Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 23 Tháng Chín, 2020, 10:56:00 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8  (Đọc 93785 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9989


Lính của PTL


« Trả lời #140 vào lúc: 25 Tháng Ba, 2011, 07:41:47 pm »

9 giờ, lực lượng đi đầu binh đoàn đột kích thọc sâu của Quân đoàn 2 tiếp tục vượt cầu Sài Gòn, tiến về phía Dinh Độc Lập. Tại phía nam cầu, Phó Tư lệnh Quân đoàn 2 chỉ thị cho cán bộ Lữ đoàn xe tăng 203 điều chỉnh Tiểu đoàn 2 thiết giáp dàn đội hình, giữ cực ly, bám Tiểu đoàn 1 xe tăng đi đầu, chỉ thị cho Ban chỉ huy tiền phương Trung đoàn 66 do Trung đoàn phó Phạm Xuân Thệ phụ trách chỉ huy cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 7 bám sát đội hình xe tăng tiến vào Dinh Độc Lập, Tiểu đoàn tiến vào đánh chiếm Đài phát thanh.

Đến cầu Thị Nghè, lực lượng thọc sâu vấp phải sự chống trả của quân Sài Gòn. Tay đây, dựa vào vật cản bằng thùng phi nhồi đất và bao cát, sử dụng hỏa lực xe tăng M41, xe bọc thép M113, binh linh Sài Gòn chống trả quyết liệt. Chiếc xe tăng mang số hiệu 307 của Đại đội 4 do kíp trưởng Lê Tiến Hùng chỉ huy bị hỏa lực địch bắn hỏng, phải dừng lại. Lập tức, hỏa lực xe tăng và bộ binh ta nã vào các xe tăng, xe bọc thép và các ổ đề kháng của địch bên kia cầu, 4 xe tăng, xe thọc thép của địch bị bắn cháy, các lô cốt dã chiến bị tung lên vì trúng đạn pháo xe tăng và ĐKZ. Sau 15 phút bị phản kích mãnh liệt, địch hoảng sợ vứt bỏ xe pháo, vũ khí, tháo chạy.

Vượt qua cầu Thị Nghè, lực lượng thọc sâu cơ động dọc theo tường rào Thảo Cầm Viên; Tiểu đoàn 1 xe tăng do Đại đội 4 dẫn đầu, tiếp cận cổng chính Dinh Độc lập, Xe tăng đi đầu mang số hiệu 843 do Đại đội trưởng Bùi Quang Thận chỉ huy quay nòng pháo, nhấn ga, húc vào cánh cổng bên trái (từ ngoài vào). Do đột ngột gặp sức cản lớn nên xe bị chết máy. Chiếc xe tăng mang số hiệu 390 do Chính trị viên Vũ Đăng Toàn chỉ huy đi sau vượt lên, lao vào húc đổ cánh cổng chính của Dinh Độc Lập. Ngay sau đó, xe tăng 843 nổ máy trở lại, vượt qua cổng cùng xe tăng 390 tiến thẳng vào sân dinh. Khi xe tăng 843 vừa dừng lại, Đại đội trưởng Bùi Quang Thận thoát ngay ra khỏi xe, được đồng đội yểm trợ và được người trong dinh dẫn đường, tiến lên tầng thượng hạ lá cờ ba sọc của Chính quyền Sài Gòn, kéo lá cờ Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam lên cột cờ cao nhất của Dinh Độc Lập lúc 11 giờ 30 phút ngày 30-4-1975. Đó chính là thời khắc báo hiệu chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã toàn thắng.

Cùng lúc Đại đội trưởng Bùi Quang Thận lên kéo cờ, một số cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 66 do Trung đoàn phó Phạm Xuân Thệ chỉ huy tiến vào Dinh Độc Lập, nhanh chóng vào phòng Khánh Tiết. Tại đó, có mặt Dương Văn Minh và các thành viên nội các chính quyền Sài Gòn(1). Các đồng chí Trung đoàn 66 đưa Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu sang Đài phát thanh Sài Gòn đọc lời tuyên bố đầu hàng không điều kiện Quân giải phóng. Tại đây, Trung đoàn phó Phạm Xuân Thệ cùng các cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 656 tổ chức soạn thảo lời Tuyên bố đầu hàng cho Dương Văn Minh gần xong thì Trung tá Bùi Văn Tùng, Chính ủy Lữ đoàn xe tăng 203 xuất hiện. Từ đó, bộ phận cán bộ - chiến sĩ Trung đoàn 66 dưới sự chỉ đạo của Chính ủy Bùi Văn Tùng và Trung đoàn phó Phạm Xuân Thệ tiếp tục soạn thảo và hoàn chỉnh. Ngay sau đó, Dương Văn Minh đọc vào máy ghi âm toàn bộ tuyên bố đầu hàng của Dương Văn Minh và phát trên Đài phát thanh Sài Gòn: “Tôi, Đại tướng Dương Văn Minh, Tổng thống chánh quyền Sài Gòn, kêu gọi quân lực cộng hòa hạ vũ khí đầu hàng không điều kiện Quân giải phóng miền Nam Việt Nam. Tôi tuyên bố chánh quyền Sài Gòn từ trung ương đến địa phương phải giải tán hoàn toàn, giao toàn chánh quyền từ trung ương đến địa phương cho Chánh phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam”. Chính ủy Bùi Văn Tùng, thay mặt Quân giải phóng, soạn thảo và đọc lời tuyên bố chấp nhận đầu hàng không điều kiện của Tướng Dương Văn Minh - Tổng thống chính quyền Sài Gòn.

Như vậy, với chiến dịch Hồ Chí Minh (từ ngày 26-4 đến ngày 30-4-1975), quân và dân ta đã tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ lực lượng chủ lực, địa phương, cảnh sát thuộc Vùng 3 chiến thuật, các đơn vị dự bị chiến lược còn lại và tàn quân của Vùng 1, Vùng 2 chiến thuật chạy về, đập tan hệ thống chính quyền địch từ trung ương đến cơ sở, giải phóng hoàn toàn thành phố Sài Gòn - Gia Định và các tỉnh Tây Ninh, Long An, Bình Dương, Biên Hòa, Bà Rịa, Vũng Tàu thuộc miền Đông Nam Bộ. Quân và dân ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 250.000 tên địch, trong đó có khoảng 160.000 tên bị thương vong, còn lại là tan rã(2). Ta đã thu 500 khẩu pháo, 400 xe tăng và xe bọc thép, 800 máy bay, 600 tàu chiến, 270.000 khẩu súng, 3.000 xe quân sự các loại. Về phía ta, bộ đội chủ lực bị thương vong hơn 6.000 người, gần 100 xe cơ gới bị phá hủy, trong đó có 33 xe tăng, xe thiết giáp…


(1) Nội các chính quyền Sài Gòn gồm: Dương Văn Minh - Tổng thóng, Nguyễn Văn Huyền, Phó Tổng thống, Vũ Văn Mẫu - Thủ tướng Chính phủ, Bùi Tường Huân - Phó Thủ tướng, Nguyễn Văn Hảo - Phó Thủ tướng kiêm Bộ Trưởng Bộ kinh tế, Lý Quý Chung - Bộ Trưởng Bộ thông tin, Nguyễn Văn Diệp - Bộ Trưởng Bộ Thương mại và Kỹ nghệ, Lê Quang Trường - Bộ trưởng Bộ Tài chính, Nguyễn Văn Ba - Thứ trưởng Bộ Thông tin, Bùi Thế Dũng - Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Nguyễn Hữu Hạnh - Chuẩn tướng phụ tá Tổng Tham mưu trưởng, Vũ Trang Chiêm - Đại tá, Chánh Văn phòng Phủ Thủ tướng…
(2) Theo thống kê của Ủy ban quân quản các tỉnh và thành phố miền Nam (tính đến tháng 9-1975), đã có hơn 700.000 người tham gia quân đội, cảnh sát, nhân viên chính quyền địch ra trình diện, trong đó có 30 sĩ quan cấp tướng, 400 đại tá, 2.000 trung tá, 5.000 thiếu tá, 60.000 sĩ quan cấp ủy, còn lại là hạ sĩ quan, binh sĩ, nhân viên.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9989


Lính của PTL


« Trả lời #141 vào lúc: 25 Tháng Ba, 2011, 07:42:50 pm »

Hòa nhịp với đòn tiến công và nổi dậy ở Sài Gòn - Gia Định, quân và dân các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và các địa phương còn lại ở Nam Bộ, bằng sự chủ động, sáng tạo, đã nhất tề đứng dậy, kiên quyết tiến công với phương châm “tỉnh giải phóng tỉnh, huyện giải phóng huyện, giải phóng xã”.

Trên địa bàn Quân khu 8, từ đêm 26 rạng ngày 27-4-1975, lực lượng vũ trang quân khu đẩy mạnh tiến công địch trên quốc lộ 4. Trung đoàn 320 sử dụng 1 tiểu đoàn đánh chiếm đoạn Cầu Chùa, 2 tiểu đoàn còn lại của trung đoàn bấy giờ đang đứng chân ở đông, tây lộ 4 liên tục đánh bại các cuộc phản kích của địch, giữ vững các chống, cắt đứt hoàn toàn lộ 4. Rạng sáng ngày 30-4-1975, Sư đoàn bộ binh 8 bao vây căn cứ quân sự Sư đoàn bộ binh 7 địch ở Đồng Tâm, tạo điều kiện cho việc đánh chiếm thành phố Mỹ Tho. Hơn 9 giờ, mặc dù bị quân ta bao vây chặt và nghe lệnh tuyên bố “ngừng nổ súng để bàn giao chính quyền cho cách mạng” của Dương Văn Minh, nhưng chỉ huy Sử dụng 7 quân đội Sài Gòn vẫn ngoan cố chấp hành lệnh của Nguyễn Khoa Nam - Tư lệnh vùng 4 chiến thuật, cho lực lượng ra quốc lộ 4 và các thị trấn tăng cường phòng thủ. Trưa ngày 30-4, được sự hỗ trợ của Sư đoàn 8 và lực lượng vũ trang địa phương, lực lượng biệt động thành và các tổ chức cơ sở mật đã phát động nhân dân nổi dậy diệt ác ôn, vận động binh lính và cảnh sát hạ vũ khí ra hàng. 16 giờ cùng ngày, các đơn vị vũ trang địa phương và lực lượng quần chúng nhân dân kéo vào chiếm giữ khu hành chính, Ty Cảnh sát, phá nhà lao, giải phóng tù nhân. Lực lượng biệt động đánh chiếm tiểu khu Định Tường, khu quân sự nội thành. Chiều ngày 30-4, Trung đoàn 1 - Sư đoàn 8, hai tiểu đoàn bộ đội tỉnh, Tiểu đoàn 297 đặc công phối hợp đánh chiếm Dinh tỉnh trưởng, căn cứ quân sự Đồng Tâm, tạo điều kiện cho nhân dân nổi giải phóng toàn bộ phường xã.

Tỉnh vùng sâu Gò Công, sau khi được tin quân ta đã đánh chiếm Dinh Độc Lập, bắt nội các Dương Văn Minh đầu hàng vô điều kiện, cán bộ đảng, các đội võ trang công tác đã phát động quần chúng nổi dậy giải tán tề, phá đồn bốt, thu gom súng đạn. Bộ máy kìm kẹp ở tỉnh lỵ bị tan rã. Lực lượng vũ trang và nhân dân đã làm chủ thị xã lúc 16 giờ 30 phú ngày 30-4.

Ở Bến Tre, đêm 29-4, các tiểu đoàn 263, 596 và du kích địa phương đánh chiếm Chi khu Lương Quới. Sáng ngày 30-4-175, địch đưa các tiểu đoàn 418, 593, 401 đến hòng chiếm lại nhưng bị ta chặn đánh thiệt hại nặng. 9 giờ sáng, các đội biệt động, lực lượng an ninh vũ trang, được nhân dân hỗ trợ, đã tiến công tiêu diệt và giải tán toàn bộ các đơn vị bảo an, phòng vệ dân sự; bức hàng, bức rút hàng loạt đồn bốt ở vùng khu vực trong thị xã. Bị tiến công mạnh mẽ, rộng khắp, nhất là khi nghe tin chính quyền Dương Văn Minh đã đầu hàng, quân địch ở khắp các huyện, thị trong toàn tỉnh càng thêm rệu rã, hoang mang. Đêm 30-4, sĩ quan, binh lính, viên chức địch ở thị xã bỏ nhiệm sở. Sáng ngày 1-5, dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, lực lượng vũ trang và nhân dân nổi dậy giành chính quyền, giải phóng toàn tỉnh.

Cũng trong hai ngày 30-4 và 1-5, quân và dân các tỉnh Kiến Tường, Sa Đéc tiến công và nổi dậy giải phóng quê hương.

Trên địa bàn Khu 9, Bộ Tư lệnh quân khu sử dụng phần lớn lực lượng chủ lực quân khu tiến công giải phóng thành phố Cần Thơ - thủ phủ của chế độ Sài Gòn ở miền Tây Nam Bộ. Đêm 29-4-1975, các đơn vị thuộc Sư đoàn bộ binh 4 vượt lộ Vòng Cung, bao vây sân bay Trà Nóc và một số mục tiêu quan trọng khác gần Bộ Chỉ huy vùng 4 chiến thuật. Sáng 30-4, sau khi được hỏa lực cối, ĐKZ75, 12,7 mm bắn phá và chế áp các mục tiêu lộ, Trung đoàn 20 (Sư đoàn 4) nhanh chóng đánh chiếm sân bay Trà Nóc. Bộ Tư lệnh Sư đoàn không quân số 4 và 1 tiểu đoàn bảo vệ sân bay quân đội Sài Gòn không chống cự, đầu hàng tại chỗ. Ta thu 113 máy bay (phần lớn là trực thăng) và nhiều kho tàng chứa đồ quân dụng. Phát huy thắng lợi, Trung đoàn 20 kết hợp với Trung đoàn 10 đánh chiếm Bình Thủy, sân bay Lộ Tẻ, bức hàng 1 tiểu đoàn địch chốt giữ phía tây bắc lộ Vòng Cung. Trưa ngày 30-4, một bộ phận Sư đoàn bộ binh đánh chiếm Bộ Tư lệnh Vùng 4 chiến thuật, Nha cảnh sát, căn cứ tiếp liệu của Bộ Tư lệnh hải quân địch. 11 giờ 30 phút, lực lượng vũ trang thành phố và cơ sở nội tuyến theo chỉ đạo của Ban khởi nghĩa, đã tổ chức phá trại giam, giải thoát gần 1.000 anh em tù chính trị. Cùng lúc, hai tiểu đoàn bộ đội địa phương đánh chiếm Dinh tỉnh trưởng Phong Dinh. 15 giờ 30 phút, thành phố Cần Thơ được hoàn toàn giải phóng.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9989


Lính của PTL


« Trả lời #142 vào lúc: 25 Tháng Ba, 2011, 07:43:32 pm »

Ở Vĩnh Long, rạng sáng ngày 30-4, thực hiện mệnh lênh của Bộ Tư lệnh Quân khu 9, Trung đoàn 1 từ Ba Càng cơ động lên, phối hợp với Trung đoàn 3, cán bộ bàn đạp tiến công các mục tiêu trong và ngoài thị xã. 15 giờ, được lực lượng vũ trang địa phương hỗ trợ, Trung đoàn 3 bất ngờ tập kích sân bay. Sau hơn 1 giờ chiến đấu ác liệt, bộ đội ta đã diệt 2 đại đội địch cố thủ bảo vệ sân bay, bắn cháy 6 xe tăng, xe thiết giáp. 18 giờ, hai trung đoàn 1 và 3 bao vây hậu cứ Sư đoàn 9 và dùng loa kêu gọi Trung đoàn 18 địch ra hàng. Không còn đường thoát, phần lớn địch trong căn cứ ra hàng, số còn lại giả dân lẩn trốn. Phối hợp với đòn tiến công của bộ đội chủ lực, Tỉnh ủy Vĩnh Long chỉ đạo các chi bộ đảng ở địa phương phát động nhân dân nổi dậy giành chính quyền, bắt tỉnh trưởng, giải phóng toàn tỉnh vào sáng ngày 1-5-1975.

Ở Trà Vinh, đêm 29 rạng ngày 30-4-1975, được quân khu tăng cường 5 tiểu đoàn bộ binh, 2 đại đội đặc công và được quân dân địa phương hỗ trợ, bộ đội chủ lực tỉnh đã đã đánh chiếm sân bay, trận địa pháo, bức hàng hàng chục đồn bốt bảo an, dân vệ địch. Trước đòn tiến công của ta, hàng trăm sĩ quan, binh lính quân Sài Gòn chạy vào Dinh tỉnh trưởng, ngoan cố chốing trả ta quyết liệt. Nhưng trước khí thế áp đảo của cách mạng, tàn binh địch trong dinh chống cự yếu ớt dần, đến 11 giờ ngày 30-4-1975 thì buông súng đầu hàng (trong đó có cả viên Tỉnh trưởng).

Tại vùng tôn giáo (chủ yếu là đạo Hòa Hảo) Long Xuyên, đêm 30-4, theo lệnh của Bộ Tư lệnh quân khu, Trung đoàn 101 - Sư đoàn bộ binh 4 được tăng cường 1 tiểu đoàn xe boc thép M113 đã cơ động cấp tốc bằng xe vận tải GMC từ Cần Thơ lên khu vực thị xã Long Xuyên. Sáng 1-5, Trung đoàn 101 phối hợp lực lượng vũ trang tỉnh và các tầng lớp nhân dân địa phương vây ép, bức hàng toàn bộ quân địch trong thị xã và các chi khu lân cận Thốt Nốt, Châu Phú, Châu Thành… Đến 10 giờ ngày 1-5-1975, toàn tỉnh Long Xuyên đã được giải phóng.

Ở Sóc Trăng, đêm 29-4-1975, lực lượng vũ trang tỉnh gồm 5 tiểu đoàn, 2 đại đội, được nhân dân địa phương hỗ trợ, đồng loạt tiến công vào thị xã. Bốn tiểu đoàn mang tên Tiểu đoàn Phú Lợi (1, 2, 3, 4) đánh chiếm trại Lý Thường Kiệt, sân bay ngã ba Vòng Hoàn, hai đồn Tà Lây, Bưng Cốc. Đại đội 301 và các đội võ trang công tác nội tuyến chiếm Chi khu Khánh Hưng, cầu Thuận Hòa. Đại đội bộ đội tập trung huyện Long Phú bức hàng đại đội địch chốt giữ khu vực chùa Năm Ông, làm chủ cầu An Hòa. Lực lượng an ninh tỉnh chiếm Ty Cảnh sát, áp sát Dinh tỉnh trưởng, cùng quần chúng diệt ác, trừ gian trong khu Hoàng Diệu. Sáng 30-4, các lực lượng vũ trang tỉnh từ hướng trung tâm và từ phía tây tiến công quyết liệt các mục tiêu còn lại. Hơn 100 tên địch cố thủ trong Dinh tỉnh trưởng buộc phải kéo cờ trắng ra hàng. Đến 14 giờ, quân và dân Sóc Trăng đã hoàn toàn làm chủ thị xã.

Ở Bạc Liêu, từ ngày 26 đến ngày 28-4-1975, lực lượng binh vận đã bắt mối và thuyết phục được 108 sĩ quan cấp úy, cấp tá, tiểu khu trưởng, tiểu khu phó ngã về phía cách mạng. Chiều ngày 29-4, lực lượng vũ trang và nhân dân thị xã nhất loạt tiến công địch. Sáng 30-4, được lực lượng vũ trang hỗ trợ, gần 10.000 quần chúng vùng ven và nội thị kéo đến bao vây tòa hành chính, buộc tên Tỉnh trưởng và thuộc hạ phải đầu hàng.

 Tại Cà Mau, đêm 29-4-1975, các tiểu đoàn chủ lực tỉnh tiến công địch ở vùng ven thị xã: Tiểu đoàn 2 tiêu diệt Chi khu Hòa Thành, Tiểu đoàn 5 diệt đồn Ao Kho, Tiểu đoàn 2 và Tiểu đoàn 4 diệt đồn Xí Cách, Cái khúc, Tân Thành và cầu số 2 (Tân Lộc). Thừa thắng, đêm 30-4, các tiểu đoàn tập trung lực lượng tiến công địch trong thị xã. Đến 5 giờ sáng ngày 1-5-1975, lực lượng vũ trang được quần chúng hỗ trợ lần lượt đánh chiếm các mục tiêu. 10 giờ 30 phút, quân và dân ta đã làm chủ thị xã.

Trên hướng Rạch Giá, ngày 29-4-1975, bốn tiểu đoàn chủ lực quân khu và chủ lực tỉnh tiến công Chi khu Rạch Sỏi (Châu Thành), đánh chiếm các mục tiêu chủ yếu trên hướng đông và nam thị xã. Tiếp đó, Tiểu đoàn 6 ở vùng ven thị xã mở cuộc tiến công các mục tiêu then chốt của địch trong nội thị. Địch trên cả hai hướng phản công quyết liệt. Tiểu đoàn 6 buộc phải chốt giữ một phân thị xã và đánh trả các đợt phản công của chúng. Chiều 30-4, được lực lượng từ Rạch Sỏi lên chi viện, Tiểu đoàn 6 chuyển sang tiến công đánh chiếm tiểu khu trung tâm thị xã. 22 giờ ngày 30-4, quân và dân ta đã hoàn toàn làm chủ thị xã.

Trong hai ngày 30-4 và 1-5, quân và dân các tỉnh còn lại trên địa bàn Quân khu 9 gồm Chương Thiện, Hà Tiên và đảo Phú Quốc, bằng các hình thức tiến công vũ trang với nổi dậy và binh vận đã giành chính quyền, giải phóng quê hương.

Như vậy, đến ngày 1-5, toàn bộ các tỉnh, thành phố và các đảo, quần đảo ngoài khơi Nam Việt Nam đã hoàn toàn giải phóng, chiến dịch lịch sử mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh toàn thắng, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 toàn thắng, kết thúc vẻ vang sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kéo dài hơn 20 năm của toàn dân tộc Việt Nam.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9989


Lính của PTL


« Trả lời #143 vào lúc: 25 Tháng Ba, 2011, 07:47:03 pm »

KẾT LUẬN

Hiệp đinh Pari về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết, Mỹ rút hết quân ra khỏi miền Nam Việt Nam, so sánh lực lượng địch - ta trên chiến trường thay đổi căn bản có lợi cho ta, bất lợi cho địch. Mất chỗ dựa trực tiếp là quân Mỹ, chính quyền và quân đội Sài Gòn càng trở nên hoang mang, lực lượng và sức chiến đấu sụt giảm mạnh. Nhưng với bản chất ngoan cố, hiếu chiến, Mỹ và chính quyền Nguyễn Văn Thiệu ra sức phá hoại Hiệp định, đẩy mạnh các cuộc hành quân lấn chiếm vùng giải phóng của cách mạng miền Nam nhằm tiếp tục thực hiện chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh.

Hỗ trợ cho các hoạt động trên chiến trường, trước, trong và sau ngày ký kết hiệp định, Mỹ ồ ạt viện trợ cho chính quyền và quân đội Sài Gòn một khói lượng lớn vật chất, trang bị kỹ thuật; duy trì lực lượng không quân, hải quân ở các vùng phục cận Việt Nam làm “lực lượng răn đe”; ráo riết thực hiện các thủ đoạn và biện pháp ngoại giao hòng kiềm chế, ngăn cản đà phát triển của cách mạng Việt Nam(1).

Về phía ta, từ sau ngày Hiệp định Pari có hiệu lực, miền Bắc có điều kiện hòa bình để khôi phục, phát triển kinh tế, tiếp tục chi viện cho miền Nam. Đối với miền Nam, Đảng ta dự kiến tình hình có thể diễn biến theo hai khả năng: hoặc hòa bình được duy trì, hiệp định được các bên thực hiện từng bước, hoặc chiến tranh sẽ vẫn tiếp tục; ta cần ra sức tranh thủ khả năng thứ nhất nhưng cũng phải chuẩn bị sẵn sàng đối phó với khả năng thứ hai.

Tháng 5 và tiếp đó, Hội nghị làn thứ 21 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (hợp đợt 1 từ ngày 19-6 đến ngày 6-7; đợt 2 từ ngày 1-10 đến ngày 4-10-1973) đã tiến hành phân tích diễn biến của tình hình trên chiến trường trong nước, trong khu vực và trên thế giới liên quan đến cuộc chiến tranh Việt Nam đã chỉ rõ âm mưu, hành động chống phá Hiệp định Pari ngày càng tăng của địch nhằm tiếp tục thực hiện chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam cũng như những thiếu sót, khuyết điểm và hạn chế của ta từ sau Hiệp định Pari; khẳng định dứt khoát con đường của cách mạng miền Nam là con đường bạo lực cách mạng: “bất kì trong tình hình nào, ta cũng phải nắm vững thời cơ, giữ vững đường lối chiến lược tiến công và chỉ đạo linh hoạt để đưa cách mạng miền Nam tiến lên”(2).

Theo phương hướng đó, từ nửa sau năm 1973, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta ra sức chuẩn bị mọi mặt với tinh thần kiên quyết, triệt để, khẩn trương, sáng tạo để đưa cách mạng miền Nam phát triển với nhịp độ nhanh hơn, vững chắc hơn, đồng thời, trên chiến trường miền Nam, quân và dân ta đẩy mạnh các hoạt động phản công và tiến công, chặn đứng các hoạt động lấn chiếm và bình định của địch, giữ vững và phát triển thế chủ động chiến lược. năm 1973 kết thúc với những chuyển biến cả về so sánh lực lượng và thế trận chiến lược có lợi cho ta. Năm 1974, xuất hiện ngày càng nhiều những dấu hiệu cho thấy sự suy yếu của địch. Từ giữa năm 1974 trở đi, hầu như quân đội Sài Gòn không còn khả năng mở các cuộc hành quân lấn chiếm; có chăng, chúng chỉ có thể tiến hành các hoạt động ngăn chặn, giải tỏa mang tính chất phòng ngự trên nhưng khu vực bị ta uy hiếp mạnh. Bên cạnh đó, việc bắt lính, đôn quân của chính quyền Sài Gòn không còn đủ bù đắp cho số thương vong, đảo ngũ; do nguồn viện trợ kinh tế, quân sự từ mỹ ngày càng bị cắt giảm, phương tiện chiến tranh và hỏa lực sút giảm mạnh, Nguyễn Văn Thiện phải hô hào quân đội Sài Gòn “đánh theo kiểu con nhà nghèo”(!).

Ở Mỹ, chính quyền và cá nhân Tổng thống Níchxơn đang lúc sâu vào vụ bê bối Oatơghết “Sự kiện chính trị đau xót nhất của Mỹ trong hơn một thế kỷ”(3). Níchxơn buộc phải từ chức (tháng 6 năm 1974, Phó Tổng thống G. Pho lên thay với hàng loạt những thách thức to lớn và những vấn đề nan giải trong nước và trên thế giới mà nước Mỹ đang phải đối mặt, trong đố nổi bật là vấn đề Việt Nam. Như thế, đến giữa năm 1974, cả Mỹ và chính quyền Sài Gòn đều đang lâm vào một cuộc khủng hoảng ngày càng trở nên trầm trọng.


(1) Bao cáo của Bộ Chính trị tại Hội nghị lần thứ 21 Ban Chấp hành Trung ương Đảng nêu rõ: sau Hội nghị Pari, đế quốc Mỹ “lợi dụng xu thế hòa hoãn thông qua các hoạt động ngoại giao, kinh tế và chính sách cân bằng lực lượng giữa các nước lớn, giữa các nước ở Thái Bình Dương để ngăn hặn và kiềm chế sự phát triển của cách mạng Việt Nam”, Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, t.34, Sđd, tr. 148.
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.34, tr. 232.
(3) G. Côncô: Giải phẫu một cuộc chiến tranh, Sđd, t.2, tr. 186.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9989


Lính của PTL


« Trả lời #144 vào lúc: 25 Tháng Ba, 2011, 07:49:30 pm »

Đẩy mạnh hoạt động để kịp nắm bắt thời cơ, quân và dân ta trên các chiến trường ở miền Nam đều vừa tiến công địch cả về quân sự, chính trị, vừa tăng cường công tác xây dựng lực lượng, chuẩn bị chiến trường. Các binh đoàn chiến lược được thành lập. Mạng đường chiến lược, chiến dịch phát triển nhanh và ngày càng hoàn chỉnh, kể cả hệ thống đường ống dẫn dầu. Một khối lượng lớn vật chất, phương tiện chiến tranh đang được chuyển nhanh từ hậu phương ra tiền tuyến. Tháng 7-1974, đồng chí Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng tực tiếp nghe và chỉ đạo Bộ Tổng tham mưu khởi thảo kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam. Tiếp đó, tháng 10 và tháng 12, tập thể Bộ chính trị, Quân ủy Trung ương cùng các cán bộ chủ chốt ở chiến trường họp bàn về quyết tâm và kế hoạch giải phóng hoàn toàn miền Nam trong thời gian 2 năm 1975-1976. Trong lúc đó, chiến dịch đường 14 - Phước Long (diễn ra từ ngày 13-12-1974 - 6-1-1975) giành được thắng lợi. Đây là cơ sở để Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng kết luận; khả năng đế quốc Mỹ trực tiếp can thiệp bằng lực lượng quân sự là rất thấp và dù chúng có can thiệp như thế nào, ta cũng có đầy đủ quyết tâm và điều kiện đánh thắng. Bộ Chính trị hạ quyết tâm và thông qua kế hoạch chiến lược cơ bản giải phóng miền Nam trong 2 năm 1975-1976 và dự kiến: Nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định chọn Tây Nguyên là hướng tiến công chủ yếu trong năm 1975. Ngay sau đó, hai miền Nam, Bắc khẩn trương hoàn tất các mặt chuẩn bị, cả về thế và lực. Ta thành lập 3 quân đoàn 1, 2, 4; mở rộng và nối dài tuyến vận chuyển chiến lược Bắc - Nam tới Nam Bộ; miền Bắc dồn sức chi viện mạnh mẽ, toàn diện, liên tục cho miền Nam.

Cuộc tổng tiến công và nổi dậy giải phóng hoàn toàn miền Nam mở màn từ ngày 4-3-1975 bằng chiến dịch Tây Nguyên (4-3 - 3-4-1975) mà trận đột phá chiến lược là trận Buôn Ma Thuột (10 - 11-3-1975); tiếp đó đánh bại cuộc phản kích của Sư đoàn 23 quân đội Sài Gòn, truy kích quân đội Sài Gòn rút chạy trên đường số 7 (nay là đường 25) tiêu diệt và làm tan rã Quân đoàn 2 - Quân khu 2 của địch, giải phóng Tây Nguyên, nhanh chóng phong trào xuống các tỉnh ven biển miền Trung. Bộ Chính trị kịp thời bổ sung quyết tâm giải phóng hoàn toàn miền Nam trong năm 1975. Trong lúc đó, từ ngày 6-3-1975, ta bắt đầu tiến công địch ở Trị - Thiên và khu 5. Đến ngày 21-3, phát huy thắng lợi nhanh chóng và dồn dập ở Tây Nguyên, đồng bằng miền Trung, hai chiến dịch ở Quân khu 5 và Quân khu Trị - Thiên đã phát triển thành đòn tiến công chiến lược Huế - Đà Nẵng. Ngày 25-3-1975, Bộ chính trị bổ sung quyết tâm giải phóng miền Nam trước mùa mưa năm 1975. Ngày 267-3, Huế được giải phóng. Ngày 29-3, Đà Nẵng được giải phóng. Sau 25 ngày đêm chiến đấu (từ ngày 6 - 29-3), ta tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ lực lượng Quân đoàn 1, Quân khu 1 của địch. Đến ngày 3-4, ta giải phóng hoan toàn các tỉnh đồng bằng ven biển miền Trung. Từ ngày 14 đến ngày 29-4, toàn bộ các đảo thuộc quần đảo Trường Sa được giải phóng. Từ ngày 26-4, chiến dịch Hồ Chí Minh (26 - 30-4-1975) bắt đầu. Sau khi đập tan tuyến phòng thủ vòng ngoài Sài Gòn - Gai Đinh, sáng ngày 30-4-1975, Quân giải phóng miền Nam thọc sâu đánh chiếm các mục tiêu chủ yếu trong nội đô, kết hợp với nổi dậy của nhân dân, tiêu diệt và làm tan rã Quân đoàn 3 - Quân khu 3 của địch, giải phóng Sài Gòn - Gia Định, buộc chính quyền Sài Gòn phải đầu hàng vô điều kiện. ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, cuộc tiến công và nổi dậy của quân và dân từ đầu tháng 3-1975 đã giải phóng toàn bộ vùng đồng bằng sông cửu Long, tiêu diệt và làm tan rã Quân đoàn 4 - Quân khu 4 của địch.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam đã kết thúc toàn thắng. Toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta trên cả hai miền đã thực hiện thắng lợi trọn vẹn phương hướng chiến lược mà Bác Hồ kính yêu đã chỉ tra trong Thơ chúc Tết của Người năm 1969: “Đánh cho Mỹ cút đánh cho ngụy nhào”, thu non sông về một mối. Trải qua 21 năm, nhân dân Việt Nam đã đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới với quy mô lớn nhất, thời gian dài nhất, ác liệt nhất từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Trong cuộc chiến tranh này, 6 đời Tổng thống Mỹ kế nhiệm nhau lập các kế hoạch chiến lược, chi gần 700 tỉ đô la, huy động 22.000 xí nghiệp 6 triệu công nhân công nghiệp và hơn 1/3 tổng số cá nhà khoa học, 260 trường đại học Mỹ tham gia nghiên cứu kế hoạch chiến lược chế tạo sản xuất các loại vũ khí và phương tiện chiến tranh; huy động 6,5 triệu lượt binh sĩ Mỹ trực tiếp tham chiến, lúc cao nhất có mặt ở miền Nam hơn nửa triệu quân; ném xuốn Việt Nam 7.850.000 triệu tấn bom, hàng chục triệu lít chất độc diệt cây, sử dụng những loại vũ khí, kỹ thuật mới nhất (trừ vũ khí hạt nhân), bị tổn thất 360.000 người, trong đó có 58.191 người. Phía Việt Nam, có 1,1 triệu quân nhân hy sinh, 600.000 người bị thương, 300.000 người mất tích, 2 triệu người bị phơi nhiễm hóa chất độc hại. Thắng lợi trọn vẹn của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ là thắng lợi của bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam; của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện, hoàn cảnh của cách mạng và chiến tranh Việt Nam; của sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết quốc tế, đoàn kết giữa ba dân tộc trên bản đảo Đông Dương; của sự nghiệp kế thừa và phát huy lên tầm cao mới truyền thống đánh giặc và nghệ thuật quân sự Việt Nam. Tiếp sau kháng chiến chống Pháp, kháng chiến chống Mỹ đã hoàn thành sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc kéo dài hơn 100 năm của nhân dân Việt Nam, mở ra kỷ nguyên mới - đất nước độc lập, thống nhất, đi lên xây dựng Tổ quốc Việt Nam giàu mạnh theo định hướng xã hội chủ nghĩa; đồng thời tạo điều kiện cho cách mạng Lào và cách mạng Campuchia giành thắng lợi quyết định, góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9989


Lính của PTL


« Trả lời #145 vào lúc: 26 Tháng Ba, 2011, 08:05:06 am »

PHỤ LỤC

Phụ lục 1

KẾT LUẬN ĐỢT HAI HỘI NGHỊ BỘ CHÍNH TRỊ

Ngày 7 tháng 1 năm 1975

Bàn về tình hình và nhiệm vụ
cuộc chống Mỹ, cứu nước
(1)


Thưa các đồng chí,

Trong cuộc họp lần trước, Bộ Chính trị đã nhất trí về phương hướng chiến lược nhằm đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đến toàn thắng. Lần này, Bộ Chính trị thảo luận thêm với các đồng chí miền Nam. Các đồng chí phụ trách chủ yếu của các chiến trường Khu V, Nam Bộ đều có mặt đông đủ. Tất cả chúng ta đều nhất trí hoàn toàn về các mặt: đánh giá tình hình sau Hiệp định Pari, đánh giá lực lượng so sánh giữa ta và địch, nhận định thời cơ lịch sử, khẳng định quyết tâm chiến lược hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam trong hai năm 1975-1976, xác định nhiệm vụ, mục tiêu và các bước thực hiện.

Bản kết luận của tôi trong lần họp trước đã đề cập các vấn đề quan trọng ấy. Hôm nay, tôi không nhắc lại tất cả mà chỉ tóm tắt những vấn đề các đồng chí phát biểu và nói thêm một số ý kiến để khẳng định một lần nữa quyết tâm của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương.

I - TÌNH HÌNH MIỀN NAM HAI NĂM SAU
HIỆP ĐỊNH PARI

Trung ương đã chỉ rõ ký Hiệp định Pari là nhằm đuổi Mỹ ra khỏi miền Nam, thắng địch một bước căn bản, tạo điều kiện để tiến lên hoàn thành sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước. Để đạt mục đích đó, ta phải tận dụng những nhân tố thắng lợi và những khả năng mới do Hiệp định Pari đưa lại; đó là chính quyền và lực lượng vũ trang cách mạng, vùng giải phóng, lực lượng chính trị và phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng trong vùng địch kiểm soát, những quyền cơ bản được Hiệp định thừa nhận: hòa bình, độc lập, dân chủ, hòa hợp dân tộc.

Tuy nhiên, do không quán triệt ý đồ chiến lược của Trung ương, đánh giá chưa đúng lực lượng so sánh giữa ta và địch, nên lúc đầu một số nơi đã để cho địch lấn tới và lâm vào thế bị động. Cuối năm 1973 đầu năm 1974, phối hợp với đấu tranh chính trị, ngoại giao, ta kiên quyết phản công và tiến công đập tan những âm mưu và hành động lấn chiếm của địch. Những đòn giáng trả của chúng ta được dư luận trong nước và trên thế giới đồng tình, ủng hộ. Mọi người, ngay cả trong hàng ngũ bọn phản động Sài Gòn, đều thấy rõ Nguyễn Văn Thiệu là kẻ chủ tâm phá hoại hiệp định, tiếp tục đấu tranh, còn ta thì giương cao ngọn cờ hòa bình, hòa hợp dân tộc.

Chủ trương nói trên đã tạo ra được thế mạnh mới trên những mặt sau đây:

Một là, ta đã giành quyền chủ động trên khắp các chiến trường, trừng trị các cuộc hành quân lấn chiếm của địch, giành lại dân và những vùng bị mất mở rộng vùng giải phóng của ta.

Hai là, ta đã củng cố và hoàn chỉnh kế hoạch chiến lược liên hoàn từ Bắc vào Nam, từ rừng núi Trị - Thiên đến Tây Nguyên, miền Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long.

Ba là, ta đã xây dựng và tăng cường các binh đoàn chủ lực cơ động ở vùng rừng núi; tập trung được nguồn dự trữ chiến lược trên những địa bàn quan trọng.

Bốn là, ta đã cải thiện được tình hình nông thôn đồng bằng, tạo nên các bàn đạp ở vùng phụ cận thành thị lớn; đặc biệt đối với đồng bằng Nam Bộ, đã xây dựng được một số đơn vị lớn quân chủ lực, điều mà xưa nay chưa làm được.

Năm là, ta đã phát động được phong trào đấu tranh chính trị dưới khẩu hiệu hòa bình, độc lập, hòa hợp dân tộc.

Sáu là, ta tiếp tục tranh thủ thêm được sự đồng tình, ủng hộ mãnh mẽ của các lực lượng cách mạng và nhân dân tiến bộ trên thế giới.

Chúng ta còn một số nhược điểm: xây dựng bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương chưa đạt yêu cầu về số lượng, chất lượng, trang bị, tổ chức, cán bộ, nhất là về trình độ tác chiến hợp đồng quy mô lớn và dài ngày. Ở nông thôn, chưa kết hợp tốt ba mũi tiến công; bộ đội địa phương, dân quân du kích ở nhiều nơi còn yếu, chưa tạo được thế cho quần chúng đấu tranh. Ở thành thị, đấu tranh chính trị chưa trở thành phong trào quần chúng thật sâu rộng. Tóm lại, trong hai năm qua, do có khuyết điểm về chỉ đạo, nên việc tận dụng những nhân tố thắng lợi và những khả năng mới còn bị hạn chế.


(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.36, tr. 1-11.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9989


Lính của PTL


« Trả lời #146 vào lúc: 26 Tháng Ba, 2011, 08:05:58 am »

Về phía địch, chúng cũng có những chỗ mạnh nhất định: quân ngụy còn gần 70 vạn tên, có 13 sư đoàn chủ lực, địch còn kiểm soát hầu hết các thành thị lớn; còn nắm được những vùng nông thôn đông dân, nhiều của; còn được Mỹ viện trợ về quân sự, kinh tế; còn cố vấn Mỹ chỉ huy. Tuy vậy, thế của địch ngày càng xấu, lực của địch ngày càng suy. Tình trạng đó biểu hiện ở các mặt sau đây:

Một là, quân ngụy, từ chủ lực đến địa phương, ở thế phòng ngự, phần lớn bị giam chân tại chỗ; một số ít đơn vị còn cơ động nhưng chỉ được phần nào; nói chung, quân chủ lực không làm được vai trò yểm trợ cho quân địa phương.

Hai là, các thứ quân địa phương như bảo an, “dân vệ” thì sức kìm kẹp đã giảm, không còn làm được lực lượng dự trữ như trước, một số không ít đơn vị đã tan rã từng mảng khi bị ta tiến công.

Ba là, trình độ hiệp đồng của các binh chủng quân ngụy thấp và yếu, lực lượng không quân, pháo binh, xe tăng, thiết giáp giảm sút rất nhiều.

Bốn là, tinh thần quân ngụy sa sút thêm một bước nghiêm trọng, tình trạng tan rã, bỏ trốn ngày càng nhiều; tướng tá chỉ huy bị thay đổi, xáo trộn. Nhìn chung quân ngụy đang mất sức chiến đấu, mất lòng tin nghiêm trọng, chủ nghĩa thất bại đang lây lan.

Năm là, vùng địch tạm chiếm bị chia cắt, kế hoạch “bình định” đang phá sản; địch nống ra để đỡ thì bị đánh, bị diệt; chúng co lại để giữ thì mất dân, mất đất.

Sáu là, tình hình chính trị, kinh tế, đặc biệt là ở thành thị, chưa lúc nào khó khăn, rối loạn như hiện nay. Mấy chục năm nay, chế độ ngụy sống nhờ vào viện trợ của đế quốc Mỹ. Nay Mỹ rút, viện trợ giảm nhiều làm cho kinh tế xáo trộn, hỗn loạn, đời sống nhân dân bị de dọa. Sự chống đối của nhân dân đối với ngụy quyền gay gắt hơn bao giờ hết. Về nội bộ, địch đang tranh giành, xâu xé nhau. Các phe phái, những người cầm đầu các tôn giáo mâu thuẫn với bọn cầm quyền; giữa Mỹ và bọn tay sai cũng lục đục với nhau.

Trước tình hình quân sự, chính trị, kinh tế đó, Nguyễn Văn Thiệu khó bề đứng vững.

Trải qua bao nhiêu năm đấu tranh gay go, gian khổ, cách mạng miền Nam nói riêng, cách mạng Việt Nam nói chung, mới tạo được bước chuyển biến quan trọng nói trên về lực lượng so sánh. Chưa bao giờ hai mặt đấu tranh quân sự, chính trị có điều kiện thuận lợi, có khả năng kết lại thành cao trào tiến công như hiện nay: khi nổ ra “đồng khởi” trong những năm 1959-1960, đọi quân chính trị hùng hậu, đấu tranh chính trị mạnh mẽ nhưng lực lượng vũ trang cách mạng còn nhỏ bé. Trong các thời kỳ đánh trả “chiến tranh đặc biệt” và “chiến tranh cục bộ” của Mỹ, lực lượng vũ trang cách mạng ngày càng lớn mạnh, phong trào đấu tranh chính trị tuy có phát triển, nhưng không đều; do đó, sự kết hợp giữa quân sự và chính trị chưa nhịp nhàng, đồng bộ. Tình hình hiện nay khác với trước rất nhiều. Mỹ đã thua liên tiếp và phải rút quân về; ngụy quân, ngụy quyền không còn chỗ dựa như trước. Quân đội ta sung sức, có mặt khắp miền Nam. Quần chúng nhân dân trong vùng địch đòi hỏi vùng dậy và có khí thế mới.

Năm 1974, trong khi thế và lực của ta lớn mạnh lên nhanh thì địch càng xuống dốc cả về quân sự, chính trị, kinh tế. Ta tiến công mạnh thì nhất định sẽ tạo ra những đột biến mới trong quá trình xuống dốc đó của địch.

Lần họp trước, chúng ta đã xem xét bối cảnh quốc tế của chiến tranh Việt Nam. Lần này, hội nghị đi sâu phân tích lực lượng so sánh giữa ta và địch. Căn cứ vào sự đánh giá trong cả hai lần họp, chúng ta thấy chính xác hơn thời cơ lịch sử và khả năng thực tế để quyết chiến những trận cuối cùng, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn. Chúng ta nhất trí phải gấp rút chuẩn bị mọi mặt để kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh cứu nước trong năm 1975 hoặc 1976. Quyết tâm của Bộ Chính trị phải được truyền đến toàn thể cán bộ, đảng viên, đoàn viên và quần chúng nhân dân. Phải tiến hành công tác chính trị, tư tưởng sâu rộng, cổ vũ mạnh mẽ khí thế quyết chiến, quyết thắng.
« Sửa lần cuối: 26 Tháng Ba, 2011, 08:30:31 am gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9989


Lính của PTL


« Trả lời #147 vào lúc: 26 Tháng Ba, 2011, 08:06:29 am »

II - NHIỆM VỤ, KẾ HOẠCH TÁC CHIẾN

Nhiệm vụ sắp tới của chúng ta là nắm vững thời cơ lịch sử, mở nhiều chiến dịch tổng hợp liên tiếp, đánh những trận quyết định, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, tiến tới thống nhất Tổ quốc. Hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân thì tất yếu sẽ đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Trong khi thực hiện nhiệm vụ này, chúng ta sẽ cùng với và giúp đỡ hai nước Lào và Campuchia anh em tiến lên.

Để thực hiện quyết tâm nói trên, phải phấn đấu thưc hiện những nhiệm vụ cụ thể, đạt được những yêu cầu sau đây:

Một là, thực hiện tiến công và nổi dậy trên quy mô lớn, tiêu diệt chi khu quận lỵ, đánh bại kế hoạch “bình định”, giành phần lớn nông thôn ở đồng bằng Nam Bộ, đồng bằng Khu V và Trị - Thiên. Đây là một đòn chiến lược quan trọng, làm cho địch yếu hẳn xuống, mất hết nguồn dự trữ, làm cho ta mạnh hẳn lên, đứng vững ở nông thôn đồng bằng, chia cắt địch và áp sát các thành thị.

Hai là, mở những chiến dịch hợp đồng binh chủng của bộ đội chủ lực ta, đánh mạnh vào quân chủ lực ngụy, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, loại khỏi vòng chiến đấu nhiều trung đoàn, sư đoàn, bẻ gãy xương sống quân ngụy; bao vây, tiêu diệt và chiếm lĩnh các khu vực chiến lược quan trọng, mở rộng hơn nữa vùng giải phóng, hoàn chỉnh các căn cứ chiến lược để đẩy mạnh cuộc tiến công và nổi dậy.

Ba là, kết hợp với đòn tiến công của quân chủ lực ngụy và đòn đánh phá “bình định” nông thôn, thực hiện bao vây, uy hiếp các thành thị lớn, nhất là Sài Gòn, phát triển phong trào đấu tranh chính trị lên quy mô lớn, đòi hòa bình, hòa hợp dân tộc. Nếu Mỹ lật Thiệu, thì nhanh chóng phát động quần chúng nổi dậy, đánh đổ ngụy quyền, xây dựng chính quyền cách mạng ở các cấp bên dưới, đấu tranh lập chính phủ liên hiệp bên trên.

Bốn là, đẩy mạnh công tác binh vận kịp với quy mô, cường độ tiến công nổi dậy, nhanh chóng làm tan rã quân ngụy khi ta đánh mạnh, thúc đẩy những cuộc binh biến, ly khai của một số đơn vị quân ngụy ở những nơi có điều kiện.

Năm là, phá hủy các cơ sở hậu cần và phương tiện chiến tranh của địch, làm cho địch mất hẳn nguồn dự trữ, đánh mạnh vào các cơ quan đầu não, triệt phá các đường giao thông của địch. Tiếp tục hoành chỉnh các tuyến giao thông vận tải của ta, bảo đảm dự trữ về vật chất, kỹ thuật cho quân đội đánh liên tục, dài ngày.

Thực hiện những nhiệm vụ và yêu cầu trên đây, phải nắm vững cái địch là tạo ra sức mạnh tổng hợp, kết hợp quân sự với chính trị, khởi nghĩa với chiến tranh, phối hợp “ba mũi giáp công”, ba vùng chiến lược, tiêu diệt địch để làm chủ, làm chủ để tiêu diệt địch, tiến tới tổng tiến công và nổi dậy, thắng địch tại sào huyệt quan trọng nhất của chúng là Sài Gòn, để kết thúc chiến tranh.

Đánh trận cuối cùng này, trước hết là nhiệm vụ của các lực lượng quân sự, chính trị trên chiến trường Nam Bộ, trong đó có lực lượng của Sài Gòn - Gia Định, đồng thời là nhiệm vụ của quân và dân cả nước, trong đó khối chủ lực Miền và các binh đoàn chủ lực từ các chiến trường khác đến, đóng vai trò quyết định.

Kế hoạch hoạt động năm 1975 chỉ ra nhiệm vụ của từng chiến trường, đồng thời hướng hoạt động của tất các chiến trường vào cái đích chung là tiến tới trận quyết chiến chiến lược tại sào huyệt cuối cùng của địch bằng con đường nhanh nhất.

Chiến trường Nam Bộ có ba nhiệm vụ quan trọng: đánh phá bình định; đánh quân chủ lực ngụy; vây ép thành thị. Để đánh phá “bình định”, mà trọng điểm là ở đồng bằng sông Cửu Long, phải sử dụng hai đến ba vạn quân chủ lực ở miền Đông Nam Bộ đánh xuống đồng bằng, kết hợp với những cuộc tiến công và nổi dậy của lực lượng quân sự, chính trị tại chỗ, mở vùng giải phóng liên hoàn nối miền Đông với Khu VIII, Khu IX; đồng thời ép mạnh về phía Mỹ Tho, Sài Gòn, nhất là Sài Gòn, tạo thế cho quần chúng ở đây nổi dậy. Để góp phần vây ép Sài Gòn, quân chủ lực ta phải tiêu diệt cho một bộ phận quan trọng quân chủ lực ngụy ở miền Đông.
« Sửa lần cuối: 26 Tháng Ba, 2011, 08:32:06 am gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9989


Lính của PTL


« Trả lời #148 vào lúc: 26 Tháng Ba, 2011, 08:07:26 am »

Chiến trường Khu V, Tây Nguyên, dùng ba sư đoàn quân chủ lực đánh Tây Nguyên, mở thông hành lang nối liền nam Tây Nguyên với Đông Nam Bộ, tạo điều kiện để bộ đội chủ lực cơ động nhanh vào miền Đông, phối hợp với quân chủ lực Miền để tiến đánh Sài Gòn. Mở trận đầu đánh chiếm Buôn Ma Thuột, thọc thẳng xuống Tuy Hòa, Phú Yên, cắt đồng bằng Khu V ra làm đôi, tạo thêm một thướng nữa để tiến nhanh về phía nam vây ép Sài Gòn.

Sử dụng lực lượng của Quân khu V và lực lượng quân sự, chính trị các tỉnh ven biển miền Trung, giải phóng từ Bình Định trở ra để ép về phía Đà Nẵng.

Chiến trường Trị - Thiên, đánh chiếm đồng bằng, làm chủ vững chắc từ nam thành phố Huế trở vào, chia cắt Huế với Đà Nẵng, vây ép hai thành phố này không cho địch co cụm về phía nam, thúc đẩy binh biến, ly khai ở miền Trung.

Khi có thời cơ, sẽ cơ động thêm ba sư đoàn vào miền Đông. Sử dụng hai quân đoàn đánh chớp nhoáng, diệt mấy sư đoàn chủ lực ngụy ở đây, rồi thọc vào Sài Gòn.

Cần có kế hoạch chuẩn bị ở miền Nam cũng như ở miền Bắc nhằm đối phó với việc Mỹ có thể dùng không quân, hải quân đánh phá trở lại. Khả năng Mỹ quay lại can thiệp vào chiến tranh Việt Nam không nhiều, nhưng dù khả năng đó chỉ năm, bảy phần trăm, chúng ta cũng phải đề phòng vì Mỹ còn có mưu đồ duy trì chủ nghĩa thực dân mới. Mỹ muốn làm gì thì cũng chỉ có mức độ, chẳng hạn như tăng thêm một ít viện trợ quân sự, kinh tế, hoặc nhiều lắm là chi viện bằng không quân, hải quân (với điều kiện ngụy chống cự được lâu dài).

Trên đây là những đòn tiến công quân sự chủ yếu trong kế hoạch chiến lược năm 1975. Chúng ta đều nhất trí về kế hoạch đó. Trong quá trình thực hiện, chúng ta sẽ tùy theo diễn biến của các trận chiến đấu trên chiến trường mà chỉ đạo, chỉ huy, đánh mạnh nhất, bất ngờ nhất, nhằm tiến tới đích nhanh nhất, thắng gọn nhất và triệt để nhất ở Sài Gòn.

Kế hoạch tiếp theo cho năm 1976 là do kết quả thực hiện kế hoạch năm 1975 quyết định. Chúng ta phải cố gắng cao nhất để thắng gọn trong năm 1975. Điều đó là một khả năng hiện thực.

Ở ngoài này, Trung ương Đảng và Chính phủ sẽ làm hết sức mình để tăng cường lực lượng, bảo đảm đầy đủ nhu cầu về vật chất, kỹ thuật cho chiến trường, coi đó là điều kiện cơ bản để giành thắng lợi. Điều quan trọng cấp bách nữa là chuẩn bị sẵn lực lượng dự bị chiến lược; tuyển cho được 30 vạn tân binh, đẩy nhanh việc huấn luyện bộ đội, nắm chắc khâu đào tạo cán bộ, làm thật tốt công tác chính trị, tư tưởng trong quân đội, trong nhân dân, động viên toàn quân, toàn dân nêu cao ý chí “tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng”.

Sử dụng khôn khéo vũ khí đấu tranh ngoại giao, góp phần giương cao ngọn cờ hòa bình, độc lập, hòa hợp dân tộc nhằm cô lập bọn tay sai ngoan cố; làm sáng tỏ chính nghĩa của ta, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của các lực lượng cách mạng và nhân dân tiến bộ trên thế giới; ngăn chặn âm mưu và thủ đoạn can thiệp, phá hoại của đế quốc Mỹ và bọn phản động quốc tế.

Hội nghị chúng ta đã nhất trí về tất cả các vấn đề. Sau hội nghị này còn nhiều việc phải làm rất khẩn trương. Ở tiền tuyến, sự lãnh đạo và chỉ đạo của các cấp ủy đảng phải chặt chẽ, cụ thể từ việc vạch kế hoạch bố trí lực lượng, phối hợp các mũi tiến công đến hiệp đồng chiến đấu giữa địa phương với chiến trường miền Nam và cả nước. Ngoài này, Bộ Tổng tham mưu cần tiếp tục hoành chỉnh kế hoạch tiến công đã được vạch ra từ năm 1974, cụ thể hóa hơn nữa các vấn đề về tổ chức thực hiện, xây dựng lực lượng, bố trí chiến trường, bảo đảm hậu cần. Bộ Tổng tham mưu là cơ quan có trách nhiệm rất quan trọng trong việc triển khai thực hiện quyết định có ý nghĩa lịch sử này của Bộ Chính trị.

Trận quyết chiến chiến lược này là một sự nghiệp trọng đại. Nó sẽ đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đến thắng lợi hoàn toàn, góp phần làm thay đổi cục diện ở Đông Dương, Đông Nam Á, mở ra một bước phát triển mới trong phong trào cách mạng của nhân dân thế giới. Đảng ta quyết làm tròn sứ mệnh lịch sử vẻ vang đối với dân tộc và nghĩa vụ quốc tế cao cả. Trước mắt chúng ta còn nhiều khó khăn, gian khổ, nhưng phát tuy truyền thống chiến đấu anh hùng, sức sáng tạo vô tận của quân đội và nhân dân ta, chúng ta nhất định sẽ vượt qua tất cả. Chúng ta nhất định đánh thắng!
« Sửa lần cuối: 26 Tháng Ba, 2011, 08:33:03 am gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9989


Lính của PTL


« Trả lời #149 vào lúc: 26 Tháng Ba, 2011, 08:09:36 am »

Phụ lục 2

I

THẮNG LỢI VĨ ĐẠI, BƯỚC NGOẶT LỊCH SỬ
CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM(*)

Thưa các đồng chí,

Từ tháng 7 năm 1954 đến tháng 5 năm 1975 là thời kỳ đấu tranh vô cùng sôi động và phong phú của cách mạng Việt Nam. Dưới ánh sáng của đường lối do Đại hội lần thứ III của Đảng đề ra, nhân dân cả nước ta đã đấu tranh vô cùng anh dũng và bền bỉ để thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: giải phóng miền Nam, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, nhằm thực hiện một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh. Dưới đây, Ban Chấp hành Trung ương xin báo cáo tổng quát cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân ta và hoạt động của Đảng và Nhà nước ta trong việc thực hiện những nhiệm vụ ấy.

Như chúng ta đã biết, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, đế quốc Mỹ, nhờ lợi dụng vị trí đặc biệt của nước Mỹ mà trở thành tên đế quốc giàu có và hùng mạnh nhất, đã đứng ra đóng vai trò sen đầm quốc tế để bảo vệ và cứu nguy cho cả hệ thống đế quốc chủ nghĩa đã suy yếu nghiêm trọng và lâm vào một cuộc tổng khủng hoảng mới, trước sự ra đời và lớn mạnh nhanh chóng của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới, trước những đòn quyết liệt của phong trào giải phóng dân tộc và làn sóng đấu tranh dồn dập của phong trào công nhân ở các nước tư bản chủ nghĩa. Trước sức tiến công mạnh mẽ của ba dòng thác cách mạng ấy, đế quốc Mỹ lần lượt mất vị trí này đến vị trí khác và lực lượng so sánh trên thế giới tiếp tục thay đổi ngày càng không có lợi cho phe đế quốc chủ nghĩa. Sau khi thất bại trong chiến lược “trả đũa ồ ạt” dựa vào vũ khí hạt nhân, từ đầu những năm 1960, đế quốc Mỹ buộc phải chuyển sang thực hành chiến lược “phản ứng linh hoạt”, chĩa mũi nhọn chủ yếu vào các lực lượng xã hội chủ nghĩa và giải phóng dân tộc ở những vùng có chọn lựa, mà Việt Nam là điểm nóng bỏng nhất theo quan điểm chiến lược của Mỹ.

Từ lâu đế quốc Mỹ đã nhòm ngó nước ta. Khi Pháp sa lầy trong chiến tranh Đông Dương, một mặt Mỹ ra tay giúp Pháp, mặt khác âm mưu thay thế Pháp để độc chiếm Đông Dương. Sau khi Pháp thua ở Điện Biên Phủ, đế quốc Mỹ nhảy vào miền Nam Việt Nam, hất cẳng Pháp và từ đó biến nước ta thành nơi thí nghiệm các chiến lược, chiến thuật của Mỹ, hòng đánh bại cách mạng Việt Nam, và rút kinh nghiệm để đối phó với phong trào cách mạng thế giới. Bởi vì, từ một thuộc địa vùng lên giành độc lập, anh dũng đánh thắng một đế quốc to là Pháp, đưa nửa nước tiến lên chủ nghĩa xã hội, đồng thời kiên quyết đấu tranh để hoàn thành độc lập dân tộc trong cả nước, cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản là ngọn cờ tiêu biểu cho sự kết hợp các trào lưu cách mạng của thời đại, cho xu thế phát triển tất yếu của phong trào giải phóng dân tộc lên chủ nghĩa xã hội.

Âm mưu cơ bản của đế quốc Mỹ là tiêu diệt bằng được phong trào yêu nước của nhân dân ta, thôn tính miền Nam, chia cắt lâu dài đất nước ta, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ, lập phòng tuyến ngăn chặn chủ nghĩa xã hội lan xuống Đông Nam châu Á; đồng thời lấy miền Nam làm căn cứ để tiến công miền Bắc, tiền đồn của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới ở Đông Nam châu Á, hòng đè bẹp và đẩy lùi chủ nghĩa xã hội ở vùng này, bao vây và uy hiếp các nước xã hội chủ nghĩa khác. Năm tổng thống Mỹ kế tiếp nhau đã theo đuổi âm mưu ấy bằng con đường chiến tranh, ngoan cố bám lấy chính sách thực dân mới và lao vào những cuộc phiêu lưu quân sự với bất cứ giá nào. Đế quốc Mỹ chắc mẩm có thể khuất phục được nhân dân ta mà không bị trừng phạt và không gây ra xung đột quốc tế mở rộng do có sự bất hoà trong hệ thống xã hội chủ nghĩa. Đất nước ta, vì vậy, trở thành nơi thử thách sức mạnh và uy tín của đế quốc Hoa Kỳ, như chính bọn cầm quyền Mỹ đã thú nhận. Chiến tranh xâm lược Việt Nam là một bộ phận quan trọng trong chiến lược toàn cầu phản cách mạng của đế quốc Mỹ. Mỹ muốn chứng tỏ rằng lực lượng quân sự và kinh tế khổng lồ của chúng có thể đè bẹp mọi phong trào giải phóng dân tộc và chặn đứng bước tiến của chủ nghĩa xã hội ở bất cứ nơi nào trên thế giới.

Trong cuộc chiến tranh cách mạng lâu dài chống chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, nhân dân ta đã lần lượt đánh bại những chiến lược khác nhau của các tổng thống Mỹ, đưa cuộc kháng chiến cứu nước qua những chặng đường thắng lợi rất vẻ vang.

Vượt qua thời kỳ khó khăn từ năm 1954 đến năm 1959, dưới ánh sáng Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá II (tháng 5 năm 1959) và Nghị quyết Đại hội lần thứ III của Đảng, cách mạng miền Nam đã chuyển từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công. Vào cuối năm 1959 đầu năm 1960, những cuộc “đồng khởi” đã nổ ra trong những vùng rộng lớn thuộc đồng bằng Nam Bộ và rừng núi miền Trung. Những cuộc khởi nghĩa từng phần ấy đã phát triển nhanh chóng, nhất là từ sau chiến thắng Ấp Bắc, thành một cuộc chiến tranh cách mạng vừa đấu tranh quân sự, vừa đấu tranh chính trị, kết hợp đánh địch ở rừng núi và nông thôn đồng bằng với phong trào đấu tranh quyết liệt ở thành thị, đẩy chế độ phát xít tay sai Ngô Đình Diệm đến sụp đổ và làm phá sản chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ.


(*) Trích Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV, in trong Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.37, tr.477-504.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM