Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 09 Tháng Mười Hai, 2019, 11:52:29 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất  (Đọc 30751 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 701



WWW
« Trả lời #50 vào lúc: 14 Tháng Bảy, 2019, 10:48:20 AM »

Phản ứng của Trung Quốc đối với nghị quyết Béc-lin và mối quan hệ Trung-Xô

Phản ứng chính thức đầu tiên của Trung Quốc đối với bản thông cáo Béc-lin là từ một xã luận Nhân dân nhật báo ngày 22 tháng 263 (Nhân dân nhật báo ngày 22-2-1954, bản dịch tiếng Anh của Tân hoa xã, Bắc Kinh, ngày 23-2-1954. Bản tiếng Pháp của nhóm kiểm soát điện đài (groupement des contrôles radio-électriques) 22-2-1954. Cùng ngày Quang minh nhật báo viết xã luận theo cùng một hướng đó. Xem Bản tin Tân hoa xã, Bắc Kinh ngày 22-2-1954. Đồng thời ngày 22 tháng 2 đài phát thanh Bắc Triều Tiên tán thành nghị quyết Hội nghị Béc-lin về việc triệu tập hội nghị Giơ-ne-vơ. (Thời sự chính sách đối ngoại, tập 7, số 4-5, tháng 9 năm 1954, tr.507). Về đại thể, Chính phủ Bắc Kinh tiếp nhận thuận lợi quyết định của hội nghị: "không nghi ngờ chút nào là sự thỏa thuận tại hội nghị Béc-lin sẽ góp phần làm dịu tình hình trên thế giới. Nhân dân Trung Quốc ủng hộ nghị quyết đó"64 (Việc mời Trung Quốc dự hội nghị Giơ-ne-vơ, do Liên Xô chuyển, được đài Bắc Kinh truyền đi ngày 3-3 (hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp, châu Á-châu Đại dương, Bộ Ngoại giao về vấn đề "Phản ứng đầu tiên của Trung Quốc đối với Thông cáo Hội nghị Béc-lin, 15-3-1954. Cần lưu ý rằng Chính phủ Đài Bắc ngày 19-2 ra một tuyên bố chính thức rất láy làm tiếc về những điều khoản trong thông cáo Béc-lin ngày 7-3, Quốc hội của Trung Hoa quốc gia gửi các nước hội viên Liên hiệp quốc một thông điệp kịch liệt phản đối việc triệu tập hội nghị và bác bỏ trước tất cả những quyết định có thể sẽ được thông qua có liên quan đến Trung Quốc. Thời sự chính sách đối ngoại, tập 7, số 4-5, tháng 5 năm 1954, tr.508). Nhưng ngoài sự ủng hộ về nguyên tắc đó, bài báo nhấn mạnh một số điểm phản ánh thái độ dè dặt mà bản thông cáo gợi ra đối với Trung Quốc.


Chắc chắn là nước Cộng hòa nhân dân hoan nghênh thái độ của Liên Xô tại Béc-lin "Hiển nhiên (...) sự thỏa thuận đó là kết quả của những cố gắng không mệt mỏi của Liên Xô nhằm đi đến cuộc thương lượng giữa các cường quốc chủ yếu". Nhưng đồng thời giọng điệu của bài xã luận đã chứng tỏ mức độ dè dặt của Trung Quốc đối với giải pháp thông qua ngày 18 tháng 2.


Trước hết người Trung Quốc nhấn mạnh hội nghị Giơ-ne-vơ sẽ là một cuộc hội nghị của năm nước lớn: thuật ngữ này được dùng tới bảy lần trong bài xã luận. Cách nói đó khác hẳn ở Mát-xcơ-va, tại đó người ta nói đến "một cuộc hội nghị mà nòng cốt là các đoàn đại biểu của năm nước lớn"65 (Nhận xét của Bộ Ngoại giao Anh với Đại sứ Pháp ở Anh. Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/điện của Mát-xi-ghi (Luân-đôn) số 677-681/23-2-1954. Không thể hoàn toàn theo R.Ph. Ran-đin, sách đã dẫn, tr.145, khi ông ta đưa trên bình luận của Thời báo Niu-Oóc viết rằng Trung Quốc và Liên Xô có lập trường hoàn toàn như nhau về vấn đề này). Nhưng Chính phủ Bắc Kinh, về phần mình, muốn hiểu rằng cuộc họp ở Giơ-ne-vơ sẽ là "hội nghị của năm nước lớn" chứ không phải "Hội nghị của các nước có liên quan", điều mà Mát-xcơ-va chỉ có thể thừa nhận một cách khó khăn ở đó người ta hiểu rõ rằng đó không phải là tinh thần bản thông cáo Béc-lin. Đối với đại sứ Pháp ở Mát-xcơ-va, việc cố nhấn mạnh đến cách nói "hội nghị của năm nước lớn" chứng tỏ khá rõ ràng rằng ở Bắc Kinh người ta không hoàn toàn hài lòng về cách  bảo vệ lợi ích của Trung Quốc". Vẫn theo nhà ngoại giao Pháp ở Mát-xcơ-va, "trong chừng mực những "nhượng bộ duy nhất" của Liên Xô ở Béc-lin có hại cho Chính phủ Bắc Kinh người ta hiểu sự dè dặt của Trung Quốc và người Nga cũng đã chờ đợi trước thái độ đó, chứng cớ là ngay trong thời gian Hội nghị Béc-lin họp, báo chí Xô-viết đã có những bài giải thích, biện hộ, nhằm vào Bắc Kinh"66 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/điện Lơ Rôi, Mát-xcơ-va, số 537-543/26-2-1954).


Ngoài ra, thông cáo Béc-lin nhắc lại rằng "việc mời dự hội nghị, và cả cuộc họp đều sẽ không được coi như dẫn đến sự công nhận về mặt ngoại giao trong trường hợp chưa có sự công nhận đó". Hiển nhiên là, sự dè dặt nhằm trước hết vào Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Bài xã luận của Nhân dân nhật báo ra ngày 22 tháng 2, không nói một chữ nào đến đoạn đó. Bài báo viết bản thân một cuộc hội nghị bao gồm nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, nó là một bước tiến trên con đường dẫn đến sự cải thiện quan hệ giữa các cường quốc và làm dịu tình hình trên thế giới. Cũng về điểm này, Liên Xô có lẽ đã gặp một số khó khăn trong việc làm cho Trung Quốc chấp nhận nghị quyết Béc-lin. Bình luận cho báo chí Xô-viết tỏ ra có sự nghi ngờ về điểm đó: hết thảy các bài báo đều cố gắng chứng minh cho Chính phủ Bắc Kinh biết rằng thông báo ngày 18 tháng 2 tương đương với một sự công nhận Cộng hòa nhân dân Trung Hoa trên thực tế. Báo Tin tức (Izvestia) ngày 28 tháng 2 nhận thấy trong nghị quyết Béc-lin "một chứng có có sức thuyết phục ở chỗ từ nay, không một ai có thể không biết đến vai trò và tầm quan trọng của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa trong sinh hoạt quốc tế. Nghị quyết đó có nghĩa là sự công nhận trên thực tế nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa là cường quốc67 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/điện Lơ Rôi, Mát-xcơ-va, số 575-583/ngày 1-3-1954, chúng tôi nhấn mạnh). Báo Sự thật (Pradva) ngày 1 tháng 3 nêu lại cùng một ý kiến như vậy. Đại sứ Pháp tại Mát-xcơ-va tiếp tục bình luận:

"Cả hai bài báo hết sức cố gắng chứng minh rằng đây không phải là cách giải thích của Liên Xô mà là sự đánh giá chung của báo chí hàng loạt nước". Rất nhiều trích dẫn xác minh cách đánh giá đó. Những trích dẫn bổ ích nhất là từ chính nước Mỹ. Các đối thủ của Đa-lét kết tội ông ta là làm việc cho thừa nhận Trung Quốc, và việc Trung Quốc vào Liên hiệp quốc trở thành điều không thể tránh khỏi. Báo chí Xô-viết chẳng khó khăn gì trong việc nêu bật những lời kết tội đó để chứng minh cho người Trung Quốc thấy rằng đại biểu Liên Xô tại hội nghị Béc-lin đã biết  bảo vệ chu đáo lợi ích của Trung Quốc68 (Như trên).


Có lẽ cũng để xoa dịu những mối lo ngại của Trung Quốc mà ngày 5 tháng 3, báo chí Xô-viết công bố một bản tuyên bố dài của Mô-lô-tốp trong đó ông ta đặc biệt nhấn mạnh: "Như vậy một cuộc hội nghị sẽ được triệu tập tại Giơ-ne-vơ ngày 26 tháng 4 với sự tham gia của năm cường quốc về hai vấn đề nóng bỏng nhất đang đặt ra ở châu Á: Vấn đề Triều Tiên và tình hình ở Đông Dương. Nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa sẽ có địa vị hợp pháp với các cường quốc khác tại cuộc hội nghị đó"69 (Toàn văn tiếng Pháp trong báo Nhân đạo, ngày 6-3-1954, chúng tôi nhấn mạnh).


Cuối cùng trong xã luận Nhân dân nhật báo, ngày 22 tháng 2, Trung Quốc không giấu giếm ý muốn đóng góp với tư cách là một cường quốc vào việc lập lại hòa bình ở châu Á và vào cả việc giảm tình hình căng thẳng trên phần còn lại của thế giới. Trong khi thảo thông cáo ngày 18 tháng 2, người ta đã cẩn thận chỉ nói đến Cộng hòa nhân dân Trung Hoa trong các đoạn liên quan đến Triều Tiên và Đông Dương. Trái lại, Chính phủ Bắc Kinh cố gắng một cách lộ liễu làm cho việc mơi Trung Quốc có tầm vóc quốc tế. Hội nghị Giơ-ne-vơ được hiểu là phải "dẫn đến làm dịu tình hình trên thế giới" và phải "tìm ra các giải pháp cho các vấn đề quốc tế sống còn". Điều đó có nghãi là nếu trong thời gian đầu Trung Quốc vui mừng được mời thảo luận hai vấn đề quốc tế khẩn cấp nhất là Triều Tiên và Đông Dương, thì không vì vậy mà Trung Quốc nghĩ rằng thẩm quyền của mình chỉ giới hạn vào các vấn đề châu Á mà thôi70 (Xã luận Nhân dân nhật báo, ngày 23-2-1954 (tiếng Pháp của nhóm kiểm soát điện đài (groupement dcs contrôles radioélectriques, 24-2-1954)). Còn đi xa hơn, dành phần lớn bài xã luận viết cho các vấn đề châu Âu (Đức và Áo) và giải trừ quân bị. Bài xã luận viết: "Hơn nữa, hội nghị năm nước có thể thảo luận một cách có hiệu quả vấn đề tài giảm binh bị ở tất cả các nước và đặc biệt ở năm nước lớn, vấn đề phát triển quan hệ thương mại quốc tế và giải quyết mọi tranh chấp quốc tế" (chúng tôi nhấn mạnh)).
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 701



WWW
« Trả lời #51 vào lúc: 14 Tháng Bảy, 2019, 10:49:07 AM »

Trung Quốc chấp nhận nguyên tắc họp hội nghị Giơ-ne-vơ, nhưng chắc chắn là quan điểm của Trung Quốc về hội nghị rất khác với các cường quốc phương Tây và với một sự oán thán nào đó, Bắc Kinh chê trách Liên Xô đã không bênh vực đầy đủ quy chế quốc tế của Trung Quốc. Vì vậy cho tới ngày 26 tháng 4, người Trung Quốc làm ra vẻ không biết đến những hạn chế trong thông cáo Béc-lin. Hội nghị Giơ-ne-vơ đối với họ sẽ là một hội đồng chấp chính có chức năng thế giới của năm cường quốc mà họ không mong muốn Trung Quốc không phải chỉ là một trong những nước được mời mà rõ là một trong năm nước lớn71 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/châu Á-châu Đại dương/bản ghi nhớ về phản ứng của Trung Quốc đối với Thông cáo Hội nghị Béc-lin 4-3-1954, cũng xem hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/châu Á-châu Đại dương/bản ghi nhớ về vấn đề "Phản ứng đối với triển vọng hội nghị Giơ-ne-vơ", 15-3-1954). Thật vậy sự thất vọng tương đối đó của Trung Quốc có lẽ giải thích tình trạng có nhiều dấu hiệu về mối bất đồng Xô-Trung xuất hiện trong thời gian 10 tuần từ hội nghị Béc-lin đến hội nghị Giơ-ne-vơ. Ngay từ cuộc họp Béc-lin, Mô-lô-tốp đã tâm sự với I-đơn rằng người phương Tây khá may mắn là không như ông ta, phải bàn với Mao Trạch Đông "là người rất cứng rắn, rất cứng rắn"72 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/điện Mát-xi-gli/Luân Đôn, số 677-681). Bề ngoài, "tất cả những sự thỏa mãn có lợi cho Bắc Kinh" mà Liên Xô tìm cách giành được trước khi họp hội nghị Giơ-ne-vơ phải "tương xứng với sức thúc ép của Trung Quốc"73 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp: điện Giô-xê/Mát-xcơ-va, số 1168-1180, 20-4-1954), như người ta phỏng đoán ở Mát-xcơ-va. Mặc dù phương Tây rất khó mà hình dung đâu là bản chất thật sự của mối quan hệ Trung-Xô, cảm tưởng chung cho rằng người đối thoại Trung Quốc phải là người khó tính.


Ngoài ra, cả giới báo chí cũng có thể nêu ra một số dấu hiệu theo hướng đó. Một số báo ở Ban-lơ (Bale) điểm lại những tuyên bố của các nhà ngoại giao Trung Quốc ở Đông Béc-lin viết rằng ở Giơ-ne-vơ, Trung Quốc sẽ có một thái độ độc lập với Liên Xô74 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/Ba-xlơ Nachrichten/203/1954. Báo cáo tổng kết của Đại sứ quán Pháp tại Thụy Sĩ, 23-3-1954). Tờ Thời báo (Times) ở Luân Đôn cũng vậy, dành bài xã luận ngày 30 tháng 3 cho vấn đề đó nhưng ngược lại, kết luận rằng phương Tây quá thiên về việc đặt cọc trên những bất đồng về quan điểm có thể có giữa Trung Quốc và Liên Xô75 (The Times, 30-4-1954. Tổng kết trong hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/điện Mát-xi-gli/Luân Đôn/số 1320-1323/30-4-1954).


Tóm lại, có nghĩa là nếu Chính phủ Bắc Kinh coi lời mời của hội nghị Béc-lin là rất tích cực thì ít ra họ cũng đánh giá là địa vị quốc tế của Trung Quốc không được thừa nhận đầy đủ và gán một phần trách nhiệm cho Liên Xô. Đoạn nói về không công nhận ngoại giao ghi trong thông cáo ngày 18 tháng 2 theo đòi hỏi của Mỹ, đặc biệt làm cho Trung Quốc tức giận có lẽ vì họ đã hi vọng rằng nhờ sự ủng hộ của Liên Xô, vấn đề sẽ được bỏ qua.


Vậy hội nghị Giơ-ne-vơ sẽ diễn ra gay go, không phải vì các vấn đề sẽ đưa ra thảo luận mà cũng là do quy chế mập mờ của đoàn đại biểu Trung Quốc76 (Để khỏi nêu ra vấn đề đại diện của các quốc gia liên kết của Việt Minh và phe cực tả Lào và Cam-pu-chia).
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 701



WWW
« Trả lời #52 vào lúc: 01 Tháng Mười Hai, 2019, 07:55:02 PM »

Trung Quốc chuẩn bị hội nghị Giơ-ne-vơ


Trung Quốc đả kích Mỹ

Phản ứng của Trung Quốc đối với tin triệu tập hội nghị Giơ-ne-vơ cũng nói lên mối lo sợ sâu xa của Trung Quốc về cách cư xử của Mỹ. Xã luận Nhân dân nhật báo ngày 22-2-1954, trong đó Trung Quốc cho biết cảm tưởng đầu tiên của mình, đã nhấn dài dòng đến những thái độ dè dặt của Mỹ đối với cuộc họp đã dự liệu và đến những mối nguy cơ mà một thái độ như vậy sẽ đem lại. Chính phủ Bắc Kinh không giấu diếm rằng họ rất lo ngại là ở Mỹ: những phần tử hiếu chiến tìm cách gây trở ngại cho thỏa thuận đạt được ở hội nghị Béc-lin. Theo tờ báo Trung Quốc, tình hình đó kêu gọi những ai yêu chuộng hòa bình phải cảnh giác cao độ77 (Nhân dân nhật báo, 22-2-1954).


Thực tế, trong tháng 3 và tháng 4, Trung Quốc tố cáo một cách có hệ thống mọi sáng kiến của chính sách Đa-lét, hàng ngày nhắc đi nhắc lại, dưới hình thức này hay hình thức khác rằng "phải chú ý nghiêm chỉnh đến những âm mưu của Mỹ phá hoại hội nghị Giơ-ne-vơ"78 (Thế giới tri thức, 15-3-1954. Dẫn trong hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp, điện Bu-đôn/Hồng Công/số 72-73/19-3-1954).


Theo Trung Quốc có nhiều nhân tố buộc Mỹ phải chấp nhận thương lượng tại Giơ-ne-vơ. Đầu tháng 3, tờ Quang minh nhật báo liệt kê một mớ nào là "Mỹ hết ảo tưởng nắm được bí mật nguyên tử", nào là "chiến dịch chạy đua vũ trang (của Mỹ và chư hầu) làm trầm trọng thêm cuộc khủng hoảng kinh tế của chủ nghĩa tư bản", nào là "những khó khăn thương mại của các nước tư bản chủ nghĩa" và nhất là "sức mạnh của phe hòa bình dân chủ và chủ nghĩa xã hội". Vì tất cả những lý do đó, nhưng cũng là để khỏi bị "cô lập với các nước phương Tây khác", đoàn đại biểu Mỹ tại Béc-lin đã phải chấp nhận nguyên tắc họp hội nghị Giơ-ne-vơ79 (Quang minh nhật báo, 11-3-1954).


Nhưng một khi chấp nhận rồi, Mỹ làm mọi việc có thể được cho hội nghị thất bại. Một mặt, họ tiếp tục "phát triển nhanh các lực lượng của bù nhìn Lý Thừa Vãn (..) vi phạm hiệp định đình chiến Triều Tiên" và "ủng hộ Lý Thừa Vãn trong mọi hành động đe dọa và gây áp lực"80 (Tân hoa xã, Bắc Kinh, 19-3-1954). Mặt khác, về Đông Dương, Mỹ trắng trợn "đưa nhân viên không quân (...) đến tham gia trực tiếp vào việc tàn sát nhân dân các nước Việt Nam, Cam-pu-chia và Pa-thét Lào"81 (Peoplés china, 1-4-1954). Ngoài ra, Bộ Ngoại giao và nghị sĩ quốc hội Mỹ không ngừng nhắc đi nhắc lại rằng "không thể giải quyết vấn đề (...) bằng phương thức hòa bình".


"Đồng thời hãng Thông tấn Tân hoa viết tiếp: Mỹ ép buộc Pháp phải theo đuổi cuộc chiến tranh mất lòng dân. Bộ máy tuyên truyền của Mỹ reo rắc câu chuyện hoang đường nói rằng địa vị cường quốc của Pháp sẽ lung lay nếu Pháp chấm dứt cuộc chiến tranh Đông Dương. Mỹ còn reo rắc không khí lạc quan về các trận đánh mặc dù bị thiệt hại nặng trên chiến trường. Mục đích của tất cả những việc đó là làm cho nước Pháp phản đối việc lập lại hòa bình ở Đông Dương, bên ngoài vòng cương tỏa của Mỹ"82 (Tân hoa xã, Bắc Kinh, 19-3-1954).


Ngoài những âm mưu thủ đoạn đó, theo Trung Quốc còn phải thêm việc Chính phủ Oa-sinh-tơn khuyến khích chính sách tái vũ trang Nhật Bản, việc xây dựng các căn cứ quân sự Mỹ ở Thái Lan, Phi-luật-tân, Pakistan và Thổ Nhĩ Kỳ. "Nếu người ta gắn với những việc làm đó với mục đích của hội nghị Giơ-ne-vơ-như Mỹ cũng đã chấp nhận là giải quyết các vấn đề cấp bách ở châu Á bằng thương lượng nhằm làm dịu tình hình quốc tế-người ta buộc phải nhận thấy khoảng cách kỳ lạ giữa lời nói và việc làm của những nhà lãnh đạo Mỹ"83 (Như trên).


Trong ba tuần lễ tháng 4 trước ngày khai mạc Hội nghị Giơ-ne-vơ, Trung Quốc càng đả kích Mỹ nhiều hơn và kịch liệt hơn. Vì vậy "hành động chung" giữa các đồng minh do Đa-lét đề nghị trong diễn văn quan trọng ngày 28-3 ở Câu lạc bộ báo chí hải ngoại của Mỹ (Oversea Press Club of America): đã gây nên một sự phản ứng mạnh mẽ trong giới báo chí Trung Quốc. Mọi hình thức quốc tế hóa cuộc chiến tranh bao giờ cũng bị Trung Quốc kiên quyết tố cáo. Ví dụ như Trung Quốc đã tỏ ra rất lo ngại trước ý định của Thái Lan hồi tháng 4-tháng 5-1953, đưa ra trước Liên hiệp quốc84 (Về điểm này, cần nhấn mạnh là Pháp cũng lo sợ như Trung Quốc về sự can thiệp có thể xảy ra của Liên hiệp quốc. Việc đó có thể đẩy nhanh việc đưa đến Đông Dương những quân chí nguyện Trung Quốc như ở Triều Tiên (M.Guốc-tốp, sách đã dẫn, tr.39). Đại tá Ghi-éc-ma lúc đó là tùy viên quân sự Pháp tại Băng Cốc đã được giao trách nhiệm giải thích điều đó cho Chính phủ Phi-bun xong-khram. Về phương diện này, lập trường của Pháp gần với Trung Quốc hơn là với Mỹ hay với Anh. Ngoài ra cần lưu ý rằng chính Mỹ đã thúc đẩy Thái Lan đi theo con đường đó, nhưng Chính phủ Băng Cốc thì có vẻ do dự, sách đã dẫn, tr.165), lời kêu gọi ngày 25-12-1953 của Lào gửi các nước trong thế giới tự do chống lại sự xâm lược của Việt Minh, cũng như trước đề nghị của Nam Triều Tiên vào đầu tháng 2 năm 1954, gửi một sư đoàn tới Lào để chiến đống chống cộng sản xâm lược. Chính phủ Bắc Kinh luôn luôn khẳng định lại rằng toàn bộ chính sách của họ ngược lại, là làm cho "chiến tranh Triều Tiên không tái diễn ở bất cứ nơi nào ở châu Á"85 (People's China, 1-1-1954 và cả 1-4-1954). Vậy, đối với Trung Quốc, hành động chung của Mỹ đề nghị chỉ có thể đưa đến một xung đột mới theo kiểu Triều Tiên: "Cái gọi là hành động chung đó sẽ dẫn đến đâu? (...). Cuộc chiến tranh Triều Tiên đưa ra câu trả lời"86 (Tân Hoa xã, Bắc Kinh, 3-4-1954, Nhân dân nhật báo, 3-4-1954). Điều duy nhất mà Mỹ nghĩ đến chỉ là làm căng thẳng thêm tình hình mới về quân sự của Mỹ87 (Về thái độ của Trung Quốc đối với cánh nhìn mới. Xem bài của Cheng Wan, Thế giới tri thức, số 4, 20-2-1954), của sự đoa dọa hạt nhân, những cuộc thí nghiệm nhiệt hạch ở quần đảo Mác-san (Marshall) các ngày 1 và 26 tháng 3 năm 195488 (Phản ứng của Trung Quốc trong bản tin Tân hoa xã, Bắc Kinh, 1-4-1954 đăng lại trong Survet of China Mainland Press, số 780, 2-4-1954), và của những cuộc tập trận về không quân ở Nam Triều Tiên89 (Nhân dân nhật báo 3-4-1954, Survey of China Mainland Press, số 781, 3-5-1954. Cũng xem Nhân dân nhật báo, 30-3-1954, tr.4 (bản đồ các căn cứ quân sự của Mỹ ở Viễn Đông đe dọa các nước xã hội chủ nghĩa). Việc tăng cường tiềm lực quân sự của Trung Hoa quốc gia (với sự giúp đỡ của Mỹ) trên các đảo ven biển Kim Môn và Mã Tổ90 (H.C.Hinton, Communist China in world Politics (Cộng sản Trung Quốc trong chính trị thế giới) London, Melbourne Mac Milan 1966), cũng như tuyên bố của Thủ tướng Trần Thành ngày 18 tháng 4, nói rằng Trung Hoa quốc gia "sẵn sàng chiến đấu bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu trong chừng mực mà sự can thiệp của Trung Hoa quốc gia là một bộ phận của kế hoạch chung"91 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp, điện Cat-tan Đài Bắc, số 212/20-4-1954. Tuyên bố nói tiếp như sau: "Một kế hoạch như vậy tùy thuộc vào việc thực hiện một mặt trận thống nhất giữa các quốc gia tự do. Sự thống nhất đó chưa có vì một vài cường quốc (Anh, Pháp) còn mang ảo tưởng về khả năng thỏa hiệp với Cộng sản". Xem hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp châu Á-châu Đại dương, bản ghi nhớ về vấn đề "Tình hình ở Đài Loan", 30-11-1953), chỉ làm tăng thêm mối lo ngại của Trung Quốc. Báo Nhân dân nhật báo, ngày 24 tháng 4 trả lời một cách lạnh lùng: chúng tôi tán thành hòa bình và phản đối chiến tranh. Nhưng chúng tôi không khoanh tay làm ngơ nếu có một cuộc xâm lược vũ trang chống lại chúng tôi"92 (Nhân dân nhật báo, 21-4-1954, hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp, điện Sài Gòn gửi các quốc gia liên kết 22-4-1954).


Cũng theo cách đó, hoạt động ngoại giao của Mỹ trong tháng 4 bị chỉ trích không kém dữ dội. Các thông cáo công bố về kết quả các cuộc gặp gỡ một mặt giữa Đa-lét và I-đơn, và mặt khác giữa Đa-lét và Bi-đôn, ngày 13 và 14 tháng 4 gây nên sự phản đối kịch liệt: trong cả hai trường hợp, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Mỹ bị lên án là phá hoại hội nghị Giơ-ne-vơ bằng cách lôi kéo Anh và Pháp đi theo chính sách xâm lược về "hành động chung"93 (Tân hoa xã, Bắc Kinh, 15-4-1954 và 21-4-1954, hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp, điện Buy-đôn/Hồng Công/số 137-138, 20-4-1954). Diễn văn ngày 16 tháng 4 của Phó tổng thống Nich-xơn đơn thuần đề nghị gửi quân đội Mỹ đến Đông Dương, cũng bị tố cáo mạnh mẽ, như một "diễn văn của tên lái súng", một "lời kêu gọi chiến tranh"94 (Tân hoa xã, Bắc Kinh, 19-4-1954 và Tân hoa xã, 20-4-1954).


Khi hội nghị Giơ-ne-vơ khai mạc, lập trường của Trung Quốc đối với Mỹ cứng rắn hơn bao giờ hết. Chính sách của Mỹ đã được giải thích, không phải là không có vài lý do, như một âm mưu lớn nhằm đè bẹp nước Trung Hoa mới. Ở Bắc Kinh người ta cho rằng Đông Dương chỉ là một yếu tố của hệ thống xâm lược mà Mỹ cố gắng xây dựng dọc biên giới và bờ biển Trung Quốc. Tuy nhiên, thái độ của Trung Quốc không phải là vì vậy mà hoàn toàn tiêu cực. Đôi khi ở Bắc Kinh người ta thích nói đến tình hữu nghị giữa nhân dân Trung Quốc và nhân dân Mỹ, và nói đến cả hy vọng được cùng tồn tại trong hòa bình với nhân dân Mỹ95 (Thế giới tri thức, số 8, 20-4-1954, tr.12). Khả năng thương lượng đã được sắp xếp như vậy.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 701



WWW
« Trả lời #53 vào lúc: 01 Tháng Mười Hai, 2019, 07:57:57 PM »

Thái độ của Trung Quốc đối với Pháp

Giọng điệu của các bản tuyên bố của Trung Quốc đối với Pháp hoàn toàn khác hẳn. Chắc chắn là có thể lập một bảng dài về những lời lên án mạnh mẽ chống những hành động của chủ nghĩa thực dân Pháp ở Đông Dương, nhưng vẫn tưởng chúng toát ra khi đọc báo và nghe đài Trung Quốc. Về điểm này là một ý định có hệ thống đẩy Chính phủ Pari giữ những khoảng cách với Oa-sinh-tơn.


Đôi khi Anh cũng được trình bày như là nạn nhân của chính sách của Mỹ. Ví dụ như hồi tháng 8 năm 1953, Nhân dân nhật báo đã đánh giá những kết luận của hội nghị Oa-sinh-tơn (từ 10 đến 14 tháng 7) như là do Mỹ áp đặt và đi ngược lại lợi ích của Anh và Pháp trong chừng mực hội nghị đó đã hủy bỏ một dự án về hội nghị cấp cao bốn nước lớn và thay bằng cuộc họp chỉ ở cấp Bộ trưởng Bộ Ngoại giao mà thôi96 (Nhân dân nhật báo, 14-8-1953). Cũng theo cách đó, việc giảm khối lượng buôn bán giữa Anh và Pháp đã được trình bày như là kết quả của chính sách Mỹ nhằm cố ý gạt Anh ra khỏi thị trường châu Á97 (People's China, 1-10-1953. Xem chương V ở đoạn sau).


Nhưng chính là hướng về nước Pháp mà Trung Quốc tăng lên nhiều lần những lời kêu gọi rời bỏ đường lối chính trị của Mỹ với hiểu biết rõ rằng những luận điểm như vậy có nhiều khả năng có được tiếng vang nào đó ở Pari hơn là Luân Đôn98 (Chính sách của Trung Quốc đối với Pháp (và ở mức thấp nhất đối với Anh) biểu hiện trước chừng nào một chính sách tương lai của Trung Quốc ở châu Âu, Xem chương XI).


Chắc chắn là chiến dịch dư luận đó đã được phát triển để làm hậu thuẫn cho một chính sách, còn khá cứng rắn ở nhiều khía cạnh. Ngày khai mạc Hội nghị Béc-lin, 25 tháng 1-sự trùng hợp ngày tháng này không phải là ngẫu nhiên-cũng là ngày các nhà đương cục Trung Hoa tịch thu tài sản của hai công ty Pháp: Tiết kiệm quốc tế và Địa ốc Trung Hoa (International Saving Society và Foncière de Chine) và của một công ty Anh-Pháp về đầu tư đất đai (Anglo-French Land Investment Company), cả ba đều đặt trụ sở ở Thượng Hải99 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/điện Mát-xi-gli/Luân Đôn/số 297-298/25-1-1954). Tuy vậy ở một bình diện khác, những cuộc vận động qua trung gia Liên Xô và Thụy Sĩ để trả lại tự do những kiều dân Pháp cuối cùng còn bị giam giữ (đa số là những nhà tu hành) và cho phép một số người khác được rời khỏi Trung Quốc, đã đạt được vài kết quả phải chăng bởi vì trước khi hội nghị họp, có 11 nhà truyền giáo được thả và có thể rời Trung Quốc qua Hồng Công. Khi khai mạc hội nghị, ở Trung Quốc còn 17 người Pháp còn bị giam giữ, 2 người còn bị giam chặt và 2 người khác bị từ chối không được cấp thị thực xuất cảnh100 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/châu Á-châu Đại dương/bản ghi nhớ về vấn đề "Những người Pháp bị giam giữ ở Trung Quốc", 27-4-1954. Tướng Ra-đa Đại sứ Pakistan tại Trung Quốc cũng đã có một vai trò nhận định trong việc giao trả tự do này. Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/điện Ô-giê/Karachi/số 89-91/26-2-1954). Nhưng các tháng 2, 3, 4 năm 1954 là những tháng Việt Minh được Trung Quốc viện trợ lớn nhất. Nếu việc chuyển giao viện trợ đó nằm trong lô-gích của một chính sách giúp đỡ công cuộc giải phóng nhân dân Việt Nam và nếu những viện trợ đó theo quan điểm của Trung Quốc, nhằm biện hộ cho sự cần thiết của cả Trung Quốc lẫn Việt Minh giành thế mạnh trong thương lượng một khi họ đã hướng về thương lượng thì theo quan điểm của Pháp, những viện trợ đó không phải là như vậy mà chỉ có thể coi là những bằng chứng rõ ràng về sự ngoan cố của Trung Quốc.


Ở Pari, thái độ ngoan cố đó chỉ có thể củng cố chiều hướng dư luận có lợi cho một cuộc can thiệp của Mỹ ở Đông Dương.

Vì vậy, có lẽ để giảm nhẹ hậu quả do chính sách của mình, có thể gây ra, Trung Quốc đã chủ động phát động ngay sau hội nghị Béc-lin một chiến dịch tuyên truyền rộng rãi nhằm tách càng xa càng tốt nước Pháp khỏi đồng minh là Mỹ, làm mọi việc để chứng minh lợi ích của Pháp chỉ có thể được bảo vệ nếu chống lại Mỹ. "Chính sách của Oa-sinh-tơn đối với Đông Dương-tạp chí People's China (nhân dân Trung Quốc) viết: không phải chỉ chống lại lợi ích của nhân dân các nước Đông Dương mà còn chống lại lợi ích của nhân dân Pháp"101 (People's China, 1-4-1954, tr.9).


Theo hướng đó, đại sự ký do tạp chí Thế giới trí thức công bố cuối tháng 4 năm 1954 đã đăng lại một số lớn những lời tuyên bố của các nhân vật Pháp đối lập các lợi ích của Pháp với lợi ích của Mỹ. Ví dụ như, một tuyên bố của Lê-ông Pi-nhông (Leon Pignon), Cao ủy Pháp ở Đông Dương, vào tháng 5 năm 1950, đã tố cáo những nguy cơ can thiệp của Mỹ vào các công việc chính trị Đông Dương đang tăng lên theo sự phát triển của viện trợ Mỹ102 (A Chronicle of Principal Events Relating to the Indo-China Question (Đại sự ký về các các sự kiện chính liên quan đến vấn đề Đông Dương), sách đã dẫn, 12-5-1950), hoặc là một báo cáo kinh tế Pháp năm 1951 nhấn mạnh đến việc Mỹ âm mưu chiếm đoạt tài nguyên của Việt Nam và chính sách của chính phủ Mỹ trái với lợi ích của tư bản Pháp ở Đông Dương103 (Như trên, ngày 16-3-1951, về điểm này cũng xem P.E-ly, sách đã dẫn, tr.32, đã khẳng định một phần sự phân tích này); hoặc một tuyên bố của Pôn Rây-nô (Paul Raynaud) tháng 8 năm 1951 nói rằng Đông Dương cung cấp cho Mỹ 89% nhu cầu về cao su thiên nhiên và 52% nhu cầu về thiếc và do đó, việc bảo vệ bán đảo phù hợp với việc  bảo vệ lợi ích của quốc gia họ104 (Như trên. Ngày 20-9-1951 (có vẻ như những con số liên quan đến cả Đông Nam châu Á hơn là chỉ nói riêng về Đông Dương). Hai năm sau, Hội nghị Giơ-ne-vơ, tướng Na-va viết không có gì khác: Nguy cơ nghiêm trọng nhất của viện trợ Mỹ là về mặt chính trị. Viện trợ đó sẽ đưa đến sự thay thế dần dần ảnh hưởng của chúng ta bằng ảnh hưởng của Mỹ bên cạnh các quốc gia liên kết. Chúng ta đã đi đến tình trạng trái ngược là nhận viện trợ Mỹ thì hầu như chắc chắn là chúng ta mất Đông Dương, ngay cả nếu sự viện trợ đó giúp chúng ta chiến thắng (H.Na-va, sách đã dẫn, tr.28, 66-67, 96-97/113-138)) v.v...


Theo Trung Quốc, cuộc chiến tranh Đông Dương, phân tích đến cùng đã bị các tổ chức độc quyền Mỹ lợi dụng. Một sự phân công lao động thực sự đã hình thành, Mỹ cung cấp vũ khí (do những người đóng thuế trả tiền) và nước Pháp "cung cấp xác chết". Nước Pháp đã kiệt quệ, trên bờ của sự phá sản, biên giới không còn được  bảo vệ, bấy nhiêu sự suy yếu đó cho phép mỹ kiểm soát chặt chẽ tốt hơn nước Pháp cũng như Đông Dương105 (People's China, 1-7-1954). Ngoài ra, Chính phủ Oa-sinh-tơn đã sẵn sàng thay thế Pháp ở Đông Dương. Nhân dân nhật báo kết luận: "Những âm mưu đen tối của Đa-lét đang đưa nước Pháp đến ngõ cụt, hiển nhiên là xung đột với lợi ích của Pháp"106 (Nhân dân nhật báo ngày 19-4-1954, dẫn trang hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/điện Buy-đôn/Hồng Công/số 136-138, 20-4-1954).


Vậy thái độ duy nhất hợp lý, đáp ứng lợi ích căn bản của Pháp là chính sách hòa bình, độc lập với những âm mưu xâm lược của Mỹ. Theo Trung Quốc, nhân dân Pháp nhất trí đòi hỏi một chính sách nhằm giải quyết hòa bình vấn đề Đông Dương và giải phóng nước Pháp khỏi sự can thiệp và kiểm soát của người Mỹ107 (Nhân dân nhật báo, 16-3-1954, dẫn trong hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/điện Buy-đôn/Hồng Công/số 66-70, 18-3-1954). Rất nhiều tuyên bố của các chính khách Pháp tán thành thương lượng đã được dẫn ra để chứng minh cho luận điểm đó, những tuyên bố của Guy Mô-lê, Mô-ri-xơ Pô-rơ, v.v... mà người ta còn nhớ rằng đã được phát biểu trong một cuộc hội nghị có Trung hoa nhân dân tham dự108 (People's China, ngày 1-4-1954, tr.4. Ngoài ra nên nhớ rằng tổng thống Ô-ri-ôn cũng như Mit-tơ-răng, Plee-ven bao giờ cũng tán thành một cuộc thương lượng như vậy (V.Ô-ri-ôn, sách đã dẫn, tr.195, 295, 507 v.v...)).


Vậy kết quả của hội nghị Giơ-ne-vơ tùy thuộc rộng rãi vào thái độ của Pháp: các đại diện bán chính thức của chính phủ Trung Quốc tại Hồng Công như Fei Yiming, Tổng biên tập của tờ Đại công báo ở địa phương và Pe-rey Chen, cố vấn pháp luật, luật sư bào chữa cho các cơ quan cộng sản ở Hồng Công, đã cho biết một trong những nhiệm vụ đầu tiên của đoàn đại biểu Trung Quốc sẽ là xác định "xem lập trường của Pháp lệ thuộc hoàn toàn vào chính sách đối ngoại của Mỹ, hoặc ngược lại Pháp có thể khẳng định rõ ràng ý muốn giải quyết hòa bình vấn đề Đông Dương hay không109 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/điện Hồng Công/số 129-140 và 141-146/20-4-1954). Tờ Nhân dân nhật báo xác nhận điều đó một cách gần như chính thức: "Nhân dân toàn thế giới chăm chú theo dõi Chính phủ Pháp, chờ xem họ có chính sách như thế nào tại Hội nghị Giơ-ne-vơ. Không còn nghi ngờ gì nữa là nước Pháp có thể hy vọng nhìn vào tương lai với điều kiện Pháp khẳng định chính sách đối ngoại độc lập, và cố gắng lập lại hòa bình ở Đông Dương, phù hợp với lợi ích của nước Pháp"110 (Nhân dân nhật báo ngày 19-4-1954, dẫn trong hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/điện Buy-đôn/Hồng Công, số 137-138/20-4-1954. Cũng xem Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/châu Á-châu Đại dương/bản ghi nhớ về vấn đề "Lập trường của Trung hoa nhân dân sắp đến ngày họp Hội nghị Giơ-ne-vơ, 24-4-1954). Đó là những lý lẽ mà một số nhà quan sát và nhà thương lượng của Pháp không thể tỏ ra vô tình111 (Xem chương V ở đoạn sau).


Khi Hội nghị Giơ-ne-vơ khai mạc, lập trường quốc tế của Trung Quốc là tương đối rõ ràng. Xem ra lập trường đó được tóm tắt đầy đủ trong bản ghi nhớ của Bộ Ngoại giao Pháp đề ngày 24 tháng 4 năm 1954:

-Trung Hoa cộng sản mong muốn vai trò cường quốc thứ năm.

-Địa vị ưu thế của Trung Quốc ở châu Á phải được thừa nhận: Không có vấn đề nào ở đây có thể được giải quyết mà không có sự góp sức của Trung Quốc.

-Tự do trao đổi buôn bán giữa Đông và Tây phải được khôi phục vì lợi ích của tất cả các bên112 (Điểm này sẽ được nghiên cứu chi tiết ở chương V).

-Chính sách của Trung Quốc là một chính sách hòa bình dựa trên nền độc lập của các dân tộc.

-Ngược lại, chính sách của Mỹ là một chính sách chiến tranh. Mỹ tìm cách bao vây Trung Quốc bằng một vành đai căn cứ quân sự. Ở Đông Dương, họ cố gắng tăng cường chiến tranh và thay thế địa vị của Pháp.

-Hòa bình phải được lập lại ở Đông Dương trên cơ sở tôn trọng độc lập của các dân tộc. Lợi ích của nước Pháp là tách khỏi chính sách của Mỹ và ký kết hòa bình113 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/châu Á-châu Đại dương/bản ghi nhớ về vấn đề: "Lập trường của Trung hoa nhân dân gần đến ngày họp hội nghị Giơ-ne-vơ" 24-4-1954. Bản này thêm một điểm cuối cùng: "Hòa bình ở Đông Dương phải được thương lượng trực tiếp hoặc giữa Pháp và Việt Minh hoặc giữa Việt Nam (ngụy-N.D) và Việt Minh". Vấn đề cụ thể về những thủ tục có thể có được của giải pháp cho cuộc xung đột Đông Dương theo quan điểm của Trung Quốc, sẽ được đề cập sau, xem chương IV: "Những bước đầu của Hội nghị về Đông Dương").


Đó là thực sự tinh thần các luận điểm mà đoàn đại biểu của Trung Quốc sẽ  bảo vệ và phát triển ngay từ những gia đoạn đầu của cuộc thương lượng.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
Trang: « 1 2 3 4 5 6   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM