Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 07 Tháng Mười Hai, 2022, 08:28:40 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: 284 Anh hùng hào kiệt của Việt Nam  (Đọc 156912 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4826



« Trả lời #30 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2011, 03:53:15 pm »

Năm Ất Sửu Tự Đức thứ 18 (1865) triều đình thăng ông làm Thự Hộ bộ thượng thư sung Cơ mật viện đại thần cơ mật. Ông xin đặt 4 tuyên phủ sứ ở các địa đầu: về Quảng Trị thì ở 9 châu Cam Lộ; về Bình Định thì ở nơi cùng cực về địa giới phía tây trên tổng An Tây; về Nghệ An thì ở phủ Trấn Tây; về Hưng Hóa thì ở phủ Điện Biên, xây thành làm tường giao dịch chợ búa, ngoài sửa thuế thương chính, mà ngụ ý về quân chính. Ông lại xin lập thổ tù đời đời được tiếp tập mà liệu đánh thuế khiến cha con anh em họ cùng nhau ngăn giữ. Đình thần cho lời trình bày thư có ý kiến làm mạnh vững nơi biên phòng, xin mật tư cho các tỉnh dò xét rồi phúc lại, nhưng việc rút cục không thành.

Năm Tự Đức thứ 26 (1873) vì Hộ bộ giấu lỗi rồi về hóa vật của nhà nước, phải giáng Thị lang, rồi khôi phục Tham tri vẫn thự Thương thư. Tuy thất vọng nhưng Phạm Phú Thứ vẫn nén lòng chờ đợi cơ hội thuận lợi để thực hiện nguyện vọng của mình là cách tân đất nước.

Năm Tự Đức thứ 27 (1874) ở Bắc kỳ mới mở tòa Thương chính, các nước tới họp đông đúc, qua lại thành thù ứng, sự thể nặng nề. Vua cho Phú Thứ am hiểu và tài cán lão luyện từng dự vào khu phủ, biết rõ trước sau, đổi thự Hải Dương Tổng đốc kiêm sung Tổng lý thương chính đại thần.

Nơi ông đến nhận chức đầy rẫy khó khăn, trước đó bị giặc Tạ Văn Phụng, tay sai của giặc Pháp đánh phá. Tỉnh thành lại bị giặc Pháp đánh chiếm năm 1873 vẫn tan hoang. Nhưng mối nguy hiểm nhất vẫn là sau nhiều năm đê Văn Giang (Bắc Ninh), đê sông Đuống, đê sông Thái Bình vỡ, cả tỉnh Hải Dương mùa mưa năm nào cũng chìm trong nước, hơn 20.000 dân Hải Dương bị đói. Ông tổ chức ngay việc chẩn cấp cho dân đói. Với cương vị Tổng lý Thương chính đại thần Phạm Phú Thứ ra lệnh cho quan tỉnh Hưng Yên mở kho xuất 50 vạn phương thóc cho dân đói và khuyến khích nhà giàu mở lẫm lúa để cứu đói cho dân làng. Để cứu đói lâu dài, ông tổ chức cho nhân dân khai hoang, trồng cây ngắn ngày; cho mở các công trình thủy lợi ở Đông Triều, Nam Sách (Hải Dương).

Phạm Phú Thứ có chủ trương và đề ra biện pháp cụ thể khôi phục tỉnh thành Hải Dương bị giặc Pháp tàn phá nặng nề; ông cho đào rộng thêm một đoạn sông ở phủ Bình Giang để thuận tiện cho giao thông đường thủy. Ông thành lập nha Thương chính Ninh Hải để cùng với Lãnh sự Pháp đưa cảng Hải Phòng vào hoạt động. Để phát triển giáo dục, ông cho mở trường dạy học, mở lớp dạy tiếng, dạy chữ Pháp ở Hải Phòng. Với ý thức phổ biến khoa học kỹ thuật tiên tiến của phương Tây, ông cho khôi phục Nhà xuất bản Hải học đường tại tỉnh lỵ Hải Dương có từ thời Gia Long (1802-1805). Nhà xuất bản này đã xuất bản bốn cuốn sách của phương Tây đã dịch từ tiếng Anh ra tiếng Hán là: Bác vật tây liên (Khoa học tự nhiên), Khai môi yếu pháp (Phương pháp khai mỏ), Hàng hải kim châm (Kỹ thuật đi biển) , Vạn quốc công pháp (Công pháp các nước).

Phạm Phú Thứ còn quan tâm một số vấn đề về khoa học công nghệ như quy trình đúc súng, khai thác than đá, khai thác quặng sắt và luyện thép, sản xuất đồ dùng bằng thủy tinh theo quy trình công nghệ. Ông cũng quan tâm đến hóa học như giải thích tính năng, tác dụng của chất Axit sunfuric trong công nghệ. các sách xuất bản và các buổi diễn thuyết của ông về khoa học phổ cập được nhiều giới công thương, nhân dân quan tâm và có liếng vang trong xã hội đương thời.

Ông không những quan tâm về các vấn đề kinh tế công thương nghiệp, thủy lợi, nông nghiệp, giáo dục mà còn tổ chức lực lượng trang bị vũ khí hiện đại, phương tiện hoạt động cho lực lượng phòng thủ bờ biển, hải đảo và biên giới.

Phạm Phú Thứ đi đường qua Thanh Hóa có hỏi hết Phan Đức Trạch, trước khi làm niết sự ở Thanh (bấy giờ lĩnh Bố chính ở Nam Định) làm việc phần nhiều không đúng, có tờ mật phong tâu lên. Vua giao tờ ấy xuống viện duyệt lại. Khi ông tới tỉnh thì tỉnh thành sau khi linh hỏa, dinh thự bị đốt phá, làng ấp tiêu điều, khi trước có bàn đặt nha thư để khai trương việc tuần phòng ở biển, đều chưa xây dựng. Phú Thứ hàng ngày cùng phó viện mới là Nguyễn Tăng, Nguyễn Đa Phương mưu xếp đặt công việc dần dần đã có manh mối. Gặp lúc đê huyện Văn Giang, tỉnh Bắc vỡ, nước lụt tràn qua bao phủ Bình Giang, Ninh Giang thuộc Hải Dương, dân đói phiêu lưu tản mát tới tỉnh đợi chẩn kể có hàng vạn mà kho không còn của để. Phú Thứ xin phân trích ở kho gạo Hưng Yên 5 vạn phương phát chẩn cho lại cho dân cầm cố đồ đạc cấp cho nhà có của. Lại phái thuộc hạ đem những người khỏe mạnh tới huyện Đông Triều cày cấy, khai khẩn sinh sống, chờ khi nước xuống cho về làng mạc, dân nhờ đó mới sống. Khi nha thự về thương chính đã xong, hội đồng lãnh sự mở cảng chiêu thương, một dải sông Cấm thuyền xe tụ họp đông đúc thành nơi lạc thổ.

Năm Bính Tý (1876), Tự Đức thứ 29, Phạm Phú Thứ đánh dẹp giặc biển ở đảo Cát Bà lưu dân yên nghiệp, đặt chức bang trưởng, đầu mục. Từ đó lưu dân Khâm Châu tràn sang không dám gây bạo loạn. Ông được phong chức Tổng đốc.

Năm Tự Đức thứ 31 (1878), ông được thăng thự Hiệp biện đại học sĩ vẫn lĩnh Tổng đốc. Ông tâu vua phái quân dẹp thổ phỉ nước 'Thanh là Lý Dương Tài quấy rối hai tỉnh Lạng Sơn, Bắc Ninh mà huyện Đông Triều - Nam Sách cũng tiếp cận. Vua cho Đề đốc Tôn Thất Hòe đem 500 quân lên đóng giữ. Ông tâu lính ở lâu chi phí rộng mà nhàn hạ dễ sinh trễ nải. Xét ra nơi đó ruộng đất bỏ hoang đến 21.800 mẫu có lẻ, xin cho đặt nha phòng khẩn, vừa phòng thủ, vừa khai khẩn. Vua y lời tâu cho thi hành. Cũng năm 1878, do quân buôn giảo quyệt khởi xướng phao đồn là gạo xuất cho người Pháp thì nghiêm cấm, xuất cho người Thanh thì buông tha... đều do Phú Thứ làm cả. Vua chưa tin, cho quan đi tra xét.

Năm Kỷ Mão (1879), Tự Đức thứ 32, gặp lễ thất tuần đại khánh của Hoàng hậu Từ Dũ, ông về kinh lạy mừng và xin được chuyển. Vua chấp thuận, cử người thay thế. Bọn con buôn gian xảo phao tin thất thiệt, khiến ông mật tấu xin ở lại. Đình thần nghị bàn cho rằng ông thiếu sự hòa hợp với người Pháp, mà nâng đỡ cho con buôn nhà Thanh. Ngoài ra ông còn bị Khâm sai Ngự sử đàn hặc tội danh, để cho anh em họ ngoại là Lương Văn Tiến cậy thế làm ăn phi pháp. Trong khi đó ông bị bệnh, phải xin về kinh chạy chữa và đợi xét án.

Năm Canh Thìn (1880), Tự Đức thứ 33, khi xét án dâng lên, vua giáng ông xuống hàm Quang lộc Tự khanh, giữ chức Tham tri ở Bộ Binh.

Năm Tự Đức thứ 34 (1881), ông được thăng Thượng thư bộ Hộ, đổi là Tổng đốc Hải Yên sung Thượng chính đại thần.
Về cuối đời trên cương vị trọng thần, ông chỉ góp phần vào cuộc "Nghị hòa ", giữa triều đình Huế với thực dân Pháp. Khi nghị hòa lâm vào bế tắc, ông bị ngự sử đàn hặc và bị triệu về kinh "Hậu cứu”.

Năm 1887, ông 68 tuổi xin về nghỉ, rồi mất.

Ông mất trong tỉnh cảnh bi đát của đời mình và giữa những ngày rối như tơ vò của triều đình trước họa xâm lược của thực dân Pháp.

Sau khi ông mất, triều đình xét kỹ công lao, truy phục Khâm sai đại thần hàm nhất phẩm với tước phong “Vinh lộc đại phu trụ quốc hiệp biện đại học sĩ”.

Vua Tự Đức cũng thương tiếc, dụ rằng: “Phú Thứ kinh lịch nhiều khó nhọc, đi Đông, sang Tây, dẫu yếu đuối cũng vâng mệnh không dám từ chối. Về việc tới trông coi thương chính ở Hải Dương, khi tới nơi, công việc đều có manh mối, sau này nên lấy đó noi theo”. Những lưu dân, gian phỉ chứa ác ở Quảng Yên, ông tới kinh lý cũng được yên. Rồi mở đồn điền ở Nam Sách, thực là lo xa chu đáo, đó là công cán hàng ngày rực rỡ đáng nêu. Gia ơn cho truy phục nguyên hàm Thự Hiệp biện Đại học sĩ và chuẩn cho thực thụ, cũng sức cho địa phương tới tế một tuần”. (Đại Nam chính biên liệt truyện, tập IV. NXB Thuận Hóa. Huế. 1993).

Tang lễ ông tổ chức tại quê nhà, triều đình viết lời điếu có đoạn: “Phạm Phú Thứ kinh lịch nhiều nơi khó nhọc. Từ Đông sang Tây bồng bềnh chân mây mặt nước (đại hải trine trùng) đến Thương chính đại thần, dù sức yếu, chẳng từ nan. Mọi việc trước sau cho hoàn tất cả. Thật là đất Nam Trung hiếm có”. (Đại Nam chính biên liệt truyện, tập IV. NXB Thuận Hóa. Huế. 1993).

Phạm Phú Thứ còn nổi tiếng về sáng tác văn thơ, dịch thuật, nghiên cứu, bình luận thơ văn của các tác gia lớn như Tùng Thiện Vương, Tuy Lý Vương, Nguyễn Thông, Nguyễn Tư Giản…

Thơ văn Phạm Phú Thứ đề cập đến nhiều vấn đề lớn, nhỏ của đất nước. Ông quan tâm đến giặc ngoài từ phương Tây đến đang rình rập ở ngoài biển Đông.

Nhà sử học Trần Văn Giáp đã nói về văn thơ của ông: “Trúc Đường Phạm Phú Thứ có một số tác phẩm văn và thơ chữ Hán, dưới thời Tự Đức, vừa là tài liệu tham khảo về sử cận đại, vừa là phản ánh được sự chuyển biến tư tưởng của phái Nho học thời đó sau khi đã qua châu Âu đã nói lên sự đóng góp to lớn của ông đối với văn học nước nhà ở nhà sau thế kỷ XIX”. (Trần Văn Giáp: Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, tập II, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1999. trang 117-127)
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4826



« Trả lời #31 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2011, 03:55:57 pm »

VŨ ĐỨC KHUÊ

Vũ Đức Khuê sinh năm Quý Sửu (1793 ) người xã Hoa Đường, huyện Đường An, tỉnh Hải Dương, nay là thôn Lương Ngọc, xã Huỳnh Thúc Kháng, ở huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.

Vũ Đức Khuê thi Hương đỗ Hương cống khoa Tân Tỵ (Minh Mệnh thứ 2 (1821). Ông đỗ đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân khoa Nhâm Ngọ, niên hiệu Minh Mệnh thứ 3 (1822) khi 30 tuổi. Lúc đầu ông làm Hàn lâm Thị độc. Ông làm quan đến Hộ bộ Tham tri. Sau ông bị giáng xuống Tư vụ.

Tháng 2 năm 1859, quân Pháp đánh chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ, triều đình hạ lệnh cho các quan lại ở Nam kỳ được phép tiếp nhận những người tình nguyện gia nhập đội quân chính quy để đi chống giặc Pháp. Cho phép nhân dân Nam Kỳ rèn đúc vũ khí và tổ chức các đoàn hương dũng để tự bảo vệ nhà cửa, làng xã, cho phép sĩ phu Nam Kỳ chiêu mộ nghĩa quân thành lập đội ngũ để đánh giặc hoặc theo quân thứ của triều đình để chống giặc.

Vũ Đức Khuê đã hăng hái mộ quân nghĩa dũng đến quân thứ Biên Hòa để trợ lực với Hiệp tán quân vụ Thân Văn Nhiếp. Quân ta đắp thành đất ở núi Phúc Thắng (Biên Hòa) để bảo vệ pháo đài trên núi chống quân Pháp.

Ngày 16 tháng 12 năm 1861, quân Pháp mở chiến dịch tấn công vào lỉnh thành Biên Hòa. Vũ Đức Khuê cùng các tướng chỉ huy nghĩa quân chiến đấu quyết liệt gây cho quân Pháp bị thương vong nặng nề. Song quân Pháp thiện chiến, trang bị vũ khí tối tân, có đại bác yểm trợ, nên ngày 18 tháng 12 năm 1861 tỉnh thành Biên Hòa thất thủ. Tuần phủ Gia Định Đỗ Quang, Bố chánh Đỗ Thúc Tĩnh, Vũ Đức Khuê bị triều đình bắt đưa đi biệt xứ.

Vũ Đức Khuê trốn về Gia Định chiêu tập nghĩa binh liếp tục đánh Pháp. Sau triều đình ký hòa ước với Pháp, ông được phong Hồng lô Tự khanh, đi làm Tuyên phủ sứ Quảng Yên về Kinh làm Biện lý hình tu sự vụ. Sau ông được điều về làm Hộ lý Tuần phủ Quảng Yên. Giặc biển tay sai của thực dân Pháp vào đánh phá, ông kiên cường chỉ huy quân sĩ đánh trả và đã anh dũng hy sinh. Ông được truy tặng Bố chính Quảng Yên.

(Ông nghè ông cống Triều Nguyễn -
Trạng nguyên, Tiến sĩ, Hương cống Việt Nam -
Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội)





NGUYỄN TRUNG TRỰC

Nguyễn Trung Trực khi nhỏ tên là Chơn, khi giặc Pháp xâm lược, ông gia nhập quân thứ Trương Định mới đổi tên là Nguyễn Văn Lịch, sau đó lại đổi tên là Nguyễn Trung Trực. Ông sinh năm 1838 trong tầng lớp ngư dân ở xóm Nghè, xã Bình Đức, phủ Tân An, xưa thuộc tỉnh Định Tường, nay là tỉnh Long An.

Ngày 25/2/1861, ông tham gia chống quân Pháp ở Đại đồn Kỳ Hòa dưới sự chỉ huy của Nguyễn Tri Phương. Đồn Kỳ Hòa vỡ, ông cũng thu thập tàn quân ở Kỳ Hòa, tuyển thêm quân mới đánh quân Pháp hàng chục trận ở trên bộ và dưới sông tại ba tỉnh miền Đông.

Ngày 10/12/1861, ông chỉ huy quân đốt cháy tàu Hy Vọng do tên trung úy Bacfe chỉ huy 45 tên lính trên sông Vàm Cỏ Đông thuộc thôn Nhật Tảo. Nghĩa quân chỉ có 54 người đã tiêu diệt toàn bộ quân lính trên tàu quân tới cứu viện. Nghĩa quân hy sinh 4 chiến sỹ. Đây là trận đầu tiên quân ta nhấn chìm được tầu đồng của phương Tây giữa ban ngày khiến cho giặc Pháp phải kinh hoàng.

Sau trận này tiếng tăm của Nguyễn Văn Lịch nổi lên như một lãnh tụ nghĩa quân kiệt xuất bên cạnh tướng quân Trương Định. Triều đình Huế phong sung chức Quản cơ. Ông ra kinh đô Huế nhận chức rồi vào Hà Tiên làm Thành thủ úy.

Năm 1862, Nguyễn Văn Lịch tấn công tiểu hạm do đại úy Gougeard chỉ huy tại Vũng Gù. Ông còn tấn công đồn Thủ Thừa và đồn Tân Uyên nhiều trận dữ dội.

Ngày 16/2/1862, Nguyễn Văn Lịch lại đánh tầu tại bến Lức trên sông Rạch Tra. Trong trận này nghĩa quân táo bạo đánh giặc với phương thức hết sức thủ công, là nghĩa quân dùng sợi dây đôi buộc vào tầu rồi đứng trên bờ đồng thanh hò la kéo cho tàu chạy mắc cạn để phóng hỏa đốt tầu. Quân Pháp phải dùng súng bắn đá, nạp đạn bằng sắt để bắn trả.

Triều đình Huế dấn sâu vào con đường bán nước, thăng cho Nguyễn Văn Lịch chức Lãnh binh để điều ông ra miền Trung. Nguyễn Văn Lịch chống lệnh, trả chức tước của triều đình, đổi tên là Nguyễn Trung Trực, đưa nghĩa quân về cứ điểm Hòn Chông lập đồn trại, huấn luyện tân binh, xây dựng lực lượng. Ông còn có tên nữa là Quản Chôm (Chôm là Châu Trực, Trung Trực). Tại căn cứ Hòn Chông, ông được đồng bào ở Tà Niên, Đông Yên, Vĩnh Hòa, nhiệt liệt gia nhập nghĩa quân, ủng hộ quân lương, giúp nghĩa quân xây dựng đồn trại.

Khoảng ngày 10/6/1868, Nguyễn Trung Trực từ Hòn Chông theo đường biển vào sông Cái Bè rồi vào rạch Trà Niên. Tại đây ông chiêu tập được 100 nghĩa quân một cách nhanh chóng. Nghĩa quân chỉ được trang bị giáo, mác là chính để đánh đồn Kiên Giang (nay là thị xã Rạch Giá). Rạng sáng ngày 16/6/1868, nghĩa quân áp sát một cách bí mật chiếm được đồn.

Cay cú trước thất bại nhục nhã đó, ngày 18/6/1868, tên trung tá hải quân An Sa (Ansart) từ Vĩnh Long đem theo lực lượng lớn quân Pháp, chia làm ba cánh quân theo hai đường thủy bộ tiến đánh tỉnh lỵ Rạch Giá. Ngay trưa 18/6/1868, Nguyễn Trung Trực đã phán đoán quân Pháp sẽ tiến công, nên đã có kế hoạch tác chiến từ xa. Trước sức tấn công mãnh liệt của giặc có ưu thế về quân số và vũ khí, Nguyễn Trung Trực lui về đồn Kiên Giang. Trận này nghĩa quân làm chủ tỉnh lỵ được sáu ngày.

Nghĩa quân phải xuống thuyền trở lại Hòn Chông. Nguyễn Trung Trực phán đoán, quân Pháp có hạm đội ca nô, phần lớn là lính hải quân chúng sẽ bao vây chặt Hòn Chông mà tiêu diệt. Vì vậy nghĩa quân lấy 40 chiến thuyền do ông chuẩn bị từ trước vượt biển chạy ra đảo Phú Quốc. Khi tên Đômănggơ chỉ huy một cánh bộ binh từ Châu Đốc tiến qua Hà Tiên, men theo ven biển xuống Hòn Chông, thì loàn bộ nghĩa quân đã rút lui an toàn.

Nguyễn Trung Trực đổ bộ vào An Thái, cực nam đảo Phú Quốc, và được chánh tổng Nguyễn Văn Điền và Xã Ngợi rất ủng hộ. Sau đó ông dẫn quân lên đóng ở ven rừng Hàm Ninh, xây dựng trận địa phòng thủ.

Giặc Pháp đưa tên phản bội Huỳnh Văn Tấn, kẻ đã bắt Trương Định giao cho Pháp, nay được giặc cho làm lãnh binh tới bắt Nguyễn Trung Trực. Tên này đưa 125 lính tập trung dân làng, buộc mọi người phải chỉ dẫn chỗ ở của Nguyễn Trung Trực, nhưng không ai chịu nói. Tên phản bội sai lính treo ngược mọi người lên tra tấn dã man nhưng không ai khai một lời. Tin này truyền đến tai Nguyễn Trung Trực, ông không muốn vì ông mà nhân dân bị giặc tàn sát, bèn sai đổ quân lương xuống sông, giải tán nghĩa quân còn lại, sai người trói ông lại, giả là bắt được, dẫn về Đông Dương. Đến nơi ông đứng trên cồn bên Hữu Ngạn gọi Tấn đem thuyền ra đón. Giặc bắt được Nguyễn Trung Trực vào ngày 19/9/1868.

Bọn xâm lược Pháp và lũ tay sai ra sức dụ dỗ ông theo chúng, vẫn không lay chuyển được tấm lòng trung với nước của ông. Chúng đưa ông về Rạch Giá, kết án xử tử hình ông.

Ngày 27/10/1868, đưa ông ra xử tử hình công khai ở Rạch Giá. Ông bình tĩnh, đòi giặc mở trói, mặc lễ phục áo thụng, khăn đen đường bệ. Ông còn đòi cho nhân dân trong tỉnh đến chứng kiến để có dịp vĩnh biệt nhân dân.

Đao phủ hôm ấy không phải là người Việt Nam, và không ai muốn tự tay giết một vị anh hùng. Trước khi giặc hành quyết, ông dõng dạc tuyên bố: "Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam, thì mới hết người Nam đánh Tây”.

Khi đầu ông rơi xuống đất trong pháp trường cũng có người tự vẫn để tỏ lòng thương tiếc ông. Nhân dân xin thi thể ông về mai táng trọng thể. Ở Long Kiên, Rạch Giá vẫn còn mộ và đền thờ ông.

Tin Nguyễn Trung Trực hy sinh truyền đến triều đình Huế, vua Tự Đức, một người chủ trương chủ hòa cũng phải làm thơ nhiệt liệt ca ngợi ông.

Đền thờ Nguyễn Trung Trực ở Rạch Giá hàng ngày có hàng trăm người đến thắp hương tưởng niệm ông.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4826



« Trả lời #32 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2011, 03:58:27 pm »

PHAN TRUNG

Phan Trung tự là Tử Đan, tên hiệu là Bút Phong trước tên là Cự Chính. Tổ tiên gốc người Phúc Kiến, Trung Quốc, tổ bốn đời sang nước Việt cư trú tại Ninh Thuận, tỉnh Khánh Hòa. Ông là người cương nghị có khí tiết.

Năm Thiệu Trị thứ nhất (1841) đỗ Cử nhân, làm Tri huyện Tân Thịnh. Song vì có việc kiện tụng bị cách chức.

Năm Tự Đức thứ 14 (tháng 9/1861) ông đang là tùy phái Gia Định, đã chiêu mộ được 2000 nghĩa binh, thành lập 2 cơ. Đội quân của ông cùng với hơn 6000 quân của Trương Định, Phó quản cơ Gia Định, 2000 quân của Tri phủ Phước Long Nguyễn Thành ý, Tri phủ Phước Tuy, Gia Định hợp binh đánh Pháp nhiều trận. Ông được khôi phục quan tịch và thăng Thị giảng Học sĩ.

Cũng như Trương Định, Phan Trung chống lệnh bãi binh của triều đình. Từ sau tháng 8/1862 , Phan Trung vẫn ra vào vùng núi Gia Định, Định Tường, Biên Hòa để liêu diệt quân Pháp và bọn lính mã tà (dân đạo Thiên Chúa đi lính cho Pháp). Giặc Pháp rất hoảng sợ và căm tức, song không làm gì được ông.

Khi Phan Trung hoạt động ở Phan Rang (Bình Thuận) thực dân Pháp khiếp sợ, đòi quan tỉnh Bình Thuận phải giải tán nghĩa quân và bắt Phan Trung giao cho chúng. Triều đình Huế sợ quân Pháp, một mặt lệnh cho Phan Trung rút quân đi nơi khác, một mặt phái người đi gặp Pháp để dàn xếp.

Phan Trung chuyển nghĩa quân đến Phan Rang hoạt động Ông mang hàm Hàn lâm viện Thị giảng học sĩ và giữ chức Tri huyện.

Phan Trung đưa nghĩa quân đến khai thác đồn điền ở Tính Linh gần đồn Bảo Chính thuộc tỉnh Bình Thuận, giáp ranh khu vực quân Pháp chiếm đóng. Phan Trung chỉ mượn cớ mở mang đồn điền để sản xuất tích trữ lương thực, đồng thời đào hào, đắp lũy thành một cứ điểm quân sự. Hơn 500 người đang khai khẩn đồn điền là nghĩa quân trực chiến dưới quyền chỉ huy của Phan Trung từ năm 1861.

Giặc Pháp lo sợ nghĩa quân Phan Trung sẽ từ đồn điền uy hiếp chúng. Tháng 2/1865, nghĩa quân dưới sự chỉ huy của Phan Trung hoạt động mạnh ở Phan Rang (Bình Thuận), thực dân Pháp hoảng sợ yêu cầu quan tỉnh Bình Thuận ra lệnh giải tán nghĩa quân và bắt giao Phan Trung cho chúng xử lý. Triều đình ra lệnh cho Phan Trung chuyển quân đi nơi khác và cho người thương lượng với Pháp. Đến tháng 7/1866, chúng đòi triều đình Huế phải khám xét, xác định rõ ràng địa giới của đồn điền Bảo chính. Triều đình phải cử Nguyễn Văn Phương - Doanh điền sứ Bình Thuận - Khánh Hòa - Phú Yên đi làm việc này với ông mới được sung chức bổ Thị độc học sĩ, sung Khánh Hòa điền nông sứ, cấp cho ấn quan phòng và sai bọn dũng mộ đi khẩn điền. Bắt đầu đến nhận chức, Trung cùng với Bình Thuận Doanh điền sứ Nguyễn Văn Phương điều bắt dân phu đào con cừ Đồng Mới dài 1023 trượng, thủy thế làm cho hơn 2000 mẫu ruộng đất có nước cày cấy dân được tiện lợi.

Tháng 9/1867, quân Pháp lại ép triều đình Huế chuyển Phan Trung cùng số người đang khai khẩn đồn điền ở Tính Linh đi nơi đi nơi khác để bảo đảm an toàn cho chúng. Triều đình Huế phải nghe theo, liền cấp ấn “Khâm phái quan phòng” cho Phan Trung và bắt chuyển số "cựu nghĩa binh" đó đi khai khẩn đất hoang ở các tỉnh Khánh Hòa, Bình Định, Phú Yên để được lòng Pháp.

Năm Tự Đức thứ 32 (1879), Phan Trung được sung làm Tả trực kỹ khâm điểm (Quan ở địa phương được vua chấm về kinh chúc hỗ). Vua cho vời vào điện riêng. Trung tâu thưa từng khoản tường tận. Vua khen là người trung nghĩa khảng khái, cho bạt bổ thị lang Hộ bộ, vẫn sung chức Điền Nông sứ.

Năm Tự Đức thứ 35 (1883), Phan Trung được triệu về kinh. Năm đầu Phúc Kiến (1884), ông xin về nghỉ rồi mất, thọ 71 tuổi.





TRỊNH VIẾT BÀNG

Trịnh Viết Bàng người thôn Tân Định, nay là xã Định Trung, huyện Bình Đạo, tỉnh Bến Tre. Năm 1859, giặc Pháp đánh ba tỉnh miền Đông, ông tham gia phong trào chống Pháp do Trương Định lãnh đạo. Khi chủ tướng hy sinh (20/8/1864), ông với người con cả là Trịnh Văn Diệm và các ông Tô, ông Kiểu đưa một nhóm nghĩa quân rút về vùng cù lao An Hóa tại quê nhà vận động nhân dân gia nhập nghĩa quân, đào hào, đắp lũy, xây dựng căn cứ chống giặc.

Trịnh Viết Bàng tránh các trận đánh phá lớn của giặc, ông chia nghĩa quân thành từng nhóm nhỏ đột nhập vào các làng diệt những tên tay sai, mật vụ và đón đánh những toán quân Pháp nhỏ. Nghĩa quân được nhân dân che chở, bảo vệ, nên chúng không sao tiêu diệt hết được.

Trong một trận càn quét khu vực quanh làng Vang Quới, giặc không bắt được người nào đến chiều đành phải rút quân. Không ngờ neo tầu bị kẹt gốc dừa, bọn lính phải lặn xuống gỡ neo. Con chó của tên chỉ huy thấy trên bờ có con kỳ đà liền nhẩy lên đuổi bắt. Sợ chó bị lạc, tên chỉ huy dẫn một toán lính đuổi theo con chó. Con kỳ đà bị đuổi leo lên cây dừa. Con chó đuổi theo đứng dưới gốc cây dừa sủa ầm ĩ. Tên chỉ huy thấy lạ, đến nơi nhìn lên thì phát hiện ra trên đó có người đang trốn. Hắn bắn súng dọa để người trên cây phải tụt xuống, nhưng không kết quả, liền lệnh cho lính bắt sống người này. Thật là bất ngờ khi chúng phát hiện ra người đó là Trịnh Viết Bàng, người chúng mất bao công tìm kiếm. Giặc trói ông giải về Mỹ Tho. Mặc dù tay bị trói, ông vẫn đá lộn cổ hai tên xuống sông, toan nhảy xuống sông, nhưng bọn chúng đông đã giữ ông lại. Giặc giam ông ở Cồn Rồng. Chúng tra tấn, dụ dỗ mua chuộc nhưng không khai thác được ở ông điều gì. Chúng dọa tử hình ông và giết chết con cháu ông, nhưng ông vẫn thản nhiên, không khuất phục.

Ông biết giặc Pháp sẽ giết mình, ông đã dặn dò vợ và hai thủ hạ thân tín đã đóng giả vai họ hàng đến thăm là ông Mật và ông Kèo rằng: "Ta chết, bọn bay về nói lại với thằng Diệm, con của tao và ông Tô, ông Kiểu cùng với các chiến hữu còn lại không nên đau buồn nhiều, mà hãy cùng nhau ráng sức gây dựng lại lực lương, làm cho đặng việc lớn. Sau khi ta chết rồi, hãy đem xác ta chôn ở nơi ngã tư để cho con cháu và mọi người nhớ mà không theo giặc..”.

Thực hiện di chúc của ông, sau khi giặc xử chém ông ở Cồn Rồng, con cháu, nghĩa quân đưa thi thể ông về táng ở ngã tư Giồng Tre, cạnh lộ Đá, nay thuộc xã Định Trung, huyện Bình Đại. Nhân dân thương tiếc người anh hùng nên bất chấp giặc Pháp đóng đồn ở gần đó và lũ tay sai lảng vảng ở quanh Giồng Tre đã tổ chức lễ tang ông trọng thể. Bà con trong vùng vô cùng thương tiếc người anh hùng đánh Pháp kiên cường bất khuất. Cụ Đồ Chiểu ở Ba Tri xúc động gởi lời chia buồn vì không thể đến viếng được.

Sau đó ít lâu, ông Kiểu bị giặc Pháp bắn chết ở Vang Quới. Lực lượng nghĩa quân dần dần tan rã. Ông Tô qua ẩn náu bên Ba Tri rồi mất tích.

Cuộc chiến đấu do Trịnh Viết Bàng chỉ huy chấm dứt nhưng nhân dân vùng huyện Bình Đại ngày nay vẫn không quên công ơn của ông và các đồng chí, đồng đội của ông đã anh dũng ngã xuống trên vùng đất máu lửa này./.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4826



« Trả lời #33 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2011, 04:01:18 pm »

NGUYỄN HỮU HUÂN

Nguyễn Hữu Huân sinh năm 1841, người làng Tịnh Hà, huyện Kiến Hưng, tỉnh Định Tường (nay thuộc tỉnh Kiên Giang). Ông đỗ thủ khoa khoa thi Hương khi chưa đầy 20 tuổi, nên gọi là Thủ khoa Huân. Ông được cử làm giáo thụ huyện Kiến Hưng.

Ngày 17/2/1859, chiến thuyền của liên quân Pháp - Tây Ban Nha mở cuộc tấn công qui mô lớn vào tỉnh thành Sài Gòn, tỉnh thành Gia Định. Gia Định thất thủ, Nguyễn Hữu Huân đứng hẳn về phe những người chủ chiến.

Năm 1861, Nguyễn Hữu Huân khởi nghĩa chống Pháp, ông được bổ chức Phó quản đạo. Ông chia quân đi hoạt động khắp tỉnh Định Tường và đến các miền tỉnh Hà Tiên. Ông liên kết với quân của Âu Dương Lâu và của Võ Duy Dương. Quân các ông ít súng bắn nhanh, chủ yếu là giáo mác. Vì vậy ông đã quyên góp được nhiều tiền, giao thiệp với các chủ tàu buôn Hải Nam đế mua khí giới của Trung Hoa.

Khi quân Pháp tập trung quân càn quét, ông cho nghĩa quân phân tán, rút lui, lợi dụng địa hình, địa vật đánh theo lối du kích trên địa bàn rộng lớn từ Tân An đến Mỹ Tho. Sau hết lương thực, ông xuống Hậu Giang chờ khí giới chuyển sang. Khi thế cùng, lực kiệt, ông phải giải tán bớt nghĩa quân về ẩn náu ở Chợ Gạo, Định Tường mưu cuộc khởi nghĩa khác.

Năm 1863, khi quân Pháp bao vây, ông vượt vòng vây đến Châu Đốc, nhưng ông bị bọn quan lại của triều đình Huế bắt giao cho quân Pháp. Giặc Pháp hết tra tấn lại dụ dỗ ông ra làm quan cho chúng nhưng ông cự tuyệt, bị thực dân Pháp bắt đi đầy. Sau đó không khai thác được gì, chúng trả tự do cho ông, chưa kịp nghỉ ngơi, dưỡng sức, sau những năm bị đày ải ở chốn lao tù, ông lại hô hào nhân dân chuẩn bị khởi nghĩa. Nhân dân rất tin tướng, quý mến ông, gia nhập nghĩa quân do ông chỉ huy rất đông. Ông lại trở về Châu Đốc bổ sung lực lượng nghĩa quân, trang bị vũ khí đánh giặc.
Năm 1864, Achar Xva (Axoa) khởi nghĩa ở Ba Phnom (Cămpuchia), rồi chuyển sang Châu Đốc, Hà Tiên, dựa vào Việt Nam chiêu mộ người Việt gốc Khmer để tổ chức lực lượng nghĩa quân về đánh chiếm Campot. Achar Sva liên lạc được với lực lượng của nghĩa quân thủ khoa Huân, đánh thắng Pháp nhiều trận lớn.

Năm 1864, ông lại bị giặc Pháp bắt đày đi Côn Đảo. Sau đó đày sang đảo Reunion.

Năm 1874, triều đình ký hòa ước nhường lục tỉnh cho Pháp, chúng mới cho ông trở về. Quản thúc ở nhà Tổng đốc Đỗ Hữu Phong ở Chợ Lớn là tay chân đắc lực của Pháp và là nơi quen biết ông. Phong mở một tiệc lớn có đại diện bọn cầm quyền Pháp, Nam dự. Sau bữa tiệc nhiều người muốn xin thơ của ông làm kỷ niệm. Ông tức cảnh làm bài thơ bát cú, nói lên nỗi lòng tâm sự của mình và phê phán một số người ra làm quan cho giặc đàn áp dân.

Sau đó ông được trả tự do. Ngay khi được tự do, Nguyễn Hữu Huân lại cùng các văn thân Nam Kỳ như Âu Dương Lâu chiêu mộ quân đánh Pháp. Ông đặt đại bản doanh ở Long Trì. Lực lượng nghĩa quân đông tới 3000 người, đánh Pháp trên toàn tỉnh Định Tường nơi hoạt động chủ yếu từ Tân An đến Mỹ Tho. Cuộc khởi nghĩa lần thứ hai của Nguyễn Hữu Huân diễn ra trên địa bàn chủ yếu là Định Tường. Nhưng nhân dân Bến Tre đã nô nức hưởng ứng bằng cách tham gia nghĩa quân, ủng hộ lương thực, tiền bạc, để mua vũ khí.

Nguyễn Hữu Huân còn thường xuyên làm công tác vận động binh lính mã tà bỏ hàng ngũ địch về với nhân dân. Nhiều lính mã tà đem vũ khí về với nghĩa quân hoặc đào ngũ đi nơi khác làm ăn.

Đầu tháng 5 năm Ất Hợi (5/1875) quân Pháp huy động lực lượng lớn quân đội, cảnh sát chia làm nhiều ngả vây đánh nghĩa quân ở Long Trì.

Nghĩa quân dựa vào địa thế hiểm trở và đặc biệt được nhân dân ủng hộ về mọi mặt đã kiên cường đánh trả quân Pháp, giữ vững căn cứ trong nửa tháng. Quân Pháp bị thương vong nặng nề. Với dã tâm đè bẹp nghĩa quân, bắt hoặc giết cho được thủ lĩnh nghĩa quân Nguyễn Hữu Huân, giặc Pháp điều động thêm quân lính, súng đại bác đánh mạnh vào căn cứ Long Trì. Nghĩa quân tan vỡ, Nguyễn Hữu Huân phải rút quân về Chợ Gạo, sau đó ông trở ra Bình Thuận phát động cuộc khởi nghĩa lần thứ ba.

Giặc Pháp đánh mãi không được lại dùng thủ đoạn mua chuộc những kẻ thoái hóa trong hàng ngũ, nghĩa quân làm phản chỉ điểm cho giặc bắt ông. Chúng kết án ông tử hình.

Ngày 15 tháng 5 năm Ất Hợi (18/6/1875) ông bị giặc Pháp bắt đưa ra chợ Thôn Trong (tức chợ Phú Kiết) hành hình. Ông ung dung đọc bài thơ Hãn mã bày tỏ khí phách hiên ngang của mình.

HÃN MÃ

Hãn Mã gian quan vị quốc cừu,
Chủ nhân binh bại bù thân hưu
Anh hùng mạc bả dinh dự luận,
Vũ trụ trường khan tiết nghĩa lưu
Vô bố dĩ kinh hồ lỗ phách
Bắt hàng can đoạn tướng quân đầu
Dương niên Tho Thủy li ba huyết
Lang đảo thu phong khởi mộ sầu


Dịch thơ:

Ruổi rong vó ngựa báo thù chung
Binh bại cho nên mạng mới cùng.
Tiết nghĩa vẫn lưu cùng vũ trụ,
Hơn thua xá kể với anh hùng
Không hàng đầu tưởng đánh rơi xuống
Quyết thác không hàng rạng núi sông
Tho Thủy ngày rày pha máu đỏ
Đảo Rồng hưu hắt ngọn thu phong.


(Phan Bội Châu dịch)

Có sách chép bài thơ Tuyệt mệnh của ông như sau:

Hai liên thiên hạ thống hay không?
Một gánh cưng thường, há phải gông!
Oằn oại hai vai quân tử trúc
Long đong một cổ trượng phu tòng;
Sống về đất Bắc danh còn rạng
Thác ở Thành Nam tiếng bỏ không.
Thắng bại danh du ai khiến chịu
“Phản thần” đẻo quả đứa còn ông.


Ngâm xong bài thơ Tuyệt mệnh ông cắn lưỡi tự tử không chịu để giặc Pháp chém đầu.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4826



« Trả lời #34 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2011, 04:03:29 pm »

HUỲNH MẪN ĐẠT

Huỳnh Mẫn Đạt sinh năm Đinh Mão (1807) ở thôn Tân Hội, xã Tân Hội, huyện Tân Long, tỉnh Gia Định, nay là thành phố Hồ Chí Minh. Thuở nhỏ ông học giỏi. Ông thi đỗ cử nhân khoa Tân Mão (1831) dưới triều Minh Mệnh.

Dưới triều Minh Mệnh (1820 - 1840), Thiệu Trị (1841 - 1847), Huỳnh Mẫn Đạt giữ các chức vụ: Ngự sử đạo Ninh Thái (Bắc Ninh - Thái Nguyên). Khi ông giữ chức Án sát Định Tường, đã đánh dẹp thổ phỉ quấy nhiễu trong tỉnh. Khi làm Án sát Hà Tiên, hai lần ông chỉ huy dẹp phỉ, đem lại cuộc sống bình yên cho nhân dân. Sau đó ông được thăng Bố chính rồi Tuần phủ Hà Tiên.

Ông làm quan thanh liêm, luôn chăm lo đến việc ích quốc, lợi dân, nên được nhân dân kính trọng. ông là bạn thơ, bạn tri kỷ với Phan Văn Trị, Bùi Hữu Nghĩa. ông cùng Bùi Hữu Nghĩa sáng tác kịch bản vở tuồng Kim Thạch kỳ duyên. Ông nổi tiếng giỏi thơ Nôm ở đất Đồng Nai.

Sau đó vì nhiều viên quan tỉnh liên lụy đến vụ án chứa thuốc phiện, nên ông bị cách chức Tuần phủ Hà Tiên. Năm 1860 ông được khôi phục, giữ chức Án sát Định Tường.

Ngày 17/3/1861, quân Pháp cho 4 tàu chiến, 18 khẩu đại bác chiếm vùng vịnh Cù Úc và hải phận các cửa biển Đại Hải, Tiền Hải thuộc tỉnh Định Tường. Huỳnh Mẫn Đạt chỉ huy quân sĩ ra sức chống trả, nhưng vũ khí lạc hậu không chống nổi vũ khí hiện đại của phương Tây, nên thất bại. Ngày 29/3/1861, quân Pháp tấn công các đồn Tân Hưng, Tĩnh Giang, Cai Lộc. Mặc dù quân ta chiến đấu dũng cảm cuối cùng cũng phải rút lui trước hỏa lực mạnh áp đảo của giặc. Ngày 12/4/1861, quân Pháp lại đem 4 tầu chiến, 18 đại bác tấn công tỉnh thành Định Tường. Cũng như những lần chiến đấu trước, vũ khí lạc hậu của quân triều đình không chống được tầu chiến và súng Tây, nên các ông phải bỏ thành rút chạy. Tỉnh thành Định Tường lọt vào tay quân Pháp. Tự Đức bắt ông về kinh chịu tội. Đến tháng 11 năm Tân Dậu (1861), ông được tha, điều động theo Nguyễn Tri Phương đang giữ chức Thượng thư bộ Binh làm Đổng suất quân vụ ở Biên Hòa, trực tiếp vào Nam Kỳ tổ chức đánh Pháp.

Thực ra sau khi Đại đồn Chí Hòa thất thủ, Huỳnh Mẫn Đạt lánh về Kiên Giang ở ẩn.

Huỳnh Mẫn Đạt mất năm 1888, thọ 77 tuổi. Hiện nay ở Văn Xương các, tức miếu Văn Thanh, Vĩnh Long có bài vị thờ ông.






PHẠM VĂN CHÍ

Năm Kỷ Mùi, Tự Đức thứ 12 (1859), thành Gia Định thất thủ, Trương Định rút về đóng ở đồn cũ Tân Hòa rồi cùng Tuần phủ Gia Định Đỗ Quang, phát động kháng chiến.

Anh hùng hào kiệt khắp nơi hưởng ứng hịch "đánh Tây - cứu nước của Trương Định”. Ông Phạm Văn Chí là một thân hào vùng Bình Hòa, dân quen gọi ông là Trùm Chí là một người yêu nước, căm thù giặc Pháp đã hưởng ứng chiêu mộ nghĩa quân, trang bị vũ khí đánh Pháp ở vùng Chợ Lớn, Rạch Cát, Bình Đông nay thuộc vùng quận 5, quận 6, quận 8 thành phố Hồ Chí Minh.

Tháng 3 năm 1862, ba tỉnh miền Đông mất hoàn toàn vào tay giặc Pháp. Giặc Pháp liền điều động quân các nơi về bình định vùng Chợ Lớn, Rạch Cát, Bình Đông. Trong cuộc càn quét lớn, kéo dài nhiều ngày đó, tháng 3 năm 1862 , Phạm Văn Chí bị giặc Pháp bắt. Chúng tra tấn dã man, rồi lại dụ dỗ, mơn trớn ông đầu hàng, khai báo các chiến hữu, và kêu gọi chiến hữu đầu hàng. Phạm Văn Chí hiên ngang bất khuất, không ngớt lời chửi mắng quân giặc.

Không khuất phục được ông, tháng 2 năm 1863, chúng đưa ông ra hành quyết tại làng Bình Đông. Ông lớn tiếng chửi mắng bọn giặc Pháp xâm lược, lũ vua quan bán nước cầu vinh, kêu gọi, nhân dân tiếp tục đánh Pháp. Giặc Pháp chém ông rồi chặt đầu đem bêu. Dân làng đem thi hài ông (không có đầu) an tán ở bên kia rạch Tân Hữu. Sau cải táng đưa về đường Thơ Ký. (Theo truyền thuyết khi giặc bêu đầu ông, một số bà con yêu nước đã lấy lại đem chôn giấu, thờ ở nơi khác, đến nay chưa tìm lại được).

Ngay sau khi ông mất nhân dân lập miếu bằng tranh tre ngay trên mộ ông. Việc thờ cúng không dám công khai vì sợ giặc Pháp biết. Đến năm 1938 các bô lão làng Bình Hòa cùng nhân dân lấy cớ xây đình thờ bản thổ thành hoàng được Thống đốc Nam cho phép xây dựng. Nay đình Bình Hòa và mộ ông Phạm Văn Chí tọa lạc ở số nhà 703 đường Phạm Văn Chí, phường 7, quận 6, thành phố Hồ Chí Minh. Đình còn một tấm bia trong đó có hai câu:

Khí chất danh lưu dương dương tại,
Khiêm trinh quán nhật mẫu dịu hoàng


Dịch:

Khí chất danh thơm trào cuồn cuộn
Trung trinh ngời sáng chiếu rợp trời.

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4826



« Trả lời #35 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2011, 04:08:26 pm »

TRƯƠNG QUYỀN

Trương Quyền còn gọi là Trương Tuệ, Trương Huệ, cậu Hai Quyền. Ông là con trai của Trương Định, quê gốc ở huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Ông luyện tập võ nghệ từ tuổi thiếu niên nên giỏi võ nghệ, tài trí mưu lược, xuất quỉ nhập thần.

Ngày 25/8/1864, Trương Định hy sinh nghĩa quân hoang mang vì mất chủ tướng. Khi đó Trương Quyền mới 18 tuổi đã thay cha chỉ huy nghĩa quân. Ông phối hợp với thủ lĩnh Võ Duy Dương và thủ lĩnh quân Khmer là Achar Sva (Axoa) tiếp tục đánh Pháp.

Ngày 7/6/1866 , Trương Quyền và Pôkômbô dùng mưu dụ tên quan ba Laclo (Larclbause) ra cách đồn chừng hơn một cây số lọt vào ổ phục kích giết chết hắn và bọn lính đi hộ vệ. Tên quan năm Mác xe (Marchausre) từ Sài Gòn lên cứu viện cũng bị nghĩa quân giết chết.

Cuối tháng 6/1866, quân Pháp ở Sài Gòn điều động quân đi đối phó với nghĩa quân Thiên hộ Dương ở Mỹ Tho, Cao Lãnh.

Đêm 23/6/1866, Trương Quyền và Pôkômbô xuất quân từ cầu An Hạ (nằm giữa Tầm Lạc và sông Vàm Cỏ Đông) tiến về Binh Biền (đường chợ Lớn đi Mỹ Tho) đột nhập vào Chợ Lớn tấn công đồn Thuận Kiều cách Sài Gòn 10 cây số. Ông đánh giáp lá cà với bọn kỵ binh Spalus. Trận ác chiến xẩy ra, Trương Quyền chiếm được đồn giết chết tên đội Pháp, nhiều lính Pháp và lính Nam, làm bị thương một số tên, chỉ còn năm, ba tên sống sót chạy đi báo cho quân Pháp.

6 giờ sáng, Trương Quyền chỉ huy nghĩa quân đánh quân tiếp viện. Sau 2 giờ kịch chiến, quân Pháp bị thiệt hại nặng nề, song quân ta cũng núng thế. Đúng 8 giờ sáng, Trương Quyền cho quân rút khỏi Thuận Kiều về Bà Hom.

Giặc Pháp ở Sài Gòn hoảng sợ bắn súng lớn rồi báo động nghĩa quân đang đến sát "ngưỡng cửa của Sài Gòn", hôm sau tên giám đốc Nội An ra thông cáo để trấn an, rồi 7 giờ tối bọn Pháp dân sự ở Sài Gòn nhận được chỉ thị mật cho biết “Loạn quân” có thể xuất hiện trong thành phố, nghe tiếng súng thì phải tập trung ba, bốn người một nhà, dựng chướng ngại vật chặn cửa, bình tĩnh đối phó vì ngoài đường có lính cưỡi ngựa tuần phòng rồi.

Quân Pháp và quân Đốc phủ Ca tập trung lực lượng phản công. Trương Quyền phải rút quân về đánh quân Pháp ở Trảng Bàng. Pháp sai trung úy Eymard đem quân vây đánh. Trương Quyền phải rút quân vào rừng rồi lên Tây Ninh hợp quân với Pôkômbô mở mặt trận mới. Song trước khi rút, ông cho quân tập trung súng bắn mãnh liệt vào căn cứ quân sự của quân Pháp khiến chúng rối loạn, một số tên tháo chạy.

Tin Trương Quyền phối hợp với Pôkômbô tấn công quân Pháp báo về Sài Gòn. Bọn chỉ huy Pháp sai 200 lính là 50 lính Thượng do thiếu úy Rémiot Lerbuer chỉ huy đến Tây Ninh tăng viện.

Từ đó nghĩa quân Việt - Khơ me phối hợp với nhau đánh Pháp ngày càng nhịp nhàng chặt chẽ. 12 giờ trưa ngày 2/7/1867  liên quân Việt - Khơ me đánh quân Pháp ở Trà Vang (Bắc Tây Ninh). Quân Pháp thiệt hại nặng nề phải tháo chạy về Tây Ninh. Nghĩa quân phục kích trên đường chúng rút chạy diệt thêm một số tên nữa. Hôm sau, đêm 3/7/1 866, liên quân Việt - Khơ me lại táo bạo đột nhập vào thành phố Tây Ninh, đốt phá dinh thự, lị sở quân Pháp và Nam triều. Ngày 7/7/1866 , Trương Quyền chỉ huy nghĩa quân tiến đánh Củ Chi, Hóc Môn, Trảng Bàng.

Cuối tháng 7/1866, quân Pháp chia làm bốn mũi có kỵ binh, phiêu binh và quân bộ tấn công vào Rạch Vui. Liên quân Việt - Khơ me có ít đạn nên bị chết nhiều. Tổng hành dinh Pôkômbô bị trúng đạn. Các ổ súng đồng bị đổ vỡ tê liệt. Trước tình thế đó, Pôkômbô rút về Nam Vang, Trương Quyền rút về Biên Hòa tiếp tục đánh quân Pháp.

Ngay sau đó nghĩa quân Việt - Khơ me lại đánh đồn An Cư ở Tây Ninh - đây là một trận đánh lớn. Quân Pháp bị tiêu diệt một trung đội và 2 tên đại úy Pháp. Nghĩa quân Trương Quyền cũng bị thiệt hại.

Tháng 11/1867, nghĩa quân Pôkômbô vượt sông Cửu Long đánh thẳng vào Công Pông Thom phía bắc Biển Hồ. Tại đây Pôkômbô bị thương rồi bị bắt và bị giết vào ngày 3/12/1867.

Trương Quyền vẫn tiếp tục chiến đấu ở vùng rừng núi Tây Ninh, xây dựng căn cứ ở Nha Mét. Thời gian này lực lượng nghĩa quân đã yếu, nên chỉ đánh được những trận nhỏ. Ông cũng hợp tác với lực lượng kháng chiến của người Khơ me và người Stiêng. Trong nghĩa quân Trương Định có Trần Tử Ca, người Hanh Thông Tây, sau đầu hàng Pháp theo đạo Thiên Chúa cùng Trương Công Tấn một nghĩa quân thân tín của Trương Định đầu hàng Pháp trở lại đàn áp nghĩa quân Trương Định. Bàn tay hắn đẫm máu nghĩa quân và đồng bào yêu nước. Năm 1862, quân Pháp cho Trần Tử Ca làm Tri huyện Bình Long (Hóc Môn). Năm 1865, hắn đàn áp nghĩa quân Trương Quyền, tham gia vào đội quân xâm lược đánh chiếm ba tỉnh miền Tây. Tháng 5/1870, Trần Tử Ca cho tay chân xâm nhập vào hàng ngũ nghĩa quân Trương Quyền giết chết ông.

Tội ác của Trần Tử Ca chất cao như núi, mãi đến ngày 27 tháng chạp năm Giáp Tuất (1884) Quản Hớn mới đánh vào phủ đệ của hắn, giết chết hắn.





LINH MỤC KHÂM

Linh mục Khâm tên thật là Đặng Đức Tuấn, sinh năm 1805, người làng Gia Hựu, huyện Bồng Sơn, tỉnh Bình Định, trong một gia đình theo đạo Thiên Chúa. Ông nổi tiếng hay chữ từ bé, nhưng năm 1825 đi thi không đỗ. Ông được các linh mục Pháp chọn đi học ở chủng viện Pơnay (Malaisia) trong 7 năm, ông trở thành linh mục lấy tên là Khâm. Ông nổi tiếng là người học rộng, biết nhiều.

Ngày 1/9/1858, quân Pháp đánh bán đảo Sơn Trà, Đà Nẵng, ngày 17/2/1859, quân Pháp đánh thành Gia Định. Ông bị triều đình nghi ngờ có liên quan với quân Pháp, nên bị triều đình bắt giải về Huế.

Tháng 9/1859, triều đình Huế giao cho bộ Lễ, phụ trách tuyển những người biết tiếng Pháp sử dụng làm thông ngôn, phiên dịch thì ông được tha. Cuối tháng 4/1862, linh mục Khâm được bộ Lễ cử làm phiên dịch cho phái đoàn của triều đình Huế do Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp làm chánh phó sứ vào Gia Định để ký hiệp ước ngày 9/5/1862.

Linh mục Khâm đã biết nhiều điều tai nghe, mắt thấy, kể cả việc giáo dân bị giết hại. Nhưng ông không mù quáng như một số linh mục và giáo dân đã tiếp tay cho giặc Pháp xâm lược Việt Nam, gây nên mối hận thù trong giáo dân và dân lương. Ông đã bày tỏ lòng yêu nước, lên án giặc Pháp cướp nước. Ông là người Thiên Chúa giáo đầu tiên ở Việt Nam vạch rõ giặc Pháp đã lợi dụng đạo Lành (đạo Thiên Chúa) để đẩy nhanh tốc độ xâm lược Việt Nam. Trong một bài “Tự tích việc đạo nước Nam văn”, sau khi kể các hành động tội ác xâm lược ông viết:

...Khéo là tội báo oan gia ,
Tính bề trục lợi khéo pha đạo Lành
Mượn câu giảng đạo làm danh
Làm cho giáo hữu tan tành phen ni
Làm cho nhà nước sinh nghi
Giam cầm đầu mục khinh khi đạo trời.
...


Khi đi học ở Malaisia và đi các nước khác và nghiên cứu các sách Tân thư viết bằng tiếng Pháp, dịch ra tiếng Hán, ông đã thấy nhiều nước như Nhật Bản, Malaisia, Hồng Kông, Ma Cao thuộc Anh của Trung Quốc đã có những cải cách kinh tế lớn theo phương Tây mà trở nên hùng cường. Năm 1862, ông đã gửi điều trần lên vua Tự Đức đề nghị cải cách kinh tế, văn hóa, quân sự như Nhật Bản để chống Pháp xâm lược. Những bản điều trần của Đặng Đức Tuấn sớm hơn các điều trần của Nguyễn Trường Tộ một năm. (Nguyễn Trường Tộ gửi bản điều trần đầu tiên là vấn đề tôn giáo ngày 29/3/1863).

Sau này Phan Bội Châu đánh giá "Đặng Đức Tuấn là một trong những người đầu tiên thắp sáng lên những mầm văn minh trên đất nước ta".
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4826



« Trả lời #36 vào lúc: 28 Tháng Mười, 2011, 08:41:25 am »

TÁN KẾ

Tán Kế tên thật là Lê Quang Quan, chưa rõ năm sinh. Quê gốc ở tỉnh Bình Định, đến đời ông nội vào lập nghiệp tại làng Mỹ Chánh, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

Ngày 26/5/1862, Tự Đức cử phái đoàn của triều đình do Phan Thanh Giản làm chánh sứ, Lâm Duy Hiệp làm phó sứ vào Sài Gòn để cùng Bằng ký hiệp ước. Ngày 5/6/1862 Phan Thanh Giản ký với Bôna "Hiệp ước hòa bình và hữu nghị” với Pháp và Tây Ban Nha.

Lê Quang Quan bất mãn bỏ ngũ về Mỹ Chánh tập hợp trai tráng trong vùng, chia thành đội ngũ, luyện tập võ nghệ cho anh em. Ông chiêu tập thợ rèn các nơi về chế tạo vũ khí chuẩn bị khởi nghĩa.

Tháng 6 năm 1867, giặc Pháp đánh ba tỉnh miền Tây, trong đó có Bến Tre (khi đó thuộc Vĩnh Long) Lê Quang Quan yết bảng chiêu mộ quân, phát động khởi nghĩa chống Pháp tại vùng Ba Châu (Châu Phú, Châu Thới, Châu Bình). Để có danh nghĩa chỉ huy, ông tự xưng là Tán tương quân vụ, lấy mật danh là Kế vì vậy nghĩa quân và nhân dân gọi ông là Tán Kế.

Nghĩa quân do Tán Kế lãnh đạo dựa vào địa thế hiểm trở (khi đó phần lớn đất đai là rừng rậm), thực hiện lối đánh tập kích, phục kích gây cho quân Pháp tổn thất nặng nề.

Trước tình thế bị giặc bao vây truy quét, đạn dược thiếu, lương thực cũng rất khó khăn, Tán Kế giải tán lực lượng, chỉ giữ lại số người thân cận, khỏe mạnh, có tinh thần chiến đấu cao rút vào vùng lau sậy, chà là, tránh những trận tấn công ồ ạt của giặc chờ cơ hội phát triển lực lượng, tiếp tục cuộc chiến đấu. Không ngờ một tên phản bội báo cho quân Pháp biết nơi Tán Kế ẩn náu. Lập tức bọn Pháp điều động hàng trăm quân bao vây, lùng sục. Tán Kế chỉ huy số nghĩa quân ít ỏi đánh trả bọn Pháp kịch liệt, giết một số tên. Cuối cùng ông và một số nghĩa quân bị chúng bắt được.

Sau khi tra tấn ông bằng đủ cực hình, không moi ở ông được điều gì, chúng chém ông ngày 11 tháng giêng năm Kỷ Tỵ (tức ngày 21/2/1869) bêu đầu ở Tân Thới ba ngày để uy hiếp dân chúng. Trong dân gian ở vùng này còn lưu truyền giai thoại, đầu ông Tán Kế để trong giỏ tre, hai mắt vẫn mở trừng trừng. Nhân dân Ba Châu an táng ông tại làng Mỹ Chánh, nhân dân trong tỉnh nhiều nơi lập miếu thờ ông. Đền chính được xây tại xã Mỹ Chánh.





NGUYỄN KHẮC TRẠCH

Nguyễn Khắc Trạch tự An Phủ, hiệu Nhuế Xuyên, sinh năm 1797, người làng Bình Hồ, huyện Đông Yên, trấn Sơn Nam, nay thuộc huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên.

Năm Minh Mệnh thứ 6 (1825) ông đậu Hương cống, được bổ làm Tri huyện huyện Yên Lạc, Sơn Tây nay thuộc tỉnh Vĩnh Phúc, sau đó làm Tri phủ phủ Yên Khánh (Ninh Bình), Tri phủ Tĩnh Gia (Thanh Hóa). Sau một thời gian ông giữ chức Viên ngoại lang rồi Trung ngoại lang bộ Hình, rồi lần lượt ông giữ chức Án sát Hải Dương, Án sát Hà Tĩnh. Năm 1849 ông làm Bố chính (quan đầu tỉnh) Gia Định, khi đó còn có tên là Phiên An. Tôn Thất Thuyết giữ chức Án sát. Hai ông đều có chung một đức tính tính tình cương trực, thanh liêm, nên trở thành bạn chí cốt.

Khi tình hình Gia Định ổn định ông được điều về làm Tuần phủ Vĩnh Long. Năm 1855, Tự Đức thứ 8, ông được triệu về triều giữ chức Hàn lâm trực học sĩ, sung Biên tu Quốc sử quán.

Trong khi giữ các chức vụ ở địa phương ông luôn luôn chăm lo đến đời sống của nhân dân, chú trọng khai hoang, làm thủy lợi. Ông còn chủ trương giảm nhẹ sự đóng góp của nhân dân và rất lưu tâm đến việc học hành, khuyến khích mở trường học. Sách Đại Nam chính biên liệt truyện của triều Nguyễn viết về ông như sau: “Trạch đi đến đâu cũng khuyến khích các sĩ tử. Các học trò tài vào bậc nào thành đạt vào bậc ấy, học tập thường đến vài trăm người”.

Trong thời gian ông làm Toản tu ở Quốc sử quán ở triều đình thì năm 1858 giặc Pháp tấn công bán đảo Sơn Trà, Đà Nẵng. Nguyễn Tri Phương, Ông Ích Khiêm đã chặn đứng cuộc xâm lược đó. Không đánh chiếm được Đà Nẵng làm bàn đạp tấn công kinh thành Huế, ngày 10/2/1859 chiến thuyền liên quân Pháp - Tây Ban Nha kéo vào Sài Gòn. Ngày 17/2/1859, quân Pháp mở đợt tấn công quy mô lớn vào thành Sài Gòn và các pháo đài. Năm 1862, quân Pháp chiếm xong 3 tỉnh miền Tây Nam Kỳ. Triều đình Huế vội vàng ký hòa ước và ngăn cấm nhân dân kháng chiến. Kết cục là đến năm 1864 quân Pháp chiếm nốt ba tỉnh miền Tây Nam Bộ. Trước thảm họa của đất nước, triều đình Huế vẫn tiếp tục chính sách đầu hàng, khi đó ông đã mấy lần dâng sớ xin về chí sĩ, mãi đến năm 1864 khi đó ông đã 67 tuổi, Tự Đức mới chấp nhận. Ông về quê sống một cuộc đời dân dã với nông dân, khuyến khích nông dân mở mang nông nghiệp, trồng dâu, nuôi tằm, quan tâm đến việc học của lớp trẻ.

Khi Nguyễn Tri Phương mất, Nguyễn Khắc Trạch có bài văn khóc ông trong đó có câu: (dịch) “Cách đây không lâu, giặc Tây dương gây biến, cõi Đông (Nam Kỳ) bị chia cắt. (Ông) đảm đương giữ muôn dặm thành dài. Năm trước, giặc Tây lại đến Hà Nội (ông) là người làm tướng ở xa triều đình đã lấy lợi ích của xã tắc làm trách nhiệm”. Nguyễn Khắc Trạch đánh giá rất cao phẩm chất anh hùng của Nguyễn Tri Phương: "Đá núi Nùng chính là tâm bia truy lệ vậy ".
Nguyễn Khắc Trạch mất vào giờ Thân, ngày 22 tháng 6 năm Giáp Thân (9/1884) tại quê ở làng Bình Hồ. Tôn Thất Thuyết khi đó là Thượng thư bộ Binh, phụ chính đại thần gửi câu đối viếng:

“Cố địa vô song, cộng đạo Phiên An di cựu khách
Tiên Sinh hà khứ trùng khan Hàm Tử chính đường niên


Dịch:

Đất cũ không quên, những tưởng cũng đương đến, Phiên An còn lại khách cũ
Tiên sinh về đâu, xem sao được nữa trận Hàm Tử diễn lại ngay trong năm nay.


Nguyễn Khắc Trạch còn là một nhà thơ. Ông để lại trên mười tác phẩm như: Nhuế Xuyên bạch bút thi tập, Nhuế Xuyên văn tập, Nhuế Xuyên thặng bút thi tập, Nhuế Xuyên trùng tập, Nhuế Xuyên tùy bút tập...
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4826



« Trả lời #37 vào lúc: 28 Tháng Mười, 2011, 08:45:19 am »

VŨ PHẠM KHẢI

Vũ Phạm Khải tự là Đông Dương, người thôn Phượng Trì, tổng Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831) ông đỗ Cử nhân được bổ làm Tri phủ huyện Quỳnh Lưu. Gặp lúc ở Quỳ Châu báo động có giặc, ông được cử giúp việc quân và được cất làm Lễ khoa cấp sự trung.

Năm Tự Đức thứ nhất (1848) vì lời ông nói thẳng bị quan lại gièm pha tâu với Tự Đức, ông bị bãi chức, liền trở về quê. Gặp lúc Bắc Kỳ có giặc, hãm phủ Thiên Quan, ông đưa con em, học trò ra tòng quân, thu lại tỉnh thành. Việc đến tai vua, vua sai ông làm Bang biện tỉnh Ninh Bình. Ít lâu sau ông lại được thăng Thị độc học sĩ bổ làm Bố chính Thái Nguyên. Ông làm quan trải ba triều vua Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức.

Ông là vị quan một lòng thương dân, lo cho dân. Khi ông làm tri huyện Quỳnh Lưu (Nghệ An), ở ấp Thạch Đồng vì đói kém, thuế khóa nặng nề, dân bỏ đi. ông giảm, miễn thuế, trợ cấp cho dân nghèo. Do thực hiện chính sách cởi mở, những người bỏ quê đã hồi hương. Nhớ ơn ông, khi ông mất, dân ấp Thạch Đồng lập đền thờ ông.

Vào một năm Hà Nội, Ninh Bình gặp lụt đói kém, Vũ Phạm Khải thương xót, nhưng ông không có đủ quyền hạn để giải quyết, đã viết thư cho bạn làm quan ở hai tỉnh đó từ cho quan lại địa phương xem xét kỹ càng tình hình thiệt hại để có biện pháp cứu giúp.

Có lần vua cử Vũ Phạm Khải về Bắc Kỳ kinh lý. Khi đến huyện Kim Động (Hưng Yên) gặp lúc địa phương bị tai hại, mà trong huyện thành vẫn hát xướng, ông đã dâng sớ hặc xin cách chức viên tri huyện Kim Động. Trong sớ có câu: "Ngoài thành khóc, mà trong thành hát, không có lòng trắc ẩn không phải là cha mẹ dân". Sau đó viên tri huyện này bị cách chức.

Trong thời gian về nghỉ ở quê (1849-1856) ông đã cùng Nguyễn Công Trứ khai khẩn vùng đất bồi Kim Sơn - Văn Hải ở gần quê nhà, lập ra ấp Tuy Định. Khi ông mất nhân dân ấp Tuy Định đã nhờ Phạm Văn Nghị, bạn thân của ông ở Nam Định làm bài văn tế, nhắc đến công đức của ông, trong đó có đoạn:

“Có một điều mà cụ xưa thường nói: đất cát là để nuôi sống người. Phượng Tài ta có một phần bãi bể, đem người làng và con em ra mở mang lập ấp, một mặt để thêm thuế khóa cho nhà nước, một mặt để làm nơi sinh sống cho mọi người của ta..., đến nay đã được nhiều năm có kết quả, việc đó là nhờ có sức cụ mở mang từ nhiều năm mới có được. Nay cụ mất đi, nhưng việc làm vẫn còn đó. Thế là cụ vẫn sống mãi”.

Vì ông có công lao, cha được tặng Nghi đại phu Hàn lâm viện thị độc, tên thụy là Đoan Trực, mẹ được tặng Ngũ phẩm nghi nhân.

Năm 1858, giặc Pháp đánh phá bán đảo Sơn Trà, năm 1859 đánh chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ. Triều đình Huế hoang mang, sợ hãi. Vũ Phạm Khải đã kiên cường đứng về phe chủ chiến. Ông cũng viết nhiều văn kiện chống nghị hòa gửii vua Tự Đức như "Biện hoặc luận”, "Lỗ Trọng Liên bất đế Tần luận”, "Hòa nhung luận”.

Khi Đại đồn Kỳ Hòa thất thủ, thực dân Pháp ép triều đình Huế hòa nghị. Vũ Phạm Khải khi đó đang ở Quốc sử quán đã dâng sớ lên Tự Đức nói cái hại của sự giảng hòa và bàn nên cử chiến tướng ra trận.

Ba tỉnh Miền Đông Nam Kỳ mất, lòng ông đau xót vô cùng. Nhưng ông biết tai họa cho đất nước không dừng ở đấy âm mưu của giặc thôn tính nước ta ngày càng lộ rõ. Ông lại dâng sớ lên triều đình bàn kế phòng thủ và quyết chiến với giặc. Nhưng lúc này triều đình dấn sâu vào con đường đầu hàng, bỏ ngoài tai bất cứ sớ, tấu, kiến nghị nào nói về đánh giặc.

Quân Pháp nuốt gọn ba tỉnh miền Đông, lại có âm mưu chiếm ba tỉnh miền Tây, chúng phái tên Vial từ Gia Định ra Huế đòi triều đình nhường nốt ba tỉnh miền Tây cho chúng. Triều đình đem ra bình nghị. Vũ Phạm Khải cũng được tham dự. Cuộc bình nghị đa số các quan đều ngả về chủ hòa, khiến ông bất bình. Các đại thần nhìn ông có ý muốn ông phát biểu trước. Ông thẳng thắn nói:

“Lòng tham của giặc không bao giờ chán, ta đã chót lầm lỡ một lần, hay còn lầm thứ hai nữa? Nhất định không thể cho chúng nó được”.

Cuộc bình nghị đa số các quan đều ngả về chủ hòa, không giữ được bình tĩnh, ông lớn tiếng:

“Chiến sĩ đời xưa không nói hòa, chiến sĩ đời nay chỉ một mực nói hòa. Quan võ đời xưa không sợ chết, quan võ đời nay chỉ một mực sợ chết, sao mà đời nay lại khác hẳn đời xưa như vậy!”.

Năm Tự Đức thứ 18 (1865), Vũ Phạm Khải làm Thị độc học sĩ sung Toản tu sử quán. Khi đó ở Nam Kỳ giặc Pháp ráo riết đánh ba tỉnh miền Tây. Trong một số lần triều đình họp, Khải được dự, ông đều đứng về phe chủ chiến là đánh, chỉ có đánh mới giữ được chủ quyền đất nước. Song ông chỉ là một quan nhỏ, những người trong phe chủ chiến đã bị gạt ra khỏi triều chính, nên ông rất buồn phiền.

Năm 1868, ông được cử làm thương biện để ngăn giữ vỗ yên công việc Ninh Bình. Chính trong thời gian này ông đã giúp nhân dân Ninh Bình chấn hưng nông nghiệp, hoàn chỉnh các công trình dẫn thủy nhập điền ở vùng đất mới khai hoang.

Năm Tự Đức thứ 23 (1870), Vũ Phạm Khải làm quyền biện Bố chính sứ ở Thái Nguyên. Tỉnh này đã bị giặc tàn phá nhiều năm, dân tình điêu đứng. ông tới Thái Nguyên mới được vài tháng, đang ổn định tình hình thì đột nhiên giặc là Đặng Chí Hùng kéo tới. Tỉnh không có viện binh, tình thế rất gấp, Vũ Phạm Khải đưa thư dụ Chí Hùng việc họa phúc. Đồng thời ông cấp báo về kinh, vua nhận được thư liền cho Tham tán Lê Bá Thận hợp với tuần biên Trần Văn Mỹ đánh dẹp. Vũ Phạm Khải đóng đồn ở châu Bạch Thông, bị giặc vây hãm và bị bắt. Vua nghe tin kíp sai bày cách cứu về.

Vì thua trận, Vũ Phạm Khải bị giáng ba cấp lưu dùng, bổ làm Tả thị lang bộ Hình, kiêm sung sử quán Toản tu. Ông tới kinh bị đài thần hặc tâu, vua sai giao xuống đình luận. Việc chưa xét thì ông bị ốm chết vào ngày 22 tháng chạp năm Tân Mùi. Khi ông mất có nhiều câu đối phúng viếng. Trong đó có đôi:

Phiên âm:   VÃN ĐÔNG DƯƠNG TIÊN SINH

Tâm sự như bạch nhật thanh thiên, lỗi lỗi
Thần khí tại Càn nhai bãng lĩnh thương thương thế thế.


Dịch nghĩa:   VIẾNG ĐÔNG DƯƠNG TIÊN SINH

Tâm sự giữa trời xanh, ngày rộng quang minh chính đại
Tinh thần nên núi thẳm cùng mây thương cảm thê lương.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4826



« Trả lời #38 vào lúc: 28 Tháng Mười, 2011, 08:48:44 am »

ĐẶNG HUY TRỨ

Đặng Huy Trứ sinh ngày 19 tháng 3 năm Ất Dậu (26/5/1825). Quê gốc của ông ở thôn Thanh Lương, nay thuộc xã Hương Xuân, huyện Hương Điền, tỉnh Thừa Thiên.

Đặng Huy Trứ là người thông minh từ nhỏ. Ông thi Hội, thi Đình đỗ tiến sĩ nhưng vì phạm húy, nên bị tước hết học vị. Ông vừa dạy học để kiếm ăn, vừa đi học. Năm 1847, ông đi thi lại đỗ cử nhân.

Đặng Huy Trứ vốn là nhà nho yêu nước, nên ngay từ buổi đầu giặc Pháp xâm lược, ông đã đứng về phe chủ chiến và là người hăng hái tích cực, sau đó ông được thăng tri phủ Kiến Xương, rồi tri phủ Thiên Trường, Nam Định. Tự Đức gọi ông về kinh giữ chức Hàn lâm viện trước tác, sau thăng ngự sử.

Ngày 1 tháng 9 năm 1858, Liên quân Pháp - Tây Ban Nha do tên thiếu tướng Rigôn đờ Giôny phó thủy sư đô đốc, tổng chỉ huy lực lượng viễn chinh Pháp tại Việt Nam tấn công bán đảo Sơn Trà. Ông đang còn là quan tập sự, nhưng đã thực hiện ý chí quyết chiến của mình, sẵn sàng chống giặc bảo vệ Tổ quốc.

Đặng Huy Trứ là người thẳng thắn, kiên quyết, không sợ cường quyền. Khi ông làm quan ngự sử, biết việc viên Tham tri bộ Binh, một chức quan cao hơn ông có hành vi tham nhũng, ông vẫn thẳng thắn vạch tội. Vì vậy bọn quyền thần căm ghét ông, hùa nhau hãm hại ông, chỉ trong 9 tháng, ba lần ông bị giáng chức.

Năm 1854, Đặng Huy Trứ được bổ làm Bố chính tỉnh Quảng Nam.

Đặng Huy Trứ là người chính trực, công bằng, ông đã phát hiện nhiều nhân tài tiến cử với vua Tự Đức, trong đó có việc tiến cử các ông Nguyễn Quýnh, Hoàng Diệu, Phan Thanh Nhã...

Hai năm sau ông lại được điều về kinh làm Biện lý bộ Hộ. Một thời gian sau, ông xin từ chức Biện lý bộ Hộ xin vua Tự Đức cho lập ty Bình chuẩn. Đặng Huy Trứ được bổ nhiệm giữ chức Bình chuẩn sứ ty. Đặng Huy Trứ đã mở rộng phạm vi hoạt động của ty Bình chuẩn không chỉ có quản lý việc buôn bán, mà còn làm cả nhiệm vụ khai mỏ, mở mang thủ công nghiệp, thương nghiệp, phát triển giao thông vận tải. Khoảng đầu năm 1867, Tự Đức lại phái Đặng Huy Trứ sang Trung Quốc, Áo Môn với nhiệm vụ chính là mua súng đại bác, súng bắn nhanh của Anh, Pháp, Bỉ, Bồ Đào Nha bán vào Trung Quốc.

Đặng Huy Trứ vừa đến Quảng Châu thì do không hợp thủy thổ, cuộc hành trình vất vả ông bị bệnh nặng phải vào nằm nhà thương trong hoàn cảnh không tiền tiêu, không thân thích bạn bè. Song ông đã dẹp tất cả sự đau khổ vì bệnh tật, vì túng quẫn không bạn bè để tâm sự và nỗi buồn vì triều đình bãi bỏ ty Bình chuẩn, mà ông phải mất bao công sức gây dựng nên, để viết phương lược cứu nước thoát khỏi bọn xâm lược của thực dân Pháp và xây dựng một quốc gia dân giầu, nước mạnh. Ông đã phải sống trong nhà thương ở nơi đất khách quê người kéo dài tới 9 tháng. Song thời gian đối với ông cũng không uổng, ông đã tổng kết kinh nghiệm canh tân của nhà Thanh, Cao Ly, Ba Tư, Nhật Bản và đề ra quyết sách tự cường cho nước Việt Nam. Đặng Huy Trứ tổng kết kinh nghiệm canh tân của các nước, song ông thấy bệnh tình không thuyên giảm, số mình chết sớm, ông đã viết nhanh cuốn Từ thụ quy với 4 tập, dầy 900 trang để bàn về vấn đề chống tham nhũng.

Nằm nhà thương, bệnh tình vừa đỡ, ông đã bắt tay vào nhiệm vụ chính của triều đình giao phó là mua súng. Bằng mối quen biết, tài ngoại giao, ông đã mua và đưa về nước 239 khẩu pháo sơn quả. Đây là thứ vũ khí tối cần thiết cho việc phòng thủ đất nước.

Sau chuyến đi sứ này, Đặng Huy Trứ làm sớ đề nghị vua Tự Đức có những cải cách tình hình như mở mang công nghệ, lập cục cơ khí, xưởng đúc gang thép, chế tạo máy móc, thiết bị như phương Tây. Để có thợ cơ khí giỏi, nhà nước mở trường dạy nghề, mời chuyên gia nước ngoài sang dạy nghề, cử thanh niên sang các nước có công nghệ tiên tiến học nghề. Ông cũng đề nghị nhiều biện pháp cải tiến về ngoại thương.

Đặng Huy Trứ trở ra Bắc mở hiệu ảnh, nhà in, cho xuất bản binh thư và minh thư cùng Đại Nam quốc sử diễn ca. Đây là hiệu ảnh, nhà in, nhà xuất bản đầu tiên do người Việt sáng lập, làm chủ. Đặng Huy Trứ cũng không ngừng phát triển phố Thanh Hòa là thương điếm lừng lẫy nhất của ông. Khi ty Bình chuẩn bị giải tán, ông đi Trung Quốc thì các cộng sự của ông vẫn mở mang phát triển.

Những hoạt động của Đặng Huy Trứ trở nên bí ẩn trong con mắt thủ cựu của Tự Đức và triều đình Huế, Tự Đức nghi ngại ông "tìm một cách gì đó ngoài phạm vi của triều đình”.

Để triệu ông về khống chế, năm 1871, triều đình bổ nhiệm ông làm Bang biện quân vụ Lạng - Bằng - Ninh - Thái. Ông giao thương điếm cho các cộng sự, chuyển hiệu ảnh từ thành Hà Nội về phố Gia Lâm.

Ông đã cùng với Hoàng Kế Viêm, Hoàng Diệu khi đó với chức trách Khâm phái quân vụ và các tướng dẹp yên thổ phỉ, xây dựng căn cứ địa, lo công tác phòng thủ, tích trữ lương thực ở bốn tỉnh trên làm căn cứ kháng chiến vững chắc, lâu dài.

Ngày 20/11/1873, Francis Garnier đánh chiếm thành phố Hà Nội và các phố buôn bán, các phủ huyện, khu phố Thanh Hà, Thương điếm của ông bị bọn tay chân của quân Pháp cướp hết của cải, tàn phá tan hoang.

Quân Pháp đánh lấn ra các tỉnh Bắc kỳ, Đặng Huy Trứ theo Hoàng Kế Viêm rút quân về căn cứ Đồn Vàng, huyện Thanh Sơn, tỉnh Hưng Hóa nay là thị trấn huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.

Ngày 3 tháng giêng năm 1874 , phái đoàn Hiệp thương Việt - Pháp do Nguyễn Văn Tường và Phi Lát tới Hà Nội. Hai bên ký Quy ước ngày 5 tháng giêng và ngày 6 tháng 2/1874 nội dung: Pháp trao trả Ninh Bình, Hà Nội, Nam Định cho triều đình Huế. Cho giải thể 12.000 người, phần lớn là dân theo đạo Thiên chúa theo chân Francis Garnies đi phá rối ở các nơi. Triều đình không được đưa thêm quân đến các tỉnh Pháp vừa trao trả. Phải để cho quân Pháp được ở lại Bắc Kỳ tự do đi lại trên đường sông, đường bộ. Triều đình phải ra ngay bản tuyên bố ân xá tất cả những người vừa qua đã cộng tác với Pháp.

Ngày 25 tháng 6 năm Giáp Tuất (7/7/1874) Đặng Huy Trứ lâm bệnh nặng, ông qua đời ở chợ Bến, Đồn Vàng năm 49 tuổi. Mộ ông táng ở Hòn Thông, Hiền Sí, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên. Ông mất trong khi hoài bão chấn hưng kinh tế, phát triển công nghiệp và kháng chiến chống thực dân Pháp chưa được thực hiện. Sách Đại Nam nhất thống chí có lời bình: “Đặng Huy Trứ khảng khái, có chí lớn, đương trù tính nhiều việc chưa làm xong đã mất, ai cũng tiếc”.

Sau này Phan Bội Châu coi ông như: "Trồng mầm khai hóa đầu tiên ở Việt Nam”.

Đặng Huy Trứ viết rất nhiều sách. Riêng về thơ có Hoàng Trung thi sao; Văn có Tứ thư văn tuyển; Nhị vị toàn tập; Việt sử thánh huấn diễn nôm (sử, văn) Nhớ hoàng di cư tập, Bách duyệt tập, sách học vấn tâm (giáo dục)...
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4826



« Trả lời #39 vào lúc: 28 Tháng Mười, 2011, 08:51:00 am »

TRẦN TẤN

Trần Tấn quê ở Chi Nê nay là xã Thanh Chi, huyện Thanh Chương, là một sĩ phu kiên quyết kháng chiến rất bất bình với triều đình Huế cắt đất giảng hòa và bọn gián điệp Pháp đội lốt giáo sĩ mê hoặc dân đạo chống Tổ quốc, chống nhân dân. Vì vậy năm 1865, ông đã cùng học trò của mình là Đặng Như Mai, phó tổng Phan Điểm, Hoàng Đức Đề, Nguyễn Mỹ Nghi, Nguyễn Văn Vinh đã kịch liệt phản đối bọn gián điệp đội lốt cha cố, huy động người đốt phá nhà thờ, diệt trừ Việt gian (phần lớn là dân theo đạo).

Linh mục Chu lợi dụng các điều khoản của Hiệp ước Nhâm Tuất tố cáo với bộ Lễ. Tự Đức sợ uy thế giặc đã ra lệnh thu bằng biện đánh Trần Tấn 80 trượng, còn 7 người nữa đều bị đánh và phạt giam.

Tháng 8 năm 1868, Linh mục người Pháp tên Việt là Ngô Gia Hậu buộc Triều đình Huế phải xử lại. Tự Đức sợ Pháp quyết định xử chém nhưng đợi xét thêm, riêng Trần Tấn có mẹ ốm nên được tha.

Ngày 20/11/1873, Francis Garnier đánh chiếm Hà Nội và các tỉnh ở Bắc Kỳ, Trần Tấn cùng Đặng Như Mai đòi Tổng đốc Nghệ-Tĩnh là Tôn Thất Triệt phải họp văn thân trong tỉnh bàn chuyện đánh Tây. Hội nghị đã cử Trần Tấn, Đặng Như Mai đứng đầu tổ chức kháng chiến. Song ngày 15/3/1874, triều đình lại ký với Pháp “Hiệp ước hòa bình và liên minh” nhượng bộ Pháp nhiều quyền lợi.

Trần Tấn, Đặng Như Mai cùng các đồng chí đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa, mọi người tôn Trần Tấn là chủ soái. Trần Tấn từ Huế về, đến xã Xuân Liễu, huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An, ông lại liên kết với học trò cùng chung chí hướng là Đặng Như Mai (còn gọi là Tú Mai), Đội Lưu, Lãnh Sỹ (tức Trần Hưng) cùng với Trần Quang Cán, Nguyễn Huy Điển (Tú Khanh) ở Hà Tĩnh, Trương Quang Thủ ở Quảng Bình đã đứng lên lãnh đạo cuộc khởi nghĩa. Mọi người suy tôn Trần Tấn làm chủ soái. Trần Tấn còn sáng tác bài thơ kêu gọi quần chúng khởi nghĩa:

Trời cao thẳm, đất lâu dài,
Trăm năm nghĩ lại cuộc này mà đau
Tây dương phiến loạn vì đâu
Cho dân trăm họ âu sầu đòi phen
Đất Nam từ thuở Đinh Tiên
Trải Lê, Lý, Trần dõi truyền tới nay
Trăm năm nhân trạch sâu dày
Bể trong suốt đã rộn nơi ba đào
Thuyền Tây ngang nhẹ mái chèo,
Xa xa cửa Nẵng chiều chiều ngàn sông
Quấy tranh lục tỉnh miền trong
Nam, Hà, Ninh, Hải thành vàng súng tan
Sắt này dạ, đá này gan
Thương người trung nghĩa thác oan thế này
Thương ôi mấy vạn quan Triều
Sông trôi giọt máu, non rều đống xương
Ngán thay những kẻ lo lường
Lo lòng hộ tả yên lương cực mình.
Cân đai áo mão triều đình
Hòa Tây tin để bực mình lắm thay
Vì thẳng tả giận thằng Tây,
Tuốt gươm chém sạch, trận này mới nghe
Nghĩa binh nghĩa sĩ ta hè,
Đồng chung áo giáp tứ bề ruổi rong.
Đâu đâu ai cũng một lòng
Cờ bay là nghĩa, súng đùng là nhân
Một miền nhượng địch yên dân
Càn khôn dãi tỏ, quỷ, thần chứng tri,
Tuồng chi những đứa ngu si
Lo lòng nặng túi tưởng chi đạo người
Sao mà nghĩ chẳng tới nơi
Giở giăn rồi lại cân đai được nào.
Cuộc cờ tính nước thấp cao
Xuất xe nổi pháo ào ào tiên lên.
Làm trai có chí thì nên
Khắp trong non biển rõ tên anh hùng.


(Thơ văn nửa sau thế kỷ XIX).

Nghĩa quân lôi kéo được nhiều sĩ phu, quan lại tham gia. Nghĩa quân đóng đại bản doanh ở xóm Liễu, cắm cờ trên đỉnh rú Anh (một trong năm ngọn núi chạy qua xã Xuân Liễu) Trần Tấn đánh chiêng trống mộ quân, chỉ trong 10 ngày đã được trên 15.000 người. Ông chia quân làm 5 đội, mỗi đội làm 5 cơ. Ông đưa một bộ phận nghĩa quân sang đóng ở Thanh Thủy, huyện Nam Đàn.

Cuộc khởi nghĩa nổ ra vào tháng 2 năm 1874, lên tới đỉnh cao vào giữa tháng 5/1874. Khẩu lệnh "Bình Tây sát tả” được gương cao khẩu hiệu đề ra nhanh chóng đánh đuổi giặc Pháp cùng với Thiên chúa giáo đồng lõa với Pháp xâm lược Việt Nam, là kẻ nội gián, tiếp tay cho giặc Pháp xâm lược nước ta. Khẩu hiệu thứ hai cũng được gương cao là: "Đánh cả triều lẫn Tây”.

Ngày 31/5/1874, quân khởi nghĩa chiêm đóng lị sở Hà Tĩnh. Vài ngày sau nhiều huyện ở Nghệ An lọt vào tay nghĩa quân. Cuối tháng 5 nghĩa quân chiêm thành Nghệ An. Một bộ phận quân khởi nghĩa do một thủ lĩnh vượt đèo Ngang chiếm huyện Bố Chính, một bộ phận nghĩa quân khác trên đường tiến ra Thanh Hóa. Đồng thời một bộ phận khác đốt phá các làng Công giáo, trấn áp giáo dân.

Đến cuối tháng 8/1874 quân triều, quân đạo cơ bản dập tắt được cuộc khởi nghĩa của Trần Tấn, Đặng Như Mai. Chúng đàn áp nghĩa quân một cách man rợ, 2000 nghĩa quân bị chém đầu. Những người còn lại bị đánh đập dã man bị chặt 2 ngón tay cái và bị cắt một ngón chân.

Đặng Như Mai và Trần Huy Điểu chiếm Phủ Quỳ lập căn cứ mới tiếp tục đánh Pháp, sau các ông bị nội phản bắt giao cho quân triều đình, bị xử tử ngay. Đội Lưu dàn quân ra đánh ác liệt, bị hy sinh.

Cuộc khởi nghĩa do Trần Tấn, Đặng Như Mai lãnh đạo phản đối triều đình ký Hòa ước công nhận chủ quyền của Pháp ở Nam Kỳ, nhượng bộ Pháp nhiều quyền lợi lớn của quốc gia, bãi bỏ lệnh cấm đạo, chỉ duy trì được 8 tháng, nhưng là tấm gương sáng chói hy sinh vì nước của tầng lớp sĩ phu và nhân dân Nghệ Tĩnh.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM