Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 10 Tháng Tư, 2020, 07:16:45 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8  (Đọc 90454 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9404


Lính của PTL


« Trả lời #20 vào lúc: 28 Tháng Hai, 2011, 06:53:48 PM »

Hòa chung với khí thế tiến công địch của các lực lượng vũ trang trên toàn miền, những tháng cuối năm 1973, trên địa bàn Khu 8, Quân khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu khẩn trương bổ sung quân số, vũ khí đạn dược cho các lực lượng vũ trang; thực hiện các kế hoạch phản công, tiến công địch nếu khắp các tỉnh, đặc biệt tập trung ngăn chặn và đẩy lùi các mũi lấn chiếm, bình định của địch ở trọng điểm nam - bắc đường số 4 và Vùng 4 Kiến Tường, Vùng 20-7, quyết tâm đánh thắng một số trận hình thành cho được thế phối hợp giữa các chiến trường trên cả ba vùng tạo ra thế căng kéo, kìm chân địch.

Thực hiện ý định đó, quân khu quyết định thành lập các bộ chỉ huy tiền phương J10 và J25(1) chỉ huy các lực lượng vũ trang đánh địch. Đầu tháng 6-1973, địch tập trung lực lượng khoảng 3 trung đoàn và 1 chi đoàn M 113 tấn công vào căn cứ J10 tại Long Tiên, phối hợp với cuộc tiến công này, địch sử dụng đồng thời các tiểu đoàn bảo an 403, 465, 466 và Sư đoàn 7 quân đội Sài Gòn mở rộng lấn chiếm vào đông, tây lộ Ba Dừa. Đối phó với âm mưu và thủ đoạn của địch, Bộ Chỉ huy J10 sử dụng Đại đội bảo vệ 419 và Đại đội trinh sát 410 phối hợp với du kích địa phương bám đánh, ghìm chân địch tại chỗ, đồng thời bí mật sử dụng Tiểu đoàn đặc công 269 được tăng cường thêm đại đội biệt động thị trấn Cai Lậy bất ngờ tiến công thị trấn Cai Lậy, tập kích các cụm pháo binh, đại đội bảo an địch; các đại đội công binh đánh phá trên đường số 4, đông tây Cai Lậy. Bị ta uy hiếp tứ phía sau buộc địch phải co kéo lực lượng về phòng giữ thị xã, thị trấn và các đường giao thông. Chớp thời cơ, Bộ Chỉ huy J10 lập tức ra lệnh cho hai Trung đoàn 1 và 24 đồng loạt phản công đánh chiếm các đồn bốt của địch dọc sông Ba Rài, đường 28, các xã Phú Phong, Tam Bình, Hội Sơn, Mỹ Long, đường Thầy Thanh, Bà Ụt tạo điều kiện khôi phục và mở rộng những vùng đã mất. Liên tiếp trong tháng 7-1973, các đơn vị thuộc tiền phương quân khu đã đánh thiệt hại nặng Trung đoàn 14 - Sư đoàn 9, Trung đoàn 15 - Sư đoàn 9, 2 chi đoàn thiết giáp M-113 quân đội Sài Gòn giữ vững Vùng 4 Kiến Tường của ta.

Tại mảng 4 Cai Lậy, lực lượng vũ trang ta cũng đánh thiệt hại nặng Trung đoàn 12 - Sư đoàn 7 địch, mở lại hàng loạt các vùng giải phóng ở bắc đường 4 (Mỹ Tho), Hậu Kiến Văn (Cao Lãnh), Thường Thới Hậu (Hồng Ngự), bắc Giồng Trôm và Mỏ Cày (Bến Tre), thông được 8 km kênh Nguyễn Văn Tiếp từ Thiên Hội đến Bang Dầy, tiếp tục mở thêm các lõm ở Mỹ Thành nối từ kênh Nguyễn Văn Tiếp với bắc Cai Lậy. Ngày 6-8-1973, một bộ phận thuộc Trung đoàn 3 (Trung đoàn 88), Trung đoàn 2 (Trung đoàn 320) tiến công diệt và bao vây bức rút 5 đồn địch dọc kênh Nguyễn Văn Tiếp. Ngày 10-8-1973, tiếp tục tiến công vào hệ Bang Dầy diệt cụm đồn Chà Là, đánh thiệt hại nặng Trung đoàn 12 - Sư đoàn 7, Trung đoàn 14 - Sư đoàn 9 quân đội Sài Gòn, phá hủy 10 xe thiết giáp M 113. Ngày 15-8-1973, Trung đoàn 2 bộ đội chủ lực quân khu tiến công bức rút 3 đồn kênh 10, vàm Chà Là, Thạch Phú, diệt gọn 1 đại đội thuộc Tiểu đoàn bảo an địch ở bắc đường 4, bức rút đồn kênh Xáng Ngang (huyện Cái Bè), tiêu diệt đồn Hà Khăng. Cùng ngày, lực lượng vũ trang tỉnh Kiến Phong cũng tiến công tiêu diệt được 4 đồn, 2 chốt, giải phóng kênh 3 Mỹ Điền dài 17 km.

Cùng thời gian này, tại vùng 20-7, Trung đoàn 1 bộ đội chủ lực quân khu diệt đồn Xuân Kiểm, chặn đánh, tiêu hao kìm chân Trung đoàn 12 - Sư đoàn 7 địch tạo điều kiện cho Tiểu đoàn 4 - trung đoàn 24 quân khu tiêu diệt đồn Ông Khậm, bức rút 4 đôn khác, giải phóng vùng phía đông và tây sông Ba Rài.

Phát huy những thắng lợi, trong các tháng 9, 10, 11-1973, quân khu chủ trương tiếp tục đẩy mạnh phản công và tiến công địch. Kết quả ta đã tiêu diệt, bức rút hàng trăm đồn bốt địch, khôi phục lại các vùng giải phóng Kiến Văn (Kiến Phong), giải phóng xã Tân Phú (mảng 3), phần lớn các xã thuộc Vùng 20-7. Ở Mỹ Tho, đến cuối năm 1973, lực lượng vũ trang ta đã tiêu diệt trên 8.000 tên địch, bức rút và diệt gần 100 đồn, giải phóng 10 xã và 50 ấp với khoảng 50 vạn dân, đưa 7.000 gia đình từ vùng địch về vùng ta, xây dựng được nhiều lõm du kích ở các vùng Gò Công, Chợ Gạo, vành đai Bình Đức, Củ Chi và nam bắc Cái Bè. Lực lượng du kích trong tỉnh phát triển thêm được hơn 1.000 người, đưa tổng số du kích toàn tỉnh lên 3.600 người, phát triển 1.800 dân quân, bổ sung cho bộ đội các huyện 530 tân binh, bộ đội tỉnh 270 tân binh, đạo tạo hơn 500 cán bộ quân sự cấp tỉnh, huyện.


(1) Bộ Chỉ huy tiền phương J10 phụ trách khu vực nam, bắc đường 4 (Mỹ Tho) do các đồng chí Võ Văn Thạnh (Ba Thắng) làm Tư lệnh, đồng chí Phan Lương Trực làm Tham mưu trưởng, đồng chí Tám Điện làm Chủ nhiệm chính trị. Lực lượng của J10 gồm có: 2 trung đoàn 1 và 24, Tiểu đoàn 269 đặc công, Đại đội 318 đặc công nước, Tiểu đoàn 309 pháo binh, Tiểu đoàn trinh sát đặc công, Bộ Chỉ huy tiền phương J25 phụ trách khu vực mảng 4 bắc Cai Lậy, bắc Cái Bè, Vùng 4 Kiến Tường do các đồng chí Huỳnh Công Thân làm Tư lệnh, đồng chí Bảy Nam lam Tham mưu trưởng, đồng chí Phu làm Chủ nhiệm chính trị. Lực lượng của J25 gồm có: Trung đoàn 2 (Trung đoàn 320), Trung đoàn 2 (Trung đoàn 88), Tiểu đoàn 283 đặc công, Đại đội 342 công binh.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9404


Lính của PTL


« Trả lời #21 vào lúc: 28 Tháng Hai, 2011, 06:55:28 PM »

Như vậy, liên tiếp từ tháng 6 đến hết tháng 12-1973, sau 6 tháng phản công và tiến công địch, lực lượng vũ trang ba thứ quân Khu 8 - Trung Nam Bộ đã khôi phục và mở rộng được các Vùng quan trọng ở Nam - bắc đường 4, đông - tây sông Bà Rài - Cai Lậy Nam, mảng 3 Cai Lậy Bắc - Mỹ Tho, vùng 4 Kiến Tường, khu vực dọc theo kênh Nguyễn Văn Tiếp A và B, kênh 3 Mỹ Điền, Mỹ An, Kiến Phong, vùng từ Định Thủy, Minh Đức, Tân Trung, Bình Khánh lên gần sát thị trấn Mỏ Cày - Bến Tre; đánh thiệt hai nặng nhiều đại đội, tiểu đoàn của Sư đoàn 7 và Sư đoàn 9, lực lượng bảo an quân đội Sài Gòn. Phong trào đấu tranh của quần chúng có nhiều chuyển biến mới, công tác xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, phong trào chiến tranh du kích ở cơ sở không ngừng được phát triển và chuyển lên thế tiến công địch. Tuy nhiên, ta vẫn chưa hoàn toàn giành lại được các vùng địch lấn chiếm, chưa khôi phục được thế trận như trước ngày ký Hiệp định Pari. Hơn nữa, trong tháng 12-1973 và những tháng đầu của năm 1974, địch vẫn tiếp tục đẩy mạnh càn quét, lấn chiếm vùng giải phóng của ta, gây cho ta nhiều thiệt hại ở khu vực nam - bắc đường 4 Mỹ Tho, ba huyện phía nam tỉnh Kiến Phong. Vùng 4, Vùng 8 Kiến Tường, tái lập được 29 đồn, dồn dân trở lại vùng chúng chiếm đóng.

Sau Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 21, từ ngày 6 đến ngày 18-9-1973, Trung ương Cục họp Hội nghị lần thứ 12 để quán triệt tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ 21 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Hội nghị đã nghiêm khắc kiểm điểm lại công tác lãnh đạo trong thời gian từ Hội nghị Trung ương Cục lần thứ 11 đến tháng 9-1973 và chỉ rõ: “Bên cạnh mặt ưu điểm, ta có khuyết điểm là khi chuẩn bị kế hoạch thời cơ, tuy có nhận định chắc chắn địch sẽ lật lọng, phá hoại ngừng bắn, nhưng chưa dự kiến đúng mức địch phản kích đâm kéo dài và sau đó khi địch đẩy mạnh hành quân lấn chiếm nhiều nơi, Trung ương Cục thiếu hướng dẫn kịp thời cho địa phương chủ động, kiên quyết và linh hoạt ứng phó với tình huống này”(1). Đồng thời, hội nghị chỉ ra những nhiệm vụ cụ thể của B2 trong thời gian tới để nhanh chóng khắc phục những yếu kiểm, khuyết điểm, đưa phong trào cách mạng tiếp tục tiến lên, trong đó chủ yếu tập trung vào các mặt công tác quân sự, công tác ở vùng nông thôn phía trước, đô thị, công tác xây dựng vùng giải phóng và căn cứ địa cách mạng, công tác tư tưởng và tổ chức.

Tiếp theo Hội nghị Trung ương Cục, nhằm tạo sự thống nhất cao trong nhận thức và hành động theo tinh thần của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 21 và Hội nghị Trung ương Cục lần thứ 12, tháng 9-1973, Bộ Tư lệnh Miền triệu tập Hội nghị quân chính toàn miền với sự tham dự của đại biểu đại diện cho các quân khu, các tỉnh; các sư đoàn, trung đoàn trên toàn địa bàn thuộc phạm vi Trung ương Cục phụ trách. Tại hội nghị này, nhiều đại biểu là cán bộ lãnh đạo, chỉ huy các cấp, trên cơ sở phân tích diễn biến tình hình cụ thể, đã cho rằng thực tế chiến trường đang diễn biến theo khả năng thứ hai chứ không phải khả năng thứ nhất như nhận định của Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 21 - tức là ta buộc phải tiếp tục đẩy mạnh tiến công địch cả về quân sự, chính trị, ngoại gao để giải quyết vấn đề miền Nam. Đây mới là khả năng hiện thực nhất. Vì vậy, Hội nghị quân chính của Bộ Tư lệnh Miền chủ trương kiên quyết đẩy mạnh phản công và tiến công địch, khôi phục lại những vùng địch chiếm đóng, đồng thời ra sức xây dựng căn cứ địa vững chắc và tăng cường lực lượng ta về mọi mặt.

Quán triệt tinh thần của các hội nghị trên, ngày 15-10-1973, Bộ Tư lệnh Miền lệnh cho các lực lượng vũ trang B2 được phép trừng trị các hoạt động lấn chiếm của quân đội và chính quyền Sài Gòn “bất kỳ ở đâu, bằng các hình thức và lực lượng thích đáng”.

Thực hiện chủ trương của Trung ương Cục và mệnh lệnh của bộ Tư lệnh Miền, bước vào mùa khô 1973-19734, Bộ Tư lệnh Miền xác định tiếp tục tập trung mọi nỗ lực đẩy mạnh đánh phá bình định lấn chiếm của địch, đặc biệt là vùng đồng bằng sông Cửu Long, phá hậu phương trực tiếp của địch; đánh tiêu hao, tiêu diệt địch trên các địa bàn rừng núi, mở rộng hành lang vận chuyển và tiếp nhận nguồn chi viện từ hậu phương lớn miền Bắc vào, tổ chức tiếp nhận xuống các chiến trường; tạo bàn đạp, từng bước tiến công và hoàn chỉnh vùng giải phóng miền Đông Nam Bộ, đưa lực lượng vũ trang áp sát xung quanh các đô thị lớn, đặc biệt là Sài Gòn, nhằm phân tán địch và trực tiếp hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chống bình định ở Khu 8 và Khu 9; đồng thời, đẩy mạnh tiến công mở rộng vùng ta, thu hẹp vùng địch; kết hơp chặt chẽ giữa tiến công với phản công, giữ vững vùng giải phóng, tạo điều kiện để các đoàn hậu cần miền thu mua, tích trữ lương thực; ra sức xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân, nâng cao chất lượng bộ đội; tích cực chuẩn bị lực lượng, chuẩn bị thế trận, chuẩn bị dữ trữ chiến lược về vũ khí, lương thực thực phẩm…

Theo đó, hai Sư đoàn 7 và 9 bộ đội chủ lực miền cùng các đoàn biệt động, đặc công được Bộ Tư lệnh Miền bố trí áp sát, xung quanh Sài Gòn. Đoàn đặc công 115 bố trí ở hướng bắc Sài Gòn; Đoàn đặc công 116 (Long Thành), Đoàn 10 (Rừng Sác) bố trí ở hướng đông Sài Gòn; Đoàn 117 nằm phía tây Sài Gòn; Đoàn 113 ở phía Biên Hòa; trong thành phố có Đoàn biệt động nội thành 316. Lực lượng vũ trang Quân khu 7 được giao nhiệm vụ ghìm chân các sư đoàn 5, 18, 25 quân đội Sài Gòn, tạo điều kiện thuận lợi cho bộ đội, du kích và nhân dân các địa phương đánh phá địch bình định ở các xã, ấp.


(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.34r, tr. 485 - 486.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9404


Lính của PTL


« Trả lời #22 vào lúc: 28 Tháng Hai, 2011, 07:42:32 PM »

Trên địa bàn miền Tây Nam Bộ, từ ngày 17-12-1973 đến hết tháng 1-1974, Trung đoàn 10, Trung đoàn 3 và Trung đoàn 1 phối hợp với bộ đội địa phương tỉnh và hai huyện Thạnh Trị, Châu Thành tiến công các đồn bốt ở phía tây - nam Chi khu Thạnh Trị; Tiểu đoàn 3 (Trung đoàn 10) diệt đồn Đường Tắt và 1 đại đội bảo an địch, đánh thiệt hại nặng đồn Chùa Miêu ở xã Ninh Quới (huyện Phước Long) và đẩy lùi hai tiểu đoàn bảo an quân đội Sài Gòn đến ứng cứu; Tiểu đoàn 7 (Trung đoàn 10) diệt đồn tề xã và yếu khu Kha Na Rộn, giải phóng xã Mỹ Quới (huyện Thạnh Trị); Đại đội trinh sát thuộc Trung đoàn 10 diệt các đồn Xóm Tre, Cau Hột Bé (xã Xà Phiên, huyện Long Mỹ) loại khỏi vòng chiến đấu 1 đại đội bảo an địch. Bộ phận còn lại của Trung đoàn 10 chặn đánh Tiểu đoàn 3 (thuộc Sư đoàn 9 quân đội Sài Gòn) và 1 chi đoàn xe M113 định tái chiếm các vùng đã mất, bao vây, buộc địch phải rút khỏi căn cứ Dì Oán, giải phóng ấp thuộc xã Vĩnh Quới với 4.000 dân. Ở phía đông - bắc Chi khu Thạnh Trị, Trung đoàn 1 bao vây buộc địch phải rút khỏi hai đồn ở Vĩnh Tân và Tân Long, tiếp tục gỡ 8 đồn thuộc xã Long Phú, huyện Long Mỹ. Lực lượng vũ trang tỉnh Cần Thơ diệt 9 đồn, riêng xã Vĩnh Tưởng chỉ với lực lượng nhỏ 20 đồn (9 du kích xã, 9 du kích ấp, 3 an ninh vũ trang) diệt đồn Bàu Kiến, chặn quân viện, sau đó giỡ tiếp hai đồn Kênh Hãng và Miếu Trắng). Ở Giồng Riềng (Rạch Giá), Trung đoàn 20 tiêu diệt gọn Tiểu đoàn 3 (Trung đoàn 31, Sư đoàn 21 quân đội Sài Gòn), diệt 5 đồn và giải phóng xã Ngọc Hòa. Tính đến cuối tháng 1-1974, lực lượng vũ trang toàn tỉnh Rạch Giá đã gỡ được 81 đồn, giải phóng 6 xã với 160.000 dân.

Cùng thời gian này, lực lượng vũ trang của Quân khu 9 đã đánh bại hoàn toàn cuộc hành quân lớn nhất của 75 tiểu đoàn quân ngụy ở Chương Thiện, bảo vệ vững chắc căn ứ U Minh. Thắng lợi này của ta đã đập tan ý đồ lấn chiếm Chương Thiện và tiêu diệt căn cứ U Minh của địch.

Ở miền Đông Nam Bộ, từ ngày 3 đến ngày 15-11-1973, Bộ Tư lệnh miền và Khu ủy, Quân khu miền Đông Nam Bộ quyết định mở chiến dịch Bù Bông - Kiến Đức (Phước Long), Đức Lập (Quảng Đức) nhằm xây dựng các địa bàn đứng chân, khai thông hành lang tuyến vận chuyển chiến lược 559 phía đông Trường Sơn từ Tây Nguyên xuống Đông Nam Bộ - địa bàn thường xuyên bị địch uy hiếp, đánh phá quyết liệt. Lực lượng tham gia chiến dịch là hai trung đoàn 271 và 429 dưới sự chỉ huy trực tiếp của các đồng chí Thiếu tướng Hoàng Cầm, Trần Độ, Nguyễn Đức Trúng, Đoàn phó Đoàn 27. Bù Bông là một cứ điểm lớn cấp chiến đoàn của địch, được bảo vệ bởi hệ thống công sự hầm ngầm vững chắc. Đêm ngày 3-11-1973, Đoàn 429 đặc công miền do đồng chí Nguyễn Xuân Tĩnh chỉ huy đã triển khai chiếm lĩnh xong các mục tiêu theo kế hoạch. Đúng 1 giờ 40 phút rạng sáng ngày 4-11-1973, đơn vị bất ngờ nổ súng đánh tiêu diệt lần lượt các mục tiêu trên mặt đất rồi chuyển giao địa bàn cho Trung đoàn 205 tiếp tục diệt và phá hủy hệ thống lô cốt và hầm ngầm của địch trong cứ điểm Bù Bông. Sau đó, hai tiểu đoàn 13 và 14 của Trung đoàn đặc công 429 tiếp tục bất ngờ tập kích tiêu diệt toàn bộ Ban chỉ huy Chiến đoàn 52 và Sở Chỉ huy Chi khu Kiến Đức. Kết quả ta tiêu diệt 700 tên địch, bắt sống 224 tên khác, đồng thời đánh thiệt hại nặng Sư đoàn 22 quân đội Sài Gòn đến ứng cứu. Cùng ngày, chủ lực miền tiến công tiêu diệt Chi khu Kiến Đức; ngày 5-11-1973, tiếp tục giải phóng Đắc Soong, cắt đứt hoàn toàn giao thông của địch từ Gia Nghĩa đi Đức Lập và Quân khu 2. Như vậy, ta giải phóng một vùng rộng lớn từ ngã ba Đắc Soong (Quảng Đức) nối đến Bù Gia Mập, Bù Đốp, Lộc Ninh, nối thông tuyến chiến lược 559 với tuyến chiến dịch của các đoàn hậu cần miền, trực tiếp góp phần tạo thế, tạo lực cho Nam Bộ, cực Nam Trung Bộ và nam Tây Nguyên.

Ở hướng nam Sài Gòn, phối hợp với chiến dịch Bù Bông - Kiến Đức, đêm ngày 2 sáng ngày 3-12-1973, Đội 5 thuộc Trung đoàn 10 đặc công Rừng Sác do đồng chí Hà Quang Vóc, Nguyễn Thế Hồng chỉ huy, đánh vào kho xăng Nhà Bè, phá hủy 70 bồn chứa 140 triệu lít xăng, 12 bồn butagaz, 1 tầu dầu 12.000 tấn, 1 cơ sở trộn nhớt, 1 cơ sở lọc dầu, 1 kho lương thực, 1 khu nhà lính, góp phần quan trọng làm suy giảm nguồn dự trữ chiến tranh của chính quyền và quân đội Sài Gòn.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9404


Lính của PTL


« Trả lời #23 vào lúc: 28 Tháng Hai, 2011, 07:45:35 PM »

Trước những hoạt động mạnh mẽ của ta, địch buộc phải từng bước điều chỉnh lại kế hoạch Lý Thường Kiệt, từ “tái thiết phát triển 1973” sang “an ninh phát triển 1974”. Mục tiêu chính của sự điều chỉnh này là nhằm đối phó với các cuộc tiến công và phản công của Quân đội giải phóng, củng cố những vùng đang kiểm soát, tiếp tục lấn chiếm các khu vực tranh chấp. Để củng cố các vùng đang kiểm soát, chính quyền và quân đội Sài Gòn chủ trương cải tiến việc xây dựng lực lượng, đẩy mạnh việc tăng quân số cơ động cho chủ lực và quân dự bị, sử dụng triệt để bộ máy chiến tranh ở các xã vào công cuộc bình định tại địa bàn cơ sở. Đồng thời, chúng sử dụng lực lượng dân vệ, bảo an đánh phá vùng tranh chấp. Bằng những thủ đoạn và biện pháp quyết liệt, trong khoảng thời gian ngắn, địch đã phát triển được 1,5 triệu phòng vệ dân sự, đưa hơn 20% sĩ quan của các đơn vị chủ lực tăng cường cho bộ máy kìm kẹp ở cơ sở xã, ấp(1). Xã, ấp được chính quyền Sài Gòn xác định là hạt nhân của cuộc “Chiến tranh diện địa” - tức cuộc chiến lấn đất, giành dân, tiến hành “bình định”. Trong hoạt động lấn chiếm, đã có lúc địch sử dụng lực lượng tương đương hoặc lớn hơn cấp sư đoàn, mở các cuộc tiến công vào những nơi ta sơ hở, kết hợp với việc ủi phá địa hình, lập đồn bốt, di dân, lập dinh điền. Các hoạt động này, một mặt nhằm cải thiện thế trận; mặt khác, còn để giải quyết những khó khăn về kinh tế, chính trị. Ngày 23-8-1973, đích thân tổng thống Nguyễn Văn Thiệu xuống Cần Thơ giao nhiệm vụ cho Vùng 4 chiến thuật, bên cạnh việc đẩy mạnh bình định lấn chiếm phải đặc biệt chú ý nắm lúa gạo để cứu nguy cho kinh tế của Sài Gòn, vì Mỹ đã giảm viện trợ tài chính cho Nam Việt Nam chỉ còn 300 triệu đôla (tài khóa 1974-1975). Thực hiện chủ trương đó, địch ráo riết thực hiện kế hoạch Trần Khánh Dư kết hợp cả hai mục tiêu của bình định lấn chiếm vừa cướp vơ vét lúa gạo. Chúng sử dụng Sư đoàn 9 quân đội Sài Gòn hỗ trợ cho cướp lúa ở vùng Bạc Liêu - Ba Xuyên, còn Sư đoàn 21 chuyên làm nhiệm vụ bình định các tỉnh Chương Thiện, An Xuyên, Kiên Giang.

Trước những âm mưu, thủ đoạn mới của địch, trong khi cơ bản giữ vững phương hướng hoạt động như kế hoạch quân sự mùa khô 1973-1974, Bộ Tư lệnh miền kịp thời chỉ đạo các đơn vị, địa phương tập trung lực lượng, vật chất vào nhiệm vụ chống bình định, lấn chiếm, giải phóng những vùng đông dân, nhiều của cải nhất của đồng bằng sông Cửu Long. Mặc dù đã có tuyên bố ngày 15-10-1973(2) nhưng Bộ Tư lệnh Miền vẫn chỉ đạo các địa phương vừa đánh vừa thăm dò, kịp thời phát hiện ý đồ và khả năng của địch, từng bước nâng mức tiến công lên cao hơn, đều hơn và mạnh hơn.

Cho tới mùa khô 1973-1974, chiến trường Tây Nam bộ vẫn còn gặp nhiều khó khăn sau một quá trình tác chiến liên tục trong hai năm 1972-1973; địa bàn lại cách khá xa các cơ quan đầu não, đường hành lang chi viện chưa ổn định. Dù vậy, chấp hành mệnh lệnh của Bộ Tư lệnh Miền, Quân khu 9 chỉ đạo các trung đoàn 1 và 20 chủ lực khu kết hợp chặt chẽ với bộ đội địa phương và dân quân, du kích đẩy mạnh tiến công và phản công, đánh bại các cuộc phản kích của địch, mở rộng vùng giải phóng vùng ruột 4 tỉnh Hậu Giang (Bạc Liêu, Cần Thơ, Sóc Trăng, Rạch Giá). Kết quả là ta đã gỡ được 324 căn cứ, đồn bốt địch, giải phóng 156 ấp. Có những mảng, ta giải phóng liên hoàn từ 5 đến 10 ấp hoặc vài chục ấp, tổng diện tích hàng nghìn km2, bao gồm nhiều cánh đồng rộng lớn và  khoảng 110.000 dân, nối thông hành lang căn cứ giữa vùng U Minh Thượng với vùng U Minh Hạ và từ vùng U Minh đi các vùng trọng điểm khác(3).

Thất bại liên tiếp trên chiến trường Quân khu 9, một mặt, địch tìm cách chuyển dần sang thế giằng co với ta ở đây và mặt khác, chúng lại tập trung lực lượng bình định, lấn chiếm các vùng ở địa bàn Quân khu 8. Tại địa bàn này, cũng như ở Quân khu 9, ta gặp rất nhiều khó khăn do quân số và trang bị không được bổ sung kịp thời. Tuy vận, Quân khu 8 vẫn kiên quyết sử dụng hai trung đoàn chủ lực của khu là 1 và 320 liên tiếp tiến công địch. Kết quả là ta giữ được các vùng mới giải phóng những tháng cuối năm 1973, tiêu diệt và bức rút 76 đồn bốt, giải phóng thêm 16 ấp với 8.000 dân.


(1) Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - Thắng lợi và bài học, Sđd, tr. 316.
(2) Ngày 15-10-1973, Bộ Tư lệnh Miền ra lệnh cho các quân khu và các địa phương: “Kiên quyết đánh trả những hành động chiến tranh của chính quyền Sài Gòn; kiên quyết đánh trả bất cứ ở đâu, bằng các hình thức và lực lượng thích đáng”.
(3) Báo cáo sơ kết tình hình đợt 1 mùa khô 1974 (20-12-1973 - 20-3-1974), lưu tại Phòng Khoa học công nghệ - môi trường Quân khu 9, số 45/1974/TWC.
« Sửa lần cuối: 28 Tháng Hai, 2011, 07:53:54 PM gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9404


Lính của PTL


« Trả lời #24 vào lúc: 28 Tháng Hai, 2011, 07:48:11 PM »

Ở miền Đông Nam Bộ, Bộ Tư lệnh Miền tiếp tục sử dụng các sư đoàn chủ lực miền (Sư đoàn 7 và Sư đoàn 9) duy trì thế áp sát vùng trung tuyến như trước, buộc phần lớn chủ lực Quân đoàn 3 Sài Gòn phải căng lực lượng làm nhiệm vụ giữ phòng tuyến cơ bản (Sư đoàn 25 trên hướng Tây Ninh, Sư đoàn 5 ở Lai Khê - Bến Cát, các bộ phận Sư đoàn 18 phòng giữ hướng đông -bắc trên trục đường 16 Tân Uyên đi Phú Giáo). Bộ phận còn lại của Quân đoàn 3, gồm một phần lực lượng của Sư đoàn 18 và một số chiến đoàn đặc nhiệm mới lập, được địch sử dụng làm lực lượng cơ động.

Việc ta phân tán, ghìm chặt được đại bộ phận lực lượng Quân đoàn 3 địch vào làm nhiệm vụ phòng giữ không chỉ ngăn cản chúng tiếp tục thực hiện kế hoạch tiến công lấn chiếm vùng căn cứ đầu não của ta ở miền Đông Nam Bộ, mà còn tạo thêm điều kiện thuận lợi cho Quân khu 7 và Quân khu 6 đưa lực lượng ra phía trước hoạt động trên các địa bàn vùng tuyển tuyến, các địa bàn giáp ranh và ven đô, hỗ trợ cho chiến tranh du kích phát triển, trực tiếp chặn đứng các cuộc hành quân lấn chiếm của quân đội Sài Gòn và ngăn chặn các hoạt động di dân lập ấp, lập dinh điền, ủi phá địa hình, lập tuyến của địch. Những hoạt động tiến công và phản công của ta trên những địa bàn này khiến cho địch phải bị động quay sang đối phó phòng giữ đất đai và vì vậy, các cuộc hành quân lấn chiếm vùng tranh chấp, vùng giải phóng cũng như những cố gắng hòng xóa các vùng lõm căn cứ xung quanh Sài Gòn của địch bị chững lại, bì đẩy lùi.

Nhìn chung, trong đợt 1 mùa khô 1973-1974 (từ 17-12-1973 đến hết tháng 1-1974), lực lượng vũ trang ta trên địa bàn Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ đã đẩy mạnh hoạt động phản công, tiến công, chặn đứng và đẩy lùi các cuộc tiến công lấn chiếm của quân đội Sài Gòn, mở rộng và giữ vững các vùng giải phóng, các căn cứ địa, căn cứ lõm của ta. Đòn tiến công quân sự của chủ lực cùng phong trào chiến tranh du kích tạo điều kiện cho công tác tuyên truyền vận động quần chúng, gây dựng các cơ sở, thu mua tích trữ lương thực của các địa phương ngày càng phát triển.

Vừa đẩy mạnh tiến công quân sự, chống địch bình định, lấn chiếm, quân và dân các địa phương vừa khẩn trương tăng cường lực lượng và thế trận. Dự thảo kế hoạch quân sự năm 1973 của Trung ương Cục miền Nam chỉ rõ: “Trước mắt, trong năm 1973, lực lượng vũ trang B2 tập trung vào bốn công tác lớn: xây dựng lực lượng vũ trang, huấn luyện cán bộ và bộ đội, bảo đảm hậu cần và xây dựng hậu phương quân đội, xây dựng khu giải phóng và căn cứ địa miền Đông Nam Bộ”(1).

Theo phương hướng đó, ngay từ cuối tháng 1-1973, Bộ Tư lệnh Miền quyết định chuyển sở chỉ huy từ đất Campuchia về sóc Tà Thiết tại xã Lộc Thành, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước(2) và chỉ thị cho bộ tư lệnh các quân khu cũng di chuyển sở chỉ huy và các cơ sở hậu cần của mình về nước. Thực hiện chủ trương của Bộ Tư lệnh Miền, Bộ Tư lệnh Quân khu 7 trở lại Chiến khu Đ. Bộ Tư lệnh Quân khu Sài Gòn - Gia Định về lại Hố Bò (Củ Chi) và Lộc Thuận (Trảng Bàng); Bộ Tư lệnh Quân khu đóng tại căn cứ Nam Sơn (phía nam đường 20, Bình Tuy); Bộ Tư lệnh Quân khu 9 đặt cơ quan chỉ huy ở vùng Long Mỹ (Chương Thiện, Cần Thơ); riêng Bộ Tư lệnh Quân khu 8 vẫn đứng chân ở Thavét (Campuchia) thêm một thời gian. Từ đây cho đến hết cuộc chiến tranh, Lộc Ninh là nơi Bộ chỉ huy Miền và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đứng chân, nơi đón tiếp các phái đoàn Ban Liên hiệp quân sự bốn bên, phái đoàn Ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát.

Cùng với việc ổn định căn cứ đầu não, tổ chức triển khai có hiệu quả của Ban Liên hiệp quân sự các cấp, theo sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương và Trung ương Cục, Bộ Tư lệnh Miền cũng đồng thời chú trọng tới công tác xây dựng lực lượng và thế trận, vừa bảo đảm đáp ứng nhu cầu trước mắt, vừa tạo nguồn dự trữ cho những nhiệm vụ chiến lược lâu dài.

Sau khi di chuyển toàn bộ lực lượng hậu cần từ Campuchia về nội địa, các cơ quan hậu cần miền khẩn trương chấn chỉnh lực lượng, củng cố tổ chức: thành lập thêm các phòng quản lý xăng xe, phòng kiến thiết cơ bản, các trạm sửa chữa xe, xưởng quân giới, các phân đội, kho trạm bảo đảm xăng dầu, phát triển thêm một trung đoàn vận tải ôtô để nâng cao khả năng cơ động trong vận chuyển chi viện.


(1) Dự thảo kế hoạch công tác quân sự năm 1973, lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.
(2) Cuối tháng 1 năm 1973, lực lượng công binh, thông tin đi trước đã hoàn thành xây dựng xong về cơ bản căn cứ mới. Đầu tháng 2 đến đầu tháng 3-1973, ba cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần và sở chỉ huy cơ bản lần lượt chuyển về Tà Thiết an toàn.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9404


Lính của PTL


« Trả lời #25 vào lúc: 28 Tháng Hai, 2011, 07:51:14 PM »

Việc xây dựng mạng đường nối giữa các vùng căn cứ, giữa các đoàn hậu cần khu vực và từ miền xuống các địa phương vừa bảo đảm cho chiến trường B2 tiếp nhận nguồn chi viện từ hậu phương lớn miền Bắc một cách thuận lợi với khối lượng lớn, tốc độ nhanh, kịp thời bổ sung cho lực lượng vũ trang miền và các quân khu; vừa tạo nguồn dự trữ chiến lược để đón bắt khi thời cơ đến; giúp cho việc cơ động lực lượng và vận chuyển vật chất phục vụ cho các chiến dịch hay đợt hoạt động của các lực lượng vũ trang ta là một trọng tâm chỉ đạo và tổ chức thực hiện của Bộ Tư lệnh Miền và Bộ tư lệnh các quân khu. Giữa năm 1973, Bộ Tư lệnh Miền thành lập Bộ Tư lệnh Công binh, điều động và tăng cường một số đơn vị công binh để tạo lực cho các đoàn hậu cần. Sau khi chiến dịch Bù Bông - Kiến Đức (từ ngày 5 đến 15-11-1973) thắng lợi, tuyến đường Hồ Chí Minh đông Trường Sơn được khai thông từ miền Bắc qua Khu 5, Tây Nguyên… Bộ Tư lệnh Miền chỉ đạo các cơ quan chức năng khẩn trương phát triển, nối dài tuyến đường từ Sêrêpok qua Bù Gia Mập tới Lộc Ninh và tỏa đi xuống các địa phương, hình thành mạng đường cơ giới liên hoàn.

Cùng với việc xây dựng, phát triển mạng đường, đồng thời, việc khai thông, xây dựng và củng cố vững chắc các hành lang nối từ Sở Chỉ huy Miền xuống các quân khu và giữa các quân khu với nhau cũng được xúc tiến khẩn trương. Đó là các tuyến hành lang từ bắc Tây Ninh uống Quân khu 8 và Quân khu 9; từ Lộc Ninh đi Bến Cát, Củ Chi; từ Chiến khu Đ nối sang Long Phước, Xuyên Mộc (Bà Rịa). Hành lang được khai thông đến đâu, đường vận chuyển cũng được xây dựng tới đó. Trong thời gian này (1973-1974), ba tuyến đường vận chuyển có ý nghĩa chiến lược được xây dựng, đó là tuyến đường vận chuyển dọc địa bàn phía đông từ Lộc Ninh, Bù Đốp xuống Đoàn hậu cần 814 nối với các quân khu 6, 7; tuyến đường vận chuyển dọc địa bàn phía tây từ Lộc Ninh qua Đoàn hậu cần 220 nối sang Đoàn 230 với xuống các quân khu 8, 9; tuyến đường vận chuyển dọc địa bàn phía bắc từ Lộc Ninh qua Đoàn hậu cần 220 xuống Đoàn 235 tới các vùng ven Sài Gòn. Riêng trên địa bàn miền Đông Nam Bộ, trong hai năm 1973, 1974, ta đã mở được 910 km đường ô tô và hàng trăm kilômét đường vận tải dành cho các phương tiện thô sợ. Do đó, từ căn cứ trung tâm Mã Đà (nơi đứng chân của Khu ủy và Quân khu ủy), ta có thể đi bằng ôtô về Phước Hòa, Phước Tiến, Bình Mỹ, Bình Cơ, Cây Gáo, Vĩnh An, ngoài ra, nhiều cầu ngầm đã được công binh xây dựng vượt qua sông Đồng Nai (đoạn Tà Lài, Vĩnh An). Thông tin liên lạc giữa miền Đông Nam Bộ với Trung ương Cục có thể theo đường vận chuyển Đoàn 814 từ Đồng Xoài, Bù Na về Phú Riềng qua Lộc Ninh; các đường giao liên từ Mã Đà về Biên Hòa, Bà Rịa - Long Khánh đều được mở thông.

Công tác tạo nguồn dự trữ vật chất cũng được Bộ Tư lệnh, Cục Hậu cần miền hết sức coi trọng và nỗ lực thực hiện bằng nhiều phương pháp sáng tạo. Bên cạnh việc chủ động tăng cường lực lượng bốc dỡ, cơ giới hóa các loại phương tiện vận chuyển, mở rộng các trại an dưỡng, bệnh viên, lập thêm các kho tàng, xưởng sửa chữa vũ khí đạn dược(1), Bộ Tư lệnh Miền cũng chỉ đạo tăng cường thu mua, tích trữ lương thực, thực phẩm, sẵn sàng đáp ứng cho những nhiệm vụ chiến lược lớn. Cửa khẩu thu mua lớn nhất của hậu cần miền được dời chuyển về Đoàn 230 (Tân Châu, Hồng Ngự) vì thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hóa từ miền Tây Nam Bộ qua Kôngpông Trạch (Campuchia) lên miền Đông Nam Bộ. Đồng thời, Đoàn 230 đã phối hợp với lực lượng vũ trang các Quân khu 8 và Quân khu 9 đẩy mạnh thu mua lương thực ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, đấu tranh có hiệu quả với âm mưu phong tỏa kinh tế và vơ vét lúa gạo của quân đội và chính quyền Sài Gòn.

Song song với việc đẩy mạnh thu mua lương thực, thực phẩm để tăng nguồn dự trữ; tăng cường năng lực tiếp nhận các nguồn vật chất chi viện từ hậu phương lớn miền Bắc vào, quân và dân các quân khu còn đẩy mạnh công tác sản xuất tự cấp, tự túc về lương thực, thực phẩm, dược phẩm, vũ khí, tổ chức rà phá bom, mìn, để mở rộng diện tích trống cấy, cung cấp giống cây trồng, vật nuôi và dụng cụ lao động giúp bà con nông dân ở những vùng giải phóng phát triển sản xuất. Ở miền Đông Nam Bộ, Khu ủy chỉ đạo Ban Kinh tài khu cử người sang Campuchia mua trâu, bò cấp cho nhân dân vùng căn cứ và vùng giải phóng; đẩy mạnh xây dựng các nông trường trồng lúa, bắp, mì ở Đồng Trường, Vĩnh An, Tà Lài, Bù Cháp, Lý Lịch, Hiếu Liêm, Cây Gáo, Mã Đà; hình thành các khu vực chuyên sản xuất ở suối Ổi, Ông Lình, Nước Vàng, Vàm Giá, Sình, Bà Đã; vận động đồng bào dân tộc Ch’ro và S’tiêng ở Bù Cháp, Lý Lịch, Tà Lài, bắc Vĩnh Long định canh, định cư. Nhờ đó, đến cuối năm 1973, nhân dân các vùng giải phóng không những đã tự túc được lương thực, thực phẩm mà còn đóng góp một phần để ủng hộ bộ đội, còn các đơn vị hậu cần khu gieo trồng được 6.000 ha cây lương thực và huy động được 8.000 tấn lương thực(2). Ở miền Tây Namn Bộ, Khu ủy và Quân khu ủy cũng chỉ đạo bộ đội ra sức giúp đỡ nhân dân dựng lại nhà cửa, ổn định cuộc sống. Vì vậy, vụ mùa năm 1973, nhân dân cày cấy được 807.681 ha (tăng 101.681 ha so với năm 1973), khôi phục 15.000 ha rẫy (khóm, khoai, rua quả và khôi phục 29.000 ha vườn, đóng góp được 48.000 tấn lúa nuôi quân. Lực lượng du kích các xã và ấp tăng thêm 4.5712 người, đồng thời 4.737 thanh niên khác hăng hái lên đường tham gia quân ngũ. Bên cạnh đó, các mặt y tế, giáo dục cũng được chú trọng phát triển, toàn khu có 40 huyện lập được trạm dân y, 13 huyện có y sĩ; 4/7 huyện thuộc vùng căn cứ có bác sĩ, 229 xã có 601 ấp có trạm y tế; năm học 1973-1974, vùng giải phóng miền Tây Nam Bộ tổ chức khai giảng 942 trường phổ thông với 58.261 học sinh(3).


(1) Mức vận chuyển cơ giới của các đoàn hậu cần miền đạt trên 80% lượng hàng hóa; hệ thống kho của Đoàn 770 ở Bù Gia Mập trở thành tổng kho lớn nhất toàn miền; tính đến cuối năm 1973, hậu cần miền đã tiếp nhận được 5.839 tấn đạn dược, xăng dầu, vật tư, kỹ thuật và tổng số gần 24.612 quân, dẫn theo Tổng cục hậu cần: Tổng kết công tác hậu cần chiến trường Nam Bộ - cực Nam Trung Bộ trong kháng chiến chống Mỹ, Hà Nội, 1986, tr. 546, 554.
(2) Dẫn theo Hội đồng chỉ đạo biên soạn Lịch sử Đảng bộ miền Đông Nam Bộ: Lịch sử Đảng bộ miền Đông Nam Bộ lãnh đạo kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945-1975), Sđd, tr. 488.
(3) Dẫn theo Ban Chỉ đạo biên tập truyền thống Tây Nam Bộ: Tây Nam Bộ 30 năm kháng chiến (1945-1975), 2000, tr. 716-717.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9404


Lính của PTL


« Trả lời #26 vào lúc: 28 Tháng Hai, 2011, 07:53:29 PM »

Với sự nỗ lực vượt bậc của quân và dân trên khắp chiến trường, cùng sự chi viện từ hậu phương miền Bắc cho tiền tuyến miền Nam, dự trữ vật chất bao gồm lương thực, thuốc men, vũ khí, thiết bị phương tiện kỹ thuật của ta trên chiến trường ngày càng tăng. Tính từ tháng 1-1973 đến tháng 11-1974, các đoàn hậu cần của miền đã tiếp nhận 37.000 tấn vật chất từ miền Bắc, trong đó có nhiều loại binh khí, kỹ thuật hiện đại, xe cơ giới; thu mua và tự sản xuất được 80.500 tấn vật chất (chủ yếu là lương thực, thực phẩm). Ngoài việc bảo đảm cho hoạt động trước mắt của các đồng chí hậu cần miền còn tích lũy được 28.000 tấn ở các khu vực trọng điểm chuẩn bị cho các kế hoạch chiến lược lớn của ta; hậu cần của các quân khu cũng dự trữ được hơn 3.000 tấn vũ khí đạn dược.

Trên lĩnh vực công tác xây dựng và tăng cường lực lượng, Bộ Chỉ huy Miền khẩn trương sắp xếp kiện toàn một số cơ quan trực thuộc Bộ Tư lệnh Miền theo hướng tinh gọn, bảo đảm hoạt động có hiệu quả và tăng cường lực lượng trực tiếp chiến đấu. Theo đó, Đoàn 315 A - cơ quan chuyên theo dõi các hoạt động của Ban Liên hiệp quân sự bốn bên và Phái đoàn quân sự của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền miền Nam Việt Nam thành Phòng Nghiên cứu thi hành Hiệp định Pari; Tỉnh đội căn cứ - tức Bộ Chỉ huy bảo vệ căn cứ miền chuyển thành Ban Căn cứ; sau đó, thành lập hàng loạt binh chủng như: Bộ Tư lệnh Thông tin (phiêu hiệu Đoàn 23, có 8 tiểu đoàn, 10 đại đội, 4 trung đội); Bộ Tư lệnh Công binh; Bộ Tư lệnh Đặc công, Bộ Tư lệnh Thiết giáp, Bộ Tư lệnh Phòng không; Bộ Tư lệnh Pháo binh(1)… Trên toàn miền, các đơn vị địa phương đẩy mạnh công tác tuyển quân, sắp xếp, kiện toàn cơ cấu tổ chức; mở các đợt huấn luyện nhằm nâng cao trình độ kỹ thuật, chiến thuật cho lực lượng vũ trang ba thứ quân(2).

Nhìn chung lại, trong năm 1973, vượt qua những vấp váp, khuyết điểm ban đầu, dưới sự lãnh đạo đúng đắn, kịp thời của Trung ương Đảng và các cấp ủy đảng địa phương, quân và dân ta trên các chiến trường miền Nam đã nỗ lực cao độ, vừa chiến đấu chống địch càn quét, lấn chiếm, vừa tạo sự ổn định về tư tưởng, tổ chức, mau chóng triển khai thế trận phản công và tiến công địch. Nhờ sự chuyển hướng kịp thời đó, quân và dân ta ở miền Tây Nam Bộ đã đập tan cuộc hành quân lân chiếm dài ngày nhất của 75 tiểu đoàn quân đội Sài Gòn trên địa bàn Chương Thiện. Tiếp đó, trong các tháng từ tháng 9 đến tháng 11-1973, ta lại chủ động mở hàng loạt các cuộc tiến công vào các vùng quan trọng của địch, buộc chúng phải phân tán lực lượng chống đỡ làm phá sản các kế hoạch bình định, lấn chiếm, vơ vét lúa gạo của chính quyền Sài Gòn. Tính đến cuối năm 1973, quân và dân Tây Nam Bộ đã khoại khỏi vòng chiến đấu 36.500 tên địch, bức rút, bức hàng 103 đồn bốt, mở rộng vùng giải phóng với 666 ấp, 390.000 dân. Ở miền Trung Nam Bộ, quân ta đã tích cực phản công, tiến công địch khôi phục lại các vùng giải phóng ở nam bắc đường 4, Mỹ Tho, Bến Tre như trước ngày 28-1-1973. Tại miền Đông Nam Bộ, ta giải phóng Bù Bông (Tuyên Đức), tiến công mạnh sân bay Biên Hòa, Kho xăng Nhà Bè, đưa lực lượng vũ trang bố trí áp sát các vùng ven Sài Gòn. Ở miền Trung Trung Bộ, chúng ta đã giành lại nhiều vùng ở Duy Xuyên, Điện Bàn (Quảng Nam), Phù Mỹ, Hoài Nhơn (Bình định), Sơn Tịnh (Quảng Ngãi). Trên chiến trường Tây Nguyên, lực lượng vũ trang giải phóng Chứ Nghé, mở rộng vùng giải phóng và mở thông tuyến vận tải chiến lược đông Trường Sơn nối vào mạng đường từ nam Tây Nguyên đến miền Đông Nam Bộ… Bên cạnh đấu tranh quân sự, phong trào đấu tranh chính trị đòi vãn hồi hòa bình, đòi hiệp thương tổng tuyển cử tự do, đòi thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Pari, đòi được tự do đi lại làm ăn, chống thuế giá trị gia tăng của các tầng lớn nhân dân miền Nam cũng diễn ra mạnh mẽ, khiến cho tình hình chính trị - xã hội ở các đô thị miền Nam ngày một rối ren và mâu thuẫn nội bộ chính quyền và quân đội Sài Gòn càng thêm sâu sắc.

Trên mặt trận đấu tranh ngoại giao, chúng ta đã từng bước vạch trần âm mưu và thủ đoạn mới của Mỹ và chính quyền Sài Gòn trong việc tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động đánh phá, lấn chiếm; đồng thời tranh thủ được dư luận quốc tế phản đổi Mỹ và chính quyền Sài Gòn phá hoại Hiệp định Pari.

Năm 1973 khép lại với những thắng lợi quan trọng của quân và dân ta trên toàn chiến trường miền Nam; cục diện chiến trường xoay chuyển ngày càng có lợi cho ta, bất lợi cho địch; khối chủ lực ta phục hồi và phát triển lớn mạnh, trụ vững ở những địa bàn chiến lược và hình thành được thế trận tiến công hệ thống phòng thủ của quân đội Sài Gòn; phong trào đấu tranh chính trị vươn dậy mạnh mẽ, vững chắc. Đó là những thuận lợi cơ bản thúc đẩy cuộc kháng chiến của ta tiến lên giành nhiều thắng lợi mới.


(1) Bộ Tư lệnh Thông tin (phiên hiệu Đoàn 23, có 8 tiểu đoàn, 10 đại đội, 4 trung đội); Bộ Tư lệnh Công binh (phiên hiệu Đoàn 25, có 7 tiểu đoàn); Bộ Tư lệnh Đặc công (phiên hiệu Đoàn 27, có 8 đoàn); Bộ Tư lệnh Thiết giáp (phiên hiệu Đoàn 26, có 4 tiểu đoàn); Bộ Tư lệnh Phòng không (phiên hiệu Đoàn 77, có 2 trung đoàn cao xạ, 4 tiểu đoàn xe kéo); Bộ Tư lệnh Pháo binh (phiên hiệu Đoàn 75, có 3 trung đoàn pháo mặt đất).
(2) Tháng 3-1973, Bộ Tư lệnh Miền mở hội nghị chiến tranh nhân dân tại Bù Đốp (Bình Phước) bàn về phương hướng, biện pháp đẩy mạnh việc xây dựng lực lượng vũ trang địa phương. Tiếp theo đó, Bộ Chỉ huy Miền ra Chỉ thị 03/CTDK gửi các đơn vị, địa phương nhấn mạnh: công tác huấn luyện phải được coi là công tác trọng tâm trong nâng cao chất lượng bộ đội, đặc biệt là khâu bồi dưỡng cán bộ. Việc huấn luyện vừa đáp ứng yêu cầu đánh bại bình định lấn chiếm trước mắt, vừa chuẩn bị nếu phải giải quyết vấn đề miền Nam bằng chiến tranh lớn. Huấn luyện chủ yếu bằng cách mở các lớp tập huấn và tổng kết kinh nghiệm năm 1972, huấn luyện ngay trong thực tế chiến đấu.
« Sửa lần cuối: 28 Tháng Hai, 2011, 08:11:38 PM gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9404


Lính của PTL


« Trả lời #27 vào lúc: 02 Tháng Ba, 2011, 06:36:26 PM »

Chương 33

TẠO VÀ NẮM BẮT THỜI CƠ, HẠ QUYẾT TÂM
CHIẾN LƯỢNG GIẢI PHÓNG HOÀN TOÀN
MIỀN NAM

I - TIẾN CÔNG TẠO THẾ TRONG NĂM 1974

Thắng lợi trên chiến trường nửa cuối năm 1973 là cơ bản và quan trọng. Thắng lợi đó tạo thêm điều kiện thuận lợi mới cho sự phát triển của cách mạng miền Nam, cho sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Để kịp thởi chỉ đạo hoạt động của chiến trường, từ tháng 10-1973, Bộ Chính trị, quân ủy Trung ương đã tổ chức các cuộc họp bàn biện pháp thực hiện thắng lợi nhiệm vụ mà nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 21 đề ra. Nhiệm vụ của quân và dân ta ở miền Nam trong năm 1974 được Quân ủy Trung ương xác định là: Tiếp tục đẩy mạnh tiến công đánh bại một bước quan trọng kế hoạch bình định lấn chiếm phân tuyến của địch, giành dân, giành quyền làm chủ ở vùng đồng bằng và vùng ven đông dân, nhiều của; từng bước đưa phong trào đấu tranh chính trị ở thành thị tiến lên; đồng thời, chuẩn bị lực lượng cơ sở, tạo điều kiện và thời cơ đẩy tới cao trào cách mạng(1).

Trên cơ sở tinh thần Nghị quyết Trung ương 21, giữa tháng 11-1973, trong thư gửi lãnh đạo, chỉ huy các chiến trường, đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng nói rõ thế về khả năng phát triển của cách mạng miền Nam trong giai đoạn mới và nhấn mạnh: “Cách mạng miền nam chỉ có thể giành được thắng lợi bằng con đường cách mạng không ngừng, bằng bạo lực”. Đồng chí yêu cầu các chiến trường, các mặt trận, các địa phương trên toàn miền Nam cần phải làm tốt các mặt công tác, trong đó “đánh phá kế hoạch bình định. Lấn chiếm của địch là công tác trung tâm số một”(2).

Tiếp thu sự chỉ đạo của Trung ương, nửa đầu tháng 9-1973, Trung ương Cục họp bàn và xác định rõ phương hướng chỉ đạo cụ thể các mặt công tác ở miền Nam trong năm 1974 là: “Quyết tâm đánh bại một bước quan trọng kế hoạch bình định mới của địch, thu hồi về cơ bản vùng giải phóng và tranh chấp mạnh trước ngày 28-1-1973; đồng thời, tùy điều kiện từng nơi, ra sức mở rộng thêm vùng giải phóng và tranh chấp mới, mở rộng diện lỏng kìm, giành quyền làm chủ với nhiều mức độ ở vùng nông thôn do địch kiểm soát, song song với tăng cường phát triển thực glực của ta về mọi mặt, làm cho hậu phương của địch bị thu hẹp và luôn luôn không ổn định”(3).

Thực hiên chủ trương trên, ở miền Đông Nam Bộ, từ tháng 3-1974, Quân khu 7 mở chiến dịch đường số 2 Bà Rịa - Long Khánh. Chiến dịch diễn ra trên địa bàn trọng điểm Bà Rịa. trong chiến dịch này, Quân khu 7 sử dụng Trung đoàn 4 và Trung đoàn 33 cùng lực lượng tại chỗ và nhân dân địa phương tiến công và nổi dậy, bức rút 12 đồn bốt ở đông và tây đường số 2, khôi phục vùng giải phóng ven trục lộ dài 10km; đồng thời, chặn đứng các cuộc hành quân lấn chiếm của hai chiến đoàn 43 và 48 - Sư đoàn 18 quân đội Sài Gòn ở Long Tân, Long Phước. Phát huy thắng lợi, lực lượng vũ trang Quân khu 7 phối hợp với Quân khu 6 tiến công các căn cứ quân đội Sài Gòn ở phía tây đường số 1, mở rộng hành lang khu Rừng Lá (Long Khánh). Thắng lợi của ta ở Bà Rịa - Long Khánh đã thúc đẩy phong trào du kích chiến tranh ở miền Đông Nam Bộ phát triển. Cũng trong thời gian này, ở tây nam Sài Gòn, quân ta đẩy mạnh các cuộc tiến công ở Tabăngrôboong (Tây Ninh)(4), khôi phục, mở rộng vùng giải phóng Tây Ninh - khu vực giáp biên giới Campuchia, khai thông hành lang chiến lược từ miền Đông Nam Bộ xuống miền Trung Nam Bộ và Tây Nam Bộ (địa bàn thuộc Quân khu 8, Quân khu 9).


(1) Viện Mác - Lênin - Viện Lịch sử Đảng: Những sự kiện lịch sử Đảng, tập III: Về kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, 1954-1975, Nxb. Thông tin lý luận, Hà Nội, 1985, tr. 711.
(2) Lê Duẩn: Thư vào Nam, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1985 tr.345, 346.
(3) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.3, tr.504. Tại tập văn kiện này, phần Phụ lục ghi rõ đây là “Nghị quyết hội nghị lần thứ 12 của Trung ương Cục, tháng 12-1973”. Về nội dung này, công trình Lịch sử biên niên Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam (1954-1975), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, đã cho biết: “Hội nghị Trung ương Cục lần thứ 12 không ra Nghị quyết ngay mà (chỉ) có dự thảo nghị quyết. Bản dự thảo nghị quyết được đưa ra nghiên cứu và thảo luận tại Hội nghị cán bộ toàn miền được tổ chức vào cuối tháng 9 đầu tháng 10-1973. Sau khi xem xét, nghiên cứu lại, tháng 12-1973, Trung ương Cục quyết định ra Chỉ thị số 123/CTT3, thay cho Nghị quyết Hội nghị lần thứ 12”.
(4) Địa danh này ghi theo sách: Miền Đông Nam Bộ kháng chiến (1945-1975), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1993.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9404


Lính của PTL


« Trả lời #28 vào lúc: 02 Tháng Ba, 2011, 06:37:58 PM »

Các cuộc tiến công rộng khắp của quân và dân miền Đông Nam Bộ buộc quân đội Sài Gòn phải căng mỏng lực lượng chống đỡ. Trong điều kiện đó, lực lượng vũ trang ba thứ quân phối hợp với nhân dân các địa phương tiếp tục đẩy mạnh tiến công tiêu hao, tiêu diệt sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch, bóc gỡ đồn bốt, mở rộng vùng giải phóng.

Sau chiến dịch Bà Rịa - Long Khánh, tháng 5-1974, Trung ương Cục và Quân ủy Miền quyết định mở chiến dịch đường số 7 ngang trên khu vực Bến Cát - Rạch Bắp, nhằm phá vỡ tuyến phòng ngự trung gian trong hệ thống phòng thủ Sài Gòn, kìm chân lực lượng cơ động, phá ý đồ điều quân tăng viện cho đồng bằng sông Cửu Long và Lộc Ninh của quân đội Sài Gòn.

Chiến dịch đường số 7 ngang diễn ra trên khu vực thuộc vành đai trung tuyến ở phía bắc Sài Gòn, kéo dài từ Rạch Bắp ở phía tây, qua Ri Nét đến Bết Cát và từ Tân Uyên phía đông đến đường số 1. Khu vực này tiếp giáp với vùng giải phóng rộng lướn của ta và chỉ cách Sài Gòn từ 30 km đến 40 km, với nhiều đường giao thông huyết mạch chạy vào “Thủ đô” của chính quyền Sài Gòn. Do tầm quan trọng đó, tại đây, quân đội Sài Gòn bố trí nhiều cụm phòng ngự kiên cố: Rạch Bắp, Ri Nét, Bến Cát, Tân Uyên; phía trên có căn cứ Lai Khê, phía dưới có căn cứ Đồng Dù. Đây vừa là tuyến phòng thủ bảo vệ Sài Gòn nhưng đồng thời cũng là bàn đạp tiến công của quân đội Sài Gòn vào vùng giải phóng của ta. Địa hình dọc theo tuyến phòng thủ được phát quang, có hệ thống hào chống xe tăng và hệ thống rào chống thâm nhập. Đóng giữ tuyến phòng ngự này là lực lượng của Quân khu 3 quân đội Sài Gòn, được tổ chức thành những chiến đoàn hỗn hợp mạnh (bộ binh - pháo binh - xe tăng, thiết giáp).

Trước khi ta mở chiến dịch, trong tháng 3 và tháng 4-1974, địch sử dụng Sư đoàn 25, được tăng cường một số tiểu đoàn biệt động quân và một chi đoàn thiết giáp từ Đồng Dù, mở cuộc tiến công lên phía tây sông Sài Gòn. Phối hợp với Sư đoàn 25, các đơn vị quân Sài Gòn đồn trú ở Ri Nét, Rạch Bắp mở cuộc hành quân lên Bưng Còng, nhằm thực hiện âm mưu lấn chiếm và hoàn chỉnh tuyến phòng ngự dọc theo đường số 7 ngang.

Kiên quyết chặn đứng cuộc tiến công lấn chiếm này của địch, Trung đoàn 16 độc lập của miền, Tiểu đoàn Quyết thắng của Quân khu Sài Gòn - Gia Định và lực lượng du kích Củ Chi phối hợp chiến đấu, đẩy lui các đợt tiến công của Sư đoàn 25, giữ vững vùng giải phóng phía đông Sài Gòn.

Trong lúc Sư đoàn 25 đang bị ghìm chân ở phía đông Sài Gòn, Sư đoàn 9 và Sư đoàn 7 chủ lực miền, từ hai hướng, nổ súng tiến công các căn cứ phòng thủ của địch, mở màn chiến dịch đường số 7 ngang.

Trên hướng chủ yếu của chiến dịch, giữa tháng 5-1974, Sư đoàn 9 đánh chiếm cụm phòng thủ Ri Nét, cô lập cụm Rạch Bắp và uy hiếp trực tiếp căn cứ Bến Cát, làm chủ đoạn đường 7 dài 10 km từ Rạch Bắp đến Bến Cát. Quyết tâm lấy lại khu vực vừa mất, quân đội Sài Gòn huy động một lực lượng lớn, tổ chức nhiều đợt phản kích quyết liệt vào các đơn vị của quân ta trong suốt hai tháng (tháng 5 và 6-1974), Bộ đội ta kiên trì bám trụ trận địa, đánh trả quyết liệt, bẻ gãy hàng trăm đợt tiến công của chúng.

Ở hướng phối hợp, một bộ phận lực lượng Sư đoàn 7 tiến công căn cứ Phước Hòa trên đường 16, gây cho địch nhiều thiệt hại. Bộ phận khác của Sư đoàn 7 đánh chiếm căn cứ cầu Nha Bích, Tống Lê Chân, giải phóng đường số 14 đoạn Chơn thành - Đồng Xoài, tiến ra bờ sông Đồng Nai, diệt các căn cứ của quân đội Sài Gòn ở khu vực Lạc An - Bà Sầm. Để đối phó với Sư đoàn 7 Quân giải phóng, Sư đoàn 18 quân đội Sài Gòn được tăng cường Lữ đoàn 33 thiết giáp, Liên đoàn 7 biệt động quân và một lực lượng lớn không quân, pháo binh chi viện hỏa lực, mở các đợt phản kích hòng đánh bật lực lượng ta khỏi các vị trí mà chúng vừa để mất.

Mặc dù huy động một lực lượng đông gấp ba lần Quân giải phóng, lại được xe tăng, pháo binh và không quân chi viện, nhưng nỗ lực phản kích của quân đội Sài Gòn đã bị chặn đứng, chúng không thể giành lại được những căn cứ phòng ngự đã mất. Không những thế, chỉ trong hai tháng 5 và 6-1974, quân đội Sài Gòn đã bị đánh thiệt hại nặng 11 tiểu đoàn trong tổng số 26 tiểu đoàn cơ động, 4 trong 14 tiểu đoàn biệt động, 4 trong 18 chi đoàn thiết giáp, 84 trong số 325 xe tăng và thiết giáp(1).

Chiến dịch đường 7 ngang giành thắng lợi góp phân quan trọng tạo ra thế chiến lược mới trên chiến trường miền Đông, lực lượng vũ trang trụ vững trên tuyến vành đai Sài Gòn - Gia Định, uy hiếp trực tiếp khu vực phòng thủ của địch ở phía bắc Sài Gòn.


(1) Miền Đông Nam Bộ kháng chiến 1945-1975, Sđd, tr.518.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9404


Lính của PTL


« Trả lời #29 vào lúc: 02 Tháng Ba, 2011, 06:41:10 PM »

Vào thời gian ta mở chiến dịch đường số 7 ngang, một bộ phận lực lượng của Quân khu 7 phối hợp với Quân khu Sài Gòn - Gia Định mở mặt trận tiến công dịch ở phía đông Sài Gòn, làm chủ trục đường số 2 và khu vực Bảo Bình, đường số 20 đoạn Định Quán. Quân ta đã tiêu diệt 4 đồn, giải tán 17 toán phòng vệ dân sự, phá lỏng, phá rã 7 ban tề ấp, xóa toàn bộ ấp trắng và tạo được thế tranh chấp với địch ở 12 ấp với 22.600 dân(1). Trung đoàn 16 chủ lực miền phối hợp với lực lượng tại chỗ đánh chiếm, bức rút các đồn Đồng Ớt, Biện Sen (Trảng Bàng), Đất Mọi (Gò Dầu), giải phóng một vùng rộng lớn kéo dài từ Trảng Bàng đến chiến khu Dương Minh Châu.

Lúc này, trước yêu cầu nhiệm vụ đặt ra ngày càng nặng nề, và để chuẩn bị tốt cho nhiệm vụ quân sự trong thời gian tới, đặc biệt là việc đánh chiếm các mục tiêu trong nội đô Sài Gòn, tháng 4-1974, Quân ủy và Bộ Chỉ huy Miền quyết định thành lập Lữ đoàn 316 đặc công - biệt động, gồm chủ yếu cán bộ, chí tình báo, biệt động dày dạn kinh nghiệm ở chiến trường Sài Gòn - Gia Định. Với lực lượng tinh nhuệ này, chỉ trong hai tháng 9 và 10-1974, lữ đoàn đã tiến công 82 mục tiêu trong số 90 mục tiêu được phân công ở vùng ven, gây cho địch nhiều thiệt hại về lực lượng và phương tiện chiến tranh.

Trước sức uy hiếp mạnh mẽ của ta. ở miền Đông Nam Bộ, quân đội Sài Gòn buộc phải co cụm và ở vào trạng thái phòng thủ triệt để. Lúc này, trên toàn bộ địa bàn này, mục tiêu của quân đội Sài Gòn là gắng giữ chắc các khu vực chiếm đóng và hậu phương, đặc biệt là Sài Gòn, bởi trên thực tế chúng không còn đủ lực lượng để có thể tiến hành các hoạt động tiến công lấn chiếm và bình định. Thế nên, thay vì hô hào và huy động lực lượng “tràn ngập lãnh thổ” như trước kia, thì thừ tháng 4-1974, trước sự thiếu hụt về ngân sách, về quân cụ chiến tranh, Nguyễn Văn Thiều yêu cầu quân đội Việt Nam Cộng hòa phải “đánh theo kiểu con nhà nghèo”.

Trước tình hình đó, để tăng cường lực lượng và thế tiến công ở vùng ven và nội thành Sài Gòn, bên cạnh việc củng cố địa bàn đứng chân của khối chủ lực, Quân ủy và Bộ Chỉ huy Miền giao trách nhiệm cho Thành ủy Sài Gòn đẩy mạnh hoạt động, chuẩn bị những điều kiện cần thiết để quần chúng nội đô, khi thời cơ đến, phối hợp với đòn tiến công quân sự nổi dậy giành quyền làm chủ. Thực hiện chủ trương này, lực lượng hoạt động ở nội đô nhanh chóng khôi phục lại đội biệt động, đội vũ trang của các ban ngành, đoàn thể, các lõm chính trị và các lực lượng tại chỗ. Đoàn biệt động 19-5 được thành lập gồm các đội 1, 3, 4, 5 tương đương các đại đội. Các đội biệt động độc lập như 7, 8, 9, 11, Z 17, V 20, V 16, V 22 cũng nhanh chóng được tổ chức và bước vào hoạt động. Các đội vũ trang của Thành đoàn, Hoa vận, Tuyên huấn, Công an, Phụ vận, Binh vận được khôi phục. Ban chỉ huy quân sự các quận nội thành cũng được củng cố. Đến cuối năm 1974, lực lượng ta ở Sài Gòn có 13 đội biệt động, 40 lõm chính trị và nhiều cơ sở, kho tàng cất giấu vũ khí ở nội thành. Tại các khu vực vùng ven, ta phát triển thêm 218 đội du kích xã, 548 du kích ấp, 71/85 xã có xã đội, 270/360 ấp có cơ sở chính trị vũ trang(2).

Nhìn chung, đến cuối năm 1974, thế và lực của ta ở miền Đông Nam Bộ có bước phát triển mới. Thế và lực đó có đủ sức bao vây, ghìm chân khối chủ lực cơ động lớn nhất của quân đội Sài Gòn, đồng thời trực tiếp uy hiếp Sài Gòn trên hướng Tây Bắc.

Trên chiến trường Trung Nam Bộ, cuộc đấu tranh giành đất, giành dân giữa ta và địch diễn ra quyết liệt. Từ ngày 11-12-1974, quân đội Sài Gòn tập trung 15 tiểu đoàn, 5 chi đoàn thiết giáp M113, 42 khẩu pháo các loại, tổ chức nhiều cuộc hành quân càn quét, lấn chiếm Vùng 4 Kiến Tường - địa bàn quan trọng nối căn cứ Đồng Tháp Mười với hành lang chiến lược của ta ở biên giới Campuchia. Sau khi chiếm được vị trí quan trọng này, quân đội Sài Gòn nhanh chóng mở rộng diện chiếm đóng ra các khu vực khác ở mảng bốn Cai Lậy Bắc, gây cho ta những khó khăn, lúng túng. Cuối tháng 2-1974, Thường vụ Khu ủy Khu 8 quyết định mở cuộc tiến công và phản công địch trên toàn chiến trường quân khu. Để nắm tình hình và chỉ huy trực tiếp hoạt động tác chiến, quân khu thành lập hai bộ chỉ huy tiền phương trên hướng lộ 4 - Mỹ Tho (J10) và hướng Vùng 4 - Kiến Tường (J25). Bộ Tư lệnh J10 đóng tại nam lộ 4 - Mỹ Tho, do đồng chí Võ Văn Thạnh lam Tư lệnh. Hoạt động trên hướng này có các đơn vị: Trung đoàn 24, Tiểu đoàn 269 đặc công, Đại đội 318 đặc công nước, Tiểu đoàn 309F pháo binh. Bộ Tư lệnh J25 đóng tại Vùng 4 - Kiến Tường, do đồng chí Huỳnh Văn Mến (Tư Thân) làm Tư lệnh. Chiến đấu và công tác trên hướng này gồm các Trung đoàn 320, Trung đoàn 88, Tiểu đoàn 283 đặc công, Đại đội 432 công binh. Trong suốt mùa khô và đầu mùa mưa, các đơn vị chủ lực quân khu phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang, lực lượng chính trị tại chỗ, đẩy mạnh tiến công vào hệ thống đồn bốt địch, nhất là khu vực 20-7, mảng ba Cai Lậy Bắc, Châu Thành (Mỹ Tho). Tại đây, vận dụng hình thức chiến thuật chốt chặn kết hợp với tập kích địch co cụm, lực lượng vũ trang ta đã đẩy địch ra sát lộ 4, uy hiếp thị xã, thị trấn, mở rộng vùng giải phóng ở nam, bắc lộ 4 và vùng ruột Đồng Tháp Mười. Trong đợt tiến công này, trên địa bàn Mỹ Tho, ta đã bức rút 150 đồn, giải phóng hoàn toàn 10 xã, 50 ấp, với 50.000 dân. Phối hợp với hướng trọng điểm Mỹ Thuận lợi, Kiến Tường, quân và dân các tỉnh Bến Tre, Kiến Phong, An Giang, Long An cũng đã ngăn chặn có hiệu quả hành động lấn chiếm của địch, giữ vững khu vực xung quanh các căn cứ của quân Sài Gòn như; kênh Quận, Năm Ngàn, Phụng Thớt, Hai Hạt, Trại Lòng, Bằng Lăng, kênh Bùi, kênh Bích.


(1) Miền Đông Nam Bộ kháng chiến 1945-1975, Sđd, tr.518.
(2) Miền Đông Nam Bộ kháng chiến 1945-1975, Sđd, tr.523-524.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM