Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 31 Tháng Giêng, 2023, 02:26:34 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: 284 Anh hùng hào kiệt của Việt Nam  (Đọc 157228 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4839



« Trả lời #140 vào lúc: 27 Tháng Tám, 2012, 03:25:26 pm »

NGUYỄN BÁ ÔN

Nguyễn Bá Ôn quê ở làng Nguyệt Lâm, nay là xã Minh Tân, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Ông là một nhà nho, không đỗ đạt, nhưng nổi tiếng về phương thuật.

Ông tự xưng là Thiên thần giáng sinh. Bấy giờ bệnh dịch tả hoành hành ở khắp các tỉnh, người ta mang kiệu tới rước ông đi trừ dịch, có khi vào đến Thanh Hóa, Nghệ An. Nhưng thực ra đó chỉ là một tấm bình phong cho hoạt động tuyên truyền chống Pháp của ông.

Ông có mối quan hệ mật thiết với Tạ Hiện, Bang Tốn. Ông đã cùng với Phó bảng Trần Xuân sắc cử nhân Bùi Tam Đồng dạy dỗ thơ văn và truyền cảm lòng yêu nước cho thần đồng Nguyễn Văn Cẩm truyền bá rộng rãi những “câu sấm” và văn thơ của Kỳ Đồng ra quảng đại quần chúng.

Nguyễn Bá Ôn và một số đồng chí đã quyết định xây dựng lực lượng chiến đấu do Mạc Đình Phúc làm minh chủ, Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm làm quốc sư, Nguyễn Bá Ôn làm chủ súy.

Tháng 12/1896, Kỳ Đồng với tư cách là Quốc sư, Nguyễn Bá Ôn với tư cách là chủ súy đã bí mật sang Bình Hà (huyện Thanh Hà) Hải Dương cùng Mạc Đình Phúc thảo luận cụ thể kế hoạch chiêu mộ, huấn luyện quân sĩ, xây dựng căn cứ, chuẩn bị vũ khí quân lương ở các tỉnh đồng bằng Bắc Kỳ để khởi nghĩa khi có thời cơ.

Với ý định xây dựng căn cứ quân sự để mưu việc chống Pháp, tháng 9 năm 1897 ông phối hợp với bác sĩ Ghia mở đồn điền ở Yên Thế, gần căn cứ Phồn Xương của Hoàng Hoa Thám. Theo báo cáo của mật thám thì đồn điền có từ 2500 đến 3000 người. Ông vẫn giữ vững mối liên lạc với Mạc Đình Phúc và Nguyễn Bá Ôn chỉ đạo tích cực chuẩn bị khởi nghĩa.

Trong khi Kỳ Đồng ở Yên Thế thì Nguyễn Bá Ôn khẩn trương cùng các tướng là Sư Thụ chùa Thuyền Quan, Lãnh Chuẩn khẩn trương tổ chức nghĩa quân, trang bị vũ khí, điều tra sự bố phòng của giặc cho trận đánh sắp tới. Nguyễn Bá Ôn cũng tới Bình Hà với tư cách là chủ súy cùng Mạc Đình Phúc đi Hải Phòng, Kiến An khích lệ tướng sĩ làm tốt công tác chuẩn bị khởi nghĩa. Ông chăm chú nghe các tướng báo cáo mục tiêu, kế hoạch tấn công, huy động lực lượng một cách cụ thể.

Giặc Pháp lo sợ những hoạt động của Kỳ Đồng nên bắt cóc ông song kế hoạch khởi nghĩa vẫn được Mạc Đình Phúc và Nguyễn Bá Ôn thực hiện.Cuộc khởi nghĩa của phong trào Kỳ Đồng - Mạc Đình Phúc ở các tỉnh Hải Dương, Hải Phòng, Thái Bình nhanh chóng bị giặc Pháp đàn áp. Mạc Đình Phúc bị bắt và bị xử tử vào ngày 29/12/1897, Sư Thụ bị thương, bị bắt cũng bị chúng tử hình. Nguyễn Bá Ôn bị bắt, giam ở đề lao Thái Bình, bị tên công sứ David xử tử ngay tại đề lao. Có tài liệu lại viết ông bị quân Pháp đưa về làng Nguyệt Lâm chém đầu ông trưóc đền Tam Thánh để uy hiếp dân chúng. Dân làng xô nhau vào lấy vải xô màn thấm máu ở cổ ông đưa về thờ.





NGUYỄN THÁI PHÚC

Nguyễn Thái Phúc quê ở tỉnh Hải Dương là một chiến sĩ chống Pháp kiên cường; Giặc Pháp và chính quyền Nam triều truy nã gắt gao, ông phải cải trang là nhà sư để che mắt giặc. Ông đến tu ở chùa Nham Chàng, tên Nôm là làng Chàng, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam với pháp danh là Sư So. Sư So tham gia nghĩa quân của Đinh Công Tráng, lo việc huấn luyện quân sự, quyên góp, sản xuất lương thực làm quân lương, lo cứu chữa thương binh, chôn cất tử sĩ. Ông còn trực tiếp tham gia các trận đánh lớn ở căn cứ Rừng Chàng, Bưởi, Tâng, Sở Kiện (Hà Nam), chợ Dầu (Vụ Bản, Nam Định)...

Ngày 15 tháng 3 năm 1874, Triều đình Huế ký Hiệp ước mang tên ''Hiệp ước Hòa bình liên minh” bán rẻ chủ quyền đất nước cho giặc Pháp, Đinh Công Tráng trả chức quan cho triều đình về tuyển mộ quân sĩ, trang bị vũ khí xây dựng căn cứ chống Pháp ngay ở làng Chàng và rừng Chàng. Nghĩa quân do Đinh Công Tráng chỉ huy lên tới 2000 người, chia thành 5 đạo trung quân, tiền, hậu, tả hữu. Sư So tham gia nghĩa quân lo việc huấn luyện quân sư quyên góp, sản xuất lương thực làm quân lương, lo cứu chữa thương binh, chôn cất tử sĩ. Ông còn trực tiếp tham gia các trận đánh lớn ở căn cứ Rừng Chàng, Bưởi, Tâng, Sơ Kiện (HàNam), chợ Dầu (Vụ Bản, Nam Định)...

Khi giặc Pháp tập trung quân đàn áp khốc liệt các căn cứ của Đinh Công Tráng ở Hà Nam, Đinh Công Tráng rút quân về Ninh Bình rồi cùng các tướng lĩnh ở Thanh Hóa xây dựng căn cứ Ba Đình ở Nga Sơn, Thanh Hóa thì Sư So đổi tên là Sư Thọ, giặc Pháp truy lùng ông đổi tên là Sư Dù. Không thể ở Hà Nam, Ninh Bình được, ông về tỉnh Nam Định đến tu ở chùa Lãng Động huyện Trực Định, nay thuộc xã Trà Giang, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình và đổi pháp danh là Sư Thụ. Ngay khi về Trực Định, sư Thụ đã mộ quân tham gia phong trào kháng chiến do Tạ Hiện lãnh đạo. Ông đã đem quân phối họp với Lãnh Bon đánh quân Pháp trong trận Tống Vũ, huyện Trực Định, nay thuộc huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Phong trào Cần Vương thất bại, Sư Thụ liên lạc với Mạc Đình Phúc, người làng Bình Hà, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương thủ lĩnh phong trào Mạc Thiên binh để phát triển phong trào ở Thái Bình.

Sư Thụ là người chỉ huy cao nhất của phong trào Mạc Thiên binh tại Thái Bình. Đêm 15 rạng ngày 16 tháng 12 năm 1897, một đội nghĩa binh gần 200 người do sư Thụ trực tiếp chỉ huy theo đê sông Trà Lý tiến về đánh chiếm Phủ Bo. Cuộc chiến đấu của nghĩa quân ở dinh công sứ đang diễn ra quyết liệt, nghĩa quân chiếm ưu thế áp đảo quân Pháp thì tên giám binh Lit tây (Littaye) mang lính đến bắn mạnh vào phía sau nghĩa quân. Vì không có phòng bị từ trước, nhiều nghĩa quân hy sinh, hàng ngũ nghĩa quân rối loạn. Lợi dụng cơ hội đó, bọn lính mở cổng dinh đánh ra nghĩa quân bị kẹp vào giữa, nên phải rút lui. Sự Thụ trốn lên Kỳ Bá, giặc Pháp kéo tới bao vây. Sư Thụ chỉ huy nghĩa quân
đánh trả quyết liệt, ông bị thương và bị chúng bắt. Các tướng như Lãnh Chuẩn, tức Đỗ Đình Chuẩn cũng lần lượt bị quân Pháp và quân Nam triều bắt. Sau khi quân Pháp bắt được Sư Thụ, Công sứ David sai Tri phủ Kiến Xương Phạm Văn Thụ đem lính về làng Lãng Động, căn cứ của Sư Thụ tịch thu ấn tín, bằng sắc, bắt thêm một số người nữa, giải về tỉnh. Giặc Pháp xử chém ông ở Gò Muống nay là bãi đất lương thực thị xã.

Về sự kiện này, Giáo sư sử học Đinh Xuân Lâm viết: “Cùng lúc với các cuộc tấn công vào Hải Dương, thành phố Hải Phòng, nghĩa quân Thái bình do Nguyễn Thái Phúc chỉ huy vào đêm 15 rạng ngày 16 tháng 12 năm 1897 theo đê Trà Lý tiến về đánh chiếm tỉnh lỵ”.

Cuộc chiến đấu do Sư Thụ chỉ huy trong phong trào chống Pháp Kỳ Đồng - Mạc Đình Phúc đã chứng tỏ các hòa thượng, sư sãi tuy gửi thân nơi cửa Phật, nhưng vẫn không thoát li cuộc chiến đấu của dân tộc chống ngoại xâm, sẵn sàng cởi áo cà sa cầm vũ khí đánh giặc, nhiều vị đã anh dũng hy sinh da ngựa bọc thây nơi chiến địa.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4839



« Trả lời #141 vào lúc: 27 Tháng Tám, 2012, 03:28:14 pm »

BÙI TAM ĐỒNG

Bùi Tam Đồng người làng Thượng Hộ, tổng Thượng Hộ, huyện Duyên Hà, nay thuộc xã Minh Hồng, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình, đậu cử nhân khoa Bính Tý (1876).    

Bùi Tam Đồng có thời làm huấn đạo huyện Duyên Hà, Hưng Nhân; có thời gian được Tự Đức cử làm Hà đê phó sứ chuyên lo chỉ huy đắp đoạn đê Văn Giang. Ông là một nhà Văn thân chống Pháp. Khi ông làm Huấn đạo huyện Duyên Hà, nghe đồn về cậu bé kỳ tài Nguyễn Văn Cẩm, ông đã cùng hai người bạn đến xem mặt và thử tài. Khách đến nhà, Kỳ Đồng đang chơi trò thuyền vỏ trứng ở ngoài ao. Thấy Kỳ Đồng có cái chỏm và hai trái đào ông Huấn đạo liền đọc: “Một thằng ba chỏm tóc”'. Không cần suy nghĩ, Nguyễn Văn Cẩm ứng khẩu đáp: “Ba cụ chín chòm râu”. Cử nhân Bùi Tam Đồng phải phục là tài. Từ đó cử nhân Bùi Tam Đồng cùng với Phó bảng Trần Xuân sắc, cử nhân Nguyễn Bá Ôn đã cùng nhau dạy dỗ, giúp cho tài năng thần đồng của Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm ngày càng bay cao, bay xa.

Trong đám giỗ do Kỳ Đồng tổ chức, đã tụ họp các văn thân, phát động nhân dân các tỉnh đồng bằng khởi nghĩa và đưa ra việc mở đồn điền ở chợ Kỳ (Yên Thế, Bắc Giang), các ông đã phân công Bùi Tam Đồng giúp Kỳ Đồng vận động người và của đi mở đồn điền, còn Nguyễn Bá Ôn, Phan Cung giúp Nguyễn Khắc Tỉnh xây dựng lực lượng vũ trang.

Việc Kỳ Đồng trở về nước, mở đồn điền ở chợ Kỳ, Yên Thế và cùng những sĩ phu ủng hộ Kỳ Đồng đi khắp các tỉnh tập hợp quần chúng, làm cho nhà cầm quyền Pháp lo lắng, tìm mọi cách để bắt. Bùi Tam Đồng hiểu rõ việc Kỳ Đồng lập đồn điền chỉ là cái cớ để xây dựng căn cứ quân sự ở Yên Thế bên cạnh căn cứ của Đề Thám. Bùi Tam Đồng còn hiểu rõ ý nghĩa này trong bài thơ: “Niềm vui vỡ đồn điền” trong đó có câu: “Lấy Nông nghiệp tạo thành quân nghiệp”. Vì vậy Bùi Tam Đồng đã cùng các nhà nho ở trong nhóm văn thân trước đây như các ông Trần Hữu Giảng, Trần Văn Gia, Trần Xuân Tuyên ở thôn Quần Anh... (nay thuộc xã Hải Trung, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định tuyên truyền vận động nông dân và cả các nho sĩ, nghĩa quân của các cuộc khởi nghĩa trước, một số tổng lý yêu nước có những nhà rất giàu, tham gia.

Khi Kỳ Đồng bị nhà cầm quyền Pháp bắt đày ở đảo Hahiti, cuộc khởi nghĩa do Mạc Đình Phúc lãnh đạo bị đàn áp, thực dân Pháp điên cuồng khủng bố bắt những người có liên quan, cử nhân Bùi Tam Đổng cũng bị bắt giam giữ một thời gian dài, sau không đủ chứng cớ buộc tội, chúng phải thả.




TRẦN XUÂN SẮC

Trần Xuân sắc tự là Trọng Ôn, hiệu là Đông Viên, biệt hiệu là Đông Hải tiên sinh, sinh năm Đinh Mùi (1847). Ông là người xã Đông Thành, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định, nay Đông Thành thuộc huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.

Năm Quý Mùi (1879) ông đỗ phó bảng, lúc 33 tuổi. Ông được làm tri huyện huyện Tiên Lữ là một huyện nghèo ở trên bờ Hữu ngạn sông Luộc, tỉnh Hưng Yên.

Năm 1882 quân Pháp đánh Bắc Kỳ lần thứ hai, một số quan lại vô liêm sỉ trở thành tay sai của giặc Pháp, đàn áp nhân dân như Nguyễn Chính, Trần Đình Túc, Hoàng Cao Khải. Ông chán nản bỏ quan về nhà ở xã Đông Thành dạy học.

Tại đây, ông có mối liên hệ chặt chẽ với những nhà nho yêu nước thuộc phe chủ chiến như Nguyễn Quang Bích, Tạ Quang Hiện, Nguyễn Thiện Thuật, Nguyễn Hữu Đức...

Giặc Pháp và tay sai cho Pháp như Tổng đốc Nam Định Vũ Văn Báo cho mật thám theo dõi ông. Ông là người có nhân nghĩa, khảng khái, sống thanh cao, nên được các nghĩa sĩ và nhân dân mến phục, hết lòng bảo vệ, nên tránh được nhiều phen nguy hiểm.

Ông không chỉ dạy văn chương, chữ nghĩa mà còn truyền cho học trò tinh thần yêu nước, thương dân. Nhiều học trò của ông trở thành những chiến sĩ cách mạng kiên cường.

Nghe tiếng Kỳ đồng Nguyễn Văn cẩm, ông đã gặp và thử tài của cậu, ông ra cho Kỳ Đồng một vế đối:

Ngữ bá tự xưng ngũ xích đồng.

Nghĩa là: đứa bé 12 tuổi (5 thước) cũng thấy xấu hổ khi nói đến dạo Ngũ Bá.

Vì thế thực dân Pháp cho người theo dõi ông.

Từ khi được gặp mặt và trò truyện với cậu bé thông minh, xuất chúng, ông thường xuyên đến Ngọc Đình để bồi dưỡng một cách có hệ thống và cơ bản về kinh sách, về đạo làm người cho cậu bé thông minh này. Trần Xuân sắc quả không lầm, Nguyễn Văn Cẩm không hề tự phụ, kiêu căng về sự thông tuệ khác thường của mình, mà đã chăm học học tập bài thày giảng, kể cả những điều mình đã biết. Trần Xuân Sắc đã cùng Nguyễn Bá Ôn, cử nhân Bùi Tam Đồng đã góp một phần vào việc hun đúc nhân tài Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm.

Năm 1907, Trần Xuân sắc cùng các nhà nho Nguyễn Hữu Cương, Ngô Quang Đoan ở huyện Kiến Xương, Lý Thoa mở trường dạy học chữ quốc ngữ theo chương trình của trường Đông Kinh nghĩa thục ở Hà Nội. Trần Xuân sắc dạy học suốt 40 năm, đào tạo rất nhiều nhân tài cho đất nước. Ông mất ngày 30 tháng 5 năm Kỷ Mùi (1919) thọ 72 tuổi.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4839



« Trả lời #142 vào lúc: 27 Tháng Tám, 2012, 03:30:24 pm »

SƯ CỤ VƯƠNG QUỐC CHÍNH

Sư cụ Vương Quốc Chính là một nhà nho yêu nước ở làng Cổ Am, huyện Vĩnh Bảo, phủ Kiến An tỉnh Hải Dương, nay thuộc quận Kiến An, thành phố Hải Phòng. Cụ là một nhà sư uy tín trụ trì và thuyết pháp ở nhiều chùa tại phủ Kiến An, trong đó có chùa Hoa Long ở núi Voi, huyện An Lão, phủ Kiến An. Cụ là bạn thân của Tổng đốc Hải Yên kiêm Tán tương quân vụ Nguyễn Thiện Thuật. Khi ông Thuật từ quan, dựng cờ khởi nghĩa ở Chí Linh, Đông Triều, sư cụ Vương Quốc Chính cùng một số đồ đệ đã có mặt dưới cờ. Sư cụ được chủ tướng giao cho về Kiến An phát động các tầng lớp nhân dân khởi nghĩa chống Pháp.

Tháng 9 năm 1885, Nguyễn Thiện Thuật nhận được chiếu Cần vương của vua Hàm Nghi về nước nhận nhiệm vụ lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy thì Vương Quốc Chính gia nhập cuộc khởi nghĩa do Cử Bình, Nguyễn Văn Tư quê ở huyện An Lão phát động. Các thủ lĩnh nghĩa quân An Lão xây dựng căn cứ ở chùa Hoa Long - nơi sư cụ Vương Quốc Chính tu hành. Nghĩa quân đã đánh nhiều trận, gây thiệt hại nặng nề cho quân Pháp. Chúng cho quân vây ráp, sư cụ phải đi lánh nạn ở Hương Sơn một thời gian, khi giặc Pháp rút lại trở về chùa và tiếp tục tu hành.

Tháng 7 năm 1889, sư cụ Vương Quốc Chính dẫn một số nghĩa quân chạy sang huyện Lang Tài, tỉnh Bắc Ninh để nhập vào đạo quân do Nguyễn Thiện Kế, Đề Vinh chỉ huy. Nhưng quân Pháp đã chiếm hết các ngả đường sang Lang Tài, Thuận Thành. Sư cụ tìm về căn cứ Hai Sông ở Thủy Nguyên do Đốc Tít chỉ huy thì căn cứ đã bị 4 cánh quân của Giám binh Blancha và giám binh Lannan, Tán lý Đào Trọng Kỳ, Tán lý Cao Xuân Dục và Hoàng Cao Khải Tư lệnh binh đoàn cảnh sát vây đánh. Ông bèn rút về căn cứ Bãi Sậy ở Khoái Châu nhưng căn cứ này cũng bị quân Pháp vây chặt để triệt đường nghĩa quân đi ứng cứu ở các nơi khác. Sư cụ Vương Quốc Chính được sư ông ở chùa Khúc Lộng (Văn Giang) là trạm liên lạc bí mật của Nguyễn Thiện Thuật, thì được sư ông cho biết Đề Yêm - người mà sư cụ từng gặp trong các cuộc họp tướng lĩnh đang xây dựng căn cứ ở Chùa Tuyết Sơn động trên núi Bảo Đài, chùa Hương Sơn. Sư cụ đã từng hành Hương tới chùa theo lối tắt Phủ - Lý - Ba Sao, liền cho quân lính cải trang thành phường thợ gặt, thợ sơn tràng đi làm nhiều tốp nhỏ, đến tập kết ở chùa Hương Sơn.

Đề Yêm vui mừng đón nhận vị sư yêu nước vào bộ chỉ huy và còn yêu cầu cụ trụ trì chùa Ngọc Long Động vì sư ông ở đây vừa viên tịch.
Tuy nương thân nơi cửa Phật, nhưng sư cụ Vương Quốc Chính vẫn bí mât liên lac với các đồng chí mưu viêc cứu nước. Ngày rằm tháng 4 năm 1895 họ cùng về chùa Tuyết Sơn họp bàn việc thành lập tổ chức cứu nước, lấy tên là hội Thượng Chí. Cuộc khởi nghĩa đã gây cho giặc Pháp nhiều tổn thất rất lớn, chúng thẳng tay đàn áp cuộc khởi nghĩa. Sư cụ Vương Quốc Chính và nhiều nhà sư ở Sơn Tây, Hà Đông bị giặc Pháp giết hại.

Cuộc vũ trang chống xâm lăng của sư cụ Vương Quốc Chính khởi xướng, tuy thất bại, nhưng vẫn nêu một tấm gương sáng chói lọi trong cuộc chiến đấu cứu nước quật cường của dân tộc Việt Nam.




ĐỖ ĐỨC KIÊN

Đỗ Đức Kiên người làng Đăm Giữa, xã Tây Tựu, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội, từng làm Chánh tổng.

Khi quân Pháp đánh thành Hà Nội lần thứ 2 (1882), Đỗ Đức Kiên cùng một số trai làng gia nhập đội dân binh, hỗ trợ cho đạo quân của Hoàng Kế Viêm, Tôn Thất Thuyết, quân Cờ đen do tướng Lưu Vĩnh Phúc chỉ huy đánh quân Pháp ở Cầu Giấy giết chết tên đại tá Franci Garnier. Sau trận này ông lấy danh nghĩa là chánh tổng tuyển mộ tuần đinh, rào làng chống cướp để xây dựng lực lượng nghĩa quân.

Biết ông là người có nghĩa khí, căm thù giặc Pháp, sau lần tiếp xúc với sư cụ Vương Quốc Chính, sư ông Thích Thanh Trang đã tuyên truyền, vận động ông tham gia hội Thượng Chí do sư cụ Vương Quốc Chính tổ chức và lãnh đạo. Đỗ Đức Kiên hăng hái hưởng ứng và đã vận động nhân dân ở ba làng Đăm thuộc xã Tây Tựu gia nhập hội Thượng Chí.

Năm 1887, sư cụ Vương Quốc Chính nhận thấy số hội viên đã đông đảo, nhất là ở hai tỉnh Hà Đông và Sơn Tây, nên quyết định thành lập lực lượng vũ trang.

Tại cuộc hội nghị thành lập lực lượng vũ trang, Đỗ Đức Kiên được giao chức Chánh Để đốc. Sau khi được phong chức Chánh Đề đốc Đỗ Đức Kiên cùng các ông Tán lý quân vụ phát động toàn dân Tây Tựu, kế cả hào lý gia nhập nghĩa quân hoặc ủng hộ nghĩa quân. Núp dưới danh nghĩa rào làng chống cướp. Đề Kiên đã biến làng Đăm Giữa và cả xã Tây Tựu thành làng chiến đấu trong lũy, ngoài hào.

Đề Kiên đã cùng với nghĩa quân đánh và đẩy lùi được một số cuộc tiến công của giặc. Chúng điên cuồng truy sát, bắt được Đề Kiên, chúng dùng mọi cực hình tra tấn ông, để bắt ông khai ra những cơ sở, những thủ lĩnh cùng nghĩa quân của Hội Thượng Chí. Song ông bền gan vững chí cắn răng chịu đựng không khai nửa lời. Chúng đem ông ra Chợ Nhổn chém cắm đầu vào cọc bêu ở chợ. Nhân dân thương tiếc vị Chánh Đề đốc đang đêm lén lấy được thi hài ông về chôn cất, không đắp nấm, xóa dấu vết.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4839



« Trả lời #143 vào lúc: 27 Tháng Tám, 2012, 03:32:53 pm »

NGUYỄN HANH

Nguyễn Hanh - còn gọi là Tú Hanh, quê ở làng cổ Nhuế thuộc huyện Từ Liêm là một người hăng hái nhiệt tình chống Pháp. Ông đã cùng các nhà sư có lòng yêu nước như Vương Quốc Chính, Thích Thanh Trang lập nên hội Thượng Chí. Sau một thời gian hoạt động, Hội Thượng Chí đã gây cho giặc nhiều tổn thất nặng nề... Sau cuộc tiếp kiến với sư cụ thủ lĩnh hội Thượng Chí, Nguyễn Quý Hoan đã cùng Nguyễn Hanh xây dựng lực lượng quân sự bí mật ở Hưng Hóa, Sơn Tây, Bắc Ninh và Hà Đông...

Năm 1897 Vương Quốc Chính thủ lĩnh hội Thượng Chí chính thức thành lập lực lượng vũ trang có năm quân là Trung quân, Tiền quân, Hậu quân. Tả quân, Hữu quân, Nguyễn Hanh được cử làm Tiền quân Nguyễn Quý Hoan được cử làm Tiền quân Hộ lý. Các ông cùng chỉ huy của bốn quân tích cực xây dựng lực lượng, huấn luvện quân sự, trang bị vũ khí, tích trữ lương thực đợi thời cơ khởi nghĩa.

Tháng 10 năm 1898 Trung quân Trương Công Bỉnh cùng một số nghĩa quân bị quân Pháp bắt ở Hà Nội. Trước tình hình đột biến không có lợi cho nghĩa quân, Vương Quốc Chính đã triệu tập cuộc họp chỉ huy năm cánh quân họp ở nhà Tiền quân Nguyễn Hanh ở làng Cổ Nhuế để bàn cụ thể kế hoạch khởi nghĩa. Hội nghị quyết định khởi nghĩa vào 10 giờ đêm ngày mùng 5 tháng 12 năm 1898. Hiệu lệnh là khi nhà máy điện bị
đánh hỏng, điện tắt thì khởi sự. Cũng trong cuộc họp này chỉ huy các cánh quân đã cử Tiền quân Nguyễn Hanh giữ chức chỉ huy Trung quân, Tổng chỉ huy cả năm cánh quân, Tiền quân Hộ lý Nguyễn Quý Hoan được cử giữ chức chỉ huy Tiền quân.

Chập tối ngày 5 tháng 12 năm 1898, theo sự phân công của Vương Quốc Chính và Trung quân Nguyễn Hanh, chỉ huy các cánh quân dẫn quân vào mai phục ở các vị trí được chỉ định trước. Trung quân Nguyễn Hanh, Trung quân Hộ lý Trương Công Xán, cùng Tiền quân Nguyễn Quý Hoan cùng các ông Hoa Văn Trứ, Hoa Văn Châu, Hoa Văn Hưng đưa quân đã tập trung ở Cổ Nhuế, Nguyễn Văn Khuyến đưa quân từ Chèm lên phục sẵn trong thành Hà Nội để đánh chiếm các cơ quan, đặc biệt là nhà đèn. Song kế hoạch đánh thành Hà Nội bị bại lộ, trước đột biến đó Nguyễn Hanh cho liên lạc đi báo cho các cánh quân rút lui? nhưng các liên lạc phái đi đều bị giặc bắt, ông đành lệnh cho Trung quân rút lui. Song việc vượt ra khỏi thành lúc này rất khó khăn vì khắp các đường phố, cửa ô đều có quân giặc chặn đường, nghĩa quân lại không quen đường phố nên phần lớn bị bắt. Sau vài ngày lẩn trốn Trung quân Nguyễn Hanh bị giặc Pháp bắt giết ở cổ Nhuế chặt đầu cắm cọc bêu ở chợ. Giặc Pháp triệt hạ làng cổ Nhuế, truy lùng họ Nguyễn và họ Hoa. Hai họ phải chạy rải đi các nơi, một chi nhánh đổi thành họ Văn. Một chi họ Hoa chạy sang làng Quảng Bá đổi là Vũ Hoa.





SƯ CỤ THÍCH THANH TRANG

Sư Thích Thanh Trang tên thật là Nguyễn Trang, quê ở tỉnh Hải Dương, nhà sư đã từng tham gia cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy do Nguyễn Thiện Thuật lãnh đạo.

Năm 1890 trước tình hình khó khăn, Nguyễn Thiện Thuật sang Trung Quốc cầu viện, giao binh quyền lại cho em trai là Nguyễn Thiện Kế. Giặc Pháp huy động lực lượng lớn quân đội : đánh phá các căn cứ của nghĩa quân, nhiều thủ lĩnh nghĩa quân hy sinh, Nguyễn Trang phải lánh lên Hạ Mỗ, nương nhờ cửa Phật lấy pháp hiệu là Thích Thanh Trang tu ở chùa Hạ Mỗ chờ thời cơ khởi nghĩa đánh Pháp.

Đầu năm 1895, ông liên lạc được với sư cụ Vương Quốc Chính, nhà sư Thích Thanh Hữu ở phủ Hoài An thành lập một tổ chức đánh Pháp lấy tên là Hội Thượng Chí. Các ông họp toàn dân tố cáo tội ác của giặc Pháp, phát động nhân dân vũ trang khởi nghĩa, làm lễ tế cờ ở chùa Hạ Mỗ, thề tiêu diệt hết giặc Pháp đem lại cuộc sống tự do cho dân, độc lập cho nước.

Vương Quốc Chính và các tướng đang ráo riết chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa thì tháng 10 năm 1898, Trung quân Trương Công Bỉnh và một số đồng chí của ông bị giặc Pháp bắt ở Hà Nội.

Ngày 1 tháng 12 năm 1898, các tướng họp ở nhà Tiền quân Nguyễn Hanh ở làng Cổ Nhuế quyết định khởi nghĩa vào đêm 5 tháng 12 năm 1898, cử Tiền quân Nguyễn Hanh chỉ huy Trung quân thav Trương Công Bỉnh. Mục tiêu nổ súng là Hà Nội và Sơn Tây cùng đánh. Hiệu lệnh là đèn điện tắt. Hữu quân Chánh tướng Thích Thanh Trang nhận nhiệm vụ chỉ huy cánh quân từ Nam Định lên tập kết ở huyện Thường Tín hành quân qua Văn Điển tiến vào Hà Nội. Vương Quốc Chính và các tướng đã quá lo xa cho rằng Trương Công Bỉnh và một số tướng của ông bị bắt thì kế hoạch khởi nghĩa bị bại lộ. Nhưng Trương Công Bỉnh và các tướng của ông bị bọn thống trị Pháp tra tấn cực kỳ dã man, song vẫn không khai báo về tổ chức Thượng Chí. Vì vậy đến lúc đó bọn thống trị Pháp chỉ được bọn quan lại tay sai như Lê Hoan, cố đạo Vallexô ở nhà thờ tỉnh lỵ Bắc Ninh cũng chỉ nghi ngờ có một tổ chức chống Pháp mới được hình thành ở Hà Nội, Hà Đông, Sơn Tây, Hải Dương. Còn về ai là người đứng đầu tổ chức đó, mục tiêu của tổ chức đó là gì thì chúng chưa hề biết. Còn về cuộc bạo động, tướng Bichot chỉ biết 1 giờ trước khi nổ súng. Hắn lập tức cho quân phong tỏa các ngả đường vào Hà Nội. Hữu quân Thích Thanh Trang chờ đợi, đã quá giờ mà đèn điện vẫn chưa tắt. Các hiệu lệnh khác như trống chiêng không có. Ông phái liên lạc đi gặp trung quân Nguyễn Hanh, thì khắp Hà Nội chỗ nào cũng có lính Tây, lính ta chặn các ngả đường và tuần tra trên các phố. Ông biết cuộc khởi nghĩa đã bại lộ, hạ lệnh rút quân. Nhưng đã quá muộn, bọn thống trị Pháp huy động tất cả lính Âu - Phi, lính Nam, cảnh sát, chặn tất cả các đường ra khỏi thành phố khám xét. Hữu quân Thích Thanh Trang và nhiều nghĩa quân bị giặc Pháp bắt. Chúng biết sư ông Thích Thanh Trang chỉ huy Hữu quân Chánh tướng, nên tra tấn vô cùng tàn bạo, song không moi được ở nhà sư lời khai nào. Giặc Pháp đưa sư ông về chùa Hạ Mỗ, bắt nhân dân ra điểm mục, tiếp tục tra tấn, bắt nhà sư phải chỉ mặt những người đã tham gia vào đội nghĩa quân và những người giúp đỡ hội Thượng Chí. Chúng chém ông tại gốc duối.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4839



« Trả lời #144 vào lúc: 27 Tháng Tám, 2012, 03:36:05 pm »

ĐỒ MẬU

Đồ Mậu tên thật là Vũ Như Đẩu, sở dĩ có tên gọi là Đồ Mậu vì ông nối nghiệp cha là cụ Tú Phác ngồi dạy học ở “Mậu Hòa giảng thất”, huyện Đan Phượng gần Cầu Đơ thị xã Hà Đông, nay Mậu Hòa thuộc xã Minh Khai, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây. Nối chí lớp Văn thân đàn anh như Vũ Như Cầu, Vũ Duy Ninh, Nguyễn Tư Giản, Lê Văn Diên, Ngô Văn Dạng... năm 1896 Đồ Mậu Vũ Như Đẩu đã gia nhập hội Thượng Chí do Sư cụ Vương Quốc Chính tu ở chùa Ngọc Long Động, khu Hương Tích tổ chức.

Khi Sư cụ Vương Quốc Chính thành lập lực lượng vũ trang chống Pháp thì nhà thờ họ Vũ ở làng Mậu Hòa được chọn làm nơi hội họp, làng Mậu Hòa là địa điểm tập trung nghĩa quân vùng Cầu Đơ quanh thị xã Hà Đông hiện nay.

Theo sách “Chống xâm lăng” của Giáo sư Trần Văn Giàu có đoạn như sau:

... Đồ Mậu được phong làm Tán tương quân vụ nghĩa quân. Trước khi xuất phát, ông làm lễ Tế cờ ở đình làng Mậu Hòa, ứng tác một bài vè cổ động tướng sĩ, rồi mới kéo quân đi về phía Cẩu Đơ.

Khi phiên chế 5 cánh quân, Đồ Mậu dược phong làm Tán tương quân vụ của Trung quân Trương Công Bỉnh. Sau một thời gian chuẩn bị. Vương Quốc Chính nhận thấy chưa đủ vũ khí (cần chuẩn bị thêm) và thời cơ khởi nghĩa vào tháng 12/1898. Nhưng các thủ lĩnh nhận được tin giặc Pháp ở Hà Nội và các tỉnh đánh hơi đang có sự chuẩn bị cho cuộc khởi nqhĩa ở nhiều tỉnh. Đến tháng 10/1898 xảy ra sự kiện là Trung quân Trương Công Bỉnh và một số nghĩa quân bị giặc Pháp bắt ở Hà Nội. Vì vậy, ngày 1/12/1898, Lãnh tụ 5 quân họp tại nhà Tiền quân Nguyễn Hanh ở làng Cổ Nhuế để bàn kế hoạch khởi nghĩa. Sau một hồi thảo luận, Hội nghị đỡ nhất trí phải khỏi sự sớm vào giờ đêm ngày 5 tháng 12 năm 1889 tại Hà Nội đang có Hội chợ, có nhiều người đi lại, giặc Pháp không để ý”.


Hội Thượng chí đã tổ chức một cuộc khởi nghĩa. Theo đúng mệnh lệnh tác chiến, Đồ Mậu chỉ huy các cánh quân ở phía tây huyện Đan Phượng và vùng chung quanh Cầu Đơ (thị xã Hà Đông và vùng phụ cận ngày nay) về đình Mậu Hòa làm lễ Tế Cờ sau đó tiến ra Cầu Đơ thẳng đường về tập kết ở Ngã Tư Sở. Do cuộc khởi nghĩa nổ ra trước kế hoạch, vũ khí trang bị chưa thật đầy đủ, việc trinh sát các mục tiêu tấn công chưa được chính xác, và kế hoạch đánh Hà Nội bị bại lộ trước giờ nổ súng 1 tiếng đồng hồ. Nên quân Pháp có đủ thời gian bố phòng các mục tiêu, tổ chức lực lượng cơ động phản kích. Hơn nữa, chỉ có hiệu lệnh tấn công duy nhất là đèn điện thành phố tắt thì nổ súng, không có hiệu lệnh thứ hai như pháo lệnh, trống, chiêng nên khi giặc Pháp phát hiện ra cuộc tấn công bắt hết kíp thợ điện, đưa lính vào nhà máy, không tắt điện, thì các cánh quân chuệch choạc người đánh người rút. Đồ Mậu chờ đợi tới gần 12 giờ đêm, thấy đèn điện vẫn sáng thành phố vẫn yên tĩnh, đành phải ra lệnh rút lui. Nhưng khi đó đã quá chậm, quân Pháp đã bịt kín con đường từ Ngã Tư Sở về Hà Đông bằng rất nhiều toán quân mai phục và tuần tiễu. Đồ Mậu cùng nhiều nghĩa binh bị quân Pháp bắt, chúng xích tay chân ông cho vào cũi rồi đem đi đày ở Côn Đảo.

Vũ Thế Khôi viết về sự kiện này trong “Vũ Tông Phan với Văn hóa Thăng Long” như sau: ''Theo vài người cùng đi tù với Đồ Mậu ở Côn Đảo mãn hạn trở về nói với thân nhân ông Đồ Mậu thì sau một thời gian ra đảo, ông cùng một số đồng chí đóng bè vượt ngục, nhưng đã hy sinh ỏ giữa biển. Họ dặn thân nhân ông Đồ lấy ngày ông đồ xuống mảng vượt biển làm ngày giỗ và đưa một ít tiền quyên góp cho vợ ông Đồ Mậu và khuyên bà nên đưa con trốn đi xa tìm kế sinh nhai”.




LANG XÁNG

Lang Xáng tên thật là Lý Diễm, người làng Bồng Lai (khu vực Hồ Tây, Hà Nội). Ông nguyên là dũng tướng của Sư cụ Xướng tu ở chùa Đạm Nội, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Yên là thủ lĩnh nghĩa quân đánh Pháp ở huyện Bình Xuyên.

Khi quân Pháp tập trung quân đàn áp được các cuộc khởi nghĩa ở Vĩnh Yên, Phú Thọ, nghĩa quân của cụ Xướng tan rã. Sư cụ Xướng trở về chùa đau buồn vì cảnh nước mất nhà tan, nhịn ăn mà hóa. Tướng của sư cụ là Lang Xáng (tức Lý Diễm) đến làm thày tự ở chùa Đạm Nội để hương khói, chăm lo phần mộ cho vị thủ lĩnh nghĩa quân.

Tuy nương nhờ cửa Phật, nhưng Lang Xáng vẫn bí mật liên lạc với nghĩa quân của Sư cụ Xướng đang tản mát ở các nơi, động viên anh em giữ vững ý chí chờ thời cơ đánh Pháp. Đối với anh em túng thiếu ông còn chu cấp gạo tiền. Lang Xáng cũng biến chùa Đạm Nội thành nơi trú chân an toàn cho các tướng lĩnh, nghĩa quân của sư cụ Xướng đang bị giặc Pháp truy nã.

Sau khi biết Hội Thượng chí được thành lập, Lang Xáng đưa hơn 20 nghĩa quân cũ của mình về chùa Ngọc Long Động gia nhập nghĩa quân. Vương Quốc Chính giao cho Lang Xáng và anh em cùng đi lo việc huấn luyện quân sự, sử dụng vũ khí cho tân binh, sau đó giao cho mỗi người chỉ huy một toán quân.

Khi phiên chế năm cánh quân: Trung quân, Tiền quân, Hậu quân, Tả quân, Hữu quân thì Lang Xáng được cử làm Tả quân Hộ lý, làm phó tướng cho Tả quân Nguyễn Đăng Quế.

Trong khi Vương Quốc Chính và bộ Tham mưu khẩn trương chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa thì chỉ huy Trung quân Trương Công Bỉnh và một số nghĩa quân bị bắt ở Hà Nội hồi tháng 10/1898.

Các tướng lĩnh lo kế hoạch bị bại lộ, nên tại Hội nghị các chỉ huy các cánh quân họp ngày 1 tháng 12 năm 1898 tại nhà Tiền quân Nguyễn Hanh ở làng Cổ Nhuế, đã quyết định khởi nghĩa vào 10 giờ đêm ngày 5 tháng 12 năm 1898, hiệu lệnh là nhà máy đèn bị phá, điện tắt. Lang Xáng được giao nhiệm vụ cùng Đề đốc Hoành, Chánh Đề đốc Đỗ Đức Kiên đưa quân về tập kết ở Cầu Giấy chờ lệnh. Song bọn cầm đầu quân sự Pháp là trung tướng Bichot đã biết trước kế hoạch đánh Hà Nội của nghĩa quân một tiếng đồng hồ, nên đã lệnh cho quân Pháp ở Hà Nội đối phó.

Cuộc khởi nghĩa thất bại, quân Pháp truy kích lùng sục khắp nơi để bắt nghĩa quân. Lang Xáng trốn tránh được ít ngày thì bị chúng bắt và giết hại.

Lang Xáng xứng danh là một dũng tướng trong cuộc khởi nghĩa của sư cụ Xướng và trong cuộc khởi nghĩa Vương Quốc Chính.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4839



« Trả lời #145 vào lúc: 27 Tháng Tám, 2012, 03:39:50 pm »

HOA VĂN TRỨ - HOA VĂN CHÂU - HOA VĂN HƯNG

Trong Hội Thượng Chí thành lập năm 1895 và lực lượng vũ trang của Hội thành lập năm 1897 do sư cụ Vương Quốc Chính làm thủ lĩnh có ba anh em ông Hoa Văn Trứ - Hoa Văn Châu - Hoa Văn Hưng đã từng tham gia chặn đánh quân Pháp ngày 7/6/1883 làm thất bại âm mưu đánh tỉnh thành Sơn Tây của chúng.

Ba ông còn đi gặp bạn bè cùng chí hướng trong vùng tuyên truyền mục đích tôn chỉ của hội Thượng Chí rồi giới thiệu với ông Tú Hanh kết nạp.

Năm 1897 khi lực lượng hội Thượng Chí đã mạnh, Vương Quốc Chính quyết định thành lập lực lượng vũ trang Hoa Văn Trứ - Hoa Vãn Châu đã tuyển chọn các hội viên tích cực hăng hái, trung thành để thành lập đội nghĩa binh vùng cổ Nhuế. Hoa Văn Hưng làm nhiệm vụ trang bị vũ khí và quyên góp quân lương.

Các ông đã chọn chùa Sùng Quang một ngôi chùa được mở rộng từ thời Lê rộng tới 5 mẫu để làm nơi luyện tập quân sự cho nghĩa binh. Công việc chuẩn bị khởi nghĩa đang tiến hành khẩn trương thì Trung quân Trương Công Bỉnh bị giặc Pháp bắt ở Hà Nội- Hội nghị các tướng lĩnh họp ở nhà Nguyễn Hanh đã cử ông giữ chức chỉ huy Trung quân, cử Nguyễn Quý Hoan giữ chức Tiền quân thay Nguyễn Hanh, Hoa Văn Trứ - Hoa Văn Châu - Hoa Văn Hưng giữ chức Hộ lý Tiền quân.

Chuẩn bị cho trận đánh đêm 5/12/1898, các Hộ lý Tiền quân Hoa Văn Trứ - Hoa Văn Châu - Hoa Văn Hưng đưa quân từ vùng Cổ Nhuế, Nguyễn Văn Khuyến đưa quân từ Chèm lên phục  sẵn trong thành phố Hà Nội để đánh chiếm các cơ quan, đặc biệt la phá nhà máy đèn. Song kế hoạch trận đánh đã bị bại lộ trước 1 tiếng đồng hồ, giặc Pháp kị.p thời đối phó, bắt hết kíp thợ điện làm nội ứng thay vào đó là lính thợ. Hầu hết các mục tiêu tấn công của nghĩa binh đều được phòng thủ chắc chắn. Cuộc tấn công không thành chỉ có mũi đánh đồn Ngọc Hà, mặc dù điện không tắt vẫn tấn công đồn và nhà tên chỉ huy Cátxiê. Khi cuộc khởi nghĩa thất bại, giặc Pháp bắt được cả ba anh em họ Hoa. Chúng giết Hoa Văn Trứ chặt đầu treo ở cây gạo làng Cổ Nhuế. Còn ông Hoa Văn Châu và Hoa Văn Hưng cùng một số thủ lĩnh khác chúng đày ra Côn Đảo. Hai ông bị chúng hành hạ đã hy sinh ở đó.

Về sự kiện cuộc khởi nghĩa Vương Quốc Chính đêm 5/12/1898 ở Hà Nội được Lịch sử cách mạng xã cổ Nhuế (1930- 1992) viết như sau:

 “...Ở Cổ Nhuế, phong trào chống thực dân Pháp rất sôi động, đứng đầu là các ông Hoa Văn Trứ - Hoa Văn Châu - Hoa Văn Nhung trong nghĩa đảng Vương Quốc Chính có kế hoạch đánh chiếm thành Hà Nội, đầu não của giặc Pháp. Đêm ngày 5 tháng 12 năm 1898 cuộc bạo động đã nổ ra. Cánh quân Cổ N huế do ông Hoa Văn Trứ chỉ huy đã đánh chiếm được đồn Ngọc Hà. Cánh quân Đỗ Đắc Kiên ở Tây Tựu đã kéo vào Cầu Giấy, các cánh quân ở Hà Đông, Sơn Tây đã kéo vào nội thành nhưiĩg do các cánh quân đã không liên lạc được với nhau, không cố sự phối hợp hành động nên cuộc khởi nghĩa thất bại.

Thực dân Pháp ra sức đàn áp, các ông Hoa Văn Trứ, Hoa Văn Châu, Hoa Văn Nhung bị bắt. Ông Trứ bị giặc đưa về làng, chúng chém ông rồi bêu đầu lên cây gạo đầu làng, các ông khác bị đầy đi Côn Đảo rồi không thấy trở về”
.

Sau vụ này giặc Pháp triệt hạ làng Cổ Nhuế, truy lùng những người họ Nguyễn và họ Hoa. Hai họ phải chạy dạt đi các nơi, một chi nhánh đổi thành họ Văn, một chi họ Hoa chạy sang làng Quảng Bá đổi là Vũ Hoa.





VUA THÀNH THÁI

Hoàng tử Nguyễn Phước Bửu Lân con thứ bẩy của vua Dục Đức và bà Từ Minh Phan Thị Điểu lên ngôi vua ngày Mậu 1 Thân, tháng giêng, năm Kỷ Sửu (01/2/1889) lấy niên hiệu là Thành Thái.

Thành Thái vốn là ông vua thông minh và có khí phách anh hùng. Nhà vua hiểu rõ muốn đánh thắng Pháp thì phải hiểu rõ lịch sử, sự phát triển xã hội, cả về kinh tế, quân sự của Pháp. Vì vậy ông rất chăm chỉ học tiếng Pháp, chữ Pháp, đọc nhiều tân thư của Pháp, Nhật, Anh được dịch ra tiếng Hán. Vua Thành Thái chịu ảnh hưởng tư tưởng của các nhà cách mạng Nhật, Trung Hoa. Ngài tìm hiểu phong trào Duy tân của hai nước này và khao khát cải cách quốc gia về mọi mặt, những mong đưa đất nước đến chỗ phú cường, thịnh trị. Ngài bắt các hoàng thân, quốc thích học theo hướng của Trung Hoa, Nhật Bản. Nhưng những ý tưởng, chủ trương của Ngài đều bị tòa Khâm sứ ngăn trở. Vua Thành Thái có đầu óc Duy tân, không thủ cựu như các tầng lớp vua, quan thời đó.

Vua Thành Thái có nhiều lần phát ngôn chống đối người Pháp, phê phán bọn quan lại theo Pháp, quên cả Tổ quốc, quên nhân dân. Bọn cầm quyền Pháp thấy để nhà vua tồn tại không có lợi cho sự thống trị của chúng, muốn phế truất song chưa tìm được chứng cớ.

Những hành động yêu nước của Vua Thành Thái đều không qua được những cặp mắt chó săn của Trương Như Cương, Thượng thư bộ Lại, cầm đầu Viện Cơ mật ton hót với Khâm sứ Pháp để lật đổ vua Thành Thái, đưa Bửu Đảo (sau là Khải Định) con rể hắn lên làm vua. Trương Như Cương cho tay chân dò biết vua “bắt” con gái nhập cung không phải để múa hát mà là bí mật thành lập đội nữ binh, hắn ton hót với Khâm sứ. Khâm sứ Pháp cài mật thám vào nội cung. Chúng phát hiện ra một hệ thống đường ngầm dưới những đền đài, lầu các, trong ấy có bia để tập bắn cung, bắn súng. Trong số gươm, súng của đội hát để công khai trên nhà có gươm, có súng, có vũ khí thật xen lẫn vũ khí giả. Trong đại nội lại có nữ võ sư túc trực luyện tập cung kiếm cho cung nga thể nữ.

Ngày 29/7/1907 Tòa Khâm sứ bàn với Hội đồng Thượng thư thăng bổ một số quan lại, Thành Thái không phê chuẩn. Le Vecquet được dịp tuyên bố “Nhà vua không thành thật với Chính phủ Bảo hộ thì từ nay mọi việc Hội đồng thượng thư cứ tùy nghi mà làm”. Le Verquet cũng báo cho vua Thành Thái: “Từ nay nhà vua không còn quyền hành gì và không được ra khỏi nơi ở đã dành cho mình trong Đại nội”. Một Hội động phụ chính được thành lập do Trương Như Cương cầm đầu. Cái Hội đồng toàn là bọn Việt gian bán nước này cùng với Tòa Khâm sứ đưa ra bản Tuyên bố chung “Vì Thành Thái mắc bệnh điên nên hai Chính phủ đã quyết định để bảo vệ lợi ích của quốc gia cũng như của chính bản thân nhà vua”.

Vua Thành Thái bị giam ở điện Càn Thành từ ngày 30 tháng 7 năm 1907. Mùa thu năm 1907, Toàn quyền Brôni và Khâm sứ Trung Kỳ Leveque rất e ngại về vua Thành Thái, chúng đã đày vua ra Cáp Sanh giắc cơ (Capsain Jacque - Vũng Tàu). 9 năm sau, vua cùng với vua Duy Tân bị đi đày ở đảo Réunion.

Năm 1947 vua Thành Thái đã già yếu thực dân Pháp mới cho nhà vua về sống ở Vũng Tàu và chỉ được sống ở Nam Bộ. Năm 1953 ông được ra thăm Huế lần cuối, sau đó ở lại Sài Gòn. Nhà vua mất ngày 24 tháng 3 năm 1954, thọ 76 tuổi. Thi hài của nhà vua được đưa ra táng ở An Lăng gần lăng mộ vua cha Dục Đức.





ĐOÀN VĂN CỰ

Đoàn Văn Cự sinh năm 1835 quê ở làng Bình An, Thủ Đức tỉnh Gia Định, nay thuộc thành phố Hồ Chí Minh. Cha ông là một nhà nho có lòng yêu nước nồng nàn. Ông bị thực dân Pháp theo dõi rời quê hương đến ở rừng Bưng Kiện, thôn Vĩnh Cửu, nay thuộc phường Tam Hoà, tỉnh Đồng Nai.

Đoàn Văn Cự là người thông minh, học giỏi. Nhưng ông không ra làm quan mà theo nghề cha làm thuốc, cứu chữa cho dân. Khi đã về già 67 tuổi, Đoàn Văn Cự đã tập hợp những người yêu nước trong tổ chức “Thiên địa hội”, bề ngoài mang tôn chỉ tôn giáo, song nội dung lại là hoạt động yêu nước, vì vậy dân Nam Kỳ gọi là “Hội kín”.

Ông có quy định chặt chẽ trong liên lạc, thông tin, dùng dù làm tín hiệu liên lạc như:

Dù mang bên Tả, Đảng viên
Đi việc cơ mật nói riêng chủ nhà
Dù mang cái móc trở ra
Bàn sơ chút việc ghé qua đi liền
Dù mang cái móc trở vô
Phải lo cơm nước với đồ nghỉ ngơi.


Đoàn Văn Cự còn xây dựng Bưng Kiện thành một căn cứ kháng chiến, ông đã chiêu mộ nhiều danh tài hảo hán, tinh thông võ nghệ, coi việc nghĩa là việc đại sự, một lòng vì nước, vì dân.

Lợi dụng những buổi giảng đạo, ông khơi dậy lòng yêu nước, căm thù giặc trong các “tín đồ”, đã thành lập lực lượng nghĩa quân bí mật với một lực lượng đông đảo, được trang bị vũ khí và có lương thực dự trữ.

Trong vòng ba năm (1902-1905) lực lượng “Hội kín” của Đoàn Văn Cự rất đông đảo ở khắp các tỉnh Miền Đông. Nơi có tổ chức Hội mạnh nhất là từ Bình Da Chợ Chiếu, (Hiệp Hoà) đến núi Nứa (Bà Rịa).

Để chuẩn bị khởi nghĩa, ông mua súng, lập lò rèn gươm giáo. Ông thường xuyên tập dượt binh pháp cho nghĩa quân. Lực lượng nghĩa quân mau lớn mạnh hoạt động mạnh ở rừng Bưng Kiện.

Ngày mồng 8 tháng 4 âm lịch (khoảng 5/5/1905), quân Pháp do một tên đại uý chỉ huy, bao vây, mai phục tới bờ suối cầu Khỉ...

Vòng vây ngày càng thắt chặt. Đoàn Văn Cự như có linh tính báo trước sự việc nghiêm trọng sắp xảy ra, ông lệnh cho hai tướng Hoàng Mè, Hoàng Giáp tập trung hàng trăm nghĩa quân bố trí lực lượng bảo vệ căn cứ. Đội quân mai phục từ sáng đến tối không thấy động tĩnh gì, ông cho rằng quân Pháp đã rút liền cho nghĩa quân giải tán về ăn cơm. Nhưng nghĩa quân vừa rút thì quân Pháp thắt chặt vòng vây, khi biết rõ trong nhà cụ không có ai, tên đại uý cùng vài tên lính hộ vệ tiến thẳng vào nhà cụ. Khi đó Đoàn Văn Cự đang gọn gàng trong bộ quần áo uy nghi, lẫm liệt, đầu chít khăn lụa điều, lưng thắt dây lưng vải hồng, dắt đoản đao chuôi đầu hổ đang đứng trước bàn thờ tổ, thấy tên đại uý Pháp cùng hai tên lính xộc bước vào, nhanh như cắt cụ xoay người rút đao chém xả vào đầu tên chỉ huy Pháp. Nhưng hắn né tránh kịp nên chỉ đứt mép tai và bị thương ở tay trái. Tên này thoát chết lập tức rút súng bắn vào Đoàn Văn Cự mấy phát, ông chết ngay trước bàn thờ Tổ.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4839



« Trả lời #146 vào lúc: 07 Tháng Chín, 2012, 08:26:58 am »

PHAN BỘI CHÂU

Phan Bội Châu trước năm 1900 có tên là Phan Văn Son, hiệu Hải Thụ, sau hiệu là Sào Nam. Trong quá trình hoạt động cách mạng, ông còn có nhiều tên hiệu, bút danh như Thị Hán, Thiên Phú, Độc Tinh Tử, Cây Sung...

Ông sinh năm 1867 trong một gia đình nhà nho nghèo quê ở làng Đan Nhiễm, tổng Xuân Liễu, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, nay là xã Nam Hoà, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Tháng 10/1900, sau khi cụ thân sinh mất, Phan mới có điều kiện hoạt động cách mạng.

Năm 1901, Phan Bội Châu cùng một số đồng chí chiêu tập nghĩa binh đánh thành Nghệ An, việc không thành. May nhờ có Tổng đốc Đào Tấn che chở, nên không bị thực dân Pháp bắt.

Năm 1903 Phan Bội Châu đến kinh thành Huế đọc sách ở Quốc Tử giám, đã gặp Phan Chu Trinh. Từ đó về sau, hai người còn gặp nhau vài lần nữa, trao đổi chính kiến với nhau. Hai ông thống nhất với nhau là muốn cứu nước thì phải mở mang dân trí, coi trọng giáo dục, đưa thanh niên đi du học ở nước ngoài, mở mang việc tuyên truyền văn hóa mới. Phan Chu Trinh rất khâm phục con người và tài trí của Phan Bội Châu.
Tháng 2/1905, Phan Bội Châu ra Bắc gặp Nguyễn Thượng Hiền, Lương Văn Can bàn việc phát triển Duy tân hội và tổ chức Đông du. Việc Đông du được thực hiện ngay, chuyến đi này ông đem theo bốn học sinh trong đó có hai con trai của cử nhân Lương Văn Can là Lương Nghị Khanh và Lương Lập Nham (Lương Ngọc Quyến)

Ngày 25/02/1905, Phan Bội Châu sang Trung Quốc gặp Lương Khải Siêu và Tôn Dật Tiên, Tại đây ông viết '”Việt Nam vong quốc sử” ( Lịch sử mất nước Việt Nam), lời tựa do Lương Khải Siêu viết.

Tháng 7 năm 1905. Phan Bội Châu về nước tiếp tục đưa thanh niên sang Nhật. Tháng 9 năm 1905 (tháng 8 năm Ất Tỵ) Phan Bội Châu về nước sau đó gặp gỡ Hoàng Hoa Thám ở Yên Thế, Phan Bội Châu về nhà cử nhân Nguyễn Văn Đảng ở làng Nội Duệ, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh bàn việc tổ chức các nhóm “ Minh xã” “Ám xã” và lập các hội Nông, Công, Thương, Học.

Tháng 3 năm 1907 trường Đông Kinh Nghĩa thục thành lập ở Hà Nội, thì văn thơ yêu nước của Phan Bội Châu được đưa vào chương trình giảng dạy ở trường số 4 Hàng Đào và các phân hiệu và trong các buổi diễn thuyết bình thơ văn cho đông đảo công chúng nghe. Trên cơ sở hiểu biết về trường Khánh Ưng Nghĩa thục ở Nhật Bản mà Phan Bội Châu trao đổi với các sĩ phu Hà Nội, Lương Văn Can, Nguyễn Quyền, Đỗ Cơ Quang, Hoàng Tăng Bí, Dương Bá Trạc... đã quyết định thành lập trường Đông Kinh Nghĩa thục.

Văn thơ Phan Bội Châu sôi sục tinh thần cách mạng đã từ trường Đông Kinh Nghĩa thục nhanh chóng phát triển trong nhân dân, trở thành một phong trào.

Từ khi Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp, Phan Bội Châu và nhiều chí sĩ Việt Nam lại nhìn sang Nhật Bản, mong được sự viện trợ “một nước da vàng tiên tiến” để ca ngợi sự nghiệp Minh Trị Duy tân của Nhật và việc Nhật đánh bại Sa hoàng Nga, chủ trương đưa Nhật Bản theo con đường Duy tân.

Việt Nam Duy tân hội sau khi được thành lập cũng đề ra phương châm tranh thủ sự viện trợ của nước ngoài. Phan Bội Châu đích thân đi Nhật và phát động phong trào Đông du. Ông cho rằng Nhật Bản là một nước Châu Á cùng máu đỏ, da vàng và cùng có một nền văn hóa như Việt Nam, “thường lấy việc lợi hại khuyên răn ta, họ nhất định sẽ vui vẻ giúp đỡ chúng ta” .

Nhưng tới giữa năm 1908, đầu năm 1909, Pháp và Nhật cấu kết với nhau giải tán các tổ chức học sinh Việt Nam tại Nhật Bản như “ Công Hiến hội” “Đông Á Đổng văn thư viện”... trục xuất lưu học sinh Việt Nam khỏi Nhật, Phan Bội Châu, Cường Để cũng bị trục xuất. Bấy giờ Phan Bội Châu mới nhận thức được rằng không thể dựa vào Nhật Bản, nên ông chuyển hướng sang đảng cách mạng Trung Hoa và những nước những dân tộc trên thế giới "có căn bệnh giống ta”.

Năm 1911 cách mạng Tân Hợi Trung Quốc thành công, Tôn Trung Sơn được bầu làm tổng thống. Đây là cơ hội thuận lợi cho cách mạng Việt Nam.

Năm 1912 Phan Bội Châu tuyên bố giải thể hội Duy tân thành lập Việt Nam Quang phục hội. Tháng 1 năm 1914, thực dân Pháp thỏa thuận với nhà cầm quyền Quảng Đông bắt Phan Bội Châu giải về Đông Dương giao cho thực dân Pháp. Tuy ở trong tù nhưng Phan Bội Châu vẫn tìm mọi cách liên lạc với các đồng chí chỉ đạo công việc của cách mạng như đối với cuộc khởi nghĩa ở Trung Kỳ tháng 5 năm 1916, Phan Bội Châu cũng đã ủy quyền cho Nguyễn Thượng Hiền tới đại sứ Đức và đại sứ Áo ở Xiêm La nhận tiền để mua vũ khí cho quân cách mạng Việt Nam. Ông bị giam ở núi Quan Âm mãi đến năm 1917, quân cách mạng tấn công Quảng Đông, Long Tế Quang bỏ chạy ông mới được giải thoát.

Từ năm 1920 trở đi Phan Bội Châu về Hàng Châu cộng tác vói tờ “Bình sự tạp chí” ông đi lại nhiều ở Trung Quốc.

Ngày 30/6/1925, Phan Bội Châu tới một bưu điện Thượng Hải gửi tiền cho một du học sinh đang học ở Đức, thì bị một kẻ phản bội chỉ điểm báo cho mật thám Pháp bắt cóc. Chúng bí mật giải ông về Hồng Kông , rồi từ đó đưa ông về Hải Phòng trên tầu Ăng Co, rồi bị áp giải về Hà Nội giam ở nhà lao Hỏa Lò. Để tránh dư luận lên án và bí mật hãm hại ông theo bản án tử hình vắng mặt đã có sẵn, chính quyền thực dân bưng bít và đặt cho ông một cái tên giả là Trần Văn Đức. Song âm mưu của chúng đã bị bại lộ. Quần chúng nhân dân kịch liệt lên án phản đối, đòi trả tự do cho ông.

Trước sự đấu tranh quyết liệt của nhân dân Hà Nội và nhân dân cả nước phản đối nhà cầm quyền Pháp kết án Phan Bội Châu. Hội đồng bảo hộ Pháp phải họp ngay tại phủ Thống sứ để xét lại cái án đó. Toàn quyền Varen phải gửi điện về Pháp xin ân xá cho ông.

Ngày 22/12/1925, toàn quyền Varen phải ký giấy trả tự do cho nhà cách mạng lão thành Phan Bội Châu. Ngày 29/12/1925, Tổng thống Pháp cũng phải ký uỷ quyền cho Varen tuyên bố tha bổng Phan Bội Châu, sau đó an trí ông ở Huế. Tại nơi an trí Phan Bội Châu không hoạt động chính trị được nhưng ôngđặc biệt quan tâm đến thời cuộc. Phan Bội Châu mất ngày 29 tháng 10 năm 1940.



TĂNG BẠT HỔ

Tăng Bạt Hổ tên thật là Tăng Doãn Văn, hiệu là Sư Triệu, sinh năm Mậu Ngọ (1858). Ông quê ở An Thường, xã Ân Thạch, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.

Ông là người học hành thông minh, thông hiểu kinh sách, từmg luyện tập võ nghệ, can trường. Năm Ất Hợi (1876) dưới triều Tự Đức, ông vừa 18 tuổi đã thay anh đi lính, trước năm 1883 đã thăng suất đội.

Nghe tin vua Hàm Nghi hạ chiếu Cần vương, Tăng Doãn Văn bỏ quân ngũ kêu gọi đồng đội chiêu mộ nghĩa quân lập chiến khu tại núi Kim Sơn gọi là Tổng dinh chống Pháp. Lực lượng nghĩa quân của Tăng Doãn Văn phát triển nhanh, thực dân Pháp và bọn tay sai biết ông là người đứng đầu phong trào Cần vương ở tỉnh Bình Định đã đánh phá căn cứ của ông rất ác liệt.

Tháng 8 năm Bính Tuất (1888) tên Việt gian Nguyễn Thân kéo quân vào Bình Định, đóng quân tại đồn Lại Giang xã Bồng Sơn, huyện Hoài Nhơn để tiến đánh đồn Tổng Dinh và lực lượng kháng chiến ở Kim Sơn. Phán đoán trước ý đồ của giặc, ông mật ước với Thống trấn Bùi Điền lợi dụng đêm tối tấn công vào đồn Lại Giang trrước. Tướng Bùi Điền lầm tưởng Lại Giang là Lộc Giang thuộc xã Ân Tường, huyện Hoài Ân vào đêm đó lực lượng phân tán, ông bị quân địch phản công nên bị thiệt hại nặng nề, đối phó với giặc rất khó khăn.

Mùa xuân năm 1887, Tăng Doãn Văn cùng một số đồng chí sang Xiêm La toan tính cầu viện cứu nước. Khi đi đến dốc Đót giáp với cao nguyên An Khê tỉnh Bình Định gặp con cọp đứng chắn đường, mấy người đi theo ai nấy run như cầy sấy. Tăng Doãn Văn không chút sợ hãi, ông nhìn thẳng vào con cọp nói: “Này chúa Sơn lâm! Ta đi đây là vì đại nghĩa, chứ không phải việc riêng tư nào khác. Xin chúa Sơn lẩn tránh ra một bên để cho kẻ vong quốc này lên đường cho sớm!”. Con cọp như hiểu được lời ông liền tránh sang một bên, nhường đường cho ông đi qua. Những người cùng đi vô cùng cảm phục ông và tôn ông là Tăng Bạt Hổ. Từ đó ông mang tên này.

Tăng Bạt Hổ ở Xiêm La vài tháng rồi sang Trung Quốc. Ông tới nhiều vùng của hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây gặp gỡ Việt kiều để gây dựng cơ sở. Khi Tăng Bạt Hổ ở Trung Hoa, người Pháp xem ông là một phái viên rất đắc lực của Tôn Thất Thuyết bấy giờ đang bị an trí ở Triều Châu. Tăng Bạt Hổ có tài nguỵ trang, ông đi về thường xuyên giữa Quảng Đông và Huế biết được biến động chính trị ở các nước Trung Hoa, Nhật Bản, Đài Loan, Nam Dương (Indonexia) nơi mà Tăng Bạt Hổ đã đến tận nơi khảo sát tình hình chính trị, kinh tế.

Trong những chuyến từ Trung Quốc về nước Tăng Bạt Hổ còn đem theo các sách Tân thư, Tân văn của Trung Hoa và Nhật Bản về nước. Tăng Bạt Hổ đã có mối liên hệ mật thiết với Nguyễn Thượng Hiền.

Về nước một thời gian, nhưng cơ hội chưa đến Tăng Bạt Hổ thấy chỉ có con đường đi Nhật như Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vi đã nói. Để đỡ tốn tiền, ông xin làm thuỷ thủ cho một tàu buôn sang Nhật.

Tháng 10/1904, Tăng Bạt Hổ từ Nhật trở về nước gặp Phan Bội Châu. Ông cùng Phan Bội Châu bàn thành lập phong trào Đông du với sự có mặt của Nguyễn Thượng Hiền, Nguyễn Quyền.

Tháng giêng năm Ất Tỵ (1905) Tăng Bạt Hổ vừa là người đưa đường, người phiên dịch tháp tùng Phan Bội Châu sang Nhật.

Tháng chạp năm 1905 ông từ Nhật về mang theo thư của Phan Bội Châu nhan đề “Khuyên Thanh niên Du học”. Sau đó ông lại cùng Nguyễn Quyền xúc tiến thành lập Đông kinh nghĩa thục.

Mùa Đông năm Đinh Mùi (1908), ông từ Bắc Kỳ trở vào miền Trung, ông dừng chân tại Huế cổ động cho phong trào Đông du thì lâm bệnh. Bệnh ông quá nặng, thuốc thang không giảm, ông mất trên thuyền. Các đồng chí an táng ông trên bờ sông Hương.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4839



« Trả lời #147 vào lúc: 07 Tháng Chín, 2012, 08:29:57 am »

VƯƠNG THÚC QUÝ

Vương Thúc Quý sinh năm Nhâm Tuất (1862) là con trai độc nhất của tú tài Vương Thúc Mậu, người làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

Vương Thúc Quý từ nhỏ đã là người học giỏi, tài hoa. Vùng Nam Đàn có bốn người học giỏi nổi tiếng vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX được mệnh danh là “Tứ hổ” thì làng Kim Liên chiếm tới ba người là Vương Thúc Quý, Nguyễn Sinh Sắc, Trần Văn Lương, chỉ còn lại Phan Bội Châu người làng Đan Nhiệm:

   Uyên bác bất như San
   Thông minh bất như Sắc
   Tài hoa bất như Quý
   Cường ký bất như Lương


Nghĩa là:

   Không ai hiểu biết rộng như Phan Văn San (tức Phan Bội Châu)
   Không ai thông minh như Nguyễn Sinh Sắc
   Không ai tài hoa như Vương Thúc Quý
   Không ai nhớ giỏi như Trần Văn Lương

Khoa thi Hương năm Tân Mão (1891), Vương Thúc Quý đi thi đậu cử nhân. Mang nặng mối thù nhà, nợ nước, ông không ra làm quan, cũng không đi thi Hội ở nhà dạy học, cùng Phan Bội Châu hoạt động cách mạng cứu nước.

Ngày 14 tháng 7 năm 1901, lợi dụng ngày Quốc khánh nước Pháp có nhiều người đi lại trong thành Nghệ An, Vương Thúc Quý, Trần Hải đã theo Phan Bội Châu chỉ huy khoảng 20 người, bí mật tập trung trong thành Nghệ An định dùng giáo mác để cướp vũ khí giặc rồi đánh úp tỉnh thành Nghệ An. Việc không thành vì tên Nguyễn Điềm phản bội mật báo với thực dân Pháp. Tổng đốc Nghệ An Đào Tấn hết lòng che chở, nên Phan Bội Châu, Vương Thúc Quý, Trần Hải và những người tham gia đều thoát nạn.

Năm 1904 Phan Bội Châu thành lập hội Duy tân ở Quảng Nam, năm 1905 phát triển ra Nghệ An, Vương Thúc Quý trở thành người tích cực hoạt động cho hội Duy tân. Ông tổ chức cho nhiều thanh niên Nghệ An xuất dương sang Nhật du học và vận động tài chính cho Hội. Năm 1907, trường Đông Kinh nghĩa thục được thành lập ở Hà Nội, Vương Thúc Quý thành lập phân hiệu Đông Kinh nghĩa thục ở làng Sen xây dựng tủ sách Tân thư.

Giữa năm 1907 Vương Thúc Quý trên đường ra Hải Phòng để sang Nhật. Ông tới Nam Định, bị ốm nặng phải trở về quê nhà. Bệnh tình ngày càng trầm trọng, ngày 19 tháng 7 nãm 1907, Vương Thúc Quý cố gắng ngồi dậy, bảo người bên cạnh đưa giấy, bút, viết mấy chữ : “Phụ thù vị báo, thử sinh đồ” (Nghĩa là: thù cha chưa báo được đời này thật uổng, rồi trút hơi thở cuối cùng.



PHAN CHU TRINH

Phan Chu Trinh tự Hy Mã, hiệu Tây Hồ, sinh ngày 9 tháng 9 năm 1872 tại làng Tây Lộc, huyện Hà Đông, tỉnh Quảng Nam, nay thuộc huyện Tuy Phước, tỉnh Quảng Nam.

Năm 1900, Phan Chu Trinh thi đỗ cử nhân, năm sau thi hội đỗ Phó Bảng, được bổ làm Thừa biện bộ Lễ. Năm 1903 kết giao với Phan Bội Châu.

Năm 1904 Phan Chu Trinh từ quan tham gia cuộc vận động Duy tân. Năm 1905 ông vào Bình Định cùng với Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng viết Chí Thành thông thánh. Năm 1905 sang Trung Quốc rồi sang Nhật trao đổi chính kiến với Phan Bội Châu, nhưng ông không đi theo con đường vũ trang của Hoàng Hoa Thám và Phan Bội Châu. Phan Chu Trinh muốn lợi dụng chiêu bài khai hóa của thực dân Pháp để đấu tranh hợp pháp, trước hết là mở mang trường học để khai hóa dân trí.

Năm 1906, Phan Chu Trinh ra Bắc gặp Lương Văn Can bàn việc mở một trường học tại Hà Nội để làm kiểu mẫu, rút kinh nghiệm mở các trường trong toàn quốc. Sau khi gặp Lương Văn Can, Phan Chu Trinh bí mật dời Hà Nội lên Phồn Xương gặp Hoàng Hoa Thám.

Đầu năm 1907 Phan Chu Trinh trở về Quảng Nam cùng các ông Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng thực hiện chủ trương khai hóa dân trí đã bất chấp sự cấm đoán của bọn cầm quyền Bảo hộ Pháp và chính quyền Nam triều, các ông đã đi vận động mở nhiều trường học ở Quảng Nam như trường An Phước (Hoa Phụng), Tân Thạnh (Hòa Phước), Hòa An (Hòa Phát) đều thuộc huyện Hòa Vang ra đời. Sau khi hàng chục trường học ở Quảng Nam ra đời thì tại Hà Nội, ông cử Lương Văn Can, Đốc học Nguyễn Quyền cùng nhiều nhà nho khác đã thành lập trường Đông Kinh nghĩa thục ở Hà Nội. Lương Văn Can đã mời Phan Chu Trinh ra dạy ở trường Đông Kinh nghĩa thục. Phan Chu Trinh đã nhiều lần diễn thuyết về phong trào Duy tân trước công chúng Hà Nội tại trường Đông Kinh nghĩa thục và các phân hiệu như ở Chèm, Hà Đông. Ông cổ động cho lối sống mới ở Hà Nội. Phan Chu Trinh rất quan tâm đến việc đào tạo cán bộ chuyên môn cho từng ngành nghề khuyến khích việc học nghề. Trong phong trào Duy tân, Phan Chu Trinh chủ trương không tán thành bạo động vũ trang mà ông chủ trương cải cách là "khai thông dân trí, mở rộng dân quyền" trái ngược với chủ trương bạo động của Phan Bội Châu. Từ chủ trương cải cách của Phan Chu Trinh đã dẫn tới cuộc đấu tranh "xin xâu, chống thuế ở Trung Kỳ".

Phan Chu Trinh với chủ trương ''Pháp - Việt đề huề” đã có nhiều hoạt động trong giới Việt kiều và vận động các chính khách tư sản, hội Nhân quyền và Chính phủ Pháp thực hiện những cải cách ở Đông Dương trong khuôn khổ cải lương tư sản.

Ông bị thực dân Pháp bắt và đày ra Côn Đảo. Phan Chu Trinh khi ở Côn Đảo làm rất nhiều thơ, trong đó có bài:

        CÔN LÔN TỨC CẢNH

   Biển dân đời đổi mấy thu đông
   Cụm núi Côn Lôn đứng vững trông
   Bốn mặt dày vò oai sóng gió
   Một mình che chở tội non sông
   Cỏ hoa đất nở cây trăm thước
   Rồng cá trời riêng cả một vùng
   Nước biếc non xanh thiêng chẳng nhĩ
   Gian nan xin hộ khách anh hùng


Năm 1911 ra tù ông sang Pháp, hoạt động trong Việt kiều yêu nước. Năm 1912, Phan Chu Trinh gặp Phan Văn Trường sang Pháp từ trước. Đầu năm 1914 ông và Phan Văn Trường thành lập ''Hội người Việt Nam yêu nước" tại Pháp. Tháng 4/1914 ông và Phan Văn Trường bị bắt vì bị vu cho là "Mật thông với kẻ thù của nước Pháp" (nước Đức). Phan Chu Trinh cũng đưa con là Phan Châu Dật là con thứ ba và là con trai duy nhất sang Pháp học. Trong thời gian Phan Chu Trinh bị giam ở ngục Săng đê, Châu Dật được phép mỗi tuần đến thăm cha hai lần chờ ở phòng khách thăm tù. Tháng 4/1914 chúng phải thả hai ông vì không có đủ chứng cứ buộc tội.

Ngày 3/2/1925, Phan Chu Trinh diễn thuyết lần cuối cùng ở hội Nhân quyền Paris. Ngày 28/5/1925 ông cùng Phan Văn Trường đi Mác Xây rồi về Sài Gòn.

Tháng 6/1925 Phan Chu Trinh về đến Sài Gòn. Ngày 24/3/1926, Phan Chu Trinh đột ngột qua đời tại Sài Gòn.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4839



« Trả lời #148 vào lúc: 07 Tháng Chín, 2012, 08:32:03 am »

HUỲNH THÚC KHÁNG

Huỳnh Thúc Kháng thuở nhỏ tên là Huỳnh Hanh hiệu Minh Viên, sinh năm Bính Tý (1876), ở làng Thanh Bình, tổng Tiên Giang Thượng, huyện Hà Đông, phủ Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, nay là xã Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam. Ông nhà nghèo, học giỏi.

Năm Canh Tý (1900) ông đỗ Giải nguyên kỳ thi Hương. Năm Giáp Thìn (1904), ông 29 tuổi, đỗ đầu kỳ thi Hội (Hội nguyên) rồi đỗ Tiến sĩ Đệ Tam giáp ở kỳ thi Đình. Ông được giới sĩ phu và nhân dân xếp là "Tứ Hổ" ở đất Quảng (bốn người học giỏi là Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Đình Hiên, Phạm Liệu). Huỳnh Thúc Kháng đỗ tiến sĩ, nhưng không ra làm quan, mà ờ nhà đọc tân thư, giao du với các nhà yêu nước như Trần Quý Cáp, Phan Chu Trinh.

Đầu năm 1905, Huỳnh Thúc Kháng tham gia "Duy tân tự cường" cùng Phan Chu Trinh, Ngô Đức Kế. Khác với Phan Bội Châu theo chủ trương bạo lực cách mạng, Huỳnh Thúc Kháng vận động phát khởi phong trào Duy tân cải cách văn hóa xã hội theo hướng ''khơi dân trí, chấn dân khí, hào dân sinh" (khẩu hiệu và mục tiêu của phong trào Duy tân do Phan Chu Trinh đề xướng), Huỳnh Thúc Kháng không phản đối đường lối “bạo động xuất dương cầu ngoại viện" của Phan Bội Châu, cũng không hoàn toàn tin theo đường lối "bất bạo động, bất ngoại vong" của Phan Chu Trinh. Nếu Phan Chu Trinh tỏ ra là người cực đoan thì Huỳnh Thúc Kháng lại là người có vai trò: "điều hòa mâu thuẫn" giữa hai đường lối của hai nhà yêu nước họ Phan.

Ngay sau khi thi đỗ tiến sĩ, Huỳnh Thúc Kháng không ra làm quan, tháng 10 năm Giáp Thìn (1904), Huỳnh Thúc Kháng cùng Phan Chu Trinh, Trần Quý Cáp đi khắp nơi trong tỉnh Quảng Nam cổ động cho phong trào Duy tân. Tháng 2 năm Ất Tỵ (1905), Huỳnh Thúc Kháng lại cùng Phan Chu Trinh, Trần Quý Cáp thực hiện cuộc "Nam du". Đến nơi nào ba nhà Duy tân cũng "cổ xúy tân học không chán''.

Ông cùng các bạn tù bị thực dân Pháp giam ở Khám Lớn, Sài Gòn chờ đi Côn Đảo. Huỳnh Thúc Kháng bị giam ở Côn Đảo từ năm 1908. Tháng 2/1921 ông được tha.

Tháng 12/1926 ông vận động thành lập một công ty tập hợp những người yêu nước tìm vốn kinh doanh để tài trợ cho những hoạt động chính trị.

Tháng 4/1927, công ty Huỳnh Thúc Kháng được thành lập ở Đà Nẵng với sự tham gia của nhiều nhân vật như Nguyễn Đình Kiên, Nguyễn Xương Thái... chuyên ngành in và báo chí. Huỳnh Thúc Kháng lấy tư cách là Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ, đã xin phép xuất bản tờ Tiếng Dân mà ông làm chủ nhiệm kiêm chủ bút.

Ngày 10/8/1927, báo Tiếng Dân ra số đầu tiên. Tờ báo được coi như cơ quan ngôn luận của Viện dân biểu Trung Kỳ, nhưng trên thực tế, cụ Huỳnh đã sử dụng tờ báo này làm diễn đàn đòi một số quyền tự do dân chủ trong khuôn khổ những cải cách có tính chất tư sản và hợp pháp.

Sau những lần xô xát với Phạm Quỳnh và Bùi Quang Châu tại kỳ hợp thường niên ngày 2/10/1928, Huỳnh Thúc Kháng đã lên tiếng chỉ trích kịch liệt đường lối phản dân chủ của bọn thực dân và ông tuyên bố từ chức. Việc ông từ chức đã dẫn theo sự ly khai của hàng loạt các dân biểu tiến bộ. Cách mạng Tháng 8 năm 1945 thành công, Huỳnh Thúc Kháng đã gần 70 tuổi. Được sự tin cậy của Hồ Chủ tịch, ông đã giữ chức Quyền Chủ tịch nước (và cũng là Quyền Thủ tướng) trong hơn 5 tháng, giữa lúc đất nước vẫn bị nạn đói đe dọa và có nguy cơ mất vào tay giặc Pháp và bọn Việt Quốc, Việt Cách, tay sai của Tưởng Giới Thạch. Sau ngày Toàn quốc kháng chiến 19 tháng 12 năm 1946, ông đi thanh tra ở tỉnh Quảng Ngãi với tư cách là đại diện Chính phủ. Ông đột ngột mắc bệnh rồi qua đời tại nhà một người dân dùng làm trụ sở Ủy ban kháng chiến Hành chính Nam Trung Bộ (chợ Chùa) ngày 21 tháng 4 năm 1947.



NGÔ ĐỨC KẾ

Ngô Đức Kế hiệu Tập Xuyên, sinh năm Kỷ Mão (1879) (có sách viết ông sinh năm Mậu Dần (1878). Ông người xã Trảo Nha, tổng Đoài, huyện Thạch Hà, phủ Hà Thanh, tỉnh Hà Tĩnh, nay là thôn Nam Sơn, thị trấn Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh (Có sách viết nay là xã Đại Lộc, huyện Can Lộc. tỉnh Hà Tĩnh). Ngô Đức Kế bẩm tính thông minh, học giỏi từ nhỏ. Khoa thi năm Đinh Dậu (1897), khi mới 19 tuổi, ông đỗ cử nhân, khoa thi năm Tân Sửu, Thành Thái thứ 13 (1901), đỗ Tam giáp đồng tiến sĩ khi mới 23 tuổi.

Ngô Đức Kế không ra làm quan, đề xuất lối học mới, vận động bỏ khoa cử, hô hào thực nghiệp. Ngô Đức Kế có mặt ngay từ khi Duy tân hội được thành lập, hoạt động trong phái "Minh Xã". Phái này hoạt động công khai, hợp pháp chuyên lo mở trường học, lập hội buôn, mở xưởng thủ công nghiệp để chấn hưng kinh tế đưa phần lớn tiền lãi vào quỹ hội Đông du. Ngô Đức Kế cùng em trai là Ngô Đức Thiệu mở một hiệu buôn ở Nghèn. Đến khoảng năm 1906, ông lại cùng với Đặng Nguyên Cẩn, Đặng Văn Bá, Lê Văn Huân thành lập Triêu Dương Thương điếm ở Vinh chuyên lo buôn bán đường mật, tơ lụa. Khi Phan Bội Châu xuất dương, ông cùng với các đồng chí đảm nhiệm cổ vũ phong trào Đông du. Thương điếm cũng là trạm liên lạc của hội Duy tân, có quan hệ với các hiệu buôn khác cùng mục đích vận động Duy tân như Hồng Tân Hưng, Quảng Hương Long, Quảng Nam Hiệp thương công ty. Năm 1907, Đông Kinh nghĩa thục thành lập, Ngô Đức Kế ở Vinh nhưng cũng tham gia ban Tu thư của trường cùng với Lương Văn Can, Lê Đại, Nguyễn Hữu Cầu, Phan Chu Trinh. Ban này chia làm hai bộ phận: biên soạn và dịch thuật. Ngô Đức Kế ở ban biên soạn. Ông đã soạn được nhiều sách, trong đó có các cuốn: "Quốc dân độc bản", "Nam quốc giai sự”, "Nam quốc địa dư", "Quốc văn giáo khoa thư", "Luân lý giáo khoa thư"...

Đầu năm Mậu Thân (1908) cuộc xin xâu nổ ra ở Quảng Nam, Quảng Ngãi rồi lan đến Nghệ Tĩnh. Các Hội viên hội Duy tân như Nguyễn Hàng Chi, Trịnh Khắc Lập đứng lên lãnh đạo và hô hào đồng bào "xin xâu". Ngô Đức Kế cùng một số yếu nhân như Đặng Nguyên Cẩn, Đặng Văn Bá, Lê Văn Huân... đều tích cực tham gia. Các ông bị nhà cầm quyền bắt vào tháng 3, tháng 4/1908, bị đưa về giam ở nhà lao Hà Tĩnh. Tòa án Nam triều do Án sát Cao Ngọc Lễ, Lãnh binh Ngụy Tác Hạ theo lệnh của công sứ Pháp Đuxê (Doucet) đã tuyên án tử hình Nguyễn Hằng Chi, Trịnh Khắc Lập. Ngô Đức Kế, sau đổi làm tội đồ (đi đày) chung thân, rồi giảm xuống 13 năm đày ra Côn Đảo.

Ở Côn Đảo Ngô Đức Kế đã gặp Huỳnh Thúc Kháng và hai ông đã trở thành bạn thân thiết cũng như với Đặng Nguyên Cẩn và Phan Bội Châu. Bốn nhà chí sĩ cùng có một tâm huyết đánh đuổi giặc Pháp, cùng gắn bó với nhau trong sự nghiệp văn chương trong dòng thơ văn yêu nước.

Hết hạn đi đày, năm 1921, Ngô Đức Kế về quê nghỉ ngơi ít lâu, rồi cuối năm 1922 ra Hà Nội chủ trương báo Hữu Thanh, nguyên là cơ quan Ngôn luận của Hội Trung Bắc nông công thương tương tế, lúc mới lập do nhà thơ Tản Đà làm chủ bút. Ông còn mở hiệu đối trướng ở phố Hàng Điếu, Hà Nội. Ngô Đức Kế là nhà cựu học tiếp cận được với trào lưu mới, ông giao tiếp nhiều, kiến văn rộng.

Năm 1926, Ngô Đức Kế mở "Giác quần thư xã", xuất bản một số thơ văn của Phan Bội Châu, Phan Tây Hồ di thảo... Ông đọc sách Bách khoa toàn thư, viết cuốn "Đông Tây vĩ nhân" trong đó có Tôn Dật Tiên, Găngđi.

Ngô Đức Kế làm sách chưa được bao lâu thì ông ốm nặng và mất vào ngày 10 tháng giêng năm Kỷ Tỵ (10/12/1929), tại Bạch Mai, Hà Nội.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4839



« Trả lời #149 vào lúc: 07 Tháng Chín, 2012, 08:35:43 am »

ĐẶNG VĂN BÁ

Đặng Văn Bá tự Thanh Bình, hiệu Nghiêm Giang, sinh năm 1873, người làng Phất Lão, nay là xã Thanh Bình, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.

Ông thi đỗ cử nhân khoa Canh Tý(1900), nên thường gọi là Cử Đặng. Ông tham gia Duy tân hội và phong trào Đông du từ năm 1905 thuộc phái "Ám xã". Ông có quan hệ mật thiết với Lê Võ và Trần Văn Bỉnh một người Thiên chúa giáo yêu nước cùng tham gia Duy tân hội với ông. Đặng Văn Bá thuộc phái “Ám xã” tức là phái vũ trang bạo động. Ba ông có dự mưu khởi nghĩa vũ trang từ năm 1905, ông và Lê Võ chịu trách nhiệm tổ chức lực lượng, xây dựng căn cứ, Trần Văn Bỉnh là người có năng khiếu về cơ học, từng nghiên cứu cách chế tạo súng đạn lo việc quân giới.

Khoảng năm Bính Ngọ ( 1906), năm Đinh Vị (1907), Đặng Văn Bá muốn khởi sự ở Trung Kỳ, ông đã đầu tư tiền bạc giao cho ông Trần Văn Bỉnh đưa hơn 10 đệ tử đến tỉnh Phương Lâm (Sau đổi là tỉnh Hòa Bình) ở xứ Bắc Kỳ là nơi đồng bào dân tộc có nhiều súng cũ hỏng, nơi có rừng núi hiểm trở thành lập xưởng đúc súng. Trong khoảng nửa năm. Trần Văn Bỉnh chế tạo súng đã dùng được, nhưng còn thiếu đạn, Ông Bỉnh đang nghiên cứu chế tạo thì lâm bệnh nặng rồi mất. Đặng Văn Bá cùng Lê Võ tiếp tục chiêu mộ quân, xây dựng căn cứ hoàn chỉnh việc chế tạo súng đạn, thì năm 1908 nổ ra cuộc xin xâu, chống thuế từ Quảng Nam lan ra Hà Tĩnh, Nghệ An, Đặng Văn Bá cũng bị thực dân Pháp bắt với Ngô Đức Kế, Đặng Nguyên Cẩn, các ông bị đầy ra Côn Đảo.

Trần Văn Bỉnh mất, Đặng Văn Bá bị mất, số vũ khí tinh xảo do Trần Văn Bỉnh chế tạo ra cũng mất theo. Sau một năm giam cầm trong nhà tù với cảnh “ngậm đắng, ăn cay đợi bữa luôn” giữa “Sóng khoá chân thần sau mặt khuất, Biển dăng hơi quỷ khiến người nôn” của cảnh tù đày Côn Đảo, địa ngục trần gian, Đặng văn Bá đã khẳng định:

   Trải nhiều gian khổ thêm can đởm (đảm)
   Biệt cảnh quê hương rối mộng hồn.
   Lá rụng một đêm theo gió cuốn
   Non sông khắp xứ thu vòng tròn.


Ông bị đày 1 năm rồi 2 năm, 3 năm, tìm mưu tính kế bao lần các sĩ phu không vượt được ngục vẫn phải âm thầm sống trong tù đày. Các sĩ phu yêu nước lại động viên nhau: Chớ ngại tóc sương khắp mái.

Đến năm 1921 (Có tài liệu viết năm 1916) ông được tha. Ông về ở Sài Gòn. Năm 1925 Phan Bội Châu bị an trí ở Huế thì ông về Huế cùng ở với Phan Bội Châu, sau một thời gian ở Huế, ông về quê, mất năm 1931. Đặng Văn Bá sáng tác nhiều thơ chữ Hán và chữ Nôm. Xin giới thiệu một số bài để thấy rõ tâm tư cùng hoài bão của một người yêu nước, căm thù giặc sâu sắc:

        TÍCH NIÊN KIM NHẬT ĐÁO CÔN LÔN

   Tích niên kim nhật đáo Côn Lôn
   Nhữ khổ hàm tân bất đãi luân
   Cựu mục thần châu ba lãng viễn
   Bức nhân quỷ khí hải đào hôn
   Thường đa gian khổ tăng can đảm
   Biệt cửu gia sơn nhiễu mộng hồn
   Nhất dạ thu phong tồi lạc nghiệp
   Thiên sơn vận hái kiến triêu đôn


Dịch thơ:

        NGÀY NÀY NĂM TRƯỚC ĐẾN CÔN LÔN

   Ngày này năm ngoái đến Côn Lôn
   Ngậm đắng ăn cay đợi bữa luôn
   Sóng khỏa châu Thần trong mặt khuất
   Biển giăng hơi quỉ khiến người nôn
   Trải nhiều gian hiểm thêm can đảm
   Biệt cách quê hương rối mộng hồn
   Lá rụng một đêm theo gió cuốn
   Non sông khắp xứ thấy vừng tròn.


                             Huỳnh Thúc Kháng dịch
                            (Theo Thi tù tùng thoại,
                        Nxb Nam Cường, Sài Gòn, 1951).




NGUYỄN AN KHƯƠNG

Nguyễn An Khương người làng Mỹ Hòa (Quán Tre) huyện Hóc Môn, tỉnh Gia Định, nay thuộc thành phố Hồ Chí Minh. Ông là thân phụ nhà cách mạng Nguyễn An Ninh.

Khi Phan Bội Châu và các đồng chí phát khởi phong trào Duy tân, thì Nam kỳ là nơi phong trào phát triển nhất. Ngoài số thanh niên xuất dương, còn có các nhân sĩ yêu nước, các phú hào, các đại điền chủ ủng hộ tài chính.

Trong số những người tham gia Duy tân hội ở Nam Kỳ ( Nam Kỳ gọi là Minh tân) phải kể đến các nhân vật Nguyễn An Khương, Nguyễn An Cư, Gilbert Trần Chánh Chiếu, Nguyễn Thần Hiến...

Nguyễn An Khương là chiến sĩ cách mạng, thủ lĩnh phong trào Duy tân ở Nam Kỳ. Ông vận động nhiều thanh niên xuất dương, quyên góp tiền bạc cho phong tràoo Khi trường Đông Kinh nghĩa thục thành lập ở Hà Nội, ông là người đầu tiên hưởng ứng và tích cực mở trường nghĩa thục ở Nam Kỳ.

Ông mở khách sạn Chiêu Nam Lầu tại số 49 đường Kinh Lấp (Boulevard Charner) Sài Gòn. Khách sạn này kinh doanh dịch vụ khách sạn nhà hàng, cạnh tranh công khai với cơ sở nhà hàng của Hoa Kiều. Ông lấy tiền lãi cung cấp cho thanh niên Đông du vừa là nơi in lại sách của trường Đông Kinh nghĩa thục, cung cấp cho các trường nghĩa thục ở Nam Kỳ. Khách sạn còn là nơi các nhà yêu nước gặp gỡ nhau bàn định công việc cứu nước.

Năm 1908, Nguyễn An Khương cùng các đồng chí Nguyễn Quang Diêu, Nguyễn Thần Hiến, Bùi Chí Nhuận vượt biên giới sang Cao Miên rồi từ đó qua Xiêm La để sang Trung Quốc. Tại Trung Quốc, Nguyễn An Khương tích cực hoạt động cho phong trào Đông du. Ông được tổ chức phân công về hoạt động ở Nam Kỳ. Tại Củ Chi, nhà ông là nơi liên lạc bí mật của các chí sĩ. Trong thời gian ở Củ Chi, Sài Gòn, Nguyễn An Khương dịch các sách Trung Quốc như Tam Quốc chí, Thủy Hử, Phấn Trang Lầu từ chữ Hán ra chữ Quốc ngữ. Ông cũng là trợ bút đắc lực cho tờ "Nông Cổ Mín đàm''. Tờ Nông cổ Mín đàm trước của một người Pháp tên là Canavaggiô, sau giao cho các ông Gilbert Chiểu, Đỗ Thức, Lương Khắc Ninh, Nguyễn Chánh Sắt quản lý. Năm 1902, Canavaggiô qua đời thì Nguyễn Chánh Sắt làm chủ bút. Ông đã cho in những văn thơ yêu nước, viết và đăng những lời cổ động cho phong trào Minh tân. Nguyễn An Khương là trợ bút đắc lực cho tờ báo này.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM