Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 08 Tháng Tư, 2020, 10:22:17 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8  (Đọc 90397 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9404


Lính của PTL


« Trả lời #80 vào lúc: 11 Tháng Ba, 2011, 08:09:21 AM »

Chiều ngày 15-3, Sư đoàn 10 dùng pháo bắn phá cụm quân địch ở đông điểm cao 581. Sáng hôm sau, ngày 16-3, Trung đoàn 24 được tăng cường Tiểu đoàn 1 - Trung đoàn 66 tiến công vào Nông Trại, tiêu diệt gần hết tàn quân của Trung đoàn 45 quân đội Sài Gòn dồn về đây. Kết thúc trận đánh, ta diệt hàng trăm tên và bắt sống 1.669 tên (trong đó có tên chỉ huy Trung đoàn 45), thu 1.806 súng các loại. Tàn quân địch chạy về Phước An, Chư Cúc. Ngăn chặn quân ta truy kích, máy bay địch đánh phá ác liệt trục đường 21.

Ngày 18-3, Trung đoàn 66 phối hợp với Trung đoàn 25 tiến công Chư Cúc, nơi đặt Sở chỉ huy nhẹ Sư đoàn 23. mà lúc bấy giờ, trở thành chỗ tập hợp của tàn quân Trung đoàn 45 và một số đơn vị bảo an. Tuy tương đối đông nhưng quân địch đang ở trong tình trạng hoang mang, dao động nên lực lượng này nhanh chóng bị đánh tan. Ta loại khỏi vòng chiến đấu hơn 500 tên. Viên tướng Lê Trung Tường - Tư lệnh Sư đoàn 23 và một số sĩ quan tham mưu được trực thăng cứu thoát.

Phát huy thắng lợi, Trung đoàn 149 đánh quét rộng ra các ấp ngoại vi Chi Lăng, Trung Hòa, Kim Châu Phát; Trung đoàn 174 diệt các đồn bảo an dân vệ dọc đường 14 từ Buôn Ma Thuột đi 771 và đường 21B từ Buôn Ma Thuột đi Lạc Thiện… Nhân dân Phước An kịp thời nổi dậy phá 35 ấp chiến lược và 11 dinh điền, xóa bỏ ngụy quyền, thành lập chính quyền nhân dân.

Như vây, trong 5 ngày (từ ngày 14 đến ngày 18-3-1975), bằng 4 trận tiến công trong hành tiến trên chặng đường dài khoảng 50 km, Sư đoàn 10 (thiếu) và các lực lượng phối thuộc đã tiêu diệt Sư đoàn 23 (thiếu) và Liên đoàn biệt động số 21, đập tan ý định phản kích của lực lượng dự bị Quân đoàn 2, góp phần quan trọng thúc đẩy chiến dịch phát triển.

Trên hướng Sư đoàn 968, ngày 16-3, Tiểu đoàn 1 - Trung đoàn 19 triển khai phía đông Thanh Bình 1, hình thành thế bao vây phía tây Sở chỉ huy Liên đoàn số 26; Tiểu đoàn 2 triển khai phía nam Thanh Bình 2, sẵn sàng đánh quân tăng viện. Trong lúc đó, Tiểu đoàn 3 được lệnh tiến công phía bắc Sở chỉ huy Liên đoàn 25, các trận địa pháo 122 mm, 85 mm và cối 120 mm bắn phá mãnh liệt quận lỵ Thanh An.

5 giờ sáng ngày 17-3-1975, các mũi tiến công của Trung đoàn 19 đồng loạt nổ súng đánh vào quận lỵ Thanh An, nhanh chóng tiêu diệt quân địch đồn trú ở đây, bắt hơn 100 tên. Số còn lại bỏ chạy về Bàu Cạn. Trung đoàn 19 phát triển tiến công giải phóng Bàu Cạn, Hòn Rồng. Cùng ngày, Tiểu đoàn 5 - trung đoàn 29 cắt đường 14 (đoạn từ Tân Phú đi Chư Thoi), chặn đánh Tiểu đoàn 153 bảo an, diệt 52 tên, bắt 14 tên, thu 23 súng các loại. 11 giờ 30 phút ngày 17-3, Trung đoàn 95A chủ lực Quân khu 5 và Trung đoàn 19 tiến vào giải phóng Plâyku, Trung đoàn 29 giải phóng Kon Tum. Ngày 19-3, Bộ Tư lệnh Mặt trận lệnh cho Sư đoàn 968 đưa Trung đoàn 29 về làm nhiệm vụ tiếp quản Buôn Ma Thuột

Buôn Ma Thuột bị đánh chiếm. Đường 19 và đường 21 bị cắt. Plâyku, Kon Tum bị bao vây. Sư đoàn 23 đi tái chiếm bị quân ta tấn công. Trước tình thế này, ngày 13-3-1975, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu họp khẩn cấp Hội đồng an ninh quốc gia quyết định rút bỏ một số vùng không quan trọng, hoặc không thể giữ được để đưa quân về giữ những vùng có tính chất sống còn. Ở Quân khu 1, địch dự kiến rút khỏi Quảng Trị, đưa Sư đoàn dù về bảo vệ Sài Gòn. Ở Quân khu 2, chúng rút bỏ Tây Nguyên về giữ duyên hải miền Trung, chủ yếu là Nha Trang, Cam Ranh. Ngày 14-3, Nguyễn Văn Thiệu ra Cam Ranh triệu tập cuộc họp khẩn cấp với Phạm Văn Phú. Cùng đi với Thiệu có Cao Văn Viên, Trần Thiện Khiêm, Đặng Văn Quang. Nhận thấy không còn khả năng tái chiếm Buôn Ma Thuột, và trong điều kiện đang bị đối phương uy hiếp dữ dội ở Plâyku, Kon Tum, các đường chiến lược lên Tây Nguyên bị cắt, Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút khỏi Kon Tum và Plâyku về giữ đồng bằng. Toàn bộ lực lượng rút lui sẽ theo đương số 7. Sở dĩ quyết định chọn đường 7 vì địch cho rằng tuy mặt đường xấu vì đã lâu không dùng, tạo được yếu tố bất ngờ, đảm bảo cho cuộc rút lui chiến lược an toàn(1).

Trở về Plâyku, ngay đêm 14-3, Phạm Văn Phú đã triệu tập chuộc họp khẩn cấp truyền đạt lại ý kiến của Nguyễn Văn Thiệu và giao cho Trần Văn Cẩm - phụ tá của Tư lệnh quân đoàn, làm kế hoạch rút lui với yêu cầu phải tuyệt đối bảo đảm bí mật, đến câp tỉnh trưởng cũng không được cho biết. Triển khai kế hoạch triệt thoái các lực lượng của Quân đoàn 2 ra khỏi Tây nguyên, ngày 15-3, địch sử dụng liên đoàn biệt động số 6 và 23 cùng lữ đoàn kỵ binh số 2 làm nhiệm vụ bảo vệ đường, liên đoàn công binh đi trước để chữa đường, bắc cầu. Đêm ngày 14 rạng ngày 15-3, Bộ Chỉ huy tiền phương Quân đoàn 2 cùng Phạm Văn Phú và Chuẩn tướng Lê Trung Tường - Tư lệnh Sư đoàn 23 về Nha Trang bằng máy bay.

Về phia ta, đồng thời với việc chỉ đạo lực lượng ở hướng nam đánh tan đợt phản kích chiếm lại Buôn Ma Thuột, các cấp chỉ huy chiến dịch, chiến lược cũng tập trung chỉ đạo lực lượng ở hướng bắc bao gồm Sư đoàn 320A, Sư đoàn 968, Sư đoàn 3 vừa chuẩn bị tiến công các mục tiêu được phân công, vừa theo dõi chặt chẽ mọi động thái mới của địch. Trước những diễn biến hết sức thuận lợi và mau lẹ sau trận đánh thị xã Buôn Ma Thuột, ngày 13-3, Quân ủy Trung ương điện cho Bộ Tư lệnh chiến dịch trong đó dự kiến: “Nếu địch bị tiêu diệt một bộ phận sinh lực lớn, thị xã Buôn Ma Thuột và nhiều quận lỵ khác bị mất, đường số 19 bị cắt thì lực lượng còn lại ở Tây Nguyên sẽ cụm lại ở Plâyku và cũng có thể chúng buộc phải rút lui chiến lược bỏ Tây Nguyên”. Quân ủy Trung ương chỉ thị: “Cần hình thành ngay việc bao vây Plâyku, triệt cả đường bộ lẫn đường không của địch, chuẩn bị tốt cho việc tiêu diệt địch trong cả hai tình huống”. Như vậy, ta đã đi trước một bước trong dự kiến địch sẽ rút lui chiến lược khỏi Tây Nguyên. Đây là một trong những yếu tố vô cùng quan trọng tạo điều kiện để các đơn vị ta chủ động và kịp thời đánh quân địch rút chạy.


(1) Cao Văn Viên trong cuốn Những ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng hòa, VietNambibliography, 2003, cho biết, liên tỉnh lộ 7B lúc bấy giờ “là một con đường phụ, tách khỏi quốc lộ 14 khoảng 32 km ở nam Plâyku, chạy theo hướng đông nam qua Hậu Bổn (Cheo Reo) về Tuy Hòa ở miền duyên hải. Liên tỉnh lộ 7B là một đường nhỏ, lồi lõm, bị bỏ hoang từ lâu. Trừ một đoạn ngắn bắt đầu từ nhánh ở quốc lộ 14 về Hậu Bổn có thể sử dụng được, tất cả các đoạn đường còn lại không ai biết tình trạng như thế nào. Nhưng có hai chi tiết chúng ta biết chắc về con đường 7B là, (1) cầu bắc qua sông Ba ở phía nam của Củng Sơn bị phá hủy không còn sử dụng đợc, (2) đoạn đường chót đi vào Tuy Hòa rất nguy hiểm vì quân đội Đại Hàn, trong thời gian trấn giữ, đã gài mìn phong tỏa”.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9404


Lính của PTL


« Trả lời #81 vào lúc: 11 Tháng Ba, 2011, 08:10:12 AM »

Chiều ngày 15-3-1975, giữa lúc đang tiếp tục chỉ đạo các đơn vị đánh Trung đoàn 45 và Trung đoàn 53 quân đội Sài Gòn thì Bộ Tư lệnh chiến dịch nhận được điện của Đại tướng Văn Tiến Dũng thông báo về việc địch có khả năng rút chạy khỏi Kon Tum và Plâyku.

Cùng với việc tăng cường trinh sát nắm địch trên các hướng hướng, Bộ Tư lệnh chiến dịch ra lệnh triển khai kế hoạch truy kích địch rút chạy.

Trước đó, Bộ Tư lệnh chiến dịch đã có phương án giao cho Sư đoàn 320A nhiệm vụ giải phóng Cheo Reo, Phú Bổn. Vì vậy, ngay từ khi triển khai thế trận, sư đoàn đã tổ chức xoi đường, chuẩn bị sẵn đường cơ động để có thể tiếp chận Cheo Reo bất cứ lúc nào. Để đảm bảo giữ vững khu vực bàn đạp cho sư đoàn khi triển khai nhiệm vụ, sư đoàn đã ém sẵn Tiểu đoàn 9 - Trung đoàn 64 ở phía tây cách Cheo Reo 7 km. Ngày 16-3, đội hình chiến đấu của Sư đoàn 320A bố trí như sau:

- Trung đoàn 64 (thiếu Tiểu đoàn 9) được tăng cường Tiểu đoàn 3 (Trung đoàn 48) đang đánh địch ở vùng Đạt Lý, Phước An.

- Trung đoàn 9 đang cơ động đánh địch ở phía Kênh Săn.

- Trung đoàn 48 trừ Tiểu đoàn 3 (tăng cường cho Trung đoàn 64). Tiểu đoàn 2 đang làm đường ở tây Cheo Reo, còn lại đang bố trí ở khu vực Cẩm Ga.

Do tập trung cho nhiệm vụ giải phóng Cheo Reo nênn tình hình trên đường số 7, sư đoàn chưa có điều kiện nắm chắc, nhất là đoạn phía đông từ Cheo Reo qua Phú Túc đến Củng Sơn. Với đội hình chiến đấu đang triển khai từ Chư Phao, đạt Lý đến Cẩm Ga, các đơn vị phân tán như vậy nên trong một thời gian ngắn, sư đoàn khó có thể tập trung lực lượng vào nhiệm vụ truy kích địch trên quãng đường hơn 50 km từ Cẩm Ga đến Cheo Reo.

19 gờ ngày 16-3-1975, Đại tướng Văn Tiến Dũng điện cho Bộ Tư lệnh chiến dịch: “Địch rút chạy trên đường số 7, tổ chức truy kích ngay!”. Địch vỡ quá nhanh, thời cơ lớn xuất hiện, phải kiên quyết chớp thời cơ tiêu diệt sinh lực địch. Với tinh thần khẩn trương nhất, kiên quyết nhất, Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định sử dụng Sư đoàn 320A được tăng cường Trung đoàn 95B, 1 tiểu đoàn xe tăng và một bộ phận pháo binh của Trung đoàn 675 truy kích tiêu diệt địch rút chạy trên đường số 7 đoạn từ Cheo Reo đến Củng Sơn. Bộ Tư lệnh chiến dịch phân công đồng chí Phó Tư lệnh chiến dịch và một bộ phận cơ quan trực tiếp đi cùng với Sư đoàn 320A, đồng thời đề nghị Bộ Tư lệnh Quân khu 5 lệnh cho lực lượng vũ trang Phú Yên kịp thời tổ chức chặn địch ở Củng Sơn.

20 giờ 30 phút ngày 16-3, nhận lệnh tổ chức lực lượng truy kích địch trên đường số 7, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 320 tổ chức lực lượng như sau:

- Tiểu đoàn 9 (Trung đoàn 64) ngay trong đêm phải cơ động lực lượng ra chặn địch ở nam Cheo Reo.

- Tiểu đoàn 48 (thiếu) được tăng cường 1 tiểu đoàn xe tăng cơ động ấp sát chuẩn bị tiến công Cheo Reo.

- Trung đoàn 9 nhanh chóng đánh chiếm vị trí Kênh Săn, rồi phát triển lên quận lỵ Phú Nhơn, khu vực Mỹ Trạch; sau đó, hình thành một mũi theo đường 7 từ hướng tây bắc qua Phú Thiện đánh xuống thị xã Cheo Reo.

- Trung đoàn 95 B ở tây nam Thuần Mẫn làm lực lượng dự bị.

Đẻ đuổi kịp quân địch, Bộ Tư lệnh Sư đoàn ra lệnh huy động toàn bộ các loại xe, kể cả xe con, xe kéo pháo của sư đoàn và Trung đoàn pháo 593 lên đón Trung đoàn 64 đang đánh địch ở hướng Phước An, nhanh chóng cơ động toàn bộ lực lượng này tới nam Cheo Reo.Trong ngày 17-3, toàn trung đoàn phải thiết lập xong tuyết chống chặn địch trên đường 7, khóa chặt quân địch ở thung lũng Cheo Reo.

Ngay sau khi nhận lệnh, Tiểu đoàn 9 tổ chức hành quân thần tốc cắt đường xuyên rừng hướng về nam Cheo Reo. Bộ đội được lệnh bỏ lại mọi thứ cồng kềnh, chỉ mang theo súng đạn để tiện cơ động. Ban chỉ huy tiểu đoàn quyết định cho bộ đội đốt đuốc hành quân ban đêm. Yếu tố bí mật bây giờ không còn quan trọng bằng bảo đảm thời gian, toàn tiểu đoàn lao đi như cơn lốc với quyết tâm: “Đi nhanh nhất, đến đủ nhất, đến nơi chiến đấu được ngay, quyết không để quân địch chạy thoát”.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9404


Lính của PTL


« Trả lời #82 vào lúc: 12 Tháng Ba, 2011, 07:39:43 PM »

3 giờ ngày 17-3, Tiểu đoàn 9 triển khai đội hình chiến đấu sát đường 7 cách phía đông Cheo Reo khoảng 4 km. Ít phút sau, toàn tiểu đoàn nổ súng chặn địch. Nhiều xe tăng, xe thiết giáp địch bị bộ đội ta bắn cháy trên đường. Địch tập trung xe tăng, xe thiết giáp và bộ binh đánh tràn ra hai bên đường hòng mở đường máu tháo chạy. Cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt, nhiều cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 9 trở thành dũng sĩ diệt xe tăng, xe thiết giáp địch.

Vào thời điểm Tiểu đoàn 9 nổ súng chặn địch trên đường 7, địch đã lập tuyến trung chuyển ở Cheo Reo để điều hành đoàn quân rút chạy về Tuy Hòa. Các loại xe địch tập trung trên tuyến đường này rất nhiều, khi bị ta chặn đánh, đường 7 ngay lập tức bị tắc nghẽn, thị xã Cheo Reo nhỏ hẹp lúc này trở thành tụ điểm của hàng vạn dân chúng và binh lính địch. Hơn 2.000 xe bị chặn lại trên đường, tiến không được, lui cũng không xong càng làm cho tình hình địch hoang mang dao động đến cực độ.

Trong khi các trận đánh của Tiểu đoàn 9 trên đường 7 đang diễn ra quyết liệt, các lực lượng còn lại của Trung đoàn 64, Trung đoàn 48 và các lực lượng tăng cường khác tiếp tục cơ động đến Cheo Reo. Các đơn vị của Trung đoàn 64 đến nam Cheo Reo nhanh chóng bước vào chiến đấu cùng Tiểu đoàn 9 tiêu diệt quân địch trên đường 7, khóa chặt đường rút lui của chúng. Các đơn vị của Trung đoàn 48 cơ động đến Cheo Reo cũng nhanh chóng triển khai chuẩn bị tiến công. Trung đoàn 9, sau khi đánh chiếm xong quận Phú Nhơn trên đường số 14, tiếp tục đánh chiếm đèo Ban Blếch; sau đó thừa thắng đánh chiếm quận lỵ Phú Thiện (bắc Cheo Reo), cắt đứt đường số 7, hình thành thế bao vây tiến công từ phía sau đội hình rút chạy của địch. Ngày 17-3, pháo binh ta bắn phá thị xã Cheo Reo càng làm cho quân địch trong thị xã thêm hỗn loạn.

Chiều ngày 18-3, Sư đoàn trưởng Kim Tuấn, Tham mưu trưởng Sư đoàn Ngô Huy Phát cùng chỉ huy Trung đoàn 48 và các cán bộ tham mưu di chuyển tới dãy điểm cao phía tây Cheo Reo. Từ trên đèo cao, ta quan sát được thị xã Cheo reo và nhận thấy: các cụm xe tăng, xe thiết giáp, trận địa pháo binh, các bãi đỗ ôtô xen kẽ nhau. Do mật độ xe, pháo quá dày, chen lấn nhau, địch rất khó cơ động tác chiến khi bị ta tiến công. Để tận dụng thời cơ, Bộ Tư lệnh Sư đoàn quyết định; Trung đoàn 48 sử dụng 2 tiểu đoàn đánh vào khu vực sân bay, 1 tiểu đoàn đánh vào khu vực trại Ngô Quyền, sau đó hợp vây lần lượt đánh chiếm các mục tiêu còn lại trong thị xã. Trung đoàn 64 vừa chốt chặn đánh địch trên đường 7, vừa chuẩn bị sẵn lực lượng đón đánh quân địch từ trong thị xã chạy ra các khu vực xung quanh.

Sau 30 phút bắn phá chuẩn bị của pháo binh, 16 giờ 30 ngày 18-3, Trung đoàn 48 nổ súng tiến công sân bay Cheo Reo. Các ổ đề kháng bảo vệ sân bay của địch nhanh chóng bị quân ta tiêu diệt. Các đơn vị tiếp tục phát triển chiến đấu vào trong thị xã. Khó khăn đối với Tiểu đoàn 2 lúc này là số tù binh địch ra hàng quá nhiều, trời lại sắp tối. Trước tình hình đó, Tiểu đoàn 2 ra lệnh cho đại đội 7 tạm dừng, vừa củng cố đội hình vừa làm công tác thu gom tù binh, giải thích sơ bộ để họ hiểu chính sách khoan hồng của Quân giải phóng, đồng thời cử người canh giữ, sau đó mới tiếp tục phát triển chiến đấu. Càng vào sâu trong thị xã, tình hình càng trở nên phức tạp do quân địch chạy về đây nhiều và lại ở trong tình trạng hỗn loạn. Thị xã mất diện. Trong đêm tối, việc phối hợp hiệp đồng giữa các mũi, các hướng gặp nhiều khó khăn. Trước tình hình đó, Bộ Tư lệnh Sư đoàn ra lệnh cho Trung đoàn 48 tạm dừng để củng cố đội hình. Sáng ngày 19-3, ta tiếp tục truy quét quân địch còn lại và làm chủ hoàn toàn thị xã Cheo Reo.

Trong thời gian này, ở hướng Trung đoàn 64, cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt. Bị đánh mạnh trong thị xã, tàn quân địch tháo chạy về phía đông. Trong đêm 18 và ngày 19-3, các chốt của Trung đoàn 64 liên tục bám đuổi và tiêu diệt nhiều xe tăng, xe thiết giáp, bắt sống hàng ngàn tù binh địch. Cả một đạo quân hàng vạn tên với đầy đủ các sắc lính, được trang bị xe tăng, pháo binh hiện đại của Quân đoàn 2 quân đội Sài Gòn giờ đây đã tan nát trên đường 7; khối chủ lực mạnh của địch ở Tây Nguyên cơ bản bị tiêu diệt, ý định rút quân bảo toàn lực lượng để về giữ các tỉnh đồng bằng ven biển phía Sài Gòn đã hoàn toàn bị đập tan.

Khi Sư đoàn 320A truy kích tiêu diệt địch trên đường số 7, thì ở bắc Tây Nguyên, ngày 18-3, Trung đoàn 29 - Sư đoàn 968 cùng lực lượng vũ trang địa phương giải phóng thị xã Kon Tum. Trung đoàn 95A từ đông đường 19 gấp rút hành quân lên cùng lực lượng vũ trang tỉnh Gia Lai giải phóng Plâyku.

Ngày 19-3, Trung đoàn 19 thuộc Sư đoàn 968 giải phóng Thanh Bình.

Đêm 19-3, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 320A họp nhận định; ta đã cơ bản tiêu diệt quân địch ở Tây Nguyên (trừ Liên đoàn 6 biệt động quân và một bộ phận Thiết đoàn 19 vượt qua trước). Ta loại khỏi chiến đấu hơn 4.000 tên địch, bắt sống 3.000 tên, thu nhiều súng đạn, phá hủy hầu hết trang bị và phương tiện của Quân đoàn 2 quân đội Sài Gòn. Tuy vậy, vẫn còn một bộ phận khá lớn bộ binh cơ giới địch chạy thoát do ta cắt đường muộn. Hành động tiếp theo của sư đoàn và lực lượng thiết giáp tăng cường là nhanh chóng vượt lên tổ chức tiến công chặn địch lại; nếu chúng co cụm chống cự thì bao vây chặt, tích cực tiêu hao địch chờ lực lượng cơ động của sư đoàn đến cùng tiến công tiêu diệt.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9404


Lính của PTL


« Trả lời #83 vào lúc: 12 Tháng Ba, 2011, 07:40:53 PM »

Ngày 20-3, Bộ Chính trị điện cho các chiến trường: địch đã bắt đầu thời kỳ suy sụp và đã bắt đầu thực hiện việc co cụm chiến lược của chúng. Dự kiến địch có thể co cụm ba nơi là Đà Nẵng, Cam Ranh và xung quanh Sài Gòn. Nhưng địch đang hoang mang dao động mạnh, nên phải tận dụng thời cơ rất thuận lợi này, vận dụng sức mạnh tổng hợp của ta, kiên quyết mạnh bạo, liên tục tiến công địch trên cả ba vùng chiến lược, nhằm chia cắt, bao vây tiêu diệt địch, ngăn chặn không cho chúng rút lui về để co cụm.

Thực hiện tư tưởng chỉ đạo của Bộ chính trị, Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên chỉ thị các đơn vị tập trung lực lượng đẩy mạnh tốc độ tiến công.

Ngày 21-3, Trung đoàn 64 giải phóng quận lỵ Phú Túc trong hành tiến. Ngày 22-3, trung đoàn tiến đến sông Ga Pui, tiêu diệt bộ phận địch chốt chặn ở khu vực này. Cũng trong ngày 22 và ngày 23-3-1975, hai tiểu đoàn bộ đội địa phương 96 và 13 của tỉnh Phú Yên đã ra đường số 7 phá cầu Sơn Hòa và tổ chức chốt chặn trên đường 7 đoạn phía đông Củng Sơn, diệt và bắt nhiều tên địch. Ngày 23-3, toàn bộ đội hình Trung đoàn 64 đến Củng Sơn bắt liên lạc với bộ đội địa phương Phú Yên và bộ phận đi trước, hình thành thế bao vây quân địch ở Củng Sơn.

Tại thị trấn Củng Sơn, quân địch ùn lại khoảng hơn 6.000 tên, 40 xe tăng, xe thiết giáp và hàng trăm xe vận tải.

Do cầu Ai Nu đã bị phá, tốc độ hành quân của các đơn vị đi sau và phương tiện vật chất kỹ thuật bị chậm nên Sư đoàn 320A chủ trương tiêu diệt quân địch ở Củng Sơn trong hai tình huống:

- Một là, nếu địch co cụm sẽ sử dụng Trung đoàn 64 kết hợp cùng Tiểu đoàn 96 bộ đội địa phương bao vây, kìm giữ quân địch ở Củng Sơn, sư đoàn sẽ điều thêm Trung đoàn 48 và binh khí kỹ thuật lên để cùng Trung đoàn 64 tiến công tiêu diệt quân địch co cụm.

- Hai là, nếu quá trình bao vây phát hiện địch chuẩn bị tháo chạy, Trung đoàn 64 phải tổ chức tiến công ngay, dù pháo binh và các phương tiện kỹ thuật, vật chất chưa lên kịp.

Được sự giúp đỡ tận tình của bộ đội địa phương và chính quyền cách mạng tỉnh, huyện nên công tác chuẩn bị của Trung đoàn 64 tiến hành rất thuận lợi. Tiểu đoàn 96 địa phương tích cực tham gia chiến đấu và được đặt dưới sự chỉ huy chung của cán bộ chỉ huy trung đoàn và đại diện Tỉnh đội Phú Yên. 10 giờ ngày 24-3, pháo binh vẫn chưa lên được (do cầu Ai Nu bị phá, công binh phải làm đường vòng tránh chưa xong), lực lượng tăng cường cho Trung đoàn 64 vẫn chỉ có 6 xe bọc thép K63 và 2 khẩu cối 120 mm đi cùng. 11 giờ cùng ngày, phát hiện thấy địch có dấu hiệu tháo chạy, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 64 Phạm Quang Bào đề nghị sư đoàn cho đánh theo phương án 2: đánh với lực lượng của bản thân trung đoàn, không có sự chi viện của pháo binh cấp trên.

Tiểu đoàn 96 bộ đội địa phương, lần đầu tiên tham gia chiến đấu trong đội hình lớn của bộ đội chủ lực, đã lập công xư. Ngay từ những phút đầu, tiểu đoàn đã cắt đứt cầu phao, và tiêu diệt một số thiết giáp, xe ô tô chặn đứng đường rút lui duy nhất của địch. Trong tuyệt vọng, một số binh lính, sĩ quan quân đội Sài Gòn liều lĩnh vượt sông Ba nhưng vừa sang đến bờ bên kia đã bị các chiến sĩ bộ đội địa phương bắt làm tù binh.

Ở hướng chủ yếu, được xe bọc thép K63 mở đường, Tiểu đoàn 8 đánh thẳng vào trung tâm quận lỵ, nơi bộ binh địch đang chuẩn bị hành quân. Địch tháo chạy tán loạn. Phía tây bắc quận lỵ, Tiểu đoàn 7 được tăng cường 3 xe bọc thép K63 nhanh chóng đánh chiếm khu hành chính và trại huấn luyện biệt kích, bắn cháy 5 xe tăng, dồn địch đến bờ sông. Một lực lượng bộ binh, xe thọc thép địch co cụm trên điểm cao Hòn Một giáp bờ sông Ba điên cuồng chống trả. Trước tình hình đó, một đại đội bộ đội địa phương Phú Yên bí mật lợi dụng bờ sông đánh lên, phối hợp với Đại đội 5 và Đại đội 7 (Tiểu đoàn 7) trên hướng chính diện. Bị tiến công quyết liệt từ ba hướng, quân địch ở Hòn Một phải đầu hàng. Trong lúc đó, cụm quân địch ở Củng Sơn hoàn toàn bị tan rã, ta thu 400 xe các loại, trong đó có 41 xe tăng, xe thiết giáp và hơn 10 khẩu pháo lớn.

Như thế, trong khoảng thời gian từ ngày 17 đến ngày 24-3-1975, cuộc truy kích kịp thời và táo bạo của ta đã kết thúc thắng lợi. Ta loại khỏi vòng chiến đấu 6 liên đoàn biệt động quân, 4 thiết đoàn, 1 liên đoàn công binh, 20 tiểu đoàn bảo an, cảnh sát dãchiến và một bộ phận cơ quan Quân khu 2, bắt 8.000 tù binh, thu và phá hủy 1.400 xe, có 90 xe tăng và 25 xe M113, 8 khẩu pháo 175mm, 19 khẩu pháo 155mm, 5 khẩu pháo 105mm(1).


(1) Cao Văn Viên trong cuốn Những ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng hòa thừa nhận: “Cuộc triệt thoái khỏi cao nguyên là một thất bại chiến lược về phương diện quân sự: 75% lực lượng của Quân đoàn 2, gồm Sư đoàn 23, biệt động quân, thiết kỵ, pháo binh, truyền tin và công binh bị hao tổn chỉ trong 10 ngày. Kế hoạch tái chiếm Buôn Ma Thuột cũng bị thất bại và quân đoàn không còn quân. Cộng sản chiếm được Kon Tum và Plâyku không thốn một viên đạn. Với chiến thắng này, 3 sư đoàn F.10, 316, 320 càng phấn khởi đánh mạnh hơn”.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9404


Lính của PTL


« Trả lời #84 vào lúc: 12 Tháng Ba, 2011, 07:42:32 PM »

Ngày 25-3-1975, Bộ chính trị họp nhận định; “Thời cơ chiến lược đã tới, trong suốt 20 năm chống Mỹ, cứu nước chưa bao giờ thuận lợi bằng lúc này; do đó cần nắm vững thời cơ chiến lược mới, tranh thủ thời gian cao độ, nhanh chóng tập trung lực lượng vào hướng chủ yếu, hành động táo bạo, kịp thời, làm cho địch không dự kiến kịp và không kịp trở tay. Bộ Chính trị quyết định: quyết tâm hoàn thành giải phóng Sài Gòn và miền Nam trước mùa mưa (tháng 5-1975)”(1).

Trước đòi hỏi của tình hình mới, ngày 26-3-1975, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Quân đoàn 3 (Binh đoàn Tây Nguyên). Quân đoàn có 3 sư đoàn bộ binh (10, 316, 320A), 2 trung đoàn pháo binh (40 và 675), 3 trung đoàn phòng không (232, 234, 593), Trung đoàn đặc công 198, Trung đoàn xe tăng 273; 2 trung đoàn công binh (7 và 275). Trung đoàn công binh 29 và các cơ quan, đơn vị bảo đảm phục vụ. Tư lệnh Quân đoàn là Thiếu tướng Vũ Lăng; Chính ủy là Đại tá Đặng Vũ Hiệp. Quân đoàn 3 được thành lập trên chiến trường Tây Nguyên là bước phát triển mới tạo điều kiện và tăng thêm sức mạnh để khối chủ lực Tây Nguyên vươn lên đáp ứng yêu cầu đánh to thắng lớn với tốc độ “một ngày bằng 20 năm” của diễn biến chiến trường.

Phối hợp chặt chẽ với quân và dân Tây Nguyên, trên toàn miền Nam, quân dân ta dồn dập tiến công và nổi dậy. Ở Nam Bộ, Sư đoàn 7 thuộc Quân đoàn 4 đánh chiếm quận lỵ Định Quán, Hoài Đức, Giá Rai. Lực lượng vũ trang Quân khu 7 tiêu diệt chi khu Dầu Tiếng, đánh chiếm các vị trí Bến Củi, Cầu Khởi, suối Ông Hùng, ngã ba Đất Sét. Quân và dân Quân khu 5 giải phóng Tiên Phước, Phước Lâm (Quảng Nam), tiến công và bức địch rút khỏi Sơn Hà, Trà Bồng (Quảng Ngãi). Sư đoàn 2 chủ lực Quân khu 5 cùng lực lượng vũ trang và nhân dân các địa phương tiến công giải phóng Tam Kỳ, Tuần Dưỡng. Quân và dân Quảng Ngãi tiến công và nổi dậy giải phóng thị xã Quảng Ngãi. Từ bốn phía, các lực lượng ta nhanh chóng hình thành thế bao vây tiến công quân địch ở Đà Nẵng.

Để mở rộng liên hoàn địa bàn chiến lược Tây Nguyên với các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ, ngày 21-3-1975, khi chiến dịch Tây Nguyên chưa kết thúc, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh đã giao nhiệm vụ bổ sung cho các đơn vị chủ lực của Mặt trận Tây Nguyên: “Tiếp tục phát triển chiến đấu trên ba trục đường 19, 7, 21; giải phóng Phú Yên, Khánh Hòa, phối hợp với Sư đoàn 3 - Quân khu 5 giải phóng Bình Định. Mục tiêu chủ yếu là diệt Lữ dù 3, Trung đoàn 40 địch ở Khánh Dương, Phượng Hoàng và tiến xuống chiếm Nha Trang, Khánh Hòa”.

Chấp hành mệnh lệnh của Bộ Tổng tư lệnh; Bộ Tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên nhanh chóng tổ chức lực lượng phát triển tiến công trên ba hướng xuống các tỉnh Nam Trung Bộ. Ba cánh quân của ta trên các trục đường 19, 7 và 21 như ba dòng thác lớn từ vùng cao nguyên cuồn cuộn đổ về xuôi. Để ngăn chặn bước tiến của quân ta, ngày 24-3-1975, Nguyễn Văn Thiện đã gửi công điện thượng khẩn cho các tư lệnh quân khu, quân đoàn, tiểu khu ở các tỉnh Nam Trung Bộ và Trị Thiên yêu cầu phải tử thủ nhằm giữ bằng được những phần đất còn lại, đồng thời lên kế hoạch lập tuyến phòng thủ ngăn chặn quân ta từ xa.

Sau khi Buôn Ma Thuột thất thủ, Sư đoàn 23 bị tiêu diệt, đường 21 từ Tây Nguyên xuống Cam Ranh bị bỏ ngỏ, địch phải điều Trung đoàn 40 (Sư đoàn 22) từ Bình Định lên tổ chức phòng ngự tại Khánh Dương. Lực lượng còn lại của Sư đoàn 22 co cụm thành từng cụm, liên hoàn trên một tuyến kéo dài khoảng 20 km dọc đương 19 từ Phú Phong đến Phú An. Trung tâm của tuyến phòng ngự là cụm quân địch ở Lai Nghi - khu căn cứ này do quân Nam Triều Tiên xây dựng. Ngày 21-3, Trung đoàn 93 bộ đội địa phương tỉnh Bình Định cùng lực lượng vũ trang huyện Tuy Phước tiến công quân địch ở Phước Hiệp và chợ Huyện. Cùng thời gian này, Tiểu đoàn đặc công của tỉnh Bình Định tiêu diệt cứ điểm Truông Úc. Ngày 26-3, Trung đoàn 92 và lực lượng vũ trang huyện Hoài Nhơn tiến công giải phóng thị trấn Tam Quan. Ngày 27-3, Mộ Đức và Bồng Sơn được giải phóng. Ngày 29-3, quân địch ở Gò Nổi rút chạy, nhân dân các xã phía đông huyện Tuy Phước nổi dậy giải phóng quê hương. Tuyến phòng thủ phía bắc Quy Nhơn bị phá vỡ. Trên tuyến đường 129, Trung đoàn 2 và Trung đoàn 141 (Sư đoàn 3) tiến công cụm quân địch ở Lai Nghi, chốt chặn cầu Thủ Thiện Hạ, chặn đường rút chạy của Sư đoàn 22 quân đội Sài Gòn.

Nhằm chốt giữ phần đất còn lại, địch điều Trung đoàn 47 về lập tuyến phòng thủ mới ở ven thị xã Quy Nhơn, Trung đoàn 41 phòng thủ từ Diêu Trì đến Quy Nhơn, Trung đoàn 42 phòng thủ khu vực Diêu Trì - Cù Mông và giao cho Hoàng Cơ Minh - Phó đô đốc hải quân, Tư lệnh Vùng 2 duyên hải làm Tư lệnh chiến trường Quy Nhơn.

Để tiêu diệt Sư đoàn 22, đập tan ý đồ co cụm lực lượng của địch, giải phóng tỉnh Bình Định, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 đã thành lập Sở chỉ huy tiền phương quân khu do đồng chí Nguyễn Nam Khánh - Phó Chính ủy quân khu phụ trách. Lúc này, Sư đoàn 968, Trung đoàn 95A, Trung đoàn 12 (Sư đoàn 3) sau khi hoàn thành nhiệm vụ đánh địch ở Tây Nguyên, An Khê được Bộ Tư lệnh Tây Nguyên giao nhiệm vụ tiến xuống cùng nhân dân địa phương giải phóng Bình Định.


(1) Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Việt Nam những sự kiện quân sự thế kỷ XX, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2002, tr. 505.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9404


Lính của PTL


« Trả lời #85 vào lúc: 12 Tháng Ba, 2011, 07:43:21 PM »

Ngày 29-3, Trung đoàn 19 thuộc Sư đoàn 968 và Trung đoàn 95A tiến xuống Bình Định hợp điểm với Sư đoàn 3 của Quân khu 5 tiến công địch ở khu vực Thủ Thiện, Lai Nghi., Phú Phong, Bình Khê, hỗ trợ đắc lực cho nhân dân Bình Định nổi dậy giành quyền làm chủ. Sáng ngày 30-3, Sư đoàn 3 tiếp tục tiến công các cụm quân địch còn lại ở Lai Nghi, Phú Xuân, Phú Hòa 2 và tổ chức lực lượng chốt chặn không cho quân địch tháo chạy về Quy Nhơn. Trung đoàn 2 (Sư đoàn 3) đánh chiếm ga Diêu Trì và Sở chỉ huy Sư đoàn 22 Quân đội Sài Gòn ở An Nhơn. Phối hợp với Sư đoàn 3, Trung đoàn 19 (Sư đoàn 968) đánh chiếm núi Trà Lam Sơn ở phía tây Gò Quánh, diệt Tiểu đoàn 3 (Trung đoàn 40), Trung đoàn 95A đánh chiếm Phú Phong, làng Mai Xuân Thưởng. Ngày 31-3, ta giải phóng các quận lỵ An Túc, Bình Khê, Tam Quan, Hoài Nhưn, Hoài Ân, Phú Mỹ thuộc tỉnh Bình Định. Quân địch ở trung tâm huấn luyện Phù Cát tháo chạy về Quy Nhơn bị ta chặn đánh ở thị trấn Đập Đá. Tại thị xã Quy Nhơn, Trung đoàn 93, hai tiểu đoàn đặc công 220, 405; Tiểu đoàn 51 và lực lượng thị đội do Tỉnh đội trưởng Vũ Tấn Hạt chỉ huy từ 4 hướng đánh vào thị xã.

Ngày 1-4-1975, Trung đoàn 19 (Sư đoàn 968) tiêu diệt Trung đoàn 47 quân đội Sài Gòn, làm chủ sân bay Gò Quánh. Lực lượng vũ trang địa phương phối hợp chặt chẽ với các đơn vị quân chủ lực tiến công giải phóng thị xã Quy Nhơn. Tiểu đoàn 2 thuộc Trung đoàn 95A vượt biển giải phóng các đảo Hòn Tre, Cù lao Thu.

Trong 3 ngày tiến công, các sư đoàn 3, 968; trung đoàn 95A và lực lượng vũ trang địa phương tỉnh Bình Định đã xóa sổ Sư đoàn 22 - Sư đoàn chủ lực cuối cùng của Quân đoàn 2 Sài Gòn.

Trên hướng Phú Yên, thực hiện mệnh lệnh của Bộ Tư lệnh Quân khu 5 yêu cầu Phú Yên điều động toàn bộ lực lượng của địa phương tổ chức chốt chặn đường số 7 đoạn đông Củng Sơn đi Tuy Hòa, không cho địch rút chạy xuống đồng bằng. Lúc này, đoạn đường phía đông Củng Sơn đi Tuy Hòa đã bị phá hỏng từ lâu. Do vậy, tỉnh đội Phú Yên nhận định: địch sẽ vượt sông Yên Ba về Phú Yên theo trục đường 5, địch không thể rút chạy tiếp theo đường số 7. Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Duy Luân và Tỉnh đội trưởng Ông Văn Bưu quyết định để lại một lực lượng tiếp tục chốt chặn địch trên đường số 7, còn lại, chuyển đại bộ phận lực lượng sang đánh địch trên đường số 5 và phối hợp với bộ đội chủ lực tiêu diệt quân địch ở Củng Sơn, kiên quyết đánh bại mọi cố gắng mở thông đường của địch.

Ngày 19-3-1975, quân ta tiến công tiêu diệt các cứ điểm Phước Bình, Phước Thứ, Hòn Sặt, hỗ trợ nhân dân nổi dậy giải phóng 5 xã Hòa Bình, Hòa Phong, Hòa Đông, Hòa Mỹ, Hòa Thịnh, làm chủ đoạn đường số 5 dài khoảng 10 km. để chặn đánh quân địch rút chạy, các lực lượng vũ trang địa phương đã tổ chức các chốt chặn ở Cầu Tổng, Mỹ thành, Lương Phước, tây Hòn Kén; lực lượng bộ đội địa phương huyện Tuy Hòa tổ chức một bộ phận đánh cắt đường số 1 đoạn từ Hòa Xuân đến Đèo Cả.

Trong các ngày 20 và 21-3-1975, diễn ra một số trận đánh của lực lượng vũ trang địa phương trên tuyến đường số 5. Đặc biệt là ngày 22, địch cho 1 tiểu đoàn biệt động quân cải trang làm dân thường, mang theo vũ khí gọn nhẹ dùng xe môtô cơ động, bất ngờ đánh chiếm khu chốt của Tiểu đoàn 9 ở Mỹ Thành Tây - Lương Phước. Do tổ chức chốt giữ trận địa chặt chẽ, ta đã sớm phát hiện ra thủ đoạn mới của địch và tổ chức đánh trả kịp thời. Trong trận này, ta diệt và bắt hơn 400 tên địch, thu và phá hủy hơn 300 xe môtô; sau đó, địch tiếp tục sử dụng các tiểu đoàn địa phương quân 268, 924 và một số đo biệt lập đánh vào chốt của ta hòng khai thông đường nhưng đều bị quân ta đánh bại. Sau khi địch ở Củng Sơn bị Sư đoàn 320A tiêu diệt, tuyến đường 7 bị tắc, tàn quân địch tháo chạy sang tuyến đường 5 càng nhiều. những ngày cuối tháng 3, các trận địa chốt trên đường 5 đã đánh nhiều trận, diệt và bắt gần 2.000 tên địch, thu hàng chục xe, pháo các loại.

Cùng với tàn quân địch từ các tỉnh Tây Nguyên đổ về, lực lượng tại chỗ của địch ở Tuy Hòa được Chuẩn tướng Trần Văn Cẩm huy động lên chiếm lĩnh các điểm cao trong và xung quanh thị xã Tuy Hòa. Ở ngoài biển, chúng huy động hơn 10 tàu chiến lớn nhỏ hỗ trợ cho quân chiến đấu trên bộ. Quân địch tuy còn đông nhưng tinh thần chiến đấu đã rệu rã, ở nhiều nơi lính địch bỏ trốn. Đây là thời cơ thuận lợi để quân dân ta giải phóng Phú Yên.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9404


Lính của PTL


« Trả lời #86 vào lúc: 12 Tháng Ba, 2011, 07:44:07 PM »

Sau những ngày truy kích liên tục trên đường 7 và đường 5, ngày 28-3, các đơn vị bộ đội chủ lực đã cùng lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương giải phóng miền Tây Phú Yên. Nhân dân các xã Phú Nhiêu, Mỹ Thạnh Đông, Mỹ Thạnh Tây, Phú Hiệp, Hòa Hiệp, Hòa Bình… sát cánh chiến đấu cùng bộ đội. Ngày 31-3, được dân quân du kích dẫn đường và phối hợp chiến đấu, Tiểu đoàn 9 thuộc Trung đoàn 64 tiến công cứ điểm Hòn Một, Tiểu đoàn 8 đánh chiếm đoạn đường số 1 từ Phú Khê đến cầu ván Hòa Xuân. Ở phía bắc Phú Yên, dân quân du kích và bộ đội địa phương đánh chiếm cầu Ngân Sơn, cắt đường số 1 ở phía nam Tuy An, không cho địch dồn về thị xã Tuy Hòa. 5 giờ sáng ngày 1-4-1975, Sư đoàn 320A sử dụng 2 trung đoàn (48 và 9) và lực lượng xe tăng của Trung đoàn 273 tiến công thị xã Tuy Hòa. Ta sử dụng pháo binh bắn phá ác liệt că cứ địch ở núi Nhạn Tháp. Xe tăng Trung đoàn 273 nhanh chóng đánh chiếm cầu Ông Chừ, chi viện cho Trung đoàn 9 đánh chiếm ngã năm, khống chế đường Trần Hưng Đạo rồi phát triển vào trung tâm thị xã. Trên hướng bắc, Trung đoàn 48 đánh chiếm că cứ Chóp Chài, tiếp đó phát triển thành hai mũi dọc đường số 1 và ven biển, tiến công sân bay Đông tác. Một bộ phận Trung đoàn 64 vượt sông Đà Rằng đánh vào sân bay phối hợp với Trung đoàn 48. Sau khi chiếm được sân bay, Trung đoàn 48 phát triển đánh chiếm Ty Cảnh sát, Tiểu khu Phú Yên. Từ hướng nam, Trung đoàn 64 tiến công quận lỵ Phú Lâm, cầu Bàn Thạch, Tiểu đoàn 96 và Đại đội 29 đặc công tỉnh đánh chiếm cứ điểm núi Sầm, Quy Hậu, Phước Khánh. Tiểu đoàn 9 của Trung đoàn 64 và Tiểu đoàn 13 bộ đội địa phương diệt địch ở Hòa Hiệp, tiến về bị chặt mặt phía đông sân bay. Bị quân ta đánh mạnh từ nhiều phía, quân địch ở thị xã Tuy Hòa buộc phải tháo chạy. Chuẩn tướng Trần Văn Cẩm cùng nhiều sĩ quan tùy tùng bị quân ta bắt sống. 9 giờ ngày 1-4, ta làm chủ thị xã Tuy Hòa.

Cánh quân Sư đoàn 10, Trung đoàn 25 bộ binh, Trung đoàn 40 pháo binh và một số xe tăng của Trung đoàn 273 sau khi giải phóng Khánh Dương, tiến đánh Lữ dù 3 ở đèo Phượng Hoàng, tiến xuống giải phóng Ninh Hòa, Nha Trang, Cam Ranh. Lữ đoàn dù số 3 quân đội Sài Gòn chiếm lĩnh đèo Phượng Hoàng cùng với bọn bảo an hình thành các điểm chốt, ngăn chặn quyết liệt quân ta. Cuộc chiến đấu trên đèo Phượng Hoàng trong hai ngày 29 và 30-3 diễn ra ác liệt. Địch huy động máy bay ném bom trục đường 21, đoạn từ Khánh Dương đến Phượng Hoàng. Để tiêu diệt Lữ dù 3, đập tan lá chắn phía tây Ninh Hòa của địch, Bộ Tư lệnh chiến dịch lệnh cho các đơn vị phòng không bám đánh máy bay địch bảo vệ đội hình chiến đấu của bộ binh; pháo binh tập trung hỏa lực chế áp, tiêu diệt các trận địa pháo địch, chi viện đắc lực cho bộ binh, xe tăng đột kích mạnh phía trước, kết hợp với các mũi luồn sâu đánh vào phía sau và hai bên sườn địch, chia cắt tiêu diệt các cụm chốt địch, không để chúng liên kết hỗ trợ nhau. Sáng 1-4, Sư đoàn 10 mở đợt tiến công quyết định tiêu diệt Lữ dù 3, đập tan hệ thống phòng ngự của địch trên đèo Phượng Hoàng, tràn xuống giải phóng thị trấn Ninh Hòa.

Ngày 2-4-1975, Sư đoàn 10 tiến vào giải phóng Nha Trang. Hôm sau, sư đoàn thẳng tiến vào Cam Ranh - quân cảng lớn nhất miền Nam. Địch dùng máy bay chi viện cho bộ binh chống cự quyết liệt, nhưng với sức mạnh áp đảo, Sư đoàn 10 nhanh chóng đè bẹp quân địch, đánh chiếm, làm chủ quân cảng Cam Ranh. Phối hợp chặt chẽ với bộ đội, nhân dân Nha Trang, Khánh Hòa nổi dậy giành chính quyền, giúp đỡ bộ đội truy quyét tàn quân địch. Như vậy, đến ngày 4-4-1975, ta đã tiêu diệt và làm tan rã Quân đoàn 2 - Quân khu 2 cùng một bộ phận cơ động chiến lược của quân đội Sài Gòn, diệt Sư đoàn 22, Sư đoàn 23, lữ dù 3 và 8 liên đoàn biệt động quân, 1 liên đoàn công binh, 4 thiết đoàn, 10 tiểu đoàn pháo binh; đánh thiệt hại Sư đoàn 6 không quân, tiêu diệt và làm tan rã 7 tiểu khu, 26 chi khu, 50 tiểu đoàn, 51 đại đội bảo an và toàn bộ lực lượng cảnh sát, dân vệ, phòng vệ dân sự; giải phóng Tây Nguyên và các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ.

Toàn bộ lực lượng Quân đoàn 2 - Quân khu 2 của chính quyền và quân đội Sài Gòn bị xóa sổ. Tây Nguyên và các tỉnh duyên hải miền Trung được hoàn toàn giải phóng. Chiến thắng này đã mở ra cục diện mới rất có lợi cho ta, làm đảo lộn toàn bộ thế trận chiến lược của địch, uy hiếp mạnh địch ở Quân khu 3, cô lập địch ở Quân khu 1; đẩy địch từ những sai lầm về chiến thuật, chiến dịch đến sai lầm về chiến lược. Với chiến thắng to lớn và toàn diện cả về quân sự và chính trị ở Tây Nguyên và các tỉnh duyên nhải miền Trung, trên thực tế, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy giải phóng hoàn toàn miền Nam đã bắt đầu.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9404


Lính của PTL


« Trả lời #87 vào lúc: 12 Tháng Ba, 2011, 07:45:59 PM »

Chương 35

TIẾN CÔNG GIẢI PHÓNG HUẾ - ĐÀ NẴNG
VÀ CÁC TỈNH TRUNG TRUNG BỘ

I - MỞ CHIẾN DỊCH TRỊ - THIÊN GIẢI PHÓNG
THÀNH PHỐ HUẾ

Cùng với đòn tiến công Tây Nguyên mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, trên hướng phối hợp quan trọng Trị - Thiên và Khu 5, hoạt động tiến công quân sự và nổi dậy của quần chúng cũng diễn ra mạnh mẽ và rộng khắp.

Theo phân định của chính quyền Sài Gòn thì địa bàn Trị - Thiên và Khu 5 thuộc Quân khu 1, bao gồm các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Đà, Quảng Tín và Quảng Ngãi, với 2 thành phố lớn là Huế và Đà Nẵng. Do vị trinh sát đặc biệt quan trọng của địa bàn chiến lược này, nhất là khu vực Trị - Thiên, nơi tiếp giáp với miền Bắc xã hội chủ nghĩa; hướng phòng thủ chủ yếu hòng ngăn chặn tiến công của ta từ miền Bắc vào, nên trong suốt cuộc chiến tranh, cùng với miền Đông Nam Bộ, nơi đây địch bố trí lực lượng phòng thủ mạnh. Đầu năm 1975, lực lượng đóng tại đây có 134.000 tên (trong đó có 84.000 quân chủ lực, 50.000 quân địa phương), bao gồm 5 sư đoàn (là các sư đoàn bộ binh 1, 2, 3, Sư đoàn dù, Sư đoàn thủy quân lục chiến), 4 liên đoàn biệt động quân (11, 12, 14, 15), 5 thiết đoàn (4, 7, 11, 17, 20), 13 chi đội xe tăng, thiết giáp (449 xe), 21 tiểu đoàn pháo binh (418 khẩu từ 105 mm đến 175 mm), 1 sư đoàn không quân (373 máy bay, trong đó có 96 máy bay chiến đấu), 3 duyên đoàn và giang đoàn (185 tàu, thuyền), chưa kể 50 tiểu đoàn và 5 đại đội bảo an, 6 đại đội cảnh sát dã chiến. Lực lượng trên đây được tổ chức phòng ngự thành 3 tuyến.

Tuyến 1, với mật danh “da cam”, là tuyến giáp với miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Đây là tuyến bàn đạp để địch mở các cuộc hành quân càn quét đánh phá các vùng căn cứ, ngăn chặn ta xâm nhập từ miền Bắc vào. Chính vì vây, chúng bố trí xung lực và hỏa lực mạnh.

Tuyến giữa, với mật danh là “lục”, chúng bố trí lực lượng vừa phải.

Tuyến cuối, được đặt mật danh là “xanh”, có nhiệm vụ bảo vệ các khu vực xung yếu, bao gồm cơ quan đầu não Quân khu 1. Có thể nói, cho đến đầu năm 1975, Quân khu 1 là một trong những địa bàn địch tổ chức bố phòng mạnh nhất Nam Việt Nam nhằm ngăn chặn mọi cuộc tiến công của chủ lực ta từ miền Bắc vào.

Địa bàn Trị - Thiên - Huế từ đầu tháng 3-1975, địch có khoảng 56.000 tên, trong đó có 28.500 quân chủ lực, bao gồm: Sư đoàn bộ binh 1, Sư đoàn thủy quân lục chiến, Sư đoàn dù, 1 liên đoàn biệt động quân, 2 liên đoàn và 21 đại đội bảo an, 318 trung đội dân vệ, 10 tiểu đoàn và một số đại đội, trung đội pháo binh (với 194 khẩu pháo các loại từ 105 mm đến 175 mm), 1 lữ đoàn kỵ binh thiết giáp (với 3 thiết đoàn (gồm 260 xe tăng, xe bọc thép), 1 tiểu đoàn cao xạ (27 xe M42 gắn pháo 40 mm loại 2 nòng, 37 xe gắn súng máy 12,7 mm loại 4 nòng và 6 nòng), 3 duyên đoàn và 3 giang đoàn (81 tàu thuyền chiến đấu), 1 phi đoàn trực thăng vũ trang, 2 phi đội máy bay trinh sát, chưa kể lực lượng không quân ở sân bay Đà Nẵng chi viện trực tiếp. Lực lượng này, chúng bố trí cụ thể như sau:

Từ Quảng Trị đến Mỹ Chánh có 2 lữ đoàn thủy quân lục chiến (258, 369), Liên đoàn bảo an 913, Trung đoàn thiết giáp 17 cùng lực lượng của Tiểu khu Quảng Trị và các chi khu Hải lăng, Triệu Phong, Mai Lĩnh.

Từ Mỹ Chánh đến bắc Huế có Lữ đoàn thủy quân lục chiến 147, Trung đoàn thiết giáp 20, căn cứ pháo binh Đồng Lâm, một số tiểu đoàn bảo an và lực lượng địa phương quân thuộc các chi khu Quảng Điền, Phong Điền.

Ở tây bắc Huế (Cổ Bi, Núi Gió, Sơn Na, Chúc Mao, An Độ, Lai Bằng) có Trung đoàn 51 thuộc Sư đoàn bộ binh 1 cùng lực lượng địa phương quân thuộc Chi khu Hương Trà.

Từ tây nam Huế đến Phú Lộc có các trung đoàn 1, 3, 54 thuộc Sư đoàn bộ binh 1, Liên đoàn biệt động quân 15, Trung đoàn thiết giáp 17, Duyên đoàn 106 (ở cửa Thuận An) và một số tiểu đoàn bảo an cùng lực lượng địa phương quân thuộc Tiểu khu Thừa Thiên, các chi khu Hương Thủy, Phú Vang, Phú Thứ, Nam Hòa.

Từ Phú Lộc đến đèo Hải Vân có Lữ đoàn dù 2, Liên đoàn bảo an 914, một giang đoàn (ở cửa Tư Hiền) cùng lực lượng Chi khu Phú Lộc.

Sở chỉ huy tiền phương Quân đoàn 1 do tướng Lâm Quang Thi - Phó Tư lệnh quân đoàn phụ trách, đóng tại thành phố Huế. Đây cũng là một trong hai trọng điểm mà địch tập trung bảo vệ (cùng với thị xã Quảng Trị).
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9404


Lính của PTL


« Trả lời #88 vào lúc: 12 Tháng Ba, 2011, 07:48:47 PM »

Đối với ta, Trị - Thiên và Khu 5 có vị trí rất quan trọng.

Trị - Thiên là mảnh đất dài và hẹp, gồm hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên, kéo dài từ sông Bến Hải đến đèo Hải Vân. Đây là đầu mối hành lang vận chuyển chiến lược chi viện cho miền Nam, là địa bàn trực tiếp đối đầu với địch nhằm ngăn chặn âm mưu mở rộng chiến tranh ra miền Bắc và sang chiến trường Lào. Đây cũng là nơi ta có thể tổ chức các chiến dịch lớn tiêu diệt lực lượng cơ động chiến lược của địch, thu hút giam chân chúng, tạo điều kiện cho các chiến trường khác phát triển. Trong quyết tâm chiến lược năm 1975, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh đã đánh giá: “Chiến trường Trị - Thiên - Huế là chiến trường có nhiều thuận lợi hơn với các chiến trường khác vì gần Trung ương, có điều kiện chuẩn bị, bổ sung cơ sở vật chất kịp thời. Nếu ta tiến công mạnh, làm chủ chiến trường Trị - Thiên - Huế, phá vỡ hệ thống phòng ngự ở Quân khu 1, giam chân lực lượng cơ động chiến lược của địch, sẽ tạo nên sự chuyển biến mới về so sánh lực lượng và thế chiến lược, tạo điều kiện vận chuyển vận chuyển, kỹ thuật và cơ động lực lượng xuống phía nam, giải phóng các tỉnh Nam Bộ”(1). Chính vì vậy, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh quyết định chọn Trị - Thiên - Huế làm hướng tiến công phối hợp quan trọng. Nhiệm vụ của chiến dịch Trị - Thiên trong năm 1975 được Quân ủy Trung ương giao là: “Đánh bại về cơ bản bình định của địch, tạo ra ở Trị - Thiên - Huế một tình thế mới có ý nghĩa quyết định để chuẩn bị cho giành thắng lợi trong năm 1976, giải phóng hoàn toàn Trị - Thiên - Huế”(2). Cụ thể hơn: “Trị - Thiên - Huế phải tiến hành các chiến dịch tổng hợp cả quân sự và chính trị, bằng lực lượng cả chủ lực của bộ, của địa phương, quân khu, phối hợp chặt giữa ba thứ quân, ba mũi giáp công. Trong chiến dịch tổng hợp đó, phải nhằm tiêu diệt và làm tan rã một phần quan trọng sinh lực địch, phải diệt gọn được từng tiểu đoàn, trung đoàn địch, tạo điều kiện đánh bại về cơ bản kế hoạch bình định của địch ở đồng bằng, giành phần lớn nhân dân, giành quyền làm chủ; khi địch đã hoang mang dao động mạnh thì phải nhanh chóng chớp lấy thời cơ, tiến lên hành động mạnh bạo, giành thắng lợi lớn nhất. Phải có hai kế hoạch: kế hoạch cơ bản và kế hoạch thời cơ”(3).

Lực lượng ta trên chiến trường Trị - Thiên lúc này gồm Quân đoàn 2 và lực lượng của Quân khu Trị - Thiên. Quân đoàn 2 có 3 sư đoàn bộ binh (304, 324, 325), Lữ đoàn phòng không 673, Lữ đoàn pháo binh 164, Lữ đoàn xe tăng 203, Lữ đoàn công binh 219, Trung đoàn thông tin 463 và một số đơn vị trực thuộc khác. Quân khu Trị - Thiên có 3 trung đoàn bộ binh (4, 6, 271), 1 trung đoàn pháo binh cơ giới, 1 trung đoàn cao xạ, 1 trung đoàn công binh, 1 tiểu đoàn đặc công, 1 tiểu đoàn bộ binh đánh giao thông, 1 tiểu đoàn vận tải cơ giới… chưa kể các tiểu đoàn bộ đội địa phương tỉnh, đại đội, trung đội địa phương huyện và dân quân, du kích xã.

Nhằm bảo đảm tính thống nhất trong lãnh đạo chỉ huy và hiệp đồng tác chiến, phát huy sức mạnh tổng hợp của tất cả các lực lượng chủ lực và địa phương trên chiến trường Trị - Thiên, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định thành lập đảng ủy Mặt trận gồm các đồng chí trong Thường vụ Khu ủy, Quân khu ủy Quân khu Trị - Thiên và Thường vụ Đảng ủy Quân đoàn 2 do đồng chí Lê Tự Đồng làm Bí thư.

Ngày 21-2-1975, Đảng ủy Mặt trận đã họp đi đến thống nhất mở hai chiến dịch tiến công tổng hợp là chiến dịch xuân hè (còn gọi là chiến dịch K175) dự kiến từ tháng 3 đến đầu tháng 5-1975 và chiến dịch thu dự kiến vào tháng 7 đến tháng 8-1975. Ngoài kế hoạch cơ bản như đã nêu, Đảng ủy Mặt trận còn dự kiến kế hoạch thời cơ và kế hoạch nghi binh đánh lạc hướng đề phòng của địch. Mục tiêu đặt ra cho chiến dịch xuân hè là: Tập trung toàn bộ lực lượng của Quân khu Trị - Thiên và Quân đoàn 2, đẩy mạnh tiến công tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, đánh bại về cơ bản kế hoạch bình định của chúng ở Trị - Thiên, giành 35 vạn dân ở nông thôn đồng bằng, phát động cao trào đấu tranh chính trị ở thành phố, đánh mạnh các kho tàng, hậu cứ, tiệt phá giao thông, tích cực tạo thời cơ, tiến lên giành thắng lợi lớn, giải phóng thành phố Huế.

Đảng ủy Mặt trận đề ra yêu cầu đối với chiến dịch xuân hè là: Phải phá lỏng, làm tan rã hệ thống kìm kẹp của địch ở đồng bằng, giàn thừ 7 đến 10 vạn dân, tiêu diệt được từ 5 đến 7 tiểu đoàn địch, phá vỡ thế phân tuyến, chiếm lĩnh một số địa bàn có lợi, cắt đứt từng phần tiến tới cắt đứt hoàn toàn tuyến giao thông chiến lược đường số 1 từ Huế đi Đà Nẵng, đồng thời thu hút, giam chân lực lượng cơ động chiến lược của địch ở đây, tạo thuận lợi cho các chiến trường khác phát triển. Thời cơ đến thì tung hết lực lượng ra tiến công giải phóng toàn bộ nông thôn, bao vây uy hiếp thành phố Huế, nếu có điều kiện thì giải phóng hoàn toàn Trị - Thiên - Huế.


(1) Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử chiến dịch Trị - Thiên và chiến dịch Đà Nẵng Xuân 1975, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2006, tr. 34.
(2), (3) Trung tướng Lê Tự Đồng: Trị - Thiên - Huế Xuân 1975, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1983, tr. 42, 43.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9404


Lính của PTL


« Trả lời #89 vào lúc: 12 Tháng Ba, 2011, 07:50:11 PM »

Hướng tiến công chủ yếu của chiến dịch được xác định từ tây nam Huế, theo đường 14 đến tây nam Phú Lộc (nam Thừa Thiên). Mục tiêu tiến công chủ yếu là khu vực Mỏ Tàu, điểm cao 303 đến bắc đèo Hải Vân. Hướng này do Sư đoàn 324 (thiếu Trung đoàn 3) và Sư đoàn 325 (thiếu Trung đoàn 95) của Quân đoàn 2 đảm nhiệm(1). Các lực lượng khác do Quân khu Trị - Thiên phụ trách. Cụ thể:

Bắc Thừa Thiên (gồm các huyện Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà) có Trung đoàn 4 bộ đội chủ lực quân khu, Đại đội 25 đặc công, Tiểu đoàn 10 của tỉnh và bộ đội địa phương huyện, các đội vũ trang công tác.

Khu vực thành phố Huế và vùng ven do lực lượng vũ trang và các đội công tác của thành phố đảm nhiệm.

Khu vực đồng bằng phía nam thành phố Huế gồm các huyện Hương Thủy, Phú Vang có Tiểu đoàn 4 bộ binh, 1 đại đội đặc công của tỉnh cùng bộ đội địa phương huyện và các lực lượng vũ trang công tác.

Phía tây nam Huế và huyện Phú Lộc, ngoài lực lượng của Quân đoàn 2, có Tiểu đoàn bộ binh 5 (thiếu 1 đại đội), Tiểu đoàn 2 chủ lực quân khu, 1 đại đội đặc công thuộc Tiểu đoàn 2 đặc công tỉnh, bộ đội địa phương huyện và các đội vũ trang công tác.

Đồng thời với xây dựng kế hoạch tác chiến, công tác chuẩn bị mọi mặt cho chiến dịch cũng được tiến hành khẩn trương nhất là bảo đảm đường cơ động cho các lực lượng. Thực hiện nhiệm vụ này, Lữ đoàn công binh 219, Trung đoàn công binh 414 của Quân khu Trị - Thiên cùng các tiểu đoàn công binh của các sư đoàn 324, 325, 673, Lữ đoàn pháo binh 164, Lữ đoàn xe tăng 203 và các đại đội công binh của các trung đoàn bộ binh đã không ngoại khó khăn, ngày đêm phá núi, bạt rừng mở đường, bắc cầu. Nhờ vậy, chỉ trong 40 ngày đêm, các tuyến đường cơ động trọng yếu như đường 73, 74 từ đường 14 (đông Trường Sơn) tỏa xuống các địa bàn chiến dịch với chiều dài 65 km đã nhanh chóng được khôi phục, mở rộng. Quân đoàn 2 và Quân khu Trị - Thiên còn mở thêm một đường đất từ A Lưới nối với đường 14 bảo đảm cho xe cơ giới cơ động và làm các đường nhánh xung quanh Động Truồi, tả và hữu ngạn sông Truồi bảo đảm cho Sư đoàn 325 vào vị trí tập kết, triển khai tiến công, khi có thời cơ, cơ động ra cắt đường 1.

Để bảo đảm vật chất phục vụ cho chiến dịch, Đoàn 559 huy động tối đa các phương tiện vận tải, cùng hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang quân khu và nhân dân hai tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên vận chuyển lương thực, thực phẩm và đạn dược. Chỉ sau một thời gian ngắn, hàng ngàn tấn vũ khí, lương thực, thuốc chữa bệnh, quân trang, quân dụng được chuyển gấp vào lót ổ ở các kho trận địa bàn chiến dịch. Các tỉnh, huyện còn tổ chức các trạm thu mua lương thực tại chỗ, vận chuyển về tập kết ở các cơ sở bí mật. Các tuyến bảo đảm hậu cần, quân y, thông tin, các trẩm chữa xe máy, vũ khí, khí tài được thiết lập trên các hướng. Có thể nói, chưa bao giờ chiến trường Trị - Thiên - Huế được chuẩn bị đầy đủ vật chất cho chiến dịch như lúc này.

Về tổ chức chỉ huy, Bộ Tổng tư lệnh và Bộ Tổng tham mưu trực tiếp chỉ đạo quân đoàn 2 và Quân khu Trị - Thiên trong quá trình thực hiện chiến dịch. Trên các hướng chiến dịch, Bộ Tư lệnh Quân khu và Quân đoàn 2 tổ chức các sở chỉ huy. Quân khu Trị - Thiên tổ chức hai sở chỉ huy: Sở chỉ huy cơ bản và Sở chỉ huy tiền phương. Sở chỉ huy cơ bản đóng ở Cốc Ba Bó gồm các đồng chí Hồ Tú Nam, Dương Bá Nuôi, Trần Văn Ân và một số đồng chí đại diện địa phương như Nguyễn Vạn - Khu ủy viên, Trưởng ban Dân vận, Nguyễn Trung Chính - Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, Trịnh Đình Phung - Tỉnh đội phó. Sở chỉ huy cơ bản trực tiếp chỉ đạo, chỉ huy cánh bắc Huế và Quảng Trị. Sở chỉ huy tiền phương có các đồng chí; Lê Tự Đồng - Bí thư Đảng ủy Mặt trận, Tư lệnh Quân khu; Nguyễn Văn Thanh (Thanh Quảng) - Phó Chỉ huy; Nguyễn Chi - Tham mưu trưởng; Nguyễn Mạnh Thoa - Tham mưu phó. Sở chỉ huy tiền phương có nhiệm vụ chỉ huy toàn bộ mặt trận nam Thừa Thiên (kể cả khu vực đường 12, thành phố Huế) và trực tiếp hiệp đồng với Quân đoàn 2.

Quân đoàn 2 đặt Sở chỉ huy cơ bản (có các đồng chí Nguyễn Hữu An - Tư lệnh quân đoàn, đồng chí Lê Linh - Chính ủy) ở Động Truồi, nam Thừa Thiên).

Nhằm đánh lạc hướng phán đoán của địch, tạo điều kiện thuận lợi cho các lực lượng tham gia chiến dịch cơ động vào vị trí tập kết an toàn, bí mật, tại Quảng Trị, Quân khu Trị - Thiên tổ chức cuộc diễn tập tiến công địch ở Thanh Hội, Cửa Việt, sua đó là Ái Tử, Tích Tường, Như Lệ. Cuộc diễn tập khiến địch lúng túng trong việc xác định hướng tiến công chủ yếu của ta. Trong khi đó, Trung đoàn 9 thuộc Sư đoàn 304 bí mật rút khỏi Quảng Trị, về đứng chân rong đội hình Sư đoàn làm nhiệm vụ lực lượng dự bị của quân đoàn; Trung đoàn 46 tăng cường cho Trị - Thiên thay cho Sư đoàn 325 ở hướng Quảng Trị, cũng vào chiếm lĩnh vị trí an toàn.


(1) Trung đoàn 3 - Sư đoàn 324 đang cùng Sư đoàn 304 làm nhiệm vụ ở Thượng Đức, Trung đoàn 95 - Sư đoàn 325 đang ở Tây Nguyên.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM