Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 29 Tháng Ba, 2020, 02:56:39 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Thế giới: Một góc nhìn (Đại tá Lê Thế Mẫu)  (Đọc 41326 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4028



« vào lúc: 22 Tháng Hai, 2011, 09:51:18 AM »

THẾ GIỚI: MỘT GÓC NHÌN

Tác giả: Lê Thế Mẫu
Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia 1/2010
Khổ 14.5 x 20.5 cm. Số trang: 518

Nguồn: Tạp chí Cộng sản
Tập hợp,bổ sung: hoi_ls







PHẦN I: TRẬT TỰ THẾ GIỚI MỚI
*SỰ KIỆN NÀO KẾT THÚC CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI
*MỘT SỐ VẤN ĐỀ QUÂN SỰ CÓ TÍNH TOÀN CẦU TRONG KỶ NGUYÊN TOÀN CẦU HOÁ
*“CHIẾN TRANH LẠNH” ĐÃ ĐƯỢC NHEN NHÓM TRONG GIAI ĐOẠN CUỐI CÙNG CỦA CHIẾN TRANH THẾ GIỚI LẦN THỨ HAI
*DẦU MỎ - “TỬ HUYỆT” CỦA NHIỀU CƯỜNG QUỐC KINH TẾ TRONG THẾ GIỚI ĐƯƠNG ĐẠI
*TỪ RIC ĐẾN BRIC: MỘT TỔ CHỨC QUỐC TẾ CÓ SỨC LAN TỎA MẠNH MẼ TRONG THẾ GIỚI ĐƯƠNG ĐẠI
*KHOẢNG KHÔNG VŨ TRỤ LIỆU CÓ TRỞ THÀNH CHIẾN TRƯỜNG “NÓNG” TRONG THẾ KỶ XXI?
*HỘI NGHỊ THƯỢNG ĐỈNH G-20: BƯỚC ĐẦU HƯỚNG TỚI TRẬT TỰ THẾ GIỚI MỚI?
*NATO - CÔNG CỤ CHIẾN LƯỢC TOÀN CẦU CỦA MỸ
*SỰ TRỞ LẠI CỦA NƯỚC PHÁP: NATO THÊM LUỒNG SINH KHÍ
*GIẢI PHÁP NÀO NGĂN CHẶN NGUY CƠ PHỔ BIẾN VŨ KHÍ HẠT NHÂN?
*BRIC VÀ TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI THẾ GIỚI
*G-8, G-14, G-20, HAY LỚN HƠN NỮA?
*PHẢN ỨNG DÂY CHUYỀN TỪ OA-SINH-TƠN ĐẾN TÔ-KY-Ô
*TRẬT TỰ THẾ GIỚI MỚI NHÌN TỪ CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH HIỆN NAY Ở MỸ
*CẠNH TRANH VÀ XUNG ĐỘT ĐỊA - CHÍNH TRỊ TRONG KỶ NGUYÊN MỚI SAU CHIẾN TRANH LẠNH
*NHỮNG “BỨC TƯỜNG” MỚI MỌC LÊN SAU KHI BỨC TƯỜNG BÉC-LIN SỤP ĐỔ
*XU HƯỚNG TĂNG CƯỜNG SỨC MẠNH QUÂN SỰ Ở CHÂU Á
*CÔNG NGHỆ QUÂN SỰ
*THÁCH THỨC TOÀN CẦU CẦN CÓ GIẢI PHÁP TOÀN NHÂN LOẠI

PHẦN II: NHỮNG ĐIỂM NÓNG
*NGUYÊN NHÂN THẤT BẠI CỦA MỸ Ở IRẮC: SỨC MẠNH KHÔNG THỂ TẠO DỰNG DÂN CHỦ
*I-RAN: MỘT TRONG NHỮNG TÂM ĐIỂM CỦA NỀN CHÍNH TRỊ QUỐC TẾ
*CUỘC CHẠY ĐUA GIÀNH TÀI NGUYÊN Ở BẮC CỰC CHỈ MỚI BẮT ĐẦU
*CHÂU PHI TRONG CHIẾN LƯỢC CỦA CÁC CƯỜNG QUỐC GIÀNH QUYỀN KIỂM SOÁT TOÀN CẦU VỀ DẦU MỎ
*ĐIỀU GÌ ĐÓN CHỜ I-RẮC SAU KHI MỸ RÚT QUÂN?
*MỸ THAY ĐỔI CHIẾN LƯỢC “CHIẾN TRANH CHỐNG KHỦNG BỐ”
*HAI “VÕ SĨ SIÊU HẠNG” TRÊN “ĐẤU TRƯỜNG” CHÂU PHI
*NATO CHỦ TRƯƠNG XÚC TIẾN QUÁ TRÌNH ÁP-GA-NI-XTAN HÓA CHIẾN TRANH
*HỐI LỘ TRONG CHIẾN TRANH

PHẦN III: MỸ VÀ QUAN HỆ MỸ - NGA
*NIỀM LẠC QUAN KHÔNG HÓA GIẢI ĐƯỢC MÂU THUẪN VÀ XUNG ĐỘT
*HỆ THỐNG PHÒNG THỦ TÊN LỬA QUỐC GIA: HY VỌNG GIÀNH ƯU THẾ QUÂN SỰ CỦA MỸ
*VỀ CÁI GỌI LÀ “CAN THIỆP NHÂN ĐẠO”
*CHUYẾN THĂM CỦA ÔNG ĐÍCH CHE-NY - NƯỚC ĐI TRONG “VÁN CỜ LỚN”
*DO ĐÂU ĐA SỐ CƯ DÂN THẾ GIỚI ỦNG HỘ ỨNG CỬ VIÊN BA-RẮC Ô-BA-MA
*CHƯA CÓ SỰ ĐỘT PHÁ TRONG QUAN HỆ MỸ - NGA
*ĐỐI THOẠI CHIẾN LƯỢC VÀ KINH TẾ MỸ - TRUNG LIỆU CÓ TRỞ THÀNH DIỄN ĐÀN G2?
*“NHIỆM KỲ THỨ NHẤT” CỦA TỔNG THỐNG B.Ô-BA-MA HAY “NHIỆM KỲ THỨ BA” CỦA TỔNG THỐNG G.BU-SƠ?
*“DI SẢN HÒA BÌNH” NGHÈO NÀN CỦA TỔNG THỐNG G.W. BUSƠ
*"NGHỆ THUẬT LÀM LÀNH VỚI ĐỐI PHƯƠNG” CỦA TỔNG THỐNG MỸ BARẮC ÔBAMA
*CƯỠI TRÊN LƯNG HỔ
*“TÔN TRỌNG" KIỂU MỸ
*CHUYẾN THĂM “LÀM LÀNH” VỚI CÁC ĐỒNG MINH CHÂU ÂU CỦA PHÓ TỔNG THỐNG MỸ GIÔN BAI-ĐƠN
*ĐẰNG SAU QUYẾT ĐỊNH NGỪNG TRIỂN KHAI LÁ CHẲN TÊN LỬA Ở ĐÔNG ÂU CỦA MỸ
*GIẢI TOẢ VẬT CẢN GIỮA LÒNG CHÂU ÂU
*CHIẾN TRANH THÔNG TIN CỦA MỸ - TỪ CÔ-XÔ-VÔ ĐẾN NAM Ô-XÊ-TI-A
*CHUYẾN THĂM LẤP KHOẢNG TRỐNG CHIẾN LƯỢC Ở CHÂU Á CỦA TỔNG THỐNG MỸ
*VỀ CHIẾN LƯỢC RÚT KHỎI ÁP-GA-NI-XTAN CỦA TỔNG THỐNG MỸ

PHẦN IV: NƯỚC NGA SAU CHIẾN TRANH LẠNH
*NƯỚC NGA THỜI “HẬU PU-TIN” SẼ ĐI ĐẾN ĐÂU?
*CHUYẾN THĂM NƯỚC NGOÀI ĐẦU TIÊN CÓ Ý NGHĨA CHIẾN LƯỢC CỦA TỔNG THỐNG NGA Đ.MÉT-VÊ-ĐÉP
*LIỆU “THIÊN NGA TRẮNG” CÓ HẠ CÁNH XUỐNG “HÒN ĐẢO TỰ DO”?
*CUỘC CHIẾN Ở NAM Ô-XÊ-TI-A: NHÌN TỪ CÁC PHÍA
*GIỚI QUÂN SỰ NGA RÚT RA BÀI HỌC ĐẦU TIÊN TỪ CUỘC CHIẾN TRANH Ở NAM Ô-XÊ-TI-A
*CHIẾN TRANH THÔNG TIN TRONG CUỘC CHIẾN Ở NAM Ô-XÊ-TI-A
*THỂ HIỆN SỨC MẠNH QUÂN SỰ VÌ MỘT TRẬT TỰ THẾ GIỚI ĐA CỰC
*NƯỚC NGA MÃI TRÂN TRỌNG KÝ ỨC VỀ CHIẾN TRANH VỆ QUỐC VĨ ĐẠI!
*CHUYẾN THĂM CHÂU PHI CỦA TỔNG THỐNG Đ.MET-VÊ-ĐÉP: CHẬM CÒN HƠN KHÔNG BAO GIỜ
*CÓ GÌ MỚI TRONG CHIẾN LƯỢC ĐỐI NGOẠI CỦA TỔNG THỐNG NGA Đ.MÉT-VÊ-ĐÉP?
*KHÔNG NÊN BẮN VÀO QUÁ KHỨ
*TỔNG THỐNG NGA Đ.MÉT-VÊ-ĐÉP ĐỀ XUẤT TRẬT TỰ AN NINH QUỐC TẾ MỚI
*“DÒNG CHẢY PHƯƠNG NAM" TĂNG THÊM VỊ THẾ CỦA NGA Ở CHÂU ÂU
*VỀ HỌC THUYẾT QUÂN SỰ NGA TRONG ĐIỀU KIỆN MỚI
*THÔNG ĐIỆP LIÊN BANG CỦA TỔNG THỐNG NGA Đ.MÉT-VÊ-ĐÉP VỀ ĐỊNH HƯỚNG XÂY DỰNG NƯỚC NGA HIỆN ĐẠI


Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4028



« Trả lời #1 vào lúc: 22 Tháng Hai, 2011, 09:53:42 AM »

LỜI NHÀ XUẤT BẢN

   Hai mươi năm kể từ khi bức tường Béc lin sụp đổ - biểu tượng kết thúc chiến tranh lạnh, thế giới đã trải qua nhiều biến động to lớn làm tiêu tan dự báo lạc quan của nhiều người cho rằng sau khi chấm dứt kỷ nguyên đối đầu căng thẳng giữa hai hệ thống chính trị thế giới, nhân loại sẽ bước sang kỷ nguyên phát triển hoà bình và hoà dịu.

   Trên thực tế, kể từ khi kết thúc chiến tranh lạnh tới nay, thế giới đã phải chứng kiến hàng loạt các cuộc chiến tranh và xung đột đẫm máu, tiêu tốn hàng ngàn tỷ USD và tài nguyên quý giá lẽ ra phải được sử dụng để chống lại nguy cơ đói nghèo, dịch bệnh và cạn kiệt tài nguyên. Đó là cuộc chiến tranh Mỹ xâm lược Panama (1989), chiến tranh vùng Vịnh do Mỹ và liên quân phát động (1991), chiến tranh Mỹ và NATO xâm lược Nam Tư (1998-1999), chiến tranh do Mỹ phát động ở Ápganixtan (2001), chiến tranh do Mỹ và liên quân tiến hành ở Irắc (2003) và chiến tranh Nam Ôxêtia do Grudia khởi xướng (2008). Đồng thời, các "điểm nóng" cũ và mới hình thành ở Trung Đông, Trung Á, châu Phi, Đông Bắc Á... vẫn chưa có giải pháp hạ nhiệt và các cuộc chạy đua vũ trang hình thành tại nhiều khu vực trên thế giới.

   Sau khi khối quân sự Vácsava giải thể, Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) không những vẫn tồn tại mà còn không ngừng mở rộng và vẫn tiếp tục thực hiện "cuộc thập tự chinh" sang phía Đông, gây mất ổn định ở châu Âu, đe dọa an ninh của nước Nga. Việc Mỹ rút khỏi Hiệp ước hạn chế phòng thủ tên lửa ký với Liên Xô để xây dựng lá chắn tên lửa toàn cầu nhằm giành ưu thế chiến lược đơn phương trên phạm vi thế giới đang tác động tới cán cân chiến lược quốc tế. Mỹ bị thất bại trong các cuộc chiến tranh do họ phát động và cuộc khủng hoảng tài chính - kinh tế bùng phát từ Mỹ, sau đó lan toả ra khắp thế giới đã làm lung lay tận gốc rễ trật tự thế giới mới đơn cực do Mỹ áp đặt vai trò "lãnh đạo” sau khi Liên Xô tan rã, nhường chỗ cho một trật tự thế giới mới, trong đó nổi lên nhiều quốc gia và trung tâm kinh tế, chính trị và quân sự thách thức vị thế dẫn đầu của Mỹ.

   Thế giới đang thay đổi nhanh chóng và chính trong bối cảnh đó, nước Mỹ đã bầu Thượng nghị sĩ Barắc Ôbama lên làm tổng thống da màu đầu tiên trong lịch sử hơn 200 năm của quốc gia này vì một lý do nặng ký nhất: ông Barắc Ôbama đưa ra cương lĩnh tranh cử nhằm thay đổi nước Mỹ và thế giới. "Thay đổi" - đó cũng chính là khát vọng của thế giới hôm nay và chính nó đã gây nên "cơn động đất chính trị" trên chính trường của nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ.

   Để giúp bạn đọc tìm hiểu thêm những thay đổi lớn lao đang diễn ra trên thế giới trong những năm gần đây, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản cuốn sách Thế giới: một góc nhìn. Cuốn sách bao gồm một số bài viết đã được đăng trên tạp chí, báo của Đại tá Lê Thế Mẫu, chuyên viên cao cấp nghiên cứu chiến lược thuộc Viện Chiến lược quân sự (Bộ Quốc phòng), cơ quan nghiên cứu và tư vấn cho Đảng uỷ Quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng về những vấn đề chiến lược bảo vệ Tổ quốc; dịch giả; bình luận viên của Chương trình "Toàn cảnh thế giới" - Đài Truyền hình Việt Nam.

   Nội dung cuốn sách được sắp xếp thành các phần: Phần I: Trật tự thế giới mới; Phần II: Những "điểm nóng"; Phần III: Mỹ và quan hệ Mỹ - Nga; Phần IV: Nước Nga sau chiến tranh lạnh.

   Xin giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.

Tháng 1 năm 2010
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4028



« Trả lời #2 vào lúc: 22 Tháng Hai, 2011, 09:58:55 AM »

PHẦN I
TRẬT TỰ THẾ GIỚI MỚI



SỰ KIỆN NÀO KẾT THÚC CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI

   Ngày 30/06/2007, ông Fumio Kyuma, Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản trong bài nói chuyện tại một trưởng đại học ở Tokyo cho rằng việc Mỹ ném hai quả bom nguyên tử xuống thành phố Hiroshima và Nagasaki “có thể khiến Tokyo đầu hàng, từ đó ngăn Liên Xô tuyên chiến với Nhật” và là “chuyện không thể tránh khỏi để chấm dứt Chiến tranh thế giới thứ hai”. Ông còn nói thêm rằng những vụ ném bom đó “là việc không thể đừng được”.

   Tuyên bố của ông Fumio Kyuma không chỉ gây bất bình trong dư luận xã hội ở Nhật Bản mà còn phủ nhận sự thật lịch sử về một trong những cuộc chiến tranh vĩ đại nhất của nhân loại nhằm tiêu diệt chủ nghĩa phát xít và diệt chủng. Thời gian qua, một số tờ báo ở Mỹ và một số nước Phương Tây cũng cho rằng hai quả bom nguyên tử của Mỹ ném xuống Hirosima và Nagasaki ngày 6 và ngày 9/8/1945 “có ý nghĩa quyết định kết thúc cuộc chiến tranh thế giới đẫm máu nhất trong lịch sử loài người”. Họ còn cho rằng “Liên Xô không cần tham chiến ở Viễn Đông vì Mỹ và đồng minh hoàn toàn có khả năng đánh bại quân Nhật”. Vậy, sự thật thế nào?

   Về sự kiện này, Đại tướng Mahmud Gareev, Chủ tịch Viện hàn lâm khoa học quân sự Nga đã có bài viết cho Hãng thông tấn Nga “Novosti”. Theo Đại tướng Mahmud Gareev, nhận xét sai sự thật trên đây của một số tờ báo ở Phương Tây nằm trong chiến dịch tuyên truyền xuyên tạc đổi trắng thay đen, có dụng ý xấu về thực tế lịch sử của  Chiến tranh thế giới thứ hai. Có các chứng cứ được ghi lại bằng giấy trắng mực đen không thể bác bỏ được để khẳng định điều đó.

   Chứng cứ lịch sử thứ nhất, chính Tổng thống Mỹ, ông Roosevelt và Thủ tướng Anh, ông Churchill, trong các cuộc Hội nghị với Stalin, người đứng đầu nhà nước Liên Xô, ở Teheran năm 1943 và Yanta năm 1944 đã đề nghị Liên Xô mở chiến dịch tiến công quân Nhật. Stalin đã cam kết, Liên Xô sẽ thực hiện yêu cầu đó của chính phủ Mỹ và Anh. Tại Hội nghị ở Potsdam năm 1945, Tổng thống Mỹ Harry Truman, người kế nhiệm ông Roosevelt, cũng nhận được lời cam kết của Stalin rằng Hồng quân Liên Xô sẽ tiến hành chiến dịch tiến công đội quân Quan Đông của Nhật sau 3 tháng kể từ khi phát xít Đức đầu hàng. Đêm ngày 8 rạng sáng ngày 9/8/1945, Hồng quân Liên Xô mở chiến dịch tiến công tuyến phòng ngự của quân đội Nhật Bản ở Mãn Châu Lý. Các nhà nghiên cứu lịch sử quân sự biết rất rõ vì sao Mỹ lại kiên quyết đề nghị Liên Xô tham chiến chống phát xít Nhật. Tháng 8/1945, quân đội Nhật ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương vẫn còn đông tới khoảng 7 triệu người, với 10.000 máy bay, 500 tầu chiến. Quân đội đồng minh chỉ có khoảng 1,8 triệu người và 5.000 máy bay. Nếu như Liên Xô không tham chiến với quân Nhật thì các lực lượng chủ yếu và thiện chiến nhất của đội quân Quan Đông có thể tập trung mũi nhọn chống lại Mỹ và lúc đó cuộc chiến tranh sẽ không chỉ kéo dài 1 tháng, mà ít nhất là 1 hoặc 2 năm với tổn thất mà quân Mỹ phải chịu đựng sẽ vượt quá con số 1 triệu người. Bộ Quốc phòng Mỹ đã từng khẳng định với tổng thống Mỹ về khả năng đó. Bản thân Tổng thống Mỹ Harry Truman lúc đầu cũng chưa nhìn thấy hết ý nghĩa của việc Liên Xô phải tham chiến chống Nhật, nhưng các tướng lĩnh ở Lầu Năm Góc đã thuyết phục được ông.

   Chứng cứ lịch sử thứ hai, việc đập tan đội quân Quan Đông của Nhật, giải phóng khu vực Mãn Châu Lý ở Đông Bắc của Trung Quốc và Triều Tiên, đã đập tan cơ sở kinh tế quân sự của Nhật Bản ở Châu Á và địa bàn tiến công của Nhật Bản nhằm vào Liên Xô và Mông Cổ, tạo điều kiện cho những người yêu nước ở Trung Quốc giải phóng đất nước họ. Ngoài ra, quân đội Liên Xô còn có nhiệm vụ bảo đảm an ninh cho biên giới Viễn Đông. Trong suốt 1.415 ngày cuộc Chiến tranh giữ nước vĩ đại, Liên Xô buộc phải duy trì 40 sư đoàn tinh nhuệ dọc tuyến biên giới đó, trong khi những lực lượng này rất cần cho họ trên mặt trận Xô - Đức, đặc biệt là trong thời gian diễn ra các chiến dịch ở ngoại ô Moscow, ở Stalingrad và ở Kursk. Một số nhà nghiên cứu Phương Tây khẳng định sai sự thật rằng quân Nhật không hành động gì dọc biên giới Liên Xô và không có ý định tiến công Liên Xô. Đội quân Quan Đông của Nhật đã nhiều lần khiêu khích vũ trang, xâm phạm biên giới trên bộ và trên biển của Liên Xô, máy bay của chúng thường xuyên xâm phạm không phận Liên Xô. Từ năm 1941 đến năm 1945, đã có trên 1.000 lần quân Nhật xâm phạm lãnh thổ Liên Xô. Phía Nhật Bản đã có 178 lần bắt giữ tàu buôn của Liên Xô và đánh chìm 18 tầu trong số đó.

   Chiến dịch tiến công chiến lược của Hồng quân Liên Xô nhằm vào Mãn Châu Lý ở Viễn Đông kéo dài từ ngày 9/8/1945 đến ngày 2/9/1945 là một trong những trang sử oai hùng nhất trong lịch sử nghệ thuật quân sự thế giới. Chiến dịch triển khai với chính diện kéo dài 5.000 km, sâu 200-800 km, trên một chiến trường vô cùng phức tạp gồm địa hình sa mạc, thảo nguyên, đồi núi, đầm lầy, băng tuyết, có nhiều con sông lớn đi qua như sông Amur và sông Dương Tử. Hồng quân Liên Xô đã đập tan đội quân Quan Đông mạnh nhất và đông nhất của Nhật Bản ở Mãn Châu Lý đông tới hàng triệu người, với 1.115 xe tăng, 5.360 pháo, 1.800 máy bay chiến đấu và 25 tầu chiến cùng với một hệ thống công sự bằng bê tông chằng chịt nối liền với nhau bởi hệ thống giao thông hào ngầm dưới đất chứa nguồn dự trữ lương thực và nước đủ để hàng triệu binh sỹ chiến đấu liên tục trong nhiều tháng. Hồng quân Liên Xô đã tiêu diệt 84.000 lính và sỹ quan Nhật Bản, bắt làm tù binh khoảng 700.000 lính Nhật. Ít có chiến dịch nào trong Chiến tranh thế giới thứ hai giành được chiến thắng vang dội như thế.

   Cuộc tiến công chiến lược ở Mãn Châu Lý không chỉ thể hiện sức mạnh ngày càng lớn của Hồng quân Liên Xô tích luỹ được vào cuối Chiến tranh thế giới thứ hai mà còn chứng tỏ nghệ thuật quân sự ưu việt của các tướng lĩnh Liên Xô, thể hiện trước hết ở việc cấp tốc di chuyển 400.000 chiến sỹ và sỹ quan, trên 7.000 pháo và 1.100 máy bay từ mặt trận phía Tây sang phía Đông với sự hỗ trợ của 136.000 toa tầu mà tình báo Nhật Bản không phát hiện được mặc dù chúng có mạng lưới điệp báo rất mạnh ở Viễn Đông. Khi Bộ chỉ huy Liên Xô lập kế hoạch mở đầu tiến công quân Nhật vào đêm ngày 8, rạng sáng ngày 9/8/1945, viên chỉ huy tình báo Tập đoàn quân số 5 của Nhật Bản báo cáo tin này cho Tư lệnh Yamada, thì viên tướng này đã viết nhận xét vào bản báo cáo của người chỉ huy tình báo Nhật những dòng sau đây: “Chỉ có người nào điên rồ mới quyết định tiến công vào Primorie vào tháng 8 trong thời tiết mưa dầm và mọi con đường đều không thể đi lại được”. Nhưng Hồng quân Liên Xô đã quyết định tiến công và giành chiến thắng với vô vàn gian khổ và có sự giúp đỡ không nhỏ của người dân Trung Quốc. Không có ai ép buộc người dân Trung Quốc phải giúp đỡ Hồng quân Liên Xô, nhưng do sống dưới ách tàn bạo của phát xít Nhật nên khi gặp những đoàn quân giải phóng, họ nhất loạt ra đường cùng kéo pháo, xe tăng và trang thiết bị mắc kẹt trên những đoạn đường lầy lội bùn đất trong thời tiết mưa dầm mùa thu.

   Ngày 2/9/1945, tuần dương hạm của Mỹ “Mitsuri” đậu trên Vịnh Tokyo chứng kiến đại diện toàn quyền của chính phủ Nhật Bản ký kết Hiệp ước đầu hàng hoàn toàn và vô điều kiện trước đại diện các nước đồng minh chống phát xít là Liên Xô và Mỹ, đánh dấu thời điểm cuối cùng kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai kéo dài gần 6 năm và làm thiệt mạng hơn 50 triệu người. Liên Xô cùng với các nước đồng minh đã chiến thắng trong cuộc chiến này. Nhân đây, có thể rút ra một bài học chủ chốt từ cuộc chiến này là: các nước dẫn đầu thế giới chỉ có thể chiến thắng tội ác khi hợp lực với nhau, dù đó là chủ nghĩa phát xít Đức, chủ nghĩa quân phiệt Nhật, hoặc ngày nay là chủ nghĩa khủng bố quốc tế. Không có sự đoàn kết đó thì không thể chiến thắng tội ác trên quy mô toàn cầu./.
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Tư, 2011, 02:50:16 PM gửi bởi lonesome » Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4028



« Trả lời #3 vào lúc: 22 Tháng Hai, 2011, 10:05:58 AM »

MỘT SỐ VẤN ĐỀ QUÂN SỰ CÓ TÍNH TOÀN CẦU TRONG KỶ NGUYÊN TOÀN CẦU HOÁ

   Theo các nhà lý luận quân sự kinh điển, chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế, còn chiến tranh là sự kế tục của chính trị bằng các phương tiện khác - bạo lực vũ trang. Do đó khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến chiến tranh và hoà bình nói chung, chiến lược quốc phòng và quân sự nói riêng, không thể không nghiên cứu các quá trình quân sự có tính toàn cầu trong một thế giới đang diễn ra mạnh mẽ quá trình toàn cầu hoá kinh tế. Đó là, cuộc cách mạng mới trong quân sự; Mỹ và Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương tiếp tục thực hiện chiến lược toàn cầu sau “chiến tranh lạnh”; những nguy cơ chiến tranh có tính toàn cầu; hoạt động gìn giữ hoà bình của Liên hợp quốc; một số thể chế an ninh toàn cầu; toàn cầu hoá công nghệ quân sự.

   Cuộc cách mạng mới trong quân sự

   Cuộc cách mạng mới trong quân sự là một quá trình toàn cầu hoá nổi bật. Dưới tác động của các thành tựu khoa học - kỹ thuật và khoa học - công nghệ nói chung, trong lĩnh vực quân sự nói riêng, cuộc cách mạng mới trong quân sự đã ra đời vào cuối thế kỷ XX, phát triển mạnh trong đầu thế kỷ XXI, trở thành một quá trình toàn cầu. Cuộc cách mạng mới trong quân sự vừa là động lực, vừa là hệ quả của hoạt động quân sự của tất cả các quốc gia. Ở những mức độ khác nhau, đến sớm hơn hay muộn hơn, cuộc cách mạng mới trong quân sự là một quy luật tất yếu, có tác dụng thay đổi căn bản chiến lược quân sự, tổ chức quân đội, phương thức tác chiến và phương thức bảo đảm.

   Cuộc cách mạng mới trong quân sự có thể phát triển qua hai giai đoạn. Giai đoạn thấp, bắt đầu từ thập niên 1990 đến khoảng năm 2020. Trong giai đoạn này chủ yếu hình thành các yếu tố quân sự và hệ thống quân sự mới với các nội dung cải cách, đổi mới hệ thống quân sự cũ, hình thành các yếu tố quân sự mới, phát triển trang bị vũ khí mới, xây dựng lý luận quân sự mới, thử nghiệm biên chế tổ chức và thể chế mới, sáng tạo phương pháp tác chiến mới. Giai đoạn cao từ năm 2020 đến khoảng giữa thế kỷ XXI. Đây là giai đoạn hình thành và phát triển hệ thống quân sự mới nhằm thay thế hệ thống quân sự cũ, thực hiện cuộc cách mạng có tính hệ thống trong lĩnh vực quân sự. Cuộc cách mạng mới trong quân sự có ba nội dung cơ bản là cách mạng khoa học - kỹ thuật quân sự, cách mạng lý luận quân sụ và cách mạng về tổ chức quân sự, nhưng phát triển không đồng bộ và không đồng đều ở các nước. Những nước có thực lực kinh tế kỹ thuật và quân sự ở mức thấp cũng có thể tranh thủ các cơ hội thuận lợi, các thế mạnh và ưu thế của riêng mình để phát triển bằng hình thức và bước đi phù hợp.

   Mỹ và NATO tiếp tục thục hiện chiến lược toàn cầu sau “chiến tranh lạnh”

   Sau khi Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa sụp đổ, với vị thế là siêu cường duy nhất, Mỹ theo đuổi tham vọng xây dựng trật tự thế giới đơn cực, trong đó Oasinhtơn sử dụng sức mạnh tổng hợp quân sự, chính trị, kinh tế, khoa  học và công nghệ làm công cụ để thực hiện chiến lược toàn cầu. Ngày nay, Mỹ được coi là cường quốc quân sự, có sức mạnh và tầm ảnh hưởng toàn cầu, cả trên đất liền, trên biển và trên không, có thể tiếp cận bất kỳ nơi nào trên thế giới, đưa sức mạnh chính trị của Mỹ ảnh hưởng đến đa số các thể chế quốc tế liên quan đến các lợi ích của Mỹ. Để duy trì vị thế đó, Mỹ không ngừng gia tăng ngân sách quân sự đến mức gần 500 tỷ USD trong tổng số gần 1.200 tỷ ngân sách dành cho quân sự của tất cả các nước trên thế giới cộng lại.

   Để có cơ sở pháp lý triển khai và sử dụng sức mạnh quân sự trên quy mô toàn cầu, Mỹ đã tạo dựng đối thủ toàn cầu, nguy cơ có phạm vi toàn cầu và sử dụng các công cụ có tầm tác dụng toàn cầu. Về đối thủ toàn cầu, Mỹ xác định, đó là chủ nghĩa khủng bố và những ai che giấu, ủng hộ khủng bố, nguy cơ phổ biến vũ khí sát thương hàng loạt, sự “vi phạm nhân quyền” ở một nơi trên thế giới; “các quốc gia bất trị” và những ai đe doạ lợi ích của Mỹ. Để đối phó với các đối thủ và nguy cơ toàn cầu, Mỹ xúc tiến xây dựng các liên minh quân sự và căn cứ trên khắp thế giới, từ châu Âu đến châu Á, từ Trung Đông, Trung Á đến châu Phi, xây dựng các hệ thống phòng thủ có tầm toàn cầu, trong đó hệ thống phòng thủ tên lửa là thí dụ điển hình nhất. Về công cụ quân sự có tính toàn cầu, đáng chú ý là Mỹ xúc tiến phát triển các loại vũ khí mới, trong đó vũ khí công nghệ cao là yếu tố then chốt, có tính quyết định. Tính chiến lược toàn cầu của thứ vũ khí này được quyết định bởi các yếu tố như có tầm phóng và mang tên lửa xuyên lục địa, có thể tấn công bất kỳ mục tiêu nào trên quy mô toàn cầu; được sự hỗ trợ của hệ thống chỉ huy, kiểm soát, truyền thông và tình báo có tầm bao quát toàn cầu, trước hết là các vệ tinh trinh sát và báo động sớm có khả năng phát hiện và chỉ điểm mục tiêu bất kỳ lúc nào, ở bất kỳ đâu; có tác dụng sát thương và công phá không kém vũ khí hạt nhân chiến thuật; độ chính xác cao đủ để tấn công có lựa chọn hoặc “tấn công giải phẫu” vào các mục tiêu quân sự và dân sự tuỳ theo mục đích để tránh né sự phản đối mạnh mẽ của dư luận. Tình hình đó càng thúc đẩy tham vọng sử dụng vũ khí công nghệ cao của Mỹ làm phương tiện thực hiện chiến lược toàn cầu trong điều kiện mới.

   Là đối trọng với Tổ chức Quân sự của Hiệp ước Vácsava, lẽ ra NATO không còn lý do tồn tại sau khi khối Hiệp ước Vácsava tan rã và Liên Xô sụp đổ. Nhưng ngày nay NATO vẫn tiếp tục phát triển mạnh mẽ hơn và không ngừng bành trướng sang phía đông. Năm 1999, trước khi mở cuộc tiến công Nam Tư, NATO bắt đầu kết nạp thêm các thành viên mới và quá trình này sẽ còn tiếp diễn. Các nước Đông Âu, Bantích và các nước khác trong Cộng đồng các quốc gia độc lập thuộc Liên Xô trước đây được coi là “khu vực có lợi ích sống còn” của NATO. Chính sách mới của NATO chủ trương vừa hợp tác với các nước thuộc Liên Xô trước đây, vừa loại trừ khả năng xuất hiện một siêu cường hoặc khối liên minh đe doạ lợi ích của khối tại các khu vực có lợi ích sống còn. Theo quan điểm mới của NATO, tiềm lực quân sự còn lại của Liên Xô trước đây “vẫn là mối đe doạ tiềm tàng lớn nhất đối với an ninh của các nước NATO”. Trong chiến lược mới của NATO vẫn giữ nguyên quan điểm tiến hành hai loại hình chiến tranh: chiến tranh tổng lực và chiến tranh hạn chế bằng vũ khí thông thường công nghệ cao, nhưng chiến tranh tổng lực trong tương lai trước mắt rất ít khả năng xảy ra.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4028



« Trả lời #4 vào lúc: 22 Tháng Hai, 2011, 10:08:11 AM »

   Những nguy cơ chiến tranh có tính toàn cầu

   Trong thời đại toàn cầu hoá, hình thành các nguy cơ chiến tranh có tính toàn cầu, trong đó có thể kể đến:

   Tham vọng giành quyền bá chủ thế giới của các thế lực hiếu chiến. Trong thời kỳ “chiến tranh lạnh”, mượn cớ chống Liên Xô, đối thủ mạnh nhất có tính toàn cầu, Mỹ đã tập hợp được các lực lượng phương Tây và Nhật Bản dưới ô bảo trợ của Oasinhtơn, hình thành trật tự thế giới hai cực làm đối trọng với Liên Xô và cả hệ thống xã hội chủ nghĩa. Sau “chiến tranh lạnh”, Liên Xô sụp đổ, xuất hiện xu hướng hình thành trật tự thế giới đa cực ngay trong hàng ngũ đồng minh của Mỹ, đe dọa vai trò siêu cường duy nhất của Mỹ. Trước tình hình đó, Oasinhtơn cần tạo dựng một đối thủ mới để tập hợp lực lượng xung quanh mình và họ đã chọn Irắc là đối tượng để thể hiện vai trò siêu cường duy nhất trong trật tự thế giới mới sau “chiến tranh lạnh”. Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến cuộc chiến tranh vùng Vịnh năm 1991. Trong cuộc chiến tranh Côxôvô, các thế lực hiếu chiến theo đuổi tham vọng bá chủ thế giới thiết lập “vành đai an toàn” từ Bancăng, qua Cápcadơ, đến Trung Á. Sau sự kiện ngày 11-9-2001, mượn cớ “chống khủng bố”, Mỹ phát động “cuộc chiến toàn cầu chống khủng bố” nhằm vào Ápganixtan, lật đổ chế độ Taliban và xây dựng một chính phủ thân Mỹ tại đây. “Cuộc chiến toàn cầu chống khủng bố” ở Ápganixtan chỉ là cớ để Mỹ thực hiện tham vọng đánh chiếm bàn đạp nhằm chi phối vùng Trung Á, một khu vực chiến lược quan trọng cả về chính trị, quân sự và kinh tế. Trong cuộc chiến tranh Irắc (2003), mượn cớ “Irắc sở hữu vũ khí giết người hàng loạt” và “có liên quan đến mạng lưới khủng bố Ankêđa”, Mỹ tiến hành chiến tranh lật đổ chính quyền của Tổng thống Xátđam Hutxen để hiện diện lâu dài tại một khu vực có vị trí địa - chính trị và địa - kinh tế quan trọng ở Trung Đông, tiến tới xây dựng một “Trung Đông lớn” có ý nghĩa sống còn trong chiến lược toàn cầu của Mỹ.

   Tham vọng tranh giành các tài nguyên chiến lược. Trong thế giới ngày nay, tài nguyên thiên thiên vẫn đóng vai trò đặc biệt quan trọng và vẫn là nguồn gốc sản sinh các cuộc xung đột và chiến tranh do sự phân bố không đồng đều ở các khu vực và các quốc gia. Một trong những nguyên nhân quan trọng gây nên các cuộc chiến tranh do Mỹ phát động trong hơn thập kỷ qua là tham vọng muốn làm chủ và chi phối các khu vực có dầu mỏ - tài nguyên chiến lược có ý nghĩa sống còn đối với nền kinh tế Mỹ và các cường quốc cạnh tranh với Mỹ. Hiện diện quân sự ở Trung Đông, Trung Á và châu Phi là điều kiện để Mỹ có thể dùng dầu mỏ và các tài nguyên khác làm công cụ kiểm soát nền kinh tế của Trung Quốc, Nhật Bản, Tây Âu, Nga và các nước khác. Phát động chiến tranh ở Nam Tư, Mỹ tạo bàn đạp để tiến sang Bắc Cápcadơ và Trung Á, nơi có nguồn dầu mỏ lớn thứ hai thế giới ở vùng biển Caxpi. Phát động chiến tranh để hiện diện lâu dài ở Ápganixtan, Mỹ dùng quốc gia này để khống chế khu vực Trung Á, cũng là nơi có nguồn dầu mỏ lớn. Đứng chân chi phối Trung Á, lót chỗ trong “sân sau” của Trung Quốc, Mỹ theo đuổi tham vọng làm chủ Ấn Độ Dương, khống chế Iran, mở đường tiến sát biên giới Nga, gạt bỏ ảnh hưởng của Trung Quốc, Pakixtan và Ấn Độ ra khỏi khu vực này. Hiện nay, Mỹ, Trung Quốc, Nga và các nước khác tranh giành tài nguyên, trước hết là dầu mỏ và khí đốt ở Trung Đông, châu Phi, châu Á và ở hai địa cực của Trái đất là Bắc Cực và Nam Cực.

   Xung đột và mâu thuẫn giữa chủ nghĩa đế quốc với các quốc gia đi theo đường lối độc lập tự chủ. Ngày nay, quan niệm về mâu thuẫn ý thức hệ có khác trước. Mâu thuẫn ý thức hệ không chỉ là mâu thuẫn giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội, mà còn là mâu .thuẫn giữa chủ nghĩa bá quyền nước lớn với các nước đi theo đường lối độc lập tự chủ. Trong tất cả các cuộc chiến tranh, từ chiến tranh Côxôvô, Ápganixtan đến chiến tranh Irắc, Mỹ đều nhằm mục đích lật đổ chính quyền có chủ trương chống Mỹ, xây dựng chính quyền mới đi theo quỹ đạo của Oasinhtơn, bất chấp đặc điểm văn hóa, trình độ phát triển và quan niệm giá trị của các quốc gia và dân tộc khác, nhằm bảo vệ vị trí chiến lược mà các ngân hàng và các tập đoàn công nghiệp của Mỹ đã từng có được trong nền kinh tế thế giới những thập kỷ cuối cùng thế kỷ XX, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho đầu tư của tư bản Mỹ giành giật thị trường tài chính, công nghệ, sản phẩm, trong đó có thị trường vũ khí trang bị.

   Tham vọng thử nghiệm các học thuyết và chiến lược quân sự mới phục vụ các tổ hợp công nghiệp quân sự. Để thực hiện chiến lược toàn cầu, Mỹ và NATO đã và sẽ tiếp tục thử nghiệm học thuyết và chiến lược quân sự mới ở bất kỳ đâu trên thế giới. Trong cuộc chiến tranh vùng Vịnh, Mỹ thử nghiệm học thuyết “tác chiến không-bộ”, lần đầu tiên thi thố chiến tranh bằng vũ khí công nghệ cao, một phương thức tiến hành chiến tranh mới, trong đó quân đội, vũ khí trang bị được số hóa ở mức cao. Trong cuộc chiến tranh này, lần đầu tiên Mỹ thử nghiệm các loại vũ khí chính xác được điều khiển từ vũ trụ, công nghệ tàng hình. Đến cuộc chiến tranh Côxôvô, Mỹ thử nghiệm phương thức chiến tranh không tiếp xúc, một bước phát triển mới của chiến tranh công nghệ cao. Còn trong cuộc chiến tranh Ápganixtan và chiến tranh Irắc, Mỹ muốn phát triển lý luận tác chiến kết hợp tiến công từ xa bằng vũ khí công nghệ cao với các lực lượng đặc nhiệm; thử phương thức kết hợp tiến công bằng đường không với lúc lượng trên bộ, sử dụng vũ khí công nghệ cao tiến hành “cuộc chiến toàn cầu chồng khủng bố” trong điều kiện rừng núi; thử nghiệm phương thức trinh sát và tiến công đồng thời và lập kế hoạch tác chiến thích nghi. Trong bốn cuộc chiến tranh trên đây, Mỹ không chỉ thử nghiệm. quảng cáo và “cấp chứng chỉ” cho các loại vũ khí công nghệ cao để sau đó tung ra chiếm lĩnh thị trường vũ khí trang bị quốc tế, mà còn thanh lý một khối lượng lớn vũ khí trang bị đã “quá hạn”. Một phần đáng kể chi phí dành cho các cuộc chiến tranh đó được chuyển cho các hãng và công ty trong tổ hợp công nghiệp quân sự của Mỹ.

   Các nguy cơ “phi truyền thống” có tính toàn cầu. Vào cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, xuất hiện các nguy cơ phi truyền thống có tính toàn cầu. Đó là chủ nghĩa khủng bố, buôn lậu ma tuý, phổ biến vũ khí sát thương hàng loạt, tội phạm xuyên quốc gia, di cư bất hợp pháp, v.v.. Những nguy cơ đó hình thành ở nhiều quốc gia trên thế giới, từ các quốc gia nghèo nhất ở Mỹ Latinh và châu Phi, đến Mỹ và các quốc gia thịnh vượng ở châu Âu. Các tổ chức khủng bố và tội phạm đã toàn cầu hóa các hoạt động của chúng. Trong khi công ty xuyên quốc gia thành lập chi nhánh trên khắp thế giới nhằm tận dụng ưu thế của thị trường lao động và thị trường nguyên liệu, thì tổ chức khủng bố và tội phạm xuyên quốc gia cũng bành trướng về địa lý nhờ có lợi thế từ quá trình toàn cầu hoá kinh tế, nhờ các thành tựu giao thông và liên lạc quốc tế. Nhóm khủng bố và tội phạm cũng toàn cầu hóa hoạt động của chúng để có thể tận dụng khả năng tuyển quân ở nước ngoài và tiếp cận các tổ chức kinh tế phi pháp giàu có. Các tổ chức tội phạm và các nhóm khủng bố khai thác các kênh thông tin và thương mại toàn cầu, trước hết là mạng Internet, để xây dựng kế hoạch và triển khai hoạt động. Vụ khủng bố ngày 11-9-2001 ở Mỹ là thí dụ điển hình về phương diện này.

   Toàn cầu hóa thị trường tự do đã hạn chế sự can thiệp của nhà nước vào kinh tế, giảm nhẹ và đơn giản hoá các quy định quốc tế, các hàng rào thương mại và quy định về đầu tư, thúc đẩy thương mại phát triển, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức khủng bố và tội phạm quốc tế hoạt động rộng khắp. Nhóm tội phạm và khủng bố đã khai thác triệt để điều kiện thuận lợi này để mở rộng phạm vi hoạt động ở tất cả các quốc gia và khu vực trên thế giới. Trong khi các hoạt động thương mại hợp pháp còn chịu sự điều chỉnh của chính sách kiểm soát tại biên giới, nhân viên hải quan và hệ thống quản lý tập trung, thì nhóm khủng bố và tội phạm xuyên quốc gia lại được tự do hoành hành và tận dụng những lỗ hổng của luật pháp để tăng cường hoạt động. Chúng có thể chuyển tiền đến các quốc gia có hệ thống ngân hàng mà sự kiểm soát của chính phủ có phần lỏng lẻo. Chủ nghĩa khủng bố có thể trở thành mối đe doạ có ý nghĩa chiến lược. Trong điều kiện đó, để loại bỏ nguy cơ này phải có hành động phòng ngừa và không loại trừ khả năng tiến công phủ đầu Mỹ, Anh, Nga, Pháp đã tuyên bố sẵn sàng tiến công phủ đầu vào các căn cứ của các tổ chức khủng bố, kể cả bằng vũ khí hạt nhân.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4028



« Trả lời #5 vào lúc: 22 Tháng Hai, 2011, 10:10:07 AM »

   Hoạt động gìn giữ hoà bình của Liên hợp quốc

   Một trong những hoạt động liên quan đến quân sự có tính toàn cầu trong thế kỷ XXI là hoạt động gìn giữ hòa bình, được Liên hợp quốc xác định là cách thức giúp đỡ những nước bị tàn phá do xung đột, tạo điều kiện cho hoà bình thông qua các hoạt động như xây dựng lòng tin, thỏa thuận về việc chia sẻ quyền lực, hỗ trợ bầu cử, xây dựng và củng cố luật pháp, phát triển kinh tế - xã hội. Lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc (thường được gọi là lực lượng “mũ nồi xanh”) có thể bao gồm các quân nhân, nhân viên cảnh sát dân sự và các nhân viên dân sự. Hiến chương Liên hợp quốc cho phép Hội đồng Bảo an sử dụng các hoạt động tập thể có tính quốc tế này để duy trì hoà bình và an ninh quốc tế. Vì thế, hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc phải được phép của Hội đồng Bảo an. Thông thường, lực lượng gìn giữ hoà bình được triển khai sau khi có lệnh ngừng bắn và các bên tham chiến đã đồng ý cho Liên hợp quốc thực hiện sứ mệnh gìn giữ hòa bình.

   Một số thể chế an ninh toàn cầu

   Trên thế giới hiện nay đã có một số thể chế có tính toàn cầu liên quan đến hoạt động quân sự.

   Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc là cơ quan chính trị quan trọng nhất và hoạt động thường xuyên của Liên hợp quốc, chịu trách nhiệm chính trong việc duy trì hoà bình và an ninh quốc tế. Những nghị quyết của Hội đồng Bảo an được thông qua phù hợp với Hiến chương của Liên hợp quốc bắt buộc các nước thành viên của Liên hợp quốc phải thi hành. Hội đồng Bảo an không phục tùng Đại hội đồng Liên hợp quốc. Mọi nghị quyết của Hội đồng Bảo an chỉ được thông qua khi có sự nhất trí của cả năm nước thành viên thường trực là Mỹ, Anh, Pháp, Nga, Trung Quốc. Ngoài năm thành viên thường trực, còn có các nước thành viên không thường trực. Từ năm 1946 đến năm 1965, Hội đồng Bảo an chỉ có sáu thành viên không thường trực. Về sau, con số này được mở rộng lên 10 thành viên với định mức hai thành viên cho từng khu vực châu Phi, châu Á, châu Mỹ, Tây Âu. Riêng Đông Âu có một thành viên. Ngoài ra, còn có một thành viên luân phiên dành cho châu Phi hoặc châu Á. Các nước thành viên không thường trực được chia thành hai nhóm với nhiệm kỳ hai năm xen kẽ, mỗi năm có năm thành viên mãn nhiệm và năm thành viên mới. Cùng với những đổi thay trên quy mô toàn cầu, Hội đồng Bảo an đang đứng trước yêu cầu phải đổi mới, trong đó số lượng thành viên thường trực là vấn đề gây tranh cãi nhiều nhất. Theo một kế hoạch cải tổ được đề xuất gần đây, số thành viên thường trực có thể sẽ tăng thêm năm quốc gia nữa, trong đó các ứng cử viên được xem xét trước hết là Đức, Nhật Bản, Braxin, Ấn Độ và một quốc gia châu Phi (có thể là Nam Phi hoặc Nigiêria). Gần đây, đại diện của một số quốc gia gợi ý có thể năm thành viên thường trực mới sẽ không được trao quyền phủ quyết. Những đề xuất trên vẫn còn nằm trong vòng tranh cãi. Theo quy chế của Liên hợp quốc. Hội đồng Bảo an có quyền: điều tra bất cứ tình huống nào đe dọa hoà bình quốc tế; đề xuất các biện pháp nhằm giải quyết xung đột quân sự giữa các quốc gia; kêu gọi các quốc gia thành viên tạm thời cấm vận hoặc cấm vận hoàn toàn đối với một quốc gia nào đó nhằm thiết lập hoà bình; ra nghị quyết thi hành các biện pháp quân sự nếu xét thấy cần thiết.

   Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân NPT (Nuclear Non-proliferation Treaty) được Liên Xô, Mỹ, Anh và gần 40 nước có và không có vũ khí hạt nhân ký kết ngày 1-7-1968, tại Luân Đôn (Anh), Mátxcơva (Liên Xô), Oasinhtơn (Mỹ) và được Liên hợp quốc thông qua. Hiệp ước có hiệu lực từ ngày 5-3-1970, mở cho các nước tham gia; có hiệu lực 25 năm. Năm 1995, đã có 178 nước ký kết và đa số các nước thành viên đã cam kết kéo dài vô thời hạn. Nội dung chính của Hiệp ước quy định quyền không phổ biến vũ khí hạt nhân; giải trừ vũ khí hạt nhân và quyền sử dụng công nghệ hạt nhân vào mục đích hoà bình.

   Về quyền không phổ biến vũ khí hạt nhân, có năm nước được phép sở hữu vũ khí hạt nhân là Pháp (ký năm 1992); Trung Quốc (ký năm 1992); Liên Xô (ký năm 1968), nay là Nga; Anh (ký năm 1968) và Mỹ (ký năm 1968). Đây là những nước đã sở hữu vũ khí hạt nhân vào thời điểm hiệp ước được ký kết, cũng là các quốc gia thành viên thường trực cua Hội đồng Bảo an. Năm nước này thoả thuận không chuyển giao kỹ thuật hạt nhân cho các nước khác, còn các quốc gia chưa có vũ khí hạt nhân cam kết không sở hữu vũ khí hạt nhân. Năm quốc gia có vũ khí hạt nhân cam kết không sử dụng chúng để chống lại các nước không có vũ khí hạt nhân: trừ khi phải đánh trả một cuộc tấn công hạt nhân hoặc một cuộc tấn công thông thường có liên minh với quốc gia có vũ khí hạt nhân. Tuy vậy, những cam kết này không được chính thức đưa vào hiệp ước, trong khi các chi tiết chính xác lại thường thay đổi theo thời gian. Thí dụ, Mỹ và Anh đã từng đe dọa sẽ sử dụng vũ khí hạt nhân để đáp trả một cuộc tấn công thông thường của các “quốc gia bất trị”. Pháp và Nga cũng có chủ trương sử dụng đòn tấn công trả đũa bằng vũ khí hạt nhân cỡ nhỏ nhằm đáp trả cuộc tấn công khủng bố nhằm vào họ.

   Về giải trừ vũ khí hạt nhân, các nước có vũ khí hạt nhân theo đuổi mục tiêu cắt giảm và loại bỏ kho vũ khí của họ, tiến tới một hiệp ước giải giáp toàn diện dưới sự kiểm soát quốc tế nghiêm ngặt và hiệu quả; các nước có vũ khí hạt nhân tuyên bố không khuyến khích các nước không có vũ khí hạt nhân tìm cách sở hữu loại vũ khí này. Bất kỳ quốc gia nào cũng có thể rút khỏi hiệp ước nếu họ cảm thấy có những “biến động bất thường”, thí dụ như bị bất ngờ đe dọa tiến công quân sự.

   Về quyền sử dụng công nghệ hạt nhân vào mục đích hoà bình, các quốc gia đang sử dụng lò phản ứng hạt nhân để sản xuất năng lượng có thể chuyển giao công nghệ hạt nhân hoà bình cho các nước khác với điều kiện các nước tiếp nhận không sử dụng công nghệ này để phát triển vũ khí hạt nhân. Nguyên tắc này của hiệp ước cho phép làm giàu urani để sản xuất năng lượng. Đây là kẽ hở lớn để các quốc gia có tham vọng sở hữu vũ khí hạt nhân có thể lợi dụng để làm giàu urani nhằm mục đích quân sự.

   Về quyền rút khỏi Hiệp ước NPT, cho phép một quốc gia nào đó đã tham gia ký kết có thể rời bỏ hiệp ước khi có “những biến cố bất thường, liên quan đến hiệp ước, gây thiệt hại cho những quyền lợi tối cao của quốc gia này”, sau khi thông báo trước trong vòng ba tháng. Trong thông báo cần ghi rõ lý do rời bỏ hiệp ước. Còn các nước thuộc NATO cho rằng, khi một quốc gia tuyên bố chiến tranh thì NPT sẽ không còn hiệu lực. Lúc đó, quốc gia này sẽ rời bỏ hiệp ước mà không cần thông báo trước. Chính phủ các nước thành viên ủy quyền cho Liên Xô (nay là Nga), Mỹ và Anh. Anh giữ vai trò thường trực. Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế đảm đương chức năng kiểm soát việc thi hành. NPT đã góp phần kiềm chế sự phổ biến vũ khí hạt nhân, làm giảm nguy cơ chiến tranh hạt nhân.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4028



« Trả lời #6 vào lúc: 22 Tháng Hai, 2011, 10:11:39 AM »

   Toàn cầu hoá công nghệ quân sự

   Thị trường vũ khí toàn cầu. Chiến tranh lạnh kết thúc, dưới tác động của sự phát triển tăng tốc của khoa học và công nghệ quân sự, vũ khí trang bị vừa dư thừa, vừa chóng bị lạc hậu, tạo ra một thị trường trang bị vừa rẻ, vừa đa dạng. Trên thị trường này, tình trạng ứ đọng vũ khí trang bị trên toàn cầu đã làm tăng thế mạnh của người mua, thậm chí thúc đẩy các hãng sản xuất chuyển nhượng cả bí quyết công nghệ khi ngày càng nhiều nước công nghiệp mới đang tạo dựng nền công nghiệp quốc phòng nội địa. Đây là một “cơ hội vàng” cho những nước nghèo nhưng có nhu cầu thực tế xây dựng và hiện đại hoá quân đội. Nhiều nước biết nhanh chóng nắm bắt cơ hội này và kịp thời có chiến lược mua sắm vũ khí trang bị với giá rẻ, sau đó nâng cấp, cải tiến bằng cách tích hợp những thành tựu công nghệ quân sự tiên tiến nhất, tạo ra những phương tiện hiện đại phù hợp với điều kiện sử dụng trong quân đội của từng nước, vừa đáp ứng yêu cầu chiến lược xây dựng một quân đội hiện đại hoá ở mức hợp lý tương xứng với vị thế của họ trong đầu thế kỷ XXI. Họ không bị cuốn hút vào dòng xoáy của cuộc cách mạng kỹ thuật quân sự như Mỹ, Tây Âu, mà chỉ nhằm hướng tới các yêu cầu và thách thức về quốc phòng - an ninh của họ.

   Toàn cầu hoá công nghiệp quốc phòng. Trước đây, các nước có nền công nghiệp quốc phòng mạnh cho rằng độc quyền các hệ vũ khí công nghệ cao là một lợi thế chiến lược quan trọng. Ngày nay tình hình đã đổi khác. Do ngân sách ngày càng eo hẹp trong khi nhu cầu về vũ khí hiện đại tăng lên, công nghệ quân sự hiện đại đã nhanh chóng trở thành mặt hang xuất khẩu. Phổ biến bí quyết công nghệ sản xuất vũ khí ngày càng được coi là một xu hướng chung trong toàn cầu hoá công nghiệp quốc phòng. Dưới tác động của toàn cầu hoá công nghiệp quốc phòng, các nước châu Âu đang chuyển biến qua một quá trình thay đổi cơ cấu hợp lý hoá và toàn cầu hoá, hình thành các kiểu liên kết công ty mới xung quanh các mạng quốc tế nghiên cứu sản xuất và thong tin theo kiểu “liên kết mạng công nghệ”, còn được gọi là “toàn cầu hoá về công nghệ”. Đặc biệt, các công ty hoạt động ở các thị trường công nghệ tiên tiến với chi phí nghiên cứu và phát triển quá cao rất quan tâm đến quá trình toàn cầu hoá công nghệ. Khác với thị trường dân dụng, các công ty công nghiệp quân sự xuyên quốc gia là một hiện tượng tương đối mới và đang trở thành xu hướng rõ rệt vào cuối những năm 1980, phát triển nhanh từ sau những năm 1990. Ở cả Mỹ và châu Âu, nhờ liên kết công nghệ mà các công ty hay các tập đoàn công ty đã chiếm ưu thế trên một số khu vực thị trường nhất định. Các hãng chính sản xuất máy bay quân sự, động cơ hàng không, điện tử quân sự, tên lửa và máy bay đang trong quá trình thành lập các công ty liên doanh. Ngoài các công ty xuyên quốc gia và đa quốc gia, các công ty công nghiệp quốc phòng lớn tham gia sở hữu cổ phần chéo và thành lập các công ty hoàn toàn mới trong quá trình tìm kiếm sự liên kết trong các hoạt động sản xuất và nghiên cứu phát triển. Đặc điểm mới nhất của quá trình toàn cầu hoá công nghiệp quốc phòng là sản xuất vũ khí ở nước ngoài để tận dụng lợi thế ở thị trường nước sở tại, trước hết là các nước và vùng lãnh thổ công nghiệp mới ở châu Á - Thái Bình Dương như Đài Loan, Xingapo, Inđênêxia và Hàn Quốc.

   Vào cuối thế kỷ XX, sự phát triển các công nghệ căn bản, công nghệ mới trong các lĩnh vực bán dẫn, máy tính và nhiều lĩnh vực khác chủ yếu là nhằm đáp ứng các yêu cầu nghiên cứu phát triển và sản xuất theo đơn đặt hàng quân sự Nhưng đầu thế kỷ XXI, xu hướng này đã thay đổi. Các thành tựu khoa học - công nghệ mới bắt nguồn trước hết từ những ứng dụng trong công nghiệp dân dụng hơn là quân sự. Các đổi mới công nghệ cũng từ công nghiệp dân dụng chuyển vào quân sự nhiều hơn là ngược lại. Xu hướng này thể hiện rõ nhất ở Nhật Bản với ngày càng nhiều công nghệ dân dụng được đưa vào sử dụng trong các hệ thống quân sự tiên tiến.

   Toàn cầu hoá quá trình lưỡng dụng công nghệ. Một cơ hội quan trọng làm thay đổi tương quan giữa công nghệ dân dụng và quân sự là thị trường quân sự ngày càng thu nhỏ, trong khi thị trường dân dụng không ngừng mở rộng, nên giá thành của sản phẩm công nghiệp quốc phòng độc lập không ngừng tăng. Do đó, cách tốt nhất là tích hợp các hệ thống nhằm ứng dụng công nghệ dân dụng vào mục đích quân sự. Do đó, các hãng công nghiệp quốc phòng đang phải thay đổi cách tổ chức nghiên cứu phát triển và sản xuất, đồng thời thay đổi cách điều hành các mối quan hệ giữa các ngành dân dụng và quân sự. Trong khi các hãng dân dụng dễ dàng thâm nhập thị trường quân sự hơn thì các công ty công nghiệp quân sự thuần tuý ngày càng khó vượt ra khỏi thị trường quân sự. Trên phạm vi quốc tế các nước và các hãng hàng đầu về công nghệ dân dụng có thể từng bước giành được lợi thế cạnh tranh trên các thị trường quân sự.

   Toàn cầu hoá chuyển giao công nghệ quân sự. Nhờ chuyển giao công nghệ mà sức mạnh quân sự của nhiều nước tăng lên. Đó không chỉ là mua và bán phần cứng công nghệ mà cả đổi mới, phổ biến, huấn luyện và đào tạo nhân lực công nghệ. Trên thực tế, chuyển giao công nghệ gồm các dụng sau: trao đổi các mặt hàng cơ bản sử dụng trong sản xuất công nghệ; mua bán giấy phép sản xuất và chế tạo, tài liệu khoa học - kỹ thuật; trao đổi huấn luyện và hợp tác giữa các hãng; thiết kế ngược bằng cách phân tích sản phẩm cuối cùng. Công nghệ có thể được chuyển giao cả gói hay từng phần. Chuyển giao từng phần là tách riêng các phần như nghiên cứu phát triển, chế tạo, xây dựng, tiếp thị, huấn luyện và cùng sản xuất. Việc gắn kết những thành phần này với nhau thành một tổng thể đòi hỏi phải có kỹ năng quản lý. Bằng cách cung cấp công nghệ cả gói, hãng cung cấp giữ được thế mạnh trên thị trường. Trong khi hãng cung cấp muốn giữ bí mật tri thức kỹ thuật càng lâu càng tốt, thì người mua ngày càng muốn được chuyển giao bí quyết công nghệ. Chuyển giao công nghệ đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế của nước nhận công nghệ do những tác động tích cực của nó. Tuy nhiên, điều đó còn tuỳ thuộc vào trình độ khoa học-công nghệ và khả năng “tiêu hoá công nghệ” của nước nhập khẩu công nghệ. Do đó, tốc độ và sự thành công của việc chuyển giao công nghệ một phần tuỳ thuộc vào tốc độ phát triển kinh tế./.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4028



« Trả lời #7 vào lúc: 22 Tháng Hai, 2011, 10:14:59 AM »

“CHIẾN TRANH LẠNH” ĐÃ ĐƯỢC NHEN NHÓM TRONG GIAI ĐOẠN CUỐI CÙNG CỦA CHIẾN TRANH THẾ GIỚI LẦN THỨ HAI

   Đã hơn 60 năm trôi qua (09-05-1945 - 09-05-2008), kể từ ngày nhân dân tiến bộ và yêu chuộng hoà bình trên thế giới, đứng đầu là Liên Xô, giành chiến thắng trong  Chiến tranh thế giới thứ hai, đập tan chủ nghĩa phát-xít bị, xoá bỏ họa diệt chủng đối với nhân loại. Mặc dù vậy, cho đến nay, nhiều cứ liệu lịch sử về cuộc chiến tranh này vẫn tiếp tục được công bố, nghiên cứu và làm sáng tỏ thêm vai trò của Hồng quân Liên Xô cũng như ý nghĩa lớn lao của chiến thắng này đối với hoà bình trên toàn thế giới.

   Những cứ liệu do ông Valentin Phalin, tiến sĩ lịch sử, và ông Víchto Litốpkin, bình luận viên quân sự của Hãng thông tấn Novosti, công bố gần đây nhất chứng tỏ rằng, Chiến dịch Béc-lin trong giai đoạn cuối cùng của chiến tranh do Phương diện quân số 1 Bê-la-ru-xi-a của Hồng quân Liên Xô tiến hành dưới sự chỉ huy của tướng Giu-cốp, không chỉ có ý nghĩa về mặt quân sự là đập tan sào huyệt cuối cùng của phát-xít Đức mà còn có ý nghĩa chiến lược chính trị vô cùng quan trọng là: ngăn chặn và phá tan âm mưu bí mật, đầy phiêu lưu của một số thế lực ở phương Tây. Nếu âm mưu này không được ngăn chặn, có thể đã dẫn đến Chiến tranh thế giới thứ ba giữa một bên là Liên Xô, và bên kia là một số thế lực trong hàng ngũ đồng minh chống chủ nghĩa phát-xít cùng với đám tàn quân của Hítle.

   Vào thời điểm đó, các cơ quan tình báo của Liên Xô và Mỹ đã khám phá âm mưu của một số thế lực ở Anh nhận mật lệnh của Thủ tướng Sớcsin thu hồi vũ khí chiến lợi phẩm của Đức, tập trung lại và chuẩn bị một cuộc chiến khác chống lại Liên Xô vào những ngày cuối cùng của chiến tranh. Để thực hiện âm mưu đó, họ còn định thu thập đám tàn quân của phát-xít Đức để thành lập các sư đoàn ở phía Nam Đan Mạch để sử dụng về sau này.

   Rất nhiều văn kiện chính thức ở cấp độ quốc gia chứng tỏ, quyết định của Bộ chỉ huy quân sự Xô-viết mở Chiến dịch Béc-lin đã được xác định trong cuộc gặp cấp cao giữa nguyên thủ ba nước là Xta-lin (Liên Xô) Ru-dơ-ven (Mỹ) và Sớc-sin (Anh) là “một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng”. Thế nhưng, mãi tới tháng 3-1945, Mỹ và Anh vẫn chưa mở Mặt trận thứ hai ở phía Tây như đã thoả thuận với Liên Xô. Các đơn vị quân Đức hoặc đầu hàng Hồng quân Liên Xô, hoặc thẳng tiến về phía Đông mà không vấp phải sự kháng cự nào đáng kể từ phía các đồng minh Mỹ và Anh. Chiến thuật của tàn quân Đức lúc đó là cố bám giữ các vị trí có thể bám được trên toàn tuyến mặt trận Xô - Đức, chờ thời cơ để cùng với quân Mỹ và Anh đánh trả “mối đe doạ từ phía Liên Xô” trên toàn bộ châu Âu. Vào thời điểm đó, Thủ tướng Anh Sớc-sin cho rằng Liên Xô đã làm xong vai trò của họ và giờ đây phương Tây cần lo liệu trước để trừ “hậu họa cộng sản” trong thời kỳ hậu chiến.

   Tuy thống nhất để Liên Xô mở Chiến dịch Béc-lin, nhưng sau khi Hội nghị Y-an-ta kết thúc vào ngày 11-02-1945, thì đêm ngày 12, rạng sáng ngày 13-02-1945, máy bay chiến đấu của Mỹ và Anh ném bom ồ ạt vào các khu vực mà lẽ ra Hồng quân Liên Xô sẽ chiếm đóng theo thoả thuận ở Hội nghị Y-an-ta như Đờ-rét-đen (Đức), các xí nghiệp chủ yếu ở Xlô-va-ki-a và biến những khu vực đó thành tro bụi. Năm 1944, máy bay ném bom của Anh và Mỹ đã tiến công các mỏ dầu ở Pơ-lô-ét-ti khi Hồng quân Liên Xô tiến gần đến trung tâm khai thác dầu chủ yếu của châu Âu - nơi đã từng cung cấp nhiên liệu cho nước Đức trong suốt cuộc chiến. Một trong những mục đích chủ yếu của các cuộc ném bom ở Đờ-ret-đen là phá trụi hoàn toàn các cây cầu đi qua sông En-bơ để cản bước rút lui của Hồng quân về phía Đông. Tháng 4-1945, không quân Mỹ và Anh ném bom vào các khu vực ở thành phố Pốt-xđam (Potsdam) thuộc quyền kiểm soát của Hồng quân Liên Xô, tàn phá thành phố Ô-ra-nen-buốc (Oranienburg), tại đó có Phòng thí nghiệm làm giàu u-ra-ni, để không một trang thiết bị thí nghiệm hoặc nhân viên kỹ thuật rơi vào tay Liên Xô. Như vậy, chính trong những ngày cuối cùng của chiến tranh, Liên Xô đã phải đương đầu với âm mưu “bài Xô” trong chính hàng ngũ đồng minh của mình.

   Đứng trước hành động lạ lùng đó của quân Mỹ và Anh, sau khi tiến đến ranh giới các khu vực được quyền kiểm soát theo quy định trong Hội nghị Y-an-ta, Xta-lin không mong đợi hành động phối hợp của đồng minh mà ra lệnh cho Hồng quân trong khi truy kích các đơn vị của Đức buộc phải vượt qua chiến tuyến đã từng được thỏa thuận trước đây với các đồng minh Mỹ và Anh. Xta-lin cam kết, sau khi kết thúc chiến sự, quân đội Liên Xô sẽ rút về phạm vi các khu vực phân công cho họ chiếm đóng như đã được Hội nghị Y-an-ta quy định.

   Sau khi Tổng thống Ru-dơ-ven qua đời (ngày 12-4-1945), Thủ tướng Anh Sớc-sin ra sức thuyết phục và gây áp lực đối với Tổng thống Mỹ Tờ-ru-man rằng, không cần phải thực hiện các cam kết ở Tê-hê-ran và Y-an-ta bởi “thời cuộc lúc này đang chờ đợi những tình huống mới cần có những giải pháp khác”. Đó là những giải pháp gì? Thủ tướng Anh Sớc-sin kiên quyết phản đối cuộc gặp thượng đỉnh ở Pốt-xđam như dự kiến hoặc tổ chức một cuộc hội nghị khác để thảo luận về chiến thắng và đánh giá tầm quan trọng của nhân dân Liên Xô trong cuộc chiến tranh này. Theo tính toán của Thủ tướng Anh Sớc-sin, phương Tây cần phải tận dụng cơ hội khi Liên Xô đã bị cạn kiệt sức lực, hậu phương bị phân tán, quân đội bị mệt mỏi, vũ khí trang bị hỏng hóc nhiều nhằm đưa ra yêu sách đối với Mát-xcơ-va, buộc họ phải nghe theo sự chỉ huy của người Anh, nếu không thì Liên Xô sẽ phải đối mặt với một cuộc chiến tranh nữa.

   Vào đầu tháng 4-1945, Thủ tướng Sớc-sin ra lệnh khẩn cấp cho quân đội Anh và Mỹ chuẩn bị chiến dịch mang tên “Nhesmyslomoye” (Vô hiệu hoá). Thời điểm bắt đầu chiến dịch này dự kiến vào ngày 01-6-1945, trong đó có sự tham gia của quân Mỹ, Anh, Ca-na-đa, quân đoàn viễn chinh Ba Lan và khoảng 10 đến 12 sư đoàn tàn quân phát-xít Đức. Đó chính là những sư đoàn không bị quân đồng minh Mỹ và Anh giải giáp ở phía nam Đan Mạch. Nhưng Tổng thống Mỹ Tờ-ru-man không ủng hộ tư tưởng đó của Thủ tướng Anh Sớc-sin, chí ít là do nguyên nhân: dư luận xã hội Mỹ chưa sẵn sàng chấp nhận một sự phản bội đồng minh và bạn bè đến mức như vậy.

   Trong khi đó, các tướng Mỹ kiên quyết đi theo quan điểm tiếp tục liên minh với Liên Xô cho tới khi Nhật Bản đầu hàng. Theo các tướng Mỹ, trong trường hợp cắt đứt quan hệ với Liên Xô thì người Mỹ buộc phải đơn phương chiến đấu với Nhật Bản. Theo đánh giá của các tướng lĩnh ở Lầu Năm Góc, nước Mỹ phải trả giá 1-2 triệu sinh mạng quân nhân Mỹ trong cuộc chiến với Nhật Bản. Như vậy, các nhà quân sự Mỹ đã ngăn chặn được một thảm họa chính trị vào tháng 4-1945. Ngoài ra, các nhà quân sự của Mỹ và Anh cho rằng, gây chiến với Liên Xô thì dễ nhưng kết thúc chiến tranh với họ thì khó khăn hơn nhiều. Đối với các tướng Mỹ và Anh, đây là hành động vô cùng mạo hiểm.

   Thông qua mạng lưới tình báo chiến lược nắm rõ ý đồ của Mỹ và Anh, Bộ chỉ huy tối cao của Liên Xô quyết định khẩn trương mở Chiến dịch Béc-lin như là sự đáp trả với kế hoạch mở chiến dịch “Vô hiệu hoá”. Có thể nói, Xta-lin là tác giả kịch bản chính trị của chiến dịch Béc-lin, còn người thực hiện và là Tổng chỉ huy chiến dịch là tướng Giu-cốp.

   Tiến công nhanh chóng và công phá Béc-lin, giương cao ngọn cờ chiến thắng trên nóc nhà Quốc hội Đức không chỉ là biểu tượng chính trị mà còn là chiến dịch quân sự có ý nghĩa quyết định kết thúc chiến tranh trên mặt trận Xô - Đức. Đối với Hồng quân Liên Xô, nhiệm vụ có tính nguyên tắc là phải tiến vào sào huyện cuối cùng của địch và kết thúc cuộc chiến tranh khó khăn nhất trong lịch sử nước Nga. Chính từ Béc-lin đã phát sinh và phát triển chủ nghĩa phát xít tàn bạo, gieo rắc sự đau khổ vô tận đối với nhân dân Liên Xô, nhân dân châu Âu và toàn nhân loại. Chính phủ Liên Xô muốn ứng xử với nước Đức như là một quốc gia gây chiến tranh và phải gánh chịu thất bại. Nhưng không một ai muốn biến sự thất bại của họ thành sự trừng phạt. Xta-lin thực hiện khẩu hiệu ông đề ra từ năm 1941 là: Hít-le lên nắm chính quyền và sẽ phải ra đi, còn nước Đức và nhân dân Đức thì vẫn còn lại mãi mãi.

   Tuy nhiên, ngay sau khi Béc-lin thất thủ, quan hệ liên minh Xô - Mỹ đã tan thành mây khói. Tướng Mỹ Mác-san (Marshall) đã từ chối tham gia cuộc duyệt binh chiến thắng của đồng minh ở Béc-lin, mà lẽ ra tướng Mác-san cùng với tướng Giu-cốp sẽ chỉ huy cuộc duyệt binh chiến thắng này. Mặc dù vậy, cuộc duyệt binh Chiến thắng ở Béc-lin vẫn được tiến hành vào ngày 07-05-1945 do Nguyên soái Giu-cốp chỉ huy. Còn ở Mát-xcơ-va, cuộc duyệt binh Chiến thắng được tổ chức vào ngày 24-06-1945./.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4028



« Trả lời #8 vào lúc: 22 Tháng Hai, 2011, 10:18:11 AM »

DẦU MỎ - “TỬ HUYỆT” CỦA NHIỀU CƯỜNG QUỐC KINH TẾ TRONG THẾ GIỚI ĐƯƠNG ĐẠI

   Lúc này, chưa có bất kỳ dấu hiệu nào chứng tỏ giá dầu mỏ trên thị trường thế giới có chiều hướng sút giảm. Cơn sốt giá của thứ nguyên liệu chiến lược này vẫn như con ngựa bất kham có xu hướng tung vó phi nước kiệu. Trong bối cảnh đó, các nhà phân tích kinh tế không dám cả gan đưa ra các dự báo chắc chắn. Không một chuyên gia phân tích nào mạnh dạn dự báo giá dầu sẽ lên tới mức nào. Theo họ, giá “vàng đen” có thể lên tới gần 200 USD/thùng vào cuối năm 2008, tuỳ thuộc vào diễn biến tình hình ở nhiều khu vực cách rất xa nhau trên hành tinh chúng ta.

   Tổng khối lượng tiêu thụ dầu mỏ của Mỹ vẫn “phi nước kiệu”

   Sự phụ thuộc vào dầu mỏ nhập khẩu của Mỹ đã tăng liên tục kể từ năm 1972. Năm đó, sản lượng dầu khai thác trong nước đạt đỉnh điểm 11,6 triệu thùng/ngày. Hiện nay, sản lượng này tiếp tục giảm bởi các giếng dầu cũ đã bị cạn kiệt. Tổng khối lượng tiêu thụ dầu mỏ của Mỹ vẫn “phi nước kiệu”, đã từng đạt mức gần 30 triệu thùng/ngày vào năm 2007. Do đó, lượng dầu mỏ phải nhập khẩu của Mỹ sẽ ngày một lớn và sẽ đạt 20 triệu thùng/ngày vào năm 2025, chiếm 69% nhu cầu tiêu thụ. Điều nghiêm trọng hơn là phần lớn lượng dầu mỏ Mỹ phải nhập khẩu từ các nước thù địch và các nước bị chiến tranh tàn phá trong thế giới đang phát triển, chứ không phải từ các nước hữu nghị và ổn định chính trị như Ca-na-đa hay Na-uy. Kết quả là, đang có sự dịch chuyển trung tâm của ngành dầu khí trên thế giới từ bắc bán cầu sang các nước đang phát triển của nam bán cầu, những nước thường có những bất ổn về chính trị, bị tàn phá bởi các cuộc xung đột tôn giáo và sắc tộc... Ngoài những mâu thuẫn đối kháng có nguồn gốc lịch sử tồn tại ở các nước này, bản thân ngành công nghiệp khai thác dầu mỏ còn chịu thêm những tác động gây bất ổn khác. Đó là sự bất mãn trước sự phân chia lợi nhuận không công bằng từ dầu mỏ và với chính sách đàn áp của chính phủ, các lực lượng đối lập giờ đây không còn sự lựa chọn nào khác ngoài việc tiến hành nổi loạn vũ trang hoặc khủng bố. Nhiều nhà sản xuất dầu mỏ mới nổi lên lại ở các nước đang phát triển trước đây từng là thuộc địa và luôn nung nấu hận thù sâu sắc đối với Mỹ. Vì dầu mỏ được xem như động lực thúc đẩy sự dính líu của Mỹ vào các khu vực này, nên các tập đoàn dầu khí khổng lồ của Mỹ vốn là hiện thân sức mạnh Mỹ và mọi thứ liên quan đến dầu mỏ như các đường ống dẫn, các giếng khoan, các nhà máy lọc dầu, các giàn khoan v.v.. bị những người nổi loạn coi là những mục tiêu thích hợp để tấn công. Chiến tranh I-rắc là thí dụ điển hình về cuộc chiến tranh nhằm giành giật dầu mỏ, không khác gì giành giật cuộc sống. Cuộc chiến này đang diễn ra quyết liệt không chỉ ở khu vực Trung Cận Đông mà hiện đang lan toả sang khu vực châu Á và châu Phi.

   Những cường quốc kinh tế mới nổi ảnh hưởng đến gia tăng giá dầu trên thị trường thế giới

   Từ năm 2003, Trung Quốc đã chiếm vị trí thứ 2 trong danh sách “top ten” các nước hàng đầu thế giới về khối lượng dầu mỏ tiêu thụ. Mức tăng nhu cầu dầu mỏ trong năm 2004 của Trung Quốc là 17% (hoặc 5,8-5,9 triệu thùng/ngày), còn mức nhập khẩu dầu mỏ tăng 35% (đạt 2,4-2,5 triệu thùng/ngày). Trung Quốc cũng đứng vị trí thứ hai sau Mỹ về khối lượng dầu mỏ nhập khẩu, góp phần đáng kể gia tăng giá dầu trên thị trường thế giới. Theo đánh giá của các chuyên gia phân tích, Trung Quốc đang nỗ lực duy trì nhịp độ phát triển như hiện nay để đến năm 2041 sẽ vượt Mỹ và trở thành một siêu cường kinh tế lớn nhất thế giới. Để đạt mục đích đó, trong tương lai không xa, Trung Quốc sẽ tiêu thụ một khối lượng năng lượng bằng cả hai nước Mỹ và Nhật Bản cộng lại.

   Cùng với Trung Quốc, Ấn Độ sẽ là quốc gia chiếm vị trí hàng đầu thế giới về mức độ tiêu thụ dầu mỏ. Giới lãnh đạo và dư luận xã hội ở Ấn Độ đánh giá sự thiếu hụt tài nguyên năng lượng là “một nguy cơ nghiêm trọng đối với an ninh quốc gia”. Báo India Daily từng viết: “Ấn Độ đang ở trong tình trạng hoảng hốt trước triển vọng không mấy sáng sủa của các nguồn cung cấp dầu mỏ và đang chạy đua nhằm giành giật tài nguyên dầu mỏ trên thế giới. Trong cuộc đua đó, Ấn Độ đang “chạm trán” với Trung Quốc. Nền kinh tế Ấn Độ đang phát triển với tốc độ nhanh không kém gì nền kinh tế Trung Quốc. Nếu mức tăng tổng thu nhập quốc nội hàng năm của Trung Quốc là 8-9%, thì của Ấn Độ đã là 6-8%. Để duy trì mức tăng trưởng kinh tế cao, Ấn Độ rất cần năng lượng. Cùng với sự phát triển kinh tế nhanh, số dân giàu lên càng nhiều, thì số người sử dụng ô-tô sẽ tăng lên gấp bội và hệ quả là, quốc gia đông dân vào bậc nhất nhì thế giới này sẽ ngày càng cảm thấy “đói” năng lượng. Lúc đó, cuộc cạnh tranh giữa Ấn Độ với các nước nhằm giành giật tài nguyên năng lượng để đáp ứng nhu cầu trong nước sẽ càng quyết liệt hơn. Chính nhu cầu về năng lượng ngày càng tăng của Ấn Độ đã góp phần gia tăng đáng kể giá dầu mỏ trong những năm gần đây. Ở Ấn Độ, khối lượng tiêu thụ dầu mỏ hiện thời vẫn chưa bằng Trung Quốc (vào khoảng 2 triệu thùng/ngày), nhưng trong khi Trung Quốc cần nhập khẩu dầu mỏ từ nước ngoài để đáp ứng 40% nhu cầu trong nước, thì Ấn Độ phải nhập khẩu tới 70% nhu cầu dầu mỏ tiêu thụ nội địa. Theo dự báo, đến năm 2018, nhu cầu dầu mỏ ở Ấn Độ sẽ đạt tới 4 triệu thùng/ngày và tỷ lệ nhập khẩu sẽ vượt quá 85%. Theo tính toán của Bộ Thương mại Ấn Độ, mức tăng giá một thùng dầu lên 5 USD có nghĩa là làm giảm nhịp độ tăng trưởng kinh tế của nước này xuống 0,5% và tăng lạm phát lên 1,4%. Thí dụ, năm 2004, theo kế hoạch chính thức, tổng thu nhập quốc nội của Ấn Độ tăng 7-8%, nhưng trên thực tế mức tăng không vượt quá 6% do giá dầu tăng. Trong khi đó, nguồn dự trữ dầu mỏ trong nước của Ấn Độ cũng rất hạn chế. Vì thế, ngay từ năm 2004, chính phủ Ấn Độ đã soạn thảo một chương trình đặc biệt nhằm giảm sự phụ thuộc của nền kinh tế vào động thái của thị trường dầu mỏ thế giới.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4028



« Trả lời #9 vào lúc: 22 Tháng Hai, 2011, 10:19:53 AM »

   Ai sẽ giành quyền kiểm soát dầu mỏ - nguồn năng lượng chiến lược?

   “Chiến tranh năng lượng” giữa Trung Quốc và Ấn Độ. Hiện nay, Trung Quốc và Ấn Độ đang cạnh tranh để nhập khẩu dầu mỏ từ các nước Cận Đông, châu Phi, Trung Á và các khu vực khác. Ấn Độ đã đầu tư hơn 3 tỉ USD vào các đề án khai thác dầu mỏ ở Nga, Xu-đăng, Việt Nam, Mi-an-ma và Li-bi. Trong 10 năm tới, Đê-li dự kiến hàng năm đầu tư không dưới 1 tỉ USD vào các cơ sở dầu mỏ và khí đốt gần như trên khắp thế giới. Hiện nay, họ đang xem xét đề nghị của Ả-rập Xê-út cùng phối hợp xây dựng một nhà máy chế biến dầu mỏ. Trung Quốc và Ấn Độ cũng đang xem xét các phương án cùng phối hợp để mua vốn hoạt động không chỉ của công ty dầu mỏ “Y-u-cốt” mà của nhiều hãng dầu mỏ khác của Nga.

   “Chiến tranh năng lượng” giữa Mỹ với Trung Quốc và Nga ở châu Phi. Theo đánh giá của Bộ Năng lượng Mỹ, sau 10 năm nữa, tỷ phần của châu Phi trên thị trường nhập khẩu dầu mỏ thế giới có thể leo lên tới mức 30%. Cũng theo tính toán của các chuyên gia, nếu Mỹ duy trì mức độ tiêu thụ dầu mỏ như hiện nay thì trong tương lai trung hạn, nguồn dầu mỏ và khí đốt từ châu Phi sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm an ninh năng lượng của Mỹ. Để bảo vệ lợi ích dầu mỏ của Mỹ ở châu Phi, năm 2007, Mỹ quyết định thành lập Bộ Chỉ huy quân sự châu Phi nhằm bảo đảm lợi ích quốc gia của Mỹ bằng các biện pháp quân sự, giống như tình hình hiện nay ở Cận Đông. Một lần nữa, các lợi ích chiến lược của Mỹ đều định hướng vào các nguồn dầu mỏ của thế giới. Mỹ đã không ít lần tuyên bố, châu Phi là mối quan tâm đáng kể của Mỹ còn là vì Trung Quốc và Nga đang tăng cường ảnh hưởng ở khu vực này. Tuyên bố của Mỹ chính thức thành lập Bộ Chỉ huy châu Phi được đưa ra vào thời điểm Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào vừa đến thăm châu Phi nhằm phát triển ảnh hưởng kinh tế tại đây. Trung Quốc đang trở thành đối thủ tiềm tàng của Mỹ và các quốc gia Phương Tây trong cuộc tranh giành giật thị trường và tài nguyên ở châu Phi. Trung Quốc đã vượt xa nhiều hãng châu Âu và Mỹ trong việc khai thác tài nguyên ở châu lục này.

   “Chiến tranh năng lượng” giữa Mỹ với Trung Quốc và Nga ở Cáp-ca-dơ. Ba quốc gia này đang cạnh tranh nhằm giành giật dầu mỏ ở khu vực Nam Cap-ca-dơ, nơi có các nguồn dầu mỏ và khí đốt dồi dào tiềm ẩn. Sự ổn định ở Cap-ca-dơ là điều kiện có tầm quan trọng sống còn để bảo đảm chuyên chở không ngừng dầu mỏ và khí đốt từ vùng biển Ca-xpi, bao gồm Nam Cáp-ca-dơ và Trung Á, chiếm tới 3-4% nguồn dự trữ dầu mỏ và 4-6% nguồn dự trữ khí đốt của thế giới. Bản thân tỷ phần của Cáp-ca-dơ trong nguồn dự trữ dầu mỏ và khí đốt toàn cầu không lớn lắm, nhưng trong bối cảnh nguồn dự trữ dầu mỏ và khí đốt ở Trung Cận Đông không ổn định và an ninh thiếu tin cậy, Nga sử dụng tài nguyên năng lượng làm công cụ chính trị, thì việc chuyển tải dầu mỏ và khí đốt ở vùng Ca-xpi và Trung Á sang Mỹ có giá trị quan trọng sống còn. Tầm quan trọng của khu vực này còn gia tăng do chính sách năng lượng của các nước tiêu thụ ở phương Tây đang muốn giảm sự phụ thuộc của họ vào dầu mỏ của Nga và khu vực Trung Cận Đông. Một số quốc gia và tổ chức đang có những nỗ lực ngoại giao để chấm dứt sự độc quyền của Nga trong việc chuyển tải năng lượng trong khu vực Á-Âu. Trong bối cảnh đó, Mỹ muốn có một khu vực Nam Cáp-ca-dơ ổn định để đầu tư vào lĩnh vực năng lượng và từng bước đẩy Nga ra khỏi khu vực này.

   Các đường ống dẫn dầu thay đổi thế giới

   Sau thời kỳ của Goóc-ba-chốp và En-sin, Tổng thống Nga V.Pu-tin đã hồi sinh nước Nga bằng thứ vũ khí địa - chiến lược trên bàn cờ chính trị quốc tế. Đó là bốn đề án dầu mỏ và khí đốt thiên nhiên của Nga trên lục địa Á - Âu, gồm các đề án hợp tác với Đức, Thổ Nhĩ Kỳ, Nhật Bản và Trung Quốc. Những đề án này đang làm thay đổi căn bản nền địa - chính trị thế giới do quy mô và tầm cỡ của những “quân cờ” ở đây. Đã đến lúc có thể sử dụng thuật ngữ mới “Rusoprovod” (có nghĩa là “Đường ống của Nga”) thay cho thuật ngữ “Gazoprovod” (“Đường ống khí đốt”). Với bốn đề án đó, nước Nga đang chậm chạp nhưng tự tin xây dựng một trật tự thế giới đa cực trên cơ sở dầu mỏ và khí đốt. Chuyên gia bình luận chính trị quốc tế Pê-tơ La-vơ-le (Peter Lavelle) gọi V. Pu-tin là “Vua năng lượng trong thế kỷ XXI”, ý nói, Tổng thống Nga đang đem lại vị thế toàn cầu cho “Gazprom”, một công ty khí đốt hàng đầu của thế giới đương đại. Mấy chuyến thăm nước ngoài gần đây của V. Pu-tin sang Đức, Thổ Nhỹ Kỳ, Hàn Quốc và Nhật Bản chứng tỏ chương trình quốc tế của “Gazprom” và công ty dầu mỏ quốc gia “Rosnefti” của Nga là một phần trong chiến lược năng lượng thống nhất của Điện Cremli.

   Trong một bản báo cáo phân tích mang tựa đề “Nước Nga - siêu cường năng lượng”, một nhóm chuyên gia về địa chính trị dưới sự lãnh đạo của Pê-tơ La-vơ-le đưa ra nhận xét: “V.Pu-tin đang đặt tiềm năng dầu mỏ và khí đốt của Nga vào trung tâm chính sách đối ngoại. Rất có thể, ông đang có ý khẳng định vị thế của Nga như là một siêu cường vĩ đại nhờ tài nguyên năng lượng”. Viện sĩ Goóc-đon Han-nơ (Gordon Hahn), chuyên nghiên cứu về Nga, nhận xét, các loại vũ khí hạt nhân siêu đẳng và vị trí địa - chiến lược dẫn đầu của Nga sẽ xác định vị thế của quốc gia này như là một siêu cường trong thế kỷ tới. Chính vì thế mà Mỹ đã từng ve vãn nhà tỷ phú Mi-khai-in Khô-đô-cốp-ski (Mikhail Khodorcovski) để ông này hứa sẽ chuyển giao cho Mỹ các mỏ dầu của Nga bằng cách bán 50% cổ phiếu của “Yukos” cho hãng dầu mỏ “ExxonMobil” của Mỹ. Nhiều chuyên gia phân tích cho rằng ông V.Pu-tin đang có ý định sử dụng tài nguyên năng lượng làm “vũ khí chiến lược” trong cuộc chiến nhằm khẳng định vị thế của Nga trên bàn cờ chính trị quốc tế./.
Logged
Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM