Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 05 Tháng Bảy, 2020, 12:34:56 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất  (Đọc 34585 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 1238



WWW
« Trả lời #80 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2020, 09:56:54 pm »

Quan hệ giữa Pháp và Đài Bắc cũng không tốt đẹp gì hơn. Thêm vào những kỷ niệm cay đắng của những khó khăn trong những năm 1945-1946 là thái độ mập mờ của Pháp trong việc chống cộng không được quyết như chính phủ Đài Loan hằng mong đợi133 (A.Claisse, sách đã dẫn, tr.48). Khi hội nghị Béc-lin quyết định triệu tập hội nghị Giơ-ne-vơ, có mời Trung hoa nhân dân tham dự thì quan hệ giữa Pari và Đài Bắc trở nên hoàn toàn căng thẳng134 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/điện Cattand/Đài Bắc/Số 65-69/13-2-1954. Các nhà đương cục quân sự của Trung Hoa quốc gia từ chối một đề nghị của Pháp về việc trao đổi tin tức tình báo về lục địa Trung Hoa. Trái lại, ông Guillermaz cho chúng tôi biết Đài Loan quan tâm đến việc hợp tác với Pháp trong lĩnh vực này (nói chuyện với Guillermaz ngày 19-9-1975)). Tuy nhiên, một hiệp định thương mại và trả tiền vẫn được ký kết giữa Pari với Đài Bắc ngày 12 tháng 5, đúng vào ngày Chu Ân Lai ở Giơ-ne-vơ lần đầu tiên trình bày lập trường của Trung Quốc trong vấn đề Đông Dương135 (A.Claisse, sách đã dẫn, tr.55. Moniteur officiel du commerce international (Người hướng dẫn chính thức việc buôn bán quốc tế), Pari, số 1613 và 1964, tr.1731. Sáng kiến này khá kinh ngạc, không phải là cách tốt nhất thúc đẩy thương lượng có tính cách xây dựng với Trung hoa nhân dân trong lúc nước này bị Đài Loan bao vây chặt. Có lẽ nó phản ánh một sự phối hợp tồi giữa các cơ quan hơn là một ý đồ chính trị thật sự).


Nhưng ngoài ra, những lợi ích chính trị và kinh tế có thể thúc đẩy Pháp và Trung hoa nhân dân đi đến thương lượng cũng không kém mạnh mẽ. Giống như ở Anh, một vài giới kinh doanh Pháp sợ rằng chính sách cấm buôn bán với Trung Quốc do Mỹ và Liên hiệp quốc áp đặt sẽ loại Pháp ra khỏi thị trường Trung Quốc. Cho nên có những nhóm người gây sức ép đấu tranh cho việc tăng cường mạnh mẽ quan hệ thương mại, không tùy thuộc vào mọi quan hệ ngoại giao thông thường136 ("Ủy ban quan hệ kinh tế Pháp-Trung Quốc" đã xuất bản một bản tin theo hướng đó kể từ 1950). Các giới dư luận khác thì mong đợi chính phủ Pháp, trước ngày họp hội nghị Giơ-ne-vơ, xem xét lại quan hệ chính trị thuần túy với Bắc Kinh. Chính là trường hợp nhiều nhóm nghị sĩ khác nhau đã thấy ở đó một điều kiện cần thiết cho việc giải quyết vấn đề Đông Dương. Một nghị sĩ tên là Forcinal đã đưa ra trước Ủy ban đối ngoại của Quốc hội một kiến nghị "yêu cầu chính phủ Pháp chủ động mở cuộc thương lượng nhằm nhanh chóng công nhận nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa". Ngoài những người cộng sản, có nhiều nghị sĩ Đảng Xã hội cũng ủng hộ bản kiến nghị đó137 (Robert Lacoste "La reconnaissasnce de la République Populaire de chine serait un acte de paix" (Cộng hòa nhân dân Trung Hoa là một hành động hòa bình), tạp chí France Observateur, số 214, 17-6-1954).


Không đi xa như thế, Bộ Ngoại giao Pháp cũng cho rằng tình hình quan hệ với Trung Quốc dịu đi (chưa phải là một liên minh với Trung Quốc) là một trong những điều kiện thành công của hội nghị Giơ-ne-vơ138 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/Đại sứ quán Pháp tại Luân Đôn/bản ghi nhớ về vấn đề "Cơ sở về một giải pháp hòa bình ở Đông Dương"/10-4-1954/tr.1). "Có lẽ là không thận trọng (...), theo sự đánh giá của Đại sứ Pháp tại Mát-xcơ-va, nếu giáng những đòn dồn dập vào Trung Quốc (...) trong khi (...) có cơ hội thấy Trung Quốc dễ dãi hơn người ta tưởng"140 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/điện Joxe.Mát-xcơ-va.số 1242-1249/25-4-1954). Người ta đặc biệt nghĩ đến những sự nhượng bộ về đường sắt Vân Nam141 (Về vấn đề này, xem "Đường sắt Vân Nam" Notes Documentaires et Etudes, Paris, Văn phòng Quốc vụ khanh phủ Thủ tướng phụ trách Thông tin, số 316, 31-5-1946), đến những quyền lợi thương mại và hải quan đặc biệt trong khu vực Hải Phòng. Tóm lại, ý kiến nêu ra là mở lại cuộc thương lượng lần này với Trung hoa nhân dân về bản hiệp định ký năm 1946 giữa Pháp và chế độ Trùng Khánh142 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/Bộ Ngoại giao đã dẫn, ngày 10-4-1954. Xem hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/bản ghi nhớ của Tùy viên quân sự tại Băng Cốc/số 76/AM/25-2-1954). Trong các giới Ăng-lô Sắc-xông, người ta còn nói cả việc tin tưởng (không phải là cường điệu) rằng Pháp sẵn sàng "thương lượng về giải pháp cho Đông Dương với gần như bất cứ giá nào-kể cả hủy bỏ sự hạn chế buôn bán với Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và công nhận Bắc Kinh", như Đại sứ C.Ronning khẳng định143 (C.Ronning, sách đã dẫn, tr.218). Phải chăng Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Plê-ven (Plével) đã đi đến khẳng định với các nhà báo Mỹ rằng vấn đề Đông Dương chỉ có thể giải quyết bằng cách nhượng bộ Trung Quốc, điều mà họ đang đi tìm: đó là công nhận ngoại giao và hủy bỏ việc cấm buôn bán144 (D.D.Eisenhower, sách đã dẫn, tr.346).
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 1238



WWW
« Trả lời #81 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2020, 09:59:05 pm »

Bản chất các cuộc hội đàm Trung-Pháp tại Giơ-ne-vơ

Thực ra, diễn biến các cuộc hội đàm Trung-Pháp tại Giơ-ne-vơ đã làm nổi lên rất nhanh thái độ của Trung Quốc khác xa với điều mà các nhà ngoại giao trông đợi.

Chỉ riêng trong cuộc nói chuyện ngày 15 tháng 5 với đại tá Ghi-éc-ma, Vương Bính Nam đã nhắc lại rằng trong các cuộc gặp trước đây khi giải quyết việc đưa thương binh ra khỏi Điện Biên Phủ (ngày 5 và 6 tháng 5), Đại tá đã gợi ý về khả năng có các cuộc gặp gỡ mới. Đại tá liền mời Vương đến ăn cơm tối ngày 18 tháng 5 cùng với Tung Ninh Chuân, cựu sinh viên du học ở Pháp và Thụy Sĩ làm phiên dịch cho đoàn đại biểu Trung Quốc và Pôn Bông-cua (Paul Boncour), đại sứ Pháp và tổng thư ký ở hội nghị145 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/Đoàn đại biểu Pháp tại Giơ-ne-vơ/bản ghi nhớ về vấn đề "Cuộc gặp gỡ Vương Bính Nam, Tổng thư ký đoàn đại biểu Trung Quốc"/19-5-1954).


Ngày hôm sau, 16 tháng 5, một viên chức Trung Quốc của Văn phòng Lao công quốc tế là Hu Hsiao Fong146 (Tên phiên âm của Hu Hsiao Fong trong hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp phiên âm sang tiếng Anh không chắc đúng), đã từng làm việc cho chính phủ Đài Bắc nhưng có quan hệ mật thiết với Bắc Kinh, đến liên hệ gián tiếp với người Pháp để cho họ biết ý muốn của đoàn đại biểu Trung Quốc muốn có quan hệ càng sớm càng tốt với một thành viên của đoàn đại biểu Pháp. Nếu đoàn Pháp đồng ý cử một viên chức ngoại giao làm việc đó thì đoàn đại biểu Trung Quốc cũng chỉ định một viên chức có cấp bậc tương đương để đáp lại. Những cuộc nói chuyện đó cần được giữ bí mật triệt để147 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/đoàn đại biểu Pháp tại Giơ-ne-vơ/bản ghi nhớ để thông báo (không có tiêu đề khác)). Theo Hu Hsiao Fong, đoàn đại biểu Trung Quốc muốn cho người Pháp biết rằng các cuộc đàm phán này có thể không những bàn về các vấn đề Đông Dương, mà cả "toàn bộ vấn đề quan hệ Đông-Tây" và về điểm sau, chính phủ Pháp theo con mắt của Trung Quốc, có thể có vai trò ngay tại Giơ-ne-vơ. Ví dụ như Pháp có thể góp phần làm cho chính phủ Mỹ thay đổi hoàn toàn thái độ về việc Trung Quốc gia nhập Liên hiệp quốc mà Chính phủ Bắc Kinh rất quan tâm148 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/đoàn đại biểu Pháp tại Giơ-ne-vơ, bản ghi nhớ về vấn đề "Chỉ dẫn về thái độ của đoàn đại biểu Trung Quốc tại Giơ-ne-vơ đối với Pháp"/17-5-1954. Theo chúng tôi biết, đây là một trong những trường hợp hiếm hoi mà Trung Quốc nêu vấn đề gia nhập Liên hiệp quốc).


Bấy nhiêu dấu hiệu đã nói lên khá rõ hai mục tiêu của người Trung Quốc vừa muốn có một số các cuộc thương lượng tay đôi, vừa mở rộng đề tài các cuộc gặp gỡ sang các lĩnh vực rộng hơn, trong khuôn khổ quan hệ Đông-Tây.


Cuộc gặp đầu tiên vào ngày 18 tháng 5 giữa Vương Bính Nam, Ghi-éc-ma và Pôn Bông-cua. Ngoài các vấn đề chỉ trong phạm vi Đông Dương149 (Nghiên cứu các cuộc nói chuyện này trong nội dung thuần túy Đông Dương sẽ được đề cập ở chương sau). Vương Bính Nam còn đề cập đến vấn đề tiếp xúc với các nước mà Cộng hòa nhân dân Trung Hoa chưa có quan hệ ngoại giao như trường hợp nước Pháp, những cuộc tiếp xúc đó có tầm quan trọng lớn lao đối với Trung Quốc. Cuộc gặp gỡ đã kết thúc bằng lời đảm bảo của Vương Bính Nam rằng khi nài đoàn đại biểu Pháp muốn, ông có thể làm trung gian họ thông báo cho Chu Ân Lai về vấn đề riêng này giúp hoặc vấn đề riêng khác150 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/đoàn đại biểu Pháp tại Giơ-ne-vơ, ngày 19-5-1954).


Từ ngày đó, các cuộc hội đàm Trung-Pháp tăng lên nhiều. Một cuộc gặp mặt khác diễn ra ngày 27 tháng 5 giữa Vương Bính Nam, Ghi-éc-ma và Pôn Bông-cua trong đó, phía Pháp "ghi nhận rằng người Trung Quốc bày tỏ ý muốn tiếp tục và có lẽ muốn mở rộng các cuộc tiếp xúc với đoàn đại biểu Pháp"151 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/Bộ Ngoại giao về vấn đề "Cuộc nói chuyện mới đây với ông Vương Bính Nam, Tổng thư ký đoàn đại biểu Trung Quốc tại Giơ-ne-vơ"/29-5-1954. G.La-cu-tuya và Ph.Đơ-vi-le, sách đã dẫn, tr.187, cho biết ngày 24-5 có cuộc "tiếp xúc đầu tiên" giữa Chu Ân Lai và Bi-đôn, nhưng chúng tôi không tìm thấy chỉ dẫn nào. Biên bản các cuộc gặp ngày 1-6 giữa hai trưởng đoàn hình như chứng minh khá rõ là trước ngày đó không hề có cuộc gặp nào).


Từ 30 tháng 5 đến ngày 7 tháng 6, có năm cuộc hội đàm khác đã diễn ra hoặc giữa Chu Ân Lai và Bi-đôn152 (Ngày 1 và 7 tháng 6) hoặc giữa Vương Bính Nam và Sô-ven153 (30 tháng 5, 5 và 6 tháng 6).


Nhiều lần người Trung Quốc khẳng định lại ý muốn của họ duy trì các cuộc tiếp xúc đều đặn với đoàn đại biểu Pháp154 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/đoàn đại biểu Pháp tại Giơ-ne-vơ/bản ghi nhớ vấn đề "Cuộc hội kiến giữa Sô-ven và Vương Bính Nam, Tổng thư ký đoàn đại biểu Trung Quốc, 5-6-1954"/7-6-1954). Một cách kín đáo, Vương Bính Nam còn gợi ý cho Sô-ven, ngày 6 tháng 6 rằng có lẽ nên lợi dụng cuộc gặp được dự kiến vào ngày hôm sau giữa Chu Ân Lai và Bi-đôn "để nêu bất cứ vấn đề gì đang tồn tại, dù bản chất vấn đề ra sao"155 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/đoàn đại biểu Pháp tại Giơ-ne-vơ/bản ghi nhớ về vấn đề "Cuộc hội kiến ngày 6-6-1954 giữa đại sứ Sô-ven và ông Vương Bính Nam, Tổng thư ký đoàn đại biểu Trung Quốc tại Giơ-ne-vơ/7-6-1954. Có gạch dưới trong văn bản). Sau buổi gặp này (ngày 7 tháng 6), Bộ trưởng Ngoại giao Pháp bình luận về cuộc hội đàm của ông với thủ tướng Trung Quốc trong Điện gửi cho đại diện Pháp tại Đài Bắc: "Chu Ân Lai và các cộng sự của ông ta thường giữ thái độ kiên quyết, đôi khi thô bạo ở hội nghị, nhưng lại tỏ ra vồn vã rõ rệt với chúng ta trong hậu trường và tìm kiếm những khả năng nói chuyện với chúng ta"156 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/điện Bi-đôn/Giơ-ne-vơ, số 655-657/6-6-1954).
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 1238



WWW
« Trả lời #82 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2020, 10:06:16 pm »

Tuy vậy, các cuộc họp riêng đó không bao giờ đề cập thật sự đến vấn đề quan hệ tay đôi giữa hai nước. Riêng vấn đề công nhận ngoại giao đã không được người Trung Quốc nhắc đến trong các lần gặp Bi-đôn, kể cả với các lần gặp Măng-đét Phrăng sau này157 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/Pari/số 9556-61 (Luân Đôn) và 8652-57 (Oa-sinh-tơn)/25-6-1954. Xác nhận trong cuộc nói chuyện với G.Sô-ven ngày 21-6-1975. Ông Sô-ven nhận xét rằng vấn đề này chỉ được đặt ra tại cuộc hội nghị Giơ-ne-vơ lần thứ hai, năm 1951-1962. Ông Mendès France trong cuộc nói chuyện ngày 3-7-1975 cũng xác nhận như thế và nói thêm rằng chỉ có Molotov đặt vấn đề ra trong cuộc gặp ngày 10-7 (không thấy ghi trong biên bản). Cựu thủ tướng Pháp Mendès France còn nói thêm Molotov còn tỏ ra là người phát ngôn duy nhất, có tài của khối xã hội chủ nghĩa). Ngày 1 tháng 6, trong lần gặp Chu Ân Lai, Bi-đôn phác họa "mấy nét về viện trợ kỹ thuật". Thủ tướng Trung Quốc cũng không vồ vập158 (G.Sô-ven, sách đã dẫn, tr.65). Tình trạng cũng như vậy khi Chu Ân Lai tiếp chuyện với vài đại diện cánh tả ở Pháp. Ví dụ, như khi Xa-va-ry (Savary) và La-cô-tơ (Lacoste), cả hai đảng viên Đảng xã hội đến Giơ-ne-vơ vào giữa tháng 6 nhân danh Đa-ni-en May-ê (Daniel Mayer), Chủ tịch Ủy ban đối ngoại Quốc hội Pháp, gặp Chu Ân Lai. Cuộc gặp này do đoàn đại biểu Trung Quốc chủ động. Thủ tướng Trung Quốc nói chủ yếu về Đông Dương, ít nói về Pháp, nhấn mạnh sự cần thiết phải để cho người Việt Nam tự quyết định vận mệnh của mình, và tránh mọi sự can thiệp của các nước lớn. Theo Chu, những nước lớn phải tự bó hẹp trong đơn giản là làm trung gian. Chu Ân Lai đọc một câu tiếng Pháp làm Xa-va-ri ngạc nhiên đến choáng váng: "Bảo đại chính là Lu-i XVI". Nhưng không hề có lúc nào Chu Ân Lai nói đến vấn đề công nhận ngoại giao giữa Pháp và Trung Quốc hay sự ủng hộ của Pháp ở Liên hiệp quốc, Thủ tướng Trung Quốc chỉ tự hỏi lúc nào thuận tiện để chính phủ ông mời một đoàn Quốc hội Pháp sang thăm Trung Quốc159 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/đoàn đại biểu Pháp tại Giơ-ne-vơ/bản ghi nhớ gửi Đại sứ/27-6-1954. Cuộc nói chuyện với ông Savary ngày 1-7-1975 cũng cho biết như vậy).


Có lẽ chính sự thận trọng của Chu Ân Lai đối với các vấn đề không trực tiếp gắn liền với giải pháp Đông Dương mặc dù người Trung Quốc rõ ràng muốn mở rộng phạm vi các vấn đề được đề cập, đã khiến cho đại sứ Sô-ven viết về người đứng đầu nền ngoại giao Trung Quốc: "Bản thân ông ta đứng vững ở vấn đề cần giải quyết, đó là một phương pháp hay"160 (G.Sô-ven, sách đã dẫn, tr.59).


Thực thế, Trung Quốc xử sự một cách hết sức thận trọng. Nếu đoàn đại biểu Trung Quốc làm mọi cách để có thể có thật nhiều cuộc tiếp xúc thương mại, thì ngược lại, không bao giờ họ định giành những sự nhượng bộ kinh tế của phương Tây để đổi lấy sự mềm dẻo trong lập trường của họ trong vấn đề Đông Dương. Có vẻ như họ cố ý không muốn gợi những vấn đề đó trực tiếp với các đoàn phương Tây, muốn duy trì tính chất hoàn toàn bán chính thức của các cuộc thăm dò thương mại đó. Theo chúng tôi, điều đó chỉ nói rõ lên thứ tự ưu tiên của Trung Quốc tại Giơ-ne-vơ mà mục tiêu hàng đầu hình như là việc giải quyết ngay vấn đề Đông Dương nhằm loại trừ sự đe dọa của Mỹ trên bán đảo này. Từ đó, đối với Trung Quốc không thể có vấn đề làm phức tạp thêm cuộc thương lượng về Đông Dương-như người ta sẽ thấy rất khó khăn-bằng cách đặt các điều kiện kinh tế cho sự thỏa hiệp sắp tới về chính trị.


Các cuộc hội đàm chính trị tay đôi, do Chu Ân Lai tiến hành tại Giơ-ne-vơ đều toát lên cùng một cảm tưởng như vậy. Về quan hệ ngoại giao với Anh, đoàn đại biểu Trung Quốc ngay từ đầu tránh chủ động thương lượng nhằm cải thiện quan hệ giữa hai nước, ngược lại, cố gắng tỏ ra đáp ứng những yêu cầu của Anh. Cũng như đối với Pháp, không một lúc nào Chu Ân Lai nêu vấn đề thái độ của Pari tại Liên hiệp quốc hay vấn đề khả năng bình thướng hóa giữa hai thủ đô. Đoàn đại biểu Pháp cũng không thể thương lượng về những nhân nhượng đã chuẩn bị sẵn, ví dụ một sự thu hẹp nào đó việc cấm buôn bán với Trung Quốc, nhất là một cuộc thảo luận mới về những hiệp định năm 1946 về đường sắt Vân Nam và khu vực Hải Phòng. Có lẽ chỉ có sự vội vã muốn có tiếp xúc với Mỹ-tất cả chỉ dừng lại ở vấn đề người Mỹ bị giam giữ ở Trung Quốc và sinh viên Trung Quốc tại Mỹ-là có thể đem lại một vài khía cạnh cho việc đánh giá thái độ của Trung Quốc.


Đáng nhấn mạnh cách xử sự của người Trung Quốc được xác nhận trong các cuộc họp hạn chế và tay đôi về Đông Dương sắp tới. Hình như điều đó minh họa rất rõ quan niệm của Trung Quốc năm 1954 về "cùng tồn tại hòa bình" với thế giới phương Tây. Ở giới hạn đó, cách xử sự của người Trung Quốc soi sáng khá tường tận toàn bộ chính sách đối ngoại của họ giữa những năm 1950161 (Chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này một cách chi tiết hơn trong phần cuối cùng).
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 1238



WWW
« Trả lời #83 vào lúc: 05 Tháng Năm, 2020, 09:46:22 pm »

Chương VI
Tránh cho hội nghị khỏi thất bại


"Chúng tôi đến đây không phải để ủng hộ quan điểm của Việt Minh mà để làm hết sức mình lập lại hòa bình"

(Vương Bính Nam nói với Đại tá Ghi-éc-ma tại Giơ-ne-vơ ngày 18-5-1954)

"Với tư cách là láng giềng của Việt Nam (...) chúng tôi phải làm mọi việc có thể để góp phần chấm dứt cuộc xung đột..."

(Chu Ân Lai nói với Bi-đôn tại Giơ-ne-vơ ngày 1-6-1954)


Cuộc thương lượng về Đông Dương không tiến triển được bao nhiêu. Từ khi Chu Ân Lai trình bày tổng quát lập trường về Đông Dương ngày 12 tháng 51 (Xem chương IV ở trên), các đại biểu lần lượt lên diễn đàn nhưng chẳng đưa ra được đề nghị nào thực sự xây dựng.


Tại phiên họp toàn thể ngày 14, đến lượt Mô-lô-tốp trình bày dài dòng về lập trường tổng quát của Liên Xô về vấn đề Đông Dương. Sau khi nhấn mạnh một lần nữa rằng hội nghị Giơ-ne-vơ là một cuộc họp giữa các Bộ trưởng ngoại giao các nước Pháp, Anh, Mỹ, Trung Quốc, Liên Xô và các nước hữu quan khác2 (Hội nghị Giơ-ne-vơ về Đông Dương (...) sách đã dẫn, tr.80), như vậy Cộng hòa nhân dân Trung Hoa như là một trong "năm cường quốc"3 (Như trên, tr.81). Bộ trưởng ngoại giao Liên Xô đã phác qua lịch sử lâu dài của cuộc xung đột, và kết luận bằng lời lẽ như sau: "Tất cả những việc đó đã làm sáng tỏ rằng thật là không đúng sự thật nếu trình bày phong trào giải phóng dân tộc ở Đông Dương như là chịu ảnh hưởng của bên ngoài, ví dụ như của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa"4 (Như trên, tr.86). Rồi, cũng như Chu Ân Lai, Mô-lô-tốp đã tố cáo mạnh mẽ, chính sách của Mỹ5 (Như trên, tr.87-88), với mức độ ít nhất cũng tương đương khi tố cáo chính sách của Pháp. Tuy hoàn toàn tán thành kế hoạch lập lại hòa bình của Việt Minh đưa ra ngày 10 tháng 5, Bộ trưởng Liên Xô đã đề nghị bổ sung một đoạn về "thành lập một ủy ban kiểm soát gồm những nước trung lập"6 (Như trên, tr.403).


Sau một tuần lễ làm việc, hội nghị đã đạt được một vài nhượng bộ của các bên (đến lúc đó, Trung Quốc đã không đưa ra một sáng kiến nào). Liên Xô, chủ yếu đã chấp nhận ngay từ đầu sự tham gia của Việt Nam, Campuchia và Lào (ngụy-N.D); về phần mình, Pháp đã chấp nhận sự có mặt của Việt Minh. Trong dịp này, Mô-lô-tốp đã tránh không ám chỉ đến "Pa-thét Lào" và "Khơ-me". Và nếu ba phiên họp đầu tiên đã không đem lại điều gì thực sự xây dựng, thì ngược lại trong phiên họp ngày 14 tháng 5, đại biểu Liên Xô đã tán thành ý kiến của Pháp về việc ác nước bảo đảm có thể tham khảo lẫn nhau nhằm thông qua những biện pháp tập thể nếu hiệp định bị vi phạm7 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/Giơ-ne-vơ/bản ghi nhớ về vấn đề nhân nhượng lẫn nhau ở Đông Dương/22-5-1954).


Nhưng đó là một bản sơ kết rất khiêm tốn, so với những khó khăn rất lớn còn phải vượt qua. Chắc chắn là các đoàn đại biểu chính cần phải trình bày chi tiết những quan điểm của họ. Nhưng một khi giai đoạn sơ bộ đã qua, việc thương thuyết thật sự trở nên cấp bách.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 1238



WWW
« Trả lời #84 vào lúc: 05 Tháng Năm, 2020, 09:47:50 pm »

Những sáng kiến đầu tiên của Trung Quốc

Mở những cuộc thương lượng hạn chế



Lo ngại về những cuộc tranh cãi dài dòng của một vài đại biểu cho nên I-đơn đã đưa ra ý kiến tiếp tục hội nghị dưới hình thức các phiên họp hạn chế (số người dự-N.D) dành riêng cho Trưởng đoàn, mỗi người chỉ đem theo hai hay ba cố vấn, không đưa cho các nhà báo một thông cáo nào về tiến trình của công việc. Ngay từ 13 tháng 5, ông ta đã trình bày đề nghị của mình cho Bi-đơn Xmit (Bedell Smith) và Bi-đôn (Bidault) được hai người này chấp nhận. Ngày hôm sau, Mô-lô-tốp và Chu Ân Lai cũn tán thành8 (A.E-den, Mémoires (Hồi ký), sách đã dẫn, tr.134), điều đó chứng tỏ rẽ rệt là Liên Xô và Trung Quốc mong muốn đi đến một cuộc thương lượng nghiêm chỉnh, gạt bỏ mọi ảnh hưởng tuyên truyền. Phiên họp hạn chế đầu tiên được ấn định vào thứ hai 17 tháng 5. Phóng viên Tân hoa xã ở Giơ-ne-vơ lúc đó đã viết: "Những con mắt của nhân dân thế giới giờ đây hướng về các cuộc họp hạn chế sẽ quyết định hòa bình hay tiếp tục chiến tranh ở Đông Dương", và viết tiếp:

"Rõ ràng các cuộc họp hạn chế này chỉ có thể tiến triển nếu hai bên đều mong muốn thật sự đi đến một giải pháp. Các đoàn đại biểu của Việt Nam dân chủ cộng hòa, Liên Xô và Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã bày tỏ ý muốn đi đến hiệp định và đã đưa ra một loạt biện pháp tích cực. Giờ đây còn phải xem đoàn đại biểu Pháp có chịu nhượng bộ trước sức ép của Mỹ theo hướng tăng cường can thiệp, tôn trọng nguyện vọng hòa bình của nhân dân Pháp, chấm dứt xung đột và lập lại hòa bình ở Đông Dương hay không?"9 (Tin Tân hoa xã, Giơ-ne-vơ, 17-5-1954).


Phiên họp kín đầu tiên diễn ra ngày 17 tháng 5, khi đó báo chí phương Tây vừa tiết lộ việc nối lại các cuộc thương lượng giữa Pháp và Mỹ về vấn đề Đông Dương. Phiên họp mở đầu bằng việc bàn về vấn đề thương binh ở Điện Biên Phủ mà việc di chuyển đang vấp phải những khó khăn to lớn ở ngay tại chỗ10 (Hôm trước, bộ tham mưu của tướng Na-va đã báo cáo tạm ngừng di chuyển thương binh và tiếp tục oanh tạc đường 41 (mà tướng Giáp lợi dụng việc trung lập hóa (ngừng ném bom-N.D.) trên con đường này để đưa quân đội Việt Minh về đồng bằng). Về điểm này, một lần nữa, thái độ ôn hòa của Chu Ân Lai, đã được chứng minh từ trước đó mấy ngày11 (Xem lại chương IV), lại được thể hiện khi Trưởng đoàn đại biểu Trung Quốc tuyên bố giữa cuộc thảo luận với Mô-lô-tốp, B.Xmit, Bi-đôn, Phạm Văn Đồng và Nguyễn Quốc Định: "Mọi trở ngại, bất kỳ từ đâu đến, đều đáng lên án"12 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/Giơ-ne-vơ/số 360-369/17-5-1954. Xem thêm Hội nghị Giơ-ne-vơ về Đông Dương, sách đã dẫn, tr.102. Chúng tôi gạch dưới). Phần đầu cuộc thảo luận kết thúc khi I-đơn nêu nhận xét rằng hội nghị đã thỏa thuận là không có sự phân biệt đối xử nào giữa thương binh Việt Nam và thương binh không phải là Việt Nam và mong rằng việc di chuyển cần tiến hành chót lọt càng nhanh càng hay và nếu cần, các cuộc tiếp xúc giữa các đoàn đại biểu tại Giơ-ne-vơ sẽ tạo ra mọi sự dễ dàng cho việc đó13 (Hội nghị Giơ-ne-vơ về Đông Dương, sách đã dẫn, tr.103).


Sau đó, cuộc thảo luận chuyển sang vấn đề chính là lập lại hòa bình ở Đông Dương. Ngay từ phiên họp ngày 17, đáp ứng lòng mong muốn của đoàn đại biểu Pháp, Mô-lô-tốp đồng ý rằng hội nghị xem xét trước hết vấn đề quân sự14 (Như trên, chúng tôi gạch dưới). Hai ngày sau, tại phiên họp hạn chế thứ ba, Mô-lô-tốp còn nói rõ thêm ý nghĩ của ông bằng cách chỉ ra rằng cuộc thảo luận có thể bắt đầu trên cơ sở đoạn 1 trong đề nghị của Pháp và đoạn 8 trong đề nghị của Việt Minh15 (Như trên, tr.121. Điểm 1 trong đề nghị của Pháp ngày 8 tháng 5 là "Việc tập hợp các lực lượng chính quy trong các vùng tập kết sẽ do hội nghị xác định sau theo đề nghị của các bộ tổng chỉ huy". Điểm 8 trong đề nghị của Việt Minh ngày 10 tháng 5 là "Ngừng bắn hoàn toàn và đồng thời trên toàn lãnh thổ Đông Dương đối với các lực lượng vũ trang tham chiến trên bộ, trên biển và trên không. Để củng cố đình chiến trong mỗi nước Đông Dương, hai bên hiện diện sẽ tiến hành điều chỉnh các vùng đóng quân. Mỗi bên không được ngăn cản quân đội bên kia đi qua vùng của mình để đi về các vùng chiếm đóng của bên đó"). Sự nhân nhượng này quan trọng. Được chấp nhận là các vấn đề quân sự và chính trị sẽ tách ra từng phần riêng biệt, đoàn đại biểu Pháp có thể hi vọng rằng Việt Minh sẽ không khai thác từ chiến thắng Điện Biên Phủ lợi thế chính trị đã thấy trước được.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 1238



WWW
« Trả lời #85 vào lúc: 05 Tháng Năm, 2020, 09:49:24 pm »

Chu Ân Lai trong phiên họp hạn chế đầu tiên, thực tế là không tham luận gì, chỉ thông qua phương pháp làm việc do Mô-lô-tốp đề nghị. Nhưng đồng thời, ông ta nhắc lại rằng "sứ mệnh giao phó cho hội nghị là chấm dứt cuộc xung đột trên toàn lãnh thổ Đông Dương kể cả Khơ-me và Pa-thet Lào"16 (Như trên, tr.104). Trong khi Mô-lô-tốp đã tránh né vấn đề, đại biểu Trung Quốc trả lời tiêu cực một trong năm câu hỏi I-đơn đặt ra hôm 12 tháng 5 trong phiên họp toàn thể: Có thừa nhận rằng Lào và Campuchia nằm trong một phạm trù đặt biệt và các lực lượng Việt Minh phải rút khỏi lãnh thổ hai nước đó hay không?17 (Như trên, tr.102). Mục tiêu cộng sản theo đuổi hiển nhiên là: Bằng cách gắn liền các vấn đề thuộc ba nước Đông Dương, họ có thể hy vọng rằng tình hình quân sự có lợi cho họ ở Việt Nam sẽ buộc phương Tây phải có những nhân nhượng về chính trị áp dụng đồng thời cho cả Lào và Campuchia18 (Tình hình ở hai nước này sẽ được đề cập chi tiết hơn ở chương sau). Từ đó, Liên Xô cũng như Trung Quốc, cả hai có lẽ đều bị Việt Minh thúc đẩy, muốn rằng các giải pháp áp dụng cho ba nước Đông Dương đều giống nhau, như vậy đòi hỏi một cuộc thương lượng cả ba vấn đề. Nhưng về điểm này, thái độ của Trung Quốc trong bước đầu hội nghị rõ ràng là cứng rắn hơn Liên Xô19 (A.E-den, Mémoires (Hồi ký), sách đã dẫn, tr.134-135).


Vả lại, vấn đề này dần dần sẽ được đặt vào trung tâm các cuộc thảo luận giữa 9 đoàn đại biểu. Cả hai phiên họp ngày 18 và 19 tháng 5 đều dành cho vấn đề đó nhưng không đạt được kết quả nào.

Nhận thấy hội nghị sa lầy trong cuộc tranh luận có vẻ vô bổ, cuối cùng ngày 19, theo đề nghị của I-đơn, người ta quyết định ngừng các cuộc thảo luận trong 24 tiếng. Các phiên họp hạn chế được nối lại ngày 21, lần này thảo luận về vấn đề thủ tục và chương trình nghị sự. Thảo luận khó khăn và chậm rãi, trong đó Chu Ân Lai không đóng góp những yếu tố tích cực. Tại hai phiên họp ngày 21 và 24 tháng 5, trưởng đoàn đoàn đại biểu Trung Quốc chỉ làm cái việc ủng hộ đề nghị của Mô-lô-tốp và của Phạm Văn Đồng và nhắc lại những luận điểm riêng của mình: Định nghĩa về những nguyên tắc chung của giải pháp20 (Hội nghị Giơ-ne-vơ về Đông Dương (...), sách đã dẫn, tr.128-129), cần ngừng bắn đồng thời trên toàn Đông Dương21 (Như trên, tr.124), tính chất không thể tách rời của các vấn đề quân sự và chính trị22 (Như trên, tr.136), lợi ích đề cập nhanh chóng các vấn đề thuần túy chính trị23 (Như trên, tr.141). Trong phiên họp ngày 25, Phạm Văn Đồng trình bày những nguyên tắc theo quan điểm của Việt Minh về phân định rõ khu vực tập kết các lực lượng24 (Như trên, tr.146). Chu Ân Lai cũng không phát biểu gì.


Vì vậy một vài tiến bộ đạt được trong các cuộc họp hạn chế đều không phải do sáng kiến của Trung Quốc. Thực ra, những tiến bộ đó không được bao nhiêu: thỏa thuận thảo luận các nguyên tắc chung có thể áp dụng cho việc đình chỉ chiến sự ở ba nước Đông Dương (nhân nhượng của các đoàn phương Tây cho Cộng sản) rồi xem xét việc áp dụng các nguyên tắc đó vào hoàn cảnh riêng từng nước một (nhân hượng của cộng sản cho các đoàn phương Tây25 (Thỏa thuận đạt trong phiên họp ngày 21. Như trên, tr.122-130. Xem thêm hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/Giơ-ne-vơ/bản ghi nhớ về vấn đề "nhân nhượng lẫn nhau về vấn đề Đông Dương"/22-5-1954. A-den, Mémoires (Hồi ký), sách đã dẫn, tr.141, viết về vấn đề này: "Với sự giúp đỡ của Mô-lô-tốp, Chu Ân Lai và đại biểu Việt Minh đã bị thuyết phục, nhận ký kết hiệp định đình chiến riêng cho mỗi nước liên kết ở Đông Dương". Chúng tôi gạch dưới); Việt Minh thỏa thuận thảo luận việc áp dụng các nguyên tắc chung vào hoàn cảnh Việt Nam trước rồi tìm một thể thức các bên có thể chấp nhận được cho Campuchia và Lào26 (Phiên họp ngày 24 tháng 5. Hội nghị Giơ-ne-vơ về Đông Dương (...), sách đã dẫn, tr.138. Xem thêm Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/bản ghi nhớ dẫn ra ở trên); hoàn thành một danh mục bảy vấn đề quân sự để các đại biểu xem xét27 (Hội nghị Giơ-ne-vơ về Đông Dương (...), sách đã dẫn, tr.131).


Sau ba tuần thảo luận, kết quả thật nghèo nàn. Đây mới chỉ là những vấn đề thủ tục, nhưng về thực chất thì chưa thấy xuất hiện thậm chí phác thảo được một bước đầu thỏa thuận nào. Tuy nhiên đoàn đại biểu Trung Quốc tỏ ra khá hài lòng. Sau hôm khai mạc phiên họp hạn chế, một vài thành viên của đoàn đại biểu Trung Quốc nói với Anh rằng Thủ tướng Chu Ân Lai lạc quan về kết quả cuối cùng của hội nghị. Người Trung Quốc ý thức được rằng không đạt được tiến bộ nào về vấn đề Triều Tiên, và bằng lòng giữ nguyên trạng ở đó, nhưng họ sẽ cho rằng trong vài tuần nữa người ta sẽ đi đến ngừng bắn ở Đông Dương. Việc tách các vấn đề Lào, Khơ-me theo đề nghị của Pháp, Anh và các quốc gia hữu quan khác đã tìm được cách giải quyết và không thể gây nguy hiểm cho kết quả các cuộc thương lượng28 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/bản ghi nhớ về vấn đề "Sự lạc quan của Trung Quốc"/Không có ngày tháng). Đồng thời sau phiên họp ngày 21, trong đó đã đạt được sự thỏa thuận thảo luận các nguyên tắc chung về lập lại hòa bình và việc áp dụng các nguyên tắc đó vào hoàn cảnh riêng từng nước, đài phát thanh Bắc Kinh đã nói đến "kết quả nổi bật" của Hội nghị29 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/Sài Gòn/điện Cao ủy/số 5004/25-5-1954). Sau cùng, ngày 26 tháng 5, tờ Đại công báo viết: "Các kế hoạch của hai phe tại hội nghị Giơ-ne-vơ nhích lại gần nhau đủ để có thể đi đến thỏa thuận đình chiến ở Đông Dương"30 (Đại công báo 26-5-1954).
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 1238



WWW
« Trả lời #86 vào lúc: 05 Tháng Năm, 2020, 09:51:42 pm »

Đề nghị ngày 27 tháng 5 của Trung Quốc

Ngày 27 tháng 5, mấy giờ sau khi gặp I-đơn31 (Về các cuộc tiếp xúc Trung-Anh, xem đoạn sau), trong một cuộc họp hạn chế mà Bộ trưởng Ngoại giao Anh sau này ghi lại là "buổi chiều ảm đạm" và "quá nhiều rối rắm"32 (A.E-den, hồi ký, sách đã dẫn, tr.142), đến lượt Chu Ân Lai, lần đầu tiên từ hôm hội nghị khac mạc, đưa ra đề nghị sáu điểm về chấm dứt chiến sưở Đông Dương như sau:

"Các nước tham dự hội nghị Giơ-ne-vơ đã thỏa thuận về các nguyên tắc căn bản sau đây, liên quan đến việc chấm dứt chiến sự ở Đông Dương.

1.Ngừng bắn hoàn toàn cho tất cả các lực lượng vũ trang của hai bên tham chiến (gồm hải, lục, không quân) phải xảy ra cùng một lúc trên toàn bộ lãnh thổ Đông Dương.

2. Hai bên cần bắt đầu các cuộc thương lượng về việc điều chỉnh thích hợp những vùng chiếm đóng của mình, về việc chuyển vận quân đội của hai bên trong khi điều chỉnh, về những vấn đề khác có thể đặt ra trong lĩnh vực này.

3.Việc đưa từ bên ngoài vào Đông Dương mọi loại binh chủng mới và nhân viên quân sự cũng như tất cả các loại vũ khí đạn dược phải chấm dứt cùng một lúc với việc chấm dứt các cuộc xung đột trên toàn lãnh thổ Đông Dương.

4.Những ủy ban liên hợp gồm đại biểu bộ chỉ huy hai bên sẽ kiểm soát việc thi hành các điều khoản của hiệp định đình chỉ chiến sự. Sự kiểm soát quốc tế do một ủy ban các nước trung lập cũng sẽ được đặt ra đối với việc thi hành hiệp định nói trên.

5.Các nước tham gia hội nghị Giơ-ne-vơ cam kết bảo đảm việc thi hành hiệp định. Vấn đề tính chất của những nghĩa vụ mà các nước liên quan cam kết tông trọng sẽ được xét riêng.

6.Hai bên sẽ thả tù binh và dân thường bị bắt giam33 (Hội nghị Giơ-ne-vơ về Đông Dương (...), sách đã dẫn, tr.410. Tin Tân hoa xã, Giơ-ne-vơ, 27-5-1954). Chắc chắn là đề nghị này còn lâu mới trở thành một sự kiện giật gân. Đa số các điều khoản đã được nhiều đoàn khác nhau chấp nhận hoặc đề nghị một cách mặc nhiên hoặc rõ ràng trong các cuộc họp trước. Tuy nhiên, nó cũng thể hiện sự mềm dẻo đáng kể trong lập trường của Trung Quốc, một sự mềm dẻo còn rõ rệt hơn nếu tham khảo những lời giải thích miệng của Chu Ân Lai trong buổi họp.


Điểm thứ nhất liên quan đến một cuộc ngừng bắn đồng thời-chỉ là sao chép lại đoạn 8a trong đề nghị ngày 10 tháng 5 của Việt Minh và đoạn 1 trong đề nghị ngày 21 của Liên Xô-thoạt đầu có thể xem như một sự nhắc lại đơn thuần luận điểm về tính đồng thời đã được đoàn đại biểu Trung Quốc bênh vực từ trước đến nay. Nhưng lời bình luận đôi chút tế nhị của Chu Ân Lai đã phản ánh một cách hoàn hảo sự tiến triển trong lập trường của Trung Quốc: "Việc đình chỉ chiến sự phải đồng thời (nhưng) trái lại, người ta có thể chấp nhận rằng do chiến trường  phân tán nên thời điểm ngừng bắn có thể thay đổi theo từng vùng"34 (Hội nghị Giơ-ne-vơ về Đông Dương (...), sách đã dẫn, tr.156. Tuy vậy, bài tường thuật của Tân hoa xã, cùng ngày hôm dó, lại căn bản khác: "Việc các khu vực chiến đấu ở Đông Dương rải rác chỉ là một vấn đề kỹ thuật, không ảnh hưởng gì đến nguyên tắc ngừng bắn đồng thời". Tân hoa xã, Giơ-ne-vơ, 27-5-1954).


Cũng như vậy về điểm hai liên quan đến việc tập kết quân đội và điều chỉnh vùng-đề nghị của Trung Quốc cũng lặp lại những yếu tố của đoạn 8a trong đề nghị của Việt Minh và đoạn 2a trong đề nghị ngày 21 của Liên Xô. Nhưng ở đây nữa, lời bình luận của Chu Ân Lai thể hiện một sự thay đổi không thể xem thường về lập trường của Trung Quốc: "Tình hình ở mỗi nước Đông Dương khác nhau và (...) một khi chấp nhận nguyên tắc điều chỉnh, phải chiếu cố đến tình hình thực tế trong khi áp dụng và phải dự kiến những biện pháp khác nhau tùy theo từng trường hợp". Ngoài ra, thủ tướng Trung Quốc nhắc đến vấn đề khu phi quân sự mà ngày 24, Bi-đôn đã nêu ra và cho rằng "đề nghị đó đáng được nghiên cứu kỹ lưỡng"35 (Như trên, tr.156). Tập kết và thành lập khu phi quân sự36 (Ngược lại, bản tiếng Anh của bài tường thuật của Tân hoa xã, Giơ-ne-vơ, 27-5-1954 nói đến "demilitarized areas" (những vùng phi quân sự). Bản tiếng Trung Quốc không cho biết rõ hơn Chu Ân Lai nghĩ đến một hay nhiều vùng): phải chăng như vậy đã chấp nhận ý kiến về một sự chia cắt Đông Dương hay ít nhất chia cắt Việt Nam thành hai vùng rõ rệt?


Về điểm ba-không đưa quân đội và thiết bị quân sự-cũng là nhắc lại đoạn 8b trong đề nghị của Việt Minh và đoạn ba trong đề nghị của Liên Xô. Chu Ân Lai một lần nữa đã chỉ ra đâu là sự quan tâm thật sự của ông bằng cách nói rõ đây là "nhân viên và thiết bị quân sự Mỹ" và kết luận "Đây là điểm quan trọng nhất"37 (Hội nghị Giơ-ne-vơ về Đông Dương (...), sách đã dẫn, tr.156).


Điểm bốn-kiểm soát việc thi hành hiệp định-lấy lại đoạn 8c trong đề nghị của Việt Minh về các ủy ban liên hợp địa phương và đề nghị ngày 14 của Liên Xô liên quan đến ủy ban quốc tế kiểm soát gồm các nước trung lập. Điểm năm-bảo đảm các hiệp định-cũng chỉ là sao chép phần đầu đoạn ba trong đề nghị ngày 8 tháng 5 của Bi-đôn mà không một đoạn nào đưa ra một ý kiến phản đối thật sự về vấn đề này. Ngoài ra, về điểm này, Chu Ân Lai còn tán thành luận điểm của Liên Xô nói rằng trong trường hợp vi phạm hiệp định, "các nước bảo đảm sẽ phải tham khảo ý kiến nhau để có những biện pháp tập thể hơn là biện pháp riêng rẽ". Cuối cùng, điểm sáu-thả tù binh và dân thường bị bắt giam-cũng theo một hướng như đoạn bảy trong đề nghị ngày 10 của Việt Minh, và điểm này cũng chẳng gây khó khăn gì.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 1238



WWW
« Trả lời #87 vào lúc: 05 Tháng Năm, 2020, 09:54:12 pm »

Tóm lại, có nghĩa là đề nghị của Trung Quốc thận trọng đứng về một phía những đề nghị của Việt Minh và của Liên Xô. Phạm Văn Đồng đánh giá đề nghị đó là "bản tổng hợp có thể chấp nhận được"38 (Như trên, tr.160). Theo hướng đó, phiên họp ngày 27 tháng 5 không tạo ra một bước ngoặt gì có tính chất quyết định trong cuộc thương lượng. Và điều này giải thích tại sao I-đơn đã có thể coi phiên họp đó là một "buổi chiều ảm đạm" rối rắm hơn là xây dựng. Nhưng theo con mắt riêng của người Trung Quốc, thì đây là thời điểm đáng ghi lại. Một mặt nó đánh dấu ý muốn của Trung Quốc là đóng một vai trò năng động trong tiến trình của hội nghị về Đông Dương, hơn là vai trò từ hôm đầu cho tới nay có đôi chút thụt lùi đằng sau sáng kiến của Liên Xô và Việt Minh. Nhưng trước hết, điều đó báo hiệu khá rõ việc từ bỏ thái độ tương đối cứng rắn của đoàn đại biểu Trung Quốc từ đầu cuộc thương lượng cho tới nay. Một bản tin của Tân hoa xã từ Giơ-ne-vơ gửi về trong cùng ngày hôm đó đã trình bày đề nghị của Trung Quốc "như một cố gắng xây dựng lớn lao"39 (Tân hoa xã, Giơ-ne-vơ, 27-5-1954).


Ngoài ra, các cuộc thảo luận nhiều lúc gay go trong những ngày tiếp theo, đã tạo cho đoàn đại biểu Trung Quốc nhiều cơ hội đặt lại hoặc thậm chí thúc đẩy cuộc thương lượng, điều mà họ đã làm thật sự nhiều lần. Chẳng hạn như trong phiên họp hạn chế ngày 29 tháng 5 dành cho việc xem xét đề nghị của Anh liên quan đến họp đại biểu quân sự hai bên tại Giơ-ne-vơ và ở Việt Nam. Phạm Văn Đồng đã tưởng là thuận lợi khi nhắc lại dài dòng vấn đề thương binh ở Điện Biên Phủ và một lần nữa tố cáo thái độ của Pháp trong việc này. Sau bài phát biểu của đại biểu Việt Minh, Chu Ân Lai cũng như Mô-lô-tốp tán thành bằng những lời lẽ khá ngắn gọn đề nghị của I-đơn, coi đó là đề tài duy nhất của phiên họp, như vậy mặc nhiên bác bỏ lời phát biểu rõ rệt là lạc đề của Phạm Văn Đồng40 (Hội nghị Giơ-ne-vơ về Đông Dương (...) sách đã dẫn, tr.162). Sức éo của đại biểu Liên Xô và Trung Quốc cuối cùng đã làm cho đề nghị nói trên được thông qua và đưa Việt Minh đến chỗ ấn định, trong vòng 48 tiếng, thời gian đại biểu hai bộ Tư lệnh gặp nhau buổi đầu tiên để thảo luận thể thức tập kết quân đội. Rõ ràng là như Nhân dân nhật báo nhấn mạnh, đó là"một bước quan trọng đi tới lập lại hòa bình"41 (Phản ứng của Trung Quốc về sự thỏa thuận này, xem Nhân dân nhật báo, 31-5-1954 và Đại công báo, 2-6-1954).


Ngược lại, hai phiên họp hạn chế ngày 31 tháng 5 và ngày 2 tháng 6 mà một phiên dành cho việc thảo luận các đề nghị ngày 27 tháng 5 của Trung Quốc, đã tỏ ra kém tích cực hơn. Một cuộc tranh cãi vô bổ nổ ra giữa B.Xmit và Chu Ân Lai về sự điều hành của ủy ban kiểm soát ở Triều Tiên, sau đó trở thành một cuộc thảo luận lộn xộn mà không đi đến đâu. Tuy nhiên, đại biểu Mỹ cũng kết luận một cách thận trọng: "Để thể hiện con số 1, người phương Tây vạch một đường dọc, người Trung Quốc vạch một đường ngang. Chỉ còn có thể nghiên đầu sang một bên và đến lúc đó các đường sẽ gặp nhau"42 (Hội nghị Giơ-ne-vơ về Đông Dương (...) sách đã dẫn, tr.172. Tường thuật của Trung Quốc về phiên họp ngày 31-5, trong tin Tân hoa xã, Giơ-ne-vơ, 31-5-1954). Về phần mình, Groo-mi-cô (Gromyko) khẳng định rằng "lý tưởng là một việc, và hợp tác để duy trì hòa bình lại là một chuyện khác"43 (Như trên, tr.173), điều này ít nhất cũng chứng tỏ rằng tính chất hạn chế của các cuộc họp cho phép người ta thật thà ít nhiều. Trong phiên họp sau, Chu Ân Lai sẽ còn tán thành công thức này44 (Như trên, tr.194). Còn về phần Bi-đôn thì ông ta cố cãi lại Thủ tướng Trung Quốc bằng việc trích dẫn lời của Mao Trạch Đông45 (Như trên, tr.194), một ý định châm chọc hơn là xây dựng. Tóm lại, nếu từ lúc hội nghị tạm gác vấn đề tách Lào và Campuchia ra khỏi Việt Nam để xem xét riêng, hội nghị đã có đôi chút tiến bộ thì bây giờ lại dẫm chân tại chỗ, lần này vì vấn đề kiểm soát quốc tế được dự kiến cho việc thi hành hiệp định sắp tới.


Một lần nữa Chu Ân Lai lại cố làm cho cuộc thương lượng tiến triển bằng cách đưa ra trong phiên họp ngày 3 tháng 6 mấy đề nghị về chức năng của các ủy ban đó:

"Vậy cần phải đặt ra sự kiểm soát quốc tế trung lập, mà chức năng sẽ là hai loại:

a. Kiểm soát các khu phi quân sự46 (Người ta nhận xét rằng bài tường thuật bằng tiếng Pháp dùng số nhiều (xem đoạn trên về phiên họp ngày 27-5, chú thích 36), phân cách hai bên ở Đông Dương.

b. Kiểm soát việc cấm đưa thêm các đơn vị quân đội và trang bị quân sự mới vào toàn Đông Dương và dọc theo biên giới các nước đó bằng đường bộ, đường biển và đường không.

Về chức năng thứ nhất ủy ban hỗn hợp47 (Gồm đại biểu các bên tham chiến, theo đề nghị của Việt Minh ngày 10-5, (đoạn 8c)), sẽ đảm nhận giám sát hai bên thi hành hiệp định trong các khu phi quân sự. Ủy ban trung lập48 (Gồm đại biểu các nước trung lập sẽ xác định sau, theo đề nghị ngày 14 tháng 5 của Liên Xô), sẽ hoạt động trong cùng một lĩnh vực. Như vậy, hai loại cơ cấu tổ chức này sẽ cùng làm việc trên toàn lãnh thổ Đông Dương. Mặt khác, ủy ban Trung lập có trách nhiệm trực tiếp trong việc kiểm soát biên giới. Là hợp lý nếu nói rằng đó là chức năng quan trọng nhất của Ủy ban Trung lập. Quân đội hay vũ khí được đưa vào bằng đường biển, đường bộ hay đường không, và xuất xứ của chúng từ đâu, điều đó không quan trọng49 (Lần này Mỹ không còn bị chỉ đích danh), điều cốt yếu đối với hòa bình Đông Dương là phải ngăn cấm việc đó (...).


Còn việc Ủy ban trung lập chịu trách nhiệm trước quyền lực nào, thì theo ý kiến của đoàn đại biểu Trung Quốc, đó chính là bản thân Hội nghị Giơ-ne-vơ, 9 nước tham dự đều đứng ra bảo đảm (...). Nếu Ủy ban trung lập kết luận không thể giải quyết một sự kiện nào, thì sẽ báo cáo lên các nước bảo đảm. Những nước này sẽ tìm các biện pháp tập thể thích đáng để giải quyết sự tranh chấp"50 (Hội nghị Giơ-ne-vơ về Đông Dương (...) sách đã dẫn, tr.193-194. Tường thuật của Trung Quốc về phiên họp ngày 3-6 trong bản tin Tân hoa xã, Giơ-ne-vơ, 3-6-1954).
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 1238



WWW
« Trả lời #88 vào lúc: 05 Tháng Năm, 2020, 09:55:37 pm »

Ngoài ra, Chu Ân Lai còn bác bỏ cách Bi-đôn dẫn lời chủ tịch Mao Trạch Đông để giải thích vấn đề trung lập, nói rõ rằng đối với Đông Dương cũng như Triều Tiên, phải hiểu những nước trung lập theo đúng nghĩa của nó là những nước không tham gia cuộc xung đột51 (Cũng xem bài bênh vực lập trường này trong Nhân dân nhật báo ngày 12-6-1954). Sau cùng, đại biểu Trung Quốc rõ ràng bác bỏ đề nghị của Việt Nam (ngụy-N.D) đưa ra trong buổi họp hôm đó, nhằm giao việc kiểm soát ngừng bắn cho Liên hiệp quốc52 (Hội nghị Giơ-ne-vơ về Đông Dương, sách đã dẫn, tr.194. Mô-lô-tốp nói rõ thêm điều đó ngày 4-6: "Liên hiệp quốc không phải là cơ quan thích hợp phải chăng vì sự thật là một dân tộc 500 triệu người đã không được hưởng quyền của mình ở đó". (Như trên, tr.199)).


Ở đây không có nhượng bộ đặc biệt nào về phía Trung Quốc53 (Về vấn đề này, cần lưu ý rằng, trái ngược với nội dung bản ghi nhớ của đoàn đại biểu Pháp tại Giơ-ne-vơ dẫn ở trên (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/Giơ-ne-vơ/bản ghi nhớ về "Những nhân nhượng lẫn nhau về vấn đề Đông Dương"/22-5-1954), dường như Chu Ân Lai đã thừa nhận lúc đó rằng ủy ban trung lập "sẽ có thể giải quyết các cuộc tranh chấp nội bộ các ủy ban liên hợp trong trường hợp hiệp định đình chiến bị vi phạm". Đại biểu Trung Quốc cũng đã tuyên bố rõ: "Hai cơ cấu tổ chức nói đây là song hành với nhau. Có sự phân công về nhiệm vụ và liên hệ với nhau. Nhưng không cơ cấu nào ở trên cơ cấu nào. Trong bất kỳ trường hợp nào, Ủy ban quốc tế kiểm soát không được ở trên Ủy ban liên hợp" (Như trên, tr.193)), nhưng chỉ là sự sắp xếp lại một số ý kiến đã nêu ra, nhằm làm cho thương lượng tiến triển dễ dàng, điều mà rõ rệt là Chu Ân Lai mong muốn đi đến kết quả54 (Ngày 4 tháng 6, phóng viên Tân hoa xã tại Giơ-ne-vơ viết bài dưới nhan đề "Hội nghị Giơ-ne-vơ có tiến bộ chậm nhưng thực tế". Tin Tân hoa xã, Giơ-ne-vơ, 4-6-1954). Vào đầu tháng 6, đoàn đại biểu Trung Quốc bắt đầu đóng vai trò thực chất trong tiến trình của hội nghị. Cũng như đề nghị ngày 27 tháng 5, tham luận ngày 3 tháng 6 của Chu Ân Lai là một sự minh họa mới về vai trò đó.


Tuy nhiên, những phiên họp sau rõ ràng là đáng thất vọng một cách đặc biệt. Phiên họp ngày hôm sau, ngày 4 tháng 6, cũng vẫn họp hạn chế, chẳng đem lại yếu tố gì mới mẻ cho cuộc thảo luận; đoàn đại biểu Trung Quốc cũng không phát biểu55 (Tường thuật của Trung Quốc đăng trong bản tin Tân hoa xã, Giơ-ne-vơ, 4-6-1954. Phóng viên Trung Quốc, một lần nữa, đã ghi lại một cách lạc quan rằng "người ta đã đạt được một vài tiến bộ"). Rồi cuộc hội đàm chính thức về Đông Dương hoãn trong nhiều ngày, giành thời gian cho các cuộc gặp riêng56 (Nhất là giữa Trung Quốc và Pháp. Xem đoạn sau) và các cuộc họp về Triều Tiên. Chỉ đến ngày 8 và ngày 9 tháng 6, hội nghị về Đông Dương mới được nối lại dưới hình thức họp toàn thể. Trong hai ngày đó, nhiều tham luận hết sức găng được trình bày trước hội nghị, đánh dấu trên thực tế một sự cứng rắn của các lập trường thương lượng57 (Tường thuật về phiên họp ngày 8 tháng 6 đăng trong bản tin Tân hoa xã, Giơ-ne-vơ, ngày 8-6-1954). Ngày 9, Chu Ân Lai trình bày một bản tổng kết chung công việc của hội nghị và các đề nghị của Trung Quốc bằng những lời lẽ khá rõ ràng, dứt khoát. Ông nhắc lại một cách quả quyết những luận điểm đã phát triển nhiều lần: ngừng bắn đồng thời ở ba nước Đông Dương, bênh vực vai trò của các phong trào kháng chiến Campuchia và Lào, từ chối không chấp nhận mọi quan hệ phụ thuộc giữa Ủy ban liên hợp hai bên và Ủy ban quốc tế trung lập, tố cáo các âm mưu trao cho Liên hiệp quốc có một vai trò nào đó, đả kích mạnh chính sách của Mỹ và các hiệp ước Pháp-Việt được ký tắt ngày 4 tháng 6; sự cần thiết cấp bách đề cập đến vấn đề chính thức, v.v...58 (Hội nghị Giơ-ne-vơ về Đông Dương (...), sách đã dẫn, tr.250-260. Tân hoa xã, Giơ-ne-vơ, 9-6-1954). Bình luận về hai phiên họp ngày 8 và ngày 9 tháng 6; sau khi nhận xét các lập trường của cộng sản đã cứng rắn hơn trước, và nhận xét rằng đại biểu Việt Minh và Liên Xô đã trình bày kết luận của họ bằng "lời lẽ mạnh mẽ", Bi-đôn đã nhận xét: "Đoàn đại biểu Trung Quốc hôm đầu đã ghi tên phát biểu rồi lại xin xóa, đến ngày thứ hai mới nói vào cuối buổi họp. Họ đã phát biểu với những lời lẽ khách quan, theo những điểm trong đề nghị ngày 27 tháng 5"59 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/Giơ-ne-vơ/Điện Bi-đôn/Số 700-704, 10-6-1954. Bi-đôn nói tiếp như sau: "Trong năm giờ nghỉ, tôi đã hỏi một thành viên trong đoàn đại biểu Trung Quốc; câu trả lời là bai diễn văn của Chu Ân Lai không đem lại yếu tố nào cụ thể và có vẻ như điều đó có nghĩa là không có yếu tố tích cực nào).


Nhưng rõ ràng là hội nghị dẫm chân tại chỗ. Trưởng đoàn đại biểu Trung Quốc đã thành thật nêu lên điều đó trong phiên họp ngày 9 tháng 6: "Hơn một tháng đã qua, kể từ ngày 8 tháng 5, hội nghị bắt đầu xem xét việc lập lại hòa bình ở Đông Dương (...). Tuy vậy, nếu người ta so sánh một mặt, thời gian một tháng và mặt khác, những điểm hội nghị đạt được, thì kết quả rất là đáng phàn nàn; nhịp độ tiến độ của hội nghị rất chậm; chúng ta còn xa mới đáp ứng được hi vọng của nhân dân thế giới"60 (Hội nghị Giơ-ne-vơ về Đông Dương, sách đã dẫn tr.251. Nhiều tác giả đã thấy trong thái độ của Chu Ân Lai (và Molotov) một ý định tác động đến cuộc tranh luận tại Quốc hội và như vậy thay thế được Bi-đôn đứng đầu đoàn đại biểu Pháp bằng một nhân vật có tinh thần hòa giải hơn (R.F.Randle, sách đã dẫn, tr.272, J.Lacouture và Ph.Devillers, sách đã dẫn, tr.205)). Về phần mình, tờ Nhân dân nhật báo nêu lên sự ngoan cố và thiếu sáng kiến của đoàn đại biểu Pháp. Tờ báo Trung Quốc nhận xét rằng đó là kết quả của sức ép của Mỹ. Nhưng dư luận ở Pháp ngày càng mong mỏi chính phủ cam kết theo con đường giải quyết hòa bình vấn đề Đông Dương. Tờ báo kết luận từ nay, hòa bình ở bán đảo Đông Dương tùy thuộc vào nước Pháp61 (Nhân dân nhật báo, 10-6-1954).
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 1238



WWW
« Trả lời #89 vào lúc: 05 Tháng Năm, 2020, 09:59:14 pm »

Sự phát triển các cuộc tiếp xúc Trung-Anh và Trung-Pháp

Những cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa Chu Ân Lai và I-đơn

Trong một vài tiến bộ đã đạt được ở hội nghị, một phần đáng kể là do nhiều sáng kiến của A.I-đơn. Rất nhanh chóng, ông đã giành được vị trí ngày càng quan trọng trong các cuộc thương lượng này. Và nếu cho tới nay, trong các cuộc họp toàn thể cũng như họp hạn chế, nền ngoại giao Trung Quốc tỏ ra khá dè dặt thì ngược lại, nó hoạt động trong các cuộc nói chuyện tay đôi được tiến hành mau lẹ giữa người Trung Quốc và người Anh.


Tuy nhiên những cuộc nói chuyện đó đã gặp khó khăn trong lúc đầu. Người ta nhớ lại Chu Ân Lai đã gặp I-đơn lần đầu tiên ngày 30 tháng 4 trong một bữa ăn tối ở nhà Mô-lô-tốp. Rồi hai người có những cuộc hội đàm mới trong những ngày tiếp theo. Ông Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Anh chép lại trong hồi ký của ông ta, biên bản ghi nhanh thể hiện rõ không khí các cuộc trao đổi với thủ tướng Trung Quốc: "Thái độ của Chu Ân Lai, ít nhất trung lúc đầu hoàn toàn khác, với Mô-lô-tốp. Ông ta lạnh lùng và chống Mỹ quyết liệt và cuộc tiếp xúc đầu tiên với ông ở biệt thự của tôi, là khô khan và khó chịu. Chúng tôi trao đổi không nể nang nhau những câu nói gay gắt và thô bạo. Chính vào dịp này, ông ta bác bỏ thẳng thừng gợi ý của tôi về một cuộc ngừng bắn để di tản thương binh ra khỏi Điện Biên Phủ"62 (A.E-den, Mémoires (Hồi ký, sách đã dẫn, tr.131-132)).


Cũng chính vào dịp đó-hội nghị về Đông Dương chưa khai mạc-mà Chu Ân Lai đã bác bỏ "với một thái độ lạnh nhạt" đề nghị của Anh về việc Trung Quốc cử một đại biện ở Luân Đôn63 (Xem chương trước).


Nhưng chẳng bao lâu, thái độ của Trung Quốc đã thay đổi. Một cuộc gặp mới đã diễn ra ngày 14 tháng 5, I-đơn đã hỏi thủ tướng Trung Quốc xem ông ta có cho là đã đến lúc đưa cuộc hội nghị đi vào thương lượng thực sự chưa, sau khi các đại biểu khác nhau đã trình bày quan điểm của mình. Trên tinh thần đó, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Anh còn hỏi Chu Ân Lai là ông ta nghĩ thế nào về năm câu hỏi I-đơn đặt ra tại phiên họp toàn thể ngày 12 tháng 5 ngay sau khi trưởng đoàn đại biểu Trung Quốc đọc tham luận64 ("1.Chúng tôi có đồng ý rằng tất cả quân đội của hai bên phải tập kết trong một vùng nhất định không? 2.Chúng ta có chấp nhận luận điểm nói rằng Lào và Campuchia ở trong một loại đặc biệt và chúng ta có đồng ý rằng lực lượng Việt Minh phải rút khỏi lãnh thổ các nước đó không?. 3.Ai sẽ quyết định vấn đề xem đâu sẽ là những vùng tập kết đối với Việt Nam? 4.Chúng ta có đồng ý rằng khi tất cả quân đội đã tập kết vào một số vùng nhất định, tất cả các đơn vị không chính quy sẽ bị tước vũ khí không? 5.Chúng ta có tán thành kiểm soát quốc tế không, nếu có thì dưới hình thức nào?").
Để trả lời, Chu Ân Lai đã nhận xét rằng việc các đoàn đại biểu khác nhau muốn trình bày công khai quan điểm của họ là điều bình thường. Rồi ông ta nhấn mạnh đến sự thật là các câu hỏi của người Anh "cố ý xem thường các vấn đề chính trị". Do đó, ông ta đã hỏi "việc quản lý dân sự các vùng lãnh thổ quân đội đối phương rút đi" có tính chất như thế nào? Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Anh tránh đi vào chi tiết, đã nhận xét một cách đơn giản rằng các nước lớn phải "bỏ qua những mối lo lắng có tính chất địa phương" và "không được quên những suy nghĩ về chính sách chung trong việc thảo luận vấn đề Đông Dương". Đến đây, Chu Ân Lai "nổi giận ngay tức thì"65 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/điện Bi-đôn gửi Bộ Ngoại giao Pháp Pari, số 322-328/14-5-1954. Theo một cuộc nói chuyện cùng ngày với Harold Caccia). Một không khí căng thẳng, nhưng không vì vậy mà gây trở ngại cho một vài câu hỏi và trả lời, nghĩa là khai thông cho cuộc thương lượng.


Một cuộc gặp gỡ mới vào sáng ngày 20 tháng 5 cũng không có nhiều tính cách xây dựng hơn. A.I-đơn ghi lại: "Đến 11 giờ, Chu Ân Lai và chúng tôi đã thương lượng với nhau trong một tiếng đồng hồ. Cuộc thảo luận có thể kéo dài hơn nếu tôi không quyết định mời ông ta phát biểu. Ông ta trình bày luận điểm của ông mà không đếm xỉa đến luận điểm của người khác, và rất khó mà lay chuyển được ông ta"66 (A.E-den, Mémoires (Hồi ký) sách đã dẫn, tr.137).


Như ông ta đã làm trong phiên họp hạn chế ngày 17, trong khi ủng hộ đề nghị của Mô-lô-tốp, Chu Ân Lai thừa nhận rằng các vấn đề quân sự và chính trị có thể thảo luận tách riêng ra. Nhưng theo ông ta, điều quan trọng là ngừng bắn phải được thực hiện ở ba nước Đông Dương và có những điều khoản giống nhau. Tuy nhiên, thủ tướng Trung Quốc, trong khi thông báo rằng thỏa thuận chỉ đạt được vào buổi họp ngày hôm sau, 21 tháng 5, còn nói thêm: "sau đó, trong giải pháp chính trị người ta có thể tính đến những sự khác nhau có thể xuất hiện giữa vấn đề Việt Nam và các vấn đề khác". Sau cùng, với thái độ bớt cứng rắn hơn là trong buổi họp, Chu Ân Lai thừa nhận rằng: "các chính phủ kháng chiến Khơ-me (...) và Pathet Lào (...) có ít ảnh hưởng hơn là Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa". Nhưng ông kết luận: "tuy nhiên các chính phủ kháng chiến đó (Khơ-me và Pathet Lào) vẫn tồn tại"67 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/Điện đoàn đại biểu Pháp/số 419-422/20-5-1954, hội đàm với đồng nghiệp Mỹ và Pháp do chính E-den kể lại).


Mấy ngày sau68 (Giữa ngày 21 và 26 tháng 5) I-đơn mời Chu Ân Lai cùng vài cộng sự của ông đến ăn cơm tối. Thực tế, hai trưởng đoàn đã chú ý tránh thảo luận các công việc của hội nghị. Chu Ân Lai kể lại vài kỷ niệm về "cuộc trường chinh". Từ lúc này, không khí khác hẳn các cuộc gặp trước. Ngoài ra nhân dịp đó, thủ tướng Trung Quốc thừa nhận đã đến lúc Trung Quốc chỉ định một đại biện ở Anh giống như chính phủ Luân Đôn đã làm ở Trung Quốc ngay từ 195069 (Xem chương trước).


Ngày 27 tháng 5, đến lượt I-đơn đến thăm Chu Ân Lai. Theo Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Anh, "thái độ của ông ta (Chu Ân Lai) vui vẻ hơn nhiều so với các cuộc nói chuyện trước đây". Chủ yếu hai người nói về vấn đề Lào và Campuchia lúc này là trung tâm các cuộc thảo luận ở các phiên họp hạn chế và cũng là vấn đề nước Anh quan tâm trước hết, vì Anh nhìn thấy đó là một "vật cản" (từ ngữ của chính bản thân ông I-đơn) đối với sự bành trướng của cộng sản ở Nam Á (tiểu lục địa Ấn Độ) và Đông Nam châu Á (Mã Lai - Singapore) I-đơn ghi lại ngắn gọn về cuộc gặp gỡ hôm đó: "Tôi nghĩ rằng cuộc thảo luận của chúng tôi về Lào và Campuchia có thể là bổ ích"70 (A.E-den, Mémoirés (Hồi ký), sách đã dẫn, tr.141-142).


Vào thời gian đó (cuối tháng 5) các cuộc nói chuyện Trung-Anh về Đông Dương, hiển nhiên là không đưa lại yếu tố gì quyết định sự tiến bộ (có mức độ) của cuộc thương lượng. Một vài kết quả đạt được, chủ yếu là nhờ ở các cuộc gặp giữa hai đồng chủ tịch hội nghị: I-đơn và Mô-lô-tốp. Tuy nhiên ở một thời điểm mà các cuộc nói chuyện Trung-Pháp còn chưa phát triển71 (Cuộc gặp đầu tiên giữa Vương Bính Nam và Sô-ven chỉ diễn ra ngày 30-5. Xem đoạn sau), các cuộc tiếp xúc Trung-Anh đã góp phần rất nhiều đưa nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa vào trung tâm thật sự của cuộc thương lượng ở Giơ-ne-vơ: các cuộc nói chuyện bán chính thức giữa các trưởng đoàn ở bên ngoài các cuộc họp toàn thể hay họp hạn chế. Ngoài ra, mấy cuộc gặp đó đã dần dần khẳng định cảm tưởng của I-đơn là "sự kiên nhẫn có thể được trả giá"72 (A.E-den, Mémoires (Hồi ký), sách đã dẫn, tr.140), hay nói một cách khác, một cuộc thương lượng được tiến hành khéo léo với Trung Quốc có thể có kết quả tốt hơn là chính sách đôi khi cứng đờ mà Mỹ đang theo đuổi. Bấy nhiêu yếu tố sẽ giúp đỡ nhiều vào kết quả tích cực của hội nghị.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM