Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 31 Tháng Giêng, 2023, 02:27:02 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: 284 Anh hùng hào kiệt của Việt Nam  (Đọc 157229 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4839



« Trả lời #100 vào lúc: 28 Tháng Mười Một, 2011, 10:03:50 am »

ĐỐC ĐEN

   Đốc Đen tên thật là Bùi Văn Quảng, người đen khoẻ mạnh, rất giỏi bơi lội, tính khí ngang tàng. Vì vậy mọi người gọi ông là Đen, ít người nhắc đến tên cúng cơm của ông. Ông người làng Yên Lữ, huyện Đông Quan, nay thuộc xã Đông Quan, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình. Năm 1882, Đen làm phụ tá cho Nguyễn Thân. Tổng đốc Định - An Vũ Trọng Bình gọi Thân vào thành giúp việc quân. Thân đem theo cả Đốc Đen. Ở trong quân ngũ Đốc Đen tiếp xúc, kết thân với Lãnh Khuyển, Đề Gạo, Ba Gang đều là những thủ lĩnh giỏi của nghĩa quân Nam Định, Hưng Yên.

   Đốc Đen đánh úp các toán quân của triều đình do phe chủ hoà chỉ huy, lấy vũ khí. Ông còn tập kích vào các huyện lỵ Quỳnh Côi, Đông Quan, Phụ Dực, Kiến Xương. Đốc Đen liên hợp với các thủ lĩnh nghĩa quân như Đốc Nhưỡng ở Đô Kỳ, Lãnh Hoan ở Thọ Vực.

   Phong trào kháng chiến chống Pháp ở Thái Bình lên mạnh và quyết liệt từ tháng 7/1885 sau khi vua Hàm Nghi xuất bôn; hạ chiếu Cần vương. Tri phủ Hoàng Văn Hoè từ quan theo Tạ Hiện cùng Đốc Đen chiêu mộ quân đánh Pháp. Từ năm 1885 đến năm 1888, Đốc Đen hoạt động mạnh ở Thanh Quan, Đông Quan (Thụy Anh), lan sang cả Thần Khê.

   Ngày 25/8/1888, Đốc Đen tập kích đồn Bình Cách (Đông Xá, Đông Hưng), Pháp phải đưa lính ở Thuỵ Anh tới cứu viện.

   Đêm 23/11/1888, trong khi nghĩa quân Nam Định tiến công đồn Vụ Bản thì Đốc Đen chỉ huy 300 quân đánh vào đồn Thanh Quan, hai tên thiếu uý Đây véc giơ (Duvergé) và I luyếc xi (Illiercy) phải liều chết đốc thúc quân lính dưới quyền chống cự mới giữ được đồn.

   Đêm 21/9/1889, quân Pháp cho tên Khải người cùng làng Đốc Đen chà trộn vào hàng ngũ nghĩa quân chỉ điểm. Đốc Đen phát hiện ra liền tương kế, tựu kế, cố tình để lộ việc mời các thủ lĩnh về nhà mình ăn uống, bàn cách đánh kho gạo Kiến Xương. Tên Khải thám thính được vội vàng báo cho Bùi Phụng, Tuần phủ Thái Bình và tên thiếu uý Rivière chỉ huy đồn Phụ Dực biết. Hai tên này vội vàng đưa lính đến làng Yên Lũ, Bùi Phụng thúc lính vây kín chung quanh làng, Đốc Đen cho số quân ít ỏi phục ngoài vườn còn mình và các tướng vẫn ngồi trên sập uống rượu. Rivière vừa vào tới sân thì nghĩa quân phục ở ngoài vườn nổ súng. Đốc Đen cầm mã tấu xông ra sân, chém cụt đầu tên thiếu uý Pháp. Tên Khải đi sau vội kêu lên: "Ối quan phủ ơi nó giết mất quan một rồi”. Hắn chưa dứt lời thì cũng bị nghĩa quân xông vào chém đứt đầu hắn như tên đồn trưởng Pháp rồi xách đầu hắn chạy. Bùi Phụng phải vượt qua lưới đạn của nghĩa quân để khênh cái xác không đầu của Rivière ra khỏi làng.

   Trận đánh phá vây nổi tiếng uy danh Đốc Đen càng lừng lẫy, đích thân tên công sứ Nam Định Lamothe de Ranier lệnh cho phó sứ bố chánh Nam Định, từ phủ Thái Bình đem quân đi càn quét để bắt Đốc Đen.

   Từ cuối năm 1889 , phong trào chống Pháp ở Thái Bình khó khăn, Tạ Hiện, Phạm Huy Quang, Bang Tốn hi sinh. Căn cứ Đô Kỳ của Đốc Nhưỡng, căn cứ Thọ Vực của Lãnh Hoan bị quân Pháp càn đi, quét lại nhiều lần. Quân Pháp sau khi phá vỡ các cuộc càn quét khác đã tập trung binh lực, bao vây, truy quét Đốc Đen. Tuy vậy ông vẫn khôn khéo tránh các mũi nhọn của địch, đánh nhiều trận tập kích, phục kích xuất sắc. Tiêu biểu như các trận cuối năm 1889, Đốc Đen chỉ huy nghĩa quân đánh một trận ác chiến với quân lính của tên quan phủ Kiến Xương. Tháng 1/1890, Đốc Đen chỉ huy nghĩa quân đánh một trận lớn ở phía bắc phủ Kiến Xương, ở chùa Tương An, Đốc Đen còn tấn công huyện đường Thư Trì.

   Tháng 3/1890, Đốc Đen nhận được tin tên công sứ chở gạo từ Gia Định về để bán với giá cắt cổ cho dân bị mất mùa, ông phối hợp với quân của Lãnh Hoan, Đốc Nhưỡng đánh trận Bình Cách để cướp gạo.

   Các hoạt động của Đốc Đen vang dội, Tạ Quang Hổ - con trai Tạ Hiện, Cả Tiến, con rể Phạm Huy Quang cùng về liên hệ, bàn kế hoạch tác chiến.

   Để đối phó với quân Pháp tập trung quân mở các cuộc càn quét lớn vào các khu vực hoạt động của nghĩa quân, Đốc Đen chia quân thành những toán nhỏ, mặc quần áo của lính khố xanh, khố đỏ, hành quân giữa ban ngày tiến đánh các đồn bốt giặc, các lỵ sở của bọn quan phủ huyện làm tay sai cho giặc Pháp.

   Tháng 11/1889, Đốc Đen phối hợp với các thủ lĩnh các cuộc khởi nghĩa ở Nam Định. Hưng Yên đánh phủ lỵ Kiến Xương và phủ lỵ Thư Trì. Các ông tập trung ở căn cứ của Lãnh Bí, tên chánh đội Phạm Biểu làm phản báo cho tri phủ Kiến Xương là Trần Thuỳ, tên này báo cho quân Pháp rồi đưa lính đến bao vây. Hai bên đánh nhau ác liệt từ chiều đến đêm, cả hai bên điều bị thiệt hại rồi cùng rút lui.

   Tháng 12/1889, Đốc Đen chỉ huy nghĩa quân đánh thẳng vào huyện lỵ Thư Trì. Song quân triều đình đã được tăng viện lính và vũ khí chống trả dữ dội nên trận đánh không hiệu quả.

   Năm 1890 , tỉnh Thái Bình mất mùa, Đốc Đen đánh úp các đoàn tải lương của quân Pháp. Ông cùng với Đốc Nhưỡng, Lãnh Hoan hợp quân đánh thẳng vào Bình Cách, phủ lỵ Thái Bình, các huyện lỵ Đông Quan, Thanh Quan, Kiến Xương. Nhưng kế hoạch bị lộ, tri phủ Bùi Bổng phi báo cho Pháp đưa quân đến bao vây. Cuộc chiến diễn ra ác liệt từ 9 giờ sáng đến hơn 4 giờ chiều. Lực lượng quân Pháp đông gấp nhiều nghĩa quân, Đốc Đen phải mở đường máu rút lui về chùa Trực Nội. Tên chánh tổng báo cho tri huyện thư Trì là Vũ Văn Trinh. Tên này báo cho quân Pháp bao vây chùa, Vũ Văn Trinh xông vào chùa bị Đốc Đen bắn liền chạy ra. Đốc Đen cùng mấy nghĩa quân bắn mạnh, mở đường máu xông ra ngoài, thì bị quân Pháp bắt được. Chúng giải ông ra Hà Nội cho tên Thống sứ Bắc Kỳ biết mặt rồi đưa ông về làng Yên Lũ chặt đầu để uy hiếp nhân dân. (Theo Thái Bình thông chí của Phạm Văn Thụ thì sau trận Bình Cách, Đốc Đen chạy về Trực Nội, huyện Thanh Quan và bị bắt ở một ngôi chùa do một nhà sư phản bội).
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4839



« Trả lời #101 vào lúc: 28 Tháng Mười Một, 2011, 10:08:30 am »

ĐỐC NHƯỠNG

   Đốc Nhưỡng tên thật là Đinh Khắc Nhưỡng, ông còn có tên là Đinh Quang Nghĩa, con thứ ba ông Đinh Quang Khánh. Ông người thôn Phú Lãng Đông, xã Đô Kỳ, huyện Thần Khê, phủ Tiên Hưng, nay là xã Đông Đô, huyện Hưng Hà, Thái Bình.

   Ngày 27/3/1883 thành Nam Định thất thủ các tướng phân tán về quê quán chiêu mộ nghĩa quân, xây dựng căn cứ đánh Pháp. Đốc Nhưỡng tuy còn trẻ tuổi, nhưng có kiến thức quân sự, lại có nhiệt tình yêu nước, căm thù giặc Pháp cũng noi gương các bậc đàn anh về quê hương ở xã Đô Kỳ chiêu tập những người yêu nước, sắp xếp vào đội ngũ, sắm sửa vũ khí, thuyền bè, tích trữ quân lương, đào hào đắp luỹ biến xã Đô Kỳ thành căn cứ chuẩn bị khởi nghĩa.

   Đầu năm Hàm Nghi thứ nhất (1885), Đốc Nhưỡng cùng Bang Tốn khởi nghĩa. Nghĩa quân của hai ông thoắt ẩn, thoắt hiện gây cho quân Pháp và quân triều đình nhiều phen thất bại.

   Tháng 6 năm Ất Dậu (7/1885), sau vụ khởi nghĩa ở Kinh thành Huế không thành, Tôn Thất Thuyết, Trần Xuân Soạn hộ giá vua Hàm Nghi xuất bôn ra sơn phòng Quảng Trị hạ chiếu Cần vương. Lập tức các thủ lĩnh nghĩa quân ở Thái Bình (khi đó Thái Bình còn nằm trong tỉnh Nam Định và Hưng Yên, mãi đến năm 1890 tỉnh Thái Bình mới được thành lập) đã nổi dậy chống Pháp từ tháng 3 năm 1883 khi thành Nam Định thất thủ như Vũ Văn Hoan (tức Đề Hoan), Đinh Khắc Nhưỡng (Đề Nhưỡng) người xã Đô Kỳ, Lãnh Nhàn (Nguyễn Nhàn) người xã An Dực (Phụ Dực)... được thêm sức mạnh với lời kêu gọi trong Chiến Cần vương của vua Hàm Nghi đã lập tức chiêu mộ thêm quân sĩ mở nhiều trận đánh vào các đồn binh Pháp, các phủ đường huyện đường có quan lại người Nam theo Pháp.

   Đốc Nhưỡng cùng các nghĩa quân chiến đấu chống quân Pháp và lũ tay sai đánh thắng nhiều trận lẫy lừng ở Thái Bình, Nam Định, Hưng Yên.

   Đốc Nhưỡng còn cùng Lãnh Hoan bắt Vũ Văn Báo vốn là học trò của Vũ Hữu Lợi, tên Báo đã báo cho Pháp lừa bắt thày xử chém vào chiều 30 Tết năm Giáp Thân (1885), hai ông đã đưa tên Báo về căn cứ đốt sống làm cây đuốc tế thày.

   Ngày 17 tháng 6 năm Thành Thái thứ 3 (1891), Đốc Nhưỡng tập hợp 100 nghĩa quân mặc quần áo lính tây, có vũ khí đầy đủ trên đường về tiến công thị xã Thái Bình, thì bị quân Pháp chặn đường đánh. Cuộc xung đột diễn ra quyết liệt, tiền quân Khái bị thương tiến về Thư Trì thì bị tên tri huyện Nguyễn Duy Tiên bắt nộp cho công sứ Thái Bình, Đốc Nhưỡng chạy lên Sơn Tây, sau cùng bị giặc Pháp phát hiện bắt giải về Hà Nội.





LÃNH HOAN

   Lãnh Hoan tên thực là Vũ Văn Hoan, người làng Thọ Vực, huyện Thần Khê, nay thuộc xã Đông Thọ, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.

   Học chữ nho được vài năm thì Vũ Văn Hoan theo học lớp võ do Nguyễn Thành Thà tổ chức. Học xong trở về làng, Vũ Văn Hoan giữ chức phó tổng, sau đó theo việc binh, được phong là Lãnh binh.

   Ngày 25 tháng 3 năm 1883, quân Pháp do trung tá Hải quân Henri Rivière chỉ huy từ Hà Nội, đánh thành Nam Định lần thứ hai. Trưa ngày 27 tháng 3 năm 1883, thành Nam Định lọt vào tay quân Pháp. Lãnh Hoan từ quan về quê ở làng Thọ Vực lập căn cứ chiêu mộ quân sĩ đánh Pháp. Tiến sĩ Vũ Hữu Lợi, Đốc học Nam Định cũng từ quan cùng Nguyễn Đức Huy... mộ quân chống Pháp được phong chức Đề đốc trong khi đó Vũ Văn Báo làm Tổng đốc Nam Định.

   Nghĩa quân Lãnh Hoan cùng nghĩa quân của năm cha con Nguyễn Thành Thà, nghĩa quân Đinh Khắc Nhưỡng đánh quân Pháp và lũ tay sai của chúng nhiều trận.

   Năm 1885 Tôn Thất Thuyết phò vua Hàm Nghi ra sơn phòng Quảng Trị hạ chiếu Cần vương. Lãnh Hoan lại hợp quân với anh em Bang Tốn, Đốc Đen, Đốc Nhưỡng đánh Pháp quyết liệt tại Thọ Vực. Quân Pháp thua phải tháo chạy bỏ lại nhiều xác chết và vũ khí. Lãnh Hoan còn phối hợp nghĩa quân của các thủ lĩnh khác đánh thắng quân Pháp ở làng Tống Vũ, nay thuộc xã Chính Lãm, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình và Cầu Kim, Chợ Đác nay thuộc xã Vũ Lạc, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Nghĩa quân gây cho giặc nhiều thiệt hại nặng nề.

   Năm 1886, Lãnh Hoan chỉ huy nghĩa quân đánh Pháp ở làng Trường Yên. tiêu diệt 40 lính Pháp và lính tập.

   Đầu năm 1892, Lãnh Hoan hy sinh trong tư thế hiên ngang, lẫm liệt, đã được nhân dân ghi lại trong bài:

         VÈ LÃNH HOAN

      Thọ Vực ông Lãnh đánh Tây
      Hình dáng thợ cày, mã tấu bên hông.
      Toàn thân ông nhuộm mầu hồng,
      Ông đã rửa hận non sông phen này


   Nguyễn Thành Thà làm bài thơ viếng học trò của mình, có câu:

      Thọ Vực tuy tàn căn cứ địa,
      Thần Khê vưu tráng nghĩa quân doanh


Dịch:

      Thọ Vực dẫu tàn căn cứ địa
      Thần Khê càng mạnh nghĩa quân doanh.

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4839



« Trả lời #102 vào lúc: 28 Tháng Mười Một, 2011, 10:11:58 am »

BA BÁO

   Tạ Hiện có ba con trai là Tạ Quang Hùng, Tạ Quang Hổ, Tạ Quang Báo cũng theo cha cầm quân đánh giặc. Trong ba người con của Tạ Hiện thì Tạ Quang Báo (còn gọi là Ba Báo) là hiệt kiệt nhất.

   Khi giặc Pháp đánh phá căn cứ Kiến Xương. Tạ Hiện nhận thấy ở đây đồng bằng trống trải khó phòng thủ, liền đưa quân về hoạt động ở Đông Triều. Quảng Yên. Tại đây Ba Báo có một đội quân chuyên hoạt động trên sông nước. Ông vùng vẫy ở ngã ba sông Kinh Thày - sông Kinh Môn - sông Thái Bình và còn hoạt động lên cả Lục Đầu, Phả Lại. Có khi ông còn đưa quân hoạt động cả ở vùng sông Luộc trên địa bàn huyện Ninh Giang... Tạ Quang Báo thường xuyên tổ chức những trận đánh tầu thuyền vận tải quân lính, lương thực vũ khí của quân Pháp tại ngã ba sông này. Ba Báo có thể kiểm soát được cả đồng bằng và vùng núi. Nếu quân Pháp đánh đồng bằng thì nghĩa quân rút lên miền núi, nếu quân Pháp đánh miền núi thì quân của ông lại tản ra ở với dân làng ở đồng bằng. Có trận Ba Báo tấn công pháo hạm Mitrailleuse, suýt bắn đắm nó trên sông Kinh Thày.

   Ngày 12 tháng 3 năm 1884, quân Pháp huy động 16.300 quân, 55 đại bác, nhiều pháo thuyền do tên thiếu tướng Nêgơriê (Negrier) phái từ Hải Dương đánh chiếm Phả Lại làm nơi đứng chân để đánh chiếm tỉnh thành Bắc Ninh. Nguyễn Thiện Thuật đã cùng Hoàng Văn Hoè, Tạ Quang Báo hợp quân lợi dụng đêm tối tiến sát Phả Lại rồi nổ súng mãnh liệt, xung phong đánh giáp lá cà. Cuộc chiến đấu diễn ra suốt từ 17 giờ ngày 12/3 đến 2 giờ sáng ngày 13/3 thì nghĩa quân chiếm được thành. Sáng hôm sau quân Pháp bắn đại bác dữ dội vào thành rồi cho quân xung phong, nghĩa quân phải rút.

   Trong các ngày 25 tháng 2, 28 tháng 2 và ngày 3 tháng 4 năm 1884, nghĩa quân Ba Báo cùng với nghĩa quân Hoàng Văn Hoè liên tục tấn công quân Pháp trên đường hành quân từ Phả Lại tấn công thành Bắc Ninh, cả trên đường bộ và đường thuỷ. Tháng 1/1886 quân Pháp phát hiện: “ …thấy cùng với Khoát, Ba Báo, Lang, Quý và Tiền Đức xuất hiện ở Hiệp Sơn, Chí Linh” .

   Tháng 6/1886 tên cai tổng địa phương báo cho giặc biết chỗ ở Ba Báo. Tên đại tá Bơritxô (Brissaud) liền phái một đạo quân do một thiếu tá chỉ huy 150 lính khố đỏ, luôn đêm đi thuyền, định tảng sáng thì đến nơi. Nhưng trong khi đi thuyền mấy người lái đò cố ý chần chừ và mấy lần lạc đường phải trở lại. Kết quả quân Pháp đến không đúng hẹn. Sau khi vây làng, tên cai tổng dẫn giặc vào nhà Ba Báo ở thì Ba Báo đã đi từ một giờ trước đó, vì ông được nhân dân báo cho biết quân Pháp đến từ nửa đêm. Ba ngày sau tên cai tổng phản động bị nghĩa quân giết chết.

   Giặc Pháp không giết, không bắt được Ba Báo, chúng điên cuồng khủng bố, tàn sát nhân dân ở những vùng Ba Báo hoạt động. Chúng phỉnh phờ lừa gạt nhân dân bằng luận điệu nếu còn che giấu, giúp đỡ Ba Báo thì giết hết người triệt hạ làng. Nếu người nào bắt hoặc giết được Ba Báo hoặc chỉ điểm chỗ Ba Báo đóng quân thì đều được thưởng. Một số tên lưu manh, có người nhà làm tay sai cho Pháp bị nghĩa quân Ba Báo trừng trị muốn nhân dịp này trả thù. Song ông được nghĩa quân và nhân dân bảo vệ, nên bọn chúng chưa thực hiện được mưu đồ.

   Sang năm 1887, quân Pháp lại kêu: “Từ tháng giêng năm 1887, Lãnh Giang lại trở về trong tỉnh liên kết với Khoát, Ba Báo, Văn và Quý. Kết quả của việc này chẳng bao lâu đã thấy rõ. Vụ nọ tiếp vụ kia, ba tầu buôn nhỏ bị tấn công khi qua sông Luộc”.

   Chiến dịch khủng bố đi đôi với mua chuộc của thực dân Pháp đã đạt được. Ngày 14/4/1887, trung tá Et vi Eschin chewiller coi đồn Bình Bạch đã bắt được Ba Báo và giết hại ông.





SƯ THUYỀN QUAN

   Tháng 7 năm 1885, Thượng thư bộ binh Tôn Thất Thuyết, Trần Xuân Soạn chỉ huy Phấn nghĩa quân tấn công quân Pháp đóng ở đồn Mang Cá; Toà Khâm sứ, khu nhượng địa. Cuộc tấn công không thành. tảng sáng quân Pháp phản công. Tôn Thất Thuyết và các tướng hộ giá vua Hàm Nghi ra sơn phòng Quảng Trị. nhà vua hạ chiếu Cần vương. Sĩ phu, nhân dân các tỉnh Trung Kỳ nhiệt liệt hưởng ứng. Tại Thái Bình các ông Tạ Hiện, Nguyễn Hữu Cương, Nguyễn Hữu Thu, Bang Tốn, Phạm Huy Quang.. hưởng ứng. Nhiều nhà sư ở Thái Bình cởi áo cà sa, khoác chiến bào gia nhập nghĩa quân giết giặc. Trong số đó có sư Sở tu ở chùa Thuyền Quan, nay thuộc xã Thái Hà, huyện Thụy Anh, tỉnh Thái Bình đã dựng cờ khởi nghĩa, dùng chùa làm đại bản doanh. Nhà sư đem thóc gạo của chùa ra nuôi quân, dân trong vùng quen gọi là sư Thuyền Quan. Trai tráng các huyện Thuỵ Anh, Thái Ninh... gia nhập nghĩa quân rất đông, họ tự sắm vũ khí. Nhân dân nô nức đem thóc gạo, lợn gà, tiền bạc đến khao quân.

   Sư Thuyền Quan vốn là người giỏi võ nghệ từng trải việc binh, nên công tác huấn luyện quân sĩ rất có bài bản. Nghĩa quân của sư Thuyền Quan trang bị chủ yếu là vũ khí thô sơ như gươm, giáo, kiếm, đoản đao, mã tấu, nhưng có tinh thần chiến đấu rất cao và có tinh thần kỷ luật. Thanh thế của nghĩa quân sư Thuyền Quan rất lớn, bọn quan lại làm tay sai cho Pháp không dám đem lính đến đàn áp.

   Cuối năm 1885, quân Pháp từ hai phía Nam Định và Hưng Yên có tàu chiến, pháo hạm tiến đánh Thái Bình. Các ông Nguyễn Hữu Cương ở Động Trung. Giám Thố ở Cổ Ninh, Lãnh Hoan ở Thọ Vực tiến về Kiến Xương, Tiên Hưng phối hợp với lực lượng của sư Thuyền Quan ở Thuỵ Anh đưa quân tới tấn công quân Pháp quyết liệt ở làng Tống Vũ (nay là xã Chính Lâm, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình), ở Cầu Kìm, Chợ Đác (nay là xã Vũ Lạc, huyện Kiến Xương). Nghĩa quân đã gây cho giặc tổn thất nặng nề. Được tin thất bại, quân Pháp ở Hà Nội phải vội vàng điều động một đạo quân do 1 tên trung tá chỉ huy xuống tiếp viện.

   Đội quân do sư Thuyền Quan chỉ huy còn độc lập tác chiến hoặc phối hợp với các lực lượng nghĩa quân khác đánh nhiều trận lớn. Sư Năm Thượng ở chùa làng Lộ Vi (tức Lộ Xá nay thuộc Thăng Long, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình) đánh quân Pháp khi chúng tấn công vào chùa Lộ Vi.

   Ở tỉnh Thái Bình nay còn lưu truyền bài:

         VÈ  SƯ THUYỀN  QUAN

      Nam vô đại tướng Thuyền Quan
      Mũ ni, tích trượng, phướn, phan thay cờ
      Bình Tây kiến lập vệ cơ
      Nghĩa quân khắp chốn đi về sớm hôm
      Chùa làm kho súng bên đồn
      Lãng Sa bạt vía kinh hồn Thuyền Quan
      Nam vô đại thế Át Nan
      Hộ trì đại tướng Thuyền Quan công thành.


(Năm 1885, tỉnh Thái Bình còn là đất của hai tỉnh Nam Định và Hưng Yên. Ngày 21/3/1890, tỉnh Thái Bình mới thành lập theo Nghị định của Toàn quyền Đông Dương gồm phủ Thái Bình, phủ Kiến Xương của Nam Định, huyện Thần Khê của tỉnh Hưng Yên. Năm 1894 cắt hai huyện Hưng Nhân và Duyên Hà thuộc tỉnh Hưng Yên vào tỉnh Thái Bình lấy sông Luộc làm ranh giới giữa hai tỉnh Thái Bình và Hưng Yên).
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4839



« Trả lời #103 vào lúc: 28 Tháng Mười Một, 2011, 10:13:52 am »

SƯ NĂM THƯỢNG

   Sư Năm Thượng chưa rõ tên thực, quê quán, chỉ biết ông tu ở chùa làng Lộ Vi (tức Lộ Xá, nay thuộc xã Thăng Long. huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình). Từ năm 1882, khi giặc Pháp đánh Hà Nội lần thứ hai rồi mở rộng chiến tranh xâm lược ra các tỉnh Nam Định. Hưng Yên, Hà Nam. Ninh Bình thì nhà sư đã tới các chùa Nam Định và Hưng Yên (Khi đó chưa thành lập tỉnh Thái Bình) vận động tăng ni, phật tử chống Pháp.

   Sư Năm Thượng hiểu rõ nghĩa quân muốn đánh thắng giặc thì ngoài vũ khí phải có lương thực. Vì vậy từ vụ mùa năm 1882, nhà sư đã vận động phật tử khai hoang mở rộng diện tích canh tác vốn có của chùa. Làng Lộ Vi nhỏ, nên số người giúp nhà chùa mở rộng diện tích không nhiều. Sư Năm Thượng đem vốn liếng của mình thuê người làm. Vì vậy mỗi năm diện tích cấy lúa một tăng, thóc thu được nhiều hơn những năm trước. Đến vụ gặt nhà sư chỉ dành một ít thóc giúp những người cơ nhỡ, còn đóng vào các bịch, lẫm.

   Năm 1885, vua Hàm Nghi xuất bôn ra Quảng Trị ban chiếu Cần vương. Ông cùng sư chùa Thuyền Quan (huyện Thuỵ Anh), sư Neo ở huyện Thanh Miện (Hải Dương) chiêu mộ nghĩa quân theo Tạ Hiện đánh Pháp. Nhà sư đã đem ba chồng bịch thóc, trên 1000 phương thóc bí mật ủng hộ nghĩa quân. Nhưng nhà sư nguỵ trang những cót thóc trong chùa vẫn nguyên vẹn. (Phương là một cái thùng to hình vuông, đổ thóc vào gạt mặt, phương to 12 kg, phương nhỏ 10kg).

   Năm 1889, nghĩa quân Thái Bình tiến đánh phủ Bo (nay là thị xã Thái Bình), sư Năm Thượng tiếp tục ủng hộ lương thực và chỉ huy một cánh quân tấn công phủ Bo.

   Sau trận đánh, sư Năm Thượng bỏ chùa đi theo nghĩa quân. Dân làng ra chùa kiểm soát thấy ba cót thóc vẫn đầy không vơi. Vào một ngày nắng, dân đổ thóc ra phơi thì chỉ có lớp thóc bên trên, bên dưới toàn là trấu. Dân không oán trách gì sư, vì sư đem thóc đó cho nghĩa quân đánh Tây.

   Nay nở Thái Bình còn lưu truyền bài:

VÈ SƯ NĂM THƯỢNG MANG THÓC ỦNG HỘ NGHĨA QUÂN CHỐNG PHÁP

Kể từ Ất Dậu mới rồi (1885)
Nhà sư Năm Thượng là người đảm đang
Xin tu chùa của hai làng
Rèm và Lộ Xá bên đường cái quan
Ruộng chùa chăm bón giỏi giang
Ba chồng cót thóc một ngàn phương to
Cụ đem ngầm giúp Phủ Bo
Bỏ chùa rồi cụ đi xa không về
Dân lên kiểm soát mọi bề
Ba cây thóc đẫy, chẳng hề có vơi.
Nhân khi nắng ráo đẹp trời,
Dân làng đem thóc ra phơi kịp liền
Vừa vào xúc hết lượt trên,
Ở dưới toàn trấu vít liền ba cây
Thế là thóc đã lên mây.
Thóc đem ăn để đánh Tây mất rồi.
Biết vậy dân chúng đều thôi,
Lạy Phật, lạy giời phù hộ nghĩa quân.

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4839



« Trả lời #104 vào lúc: 28 Tháng Mười Một, 2011, 10:15:25 am »

NGUYỄN THIỆN THUẬT

   Nguyễn Thiện Thuật tên thật là Nguyễn Thuật, ông thi Hương đậu tú tài năm Canh Ngọ (1870). Thấy ông là người thông minh, lanh lợi, quan tỉnh Hải Dương đưa về giúp việc quân. Do có công dẹp giặc Tiên Viên, tay sai của Francis Garnier, Nguyễn Thuật được triều đình thưởng Quân công bội tinh và được cử làm Bang biện phủ Kinh Môn.
 
   Nguyễn Thuật vừa làm việc quan vừa tự học. Khoa thi Bính Tý (1876), ông thi Hương ở Nam Định đỗ thủ khoa. Năm 1877, ông được bổ làm tri phủ Từ Sơn. Vì có người cùng thời làm quan cũng tên là Nguyễn Thuật, ông làm sớ xin nhà vua cho đệm chữ Thiện, nhà vua ưng thuận, các anh em ông cũng đệm chữ Thiện. Tháng 6 năm Kỷ Mão (8/1 879), Nguyễn Thiện Thuật được thăng Tán tương quân thứ, hai năm sau ông được thăng Sơn phòng chánh sứ, kiêm Tán tương quân thứ Sơn Tây. Ông cùng Thống đốc Hoàng Tá Viêm thu phục mười sáu châu từ Bắc Giang đến Sơn La, bình định Ba Bể, lập nhiều công to.

   Ngày 10 tháng 7 năm Quý Mùi (9/8/1883) đại uý Briolval hạ thành Hải Dương. Triều đình cử ông về làm Tổng đốc Hải - Yên (Hải Dương-Quảng Yên, bao gồm cả Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh ngày nay), đồng thời làm Phó nguyên suý Đạo binh Đông bắc dưới quyền Thống đốc Hoàng Tá Viêm. Ông thành lập đạo quân gồm người Nam và người Khách ở huyện Đông Triều định thu phục Ninh Hải (Hải Phòng), nhưng việc không thành. Ngày 20/8/1883, Triều đình ký với Pháp Hiệp ước Harmand ra lệnh cho các quân thứ Bắc Kỳ: “Phải lập tức triệt binh dũng lui để tỏ điều tin đối với nước Đại Pháp”, đòi “quan lại đang đánh Pháp ở Bắc Kỳ về Kinh đợi chỉ”.

   Nguyễn Thiện Thuật kháng chỉ bỏ chức Tổng đốc Hải - Yên về Đông Triều mộ quân đánh Pháp. Hưởng ứng lời kêu gọi của Nguyễn Thiện Thuật, nhiều bậc chí sĩ, quan lại, tổng lý, nông dân, dân nghèo, binh sĩ yêu nước đã nhiệt liệt tham gia và nổi dậy ở nhiều nơi. Ông thành lập đội quân lấy Đông Triều làm căn cứ. Hoạt động của nghĩa quân Nguyễn Thiện Thuật làm cho quân Pháp chịu nhiều tổn thất nặng nề.

   Nguyễn Thiện Thuật cũng quan hệ chặt chẽ với Đinh Gia Quế thủ lĩnh cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy, ông về căn cứ Thọ Bình dự lễ tế Cờ khởi nghĩa của Đổng Quân vụ Đinh Gia Quế.

   Chiều ngày 12/11/1883, Nguyễn Thiện Thuật giao cho Lãnh Giang ở lại giữ Đông Triều còn ông cùng Nguyễn Thiện Kế, Đề Vinh dẫn quân về đánh thành Hải Dương. Tám giờ tối, nghĩa quân bí mật bao vây, sắp tới giờ nổ súng thì cánh quân bên ngoài do Hai Kế chỉ huy chạm trán với toán quân Pháp đi tuần về nên buộc lòng phải nổ súng.

   Mặc dù mất yếu tố bất ngờ, Nguyễn Thiện Thuật vẫn quyết tâm đánh thành. Trước sức tấn công mãnh liệt của nghĩa quân, thành Hải Dương lâm vào thế nguy ngập, trời gần sáng, thành sắp bị hạ thì ông Thuật hạ lệnh ngừng công phá thành, bắn thưa thớt rồi lui quân. Ông Thuật vừa rút khỏi thành phố thì quân Pháp ở Bắc Ninh tới tiếp viện, nhưng quân ông Thuật đi đã xa.

   Sau trận hạ thành Hải Dương không thành, Nguyễn Thiện Thuật phối hợp với các lực lượng nghĩa quân khác và quân triều đình do phe chủ chiến chỉ huy hoạt động ở vùng sông Thái Bình, sông Kinh Thày, Phả Lại, Lục Đầu Giang, các tỉnh Bắc Ninh, Hưng Hoá, Phủ Lạng Thương, Tuyên Quang.

   Ngày 26/10/1884 , Nguyễn Thiện Thuật cùng Lã Xuân Oai Tuần phủ Cao Bằng - Lạng Sơn, Đề đốc Tạ Hiện, Ngự sử Phạm Huy Quang cùng mười tám thân hào tỉnh Hải Dương phối hợp với quân Thanh do các tướng Đường Cảnh Tùng, Hoàng Quế Lan chỉ huy phục kích quân Pháp ở cầu Quan Âm (Bắc Lệ, Lạng Sơn) giết chết 21 tên Pháp.

   Ngày 28/3/1885, nghĩa quân Nguyễn Thiện Thuật tham gia chặn đánh quân Pháp khi chúng đánh thành Lạng Sơn. Quân Pháp đại bại bị chết trên 100 tên, tướng Negrier bị thương nặng ở ngực tại Kỳ Lừa, quân Pháp phải rút chạy về Chũ.

   Cuối tháng 3/1885 Pháp và nhà Thanh ký "Hiệp ước Hòa bình" buộc Lưu Vĩnh Phúc đem quân về nước, Nguyễn Thiện Thuật và các cánh quân khác yếu thế phải rút vào rừng. Bị quân Pháp truy lùng gắt gao, ông phải tạm lánh sang Long Châu (Trung Quốc).

   Tháng 7 năm 1885, Nguyễn Thiện Thuật nhận được tin vua Hàm Nghi xuất bôn ra Quảng Trị hạ chiếu Cần vương, liền về căn cứ Tiên Động (thuộc thượng huyện Cẩm Khê, nay thuộc huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ) gặp Lễ bộ thượng thư sung Hiệp thống Bắc Kỳ quân vụ đại thần Nguyễn Quang Bích nhận chiếu Cần vương. Nguyễn Quang Bích tâu với vua Hàm Nghi phong ông là Bắc Kỳ Hiệp thống quân vụ đại thần gia chấn trung tướng quân trực tiếp lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy.

   Tháng 9/1885, Nguyễn Thiện Thuật tổ chức lễ Tế cờ khởi nghĩa và hội nghị tướng sĩ ở Văn chỉ xã Bình Dân, tổng Bình Dân, huyện Đông Yên, phủ Khoái Châu. Sau lễ tế cờ Nguyễn Thiện Thuật đã cho quân vượt sông Hồng đánh sang các huyện Thanh Trì, Thường Tín, Phú Xuyên, Ứng Hoà.

   Đêm 28 rạng ngày 29 tháng 9/1885 , quân Bãi Sậy tấn công thành Hải Dương, bọn chỉ huy Pháp ở Hải Dương phải đưa quân ra ngoài thành chặn đường nghĩa quân.

   Nguyễn Thiện Thuật lệnh cho các tướng bí mật đồng loạt tấn công vào các đồn bốt địch, chặn đường hành quân của chúng, mặt khác tăng cường phòng thủ căn cứ Bãi Sậy nhiều vòng. Nguyễn Thiện Thuật còn phái các đội vũ trang tuyên truyền đi dán các bản Tuyên cáo ở khắp các thôn xóm, kêu gọi lính An Nam đào ngũ, bắn vào đầu bọn chỉ huy Pháp, bọn quan chức Việt Nam theo Pháp lập công trở về với hàng ngũ kháng chiến.    Dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Thiện Thuật và bộ tham mưu nghĩa quân vẫn đánh thắng nhiều trận lẫy lừng như các trận do Đốc Tít, Lưu Kỳ, Hai Kế, Lãnh Giang, Đội Văn, Đốc Cọp, Đốc Sung chỉ huy.

   Tháng 10/1890, Nguyễn Thiện Thuật thấy tình thế nhiều khó khăn, ông trao binh quyền cho em là Nguyễn Thiện Kế rồi sang Trung Quốc mưu tính một cuộc vận động mới. Song tình thế đã khác trước, việc không thành, ông đành ở lại nhà tướng Cờ Đen Lưu Vĩnh Phúc.

   Nguyễn Thiện Thuật mất ngày 26/5/1926 (15 tháng 4 âm lịch). Mộ táng tại núi Vạn Hoa Cương, thành phố Nam Ninh, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc.

   Được sự ủy nhiệm của ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên, Sở Văn hóa thông tin tỉnh Hưng Yên cùng dòng họ ngày 30/1/2005 đã đưa hài cốt của ông về táng ở khu tưởng niệm Bắc Kỳ Hiệp thống quân vụ đại thần Nguyễn Thiện Thuật tại quê nhà xã Xuân Dục, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4839



« Trả lời #105 vào lúc: 28 Tháng Mười Một, 2011, 10:17:34 am »

NGUYỄN THIỆN KẾ

   Nguyễn Thiện Kế là em thứ hai Nguyễn Thiện Thuật, quê làng Xuân Đào, xã Xuân Dục, tổng Bạch Sam, tỉnh Hải Dương nay là thôn Xuân Dục, xã Xuân Dục, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên. Nguyễn Thiện Kế sinh ngày 28 tháng 6 năm Kỷ Dậu (1849) tự là Trung Khả, hiệu là Đường Dân tiên sinh.

   Nguyễn Thiện Kế theo anh làm việc quân từ năm Bính Tý (1876). Khi Nguyễn Thiện Thuật được thăng Hưng Hoá Sơn phòng chánh sứ kiêm Tán tương quân thứ Sơn Tây. Nguyễn Thiện Kế trực tiếp phụ trách Nam Bắc Ninh, Bắc Hưng Yên, Tây bắc Hải Dương. Với tài thao lược của mình, ông lập được nhiều chiến công, có uy tín rất lớn với các tướng lĩnh, nghĩa quân và nhân dân.

   Khoảng cuối năm 1885, đầu năm 1886, vua Hàm Nghi phong ông chức Hồng lô Tự khanh, sung Bắc Kỳ tán lý quân vụ, ông dâng sớ cố từ, nhận lấy chữ Đường Dân làm hiệu.

   Khi Tổng Khấu ở xã Ngọc Cục làm phản nghĩa quân, Nguyễn Thiện Kế lệnh cho Đốc Khuy giết chết. Tháng 1/1890, căn cứ Bãi Sậy bị bao vây, Nguyễn Thiện Kế, Đề Ban, Đốc Sung tấn công đồn Kẻ Sặt. Ngày 21/2/1890 Nguyễn Thiện Kế ở lại cùng Đốc Sung, Lãnh Mỹ tấn công đồn điền Iakmon (Hải Dương).

   Từ tháng 10/1890, Nguyễn Thiện Thuật sang Trung Quốc, giao binh quyền cho Nguyễn Thiện Kế. Ông cùng các tướng vẫn lấy Bãi Sậy làm căn cứ chính nhưng hoạt động quân sự chủ yếu ở các huyện Từ Sơn, Tiên Du, Thuận Thành, Quế Võ, Lang Tài (Nam Bắc Ninh), Cẩm Giàng, Thanh Miện, Bình Giang (Bắc Hải Dương), Ân Thi, Mỹ Hào (Hưng Yên).

   Để dễ vận động, Nguyễn Thiện Kế chia quân thành các toán nhỏ 20- 25 người hoạt động lưu động từ làng này qua làng khác. Chính các toán quân nhỏ này đã liên tục tập kích vào các đồn địch ở Khoái Châu, Hà Tiên (một thôn ở huyện Ân Thi giáp ranh với huyện Thanh Miện tỉnh Hải Dương, Phú Trạch (tổng Mễ Sở, Khoái Châu) gây cho quân Pháp nhiều thiệt hại.

   Sang năm 1891, giặc Pháp tập trung quân điên cuồng khủng bố phong trào Bãi Sậy, nhưng nghĩa quân do Nguyễn Thiện Kế lãnh đạo vẫn hoạt động mạnh mẽ.

   Dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Thiện Kế, nghĩa quân Lưu Kỳ, Tiền Đức đã tấn công các lầu thuyền của quân Pháp trên sông Thái Bình và sông Văn Úc, Lãnh Quý cũng trở lại chiến trường cũ là Thanh Hà, Tứ Kỳ, Kim Thành tổ chức lại đội ngũ liên tục đánh quân Pháp. Tại huyện Thanh Lâm (nay là huyện Nam Sách- Hải Dương) lại xuất hiện các đạo quân khác liên tục sẵn sàng chiến đấu.

   Để đối phó với nghĩa quân do Nguyễn Thiện Kế chỉ huy, Toà sứ Hải Dương thành lập đạo quân này gọi là "lính cơ". Lại cho quan phủ, huyện được tuyển lính, trang bị vũ khí sẵn sàng đánh phá nghĩa quân, đàn áp các làng ủng hộ nghĩa quân. Quân Pháp tập trung lực lượng quân sự mạnh đàn áp dữ dội hòng dập tắt cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy, nhưng phong trào chỉ tạm thời lắng xuống. Hai Kế, Đề Ban, Đề Vinh vẫn duy trì phục hồi phong trào, phát triển lực lượng nghĩa quân ở một số vùng, bẻ gẫy nhiều cuộc càn quét của chúng.

   Ngày 24/3/1891, Nguyễn Thiện Kế đã đánh nhau quyết liệt với thanh tra Lamber với sự hỗ trợ của các đồn Mỹ Hào, Đỗ Mỹ, Phong Cốc, nghĩa quân đi trên một cái thuyền.

   Đầu tháng 7/1891, Nguyễn Thiện Kế, Đề Vinh, Đốc Mỹ, Đề Quý kéo đi rất đông tấn công các đồn binh Pháp.

   Đầu tháng 7/1891, Nguyễn Thiện Kế phái Ba Giang phối hợp với Đề Hiệu, tướng cũ của Tạ Hiện và Đốc Nhưỡng, Đề Gạo mặc quần áo lính khố xanh tiến đánh tỉnh lị Thái Bình. Nghĩa quân đóng quân ở đình Thần Khê (huyện Duyên Hà) thì bị Việt gian báo cho quân Pháp chặn đánh. Đốc Nhưỡng, Đề Gạo bị thương, Đốc Nhưỡng rút quân lên Sơn Tây thì bị quân Pháp bắt xử tử, Ba Giang trở lại Hưng Yên hoạt động.

   Đầu năm 1892, nhiều tướng như Đốc Cọp, Đề Tính, Đốc Sung, Lãnh Điển hy sinh, Lưu Kỳ bị đánh bật ra khỏi Đông Triều, Lục Ngạn, Nguyễn Thiện Kế và các tướng phải luôn luôn di chuyển từ làng này qua làng khác, tỉnh Hưng Yên đến Bắc Ninh, sang Hải Dương rất vất vả. Lực lượng và vũ khí ngày càng hao hụt, có những trận nghĩa quân phải rút lui.

   Tuy bị địch truy bức liên tục nhưng chỉ trong tuần lễ đầu tháng 4/1892, nghĩa quân của Nguyễn Thiện Kế, Đề Vinh đã hạ liền 5 đồn lính Khố xanh và uy hiếp nhiều đồn binh khác. Hoàng Cao Khải và thanh tra Blanchart được tin báo vô cùng hốt hoảng vội vàng điều 600 dân binh, 800 lính lệ đi chặn đánh nghĩa quân.

   Sang năm 1892, Nguyễn Thiện Kế gặp nhiều khó khăn buộc lòng phải giải tán nghĩa quân, Nguyễn Thiện Kế phải cải trang trốn tránh. Từ đó Nguyễn Thiện Kế cải trang làm người bán thuốc bôn tẩu khắp nơi, thường qua lại Trung Quốc thăm anh, đưa đường cho nhiều người trong nước xuất dương Đông du.

   Ngày 14/3/1913 và ngày 26/4/1913 xảy ra hai vụ ném lựu đạn giết chết tuần phủ Thái Bình Nguyễn Duy Hàn và làm bị thương một số sĩ quan Pháp khác ở Hà Nội. Hội đồng Đề hình họp ngày 5/9/1913 nghi ông tham gia vào vụ này và đã kết án chung thân vắng mặt. Năm 1914, khi ông đã ở tuổi 65, nhà cầm quyền Pháp bắt được ông ở chợ Sơn, Từ Sơn, Bắc Ninh. Ông tự tử nhưng có người cứu nên không chết, Pháp đầy ông đi Côn Đảo, khi ông ngoài 70 tuổi chúng mới đưa ông về an trí ở quê nhà. Trước khi đưa ông về quản thúc ở quê nhà, bọn quan cai trị Pháp và Nam triều dụ dỗ ông ra làm quan với chúng song ông không chịu. Khi ở Côn Đảo về, nhà cửa bị tàn phá, tài sản bị cướp hết, ông lại bị quản thúc, cứ bảy ngày phải lên đồn Bần Yên Nhân trình diện một lần, ông phải sống trong cảnh bần hàn, nhưng ông vẫn thường nói với con cháu: "Nếu ta còn sức khoẻ ta sẽ tiếp tục đánh Tây đến cùng”.

   Nguyễn Thiện Kế mất ngày 22 tháng 9 năm Đinh Sửu (25/10/1937) hưởng thọ 88 tuổi tại làng Xuân Đào, xã Xuân Dục trong lòng thương tiếc của nhân dân địa phương và những người Việt Nam yêu nước.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4839



« Trả lời #106 vào lúc: 28 Tháng Mười Một, 2011, 10:20:04 am »

NGUYỄN THIỆN DƯƠNG (LÃNH GIANG)

   Lãnh Giang tên thật là Nguyễn Thiện Dương, em thứ tư của Nguyễn Thiện Thuật. Lãnh Giang là người có đức độ, võ nghệ siêu quần. Trong thời gian Nguyễn Thiện Thuật làm Tổng đốc Hải - Yên ông cũng theo giúp việc quân. Khi Nguyễn Thiện Thuật phải lánh sang Long Châu (Trung Quốc), Nguyễn Thiện Dương ở lại trong nước cùng Nguyễn Thiện Kế hô hào nhân dân các phủ, huyện ở tỉnh Hải Dương bất cộng tác với Pháp, lên án bọn vua quan Tự Đức đầu hàng giặc.

   Tháng 9-1885, Lãnh Giang đã có mặt trong lễ Tế cờ khởi nghĩa ở Văn chỉ Bình Dân, ông được phong chức Lãnh binh và được Nguyễn Thiện Thuật giao cho phụ trách vùng Đáp Cầu thị xã Bắc Ninh, phía thượng lưu, hạ lưu sông Cầu và vùng phụ cận. Ngoài nhiệm vụ xây dựng lực lượng và tổ chức tác chiến, ông còn lãnh trách nhiệm bảo vệ con đường bí mật chuyên chở vũ khí từ vùng biên giới Đông Bắc do Lưu Kỳ mua và vận chuyển về căn cứ Đáp Cầu. Trong năm 1887 Lãnh Giang hoạt động mạnh mẽ ở vùng Bắc và Tây Hải Dương, Nam Bắc Ninh, Bắc Hưng Yên gây cho quân Pháp nhiều tổn thất, quân lính hoang mang không dám càn quét. Pháp phải thú nhận như sau: "Năm 1887 trong thời gian chờ đợi công cuộc bình định chỉ được tiến những bước yếu ớt. Từ tháng giêng năm 1887 Lãnh Giang lại trở về trong tỉnh và liên kết với Khoát, Ba Báo, Văn, Quý. Kết quả của việc này chẳng bao lâu đã thấy rõ. Vụ nọ tiếp vụ kia, ba tầu buôn nhỏ bị tấn công trên sông Luộc. Một tầu bị bỏ lại và bị cướp. Trong những cuộc truy lùng địch, các đội lính Khố đỏ và Khố xanh của chúng ta luôn luôn xung đột với các đám giặc đương đầu với họ, có một bốt suýt nữa bị họ chiếm”. (Trận này Piglowski viết trong "Lịch sử lính Khố xanh An Nam ở Bắc Kỳ” như sau: Nhiều tên cướp đã vãi đạn vào chiếc tầu. Một thuỷ thủ bị giết chết. Chiếc xà lúc Antoinette chở thư đường sông Hà Nội - Hải Phòng đã bắt gặp chiếc Madalay sau khi Madalay bị tấn công. Chiếc xà lúc Antoinette đã được đồn binh đó yểm hộ và cập bến Hải Phòng vô sự (29-6).

   Pháp và Hoàng Cao Khải nhiều lần đem quân đánh Lãnh Giang, nhưng không có kết quả mà còn bị tiêu hao lực lượng, vì thế năm 1887 quân Pháp tăng cường lính Khố xanh, riêng ở Hải Dương đưa lên 800 tên đóng ở các đồn bốt và hợp thành "đội Bảo an dân sự bản xứ" rải ra các bốt cố định và bốt lưu động, Công sứ Hải Dương còn rút lính chính qui ở các đồn về lập các đội quân, khủng bố các làng ủng hộ nghĩa quân, giúp quan huyện thu thuế. Để chống lại lực lượng quân sự mới của quân Pháp, Nguyễn Thiện Thuật, Lãnh Giang kết hợp với các toán khác hợp thành sức mạnh diệt nhiều đồn bốt Pháp.

   Về tài thao lược của Lãnh Giang, kẻ thù cũng phải thừa nhận: "Tán Thuật có hai tướng giúp việc là anh em của ông ta là Lãnh Giang và Hai Kế. Hai người này thực sự là những chỉ huy có tài đã khiến cho cuộc nổi dậy này phải khó khăn và lâu dài  mới đàn áp nổi".

   Lãnh Giang chỉ huy quân sỹ nhiều lần đánh bật quân Pháp ra xa ngôi chùa, nhưng bọn chúng đông, nhiều súng đạn vẫn không ngừng tấn công, không may Lãnh Giang bị trúng đạn hy sinh. Nghĩa quân mở đường máu đưa xác ông vào trong làng, được nhân dân giấu trong đống rơm quân Pháp không tìm ra. Khi quân Pháp rút, nghĩa quân đưa xác ông về Bãi Sậy.






ĐINH GIA QUẾ

   Ngày 28/3/1883, quân Pháp chiếm thành Hưng Yên không mất một viên đạn. Đinh Gia Quế đang giữ chức Chánh tuần huyện Đông Yên phẫn nộ bỏ quan về quê ở xã Thọ Bình nay thuộc xã Tân Dân, huyện Khoái Châu chiêu mộ quân đánh Pháp. Để có danh nghĩa, ông tự xưng là Đổng quân vụ, gương cao cờ "Nam đạo Cần vương, Bình Tây phạt tội”.

   Cờ khởi nghĩa phất lên, nhân dân trong vùng mến mộ ông từ khi ông ngồi dạy học, rồi làm chánh tổng, chánh tuần huyện, luôn luôn đứng về phía dân nghèo, bảo vệ quyền lợi cho họ nên theo về rất đông. Đinh Gia Quế lấy Bãi Sậy làm căn cứ. Giặc Pháp phải thú nhận: “Tất cả những người nông dân ở Bãi Sậy đều theo Đinh Gia Quế chống người Pháp”. Đinh Gia Quế xây dựng ở ấp Thọ Bình một tòa thành bằng gạch rộng năm mẫu, bên dưới là địa đạo thông tới đền Dạ Trạch, ra sông Hồng và bãi sậy xung quanh. Ông không tập trung quân ở các thành lũy như một số cuộc khởi nghĩa khác mà bố trí quân ở xã nào về xã đó, với phương châm: "Bất biến vi dân, biến vi binh".

   Ngày 6/3 năm Quý Mùi( 8/4/1883) Đinh Gia Quế làm lễ tế cờ khởi nghĩa ở Văn chỉ Bình Dân. Rất đông các tướng lĩnh ở khắp mọi nơi kéo về tụ họp dưới lá cờ khởi nghĩa mà ông dựng nên, Đinh Gia Quế cùng nghĩa quân đánh nhiều trận lớn ở Hưng Yên, Hải Dương, Thanh Trì, Thường Tín, Phú Xuyên. Bộ tư lệnh quân viễn chinh Pháp ở Trung Bắc kỳ thành lập một binh đoàn mạnh từ Hải Phòng lên để đánh bật quân của Đinh Gia Quế ra sông Hồng cho tàu chiến tiêu diệt. Song âm mưu của chúng không khuất phục được nghĩa quân, chúng đã bị đánh bật ra khỏi căn cứ Bãi Sậy.

   Trước thất bại đó, quân Pháp giao cho Hoàng Cao Khải, Án sát Hưng Yên đem quân đánh song chúng lại bị thất bại. Từ năm 1884 và 7 tháng đầu năm 1885, thế lực của nghĩa quân ngày càng lớn mạnh, đã đánh thắng quân Pháp nhiều trận lừng lẫy.

   Song giặc Pháp vẫn quyết tâm tiêu diệt cuộc khởi nghĩa, chúng liên tiếp đưa quân đàn áp, Đinh Gia Quế, Lãnh Sậy đem quân vượt sông Hồng đuổi theo quân giặc đến tận làng Thanh Trì( gần cảng Phà Đen). Khi quay trở về đến bến đò Vạn Phúc thì bị quân Pháp phục kích. Lãnh Sậy hy sinh, Đinh Gia Quế phải chạy lên Thuận Thành, Bắc Ninh. Khoảng hơn một tháng sau, ông trở về khi đó ông đã 60 tuổi, sức yếu, bị ốm nặng, phải nằm dưỡng bệnh ở ấp Dương Trạch, giao binh quyền cho Chánh đề đốc Nguyễn Đình Tính chỉ huy.

   Đinh Gia Quế mất ngày 21/11 năm Ất Dậu (khoảng cuối tháng 12 năm 1885).
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4839



« Trả lời #107 vào lúc: 28 Tháng Mười Một, 2011, 10:21:19 am »

NGÔ QUANG HUY

   Ngô Quang Huy biệt hiệu là Quang Hiên, sinh năm 1835 ở xã An Lạc, tổng Thái Lạc, huyện Văn Giang, tỉnh Bắc Ninh, nay là thôn An Lạc, xã Trưng Trắc, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.

   Ngô Quang Huy là người thông minh, nổi tiếng hay chữ một vùng, đương thời có câu: “Thần Siêu, Thánh Quát, trẻ Quang Huy”. Năm 17 tuổi ông đỗ Cử nhân khoa Nhâm Tý, Tự Đức thứ 5 (1852) tại trường thi Hà Nội, được bổ làm Đốc học tỉnh Bắc Ninh.

   Năm 1883 Triều đình Huế kí Hoà ước với Pháp ra lệnh bãi binh. Nguyễn Thiện Thuật bỏ quan về huyện Đông Triều chiêu mộ quân đánh Pháp. Ngô Quang Huy cùng em trai là Ngô Quang Chước, đỗ cử nhân khoa Đinh Mão, Tự Đức thứ 20 (1867) tại trường thi Hà Nội đang làm Huấn đạo huyện Mỹ Đức đều bỏ quan chiêu mộ được hơn 100 quân đến Đông Triều gia nhập đội quân khởi nghĩa của Nguyễn Thiện Thuật.

   Ngô Quang Huy là nhà nho từng làm đốc học, nên ông hiểu rõ tầm quan trọng của công tác tuyên truyền, giáo dục. Ông đã thành lập một đội tuyên truyền gồm các nho sinh hô hào đồng bào gia nhập nghĩa quân, tiếp tế lương thực cho nghĩa quân. Nghĩa quân do các ông chỉ huy hoạt động mạnh ở các huyện Đông Triều, Chí Linh, Kinh Môn, Thanh Hà, Cẩm Giàng, Mỹ Hào và vùng chung quanh lỉnh lị Hải Dương.

   Chiều 12/11/1883 nghĩa quân do Nguyễn Thiện Thuật, Hai Kế, Đề Vinh chỉ huy xuất phát từ Đông Triều về hạ thành Hải Dương. Đánh nhau đến gần sáng ngày 13 tháng 11, nghĩa quân không hạ được thành phải rút. Ngô Quang Huy trở về An Lạc cùng Nguyễn Cao, Hoàng Văn Hoè, Tạ Hiện thành lập Tam tỉnh nghĩa quân còn gọi là “Đại nghĩa đoàn". Nghĩa quân có 5.000 người, xây dựng căn cứ ở núi Nham Biền (Yên Dũng, Bắc Giang) và các căn cứ ở Trúc Ty, Vân Cốc, Trung Đồng. Sau vài tháng bị quân Pháp liên tục tấn công, lực lượng nghĩa quân suy yếu, thiếu súng đạn, bị quân Pháp truy kích nghĩa quân tan rã, Ngô Quang Huy trở về An Lạc, tổng Thái Lạc, huyện Văn Giang chờ thời, bí mật liên kết với các nghĩa sĩ.

   Tháng 8/1885, Nguyễn Thiện Thuật được vua Hàm Nghi phong là Lễ bộ thượng thư, sung Bắc Kỳ Hiệp thống quân vụ đại thần, tước Thuần trung hầu. Nguyễn Thiện Thuật trở về vùng giáp ranh ba tỉnh Hải Dương - Hưng Yên - Bắc Ninh cho người mời cử nhân Ngô Quang Huy và Nguyễn Hữu Đức tới bàn bạc. Nhận được tin, Ngô Quang Huy lập tức đến gặp Nguyễn Thiện Thuật. Ba ông đã nhất trí phải khôi phục phong trào Bãi Sậy và mở rộng phạm vi hoạt động của nghĩa quân sang Bắc Ninh, Hải Dương và các tỉnh khác. Nguyễn Thiện Thuật giao cho Ngô Quang Huy phụ trách miền Nam Bắc Ninh, Bắc Hưng Yên và Bắc Hải Dương.

   Sau đó không lâu, Ngô Quang Huy nhận được sắc phong của vua Hàm Nghi phong cho ông là "Hồng lô Tự khanh, Tán lý quân vụ”. Nghĩa quân và nhân dân coi Ngô Quang Huy là nhân vật số hai của cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy, nên thường gọi ông là “ông Tán Bắc", "ông Tán Thái Lạc”...

   Ngô Quang Huy cùng em trai là Ngô Quang Chước, Tuần Văn người xã Xuân Quan, huyện Văn Giang đã dấy binh từ năm 1883 theo Đổng Quế, Đốc Sung, trợ thủ của Tuần Vân, Đội Văn (Vương Văn Vang) vốn là tướng giỏi của Tam tỉnh nghĩa quân năm 1884, cả hai ông đều được Bắc Kỳ hiệp thống quân vụ đại thần Nguyễn Thiện Thuật phong là Đề đốc, phát triển lực lượng ra vùng chung quanh.

   Ngô Quang Huy thành lập một đội quân tuyên truyền tố cáo tội ác của giặc Pháp và quan lại Nam triều, họp các kỳ hào và dân chúng, tuyên đọc Chiếu Cần vương của vua Hàm Nghi. Ông còn cho đắp đê, trồng tre dọc sông Nghĩa Trụ kéo dài từ xã Ngọc Kinh, qua Tuấn Dị, Vĩnh Bảo đến các xã Đông Khúc, Vĩnh Khúc, Tráng Vũ, Kênh Cầu dài gần 20 cây số, một con đê khác từ Nghĩa Trai đến Cầu Ghênh (Nhạc Miếu) dài 4 cây số làm tuyến phòng thủ. Ông cho đắp nhiều gò đống, đắp nhiều bờ ruộng cao, khơi sâu kênh mương ở dọc đường 5 để quân sĩ ẩn núp phục kích quân Pháp.

   Nghĩa quân do Ngô Quang Huy chỉ huy đánh nhiều trận như trận tấn công đồn Bần Yên Nhân, nhiều trận phục kích quân Pháp ở đồn Ghênh, đồn Bần Yên Nhân, đồn Đống Mối (Nghĩa Lộ tổng Đại Từ, Văn Lâm). Các trận càn của quân Pháp và quân Hoàng Cao Khải vào An Lạc, Đình Dù, Đại Từ, Nghĩa Trai, Đông Khúc, Khúc Lộng... đều bị nghĩa quân đánh bật ra bảo vệ được căn cứ.

   Tán lý quân vụ Ngô Quang Huy còn được vua Hàm Nghi và Thượng thư bộ Lễ Nguyễn Quang Bích giao cho việc tổ chức lực lượng kháng chiến ở vùng đồng bằng sông Hồng. Ông thường thảo thư từ liên lạc với các quan lại trong phe chủ chiến và sớ gửi vua Hàm Nghi.

   Mặc dù đã nhiều cố gắng, song bị quân Pháp liên tục bao vây, truy kích Ngô Quang Huy đành phải giải tán nghĩa quân rồi cùng em là Ngô Quang Chước cùng mươi nghĩa quân thân tín chạy lên Phủ Lạng Thương (tỉnh Bắc Giang ngày nay), quân Pháp vẫn đuổi sát phía sau, để giữ trọn danh tiết không sa vào tay giặc, ngày 1 tháng 4 năm Kỷ Sửu (khoảng 1/5/1889), Ngô Quang Huy đã tự tử. Ngô Quang Chước cùng mấy nghĩa quân chôn cất, rồi san bằng mặt ruộng cho mất dấu tích. Mươi năm sau, ông Chước quay lại tìm thì không thấy.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4839



« Trả lời #108 vào lúc: 28 Tháng Mười Một, 2011, 10:23:57 am »

NGÔ QUANG CHƯỚC

   Ngô Quang Chước là em trai Tán tương quân vụ Ngô Quang Huy, quê ở xã An Lạc, tổng Thái Lạc, huyện Văn Giang, tỉnh Bắc Ninh, nay là xã Trưng Trắc, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên. Ông đỗ cử nhân khoa Đinh Mão, Tự Đức thứ 20 (1867) tại trường thi Hà Nội. Ông được bổ làm Huấn đạo huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Đông.

   Năm 1883 khi triều đình Huế ký Hoà ước với quân Pháp, tổng đốc Hải - Yên Nguyễn Thiện Thuật bỏ quan về Đông Triều mộ quân đánh Pháp. Noi gương anh trai, ông cũng bỏ quan, cùng anh chiêu mộ được hơn 100 quân về Đông Triều gia nhập đội quân đánh Pháp của Nguyễn Thiện Thuật. Ngô Quang Chước cùng với anh trai và Nguyễn Cao, Hoàng Văn Hoè... thành lập “Tam tỉnh nghĩa quân". Đội quân này có tới trên 5000 người, có nhiều tướng giỏi như Đội Văn, Lãnh Mỹ đã đánh thắng quân Pháp nhiều trận ở các huyện Lang Tài, Quế Võ, Tiên Du, Yên Phong (Bắc Ninh), Phượng Nhỡn (Bắc Giang). Nhưng sau quân Pháp tập trung quân đánh, nghĩa quân tan rã. Ông cùng với anh trở về quê chờ cơ hội đánh Pháp.

   Tháng 7 năm 1885, Nguyễn Thiện Thuật ở Long Châu (Trung Quốc) trở về lãnh đạo phong trào khởi nghĩa Bãi Sậy. Nguyễn Thiện Thuật mời Ngô Quang Huy, Nguyễn Hữu Đức bàn việc phát triển cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy trở thành một phong trào rộng lớn. Nguyễn Thiện Thuật giao cho Ngô Quang Huy phụ trách phong trào đánh Pháp ở Nam Bắc Ninh, Bắc Hải Dương, Bắc Hưng Yên. Ngô Quang Chước đã cùng các ông Lãnh Dâu, Lãnh Dong ở xã An Lộc, Điển Lộc ở xã Nghĩa Trai, Hiệp Hanh ở xã Đại Từ, Lãnh Mỹ ở xã Xuân Cầu, Tổng Nghĩa ở Ngọc Quỳnh đắp đê, trồng tre gai dọc sông Nghĩa Trụ từ Ngọc Kinh qua xã Tuấn Dỵ, Vĩnh Bảo, đến các xã Đông Khúc, Vĩnh Khúc, Tráng Vũ, Kênh Cầu dài gần 20 cây số làm phòng tuyến chống Pháp, giao cho các tướng lập đồn binh phòng thủ. Ông còn cho đắp nhiều gò, đống, đào nhiều mương máng ở hai bên đường số 5 từ Như Quỳnh đến Bần Yên Nhân làm trận địa phục kích. Ngô Quang Chước cùng các tướng xây dựng các làng chiến đấu như Đại Từ (Văn Lâm), Đông Khúc, Khúc Lộng, Xuân Quan (Văn Giang). Ông cũng tham gia nhiều trận đánh ở các đồn Bần Yên Nhân, Đống Mối, Cầu Ghênh, Phú Thị...

   Ngày 12 tháng 11 năm 1888, ông cùng anh trai là Ngô Quang Huy đưa hơn 200 quân về tham gia trận phục kích lớn ở cánh đồng Liêu Trung. Trận này nghĩa quân đại thắng.

   Tháng 3 năm 1889, quân Pháp do Giám binh Blan chard, Kinh lược sứ Bắc Kỳ Hoàng Cao Khải đưa đoàn bình định, quân các tỉnh Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên có pháo binh yểm trợ bao vây tấn công ráo riết vào các căn cứ của hai ông ở Nam Bắc Ninh. Dưới sự chỉ huy của anh trai, ông cùng các tướng như Đội Văn, Đốc Sung, Lãnh Mỹ chiến đấu quyết liệt. Song quân Pháp được tăng viện, kéo thêm đại bác, bắn phá các làng chiến đấu, giết hại nhiều nghĩa quân và nhân dân, đốt trụi hàng chục làng. Cùng đường Ngô Quang Chước cùng mười nghĩa quân thân tín hộ vệ anh trai chạy lên Phủ Lạng Thương. Bị vây hãm, biết không còn đường thoát, Ngô Quang Huy tự tử để bảo toàn danh tiết. Hôm đó là ngày mùng 1 tháng 4 năm Kỷ Sửu (khoảng ngày 1 tháng 5 năm 1889). Ngô Quang Chước cùng nghĩa quân chôn cất anh, san bằng, đánh dấu rồi cùng mấy nghĩa quân lên mạn ngược ẩn náu. Không bắt được Ngô Quang Huy, Ngô Quang Chước, quân Pháp kéo quân về tàn phá làng An Lạc.

Mãi đến năm 1905, Ngô Quang Chước và một số con cháu mới trở về An Lạc, xây dựng lại nhà cửa trên đống tro tàn, gạch vụn. Ngô Quang Chước mở trường dạy học, học trò đến học rất đông, nhiều người đỗ đạt cao. Khi Ngô Quang Chước mất, con cháu và môn sinh quàn để tế lễ rồi mới đem chôn. Ngô Quang Chước cùng anh trai được thờ ở nhà thờ họ Ngô Quang ở làng An Lạc, nhà thờ chữa lại năm 1934 đến nay vẫn còn.





LÊ VĂN HANH

   Lê Văn Hanh quê ở xã Đại Từ, tổng Đại Từ huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh nay là thôn Đại Từ, xã Đại Đồng, huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên. Ông tham gia khởi nghĩa, được Bắc Kỳ Hiệp thống quân vụ đại thần Nguyễn Thiện Thuật phong là Hiệp quản nên gọi là Hiệp Hanh. Ông là người chỉ huy làng chiến đấu Đại Từ, nhưng nghĩa quân ở Đại Từ mạnh nên Ngô Quang Huy và Nguyễn Thiện Kế thường điều động quân của ông đi đánh quân Pháp ở nhiều nơi trong tỉnh Bắc Ninh và tỉnh Hưng Yên.

   Hiệp Hanh cùng Tuần Tịnh quê ở xã Đông Mai cũng thuộc tổng Đại Từ chỉ huy nghĩa quân làng Đông Mai và mấy làng lân cận. Hai người thân thiết với nhau đã cùng nhau chiến đấu thắng nhiều trận lớn ở Thuận Thành, Văn Giang, Cầu Đuống, Từ Sơn. Sau Tuần Tịnh liên lạc với Pháp làm phản, có người mật báo cho Ngô Quang Huy biết. Ngô Quang Huy sai Hiệp Hanh bắt Tuần Tịnh về hỏi tội đầu hàng giặc, phản lại nghĩa quân. Mặc dù là bạn, nhưng việc quân là quan trọng, nên ông vẫn chấp hành. Tuần Tịnh biết việc mình định ra hàng Pháp đã bị bại lộ song ông là người nghĩa khí, dám chịu trách nhiệm trước việc mình làm nên hẹn với Hiệp Hanh: "Ông chờ tôi ở đầu làng, đúng giờ Ngọ tế thành hoàng xong, tôi sẽ theo ông về đầu thú”. Hiệp Hanh tin lời Tuần Tịnh nên ra đầu làng chờ. Đúng giờ Ngọ, tế Thành hoàng xong, cơm no, rượu say, Tuần Tịnh đi ra đầu làng nơi Hiệp Hanh đang chờ đợi. Khi đó con trai Tuần Tịnh là Lê Văn Vắn mới 16 tuổi nhưng nhanh nhẹn biết võ nghệ, đã từng theo cha ra trận can ngăn cha không nên ra nộp mình cho Hiệp Hanh, rút gươm ra đòi giết Hiệp Hanh. Tuần Tịnh là người trọng nghĩa khí nên trừng mắt nhìn mắng con: “Đây là chuyện người lớn, không phải chuyện trẻ con”, rồi thanh thản đi ra đầu làng. Tới nơi không chờ Hiệp Hanh nhắc, Tuần Tịnh tự mình chui vào cũi. Hôm đó Tuần Tịnh uống rất nhiều rượu ở đình, trời lại nắng gắt nên gần đến đại bản doanh của ông Tán Bắc thì Tuần Tịnh bị cảm, Hiệp Hanh sai quân đưa Tuần Tịnh ra khỏi cũi, mời lương y đến cứu chữa nhưng không kịp, Tuần Tịnh qua đời.

   Từ tháng 3/1889 quân Pháp cùng tổng đốc Hoàng Cao Khải liên tiếp mở các cuộc tấn công lớn vào vùng Nam Bắc Ninh, Bắc Hưng Yên và Bắc Hải Dương. Do các hoạt động quân sự ráo riết đó của quân Pháp cánh quân do Ngô Quang Huy chỉ huy bị tan rã. Lãnh Vắn thấy thời cơ trả thù đã đến, liền "thương thuyết với Bố chính Bắc Ninh đóng ở đồn Đống Mối và gửi dấu ấn đến làm chứng tấm lòng thành thật ra hàng”.

   Tháng 5/1889, Lãnh Vắn khi đó mới 21 tuổi, hắn cho tay chân đem cáng, tàn lọng về xã Đại Từ đón bố của Hiệp Hanh là ông Phó tổng đến khánh thành chợ Dọi. Đến chợ hắn vung dao chặt đầu ông Phó tổng, treo đầu ở gốc cây đa Dọi, còn xác thì cho người nhà đi theo đem về.

   Hiệp Hanh khi đó đang chiến đấu ở huyện Ân Thi được tin báo liền cấp tốc về. Khi Hiệp Hanh về đến nơi thì Lãnh Vắn đã đầu hàng Pháp. Pháp cho lính đến đóng ở Cầu Bà Sinh, ông không lấy được đầu bố mình. Hiệp Hanh tức giận đem quân đến đốt phá làng Đông Mai. Được tin, Lãnh Vắn lúc này được Pháp tin cậy cho làm đồn trưởng đồn Đống Mối đưa quân đến đánh phá làng Đại Từ. Nhưng làng có luỹ tre, luỹ đất, hào sâu bao bọc, nghĩa quân và dân kiên quyết chiến đấu bảo vệ làng, Lãnh Vắn được công sứ Bắc Ninh tăng viện cũng không vào được làng Đại Từ, đành phải rút.

   Ông Hiệp Hanh không lấy được đầu bố, không giết được Lãnh Vắn, uất quá hóa điên, nhịn ăn mà chết.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4839



« Trả lời #109 vào lúc: 28 Tháng Mười Một, 2011, 10:26:09 am »

PHẠM VĂN ĐỨC

   Tiền quân Phạm Văn Đức sinh khoảng năm Bính Ngọ, Thiệu Trị thứ 6 (1846), quê ởỞ làng Thượng Cốc, tổng Hội Xuyên, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương. Do cuộc sống ở Thượng Cốc gặp khó khăn ông phải lưu lạc ra đảo Cát Bà sống bằng nghề chài lưới. Vùng hải đảo thường có nhiều hải tặc quấy nhiễu, ông tập hợp những người biết võ nghệ có máu giang hồ thành một đội vũ trang chống bọn giặc Tàu Ô, cướp biển, hải phỉ. Năm 1873  khi quân Pháp đổ bộ lên đảo Cát Bà, ông hô hào dân đảo đánh trả chúng quyết liệt.
 
   Ngày 6/6/1874, vua Tự Đức sai Nguyễn Văn Tường ký kết quy ước với Phi lát, trưởng phái đoàn Pháp với nhiều điều khoản có lợi cho Pháp, Pháp rút quân khỏi Hà Nội và một số tỉnh đã chiếm đóng ở Bắc Kỳ, chỉ để lại một số quân đóng ở Hà Nội và Ninh Hải (Hải Phòng). Phạm Văn Đức giải tán nghĩa quân, ông trở về quê ở làng Thượng Cốc, huyện Gia Lộc sinh sống. Ngày 25/4/1882, quân Pháp hạ thành Hà Nội lần thứ hai. Ngày 12/3/1883 chúng đánh chiếm khu mỏ Hòn Gai, ngày 27/4/1883 chúng đánh chiếm tỉnh thành Nam Định, tháng 8/1883 quân Pháp hạ tỉnh thành Hải Dương.

Căm thù giặc Pháp, Phạm Văn Đức dựng cờ khởi nghĩa, chiêu mộ quân đánh Pháp, xây dựng căn cứ ngay tại làng Thượng Cốc. Lực lượng nghĩa quân của ông rất đông, được trang bị súng bắn nhanh, được huấn luyện thành thạo các thao tác chiến đấu. Tháng 9 năm 1883, triều đình Huế ra lệnh triệt binh, Tạ Hiện trả chức Đề đốc Nam Định lui về phủ Kiến Xương chiêu mộ quân đánh Pháp. Tạ Hiện thành lập năm dinh là Trung quân, Tiền quân, Hậu quân, Tả quân, Hữu quân. Phạm Văn Đức chỉ huy Tiền quân, nên gọi là Tiền Đức. Khoảng giữa năm 1884, quân Pháp do trung tá Sécvie (Serviere) chỉ huy chia quân làm nhiều hướng tiến đánh căn cứ Thượng Cốc, nhưng Tiền Đức và các tướng đã kịp thời di chuyển quân từ trước chỉ để lại một lực lượng nhỏ cản địch. Tiền Đức chuyển hướng hoạt động về vùng cửa sông ven biển và đảo Cát Bà. Với năng lực và uy tín của mình, ông đã thống nhất các lực lượng vũ trang ở các tỉnh Hưng Yên, Hải Dương (bao gồm cả Hải Phòng), Bắc Ninh (gồm cả Bắc Giang) Quảng Yên, Hà Nội (gồm các huyện Thanh Trì, Thường Tín, Phú Xuyên của Hà Đông và tỉnh Hà Nam), Thái Bình (khi đó thuộc Hưng Yên và Nam Định) dưới ngọn cờ Cần vương. Tiền Đức cũng gia nhập cuộc khởi nghĩa này, được thủ lĩnh Nguyễn Thiện Thuật dâng sớ lên vua Hàm Nghi phong ông chức "Tiền quân đô thống". Nguyễn Thiện Thuật giao cho Tiền Đức cùng Lãnh Hy, Lãnh Pha, Đề Hồng, Lãnh Hai... hoạt động ở vùng cửa các sông Văn Úc, Thái Bình,vùng đảo Cát Bà, đảo Cái Bàn...

Song từ cuối năm 1891 đến năm 1892, cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy chịu nhiều tổn thất nặng nề, nhiều tướng lĩnh hy sinh. Tháng 4 năm 1892, sau trận thất bại ở Ngô Phần, Bích Khê, huyện Lang Tài, tỉnh Bắc Ninh, cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy tan rã. Song Tiền Đức cùng một số tướng lĩnh vẫn duy trì được cuộc kháng chiến ở vùng biển và các đảo trên vịnh Bắc Bộ. Đến khoảng giữa năm 1893, quân Pháp tập trung hải quân bao vây đánh phá ác liệt các đảo Cát Bà, Cái Bầu nghĩa quân bị thiệt hại nặng nề, Tiền quân Đô thống Phạm Văn Đức liền sang Trung Quốc. Ông đến yết kiến chủ tướng Nguyễn Thiện Thuật đang ở nhà Lưu Vĩnh Phúc tại Sa Hà. Tiền Đức có mối quan hệ mật thiết với giới quan lại có thế lực ở Quảng Đông, Quảng Tây như Thống lĩnh Trần Thế Hoa. Nguyễn Thiện Thuật thường phái ông đi hộ tống các yếu nhân của Duy tân hội và phong trào Đông du như Phan Bội Châu. Ghi nhớ công lao của Tiền Đức nhân dân ấp Tiền Đức ở Mạo Khê, Đông Triều, nhân dân đảo Cát Bà lập đền thờ ông. Tại thành phố Hải Phòng có một đường phố số 24b ở quận Hồng Bàng được mang tên là phố Tiền Đức từ tháng 11/1996.





CẢ SEN

   Cả Sen tên thật là Vũ Văn Lộc, quê ở xã Nghĩa Trang, tổng Sài Trang, huyện Đường Hào, tỉnh Hải Dương. Ngay sau khi thành Hưng Yên bị mất, Đổóng quân vụ Đinh Gia Quế, người xã Thọ Bình, tổng Bình Dân, huyện Đông Yên, phủ Khoái Châu kêu gọi nhân dân khởi nghĩa chống Pháp. Ông nói với thân phụ: "Thưa cha, cha dạy con là làm trai phải trung với vua, hiếu với dân. Nay quân Pha lang đã cướp thành Hà Nội, thành Hải Dương, thành Hưng Yên. Chúng thẳng tay giết người, đốt nhà tàn phá biết bao làng xóm. Ông Đổng Quế ở phủ Khoái Châu đã nổi dậy kêu gọi mọi người đánh Pháp. Cha hãy bằng lòng cho con và em Vũ Văn Lương vào Bãi Sậy gia nhập nghĩa quân đánh Pháp”.

   Ngay sau khi gia nhập nghĩa quân, để tránh việc người quen nhận mặt, quan phủ, quan huyện khủng bố gia đình, đốt phá làng xóm, Đốc Sung đã chuyển hai ông vào đội quân cơ động của mình mà địa bàn hoạt động chủ yếu là ở Nam Bắc Ninh.

   Cả Sen và Vũ Văn Lương đã tham gia vào nhiều trận đánh như trận Đốc Sung chặn đánh quân Pháp ở chợ Bốn, đê Cự Khối, nay thuộc huyện Gia Lâm. Năm 1884, khi lữ đoàn Negrier tấn công cứ điểm Bãi Sậy, Đề đốc Nguyễn Văn Sung đã chỉ huy quân đánh tạt sườn chúng, có trận ông đánh vào phía sau chúng, đốt phá kho lương khiến chúng hoảng loạn. Trong trận này Cả sen lập công lớn, được Đề đốc Nguyễn Văn Sung bẩm báo với Đổng quân vụ Đinh Gia Quế phong ông chức Suất đội, nghĩa quân gọi là Đội Sen.

   Tháng 3/1888, Cả Sen chỉ huy 30 nghĩa quân tham gia vào đạo quân lớn tới 500 người do các ông Đề đốc Nguyễn Văn Sung, Đề đốc Mỹ, Quản Dây chỉ huy hoạt động ở vùng sông Cà Lồ khi đó thuộc Bắc Ninh, giáp Thái Nguyên, nay thuộc tỉnh Vĩnh Phúc. Quân Pháp và quân của Tiễu phủ sứ Hoàng Cao Khải phải vất vả lắm mới đẩy lùi được cuộc tấn công này.

   Năm 1888, hai ông Cả Sen, Vũ Văn Lương tham gia trận phục kích lớn ở Liêu Trung. Trận này do đích thân Bắc Kỳ Hiệp thống quân vụ Đại thần Nguyễn Thiện Thuật chỉ huy giết chết 31 lính Pháp, trong đó có tên Giám binh Louis Ney.

   Tháng 3 năm 1889, Nguyễn Thiện Thuật giao cho Đốc Sung điều quân trở lại Nam Bắc Ninh chi viện cho cánh quân của Tán lý Ngô Quang Huy đang bị quân Pháp bao vây ở Từ Sơn, Yên Phong. Cả Sen, Vũ Văn Lộc có mặt trong đạo quân này. Các ông đã kịch chiến với quân Pháp ở Liễu Khê, Liễu Ngạn, Thuận Thành, Bắc Ninh. Vũ Văn Lương và hơn 10 nghĩa quân hy sinh trong trận này. Khi trận chiến kết thúc, giặc rút, Cả Sen quay lại tìm thi thể của em để chôn cất nhưng nhân dân đã chôn chung một hố 11 người. Ông đem hương đi nhưng không dám thắp sợ bọn mật vụ phát hiện ra đây là mộ các nghĩa quân.

   Đội quân của Đốc Sung đi giải vây lại bị quân Pháp bao vây chia cắt nên không chi viện được cho Ngô Quang Huy. ngày 1 tháng 4 năm Kỷ Sửu (khoảng 1/5/1889), Ngô Quang Huy cùng đường phải tự tử. Cả Sen tiếp tục chiến đấu cạnh Đốc Sung. Sau đó ông hy sinh trong trận Đồng Ngư (Bắc Ninh) ngày 21  tháng 2 năm 1890. (Trận này báo Tin tức Hải Phòng số 35 ngày thứ năm ngày 27/2/1890 viết quan Pháp bị chết 1 vệ binh chính, 1 vệ binh bị thương ở vai. "bọn cướp"(chỉ nghĩa quân) bị chết 15 người, bỏ lại 1 súng lục, 1 súng tay).
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM