hoạch của mình với Quốc hội thông qua các nỗ lực vận động hành lang (ở Washington người ta gọi đó bằng ngôn từ mỹ miều là liên hệ với ngành lập pháp). Số lượng các luật sư trong văn phòng tổng cố vấn của CIA đã tăng nhanh từ 2 người (1974) lên 65 ngườ (1994) và Phòng liên hệ với Quốc hội cũng tăng từ 2 người lên trên 10 người năm 1994 . Việc tờ báo Times năm 1974 nói CIA đã có những hành vi bất hợp pháp đã buộc CIA phải xuất đầu lộ diện, CIA bắt đầu dành thêm nhiều nguồn lực để công khai biện hộ cho mình trước công chúng theo kiểu giống như hầu hết các cơ quan chính quyền khác.
Logged
KGBFSBCIA
Thành viên
*
Bài viết: 231


« Trả lời #15 vào lúc: 23 Tháng Năm, 2011, 07:07:41 PM »

Về phần mình, các phương tiện truyền thông, các nhà báo vẫn tiếp tục cung cấp cho công chúng những thông tin phogn phú về việc CIA lạm quyền trên cơ sở những tin tức được để lộ ra hoặc hoạt động điều tra khôn khéo, và thông thường là phối hợp cả hai cách. Tuy các phương tiện truyền thông là công cụ không thể thiếu để bảo vệ dân chủ, các phóng viên khó có thể có hiệu quả tuyệt đối trong việc kiểm tra những hành động không phù hợp (Johnson 1989). Pháo đài của CIA vẫn cơ bản là một nơi bất khả xâm phạm đối với người ngoàI, kể cả các phương tiện truyền thông. Kể từ khi kết thúc chiến tranh lạnh, tình hình đó chỉ thay đổi chút ít mặc dù các quan chức CIA đã mạnh dạn hơn trong việc công bố những tài liệu có chọn lọc về lịch sử ban đầu của CIA, kể cả những phân tích về Liên Xô trong những năm 1950 và các tư liệu về cuộc khủng hoảng tên lửa ở Cuba (xem Deutch 1996b; Hedley 1994; Những ảnh tình báo do vệ tinh Hoa Kỳ chụp được phổ biến công khai 1995, Cool.

Do có quyền trriệu tập các cơ quan đến điều trần, kiểm tra ngân sách, kiểm soát túi tiền của CIA và có khả năng tập trung sự chú ý của công chúng vào những buổi điều trần công khai, Quốc hội vẫn là người giám sát có tiềm năng mạnh nhất đối với công tác tình báo trong thời kỳ sau chiến tranh lạnh. Tuy nhiên, khả năng tiềm tàng ấy lại tuỳ thuộc vào chỗ liệu các nhà lập pháp có ý chí để thực hiện các nhiệm vụ tối quan trọng đó hay không. Và cho đến nay, ý chí đó lại lúc nhiểù, lúc ít ( Johnson 1996 ).
Kết luận

Người ta có thể dự kiến rằng sự sụp đổ của một quốc gia đồ sộ như Liên Xô sẽ gây những thay đổi to lớn ở những nơi khác trên thế giới, thậm chí cả trong chính quyền Hoa Kỳ, đối thủ chủ yếu của nó. Thực tế, sự kiện đáng kinh ngạc đó đã tạo ra một số động lực thay đổi cho CIA.

Đáp ứng với thời kỳ mới, CIA đã xây dựng một số chính sách mới, giảm bớt việc tập trung vào tình báo kỹ thuật đồng thời từng bước tăng nguồn lực cho việc phát triển hơn nữa mạng lưới đIệp viên ở những khu vực ngoài Liên Xô (cũ). Phần lớn của hai hệ thống thu thập tin tức tình báo kỹ thuật và tình báo gián đIệp bây giờ đang được chuyển hướng sang những mục tiêu mà trước đây bị coi nhẹ ở thế giới đang phát triển (đặc biệt là các nước nhỏ không thân thiện đang ấp ủ những tham vọng quân sự) và không qua tập trung vào các nước cộng hoà thuộc Liên Xô trước đây, những nước này hiện nay đã công khai và cởi mở khiến việc theo dõi một cách bí mật trở thành ít cần thiết hơn.

Hơn nữa, CIA đã bắt đầu quan tâm đến việc phân tích nhiều hơn là hoạt động ngầm một thắng lợi của những nhà tư duy đối với những tay bắt rắn (tiếng lóng có từ thời chiến tranh Việt Nam để chỉ những sĩ quan lực lượng bán quân sự bò lết trong rừng và càn quét các làng). CIA cũng bắt đầu tập trung chú ý cải tiến việc phối hợp các hoạt động của mình với các cơ quan bạn. Sáng kiến này một phần nhằm tiết kiệm chi phí trong hoàn cảnh có khó khăn về tài chính; nhưng đIũu quan trong hơn là nó đã phản ánh kỹ năng của John Deutch trong việc nâng cao quyền lực của GIám đốc CIA và nhận thức của nhiều người (bắt nguồn từ những hoạt động tình báo yếu kém trong chiến tranh Vùng Vịnh và Somali) cho rằng cộng đồng tình báo thiếu hội tụ và kết hợp năng lực liên ngành.

Điều trớ trêu là CIA đã tăng cường chú ý đến công tác phản gián sau khi chiến tranh lạnh kết thúc. Phản ứng muộn màng này là kết quả của hoạt động tình báo nước ngoài đang diễn ra thực tế là đang được tăng cường tại Hoa Kỳ (mặc dù chiến tranh lạnh đã kết thúc), các hoạt động khủng bố lại bùng lên, việc tiếp tục vân chuyển và buôn bán ma tuý và trên hết là việc phát hiện những sơ suất nghiêm trọng về an ninh tại CIA qua vụ Ames. Đứng trước nhu cầu giảm sút về đấu tranh chống các cơ quan tình báo của Liên Xô trong các cuôc chiến tranh giải phóng trên khắp thế giới đang phát triển, CIA đã bắt đầu (theo chỉ thị của Nhà Trắng dưới thời Reagan, Bush đã chững lại sau vụ Iran) giảm bớt các hnàh động bí mật khá lâu trước khi Liên Xô sụp đổ. CIA tiếp tục ít nhấn mạnh đến các “hoạt động đặc biệt, và các hoạt động bí mật chỉ chiếm một phần nhỏ trong ngân sách hàng năm của CIA cho tới năm 1992 và chỉ tăng lên chút ít dưới thời Clinton.

Dưới thời Giám đốc Woolsey, toàn bộ ngân sách tình báo tạm thời tăng lên để thống nhất các cơ sở thu thập tin tức, rồi sau đó lại bắt đầu giảm, kèm theo việc giảm 12% quan chức. Do thái độ chính trị chuyển từ cắt giảm ngân sách cho tình báo về các mối nguy cơ từ bên ngoài nên John Deutch, người kế nhiệm của Woolsey, đã tranh thủ được sự ủng hộ đối với việc lại nhấn mạnh đến tình báo kỹ thuật và tình báo gián đIệp, đến việc phân tích và tăng quyền hạn Giám đốc CIA trong cộng đồng tình báo. Đó không phải là cảnh hào phóng của thời Reagan nhưng Deutch cũng không phải thắt lưng buộc bụng như Woolsey đã phải trải qua sau khi thực hiện chương trình của ông ta nhằm thống nhất các cơ sở thu thập tin tức tình báo.
Logged
KGBFSBCIA
Thành viên
*
Bài viết: 231


« Trả lời #16 vào lúc: 23 Tháng Năm, 2011, 07:08:10 PM »

Bị kích động bởi sự bực tức còn rơi rớt lại do vụ Iran gây ra, rồi đến cú sốc vụ Ames và người ta cho rằng cộng đồng tình báo cần phải có một cuộc tổng vệ sinh (qua sự vô trách nhiệm về tai chính của Cơ quan do thám quốc gia và các thất bại về tình báo ở Iraq và Xômali), các nhà giám sát của ngành hành pháp và lập pháp đã tìm cách kiểm soát chặt chẽ hơn chính sách tình báo. Năm 1991, Quốc hội thông qua những điều khoản đáng kể về giám sát và từ năm 1990 đến 1994 đã tiến hành một loạt cuộc điều trần công khai về tình báo. Năm1994, Tổng thống Clinton và Quốc hội lập một uỷ ban đặc biệt để kiến nghị các phương hướng mới về chính sách tình báo của Hoa Kỳ. Đồng thời, trong khi cuộc đấu tranh giành co đang tiếp tục giữa tiết kiệm và chi tiêu, một số thành viên Quốc hội đã cùng một số nhà sản xuất thiết bị quốc phòng tiến hành vận động hành lang xin chuẩn chi các khoản mua sắm đắt tiền về tình báo kỹ thuật ( TECHINT ); việc kết thúc chiến tranh lạnh chứng kiến sự mở đầu những vận động chính trị của các nhóm lợi ích hỗ trợ các cơ quan tình báo.

Như vậy, sự sụp đổ của Liên Xô không phải là ảnh hưởng duy nhất gây ra những thay đổi tại CIA. Một số những thay đổi chính sách rất quan trọng của CIA đã xảy ra ngay trong chiến tranh lạnh. Trong năm 1970, hoạt động ngầm đã giảm đi rõ rệt, rồi sau đó lại tăng lên mức cao nhất với việc tăng cường quốc phòng của Reagan, rồi lại bắt đầu giảm đi sau vụ Iran (hai năm trước khi bức tường Berlin sụp đổ), tiếp tục giảm dưới thời Bush và đạt mức thấp nhất kẻ từ những năm đầu của thời kỳ Carter. Việc kết thúc chiến tranh lạnh chỉ thúc đẩy nhanh hơn bước đi xuống của hành động ngầm.

Giám đốc CIA Gates đã có lời nhắc nhở có ích rằng bộ máy viên chức có thể thích ứng với môi trường đang thay đổi, nhưng không thể gạt bỏ hoàn toàn sực ỳ của bộ máy đó; định luật thứ nhất của Newton đã được áp dụng vào chính trị. Năm 1992, Giám đốc Woolsey đã bước đầu vận động tăng ngân sách vào lúc kinh tế đang giảm sút, một phần vì đó là vai trò được dự kiến của một giám đốc CIA, nếu làm khác đi thì sẽ làm cho tinh thần trong cơ quan CIA giảm sút, hoặc thậm chí có nổi loạn công khai như đã xảy ra khi Giám đốc CIA Stansfield Tunner cắt giảm biên chế trong thời chính quyền Carter.

Hơn nữa, các vụ bê bối cũng có thể đóng vai trò có ý nghĩa trong thay đổi về tổ chức. Việc CIA dính lứu vào việc do thám các công dân trong nước (một việc làm cho người ta cảm thấy lo sợ,và việc này bị tiết lộ năm 1974 vào lúc cong chiến tranh lạnh) và vụ Iran (1987) đac góp phần vào việc tạo ra những thay đổi nghiêm túc về tính chịu trách nhiệm của ngành tình báo hơn bất cứ đIũu gì khác cùng với sự kết thúc của cuộc đấu tranh giữa các siêu cường (mặc dù bản thân những sự kiện dẫn đến các vụ bê bối là kết quả phụ của việc qúa tích cực thực hiện cá mục tiêu của chiến tranh lạnh).

Cuối cùng, những thay đổi tại CIA trong các giai đoạn đầu của thế giới hậu chủ nghĩa cộng sản cũng chịu ảnh hưởng của tình hình kinh tế trong nước của Hoa Kỳ, ngang với ảnh hưỏng của bất cứ điều gì khác. Chắc chắn là tình hình đó cũng chịu ảnh hưởng của nhận thức về việc giảm mối đe doạ từ bên ngoài. Và trong thời gian 1992 - 1994, đIũu ấy đã thuyết phục các quan chức chính phủ rằng họ có thể yên tâm hướng sự chú ý của mình vào việc giảm bớt thiếu hụt ngân sách, dù đây mới là một cảm nghĩ thoáng qua.
Câu hỏi ban đầu trong chuyên đề nghiên cứu này là: liệu việc kết thúc chiến tranh lạnh có đưa lại những thay đổi trong CIA không? Câu trả lời là dứt khoát có: trong sự biến đổi của CIA, các diễn biến quốc tế kể cả việc chấm dứt chiến tranh lạnh - đã ảnh hưởng đến chính sách tình báo trong nước. Tuy nhiên, góp phần vào sự thay đổi đó còn có những khó khăn kinh tế trong nước, những tương tác phức tạp của yêu cầu về thể chế và phe nhóm, các vụ bê bối, các lề thói của bộ máy viên chức, những sở thích cá nhân của các quan chức hoạch định chính sách, từ các giám đốc tình báo đến các tổng thống và các nhà giám sát của Quốc hội một sự pha trộn phong phú các biến số đã khiến cho việc nghiên cứu chính trị học vừa dễ gây nản lòng lại vừa hấp dẫn.

Hết
Logged
Trang: « 1 2   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM