Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 31 Tháng Giêng, 2023, 01:24:29 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: 284 Anh hùng hào kiệt của Việt Nam  (Đọc 157222 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4838



« Trả lời #60 vào lúc: 28 Tháng Mười, 2011, 02:23:42 pm »

NGUYỄN HỮU BẢN

   Nguyễn Hữu Bản tự là Vụ Đức, hiệu là Động Nguyên, sinh năm 1841. Ông là con trai Án sát Nguyễn Mậu Kiến, quê ở làng Động Trung, phủ Kiến Xương, nay là xã Vũ Trung, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.

   Khi còn ở tuổi thiếu niên, ông học thông minh, thi Hương đỗ nhất trường. Năm ông 20 tuổi, cha là Án sát Lạng Sơn lo dẹp phỉ Cờ vàng Hoàng Sùng Anh, không có điều kiện lo việc nhà, ông phải thay cha quán xuyến công việc gia đình. ông cùng em trai là Nguyễn Hữu Khai đi khai khẩn vùng biển Tiền Hải, chiêu dân lập ra làng Đức Cơ.

   Tuy không theo học, nhưng tuân theo lời dạy của cha, ông mở rộng nhà học, mời thày giỏi về dạy cho con em hàng tổng hàng xã học tập. ông còn củng cố, phát triển nhà in Chiêm Bái đường khắc in các tác phẩm văn học, lịch sử, binh pháp, thiên văn. (Thư viện Khoa học xã hội còn lưu giữ một số sách của nhà in Chiêm Bái đường như "Độc thư lạc thú” (thơ văn), "Đăng đàn bái tướng" (Binh pháp).

   Ông chẳng những tổ chức khai hoang, đắp đường bắc cầu xây cống, tiêu nước cho vùng trũng trong huyện. Ngày nay làng Đức Cơ, huyện Tiền Hải còn có văn bia ghi lại công lao của Nguyễn Hữu Bản, Nguyễn Hữu Khai: "Dân làng nhiều phen bị bão lụt, thủy triều, nhiều người chiêu mộ trước bỏ  đi… có một giáp Vũ Đức đem nhượng lại cho quan Hàn Lâm tu soạn tên là Bản để cùng hợp sức với ông nguyên mộ trước, tiếp túc mộ dân, sửa sang điền tễ, khẩn trị hoang vụ, làng ấp lại được trù mật, dân chúng tưởng nhớ công ơn suy tôn hai vị làm thành hoàng”.

   Ở huyện Tiền Hải, còn truyền tụng bài ca:

      Hai vị ấy gia công điều động,
      Đem sức tài mà chống lại nhà siêu,
      Khai hoang phế, đắp đê điều
      Dân từ đấy, không xiêu liêu nữa,
      Nhờ công đức các ngài sửa chữa,
      Dân ngày nay nhà cửa vui đông
      Rõ ràng nhân thắng đứng long
      Mừng được chữ khả phong tị ốc.


   Ông có uy tín với dân nên đã chiêu mộ dân binh đánh phỉ và giặc biển khi chúng tàn phá, cướp bóc quê hương.

   Năm 1871, sau khi quân Pháp ổn định bộ máy cai trị ở Nam Kỳ, nhòm ngó ra Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nguyễn Mậu Kiến đã cùng hai con trai là Nguyễn Hữu Cương, Nguyễn Hữu Bản chiêu mộ quân chuẩn bị đánh Pháp.

   Ngày 12/12/1873, quân Pháp đánh chiếm tỉnh thành Nam Định. Nguyễn Mậu Kiến và Nguyễn Hữu Cương đưa quân lên Nam Định bảo vệ thành. Thành mất, cha con ông về xây dựng căn cứ kháng chiến tại huyện Kiến Xương. Lực lượng nghĩa quân đông tới 2000 người. Nghĩa quân do cha con ông chỉ huy dũng cảm, giầu lòng yêu nước, đánh nhiều trận lớn, gây thương vong nặng nề cho quân Pháp. Giặc Pháp phải thừa nhận là sợ cha con ông. Sự kiện trên được Giáo sư Trần Văn Giầu viết: "Địch sợ nhất cha con Nguyễn Mậu Kiên, người dân thường giầu có và nghĩa hiệp. Gácniê (F. Garnier) đã hứa trọng thưởng những ai cắt được đầu nhà thân hào ấy. Ông và hai con là Nguyễn Bản, Nguyễn Cương tụ họp ở Trực Định (Kiến Xương ngày nay) hàng nghìn nghĩa quân mà bản thân ông cung cấp lúa gạo, tiền bạc, quần áo và vũ khí. Hácmăng (Harmand) đem quân đến đánh nhưng không được”. (Trần Văn Giầu: Bắc Kỳ kháng Pháp. Nxb Xây dựng, Hà Nội, 1957. trang 67-68).

   Phán đoán thế nào giặc Pháp cũng trở lại đánh chiếm Nam Định, Nguyễn Hữu Bản cùng con trai là Bang Úc và các lực lượng nghĩa quân khác, tiếp tục chiêu mộ quân, xây dựng căn cứ sẵn sàng đánh Pháp.

   Ngày 25/4/1882 Henri Rivière đánh thành Hà Nội lần thứ hai, Tổng đốc Hoàng Diệu tuẫn tiết, thành Hà Nội mất.Trước tình hình nguy cấp đó, Nguyễn Hữu Bản, Nguyễn Doãn Cử khẩn trương chiêu mộ quân, mua khí giới, xây dựng chiến lũy, sẵn sàng đánh giặc Pháp. Các ông lấy bốn huyện Thư Trì, Vũ Tiên, Chân Định, Tiền Hải của phủ Kiến Xương làm khu đề kháng trực tiếp; ba phủ Tiên Hưng, Kiến Xương, Thái Ninh làm hậu cứ chủ yếu. Các ông còn thành lập các đồn binh ở tuyến phòng thủ trên sông Hồng, sông Trà Lý và các đồn ở tuyến giữa. Trung tâm chỉ huy là Phủ Bo (thị xã Thái Bình ngày nay).

   Trong một cuộc giặc Pháp tấn công thành Nam Định, ông đã cùng nghĩa quân chiến đấu rất kiên cường. Song hiềm thế giặc  quá mạnh, thành bị thất thủ, Nguyễn Hữu Bản hy sinh nhưng con ông là Bang Úc vẫn cùng Nguyễn Doãn Cử và các tướng khác tiếp tục cuộc chiến đấu. Ông mất đi để lại một tổn thất vô cùng to lớn đối với cuộc kháng chiến của nhân dân ta.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4838



« Trả lời #61 vào lúc: 28 Tháng Mười, 2011, 02:26:23 pm »

HOÀNG VĂN TUẤN

   Hoàng Văn Tuấn tên thực là Hoàng Văn Liêm, sinh năm 1825 tại làng Phú Khê, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định, nay thuộc xã Yên Thành, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Ông học giỏi, sớm có lòng yêu nước. Năm Mậu Ngọ (1858), ông cũng tham gia đoàn quân học trò ở các huyện thuộc Nam Định và ở các huyện Thanh Liêm, Bình Lục thuộc Hà Nội do Phạm Văn Nghị tổ chức Nam tiến.

   Năm 1873, quân Pháp đánh chiếm tỉnh thành Hà Nội, Phủ Lý, Nam Định, Hưng Yên, Hải Dương... ông đã cùng các văn thân huyện Ý Yên chiêu mộ tráng đinh đánh Pháp và một số dân công giáo quá khích theo Pháp. Đội quân của ông đã giúp Phạm Văn Nghị giữ Phong Doanh, Ý Yên, đánh đuổi bọn phản động theo Pháp ra khỏi các huyện Thanh Liêm, Phủ Lý. Sau khi triều đình Huế và Pháp ký hòa ước, đội quân của ông truy quét bọn phản động theo Pháp không cho chúng tới cứu nguy cho bọn phản động đã chiếm huyện lỵ Lý Nhân đang bị Tuần phủ Hà Nội Phạm Thận Duật bao vây tiêu diệt. Sau Hòa ước triều đình xét thưởng những người có công thì Tự Đức tự tay viết tám chữ son tặng huyện Ý Yên: “Ý Yên tứ tú: Lý, Nghĩa, Tuấn, Phương”. (Ý Yên có bốn người giỏi (hay ông tú) Lý, Nghĩa, Tuấn, Phương). (Tú tài Phạm Lý ở xã Yên Hòa sau làm bang biện, Cần vương gia nhập khởi nghĩa Bãi Sậy; Tú tài Trần Vãn Nghĩa ở xã Văn Xá; Tú tài Hoàng Văn Tuấn ở xã Phú Khê; Tú tài Lê Văn Phương ở thôn An Hộ, xã Phú Khê).

   Phạm Văn Tuấn đỗ tú tài ba khóa liền, năm Bính Tý (1876), Tự Đức thứ 29, tại trường thi Thanh Hóa ông đỗ thủ khoa, năm 41 tuổi, được bổ làm Tri huyện Nam Xang, khi đó thuộc tỉnh Hà Nội. Ông thấy triều đình Huế liên tục ký những hiệp ước đầu hàng Pháp, dung túng bọn phản động đội lốt Thiên chúa giáo thả sức hoành hành, kéo nhau đi cướp bóc, tàn phá đình chùa, liền cáo quan, triều đình triệu nhiều lần cũng không ra.

   Năm 1882 quân Pháp hạ thành Hà Nội lần thứ hai. Năm 1883 chúng tung quân đi đánh Nam Định và các tỉnh, Hoàng Văn Tuấn chiêu mộ quân khởi nghĩa, vận động nhân dân trang bị vũ khí, tiếp tế lương thực cho nghĩa quân. ông giữ chức bang biện, đã phân chia nghĩa quân thành cơ, ngũ, cử cai đội, suất đội cai quản, tổ chức huấn luyện kỹ thuật chiến đấu. Năm 1885 ông đã đem quân đánh chiếm lại được thành Phủ Lý. Cũng năm đó ông tổ chức đánh úp một đoàn thuyền giặc trên sông Đáy, chặn đánh bộ binh Pháp ở Bình Lương (Ý Yên). Ông đưa quân đi đánh tiếp ứng cho Bang biện Phạm Lý ở Yên Hòa (Ý Yên). Năm 1888 vua Hàm Nghi bị bắt, phong trào Cần vương ở các nơi tan rã dần. Quân Pháp cắt đặt quan lại đóng đồn binh ở Cổ Đan cùng tổng với xã Phú Khê, đem quân về đóng giữ đình Quán Chàm ở làng ông. Chúng cho quân đi càn quét nhiều nơi và bắt được ông, giam ở nhà lao Ninh Bình.

   Sau đó giặc Pháp kết án ông 10 năm phát vãng, chúng chuyển lên Hà Nội nhốt ông ở quán Thánh Trấn Võ, đợi ngày đưa đi Côn Đảo.

   Một người học trò cũ của ông là Cả Tương quê ở làng Nham Kênh trên bờ sông Đáy cứu được vợ chồng tên quan 5 người Pháp ở Sở Kiện. Hắn tỏ ý muốn đền ơn, Cả Tương bảo hắn: "Tôi với anh là kẻ thù, tôi có thể giết anh. Nhưng tôi cứu anh là để anh xin tha cho thày học của tôi là cụ Thủ khoa Hoàng Văn Tuấn”. Tên quan 5 nhận lời, đưa ông lên Hà Nội vận động mấy tháng ông mới được tha, nhưng bị chúng quản thúc. Khi bị quản thúc ông vẫn tỏ rõ khí phách căm thù giặc Pháp, một lần, tên hào mục ở nhà thờ Sở Kiện khoe Cố Phước (Puginier), cố Đông (Gendreau) ở Sở Kiện tài giỏi và cứng cổ. Ông ngắt lời bảo hắn: “Cổ cố đạo có cứng bằng gươm không?”. Tên kia chột dạ không dám đến nữa.

   Ông về làng được một năm thì mất, thọ 69 tuổi.






NGUYỄN GIẢN

   Nguyễn Giản còn gọi là Nguyễn Văn Giản, sinh năm 1822, người xã Phùng Thiện, nay là thôn 5, xã Khánh Thiện, huyện Yên Khánh tỉnh Ninh Bình.

   Năm 1873, ông cùng ba con trai là Nguyễn Đường, Nguyễn Thị, Nguyễn Bích tham gia cuộc khởi nghĩa do Tam Đăng Phạm Văn Nghị chỉ huy. Ông đã chuẩn bị tham gia trận đánh ngăn chặn quân Pháp từ Ninh Bình đánh ra Nam Định theo đường sông Đáy vào sông Đào để xuống phá thành. Tam Đăng Phạm Văn Nghị chỉ huy cắm kè ở ngã ba Độc Bộ - nơi gặp nhau giữa sông Đào và sông Đáy. Thiên hộ Giản đắp đồn Trong và đồn Ngoài. Hai đồn nối với nhau bằng con đường đất, có thể chi viện cho nhau, tiến lui một cách dễ dàng.

   Trong trận Độc Bộ, ngày 10/12/1873, tầu chiến Pháp đến ngã ba Độc Bộ, Tam Đăng Phạm Văn Nghị lệnh cho cho súng thần công phát hoả. Đạn trúng tầu chiến Pháp, song sức công phá kém chỉ làm gẫy cột tầu, giết chết 3 tên Pháp và làm bị thương một số tên. Tháng 3 năm 1883, giặc Pháp lại kéo tới đánh chiếm Ninh Bình, quan quân thấy tình thế nguy hiểm, mở cửa thành đón giặc vào, không dám bắn một phát súng nào. Nguyễn Giản đã kêu gọi nhân dân khởi nghĩa. Ông đem hết tiền bạc trong nhà để mua sắm vũ khí đạn dược, mang hết thóc lúa trâu bò làm quân lương. Việc chuẩn bị khởi nghĩa của cha con ông và bộ tham mưu tiến hành bí mật. Ngôi nhà của Thiên hộ cũng là nơi bộ tham mưu làm việc. Đây cũng là nơi có hầm đặt lò rèn sản xuất vũ khí súng trường bắn nhanh theo mẫu súng 1874 của Pháp, có hầm bí mật giấu vũ khí, có kho chứa lương thực.

   Ngày 23 tháng chạp năm Kỷ Sửu (13/1/1890) quân Pháp bố phòng xung quanh tỉnh thành, chặn các ngả đường rồi bí mật kéo quân về đánh úp làng Phùng Thiện. Nghĩa quân chưa kịp đối phó thì quân Pháp đã ập vào lùng bắt. Cả bốn cha con Thiên hộ Giản và một số nghĩa quân bị bắt. Quân Pháp còn lấy được tại nhà Thiên hộ 30 lò rèn, 100 cối xay. Ngày hôm sau, 24 tháng chạp năm Kỷ Sửu (14/1/1890) giặc Pháp bắn chết Nguyễn Đường, Nguyễn Thị, Nguyễn Bích ở chân núi Cánh Diều. Nguyễn Giản bị giặc Pháp bắt giam trong ngục, hơn 2 năm sau, ngày 21  tháng 6 năm Nhâm Thìn (13/8/1892) ông mất tại nhà tù.

   (Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 3 (174) ngày 5/6/1977, chú thích Thiên hộ Giản là một hào trưởng ở cùng Nho Quan, có lẽ là dân tộc Mường (chúng tôi chưa điều tra rõ lý lịch) đã giúp nhiều công của vào việc cứu dân và đánh Pháp nên được phong Thiên hộ. Tương truyền khi giặc Pháp vậy nhà ông còn bắt được hơn 30 lò rèn và 100 cối xay. Ông bị Pháp bắt và bị xử tử hình khoảng năm 1888. Hôm hành hình, trời có mưa to và sấm sét).
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4838



« Trả lời #62 vào lúc: 28 Tháng Mười, 2011, 02:29:25 pm »

HOÀNG PHAN THÁI

   Hoàng Phan Thái quê ở huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, ông thi đỗ đầu xứ, nên các nhà nho suy tôn ông là "Đầu xứ Thái”.

   Ngày 15 tháng 3 năm 1874 , triều đình Huế ký với thực dân Pháp bản Hiệp ước mang tên "Hiệp ước hoà bình và liên minh” tại Sài Gòn (Trong sử sách còn gọi là Hiệp ước Giáp Tuất). Hiệp ước có 22 điều khoản. Trong đó điều khoản 5 ghi: "Triều đình Huế thừa nhận chủ quyền của Pháp trên phần đất Việt Nam kể từ địa giới phía Nam tỉnh Bình Thuận trở vào”.

   Lập tức các sĩ phu, nhân dân khắp nước, đặc biệt là ở Trung Kỳ, Bắc Kỳ dấy lên phong trào phản đối triều đình Huế bán nước và thực dân Pháp cướp nước. Nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra với khẩu hiệu "Đánh cả triều lẫn Tây”. Hội Văn thân Nghệ Tĩnh phát "Hịch bình Tây" trong đó có câu: 'Triều đình dẫu hoà với Tây mặc lòng, sĩ phu nước Nam quyết không chịu. Vậy... xin đánh đuổi Tây cho hết để giữ lấy nền văn hiến của ta đã có hơn ngàn năm nay”.

   Hưởng ứng "Hịch Bình Tây”, Phan Thái xưng hiệu là “Đông Hải đại tướng quân” chiêu mộ nghĩa binh chống lại sự bạc nhược của triều đình Huế đầu hàng giặc Pháp. Triều đình Huế đưa quân đến Nghi Lộc quê hương ông vây bắt. Ông bị bắt đưa ra xử chém.

   Hoàng Phan Thái hy sinh khi chưa thực hiện được hoài bão giết giặc, trừ gian của mình nhưng nó như một ngòi nổ kích động nhiều cuộc khởi nghĩa khác. Riêng ở Nghệ Tĩnh đã có các cuộc khởi nghĩa của Vương Thúc Mậu (1886-1887) ; Lê Ninh, Tống Duy Tân...

   Hành động của cụ Đầu xứ Hoàng Phan Thái được Phan Bội Châu hết sức ca ngợi. Năm 1907, Phan Bội Châu viết: Tập tiểu truyện Đầu xứ Thái, một nhà nho sống thời Tự Đức và đã bị bọn phong kiến triều Nguyễn xử tử vì có tư tưởng chống đối triều đình nhà Nguyễn. Trong Phan Bội Châu niên biểu, tác giả cho rằng: cuốn trên này đánh dấu một chuyển biến lớn trong tư tưởng của mình. Truyện đề cao một "loạn thần" lên địa vị "ông tổ" mở đường cho cuộc vận động chống quân quyền ở Việt Nam đồng thời tố cáo tội ác của Tự Đức.





LÊ VĂN MAI

   Lê Văn Mai sinh năm 1843, người làng Vĩ Khánh nay thuộc xã Liêm Túc, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam. Ông là người thông tuệ từ nhỏ, thi đỗ tiến sĩ khoa Mậu Thìn, năm Tự Đức thứ 21 (1868) khi mới 25 tuổi, được bổ làm quan Ngự sử, nên dân gian gọi là Ngự Mai.

   Năm 1873 giặc Pháp đánh Bắc Kỳ lần thứ nhất, các phủ, huyện của Hà Nam khi đó thuộc Hà Nội đều bị quân Pháp đánh. Quân triều đình chưa đánh đã bỏ chạy. Triều đình Huế sợ giặc không dám động binh, vội vàng ký "Quy ước" giữa Nguyễn Văn Tường và Philát nhượng bộ Pháp nhiều quyền lợi về kinh tế, chính trị, quân sự.

   Lê Văn Mai đứng về phe chủ chiến, khuyên can vua không được liền từ quan về quê. Ông đã liên kết với những người cùng chí hướng như tú tài Lê Văn Tốn, chiêu mộ quân rèn đúc, vũ khí theo Đinh Công Tráng khởi binh đánh Pháp.

   Khi hai ông khởi binh rồi gia nhập cuộc khởi nghĩa Đinh Công Tráng thì thế lực nghĩa quân càng mạnh. Lê Văn Mai trở thành mưu sĩ hàng đầu, là tướng tâm phúc của Đinh Công Tráng. Ông cũng chủ trương vạch ra kế hoạch tác chiến, bày binh bố trận dụ địch vào nơi đất hiểm, và ông cũng là người cầm quân đánh những trận đó. Nghĩa quân Đinh Công Tráng chiến thắng nhiều trận lẫy lừng ở Tràng Bưởi, Sở Kiện, rồi ào ào tiến sang Nam Định giải phóng phủ Bỏ (Ý Yên), chợ Dầu (VụBản) thị xã Phủ Lý.

   Ngày 15/3/1874, Triều đình Huế ký với Pháp "Hiệp ước Hoà bình và liên minh”  thực tế là đầu hàng giặc Pháp, ra lệnh triệt binh của triều đình, giải tán nghĩa quân. Đinh Công Tráng trả chức tước cho triều đình, ông cử Lê Văn Mai ở lại mở trường dạy học để tuyên truyền lòng yêu nước, chí căm thù giặc Pháp cho thanh niên, huấn luyện quân sự, dạy binh thư cho anh em rồi lên Sơn Tây - Hưng Hoá gia nhập quân của Hoàng Kế Viêm được phong Lãnh binh, ông thường xuyên có mối quan hệ với Lê Văn Mai.

   Ngày 25/4/1882 (mùng 8 tháng ba năm Nhâm Ngọ) Henri Rivière tấn công thành Hà Nội lần thứ hai, Tổng đốc Hoàng Diệu tuần tiết theo thành.

   Đầu năm 1883 quân Pháp đánh chiếm Phủ Lý và các phủ huyện nay thuộc tỉnh Hà Nam. Ngày 27/3 thành Nam Định thất thủ...

   Do có 10 năm chuẩn bị, nên ngay khi quân Pháp đánh chiếm Phủ Lý, Lê Văn Mai đã triệu tập nghĩa quân đánh Pháp và bọn giáo dũng khiến chúng không dám đánh rộng ra các phủ huyện. Ông còn phối hợp với nghĩa quân của Lê Văn Tốn tập kích vào các trại quân Pháp.

   Đinh Công Tráng sau khi dự trận đánh ở Cầu Giấy ngày 19/5/1883, ông trở về Hà Nam, Nam Định gây dựng phong trào đánh Pháp thống nhất các lực lượng kháng chiến ở Hà Nam. Vốn mến mộ tài năng và đức độ của ông, chỉ trong mười ngày, ông đã có một đội nghĩa quân đông tới 5000 người. Ngự Sử Lê Văn Mai và tú tài Lê Văn Tốn cũng đem quân tới phối hợp.

   Hốt hoảng trước lực lượng nghĩa quân Đinh Công Tráng, giặc Pháp tập trung quân càn quét vùng sông Đáy. Lê Văn Mai đã sát cánh cùng chủ tướng Đinh Công Tráng chiến đấu dũng cảm đánh thắng nhiều trận ở Thong, Bưởi, xây dựng căn cứ rừng Tràng huyện Thanh Liêm. Từ căn cứ này, nghĩa quân liên tục đột nhập vào Phủ Lý, huyện lỵ Thanh Liêm. Giặc Pháp tập trung quân, đại bác bắn vào căn cứ rừng Tràng.

   Không giữ được căn cứ, Lê Văn Mai cùng chủ tướng Đinh Công Tráng rút quân về xây dựng căn cứ kháng chiến mới ở Thư Điền, tỉnh Ninh Bình. Sau Đinh Công Tráng nhận thấy Thư Điền dễ bị cô lập khi quân Pháp bao vây, tấn công nên Đinh Công Tráng đã cùng các ông Phạm Bành, Hoàng Bật Đạt, Hà Văn Mao xây dựng căn cứ ở các xã Kim Âu và Thạch Bằng thuộc huyện Quảng Hoá, Thanh Hoá.

   Theo gợi ý của Thượng thư bộ Binh Tôn Thất Thuyết khi đó đã đưa vua Hàm Nghi ra Sơn phòng Quảng Trị, hạ chiếu Cần vương, Đinh Công Tráng và Lê Văn Mai đã chuyển xuống đồng bằng xây dựng các căn cứ Ba Đình, thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Ngự Sử Lê Văn Mai đã sát cánh cùng thủ lĩnh Đinh Công Tráng và các thủ lĩnh khác xây dựng và chiến đấu bảo vệ căn cứ này.

   Ngày 18 tháng 12 năm 1886, nghĩa quân Ba Đình đánh bại cuộc tấn công qui mô đầu tiên của quân Pháp vào căn cứ từ hai hướng: hướng Tây Nam do tên trung tá Melzinzen chỉ huy, hướng đông bắc do tên trung tá Dodds chỉ huy. Nhưng chúng đã bị nghĩa quân đánh bại. Lê Văn Mai dũng cảm chỉ huy nghĩa quân đánh lùi những đợt xung phong của quân Pháp, ông anh dũng hy sinh. Nghĩa quân đưa thi hài ông về quê ông ở làng Vĩ Khánh, xã Liêm Túc an táng. Bia mộ của ông nay vẫn còn ở đình Hát xã Liêm Túc. Khi còn sống làng Tập Mỹ, huyện Bình Lục xây đình đã mời ông đến cất nóc. Khi ông hy sinh dân làng tôn ông làm Thành hoàng thờ ở đình. Ông được nhân dân vùng Liêm Sơn tôn trọng, xưa kia vẫn kiêng tên huý của ông không nhắc đến.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4838



« Trả lời #63 vào lúc: 28 Tháng Mười, 2011, 02:32:50 pm »

NGUYỄN THÀNH THÀ

   Nguyễn Thành Thà quê ở thôn Phan Bổng, xã Đô Mỹ, huyện Thần Khê (nay là xã Bình Lăng, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình). Nguyễn Thành Thà học võ rất nhanh và thi đậu cử nhân võ hạng ưu khi tuổi còn rất trẻ.

   Thành Thà được bổ chức quản suất ở Lạng Sơn, một chức quan võ nhỏ ở một tỉnh miền núi. Tuy chỉ là quản suất, nhưng bằng tài năng của mình ông đã lập được nhiều chiến công được thăng chức Chánh quản ở tỉnh Hưng Yên, chuyên lo xây dựng lực lượng quân sự để đối phó với giặc Pháp đang có âm mưu đánh chiếm Bắc Kỳ. Thời gian này ông có công huấn luyện cho một số nghĩa dũng trong dân quân Nam tiến 365 người do Đốc học Phạm Văn Nghị tổ chức tình nguyện vào Đà Nẵng đánh giặc ngày 29/2/1860. Cuối tháng 11 và 12/1873, quân pháp đánh chiếm thành Hà Nội, phủ Hoài Đức, nhiều phủ huyện của tỉnh Hà Nam (khi đó thuộc Hà Nội) phủ Thuận Thành (Bắc Ninh), thành Hải Dương, thành Ninh Bình, Hạ xong các thành trên, quân Pháp tiến đánh thành Nam Định, ngày 10/12/1873 quân Pháp do Francis Garnies cho tầu chiến vượt qua đồn Độc Bộ, do Hoàng giáp Phạm Văn Nghị chỉ huy nghĩa quân chống giữ. Nguyễn Thành Thà giữ chức Chánh quản ở Hưng Yên phán đoán trước đường tiến quân của quân Pháp nên trước đó ít ngày, ông đã đưa một bộ phận nghĩa quân tinh nhuệ từ Hưng Yên sang đồn Độc Bộ cùng nghĩa quân Phạm Văn Nghị giữ đồn. Khi chiến hạm của quân Pháp lọt vào trận địa, nghĩa quân đã đánh một trận quyết chiến quyết liệt, gây cho địch nhiều tổn thất nặng nề.

   Sau Hiệp định 1874 triều đình Huế phải nhượng bộ Pháp nhiều điểm, để đổi lại Pháp rút quân khỏi Bắc Kỳ, chỉ để lại một bộ phận đóng ở Hà Nội và Ninh Hải (Hải Phòng). Nguyễn Thành Thà ở lại Nam Định. Ngày 25/3/1883, trung tá Hải quân Hăngri Rivierơ chỉ huy quân Pháp từ Hà Nội vào chiếm sông Vị Hoàng, gửi tối hậu thư buộc Tổng đốc Nam Định nộp thành. Sáng sớm ngày 26/3/1883, quân Pháp tấn công thành, Đề đốc Lê Văn Điếm, Án sát Hồ Bá Ôn đã chỉ huy nghĩa quân đánh giặc giữ thành. Hai cánh nghĩa quân do Nguyễn Thành Thà và Nguyễn Hữu Bản được giao giữ Cửa Đông. Cửa Đông là mũi tấn công chính của giặc Pháp, nên cuộc chiến diễn ra hết sức quyết liệt Nguyễn Thành Thà bị đạn pháo bắn bị thương vẫn không rời vị trí chỉ huy. Song thế giặc mạnh, nghĩa quân bị thương và hy sinh nhiều, Đề đốc Lê Văn Điếm đã tử trận, Nguyễn Thành Thà gom số quân còn lại lui về lập đồn cố thủ ở Vị Xuyên.

   Nghe tin Thành Thà về xây dựng đồn Vị Xuyên, các bạn chiến đấu, học trò của ông về tụ nghĩa rất đông. Triều đình cử Tạ Hiện người làng Quang Lang, huyện Thụy Anh về làm Đề đốc Nam Định. Tạ Hiện đã cử Nguyễn Thành Thà về cùng Đinh Gia Quế xây dựng căn cứ Bãi Sậy và các căn cứ ở vùng Thần Khê, Duyên Hà. Với tư cách là phái viên của quan Đề đốc, Nguyễn Thành Thà đã đóng góp nhiều công sức trong việc xây dựng lực lượng, thu góp quân lương tại các căn cứ trên. Nguyễn Thành Thà còn xây dựng thôn Phan Bổng - quê hương ông thành một căn cứ kiên cố, đồng thời là nơi chứa quân lương lớn nhất trong vùng.

   Vua Hàm Nghi thăng Nguyễn Thành Thà là Lãnh binh ở Hưng Yên, ông là trung tâm tổ chức hiệp đồng chiến đấu của các thủ lĩnh nghĩa quân Phạm Huy Quang, Đốc Đen, Đốc Nhưỡng, Lãnh Hoan…

   Những năm cuối đời, tuổi cao, sức yếu, Lãnh binh Nguyễn Thành Thà vẫn xông pha trận mạc. Ông còn cầm quân tiêu diệt bọn giặc bể Tàu Ô từ biển tràn vào cướp phá huyện Thái Ninh, Thụy Anh. Đầu năm 1895 giặc Pháp tấn công căn cứ Phan Bổng, căn cứ bị vỡ. Nguyễn Thành Thà bị thương. Nghĩa quân đưa ông về căn cứ ở Mỹ Hào (Hưng Yên) điều trị vết thương. Khi ông sắp qua đời, nghĩa quân đưa ông về căn cứ Phan Bổng. Ông mất vào một ngày cuối năm 1895. Nhân dân học trò, nghĩa quân tới phúng viếng rất đông.






NGUYỄN XUÂN ÔN

   Nguyễn Xuân Ôn sinh ngày 22 tháng 3 năm Ất Dậu, người làng Quần Phương, xã Lương Điền, tổng Thái Xá, huyện Đông Thành, phủ Diễn Châu, nay là xã Diễn Thái huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Ông là người thông tuệ, đọc sách nhớ lâu, người đời gọi đùa là "tủ sách bụng”. Năm 1844 ông đỗ tú tài khi mới 18 tuổi, năm 1847 đỗ tú tài lần thứ hai. Lận đận mãi đến khoa thi Đinh Mão, Tự Đức 20 (1867) ông mới đỗ cử nhân. Khoa thi Hội Tân Mùi, Tự Đức 24 (1871), khi đã 42 tuổi ông mới đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân, được bổ nhiệm tri phủ Quảng Ninh (Quảng Bình), rồi lại được bổ làm Án sát Bình Thuận.

   Nguyễn Xuân Ôn là người cương trực, khẳng khái chỉ trích quan lại tham nhũng. Ông là người đứng hẳn về phe chủ chiến. Năm 1874 ông đã báo cáo với triều đình âm mưu của giặc Pháp nhưng vua Tự Đức và các quan lờ đi, ông liên tiếp gửi sớ về trình bày kế hoạch đánh giữ. Ông còn xin về Nghệ An để cùng quan lại địa phương tổ chức lực lượng kháng chiến. Ông cực lực phản đối chủ trương của triều đình cầu hòa với Pháp. Vua Tự Đức chủ trương cầu hòa, nên không ưa ông, đã phê vào sớ của ông dòng chữ: "Kiến sự phóng sinh" (Thấy việc nói tràn). Triều đình mượn cớ cầu hòa, nhưng thực tế là đầu hàng, ký nhiều Hiệp ước bán rẻ chủ quyền cho thực dân Pháp. Nguyễn Xuân Ôn vẫn kiên trì trình bày tường tận ý kiến, phương lược chống Pháp của mình. Ông cũng tuyên bố rõ ràng: "Nếu triều đình không nghe thì từ chức”. Vì thế mỗi khi triều đình tiếp được sớ của Nguyễn Xuân Ôn đề cập đến việc giặc Pháp thì tỏ thái độ rất khó chịu. "Có lần Thượng thư bộ Lại lúc đó là Nguyễn Chánh đã lên tiếng chỉ trích kịch liệt, thậm chí cả Tự Đức cũng xuống chiếu trách phạt”.

   Triều đình Huế không muốn để Nguyễn Xuân Ôn là người có tư tưởng chống Pháp ở Bình Thuận, giáp với Lục tỉnh Nam Kỳ, mà triều đình Huế đã bán đứt cho Pháp thì xảy ra một sự việc: Khoảng cuối năm 1881, đầu năm 1882, một tên cố đạo Pháp ngang nhiên xúc phạm nghi lễ của dân tộc đã bị ông điều lên cho hỏi tội. Vì việc này, thực dân Pháp trách cứ triều đình Huế vi phạm Điều 9 "Hiệp ước Hòa bình và Liên minh" đối với đạo Thiên Chúa là; chấm dứt việc mạt sát đạo Thiên chúa, cho phép các giáo sĩ được đi lại khắp nơi để truyền giáo”. Vì thế triều đình Huế điều ông ra làm Án sát tỉnh Quảng Bình điều tra một số vụ án không quan trọng.

   Ông ra Quảng Bình chưa được bao lâu thì ngày 25 tháng 4 năm 1882, quân Pháp hạ thành Hà Nội lần thứ hai. Ngày 12/3/1883, quân Pháp đánh Hòn Gai, ngày 27/3/1883, giặc Pháp hạ thành Nam Định…

   Trước họa xâm lăng một số tướng lãnh ở Bắc Kỳ như Hoàng Kế Viêm, Bùi Văn Dị, Nguyễn Chánh, Trương Quang Đản đều mật tâu về kinh xin đánh. Nhưng Tự Đức chỉ phái người ra Hà Nội thương thuyết xin Pháp trao trả lại thành, lệnh cho quân chính quy và quân Cờ Đen lên mạn ngược, nới lỏng vòng vây cho quân Pháp, bắt các sĩ phu giải tán nghĩa quân, cho người đi cầu cứu nhà Thanh.

   Sau khi Nguyễn Xuân Ôn gửi nhiều bản sớ tấu về triều không được Tự Đức chấp nhận, ông xin từ quê về Nghệ An để phát động cuộc kháng chiến chống Pháp. Song ông vẫn dâng sớ xin kinh lý miền thượng du để có cơ sở kháng chiến lâu dài. Tiếp nữa ông lại dâng sớ điều trần các việc nên làm, kịch liệt phản đối chủ trương hòa hảo với giặc Pháp của triều đình. Chán cảnh triều đình đầu hàng giặc Pháp, ông cáo quan về quê nhà ở xã Diễn Thái huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An rồi tự mình đứng ra lo việc chống Pháp. Ông "chăm việc vỡ hoang đồn điền, tập hợp những người dân lưu tán, xếp vào đội ngũ, chờ lúc cần mà dùng”. Từ khi về nhà tới đầu tháng 8/1884 là thời gian ông bàn bạc với các đồng chí tin cậy, chuẩn bị mọi mặt từ tuyển quân, huấn luyện, trang bị vũ khí, tích trữ quân lương, xây dựng căn cứ.

   Tháng 8 năm 1884 vua Hàm Nghi lên ngôi cho người ra Nghệ An phong cho Nguyễn Xuân Ôn làm "An - Tĩnh Hiệp đốc quân vụ đại thần thông lĩnh lực lượng nghĩa quân hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh”. Ông lập tức tuyển quân, chỉ trong nửa tháng số quân lên gần 2.000 người. Ông có nhiều trợ thủ đắc lực như Đề Kiều, Lãnh Mậu, Lãnh Phương, Đốc Nhan, Đề Vĩnh, Lãnh Bảng, Đề Thắng lo việc huấn luyện, trang bị vũ khí, tịch trữ quân lương, xây đồn lũy.

   Tháng 7 năm 1885, Tôn Thất Thuyết, Phạm Thận Duật, Trần Xuân Soạn chỉ huy Phấn Nghĩa quân tấn công đồn Mang Cá, khu Nhượng địa. Việc không thành. Các ông rước vua Hàm Nghi ra sơn phòng Tân Sở (Quảng Trị).

   Ngày 13/7/1885 từ Tân Sở, chiếu Cần vương được phát đi trong cả nước kịch liệt tố cáo âm mưu cướp nước của thực dân Pháp, hô hào toàn dân đứng lên chống Pháp cứu nước. Tiếp được chiếu, Nguyễn Xuân Ôn lập tức hưởng ứng. phong trào tòng quân diễn ra rầm rộ ở hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh.

   Thực dân Pháp nghe tin Nguyễn Xuân Ôn khởi binh ở Nghệ An vội vàng kéo vào chiếm đất, đóng đồn khống chế các hoạt động của nghĩa quân. Giữa tháng 11/1885, nghĩa quân của Nghè Ôn và quân Pháp đánh nhau dữ dội ở xã Đoài, ưu thế nghiêng về phía nghĩa quân. Sau trận thắng này thanh thế của nghĩa quân Nghè Ôn càng lớn mạnh. Ông lui quân về Tây bắc xã Đoài tiến hành các hoạt động quân sự mạnh mẽ hơn.

   Trong năm 1886 nghĩa quân Nguyễn Xuân Ôn đánh thắng nhiều trận lớn như trận Thưa Sủng, Đồng Mờm, Đồng Nhơm trên con đường từ Diễn Châu đi Yên Thành. Tháng 6/1885 vua bù nhìn Đồng Khánh ra dụ nếu thủ lĩnh Nguyễn Xuân Ôn (và 17 người nữa) nếu ra đầu thú sẽ được giữ nguyên hàm và được bổ làm quan từ Quảng Bình, Quảng Trị đổ vào. Song Nguyễn Xuân Ôn không thèm đếm xỉa đến những lời gạ gẫm của Đồng Khánh, vẫn tiếp tục cuộc chiến. Cuối năm 1886 nghĩa quân còn táo bạo thọc sâu xuống đồng bằng, ven biển, tấn công đồn Pháp ở chợ Sy (cạnh đường số 1, thuộc huyện Diễn Châu).

   Năm 1887 nghĩa quân Nguyễn Xuân ôn đánh thắng nhiều trận lớn như trận vùng Sừng, Mị, Xóm Hố thuộc vùng tây bắc huyện Yên Thành.

   Trong các trận đánh, Nguyễn Xuân Ôn luôn luôn đi hàng đầu, nêu cao gương dũng cảm, làm cho khí thế nghĩa quân phấn chấn. Ông bị thương nhiều lần. Trong một trận đánh vào tháng 6/1887 ở xóm Hồ, ông bị thương vào bả vai phải về làng Đồng Nhân, nay là thôn Đồng Đức, xã Mã Thành, huyện Yên Thành điều trị. Ngà.y 12 tháng 4 năm Đinh Hợi (25/7/1887), tên quan một Bunlơ (Bouloux) chỉ huy một toán lính cải trang làm nông dân do tên Tới dẫn đường xâm nhập vào nơi ông ở. Khi phát hiện ra quân Pháp, 20 cận vệ xông ra cản giặc. Một cuộc kịch chiến xảy ra. Quân Pháp đông và mạnh, phần lớn vệ sĩ hy sinh. Nguyễn Xuân Ôn rút kiếm tự tử, song bị quân Pháp ngăn lại, bắt ông. Lúc đầu chúng giam ông ở đồn Yên Mã (Mã Thành, huyện Yên Thành). Sau đó chúng đưa ông về giam ở Diễn Châu. Đến ngày 13/8/1887 chúng giải ông về nhà lao Vinh. Tại đây giặc dùng mọi cách mua chuộc, lung lạc ông, song ông vẫn kiên cường không khuất phục. Chúng buộc ông bảo thuộc hạ ra hàng. Ông suy nghĩ nhận thấy quân Pháp đang mạnh, quân ta ở thế yếu, lại không có chủ tướng, nếu tiếp tục chiến đấu sẽ gây tổn thất lớn, cần phải bảo toàn lực lượng để quyết chiến với giặc khi có cơ hội. Vì vậy ông viết thư khuyên tướng sĩ giải tán về nhà làm ăn. Về sự kiện này sau này ông viết trong Lời trình về Bộ năm Mậu Tý (1888) - "Tôi đem lòng báo nước, lòng và sức đều kiệt, việc đã không ra gì, nếu cứ để lại những người bộ thuộc , sợ không thể trì chí, nên tôi viết thư bảo họ giải tán đi”.

   Giặc Pháp thấy nghĩa quân đã giải tán, ông tuổi cũng đã cao, đã bị thương lại hay đau yếu, không có lý gì để xử tử ông, song chúng vẫn không dám đưa ông về Nghệ An mà bắt ông ở Huế. Nhưng ra tù được mấy tháng, ông lâm bệnh nặng rồi mất vào cuối năm 1889. Nguyễn Xuân Ôn để lại tập thơ "Ngọc Đường thi tập" gồm 311 bài, "Nguyễn Đường văn tập” 22 bài, một số câu đối, thơ Nôm. Thơ văn của ông nêu cao tinh thần quyết tâm kháng chiến bất chấp quân Pháp có vũ khí hiện đại. Các bài thơ cũng lên án mạnh mẽ giặc Pháp và vua quan nhà Nguyễn đầu hàng giặc.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4838



« Trả lời #64 vào lúc: 28 Tháng Mười, 2011, 02:35:23 pm »

LÊ VĂN ĐIẾM

   Đề đốc Lê Văn Điếm quê ở xã Bồng Trung, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa, ông tham gia giữ thành Nam Định.
 
   Đề đốc Lê Văn Điếm và các quan tỉnh phe chủ chiến, các thủ lĩnh nghĩa quân chăm chú theo dõi các hoạt động khiêu khích của quân Pháp và dân theo đạo Thiên chúa. Bất chấp lệnh bãi binh của triều đình, Lê Văn Điếm vẫn lệnh cho các đồn binh củng cố công sự, sẵn sàng chiến đấu. Trong chừng mực có thể, ông còn giúp vũ khí cho nghĩa quân, cử các Hiệp quản, suất đội có kinh nghiệm giúp các thủ lĩnh nghĩa quân huấn luyện quân sự cho tân binh.

   Trước thái độ tích cực chống Pháp của quan quân, nhân dân nhiệt liệt đồng tình và ủng hộ. Tầu Carabin đậu ở sông Nam Định cứ đêm đến bị ném đá. Khi quân Pháp cho tầu chiếm ngã ba Độc Bộ cửa ngõ của tỉnh thành Nam Định, Lê Văn Điếm phán đoán quân Pháp sắp đánh chiếm Nam Định. Đến ngày 24/2/1883 H.Rivière tiếp nhận được binh lính và tầu chiến, hắn cho tầu chiến vào chiếm Sông Đào khống chế thành Nam Định.

   Quân dân Nam Định càng khẩn trương chuẩn bị đánh giặc. Người già, đàn bà, trẻ con được lệnh rời khỏi tỉnh thành. Ngày 10/3/1883, Henri Rivière gửi thư cho Thomson, Thống đốc mới ở Nam Kỳ xin cho đánh Nam Định. Ngày 23/3/1883, Henri Rivière chỉ huy quân lính đi trên các tàu chiến Carabin, La Hat sơ, Yatagăng, Tông Canh (Tonkin Kiang Nam và Oăm Poa) (Wampois) và một số thuyền theo sông Hồng về đánh Nam Định. Chúng tới Phủ Lý không bị cản trở, ở qua đêm tại đó rồi hành quân qua sông Đáy, Ninh Bình, không bị quân triều đình ngăn cản. Tới Vĩnh Trụ, thì tàu Pluvier đợi sẵn nhập bọn. Ngày 24/3 chúng tới ngã ba Độc Bộ có tầu Surprise đợi sẵn. Sáng ngày 25/3/1883, Henri Riviere gửi tối hậu thư cho Tổng đốc Vũ Trọng Bình đòi nộp thành. Vũ Trọng Bình kiên quyết không giao, chúng liền bắn pháo giữ dội vào thành. Đề đốc Lê Văn Điếm cùng các tướng chỉ huy quan quân đánh bật nhiều đợt tấn công của giặc khiến chúng phải rút chạy về tàu.

   Sáng sớm ngày 27/3, tàu chiến Pháp bắn dữ dội vào cửa Đông, cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt đến trưa. Đề đốc Lê Văn Điếm chỉ huy vòng ngoài giữa vòng vây của giặc, xông pha lửa đạn chỉ huy quân lính đánh bật nhiều đợt xung phong của giặc. Xác chúng ngổn ngang trên đường. ông bị trúng đạn vào bụng, ruột lòi ra ngoài, ông lấy tay ấn vào, lấy khăn chít đầu quấn chặt lại, tiếp tục chỉ huy quan quân đánh giặc. Quân sĩ thấy chủ tướng bị trọng thương vẫn không rời trận địa, tất thảy đều hăng hái xông lên giết giặc. Đề đốc Lê Văn Điếm chiến đấu đến khi ngất xỉu, quân sĩ đưa lên ngựa chạy về cửa Tây tới Biên Dương thì chết. Quan quân đưa thi hài ông về Bồng Trung an táng.





TỔNG ĐỐC HOÀNG DIỆU

   Hoàng Diệu nguyên tên là Hoàng Kim Tích, sinh ngày 10 tháng 2 năm Kỷ Sửu (5/3/1829), người xã Xuân Đài, huyện Diên Phước, tỉnh Quảng Nam (nay là xã Điện Quang, vùng Gò Nổi, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam). Khoa thi Hương tại Thừa Thiên năm 1848, Hoàng Diệu đỗ cử nhân. Năm năm sau, năm 1853, Hoàng Diệu thì Đình, đỗ Phó bảng. Khởi đầu ông làm Tri huyện huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Do nha lại lầm lẫn án từ, ông bị giáng chức làm Tri huyện Hương Trà, Thừa Thiên. Sau theo bản sớ tấu của Đặng Huy Trứ tiến cử người hiền tài, ông được phục chức làm Tri phủ Lạng Giang, rồi thăng Án sát Nam Định, Bố chánh Bắc Ninh. Năm 1873 ông về Huế làm Tham tri bộ Hình, sau làm Tham tri bộ Lại, kiêm Đô sát viện, sung cơ mật đại thần. Năm 1878, ông được bổ chức Khâm sai đại thần. Cùng năm đó, Hoàng Diệu được nhận chức Tổng đốc An Tĩnh (Nghệ An - Hà Tĩnh). Năm sau ông được điều về kinh giữ chức Phó sứ thương thuyết với Tây Ban Nha, sau đó ông giữ chức Thượng thư bộ Binh. Tháng giêng năm 1880, ông được thăng chức thự Tổng đốc, năm 1881 thăng Tổng đốc Hà - Ninh (Hà Nội - Ninh Bình).

   Hoàng Diệu làm quan lớn, cha mẹ, vợ chính thức được phong tước hiệu, nhưng gia đình ông vẫn sống ở làng quê một cuộc sống dân dã. Sách Đại Nam chính biên liệt truyện chép: "Hoàng Diệu tính tình cương trực, lâm sự quyết đoán, có phong độ bậc đại thần”.

   Ngày 4/4/1882, Henri Rivière vào thành yết kiến Tổng đốc Hoàng Diệu. Chuyến vào thành không nhằm mục đích ngoại giao mà đích thân dò xét mọi mặt. Hoàng Diệu phán đoán hắn ra chuyến này là để hạ thành Hà Nội, nhưng chưa có lệnh của Triều đình Huế, ông không dám đánh ngay. Ông gấp rút điều động lực lượng phòng thủ trong thành bố trí ở những địa điểm xung yếu. ông cho tôn cao mặt thành lên từ 1,5 mét đến 1,9 mét, tường thành được tu bổ dầy thêm từ 0,60 mét đến 0,8 mét. Cổng thành được làm lại bằng gỗ lim dầy, vững chắc bên trong chất nhiều bao đất đá, gỗ. Riêng của Nam và cửa Đông - nơi Garnier đột nhập vào 10 năm trước, có thêm các dẫy tường chéo bao bọc lấy khu trung tâm, có kho thuốc súng, quân dụng và hành cung. Như vậy là hai cửa Tây và cửa Bắc không vững như hai cửa trên. Súng đại bác cũng được tăng cường, đặt trên mặt thành. Ông còn phái một bộ phận quân đội ra ngoài thành để cùng lực lượng dân binh đánh tập hậu quân địch.

   Sáng 25/4/1882, Rivière gửi tối hậu thư cho Hoàng Diệu với lời lẽ xấc xược. Bức thư láo xược của giặc Pháp, làm cho Tổng đốc Hoàng Diệu vô cùng căm tức. Ông lập tức triệu tập các quan văn võ họp ở lầu trên Cửa Đông, xếp ở đó mấy hòm thuốc súng, rót rượu nói với các quan, tướng rằng: “Tôi xin các ông cạn chén, thề tận trung báo quốc. Nếu vạn nhất thành mất thì tất cả chúng ta đến đây, đốt các hòm đạn này”. Các quan thà chịu chết chứ không chịu đầu hàng.

   Tổng đốc còn cho người ra ngoài thành, lệnh cho cử nhân Nguyễn Đồng, phường Bích Câu đưa dân binh đánh vào sau lưng quân Pháp, làm rối loạn đội hình của chúng. Quân ta đóng chặt cửa Đông và cửa Bắc, tổ chức chiến đấu ở cửa Tây và cửa Nam. Quân Pháp nghi binh ở cửa Đông, cửa Nam, nhưng lại đánh phá cửa Bắc và cửa Tây. Tổng đốc Hoàng Diệu đang ốm vẫn mặc triều phục, mang gươm cùng Tuần phủ Hoàng Hữu Xứng thân lên mặt thành đốc chiến. Ông cũng không khoan nhượng với bọn quan lại có tư tưởng hòa hoãn, đầu hàng, ngăn chặn những vụ phá hoại, gieo rắc hoang mang trong quân lính của chúng. Trong trận chiến, Nguyễn Đình Trọng, còn gọi là Cử Tốn, giữ chức suất đội thuộc Tả trấn, hữu dinh ở trong thành, ông là vệ sĩ của Tổng đốc, luôn luôn theo sát bảo vệ Tổng đốc. Hai ông suất đội là Trần Lộc, người làng Nghè, Bếp Bốn người làng An Phú đều thuộc huyện Từ Liêm chiến đấu trực tiếp dưới quyền chỉ huy của Tổng đốc Hoàng Diệu, tả xung hữu đột và đều hy sinh anh dũng. Song thế giặc mạnh, ùa vào bên trong. Quân ta tan rã. Tổng đốc Hoàng Diệu, Phó lãnh binh Hồ Văn Phong không sao cản nổi giặc, vì chúng kéo vào quá đông. Thấy thành đã vỡ, khó lòng chống cự nổi, Hoàng Diệu quay mặt về phía Nam, chảy nước mắt nói: “Thần đã sức cùng, lực tận rồi, xin tạ tội”. Đoạn ông cưỡi voi đến Võ miếu, viết một bài biểu gởi vua Tự Đức, rồi ông lấy khăn quấn đầu bằng nhiễu đỏ thắt cổ tự tử để khỏi bị quân xâm lăng hạ nhục. Khí tiết hy sinh vì nước lẫm liệt của ông được Nguyễn Văn Giai ca tụng trong bài "Hà thành chính khí ca”.

      “…Một cơn gió thảm mưa sầu
      Nấu nung gan sắt dãi dầu lòng son
      Chữ trung còn chút cỏn con
      Quyết đem gửi cái tàn hồn gốc cây
      Trời cao hiểu rộng đất dầy
      Núi Nùng sông Nhị chốn này làm ghi”.

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4838



« Trả lời #65 vào lúc: 29 Tháng Mười, 2011, 08:18:17 am »

CAI TRÍ

   Cai Trí, tức suất đội Đỗ Đăng Lâm được Tổng đốc Hoàng Diệu tin cậy giao cho việc vận chuyển, bảo vệ các hòm giấy tờ, chiếu chỉ, bằng sắc công văn từ trong thành về huyện đường. Vì quá cẩn thận, ông Cai Trí cho hẳn một đội lính đi bảo vệ các hòm công văn trên. Điều đó khiến cho bọn mật vụ của Lãnh sự Pháp ở Đồn Thủy và những giáo dân Thiên chúa giáo quá khích được Pháp vũ trang nghi ngờ đó là các hòm vàng bạc, nên chúng báo ngay cho Lãnh sự Pháp. Vì vậy Lãnh sự Pháp coi huyện đường Thọ Xương cũng là một mục tiêu cho quân Pháp tấn công. Trước thế mạnh và sự hung hăng của giặc Pháp cùng bọn tay sai, tri huyện, lục sự, thông phán, nha lại cùng một số lính sợ hãi bỏ nhiệm sở chạy thoát thân. Mặc dù giặc cướp đông, trong huyện thành chỉ còn lại hơn 20 lính cơ, Cai Trí cùng anh em vẫn quyết tử giữ thành. Tên thông ngôn gọi loa uy hiếp Cai Trí và anh em lính cơ nếu đầu hàng nộp hết các hòm từ trong thành chuyển ra sẽ được tha mạng. Cai Trí biết rõ những hòm đó chứa đựng giấy tờ quan trọng nên dù chết cũng bảo vệ tới cùng. Bọn giặc không khuất phục được ông liền nổ súng rồi cho bọn trộm cướp phá cổng. Cai Trí chỉ huy anh em ngoan cường đánh trả giặc. Chỉ trong giờ đầu, hơn một chục anh em đã hy sinh, đè lên xác giặc. Cai Trí cùng số anh em còn lại lùi vào công đường giữ từng gian nhà. Hết đạn, ông cùng anh em dùng đoản dao, dao găm đánh giáp lá cà và đã hy sinh đến người cuối cùng.

   Giặc rút, nhân dân huyện Thọ Xương vô cùng thương tiếc ông và anh em quân sĩ, làm lễ an táng trọng thể. Nhân dân huyện Thọ Xương nhớ ơn ông đã hy sinh cả thân mình chỉ huy quân lính đánh giặc, nên lập ngôi miếu nhỏ thờ ông.

   Tự Đức có chỉ dụ truy tặng suất đội Đỗ Đăng Lâm (ông Cai Trí) chức Phó quản cơ vì đã chống cự quyết liệt cánh quân Pháp đánh chiếm thành huyện Thọ Xương, cùng lúc Henri Rivière hạ thành Hà Nội và hy sinh anh dũng.

   Giặc Pháp sợ uy danh của ông, sợ nơi đây trở thành một lễ đài ghi công tích những người hy sinh đánh Pháp, nên chúng cho bọn lưu manh đập phá miếu. Miếu bị phá, nhưng dân vẫn thắp hương trên nền ngôi miếu cũ vì nhân dân Hà Nội vẫn hướng về ông như hướng về quan Tổng đốc Nguyễn Tri Phương, quan Tổng đốc Hoàng Diệu, ông Chưởng Cơ giữ cửa ô Thanh Hà (nay là ô Quan Chưởng) và biết bao liệt sĩ khác đã hy sinh bảo vệ thành Hà Nội.





NGUYỄN ĐỒNG

   Nguyễn Đồng, đỗ cử nhân võ, người ở phường Bích Câu, là người bộc trực nghĩa khí. Nguyễn Đồng khi đó tuổi đã ngoài 50, từ xưa tới nay vẫn nổi tiếng là bậc: "Anh hùng tiếng đã gọi rằng, Ra đường thấy việc bất bình mà tha!”, đã khẳng khái nhận lời ủy thác của nhân dân đứng ra tổ chức nghĩa binh. Vốn là con nhà võ từng chỉ huy quân lính đánh trận, ông hiểu rõ, đánh thắng giặc chỉ có lòng dũng khí không chưa đủ mà còn phải là người khỏe mạnh, nhanh nhẹn, phải có vũ khí, phải biết tiến lui. Vì vậy ông chọn trong số những người tình nguyện trẻ tuổi, có vũ khí mở lớp huấn luyện cấp tốc dạy thế tiến, lui, cách lợi dụng vật cản che khuất và vật cản tránh đạn.

   Cũng vào thời gian đó Henri Rivière ráo riết chuẩn bị đánh thành. Cử nhân Nguyễn Đồng tập hợp quân ở đình Quảng Văn (Nay khu vực đình Quảng Văn thuộc phường Cửa Nam, Hà Nội) rồi kéo quân đến cửa Nam thành Hà Nội xin Tổng đốc Hoàng Diệu điều động lực lượng nghĩa binh đi đánh giặc.

   Khi đó Tổng đốc Hoàng Diệu đã cho bịt kín các cửa thành, việc đi lại giữa trong và ngoài thành đều dùng thang dây. Tổng đốc thân lên mặt thành khen ngợi tinh thần chiến đấu xả thân vì nước của đạo dân binh đông tới nghìn người do cử nhân Nguyễn Đồng chỉ huy. Tổng đốc yêu cầu Nguyễn Đồng về chấn chỉnh đội ngũ, trang bị thêm vũ khí để khi quân Pháp tấn công thành  thì đem quân đánh tập hậu, gây rối loạn đội hình giặc, đồng thời ngả cây, dựng chướng ngại vật cản đường quân giặc.

   Tổng đốc cũng tặng đội dân binh một số súng để tăng thêm nhuệ khí cho dân binh. Nguyễn Đồng nhận lệnh của Tổng đốc đưa quân về các phố phường, chia quân đóng giữ những nơi hiểm yếu. Nhân dân Hà thành đem gạo, thịt ủng hộ đội dân binh. Các cụ già cũng đến các đình, chùa, đền miếu mượn chiêng, trống, mõ phân phát trong dân để khi giặc tấn công thì đánh lên để hư trương thanh thế.

   Cử Đồng cũng không quên chia quân chủ động tấn công vào số giáo dân quá khích nghe lời xúi giục của một số gián điệp đội lốt cố đạo tập hợp thành các toán vũ trang đi cướp bóc, đốt phá các phủ huyện, các khu phố sầm uất, cướp đoạt của cải của nhân dân.

   Ngày 20/4/1882, quân Pháp tấn công thành Hà Nội thì ông chỉ huy gần 1000 dân binh đánh vào sau lưng quân Pháp, tiêu diệt bọn giáo dân tay sai của giặc. Nhân dân gõ chiêng trống, mõ, thổi tù và trợ chiến cho quan quân trong thành. Nhân dân Hà Nội bên ngoài ô cửa Nam, cửa Bắc còn tự tay đốt các dẫy phố của mình tạo thành bức rào lửa ngăn cản giặc.

   Sự hỗ trợ của dân binh đã gây phấn khích cho quan quân trong thành và làm cho quân Pháp khiếp đảm. Vì chúng đi tới đâu cũng nghe thấy tiếng reo hò, tiếng chiêng trống, tiếng mõ, tiếng thanh la, Henri Rivière phải cho một đội quân quay trở lại bắn như đổ đạn vào lực lượng dân binh chỉ có giáo, mác, gậy gộc trong tay. Song Nguyễn Đồng vẫn lợi dụng được sự thông thạo địa hình và sự dũng cảm của dân binh áp sát chân thành để trợ chiến.

   Cuộc chiến của quân và dân trong và ngoài thành đang diễn ra quyết liệt thì kho thuốc súng trong thành bốc cháy. Quan quân hoảng sợ, một số vượt tường thành chạy ra ngoài. Dân binh do Nguyễn Đồng chỉ huy cũng nhanh chóng tan vỡ.

   Thành Hà Nội mất, Tổng đốc Hoàng Diệu tuẫn tiết. Nguyễn Đồng và nhiều dân binh tham gia vào các lực lượng chống Pháp khác đang diễn ra trên địa bàn Hà Nội, Sơn Tây.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4838



« Trả lời #66 vào lúc: 29 Tháng Mười, 2011, 08:21:21 am »

DƯƠNG HỮU QUANG

   Trong trận quân Pháp hạ thành Hà Nội lần thứ hai, ngày 22 háng 4 năm 1882 , Dương Hữu Quang người làng Sơn Lộ (tên tục là làng So), tổng Đông Cứu, huyện Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây, nay thuộc xã Tân Hòa, huyện Quốc Oai, Hà Nội làm Tri huyện Thọ Xương, rồi Thương vụ quân sự Hà Nội. Khi quân Pháp đánh thành Hà Nội lần thứ nhất, dưới sự chỉ huy của Tổng đốc Nguyễn Tri Phương, ông chiến đấu tới khi thành bị vỡ mới thoát ra ngoài. Giữa năm 1883, Dương Hữu Quang được cử giữ chức Phòng binh tỉnh Sơn Tây, dưới quyền chỉ huy của Thống tướng Hoàng Kế Viêm (còn gọi là Hoàng Tá Viêm).

   Ngày 01/9/1883, tướng Bouet chỉ huy lực lượng quân viễn chinh Pháp ở Bắc Kỳ đích thân chỉ huy quân Pháp đánh thành Sơn Tây. Hoàng Kế Viêm kết hợp với quân Cờ Đen do tướng Lưu Vĩnh Phúc chỉ huy đón đánh quân Pháp ở Cầu Phùng. Dương Hữu Quang được giao nhiệm vụ chỉ huy một cánh quân đánh tạt sườn phía sông Hồng. Trận đánh diễn ra ác liệt từ ngày 1 đến ngày 3 tháng 9 năm 1883, quân Pháp đại bại phải tháo chạy. Tướng Bouet bị triệu hồi và bị cách chức.

   Sau chiến thắng ở Phùng, Dương Hữu Quang được lệnh của Thống tướng Hoàng Kế Viêm cùng các tướng tăng cường phòng thủ tỉnh Sơn Tây.

   Trận đánh diễn ra mười ngày, quân Pháp bị thiệt hại nặng nề, sau đó đại quân rút về Hưng Hóa. Dương Hữu Quang ở lại thu thập tàn quân, ông về ẩn náu ở chùa làng So, ông mượn áo tu hành để chiêu mộ quân đánh Pháp, vì thế nhân dân gọi ông là Tự So. Tại đây, Dương Hữu Quang thành lập hội Tín Nghĩa tập hợp những người yêu nước chống Pháp. Chỉ trong một thời gian ngắn, ông thu thập được hơn 40 sĩ tốt là những người chiến đấu gan dạ ở thành Hà Nội, Cầu Phùng và thành Sơn Tây. Song quân ít, vũ khí chỉ mới có hơn một chục khẩu súng bắn nhanh, còn lại là gươm, giáo nên chưa xuất trận lần nào.

   Người gia nhập Hội Tín Nghĩa càng đông, chẳng bao lâu, đội nghĩa binh lên đến vài trăm. Dương Hữu Quang trút bỏ áo nhà chùa mặc lại quần áo nhà binh, huấn luyện quân sĩ.

   Đội quân của Dương Hữu Quang hoạt động mạnh ở nội thành Hà Nội và các huyện Từ Liêm, Quốc Oai, Đan Phượng, Tùng Thiện. Đội quân của ông trang bị kém xa quân Pháp, nhưng nhờ tinh thần quyết chiến, quyết thắng, lại được nhân dân hết lòng ủng hộ, tiếp tế quân lương, thông tin các hoạt động của quân Pháp, tố cáo bọn Việt gian nên trận nào nghĩa quân cũng thắng.

   Vào một ngày giữa tháng 12 năm 1883, nghĩa quân được tin báo tên tuần phủ Ninh Bình gửi biếu tên công sứ Pháp ở Hà Nội một con voi. Dương Hữu Quang cho trinh sát đi nắm tình hình được biết bọn lính hộ tống voi sẽ đi qua trạm Hà Mai, xã Thanh Liệt, ông liền đặt quân mai phục đánh tan tác bọn hộ tống voi bắt được con voi.

   Năm 1885, nghĩa quân đột nhập vào nội thành đánh bọn lính Pháp đua thuyền trên hồ Hoàn Kiếm do giặc Pháp và tay sai tổ chức kỷ niệm 1 năm ký Hiệp ước 1884.

   Dương Hữu Quang chuyển địa bàn lên hoạt động ở tỉnh Sơn Tây. Thanh thế nghĩa quân ngày càng mạnh, thắng lợi tiêu biểu là trận Ngãi Cầu.

   Không đánh thắng được nghĩa quân Dương Hữu Quang trên chiến trường, giặc Pháp hèn hạ cho tên Quận Vùng vốn là bạn với Dương Hữu Quang, đã ra đầu hàng nhân làm tay sai cho giặc Pháp nhưng chưa lộ mặt. Hắn mời Dương Hữu Quang sang nhà hắn chơi rồi đặt quân mai phục ám hại. Dương Hữu Quang nhận được lời mời, ông định đi thì các tướng khuyên nên cảnh giác đem quân đi hộ tống. Dương Hữu Quang nói Quận Vùng là bạn bè đâu nỡ theo giặc hãm hại mình, nhưng vẫn nể các tướng đem theo 15 quân hộ vệ.

   Dương Hữu Quang đến nhà Quận Vùng, hôm đó là ngày 22 tháng 5 năm Quý Mùi (cuối tháng 6-1884), Quận Vùng hô phục binh đổ ra đánh. Mặc dù lực lượng ít, quân sĩ không đem vũ khí chỉ có đoản đao và dao găm lại bị bất ngờ, bị bao vây tứ phía, nhưng Dương Hữu Quang và các nghĩa binh đi hộ vệ đã kiên cường đánh trả bọn giặc, giết chết hơn ba mươi tên, nhưng nghĩa quân cũng hy sinh mất tám người. Dương Hữu Quang và các nghĩa quân còn lại cũng đều bị trọng thương. Tuy vậy anh em vẫn vừa đánh vừa phá vòng vây. Trên đường rút quân Quận Vùng cho quân đuổi theo, mặc dù thương tích đầy mình, anh em vẫn đánh trả, giết hơn một chục tên lính nữa. Khi họ đưa được chủ tướng về đại bản doanh thì ông đã mê man bất tỉnh.

   Tang lễ Thủ lĩnh nghĩa quân Dương Hữu Quang được tổ chức rất trọng thể.





LÃNH CỒ

   Lãnh Cồ còn gọi là Quận Cồ, tên chính là Phùng Văn Minh, người thôn Thanh Chiểu, xã Sen Chiểu, huyện Phúc Thọ, tỉnh Sơn Tây, nay thuộc tỉnh Hà Tây.

   Căm thù giặc Pháp và vua quan triều đình Huế, phong trào khởi nghĩa nổ ra ở khắp nơi. Phùng Văn Minh cũng giương cao cờ nghĩa chống Pháp. Vì nhà nghèo, lại không phải là người xuất thân khoa bảng, nên ông khởi nghĩa với hai bàn tay trắng. Nhưng do lòng yêu nước thiết tha và chí căm thù giặc sâu sắc, kiên quyết chiến đấu, nên dân nghèo gia nhập rất đông.

   Phùng Văn Minh lập căn cứ chống Pháp ở vùng rừng núi huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên, nay thuộc tỉnh Vĩnh Phúc. Để thu hút đông đảo nhân dân tham gia kháng chiến ông đã thành lập các đội tuyên truyền đi khắp nơi dịch loa tố cáo tội ác của giặc Pháp xâm lược nước ta và triều đình nhà Nguyễn đầu hàng giặc.

   Nghĩa quân và nhân dân phong ông là Lãnh Cồ, còn giặc lại gọi ông là Quận Cồ. Lãnh Cồ đã phát Hịch chống Pháp, thường gọi là Hịch Lãnh Cồ. Nhân dân theo lời phát động của ông đã hăng hái tham gia rất đông.

   Sau đây chúng tôi đăng nguyên văn:

         HỊCH LÃNH CỒ

      Tỉnh thành thất thủ, lệnh rút lui thực đã đắng cay;
      Quân thứ triệt phòng, chiếu ban xuống càng thêm chua chát.
      Như tằm ăn lá, gớm mưu quân Phú Lãng Sa
      Là giòi trong xương, mạt kiếp thằng Lương Văn Đạt
      Nên nỗi:
      Tình thế gian nguy;
      Cơ đồ tan nát,
      Cũng vì triều đình nhu nhược, tham sinh nên đã đầu hàng;
      Để cho quân giặc tung hoành, thừa thế ra tay tàn sát!

      Nhưng chúng ta
      Ở nước phải lo giữ nước, không nên giương mắt ngồi nhìn.
      Có thân thì quyết hiến thân, đâu nỡ co vòi chịu nhát.
      Có người có ta,
      Còn nước còn tát,
      Đọc chiếu Bình Ngô
      Noi gương Sát Thát
      Góp gió làm bão, đấu gạo, đồng tiền
      Chụm cây lên rừng, gậy tầy giáo vạt,
      Chí đã quyết sống còn với địch, chớ lo châu châu đá voi,
      Việc phải tin thành bại ở người, há sợ dã tràng xe cát.
      Nhớ những trận Cổ Đằng, Vân Mộng, chị ngã em nâng
      Ôn những lời Tòng Lệnh, Đông Viên con khen mẹ hát,
      Giữ dân làm gốc, chớ mong đục nước béo cò.
      Nuôi sức đợi thời, đừng có tham miếng bỏ bát,
      Những kẻ hại nòi, hại nước, xác xẻ thây vằm,
      Cùng ai đồng chí, đồng cừu, vai kề cánh sát.
      Vết xe cũ lìa đàn bên bị diệt, Đốc Khoát, Đề Công
      Tấm gương soi hợp lực dễ thành công, rừng Thông, Cầu Giáp
      Mấy lòng thiết tha
      Tỏ lòng khao khát.


(Tập san Văn Sử Địa số 35 tháng 12 năm 1957)

(- Phú Lãng Sa: Phiên âm Hán - Việt tiếng Francaice ( Pháp )
- Lương Văn Đạt : Tên Việt gian đã lẻn vào thành Sơn Tây cắm cờ tam tài trên cột cờ
- Cổ Đằng, Vân Mộng : Những địa điểm chiến đấu của nghĩa quân hồi đó.
- Tòng Lệnh, Đông Viên : Địa bàn hoạt động của nghĩa quân nay thuộc huyện
Ba Vì, Hà Tây.
- Đốc Khoát , Đề Công: Các thủ lĩnh nghĩa quân hồi ấy đã bị thất bại.
- rừng Thông, Cầu Giáp : Địa điểm chiến đầu của nghĩa quân).


   Nghĩa quân Lãnh Cồ lập được nhiều chiến công oanh liệt. Ông bị giặc Pháp bắt ba lần, cả ba lần ông đều vượt ngục trở về chiến đấu. Ông duy trì cuộc chiến đấu gần bẩy năm. Giặc Pháp gài tên Bình, tay sai của chúng vào hàng ngũ nghĩa quân. Trong trận chiến đấu ở làng Vật Lại ngày 13/6/1889, tên Bình bắn trộm vào sau lưng ông. Ông hy sinh ngay hôm đó. Nhưng trong truyền thuyết dân gian kể: "Trong một trận chiến đấu đẫm máu ở vùng thuộc xã Tiền Phong, tỉnh Sơn Tây, ông bị quân giặc chém gần đứt cổ. Ông giữ cổ cưỡi ngựa chạy đến một quán nước hỏi bà già: "Đầu tôi như thế này liệu sống hay chết?”. Bà hàng nước lắc đầu: "Đầu ông thế này thì chết!”. Thế là đầu Lãnh Cồ tự nhiên rơi xuống đất và ông hoá tại đó. Nhân dân vô cùng thương tiếc người anh hùng, chôn cất tử tế, lập miếu thờ cúng.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4838



« Trả lời #67 vào lúc: 29 Tháng Mười, 2011, 08:23:30 am »

LÊ VĂN THỨ

   Lê Văn Thứ còn có tên là Lê Văn Cúc, quê quán xã Tân An, tổng An Lưu Hạ, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam nay là phường Mân Thái, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.

   Ông vốn là một võ tướng thủy quân từ đời vua Thiệu Trị, Quản bát đội suất vệ. Đến đời Tự Đức ông từng chỉ huy thủy quân đánh dẹp giặc biển ở vùng biển Đông bắc.

   Từ năm 1858 đến 1873, đất Bắc Hà thường bị quân của Thái bình thiên quốc, Thiên địa hội của miền Hoa Nam chạy sang quấy nhiễu. Ông tham gia nhiều trận đánh dẹp, lập được nhiều chiến công, được phong lần lượt các chức Phó quản cơ rồi Quản cơ hàm Tứ phẩm.

   Trước nguy cơ quân Pháp đánh Bắc Hà lần thứ 2, vua Tự Đức cử Thượng thư bộ binh Hoàng Diệu làm Tổng đốc Hà - Ninh để phòng thủ Hà Nội. Hoàng Diệu biết rõ tài cầm quân của Lê Văn Thứ liền xin vua Tự Đức cho về thành Hà Nội trợ giúp. Ông được triều đình thăng Quyền kinh Hà Nội thủy sư, thăng thự Cấm binh trấn thành Hà Nội.

   Ông đã cùng binh lính chiến đấu rất hăng hái và lập được nhiều chiến công song do thế giặc quá mạnh, quân giặc ào ạt tràn vào từ cửa Nam, đánh vào sau lưng nên quân ta bị núng thế. Ông hy sinh ngay trên mặt thành Cửa Bắc, tay vẫn nắm chắc thanh gươm đẫm máu giặc.

   Tin Hoàng Diệu tuẫn tiết, Lê Văn Thứ hy sinh báo về kinh đô, vua Tự Đức vô cùng thương tiếc cấp tiền bạc lo tang lễ. Ông được vua Tự Đức ân sủng sai quân lính đưa quan tài về quê an táng. Tự Đức còn ban tặng một chiếc ngai vàng chạm rồng để thờ ông. Mộ ông hiện ở khối Tân An, phường Mân Thái, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. Thành phố Đà Nẵng hiện còn có phố mang tên ông.






HỒ BÁ ÔN

   Hồ Bá Ôn tự là Công Thúc, hiệu Tùng Viên, sinh năm Giáp Dần (1854) quê ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, ông là người thông minh, khảng khái.

   Ông thi Hương khoa Canh Ngọ, Tự Đức thứ 23 (1870), tại Nghệ An, đỗ cử nhân năm 27 tuổi. Ông đỗ Ất khoa kỳ thi Hội năm Tự Đức thứ 28 (1875) ở tuổi 22. Ông làm đến chức Hàn lâm viện Kiểm thảo, sung Biên tu Nội các rồi Tri huyện Hương Thủy. Năm 1877 thăng hàm trước tác, lĩnh chức Thừa chỉ Nội các rồi chuyển làm Thị độc. Năm Tự Đức thứ 34 (1881), lĩnh chức Án sát Nam Định.

   Ngày 25 tháng 4 năm 1882 quân Pháp hạ thành Hà Nội, các quan tỉnh Nam Định đã hội nghị nhận định sớm muộn quân Pháp cũng đánh chiếm tỉnh thành Nam Định và các tỉnh thành khác ở Bắc Kỳ, và lần này chúng sẽ chiếm đóng vĩnh viễn chứ không trao trả như lần trước. Vì vậy các quan tỉnh mà hăng hái nhất là Án sát Hò Bá Ôn, Đề đốc Lê Văn Điếm đã tích cực chuẩn bị mọi mặt để đối phó với giặc Pháp. Các quan tỉnh đã bất chấp lệnh của triều đình Huế lệnh cho các quân thứ Bắc - Trung Kỳ phải bãi bỏ các hoạt động chống Pháp. Án sát Hồ Bá Ôn cùng các quan tỉnh điều động quân ở các đồn về phòng thủ thành Nam Định.

   Ngày 24/2/1883, giặc Pháp đánh chiếm thành Nam Định. Trước hành động xâm lược của giặc, quan quân trong thành và nhân dân các phố phường khẩn trương chuẩn bị tiếp chiến.

   Sáng ngày 25/3/1883, Henri Rivière gửi tối hậu thư cho Tổng đốc Vũ Trọng Bình bắt phải nộp thành ngay sau khi nhận được tối hậu thư của giặc, Vũ Trọng Bình đã triệu tập các quan họp đột xuất. Cũng giống như ở triều đình Huế, quan lại chia làm hai phe chủ hòa và chủ chiến. Giữa lúc căng thẳng đó thì các quan nhận được tin Nguyễn Hữu Bản, con trai Án sát Nguyễn Mậu Kiến và Nguyễn Thành Thà đều đưa lực lượng nghĩa quân đến xin hợp tác cùng quan quân giữ thành. Tổng đốc Vũ Trọng Bình còn do dự thì Án sát Hồ Bá Ôn đã ra lệnh mở cửa thành đón hai đoàn nghĩa quân vào. Nguyễn Hữu Bản và Nguyễn Thành Thà vào thành đã làm cho lực lượng phía chủ chiến thắng thế. Hội nghị quyết định bác bỏ tối hậu thư của Henri Rivière. Tuy vậy khi Vũ Trọng Bình trả lời Henri Rivière vẫn giữ ý tứ mềm mỏng: "Thành do vua ủy thác, không thể giao nộp được!”.

   Sáng ngày 25/3/1883, quân Pháp định tấn công thành, nhưng sương mù, không nhìn rõ mọi vật, nên không tấn công được. Chúng cho lính đi trinh sát và tổ chức phá hủy 3 khẩu đại bác ở cổng thành phía Nam, rồi cho quân đổ bộ tấn công. Cửa Đông là nơi quân Pháp tập trung xung lực và hỏa lực tấn công ác liệt nhất. Biết rõ cổng thành phía Đông là mục tiêu đánh phá chủ yếu của giặc, Tổng đốc Vũ Trọng Bình thương ủy cho Án sát Hồ Bá Ôn cùng Đề đốc Lê Văn Điếm trấn giữ. Cùng giữ cổng này với hai ông còn có Nguyễn Hữu Bản chỉ huy dân binh. Các ông chiến đấu dũng cảm, đánh bật nhiều đợt xung phong của giặc, giết chết nhiều tên. Đến chiều tối chúng phải tháo chạy xuống tầu chiến.

   Ngay sau khi giặc tháo chạy, Hồ Bá Ôn cùng các tướng chỉ huy quân và dân củng cố thành, bịt hẳn ba cổng bằng các bao đất đá chỉ để lại cửa Tây.

   Bảy giờ sáng ngày 27/3/1883, quân Pháp bắn đại bác gắn dưới tầu cấp tập vào thành, mục tiêu đánh phá chính của chúng vẫn là Cửa Đông - Song dưới sự chỉ huy của án sát Hồ Bá Ôn và Đề đốc Lê Văn Điếm lệnh cho hàng trăm khẩu pháo nã đạn vào tầu giặc... Giữa lúc cuộc chiến đấu diễn ra gay go quyết liệt thì Tổng đốc Vũ Trọng Bình, Án sát Đồng Sỹ Vịnh bỏ thành chạy, Hồ Bá Ôn cùng cha con Nguyễn Thành Thà vẫn dũng cảm chỉ huy quân sĩ. Hồ Bá Ôn trúng đạn bị thương, ông vội buộc vết thương, tiếp tục chỉ huy quân sĩ đánh giặc. Ông lại bị trúng đạn lần thứ hai, ngã lăn ra đất. Khi quân sĩ đưa Nguyễn Thành Thà cũng bị thương ra khỏi thành, Hồ Bá Ôn không khỏi đau xót vì khó mà giữ được thành. Ông bị ngất lịm, quân sĩ khiêng ra ngoài. Khi tỉnh dậy ông biết là thành đã bị lọt vào tay quân Pháp, khí uất xung lên, bệnh càng trầm trọng. Quân sĩ đưa ông xuống thuyền, theo đường biển về quê ở Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu, Nghệ An phục thuốc. Việc tâu lên, vua ban cho 30 lạng bạc để chữa thuốc. Song vì vết thương quá nặng mới được một tháng thì mất. Năm ấy ông mới 41 tuổi. Vua được tin nói: "Không tránh cái chết mà mất theo thành hơn kẻ tránh cái chết xa lắm”. Rồi chuẩn cho đặc cách truy tặng Quang lộc Tự khanh và chiếu theo hàm mới mà cấp tiền tuất để khuyến khích những người khi lâm sự hết lòng tiết tháo.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4838



« Trả lời #68 vào lúc: 29 Tháng Mười, 2011, 08:26:38 am »

NGUYỄN DOÃN CỬ

   Nguyễn Doãn Cử, hiệu Bằng Phi sinh ngày 9 tháng 7 năm Tân Tỵ (1821), quê ở thôn Dũng Nghĩa, gần chùa Keo, nay thuộc xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.

   Nguyễn Doãn Cử là người phóng khoáng không chịu gò mình trong khuôn phép sách vở, nên đi thi mấy năm liền không đỗ. Mãi đến khoa thi năm Giáp Tý (1864) khi ông đã 43 tuổi mới đỗ cử nhân. Triều đình bổ ông làm Huấn đạo huyện Thanh Ba, tỉnh Hưng Hóa. Ba năm sau thăng tri huyện Lập Thạch, Tri huyện Hải Lăng. Năm 1874, Nguyễn Doãn Cử được triều đình bổ nhiệm làm Tuần phủ Sơn - Hưng - Tuyên cùng các quan văn võ triều đình cử lên lo việc phòng thủ. Nguyễn Doãn Cử đã cùng các tướng tiễu phỉ, củng cố thành lũy, trang bị vũ khí mới, khai khẩn đồn điền, ổn định đời sống nhân dân và duy trì phép nước nghiêm minh.

   Tháng giêng năm Tự Đức thứ 32 (1879), ông được triệu về triều làm giảng quan phủ Tôn nhân, thăng Hàn lâm viện Thị giảng, sung chức Biên tu Quốc sử quán. Bất chấp trước việc triều đình đầu hàng giặc Pháp, năm Tân Tỵ (1881), ông 60 tuổi, mượn cớ sức khỏe kém xin hưu trí.

   Đầu năm Quý Mùi (1883), Tổng đốc Vũ Trọng Bình làm sớ tâu với Tự Đức để Nguyễn Doãn Cử và Nguyễn Hữu Bản đưa hương binh vào giữ thành Nam Định. Sáng ngày 27/3/1883, quân Pháp từ tầu chiến bắn đại bác dồn dập vào thành. Quân ta kiên cường chiến đấu. Đề đốc Lê Văn Điếm hy sinh, Án sát Hồ Bá Ôn bị trọng thương đưa về quê ở Quỳnh Lưu, Nghệ An 2 tháng thì chết. Nguyễn Doãn Cử, Nguyễn Hữu Bản giữ cửa Đông là cửa quân Pháp tấn công ác liệt nhất. Quân Pháp bắn đạn đại bác sập cổng thành, đè lên người Nguyễn Hữu Bản, ông hy sinh. Nguyễn Doãn Cử động viên quân sĩ quyết tâm tiêu diệt thật nhiều quân Pháp trả thù cho chủ tướng. Tổng đốc Vũ Trọng Bình bỏ thành chạy, nhưng trước đó còn cho người tới Cửa Đông gọi ông về dinh để tránh nguy hiểm cho ông. Nguyễn Doãn Cử khảng khái trả lời: "Người về thưa với quan Tổng đốc rằng ta không thể rời bỏ nơi này và các nghĩa sĩ của ta. Xin đa tạ”.

   Đến trưa ngày 27/3/1883 thành vỡ, Nguyễn Doãn Cử cùng quân triều đình rút qua cửa Tây, giao quyền chỉ huy cho Bang Úc. Bang Úc phá vây rút về Thái Bình giữ phòng tuyến sông Hồng. Nguyễn Doãn Cử bị ốm phải nghỉ dưỡng bệnh, cử con trai là Nguyễn Doãn Chí cùng Bang Úc giữ tuyến phòng thủ sông Hồng.

   Sau khi thành Nam Định, Ninh Bình, Hưng Yên, Phủ Lý thất thủ, vua Tự Đức chết, Nguyễn Doãn Cử sống trong tâm trạng đau buồn.

   Năm 1885, Tôn Thất Thuyết, Phạm Thận Duật, Trần Xuân Soạn tấn công tòa Khâm sứ Pháp, đồn binh Pháp ở Mang Cá thất bại, liền hộ giá vua Hàm Nghi ra Sơn phòng Quảng Trị, hạ chiếu Cần vương. Nguyễn Doãn Cử khi đó đã 64 tuổi, bị ốm yếu, nhận được tin trên, ông phấn khởi, bật khỏi giường, lệnh gọi con trai cả là Nguyễn Doãn Chí đến bảo: "Mệnh thày chưa hết, thày sẽ khỏe để cùng mọi người cứu dân, cứu nước theo chiếu Cần vương. Thày rất mừng vì học trò của thày là Ưng Lịch - Vua Hàm Nghi đã thoát khỏi sự khống chế của phái chủ hòa, giương cao ngọn cờ cứu nước”.

   Nguyễn Doãn Cử qua đời ngày 12 tháng 2 năm Canh Dần (1890). Nguyễn Doãn Cử được phụ tế vào bậc tiền hiền trong văn chỉ hàng xã, văn từ hàng huyện và được nhiều gia đình ở Giao Thủy, Thư Trì, Vũ Tiên thờ phụng. Có người đã nói: "Ông sống nghiệp văn, chết được đưa tiễn bằng văn và lưu danh sử sách”.






NGUYỄN QUANG BÍCH

   Nguyễn Quang Bích nguyên họ Ngô, tự Hàm Huy, hiệu Ngư Phong, sinh giờ Thìn ngày 8 tháng 4 năm Nhâm Thìn (7/5/1832). Ông người làng Trình Phố, huyện Chân Định, sau đổi là Trực Định, phủ Kiến Xương, nay là huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Ông thông minh, học giỏi, nhưng mãi đến năm 27 tuổi mới thi đỗ tú tài. Năm Tân Dậu (1861), đỗ cử nhân, được bổ làm giáo thụ phủ Trường Khánh (Ninh Bình). Được hơn một năm, cha mất, ông ở nhà cư tang, dạy học. Khoa thi Mậu Thân (1868) ông thi Hội hỏng. Khoa thi Hội năm Kỷ Tỵ Tự Đức 22 (1869) nhân có khoa ân thi, ông thi đỗ Nhị giáp tiến sĩ Đình nguyên, lúc đó ông 38 tuổi. Ông được triều đình bổ nhiệm làm Tri phủ Diên Khánh (Khánh Hòa), sau thăng Tri phủ Lâm Thao (Phú Thọ). Vùng này trước đây mất an ninh, từ ngày ông về nhận chức thực hiện nhiều cải cách, thưởng người có công, trị kẻ có tội nghiêm minh, nên toàn huyện yên ổn, không có trộm cướp. Vì có tài trị an, ông được thăng Án sát Sơn Tây. Ông làm quan thanh liêm, thường trị quan lại nhũng nhiễu dân, được dân cư mến mộ. Giặc Pháp xâm lược, ông liên lạc với Lưu Vĩnh Phúc, tiến cử Lưu với triều đình làm "Bảo hưng phòng ngự sứ”. Lưu Vĩnh Phúc kính trọng ông vào bậc thầy.

   Sau đó ông được gọi về triều làm Tế tửu Quốc tử giám. Năm 1873, vua Tự Đức giao cho ông duyệt bộ Việt sử thông giám cương mục. Sau đó ông được bổ làm án sát Bình Định. Khi triều đình lập ban Doanh điền ở Hưng Hóa, Tự Đức cử ông làm Chánh sứ Sơn phòng Hưng Hóa. Năm Bính Tý (1876), ông được hàm Tuần phủ Hưng Hóa. Ông luôn luôn chăm lo đến đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Nhân dân gọi ông là Hoạt Phật (Phật sống). Trong thời gian ông giữ chức Tuần phủ Hưng Hóa, giặc Pháp hạ thành Hà Nội lần thứ 2 (25/4/1882), Nguyễn Quang Bích đã báo cáo ngay về triều đình dư luận Bắc Kỳ lo ngại vì quân Thanh kéo sang ngày càng đông. Nhưng Tự Đức không
nghe mà còn trách ông: "Đem lòng tiểu nhân để đo bụng người quân tử, lẽ nào người Thanh lại làm các cử động vô nghĩa ấy”.

   Từ ngày 1 đến ngày 3/9/1883, quân Pháp tiến đánh Sơn Tây, thành Sơn Tây thất thủ, Hoàng Kế Viêm rút về thành Hưng Hóa, có cả quân Lưu Vĩnh Phúc, quân Thanh ở Vân Nam, Quý Châu đóng giữ. Nguyễn Quang Bích khi đó là Tuần phủ kiêm trấn thủ Hưng Hóa đưa quân của Bố chánh Nguyễn Văn Giáp từ Lâm Thao sang hợp lực.

   Đến tháng 3/1884 hầu hết các tỉnh Bắc Kỳ đều lọt vào tay quân Pháp chỉ còn thành Hưng Hóa. Thành Hưng Hóa trở thành tỉnh lỵ của Tam Tuyên (Sơn Tây - Hưng Hóa - Tuyên Quang) án ngữ đường thủy sông Thao, đường bộ đi Hòa Bình, Nghĩa Lộ. Trong thành có quân triều đình do Thống tướng Hoàng Kế Viêm chỉ huy; quân Tam Tuyên do Nguyễn Quang Bích chỉ huy, quân Thanh do Sầu Dục Anh, chỉ huy quân Cờ đen Lưu Vĩnh Phúc chỉ huy đóng.

   Ngày 12/4/1884, thiếu tướng Négrier chỉ huy vượt sông Đà ở quãng Hạ Bì - La Thượng (nay thuộc xã Xuân Lộc, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ. Lúc đó lực lượng quân đội triều đình có quân chủ lực của triều đình do Hoàng Kế Viêm chỉ huy; quân đội địa phương do Nguyễn Quang Bích chỉ huy; hai đạo quân của nhà Thanh do Sầm Dục Anh, Lưu Vĩnh Phúc chỉ huy. Song do triều đình nhà Nguyễn đầu hàng nên Hoàng Kế Viêm rút quân vào Thanh Sơn, quân nhà Thanh rút khỏi Hưng Hóa, trong thành chỉ còn lực lượng do Nguyễn Quang Bích chỉ huy. Quân Pháp tấn công, thành Hưng Hóa thất thủ, Nguyễn Quang Bích rút quân về Tiên Động xây dựng căn cứ kháng chiến. Tiên Động là vùng hiểm trở có thể rút vào Yên Lập, triển khai xuống Cẩm Khê, lên Hạ Hòa, sang Thanh Ba được. Ông được vua Hàm Nghi phong Lễ bộ Thượng thư, sung Hiệp thống Bắc Kỳ quân vụ đại thần, tước Thuần Trung hầu. Cho phép ông được quyền lựa chọn, cất nhắc quan văn từ Tham tán, quan võ từ Đề đốc trở xuống được quyền tùy nghi tuyển dụng. Nghĩa quân Nguyễn Quang Bích ở căn cứ Tiên Động phải chống chọi với nhiều cuộc tấn công của quân Pháp, có tháng nghĩa quân phải đánh trả tới 15 cuộc tấn công.

   Giặc Pháp và tay sai không đánh thắng ông được trên mặt trận quân sự đã cho ngụy bố chính Hưng Hóa là Bùi Quang Thích và ngụy tri phủ Lâm Thao là Nguyễn Khắc Hợp lần lượt đến dụ hàng, nếu chịu giải quân ra làm quan, trở về làng sẽ được cấp hậu bổng. Sau đó thực dân Pháp lại cho bọn tay sai đầu sỏ viết thư dụ dỗ ông ra hàng sẽ được hưởng vinh hoa phú quý. Ông viết thư trả lời với giọng đanh thép: "... Nếu mà thắng mà sống thì là nghĩa sĩ của triều đình, nhưng chẳng may mà thua, mà chết thì cũng là quỷ thiêng giết giặc”.

   Giặc Pháp bắt mẹ ông bỏ tù, ông vẫn kiên quyết ở lại kháng chiến.Không đánh được Nguyễn Quang Bích bằng vũ lực, giặc Pháp cho tên bố chính Hưng Hóa Bùi Quang Tín, tri phủ Lâm Thao Nguyễn Khắc Hợp đến dụ dỗ bị Nguyễn Quang Bích cự tuyệt

   Tháng 11/1887, quân Pháp bất ngờ ập đến đánh, ông và Nguyễn Văn Giáp phải đi lánh mỗi người một nơi. Tháng 3 năm Mậu Tý (4/1888) quân Pháp huy động lực lượng lớn, dùng chiến thuật giương đông, kích tây. Một mặt chúng cho 40-50 quân kéo đến đánh đồn bên Tả để thu hút lực lượng nghĩa quân. Mặt khác quân Pháp bắt người địa phương dẫn đường cho toàn bộ quân Pháp xuyên qua đèo Lao Khê, Nha Sơn tấn công vào phía sau đồn Đèo Ách - nơi Nguyễn Quang Bích và bộ tham mưu đóng và chiếm được đồn Đèo Ách.

   Trước sự tấn công ác liệt của địch, Nguyễn Quang Bích và các tướng phải tránh vào các động Mèo rồi rút quân về thủ hiểm ở châu Phù Sa (tức huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ). Khi giặc rút, Nguyễn Quang Bích trở về căn cứ.

   Quân thứ nghĩa quân phải di chuyển luôn tháng 5/1888 (tháng 4 năm Mậu Tý) ông phải rút về Sơn Động. Để tránh các cuộc càn quét của quân Pháp, tháng 8/1888 phải dời đến châu Yên Lập. Tại đây Nguyễn Quang Bích đánh nhiều trận lớn, Đề Thành, Đề Mạc là những viên tướng đánh nhiều trận tập kích xuất sắc Trong hơn 1 năm, nghĩa quân đánh thắng quân Pháp nhiều trận, song sức khỏe của Nguyễn Quang Bích ngày càng sa sút.

   Tháng 9/1889 ông thấy bệnh tình của mình ngày càng trầm trọng, khó lòng qua khỏi, ông dặn con cháu đi theo phục dịch việc quân: “Ta đã đem thân hứa quốc, không cần người đi lại thăm nom vô ích; sau này, nếu có nhớ đến ta, cứ lấy ngày thành Hưng Hóa thắt hãm làm ngày giỗ ta”.

   Nguyễn Quang Bích đòi Pháp trả lại thành, đặt lại vua Hàm Nghi thì mới có hòa hảo được.

   Trong những năm kháng chiến, ông đã cùng nghĩa quân làm thất điên bát đảo quân giặc. Do tuổi cao, hành quân, chiến đấu liên tục, ăn uống kham khổ, sống trong vùng nước độc, sơn lam chướng khí, nên ông bị đau yếu liên miên. Tuy vậy ông vẫn gắng gượng cùng các tướng chỉ huy nghĩa quân chống các cuộc tấn công của giặc bảo vệ căn cứ. Tháng 11/1889, ông truyền lệnh cho các tướng lĩnh và các quân thứ phải chuẩn bị đầy đủ vũ khí, lương thực cho cuộc tấn công lớn vào năm sau. Không ngờ ngày 15 tháng chạp năm Canh Dần (1/1890), ông đột nhiên chuyển bệnh nặng rồi mất tại đại bản doanh nghĩa quân ở núi Tôn Sơn, khi mới 54 tuổi.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4838



« Trả lời #69 vào lúc: 29 Tháng Mười, 2011, 08:29:29 am »

NGUYỄN VĂN GIÁP

   Nguyễn Văn Giáp người làng Tả Thanh Oai nay thuộc huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây. Ông đỗ cử nhân được cử giữ chức Bố chính Sơn Tây nên gọi là Bố Giáp. Trong cuộc chiến đấu bảo vệ thành Sơn Tây có sự chỉ huy dũng cảm, mưu trí của Bố chính Sơn Tây Nguyễn Văn Giáp.

   Tháng 8/1885 Nguyễn Quang Bích thừa lệnh vua Hàm Nghi đi sứ Trung Quốc cầu viện thì Nguyễn Văn Giáp trực tiếp nắm quyền chỉ huy tối cao phong trào chống Pháp ở các tỉnh trung du Bắc Kỳ. Nguyễn Văn Giáp xây dựng căn cứ ở Thanh Mai từ đó hoạt động mạnh ở lưu vực sông Lô, sông Thao trên đường từ Việt Trì đi Thanh Ba lên tận Nghĩa Lộ. Một vinh dự cho Bố chính Nguyễn Văn Giáp cũng như lực lượng kháng chiến vùng sông Thao, sông Lô là ngày 10 tháng 7 năm 1885, vua Hàm Nghi thăng Bố chính Nguyễn Văn Giáp chức Tuần phủ Sơn Tây, sung Tham tán Hiệp đốc Bắc Kỳ quân vụ.

   Giặc Pháp đã mở nhiều cuộc càn quét lớn để diệt nghĩa quân song không thực hiện được. Vì vậy, trong các căn cứ quân sự của các thủ lĩnh nghĩa quân ở hai tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Yên giặc Pháp coi cứ điểm quân sự Thanh Mai của Nguyễn Văn Giáp là nguy hiểm số 1. Nhằm tiêu diệt cứ điểm quan trọng này bộ chỉ huy quân sự Pháp ở Trung Kỳ, Bắc Kỳ điều động trên 6000 quân, có đại bác, tầu chiến, công binh yểm trợ tới mức tối đa do tên tướng Giame chỉ huy tiến đánh Thanh Mai. Quân Pháp chia làm ba mũi tiến quân.

   Nghĩa quân Nguyễn Văn Giáp chặn đánh giặc từ xa. Đạo quân thứ ba của quân Pháp khi đến Thạch Sơn, đã bị đội quân tiền tiêu do Tán Dật chỉ huy đánh trả dữ dội. Đạo quân thứ nhất và thứ hai cũng bị nghĩa quân chặn đánh ghìm chúng tại chỗ. Vì thế mà chúng tiến quân từ sáng 23/10/1885 nhưng mãi đến ngày 25/10/1885 chúng mới vào được Thanh Mai. Đến đâu chúng cũng bị đánh, nhiều tên bỏ mạng tại vùng phụ cận Thanh Mai, trong đó có tên quan ba pháo binh Piétri Camille, chúng không đem xác đi được phải chôn tại chỗ.

   Khi quân Pháp lọt được vào Thanh Mai, thì nghĩa quân lợi dụng đêm tối dùng thuyền nhẹ bơi qua đồng nước rút khỏi các vị trí chiến đấu. Những nghĩa quân hy sinh được chôn cất, người bị thương được đem đi theo cùng toàn bộ vũ khí.

   Rút khỏi Thanh Mai, nghĩa quân phân tán làm hai lực lượng: Nguyễn Văn Giáp sang Tiên Động hợp lực với Nguyễn Quang Bích; Tán Dật ngược sông Hồng lên xây dựng căn cứ mới ở Lang Sơn, Phi Đình, huyện Hạ Hòa.

   Sau khi tới căn cứ Tiên Động, Nguyễn Văn Giáp nhiều lần đưa quân đi đánh Cẩm Khê, đánh các đồn lẻ của quân Pháp dọc sông Hồng. Nguyễn Văn Giáp cùng các tướng bảo vệ vững chắc căn cứ Tiên Động. Tên đại úy Lơ Bicô (Le Bico) nhiều lần đem quân tấn công Tiên Động đều bị nghĩa quân đánh cho đại bại.

   Nguyễn Quang Bích, Nguyễn Văn Giáp nhận định Tiên Động có địa hình hiểm trở, thuận tiện cho công tác phòng thủ, nhưng quá chật hẹp, khó phát triển và liên hệ với các nơi, nên hai ông chủ động rút về xây dựng căn cứ mới ở Nghĩa Lộ để tác chiến lâu dài. Biết rõ thế nào quân Pháp cũng đuổi theo, ông cử Nguyễn Văn Giáp đi sau chặn giặc. Song quân Pháp được tăng viện, truy kích, Nguyễn Văn Giáp phải đưa quân rút lên Sa Pa, rồi chuyển sang hoạt động ở Lai Châu.

   Tháng 7/1887, Nguyễn Văn Giáp vào tận Nghệ An phát động đồng bào các dân tộc ở miền Tây nổi dậy chống Pháp.

   Tháng 10/1887 ông trở lại Nghĩa Lộ hoạt động quân sự ở Nghĩa Lộ, Yên Bái, lưu vực sông Đà. Hàm Nghi năm thứ 3, tháng 10 (11/1887) Nguyễn Văn Giáp hy sinh tại căn cứ.





ĐỐC NGỮ

   Đốc Ngữ tên thật là Nguyễn Đình Ngữ, sinh năm 1850, quê ở làng Xuân Vân, tổng Xuân Trù, nay thuộc xã Xuân Phú, huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây. Ông đi lính, sau giữ chức cai đội trong quân đội của Thống tướng Hoàng Kế Viêm đóng ở thành Sơn Tây. Ông tiễu phỉ lập được nhiều công lao, được phong là Đốc binh. Từ năm 1880, Đốc Ngữ chỉ huy một đội quân đóng ở thành Sơn Tây. Ông tham gia đánh trận Cầu Giấy lần thứ 2, ngày 19/5/1883 giết chết Henri Rivière.

   Sau Hiệp ước Harmand, Hoàng Kế Viêm theo lệnh triều đình rút quân về Huế, Đốc Ngữ ở lại cùng Bố chính Nguyễn Văn Giáp giữ thành Sơn Tây. Khi quân Pháp bại trận ở Phùng, Bố Giáp giao cho ông bảo vệ chiến lũy Phù Sa, tiền đồn của thành Sơn Tây. Sau khi chiếm Hà Nội, Nam Định, Bắc Ninh... thì một mục tiêu quan trọng cần phải đánh chiếm của quân Pháp là đánh chiếm thành Sơn Tây. So sánh lực lượng lúc đó thì quân Việt trong thành Sơn Tây có 25.000 người (kể cả quân Cờ Đen). Quân Pháp ở Bắc Kỳ khi đó có 8.000 quân, không kể thủy binh trên một số pháo hạm do Thiếu tướng Hải luân Cuốcbê (Courbet) chỉ huy.

   Phán đoán quân Pháp tiến đánh Sơn Tây (cách sông Hồng 1000 mét). Quân Việt bố trí phòng thủ ở Phù Sa (thuộc huyện Phú Lộc, phủ Quảng Oai, Sơn Tây). Chỉ huy đồn Phù Sa là Đốc Ngữ.

   Bẩy giờ sáng ngày 14 tháng 12 năm 1883, pháo binh Pháp bắn dữ dội vào thành Phù Sa, rồi tấn công Phù Sa bằng hai mũi. 11 giờ quân Pháp chiếm được xóm Chiêu thuộc Phù Sa, 13 giờ chúng đến cách chân thành Phù Sa 500 mét, chúng bắn pháo dữ dội vào khu vực đặt thần công của quân Việt. 14 giờ Hoàng Kế Viêm phái một cánh quân từ thành Sơn Tây đánh tạt sườn quân Pháp, nhưng không đẩy lùi được chúng. 16 giờ quân Pháp nổi kèn xung phong, Đốc Ngữ thân chỉ huy quân thành Phù Sa kháng cự mãnh liệt đẩy lùi nhiều đợt xung phong của giặc. Chỉ trong ngày 14 quân đồn Phù Sa đánh thương vong 250 quân Pháp, trong đó có 13 sĩ quan. Đêm 14 rạng ngày 15 Đốc Ngữ nhiều lần tấn công vào các vị trí đóng quân của quân Pháp, song không đẩy lùi được chúng. Sáng ngày 15 thấy không thể đánh lui được quân Pháp, Đốc Ngữ được lệnh rút về thành Sơn Tây.

   Rạng sáng ngày 15/12, Cuốcbê cho quân nghi binh ở cửa Bắc rồi tấn công cửa Tây. Chúng còn cách cửa Tây khoảng 300 mét thì bị quân trong thành bắn ra dữ dội, quân Pháp bị thiệt hại nặng nề. Nhưng đến 17 giờ 45 phút quân Pháp phá được cổng thành cửa Tây, tràn vào thành. Cuộc chiến đấu giáp lá cà diễn ra suốt đêm.

   Tảng sáng ngày 17/2, quân Việt đốt hết kho lương thực, súng đạn rồi rút về phía Bắc thành Sơn Tây. Kết thúc chiến dịch, quân Pháp chết và bị thương khoảng 350 tên, trong đó có 22 sĩ quan, phía quân Việt chết khoảng 2.000.

   Thành Sơn Tây bị quân Pháp chiếm. Năm 1887, thủ lĩnh Nguyễn Văn Giáp hy sinh, Nguyễn Đình Ngữ tập hợp quân sĩ; chiêu mộ thanh niên dân tộc Việt, dân tộc Mường ở các huyện Thanh Sơn, Thanh Thủy và vùng bên kia sông Đà tiếp tục đánh Pháp. Nghĩa quân của ông hoạt động mạnh ở Hòa Bình, Sơn Tây, làm chủ vùng Chợ Bờ, Yên Lãng. Với cương vị là phó tướng đạo Hà Ninh (Hà Nội - Ninh Bình), ông nhiều lần đưa quân đột nhập vào Hà Nội, Hà Nam ngày nay tập kích các đồn binh Pháp, tiễu trừ bọn việt gian thân Pháp. ông phát động nhân dân chống quân Pháp bắt lính, bắt phu.

   Đốc Ngữ là một viên tướng xuất sắc, các tướng tá Pháp mặc dù không muốn, chúng cũng phải ca ngợi; trung tướng Pennequin viết trong báo cáo của hắn: “Trong cuộc khởi nghĩa của người An Nam, các thủ lĩnh của họ đã chỉ huy quân đội như là những sĩ quan cừ khôi. Họ biết lựa chọn và sử dụng địa hình, sắp xếp quân lính. Bản thân tôi đã trông thấy Đốc Ngữ điều binh. Ông đã biết chọn vị trí bảo vệ mạng sườn cho quân mình, nhìn ra điểm yếu trong đội hình tấn công của quân ta. Phải chăng đến ngày nay (năm 1911) chúng ta vẫn còn thấy Đề Thám bất khuất trong cuộc chiến đấu, không bao giờ nản chí. Đây là một người anh hùng đáng được chúng ta hết lòng khâm phục cũng như tất cả người An Nam khâm phục ông ta”.

   Một sĩ quan Pháp khác từng đem quân đánh nhau với Đốc Ngữ cũng phải viết về ông với những lời lẽ khâm phục:
   "Những ai theo dõi, từ năm 1889, lịch sử của những trận nội chiến (những cuộc hành quân càn quét của giặc Pháp) của chúng ta đều nhớ lại rằng: hơn hẳn, mọi người khác, Đốc Ngữ là người quyết liệt nhất và may mắn nhất trong số những kẻ thù của chúng ta (người Pháp). Đốc Ngữ chiếm được ở người An Nam một uy tín và một ảnh hưởng mà không một người Pháp hay người bản xứ nào có thể sánh bằng. Rất khôn khéo, chỉ tấn công khi nắm chắc thắng lợi, không bao giờ chịu lùi bước trước những lực tượng to lớn của quân đội Pháp. Đốc Ngữ bao giờ cũng lừa đánh chúng ta một đòn đẫm máu... Một lần vào tháng 3 năm 1891, ông ta phải lùi bước lực lượng của chúng ta, nhưng sau 7 giờ chiều đấu liền và không hề rơi vào tay chúng ta một người bị thương hay một khẩu súng. Chúng ta phải đương đầu với một kẻ thù ghê gớm, biết chỉ huy và chiến đấu giỏi”.

   Với chính sách chia rẽ người Việt (Kinh) với đồng bào các dân tộc thiểu số, quân Pháp dùng tiền, gái, thuốc phiện, chức tước mua chuộc các tên Đinh Văn Lan, Đinh Văn Thiệu làm phản. Tháng 8/1892, bọn chúng lại lẻn vào bản bộ ám sát Đốc Ngữ và 9 tướng tâm phúc.

   Đồng bào các dân tộc Việt - Mường - Dao vô cùng thương tiếc vị thủ lĩnh đánh Pháp xuất sắc và rất mực thương dân. Cái chết của ông và của các tướng tâm phúc khiến cho lực lượng nghĩa quân tan rã.

   Nhớ ơn Đốc Ngữ, đồng bào dân tộc Mường và Dao đã lập đền thờ ông ở Suối Trùng, xã Tân Lập. Làng Xuân Vân cũ, xã Xuân Phú, huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây bị lở xuống sông Hồng, nhân dân chuyển đến nơi ở mới cũng lập đền thờ ông - người con ưu tú của quê hương.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM