Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 01 Tháng Mười Hai, 2020, 05:59:59 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất  (Đọc 36916 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 1397



WWW
« Trả lời #140 vào lúc: 07 Tháng Năm, 2020, 09:52:24 pm »

Nước Trung hoa nhân dân và việc phương Tây tôn trọng hiệp định

Trong những tháng tiếp theo ngay sau khi ký kết ngừng bắn, Trung Quốc, về phía mình hết sức cảnh giác theo dõi các nước phương Tây tôn trọng hiệp định và tố cáo một cách hệ thống tất cả những hành động có thể được giải thích như là vi phạm hiệp định.


Nước Pháp, người có trách nhiệm chính đối với các nước phương Tây trong việc thi hành hiệp định, là đối tượng của nhiều cuộc đả kích của Trung Quốc. Các nhà đương cục Pháp bị trách cứ là không tôn trọng các điều khoản liên quan đến tù binh, như không làm gì để đảm bảo những điều kiện giam giữ thích đáng, nhất là về y tế68 (Tân hoa xã, Bắc Kinh, 22-8-1954) hoặc trả trả chậm trễ một cách phi pháp hàng ngàn người trong số tù binh69 (Như trên, Bắc Kinh, 15-11-1954). Lực lượng Liên hiệp Pháp bị lên án vi phạm những hành động tàn bạo trong các vùng họ phải rút đi hoặc các cùng họ chiếm đóng, giết hại dân làng không chịu làm việc cho họ, hành quyết những người yêu nước đã chiến đấu chống lại họ trong cuộc cách mạng70 (Như trên, Hà Nội, 10-11-1954). Trung Quốc tố cáo việc cướp đi "những tài sản" của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa mà Pháp phải bàn giao lại như chuyển vào Nam những thiết bị đáng lẽ phải để lại miền bắc, đặc biệt trong khu vực Hà Nội và Hải Phòng71 (Như trên, Bắc Kinh, 10-11-1954, 6-12-1954). Nhưng những lời buộc tội nhiều nhất là về việc cưỡng bức "di cư" nhân dân miền Bắc vào miền Nam nhất là dân công giáo ở các địa phận Phát Diệm và Bùi Chu. Tất cả những công cuộc chuyên chở bằng tàu thủy hoặc máy bay hàng vạn người bị coi là những sự vi phạm hải phận và không phận của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa72 (Như trên, Bắc Kinh, 10-11-1954, 14-11-1954). Theo cách thức như vậy, nước Pháp cũng bị trách cứ là không tôn trọng các hiệp định về Lào và Campuchia73 (Như trên, Hà Nội, 30-12-1954).


Mặc dù báo chí Trung Quốc đưa nhiều tin về Pháp vi phạm hiệp định đình chiến-thí dụ có thể nhiều gấp bội-thái độ của Trung Quốc nói chung là tương đối ôn hòa đối với chính phủ Paris. Toàn bộ những lời tố cáo trên chỉ là lấy theo tin của hãng thông tấn Bắc Việt Nam. Nhiều khi, Tân hoa xã chỉ là đưa lại-làm sao có thể miễn được việc làm đó-mà không thêm bình luận riêng của Trung Quốc. Ngoài ra, còn đáng chú ý là trong các báo hàng ngày của Trung Quốc, người ta hầu như không thấy có bài xã thuyết nào khác các tin tức lẻ tẻ để tố cáo một cách khái quát hơn thái độ của nước Pháp đối với việc thi hành hiệp định. Người ta cũng không thấy một ám chỉ nhỏ nhất nào đối với việc Pháp vi phạm hiệp định mà Trung Quốc coi là đe dọa trực tiếp đến an ninh của Trung Quốc hoặc an ninh của Hoa kiều ở Việt Nam.


Thực ra, một lần nữa, chính là cách xử sự của Mỹ mới là đối tượng đả kích kịch liệt nhất của Trung Quốc74 (Đúng là cách xử sự này không phù hợp với "tinh thần Giơ-ne-vơ". Thí dụ như những hoạt động của phái đoàn Lansdale ở Bắc Việt Nam bắt đầu từ tháng 8 năm 1954 trong "Hồ sơ mật Bộ Quốc phòng Mỹ", sách đã dẫn, tr.53 và sau đó. Một trong những hoạt động đầu tiên của phái đoàn đó là ngay trước khi hiệp định được ký kết, tung ra những "tin bịa đặt" và những hành động ngược đãi của quân đội cộng sản Trung Quốc mà người ta khẳng định là đã được đưa vào bắc Việt Nam. Xem Edward Geary Lansdale, In the Midst of Wars: an American Mission, to Southeast Asia (ở giữa các cuộc chiến tranh: một phái đoàn Mỹ ở Đông Nam Á) New York, Harper and Row, 1972, tr.139. Về hoạt động của Lansdale sau 29-7-1954, xem như trên, tr.163 và tiếp theo). Một vài lời lên án đó cũng như trong trường hợp của nước Pháp là nhằm các điểm riêng biệt. Chẳng hạn như hoạt động của sứ quán Mỹ tại Băng Cốc bị tố cáo là đe dọa trực tiếp hòa bình trên toàn bán đảo Đông Dương. Dự án của Mỹ về "Liên hiệp Mê Công", theo Trung Quốc chỉ nhằm sử dụng Thái Lan để "kiểm soát Campuchia và Lào và phá hoại hiệp định ngừng bắn ở Đông Dương"75 (Tân hoa xã, Bắc Kinh, 8 tháng 8 và 24-8-1954). Lực lượng Mỹ cũng bị lên án là công khai tham gia vào việc "di cư" người Bắc Việt Nam vào miền nam và lập các "trại tập trung" để cưỡng bức họ sinh sống tại các vùng cao nguyên dân cư thưa thớt76 (Tân hoa xã, Bắc Kinh, 8 tháng 8 và 24-8-1954). Đặc biệt Trung Quốc lên án vai trò của Mỹ trong việc cưỡng ép Hoa kiều ở Bắc Việt Nam di cư vào miền nam hoặc tệ hại hơn nữa về Đài Loan-một cuộc di cư mà Bắc Kinh xem như một "sự lăng nhục" thật sự đối với Trung Quốc mà Ủy ban công tác Hoa kiều đã chính thức phản kháng77 (Như trên, Bắc Kinh, 16-8-1954). Chính phủ Trung Quốc cũng lên án mạnh mẽ vai trò quân sự ngày càng tăng của Mỹ ở Nam Việt Nam: cung cấp trực tiếp trang bị quân sự, không qua tay Pháp gửi sĩ quan Mỹ đến giám sát các huấn luyện viên Pháp v.v...78 (Như trên, Bắc Kinh, 19-8-1989 và 13-12-1954).


Những lời đả kích cay độc nhất tăng lên gấp bội, nhất là vào lúc hội nghị Manila cho ra đời, tháng 9 năm 1954 tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á (Gọi là OTASE hoặc SEATO)79 (OTASE gồm có Mỹ, Australia, New Zeland, Anh, Pháp, Pakistan, Philippin và Thái Lan) mà Trung Quốc xem như "một sự vi phạm trắng trợn Hiến chương của Liên hiệp quốc"80 (Tân hoa xã, Bắc Kinh, 19-8-1954). Trung Quốc còn cho rằng Campuchia, Lào và hơn thế nữa Nam Việt Nam không thể nằm trong khu vực bảo hộ của OTASE81 (Khu vực bảo hộ của Hiệp ước mở rộng về phía Bắc đến vĩ tuyến 21°30' tương ứng với biên giới Trung-Việt). Nghị định thư theo dự kiến cho tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á khả năng can thiệp trong trường hợp 3 nước ở Đông Dương bị đe dọa, đã bị Trung Quốc cho là một sự vi phạm cực kỳ nghiêm trọng đối với Hiệp định Giơ-ne-vơ. Về điểm này, trong báo cáo về công tác của Chính phủ đọc trước Quốc hội Trung Quốc ngày 23-9-1954, thủ tướng Chu Ân Lai tuyên bố rằng "sự bảo hộ của OTASE đối với các nước đó" là "mâu thuẫn rõ ràng với lời cam kết của các nước tham dự hội nghị Giơ-ne-vơ về Campuchia, Lào và Việt Nam" và thêm rằng tất cả các nước đã tham dự hội nghị nói "có nghĩa vụ bảo đảm triệt để thi hành hiệp định"82 (Báo cáo của Chu Ân Lai đăng trong bản tin Tân hoa xã, Bắc Kinh 23-9-1954). Tờ Đại công báo kết luận rằng "đánh giá thấp nguy cơ của kế hoạch xâm lược của Mỹ là một sai lầm", "kết quả của hội nghị Giơ-ne-vơ và tiến bộ của hòa hoãn quốc tế sẽ bị thủ tiêu nếu nhân dân châu Á và các lực lượng hòa bình thế giới không kịp thời chấm dứt chính sách điên cuồng của Mỹ"83 (Đại công báo, 11-9-1954).


Ngoài những lời đả kích đó mà tầm cỡ hẳn là vượt xa các lời lên án đối với nước Pháp, báo chí Trung Quốc định kỳ đang những bài tổng hợp dài chống lại chính sách của Mỹ ở Đông Dương mà báo chí Trung Quốc cho là nhằm mục tiêu duy nhất là phá hoại đình chiến. Do đó, tờ Đại công báo, từ tháng 8 đã tố cáo những hoạt động của tướng O'Daniel, trưởng phái đoàn viện trợ quân sự Mỹ ở Sài Gòn (US.Military Assistance Adviory Group)-(MAAG), những hoạt động nhằm đặt Đông Dương dưới sự kiểm soát quân sự chính trị và kinh tế của Mỹ84 (Như trên, 20-8-1954). Còn tờ Nhân dân nhật báo thì cho rằng toàn bộ chính sách của Đại sứ Mỹ tại miền nam Việt Nam, Collins, nhằm loại phe thân Pháp của tướng Nguyễn Văn Hinh và biến tổng thống Ngô Đình Diệm thành "một Lý Thừa Vãn thứ hai" nhằm áp đặt trật tự thực dân mới của Mỹ ở Đông Dương85 (Nhân dân nhật báo, 20-12-1954). Theo báo chí Trung Quốc ngay từ cuối năm 1954, Mỹ đã thúc đẩy chính phủ nam Việt Nam có "một loạt biện pháp phát xít để phá hoại tổng tuyển cử tự do theo hiệp định Giơ-ne-vơ quy định". Trong lúc đó chúng "tìm cớ để can thiệp trực tiếp vào Đông Dương"86 (Tân hoa xã, Bắc Kinh, 22-12-1954).


Tóm lại, điều Chính phủ Bắc Kinh chê trách nước Pháp nhất là Pháp đã không "thực hiện lời cam kết long trọng tại Giơ-ne-vơ để rộng đường cho Mỹ tự do tiến hành chính sách xâm lược"87 (Nhân dân nhật báo, 20-12-1954). Không đầy 5 tháng sau ngừng bắn; việc Trung Quốc tìm cách giữ Pháp lại ở Đông Dương để đảm bảo cho an ninh của Trung Quốc đã rõ ràng là một ảo tưởng. Vì vậy, theo cách nhìn của Trung Quốc, giám sát việc thi hành hiệp định thực chất là giám sát hoạt động của Mỹ ở bán đảo Đông Dương. Sau hội nghị Giơ-ne-vơ chỉ có tham vọng đế quốc Mỹ, chứ không phải hậu quả của thời kỳ thuộc địa, mới có thể gây trở ngại cho chính sách của Trung Quốc ở Đông Dương.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 1397



WWW
« Trả lời #141 vào lúc: 07 Tháng Năm, 2020, 09:54:15 pm »

Hiệp định Giơ-ne-vơ coi như điểm xuất phát một chính sách mới của Trung Quốc ở Đông Dương


Quan hệ Trung Quốc và Bắc Việt Nam sau hội nghị


Trong một bức điện gửi Ủy ban hòa bình của Trung Quốc, Lê Đình Thám, Chủ tịch Ủy ban  bảo vệ hòa bình của Việt Nam chào mừng việc ký kết hiệp định Giơ-ne-vơ đã đánh giá hiệp định là "một thắng lợi của tình đoàn kết giữa nhân dân hai nước Trung Quốc và Việt Nam"88 (Tân hoa xã, Bắc Kinh, 6-8-1954). Thực tế, quan hệ Trung-Việt đã rất mật thiết về quân sự, kinh tế cũng như về tư tưởng89 (Xem đoạn trên, chương II) lúc sắp họp hội nghị Giơ-ne-vơ, trở nên đằm thắm hơn nữa sau ngừng bắn90 (Về điểm này, xem P.J.Honey-Communism in North Việt Nam (chủ nghĩa cộng sản ở Bắc Việt Nam)-Cambridge (Mass). M.J.T.Press, 1963, tr.43 và tiếp đó). Quan hệ giữa Trung Quốc và Bắc Việt Nam được thắt chặt hơn sau hiệp định Giơ-ne-vơ cũng tương tự như quan hệ giữa Trung Quốc và Bắc Triều Tiên được mật thiết hơn sau hiệp định Bàn Môn Điếm, nhưng có sự khác nhau căn bản là ở Bình Nhưỡng, ảnh hưởng Trung Quốc đã thay thế ảnh hưởng của Liên Xô, còn ở Hà Nội ảnh hưởng của Trung Quốc chỉ được tăng cường thêm mà thôi.


Trong mọi lĩnh vực, Bắc Việt Nam thừa nhận Trung Quốc như là nguồn cổ vũ chủ yếu. Chỉ sau 3 tháng sau chiến thắng Điện Biên Phủ, tướng Võ Nguyên Giáp trong một bức điện gửi tướng Chu Đức nhân dịp ngày quân đội của Trung Quốc, đã đảm bảo rằng "quân đội nhân dân Việt Nam phải học tập kinh nghiệm vô giá của quân giải phóng nhân dân Trung Quốc"91 (Tân hoa xã, Bắc Kinh, 1-8-1954). Một cách rộng rãi hơn nữa, Hoàng Minh Giám dẫn đầu đoàn đại biểu Bắc Việt Nam dự lễ kỷ niệm quốc khánh 1 tháng 10, đã tuyên bố ở Bắc Kinh rằng "những thành tựu của nhân dân Trung Quốc trong mọi mặt của công cuộc xây dựng đất nước là nguồn cổ vũ thường xuyên đối với nhân dân Việt Nam"92 (Như trên, 30-9-1954). Về mặt đối ngoại, Bắc Việt Nam hoàn toàn theo đường lối Trung Quốc. Bình luận báo cáo của Chu Ân Lai đọc ngày 11 tháng 8 trước hội đồng Chính phủ93 (Xem đoạn trên) báo Nhân dân mấy ngày sau đó, đã viết "Nhân dân Việt Nam thừa nhận rằng 5 nguyên tắc (cùng tồn tại hòa bình) là những nguyên tắc căn bản để phát triển quan hệ hữu nghị giữa 3 nước ở Đông Dương với nhau và giữa 3 nước đó với nước Pháp"94 (Tân hoa xã, Bắc Kinh, 25-8-1954). Cũng như đối với cuộc khủng hoảng Đài Loan, cơ quan của Đảng lao động Việt Nam hoàn toàn ủng hộ lập trường của Trung Quốc và kết luận là cần thiết phải tăng cường tình đoàn kết giữa nhân dân Trung Quốc và nhân dân Việt Nam95 (Nhân dân, 14-12-1954 (xã luận, xem thêm "Tuyên bố của Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam dân chủ cộng hòa 26-12-1954, đăng ở bản tin Tân hoa xã, Bắc Kinh, 26-12-1954).


Sự nhất trí về tư tưởng và chính trị tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nhanh chóng quan hệ tay đôi giữa Trung Quốc và Bắc Việt Nam. Ngày 11-8-1954, Chính phủ Trung Quốc cử La Quí Ba làm Đại sứ tại nước Việt Nam dân chủ cộng hòa96 (Tân hoa xã, Bắc Kinh, 19-8-1954 về nhân vật La Quí Ba, xem đoạn trước ở chương II). Mấy ngày sau tại biên giới Trung-Việt, La Quí Ba được 5 quan chức Việt Nam nghênh đón đặc biệt linh đình97 (Như trên, Bắc Việt Nam, 28-8-1954. Chúng tôi sẽ trở lại ý nghĩa của cuộc đón tiếp này ở chương XII tiếp theo). Ngày 1 tháng 9, ông trình quốc thư lên Chủ tịch Hồ Chí Minh98 (Như trên, Bắc Việt Nam, 1-9-1954. Xem đoạn sau về những lời tuyên bố trong ngày lễ này). Trong số các cộng tác viên của ông có Đào Quế Sinh (Tsao Kuei Sheng)? người đã tham gia đoàn đại biểu Trung Quốc tại Giơ-ne-vơ99 (Như trên, Đào Quế Sinh, xem đoạn trước chương IV).


Kể từ ngày đó, quan hệ giữa hai nước ngày càng mật thiết. Ngày 23 tháng 9, trước Quốc hội mới, Thủ tướng Chu Ân Lai đã tuyên bố rằng nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có thể được đảm bảo về sự ủng hộ hoàn toàn của nhân dân Trung Quốc để xây dựng lại nền kinh tế100 (Báo cáo của Chu Ân Lai đăng tron bản tin Tân hoa xã, Bắc Kinh, 13-9-1954). Một tuần lễ sau, nhân dịp quốc khánh Trung Quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định rằng "Việt Nam và Trung Quốc đã là những nước anh em từ thời xưa" và ngày nay "nhân dân Việt Nam lại được hưởng sự ủng hộ anh em của nhân dân Trung Quốc"101 (Tân hoa xã Bắc Kinh, 1-10-1954). Ngày 3 tháng 10, trong một bức điện mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ lòng tin tưởng rằng việc bầu Chủ tịch Mao Trạch Đông làm chủ tịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa sẽ tăng cường hơn nữa tình đoàn kết giã nhân dân hai nước102 (Như trên, Bắc Kinh, 3-10-1954).


Trên một bình diện cụ thể hơn, một phái đoàn Bắc Việt Nam do Nguyễn Văn Trân, Thứ trưởng Bộ giao thông cầm đầu, lên đường đi Bắc Kinh để thảo luận việc phục hồi giao thông và phát triển quan hệ kinh tế giữa hai nước103 (Như trên, Bắc Kinh, 16-101-1954). Sau một tháng rưỡi đàm phán, ngày 24-12-1954, hai bên ký một loạt 5 hiệp định về đường sắt (phục hồi đường sắt Hà Nội-Đồng Đăng và nối với hệ thống đường sắt Trung Quốc) về bưu điện và viễn thông (mở liên lạc bưu điện giữa 2 nước kể từ ngày 1 tháng 1-1955) về đường bộ, hàng không và thủy lợi. Trong tất cả các lĩnh vực đó, Trung Quốc cam kết cung cấp cho Bắc Việt Nam tất cả thiết bị và những kỹ thuật viên cần thiết. Thông cáo chung Trung Quốc-Bắc Việt Nam nói rằng các hiệp định đó là "sự mở đầu tốt đẹp cho sự hợp tác kinh tế rộng rãi hơn giữa Trung Quốc và Việt Nam"104 (Như trên, sách đã dẫn, Bắc Kinh, 28-12-1954. Năm 1955 hai nươc sẽ ký 11 hiệp định mới nữa. Xem (Đ.M) Johnson và Hungdah Chiu, sách đã dẫn, tr.271). 5 tháng sau khi Việt Nam bị chia cắt thành hai miền tách rời nhau, miền Bắc gắn bó mật thiết hơn với nền kinh tế Trung Quốc, từ nay là nguồn cung cấp duy nhất có khả năng đáp ứng nhu cầu chủ yếu của một nước không thể tự cung tự cấp được. Người ta có thể nghĩ rằng tình trạng đó, từ nay sẽ là một chủ bài quan trọng đối với chính sách Trung Quốc ở Bắc Việt Nam.


Tuy nhiên, trong xã luận ngày 30 tháng 12, báo Nhân dân của Bắc Việt Nam nhấn mạnh "viện trợ anh em" của Trung Quốc là "dựa trên tình đoàn kết hữu nghị và tinh thần chủ nghĩa quốc tế"105 (Như trên, Hà Nội, 30-12-1954). Ngoài ra để thể hiện tốt hơn sự vô tư của mình, Trung Quốc cho không Bắc Việt Nam 10.000 tấn gạo và 5 triệu mét vải. Trong xã luận ngày 25-12-1954, báo Nhân dân viết rằng, trái với viện trợ Mỹ chỉ là một hình thức "xâm lược được ngụy trang chống lại các nước thuộc địa và phụ thuộc" viện trợ của Trung Quốc chứng tỏ "sự ủng hộ, sự tôn trọng và tình anh em" của Trung Quốc đối với Việt Nam106 (Nhân dân, 25-12-1954 (xã luận)).
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 1397



WWW
« Trả lời #142 vào lúc: 07 Tháng Năm, 2020, 09:55:33 pm »

Thế cân bằng ở bán đảo Đông Dương

Sự tràn ngập các bài báo Trung Quốc và Việt Nam chào mừng "tình đoàn kết nhất trí" giữa hai nước đã không che giấu được sự khác nhau căn bản về các lập trường của mỗi bên Trung Quốc và Việt Minh.
Trong thời gian hội nghị Giơ-ne-vơ, cũng như khẳng định rằng mục tiêu cuối cùng là thống nhất đất nước. Vậy mà người ta đã ghi nhận biết bao sự phản ứng ngay lập tức của Trung Quốc và Bắc Việt Nam ngay sau khi ký kết hiệp định Giơ-ne-vơ chứng tỏ có sự khác nhau về điểm này107 (Xem đoạn trước). Cuối 1954, ấn tượng đó đã được khẳng định rõ rệt.


Trong lễ trình quốc thư lên Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 1-9-1954, Đại sứ La Quí Ba nhắc lại vai trò của ông ta ở Bắc Việt Nam "là củng cố và thúc đẩy tình đoàn kết và hữu nghị hợp tác kinh tế và văn hóa giữa hai nước"108 (Tân hoa xã, Bắc Việt Nam, 1-9-1954), nhưng ông không đả động một tiếng nào đến sự thống nhất của Việt Nam. Đối với vấn đề này, Chủ tịch Hồ Chí Minh không quên nói lại: "Hiện nay hòa bình đã lập lại, nhiệm vụ của chúng tôi là thực hiện thống nhất nước nhà, độc lập và dân chủ trong cả nước"109 (Như trên). Ba tuần lễ sau, Thủ tướng Trung Quốc trong báo cáo đọc trước Quốc hội đã bảo đảm với Bắc Việt Nam về sự ủng hộ của Trung Quốc trong công cuộc xây dựng lại nền kinh tế, nhưng ông cũng không ám chỉ gì đến việc thống nhất 2 miền110 (Như trên, Bắc Kinh, 23-9-1954). Nhân dịp kỷ niệm ngày 1 tháng 10, Đại sứ La Quí Ba nhắc lại những lời lẽ đúng như của Chu Ân Lai và cũng không đi xa hơn về vấn đề thống nhất111 (Như trên, Bắc Việt Nam, 3-10-1954). Trong lúc các nhà lãnh đạo và báo chí Bắc Việt Nam luôn luôn lên tiếng ủng hộ các tuyên bố của Trung Quốc liên quan đến vấn đề Đài Loan là thuộc về nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, thì việc Trung Quốc bỏ qua một cách hệ thống không nói đến vấn đề thống nhất của Việt Nam lại càng trắng trợn. Sau khi dự quốc khánh Trung Quốc, rời Bắc Kinh về nước, Hoàng Minh Giám tuyên bố: "Chúng tôi hy vọng sự nghiệp giải phóng Đài Loan và thống nhất hoàn toàn lãnh thổ Trung Quốc"112 (Như trên, Bắc Kinh 7-10-1954. Đồng thời báo nhân dân, 14-12-1954, cùng xem tuyên bố của Bộ Ngoại giao nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, 26-12-1954 trong bản tin tiếng Anh, Việt Nam thông tấn xã, 26-12-1954). Nếu Trung Quốc thật sự mong muốn cho Việt Nam được thống nhất, Trung Quốc đã không quên gắn liền hai hoàn cảnh của hai nước và đảm bảo với nhân dân Việt Nam về sự ủng hộ đối với sự nghiệp thống nhất Tổ quốc cũng như nhân dân Việt Nam đảm bảo với nhân dân Trung Quốc về sự ủng hộ đối với công cuộc giải phóng Đài Loan113 (Khoảng cách hiển nhiên giữa lập trường của Trung Quốc và Bắc Việt Nam có thể so sánh với sự khác nhau giữa 2 bài phát biểu của Đặng Tiểu Bình và Lê Duẩn, trong dịp Lê Duẩn thăm chính thức Bắc Kinh tháng 9 năm 1975 sau ngày "Giải phóng" Sài Gòn).


Cuộc đàm phán với Chu Ân Lai trong thời gian hội nghị Giơ-ne-vơ đã làm Mendès France tin rằng Trung Quốc rõ ràng tán thành kéo dài tình trạng chia cắt Việt Nam (từ khi Nam Việt Nam không còn chịu sự chi phối của nước ngoài) và một cách rộng hơn, tán thành có nhiều nước tồn tại ở biên giới phía Nam của Trung Quốc114 (Nói chuyện với Mendès France, 3-7-1954). Rõ ràng có vẻ như chính phủ Bắc Kinh hạn chế những đòi hỏi của Việt Nam trong thời gian hội nghị bởi vì Bắc Kinh quan tâm đến một giải pháp hòa bình và mau chóng cho cuộc khủng hoảng, nhưng một khi cuộc khủng hoảng được vượt qua, Bắc Kinh tiếp tục gây sức ép với Việt Nam dân chủ cộng hòa để giảm bớt tham vọng của họ nhất là đối với miền Nam. Chính sách đó có thể đáp ứng hai điều quan tâm khác nhau. Một mặt trong thời gian ngắn nó nhằm tránh làm bùng nổ trở lại một cuộc khủng hoảng trái với lợi ích của Trung Quốc, về xây dựng kinh tế cũng như về vị trí quốc tế. Nhưng mặt khác, chính sách đó có thể nhằm xây dựng thế cân bằng mới ở Đông Dương trên cơ sở chia cắt lâu dài (hay mãi mãi) Việt Nam115 (Phải chăng người ta có thể để cho đối xứng, so sánh thái độ với việc Liên Xô xây dựng thế cân bằng mới ở châu Âu trên cơ sở chia cắt vĩnh viễn nước Đức).
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 1397



WWW
« Trả lời #143 vào lúc: 07 Tháng Năm, 2020, 09:56:35 pm »

Đối với Trung Quốc, một tình hình như vậy có lợi là bắt buộc Việt Nam dân chủ cộng hòa nhích gần Chính phủ Bắc Kinh một cách rõ rệt hơn nữa. Nhưng hiệp định ký ngày 24-12-1954 giữa Trung Quốc và Bắc Việt Nam là biểu hiện đầu tiên. Ngoài ra, ngay từ cuối năm 1954, tất cả các nhà quan sát đều tin rằng nước Pháp không còn có thể buộc chính phủ Nam Việt Nam phải thi hành những điều khoản chính trị của hiệp định Giơ-ne-vơ. Từ đó, Chủ tịch Ủy ban quốc tế Đơ-sai kết luận: "Việt Minh chỉ còn có một giải pháp, đó là tin cậy hoàn toàn vào đồng minh vĩ đại của họ"116 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/điện tướng Ely/Sài Gòn/số 38 22-1-1955; cũng xem "Công văn của Thiếu tướng De Beaufort, Trưởng phái đoàn liên lạc của Pháp, bên cạnh Ủy ban quốc tế gửi Đại tướng Cao Ủy Pháp, Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương"/không số/tháng 2-1955).


Nhưng ngược lại, thế cân bằng mới ở Đông Dương mà Trung Quốc ước mong có nguy cơ đẩy miền Nam đi với Mỹ. Ngay sau hội nghị Giơ-ne-vơ, thái độ của Chính phủ Bắc Kinh hoan nghênh hiệp định đình chiến chứng tỏ rằng mặc dù rất lo ngại về chính sách của Mỹ ở Đông Dương, Bắc Kinh đánh giá nguy cơ can thiệp của Mỹ đặc biệt là ở miền Nam Việt Nam đã tạm thời bị đẩy lùi. Tuy nhiên, theo chúng tôi, việc chia cắt lâu dài nước Việt Nam mà Trung Quốc dự liệu, sẽ là một trong những nhược điểm chủ yếu trong chính sách của họ ở Đông Dương.


Đối với Bắc Kinh, thế cân bằng ở Đông Dương không phải chỉ đưa lại miền Bắc Việt Nam đối lập với miền Nam Việt Nam. Thế cân bằng còn bao gồm cả các thành phần Lào và Campuchia mà Trung Quốc rất coi trọng. Cuộc đàm phán ở Giơ-ne-vơ đã đủ chứng tỏ rằng Chính phủ Trung Quốc quan tâm giữ gìn nền độc lập của hai vương quốc đối với Mỹ cũng như đối với Việt Minh. Ngay hôm sau hội nghị, người ta đã chú ý đến việc Chu Ân Lai và Phạm Văn Đồng đề cập đến vấn đề Lào và Campuchia khác nhau như thế nào trong dịp Phạm Văn Đồng đi qua Bắc Kinh, Chu Ân Lai muốn tách biệt rõ rệt các vấn đề liên quan đến mỗi nước ở Đông Dương, còn Phạm Văn Đồng trái lại, gắn chặt cuộc đấu tranh của Pathet Lào và của "Khơ me" với cuộc đấu tranh của Việt Nam117 (Xem ở đoạn trên). Cách nhìn của Trung Quốc về một Đông Dương đa dạng trong đó Lào và Campuchia phải là đối trọng với Việt Nam đã được thể hiện rõ ràng khi có cuộc khủng hoảng sau ngừng bắn, cách nhìn đó sẽ còn là một nhân tố thường xuyên của chính sách Trung Quốc ở Đông Dương. Thủ tướng Chu Ân Lai trong báo cáo đọc trước Quốc hội đã nhấn mạnh đến những triển vọng sắp tới của nền ngoại giao Trung Quốc đối với hai Vương quốc Lào và Campuchia: "Hiệp định Giơ-ne-vơ về lập lại hòa bình ở Đông Dương đã bảo đảm nền độc lập của Lào và Campuchia, đồng thời Lào và Campuchia cũng tự mình cam kết không tham gia khối liên minh quân sự nào. Điều đó làm cho nước ta có thể thiết lập quan hệ bình thường với hai Vương quốc này"118 (Báo cáo của Chu Ân Lai đăng tron bản tin Tân hoa xã, Bắc Kinh, 23-9-1954). Nhưng trong lĩnh vực này, phải mất nhiều năm mới thấy rõ hiệu quả đầu tiên của chính sách của Trung Quốc. Chỉ đến năm 1956119 (Công nhận về thực tế 1956, về pháp lý năm 1958) Campuchia mới công nhận Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và đến 1962, Lào mới theo gương Campuchia, sau khi hội nghị Giơ-ne-vơ lần thứ 2 năm 1962 kết thúc.


Phân tích những phản ứng của Trung Quốc đối với ký kết hiệp định Giơ-ne-vơ, thái độ của họ đối với hiệp định và chính sách của họ đối với Bắc Việt Nam trong những tháng cuối 1954 đối với chúng tôi hình như hoàn toàn khẳng định được những kết luận rút ra từ việc nghiên cứu cách xử sự của Trung Quốc trong thời gian hội nghị. Tất nhiên là người ta thấy ở đó những đường hướng chủ yếu trong chính sách Đông Dương của Trung Quốc.


Trước hết là ý muốn ngăn ngừa mọi can thiệp của Mỹ vào bán đảo Đông Dương. Rõ ràng là Trung Quốc nghĩ rằng có thể đạt được ý muốn đó nhờ các điều khoản của hiệp định ngừng bắn, dự kiến một sự trung lập hóa nhất định các nước ở Đông Dương và sự bảo lãnh của các nước tham dự hội nghị. Việc Mỹ từ chối không chịu ký vào bản tuyên bố cuối cùng lúc đó hình như không làm Chính phủ Bắc Kinh phải lo nghĩ gì. Nhưng chắc là ngay từ những tháng tiếp theo hội nghị Giơ-ne-vơ, Trung Quốc lo ngại thấy trọng lượng của nước Pháp ở miền Nam Việt Nam giảm đi nhanh chóng đến mức Pháp không đủ sức ngăn cản những hành động của Mỹ120 (Có lẽ người ta có thể so sánh sự lo ngại này với việc Trung Quốc lo sợ sự rút lui của Mỹ ở Đông Nam Á có thể để ngỏ cửa cho sự xâm nhập của Liên Xô). Ngoài ra sự phát triển của cuộc khủng hoảng Đài Loan đã làm cho vấn đề này có một khuôn khổ mới.
Ngoài ra, chúng tôi cho rằng hình như sự phân tích đó xác nhận vị trí của Trung Quốc đối với sự phân chia về chính trị ở Đông Dương. Càng quan tâm duy trì một thực thể liên bang Đông Dương nằm trong Liên hiệp Pháp nhằm loại trừ ảnh hưởng của Mỹ, thì Bắc Kinh lại càng không muốn thấy Việt Minh trở thành người kế tục duy nhất sức mạnh thuộc địa của Pháp ở Đông Dương. Một cuốn sách mới đây của Liên Xô đã viết về vấn đề này như sau:

"Lập trường của Đoàn đại biểu Cộng hòa nhân dân Trung Hoa như vậy, chứng minh khuynh hướng muốn tạo ra nhiều nước riêng biệt ở bán đảo Đông Dương, muốn "ban căng hóa" Đông Dương dĩ nhiên điều này dẫn đến sự chia rẽ sự đoàn kết giữa những người yêu nước ở các nước Đông Dương, làm suy yếu các mặt trận cách mạng và dân chủ ở Lào và Campuchia đang hướng về chủ nghĩa xã hội trên thế giới"121 (G.V.Astafiev và A.M.Dubinski, sách đã dẫn, tr.96).


Từ phán xét trên đây, chúng tôi thấy rằng chữ "Ban căng hóa" hình như không có vẻ gì là quá mạnh để xác định thái độ của chính phủ Bắc Kinh. Việc Trung Quốc quan tâm duy trì sự phân biệt nhất định về chính trị ở vùng biên giới của họ, kể cả trong trường hợp tình trạng phân biệt đó có nguy cơ làm dễ dàng cho chính sách của Mỹ, kẻ thù chủ yếu lúc đó, đã đặt ra một vấn đề khác biệt về thực chất mà chúng tôi sẽ trở lại sau này. Đó là vấn đề thử xem đâu là phần cổ truyền, đâu là phần cách mạng trong chính sách đối ngoại hiện nay của Trung Quốc122 (Xem đoạn dưới, chương XII).
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 1397



WWW
« Trả lời #144 vào lúc: 07 Tháng Năm, 2020, 09:58:32 pm »

Chương XI
Địa vị mới của Trung hoa nhân dân
trên thế giới sau hội nghị Giơ-ne-vơ

Nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã thấy địa vị cường quốc thế giới của mình được mọi người thừa nhận.
(Nhân dân nhật báo 22-7-1954)


Mùa hè năm 1954 ở Giơ-ne-vơ, chỉ một trận, Trung Quốc đi vào thế giới và bắt đầu đóng vai trò chính đáng trong số các nước hùng mạnh nhất thế giới
(Tiến sĩ Hewlett Johnson, Tu viện trưởng tu viện Canterbury, đăng trong tạp chí People's China Bắc Kinh 1-10-1954)


Ở Giơ-ne-vơ, ngoài một giải pháp về vấn đề Đông Dương phù hợp với lợi ích chủ yếu của mình, vị trí quốc tế của Trung Quốc đã được tăng cường mạnh mẽ. Không phải vì hội nghị đã kết thúc-không kể thỏa thuận ngày 17 tháng 6 với Anh về việc trao đổi đại biện1 (Xem đoạn trên ở chương V) - bằng những lời bảo đảm rõ ràng về công nhận ngoại giao hoặc bằng các hiệp định buôn bán. Về mặt thuần túy pháp lý, quy chế của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa vẫn tương tự như trước khi họp hội nghị Berlin. Nhưng ba tháng dòng dã, Trung Quốc đã có thể trình bày những nguyên tắc chính trị của mình, có những cuộc tiếp xúc mới và tự cho mình một hình ảnh đổi mới. Về chính trị, Chính phủ Bắc Kinh đã được khẳng định vững vàng trên trường quốc tế.


Tuy nhiên, những kết quả đạt được lại rất khác nhau tuy theo trường hợp. Không có gì so sánh được giữa tình trạng đối kháng không hề thay đổi trong quan hệ Trung-Mỹ, nhiều cuộc tiếp xúc chính trị và kinh tế của đoàn đại biểu Trung Quốc với Tây Âu và uy tín của Trung Quốc được phục hồi ở châu Á.


Trung hoa nhân dân trong tình hình đối kháng của chiến tranh lạnh

Giới hạn của liên minh với Liên Xô


Vào lúc hội nghị Giơ-ne-vơ sắp họp, trong bối cảnh chiến tranh lạnh, trước hết Trung Quốc được xem như đồng minh chủ yếu của Liên Xô, trong nội bộ khối cộng sản. Chắc chắn là có rất nhiều giới hữu trách chính trị và chuyên gia đánh giá rằng giữa Bắc Kinh và Mát-xcơ-va có những cách đánh giá ít nhiều khác nhau2 (Xem đoạn trên, chương I). Thực tế, sự phản ứng của Trung Quốc đối với nghị quyết của hội nghị Berlin đã khẳng định những cảm tưởng đó3 (Xem đoạn trên, chương III). Tuy nhiên, nói chung, chính là trên cơ sở liên minh gắn bó hai nước Trung-Xô mà các nước phương Tây lấy đó làm căn cứ xây dựng chính sách của họ đối với thế giới xã hội chủ nghĩa.


Thật vậy, trong thời gian đàm phán tại Giơ-ne-vơ, hoạt động của hai đoàn đại biểu Trung-Xô đã tỏ ra hoàn toàn ăn ý với nhau. Điều này đã được tất cả các đại biểu phương Tây xác nhận4 (Nói chuyện). Và ngay dù Molotov đã không phải lúc nào cũng sử dụng tính kiên trì vốn có của mình, phải chăng là người duy nhất trong các cuộc hội đàm đứng ra bênh vực việc công nhận nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về ngoại giao*5 (Trong cuộc gặp M.France ngày 10-7-1954 (xem đoạn trên ở chương V) và ngày 21-7-1954) trong lúc chính Chu Ân Lai đã không bao giờ đề cập vấn đề đó trong các cuộc hội đàm tay đôi với người Pháp? Đối với các vấn đề chủ yếu trong cuộc thương lượng, Trung Quốc và Liên Xô đã hành động như hai nước đồng minh với nhau. Giữa hai nước, không bao giờ xuất hiện những bất đồng quan trọng tương tự như bất đồng giữa Mỹ và các ông bạn châu Âu của Mỹ. Cuối cùng, những tuyên bố chính thức của chính phủ Liên Xô công bố ngay sau hội nghị Giơ-ne-vơ bề ngoài đã thể hiện sự giống nhau về quan điểm giữa hai thủ đô: Thông cáo ngày 22-7-1954 của Liên Xô đã vạch ra rằng:

"Hội nghị Giơ-ne-vơ và kết quả của hội nghị đã nêu bật vai trò quan trọng của nhân dân Trung Quốc vĩ đại và Nhà nước của mình là nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa trong việc giải quyết các vấn đề tranh chấp quốc tế. Vai trò của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa tại hội nghị Giơ-ne-vơ là một sự chứng minh mới về ảnh hưởng và uy quyền quốc tế của Trung Quốc với tư cách là một cường quốc. Ngoài ra, một lần nữa hội nghị Giơ-ne-vơ đã chứng minh rằng những âm mưu của các giới xâm lược ở một số nước và trước hết là Mỹ, muốn loại trừ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa không cho tham gia giải quyết các vấn đề quốc tế quan trọng nhất là hoàn toàn đi ngược lại lợi ích của việc củng cố hòa bình"6 (Pour une paix durable (Yapj chí "vì hòa bình lâu dài...") 30-7-1954. Người ta cũng có thể đi theo chiều hướng giống như thế. Trích dẫn các báo chí Xô Viết (Sơ kết trong hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/Điện Le Roy/Moscou/số 1901/22-7-1954) của báo chí các nước dân chủ nhân dân Đông Âu (ví dụ như sơ kết các báo Tiệp Khắc, trong hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/Điện Boisanger/Prague số 451/25-7-1954).


Cái đó, cảm tưởng về một sự phối hợp hoàn toàn giữa Trung Quốc và Liên Xô trong thời gian hội nghị Giơ-ne-vơ, chúng tôi cần được diễn tả tỉ mỉ với những sắc thái khác nhau.
« Sửa lần cuối: 07 Tháng Năm, 2020, 10:03:48 pm gửi bởi quansuvn » Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 1397



WWW
« Trả lời #145 vào lúc: 07 Tháng Năm, 2020, 10:00:18 pm »

Một mặt, có những dấu hiệu khẳng định sự thỏa thuận phân công trách nhiệm giữa hai nước. Trong báo cáo về hội nghị, đại sứ Chauvel viết: "Sự phát triển của hội nghị đã không làm xuất hiện sự đối lập hay bất đồng quan điểm nào giữa ml và Chu Ân Lai nhưng chỉ là (...) trong sự phân công trách nhiệm về thẩm quyền, Molotov phụ trách giải quyết các vấn đề chung còn để Chu Ân Lai chịu trách nhiệm về các vấn đề ở châu Á. Làm như vậy là tạo cho Đoàn đại biểu Trung Quốc hình ảnh về người cầm đầu ở châu Á. Chuyến đi của Chu Ân Lai ở New Delhi và Yangon làm mọi người chú ý là theo một đường lối vạch sẵn"7 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/Báo cáo của Jean Chauvel, 15-11-1954, tr.8 ). Lập trường của Liên Xô, thực tế là hạn chế Trung hoa nhân dân trong vai trò một cường quốc khu vực mà thôi. Đại tá Ghi-éc-ma khi kiểm điểm lại các cuộc tiếp xúc với người Trung Quốc ở Giơ-ne-vơ, sẽ ghi lại sự kiểm soát các cuộc đàm phán khi nào vấn đề đem ra tranh cãi là những nguyên tắc chung hay khi vấn đề nâng lên mức toàn cầu"8 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/Bản ghi nhớ của Tùy viên quân sự gửi Bộ tham mưu lực lượng vũ trang-Cục 2/Paris; về vấn đề "Trung hoa nhân dân ở Giơ-ne-vơ.../số 245.AM/Băng Cốc/31-8-1954 tr.8 ). Từ đó, làm sao một thái độ như vậy lại không đụng chạm đến mưu đồ của Trung Quốc về tư cách là cường quốc thứ năm có sứ mệnh giải quyết các vấn đề thế giới nói chung? Có nhiều chứng cớ về không có sự bất đồng giữa Liên Xô và Trung Quốc, nhưng phải thấy tình hình như vậy là kết quả của sự yếu kém tạm thời của một nước Trung hoa buộc phải theo đường lối của Liên Xô. Nhưng chắc chắn là sự ăn ý ngoài mặt của hai đoàn đại biểu che giấu một đối lập rõ ràng của Trung Quốc chống lại cách thức của Liên Xô về sự phân công trách nhiệm quốc tế trong nội bộ khối các nước xã hội chủ nghĩa9 (Vấn đề lãnh đạo phe xã hội chủ nghĩa sẽ là một trong những đề tài lớn gây bất đồng trong cuộc tranh cãi Xô-Trung sẽ nổi lên mấy năm sau).


Mặt khác, điều này hình như được khẳng định bằng nhiều bằng chứng của các đại biểu hoặc người quan sát của hội nghị thường hay nhấn mạnh cách xử sự rất độc lập của Trung Quốc.


Kritna Menon, đại sứ Ấn Độ tại Mát-xcơ-va, kiêm nhiệm tại Warsawa, vốn có nhiều quan hệ với Thủ tướng Trung Quốc, ngay từ những tuần lễ đầu của hội nghị đã cho đại sứ Pháp tại Ba Lan biết rằng "mối quan hệ giữa Bắc Kinh và Mát-xcơ-va tuyệt nhiên không giống với quan hệ giữa Mát-xcơ-va và Warsawa". Kinh nghiệm thu lượm được ở Trung Quốc, nơi K.Menon đã làm đại sứ, khiến cho ông ta "nghĩ rằng người Liên Xô không phải là không nghi ngại người Trung Quốc và Mao Trạch Đông về thực tế tự coi như cao hơn Malenkov"10 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/Điện Dennery/Warsawa, số 615-616/20-5-1954). Một tháng sau, ông ta đã tâm sự với đại diện Pháp tại Liên hiệp quốc rằng "sẽ là một sai lầm lớn nếu tin rằng các đoàn đại biểu Trung Quốc và Việt Minh mù quáng theo đuôi những chỉ thị của Mát-xcơ-va"11 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/Điện Hoppenot/New York số 1540-1551/20-6-1954). Một nhà quan sát thạo tin như H.Trevelyan cũng cho rằng Chu Ân Lai "không bao giờ tỏ ra dễ bảo đối với các chỉ thị của Liên Xô"12 (H.Trevelyan, sách đã dẫn, tr.85). Nhưng chứng cớ rõ nhất về cách xử sự độc lập một cách thẳng thừng của Trung Quốc khiến Liên Xô đã phải lo ngại, là nhận xét sau đây của Molotov thổ lộ với Bi-đơn Xmit trong đàm phán: "Nước Trung hoa mới (...) là một nước non trẻ. Dân của họ lúc nào cũng vẫn là Trung hoa, họ không chấp nhận lối suy nghĩ theo người châu Âu. Chính chúng tôi cũng không lúc nào không lo ngại về họ"13 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/Điện Đoàn đại biểu Pháp/Giơ-ne-vơ số 458-467/24-5-1954. Chúng tôi gạch dưới. Câu nói này chưa biết chính xác đến đâu. Ở đây chúng tôi tự giới hạn vào việc nhắc lại câu nói của Khrushchev sau chuyến thăm Trung Quốc tháng 9-tháng 10 năm 1954, được đưa vào tập Hồi ký Khrushchev "cuộc xung đột với Trung Quốc là không thể tránh được" (sách đã dẫn, tr.444)).


Chắc chắn là những nhận định trên chỉ nhằm chứng minh rằng Trung Quốc có lập trường độc lập với Liên Xô. Tuy nhiên trong thái độ đó làm sao không nhìn thấy biểu hiện của một ý chí dân tộc không chịu lẫn lộn những lợi ích riêng của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa với những mục tiêu chung của phe xã hội chủ nghĩa mà đến lúc đó Liên Xô vẫn là người phát ngôn duy nhất? Trên cơ sở những nguồn tư liệu có thể sử dụng được, chúng tôi không thể kết luận được rằng việc nghiên cứu về hội nghị Giơ-ne-vơ đem lại một chứng cớ nào đó về sự tồn tại ngay từ 1954 những bất đồng Trung-Xô14 (Tuy nhiên, chính là dư luận ngày nay của nhiều nhà chuyên gia nghiên cứu về Trung Quốc. Ví dụ như James Hsieh Hsiung sách đã dẫn, tr.54 và tiếp theo. Tác giả cuốn sách này lưu ý rằng bộ sách Trung Quốc hiện đại sử của Liu Pei Hua, xuất bản ở Bắc Kinh 1954 là cuốn sách đầu tiên đưa ra một bản đồ về các vùng đất của Trung Quốc bị nước Nga Sa hoàng chiếm cứ). Nhưng ngược lại, thái độ độc lập của Trung Quốc lúc đó có vẻ được khẳng định đến nỗi khó có thể không coi đó như một hiện tượng không bình thường trong nội bộ phe xã hội chủ nghĩa mà đặc điểm chủ yếu ở thời ký đó là sự thống nhất thành một khối vững chắc không phải bàn cãi gì. Có lẽ không cần phải lược bớt câu kết luận của báo chí Nam Tư nói rằng hội nghị Giơ-ne-vơ đã chứng tỏ Trung Quốc không phải là một nước Cộng sản như những nước khác, Trung Quốc nghĩ bằng cái đầu và nói bằng cái lưỡi của chính họ15 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/Tin của E.Burin des Roziers/Belgrade/số 807 E.U/29-7-1954).
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 1397



WWW
« Trả lời #146 vào lúc: 07 Tháng Năm, 2020, 10:03:21 pm »

Tình trạng đối kháng không suy chuyển trong quan hệ Trung-Mỹ

Về quan hệ Trung-Mỹ, hội nghị Giơ-ne-vơ trước hết đã chứng minh ràng trong trường hợp cần thiết, mọi sự bình thường hóa giữa hai thủ đô là không thể có được.


Đúng là phần lớn cố gắng của Trung Quốc đều nhằm chống lại Mỹ một cách có hệ thống. Toàn bộ hoạt động ngoại giao của Chu Ân Lai đều nhằm đạt được một giải pháp tránh không để Mỹ can thiệp quân sự trực tiếp vào Đông Dương, đồng thời đảm bảo chống lại khả năng Mỹ nhúng tay vào công việc nội bộ của ba nước ở Đông Dương. Nhưng ngoài những mối quan tâm đến tình hình bản thân Đông Dương, toàn bộ chính sách của Trung Quốc triển khai ở Giơ-ne-vơ đều đụng chạm đến chính phủ Washington. Đại tá Ghi-éc-ma tóm tắt chính sách ấy như sau:

"Tất cả để nhằm cô lập Mỹ về tinh thần và về chính trị trước dư luận thế giới (...). Người ta cám dỗ nước Pháp bằng cách giúp vào việc lập lại hòa bình ở Việt Nam, cám dỗ nước Anh bằng cách đưa ra những đề nghị tăng gấp bội về hợp tác kinh tế, cám dỗ các nước Đông Nam Á bằng những dẫn chứng có thể được về sự vô tư. Chỉ có một kẻ thù là Mỹ và Mỹ bị đả kích về mọi nhược điểm trong chính sách viễn đông của mình"16 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/bản ghi nhớ của tùy viên quân sự gửi Bộ tham mưu lực lượng vũ trang-Cục 2-Paris về vấn đề "nước Trung hoa nhân dân tại Giơ-ne-vơ/số 245. AM/Băng Cốc, 31-8-1954, tr.14).


Sự phản ứng của Mỹ đối với lối xử sự của đoàn đại biểu Trung Quốc tại Giơ-ne-vơ càng tiêu cực hơn nữa như ở Viễn Đông lúc này, tình hình căng thẳng không ngừng tăng lên, nhất là vùng eo biển Đài Loan. Vào cuối tháng 7 năm 1954, trong lúc London và Paris quan sát Trung Quốc từ Giơ-ne-vơ, còn Washington thì quan sát họ từ Đài Bắc.


Không đầy 48 tiếng đồng hồ sau lúc bế mạc hội nghị, nhiều vụ rắc rối nghiêm trọng xảy ra ở biển Trung Hoa. Đúng thế, ngày 23 tháng 7 tại ngoài khơi đảo Hải Nam, hai máy bay khu trục Trung Quốc đã tấn công một tàu buôn của hãng Cathay Pacific lâu nay vẫn đảm bảo nối liền đều đặn Hồng Công và Băng Cốc. Trong số nạn nhân có 6 người Mỹ. Hai ngày sau, ngày 25 tháng 7 đến lượt máy bay Mỹ hạ máy bay khu trục Trung Quốc ở vùng khu vực ấy17 (Thông cáo của Bộ Ngoại giao đăng ở thời báo New York 28-7-1954, Thông cáo của Bộ Ngoại giao Trung Quốc đăng ở trang bản tin Tân hoa xã Bắc Kinh 27-7-1954. Phản ứng của Trung Quốc đăng ở Đại công báo 2-8-1954). Tổng lãnh sự Pháp tại New York báo cáo về thái độ phản ứng trong dư luận Mỹ như sau:

"Không phải chỉ có báo chí mà đông đảo quần chúng nhiệt liệt vui mừng về tin hai máy bay hải quân Mỹ đã "hạ" hai máy bay Trung Quốc. Tin này đưa đến vào lúc tôi đang dự tiệc buổi trưa. Tất cả những người có mặt trong bữa tiệc, không trừ một ai, đều hoan ngênh sự giáng trả của Mỹ, chứng tỏ tằng Mỹ đứng lên khi cần phải đối phó với cường quốc Trung hoa"18 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/Tin điện của Lagarde/về vấn đề đình chiến ở Đông Dương số 229/New York/28-7-1954. Xem thêm "Le Monde" (báo Thế giới) 28-7-1954).


Ngày hôm sau 26 tháng 7, tổng thống Lý Thừa Vãn đến Mỹ trong một cuộc đi thăm chính thức bốn ngày19 (Về cuộc đi thăm này, xem Coral Bel, sách đã dẫn, tr.278-280). Tại quốc hội Mỹ ngày 28, ông ta đọc một bài diễn văn hùng hổ nói rằng theo ý kiến ông ta, sự thất bại của hội nghị Geneva về Triều Tiên làm cho hiệp định đình chiến tháng 7 năm 1953 không còn hiệu lực nữa. Từ đó, không còn trông vào đâu được nữa ngoài vũ khí: quân đội Nam Triều Tiên và Trung hoa quốc gia, với sự yểm trợ của không quân Mỹ có thể thống nhất Triều Tiên và tiêu diệt luôn chế độ cộng sản Trung Quốc20 (Toàn văn bài diễn văn đăng ở Thời báo New York 29-7-1954. Phản ứng của Trung Quốc trong Đại công báo 31-7-1954, Bản tin Tân hoa xã, Bắc Kinh, 31-7-1954; Nhân dân nhật báo 3-8-1954). Tất nhiên, đề nghị của người đứng đầu Nam Triều Tiên chỉ tìm thấy tiếng vang trong các giới cực đoan của Mỹ. Nhưng trong năm bầu cử, đề nghị đó gây nên những cuộc tranh cãi nội bộ về các vấn đề châu Á, cũng như sự phản ứng của dư luận trước sự kiện trên không phận đảo Hải Nam không thuận lợi cho một sự đánh giá nghiêm chỉnh về cách xử sự của Trung Quốc tại hội nghị Geneva.


Bối cảnh đó đủ giải thích những bình luận nhiều khi thù nghịch của báo chí Mỹ21 (Cũng phải kể đến sự trỗi dậy cuối cùng nhưng nghiêm trọng của chủ nghĩa phát xít Maccaty. Xem D.D.Eisenhower, sách đã dẫn, tr.316-331) về thái độ và vai trò của Trung Quốc trong việc giải quyết cuộc khủng hoảng Đông dương. Chắc chắn là có một vài người viết xã luận cố gắng phân tích sâu sắc và đưa ra những khía cạnh khác nhau về lập trường của chính phủ Bắc Kinh. Ví dụ như tờ Thời báo New York viết "Trung Quốc đã hành động thận trọng" và là đồng minh của Liên Xô nhưng không phải vì vậy là "đồ chơi" của Liên Xô (ally of Russia, but not puppet)22 (New York Times, 21-8-1954). Nhưng kiểu phản ứng như vậy khá hiếm. Nói chung, sau hội nghị Geneva, Trung Quốc bị báo chí Mỹ đánh giá nghiêm khắc với mức ngang như năm trước, sau khi chiến tranh Triều Tiên kết thúc. Ngoài ra điều đáng chú ý là phần ớn các giới hữu trách chính trị và các nhà bình luận báo chí thường nói về sự đe dọa cộng sản nói chung hơn là hành động của chính Trung Quốc. Như Welliam Bullit đã từng làm Đại sứ Mỹ tại Liên Xô và Pháp viết trong tạp chí Look (Nhìn xem) rằng việc giải phóng lục địa Trung hoa đã trở nên cấp bách để thay đổi thế cân bằng lực lượng trên thế giới:

"Việc giải phóng lục địa Trung hoa là chìa khóa của toàn bộ châu Á, đã đưa lại một sự thay đổi thế cân bằng lực lượng như vậy, nếu bây giờ chính phủ Mỹ tổ chức một cuộc tiến công phối hợp chống những người cộng sản Trung Quốc, không sử dụng lính Mỹ nào khác hơn là những đơn vị đóng ở Triều Tiên, nhưng dùng hải quân Mỹ để bao vây bờ biển Trung Quốc và không quân Mỹ để oanh tạc các mục tiêu thích hợp. Một phần lớn gánh nặng các cuộc hành quân trên bộ sẽ giao cho người Triều Tiên và người Trung hoa tự do đảm nhiệm, bằng cách tăng gấp đôi quân số hiện nay của họ. Như vậy lục địa Trung hoa có thể lấy lại từ tay Cộng sản và những quả bom hiện nay đã được Liên Xô chuẩn bị để tiêu diệt chúng ta có thể không bao giờ ném xuống (...). Để sống, nếu chúng ta chọn con đường Viễn đông, chúng ta sẽ thấy ở Đài Loan những chiến sĩ chỉ yêu cầu được sử dụng để trả lại sự đóng góp của 450 triệu người Trung hoa ở lục địa cho thế giới tự do. Họ sẵn sàng chết vì tự do của họ, và vì tự do của chúng ta"23 (Look (Nhìn xem) 10-8-1954, William Christian Bullit 1891-1967 nguyên là Đại sứ Mỹ tại Liên Xô từ 1933 đến 1936 và ở Pháp từ 1936 đến 1941).


Đúng là những luận điệu như vậy, không xa lạ mấy với những tuyên bố cực đoan của Thượng nghị sĩ Knowland hay của Tổng thống Lý Thừa Vãn, có lẽ không phản ánh dư luận áp đảo của công chúng Mỹ. Nhưng trái lại, nó phản ánh tình cảm của một vài giới cầm quyền nhậy cảm với tình hình căng thẳng đang phát triển ở eo biển Đài Loan hơn là với thái độ ngoại giao hòa giải của Chu Ân Lai ở Geneva.
Tình hình xấu đi ở Viễn đông trong những tháng tiếp theo hội nghị Geneva sẽ làm cho dư luận Mỹ tin tưởng thêm rằng Trung hoa nhân dân theo đuổi một chính sách chủ yếu là xâm lược ở Đông Á. Ngày 3-9-1954 bắt đầu những trận pháo kích đầu tiên của Cộng sản vào đảo Kim Môn do những người quốc gia chiếm giữ. Hai tháng sau, đến lượt đảo Đại Trần bị pháo kích. Thượng nghị sĩ Knowland, lãnh tụ Đảng cộng hòa, yêu cầu dùng hải quân Mỹ phong tỏa bờ biển Trung Quốc để trả đũa. Cuối tháng 11, chính phủ Bắc Kinh trả lời lại bằng cách kết án tù về vội gián điệp đối với 11 phi công Mỹ bị bắt ở Triều Tiên24 (Về việc kết án các phi công nói trên, xem bản án trong tin Tân hoa xã, Bắc Kinh ngày 23-11-1954). Bấy nhiêu sáng kiến đó chỉ có thể làm gay gắt thêm những tình cảm chống Trung Quốc trong dư luận Mỹ. Tờ thời báo New York cũng vậy, bình luận về vụ phi công bị kết án, với lời lẽ hêt sức cứng rắn: "Danh sách dài dằng dặc về các vụ lăng nhục chưa kết thúc. Không có một dấu hiệu nào là nó sẽ chấm dứt ít nhất trong tương lai gần (...). Trung hoa đỏ tăng gấp bội các lời lẽ đường mật nhưng lại hành động một cách điên cuồng. Nếu người Mỹ "ngoan cố" thì họ cũng có lý do để họ ngoan cố"25 (New York Times, 28-11-1954).


Nhưng ngược lại, nhìn từ Bắc Kinh, chính sách của Mỹ ở Viễn đông cũng tỏ ra đe dọa như vậy. Đến tháng 9 sẽ ký kết tại Manila hiệp ước phòng thủ Đông Nam Á mà Washington đã trù liệu việc thành lập từ nhiều tháng nay, và không bao giờ che giấu tính chất chống Trung Quốc của nó26 (Về phản ứng của Trung Quốc đối với hiệp ước Manila xem đoạn trên ở chương X). Rồi đầu tháng 12, Mỹ sẽ ký một hiệp ước phòng thủ chung với Cộng hòa Trung hoa (Đài Loan), mà Bắc Kinh sẽ tức giận coi như xúc phạm đến toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc.


Có nghĩa là trong những tháng tiếp theo ngay hội nghị Geneva, quan hệ giữa hai nước sẽ hết sức căng thẳng. Ở Trung Quốc, diễn văn, phản kháng, xã luận nối tiếp nhau không ngớt, đả kích kịch liệt hơn bao giờ hết đế quốc Mỹ. Tại Mỹ, hình ảnh của Trung Quốc xuống thấp nhất từ chiến tranh Triều Tiên. Tháng 12 năm 1954, A.S.Jenkins phụ trách theo dõi Trung Quốc tại Bộ Ngoại giao Mỹ cũng kết luận bằng một bài diễn văn tố cáo cái gọi là "tiến công hòa bình" của Trung Quốc như sau:

"Tôi tin rằng cảnh tượng ngạc nhiên và kỳ quặc nhất mà tôi chưa bao giờ thấy là trong lúc những người cộng sản Xô viết và Trung Quốc ở Geneva nhắc lại rằng chế độ cộng hòa nhân dân có "quyền" đối với chiếc ghế của Trung Quốc tại Liên hợp quốc, thì những hành động không hợp pháp và sự khinh thị Liên hợp quốc của chế độ đó lại là lý do cần thiết triệu tập hội nghị này. Tính chất rõ ràng không thực của cảnh tượng đó có lẽ sẽ thú vị nếu nó được đặt trong khuôn khổ thích hợp của một cuốn tiểu thuyết viễn tưởng hơn là trong khuôn khổ của những sự thực nghiêm túc nhất. Sự có mặt của nước Trung hoa cộng sản tại Liên hợp quốc không những là nguy hiểm, không ai mong muốn mà còn hoàn toàn không thể quan niệm được trong hoàn cảnh hiện tại và trong tương lai trước mắt"28 (China and the Communist "Peace offensive" (Trung Quốc và tiến công hòa bình của cộng sản), Bộ Ngoại giao Mỹ, Washington, tr.7. Trái với điều muốn nói trong bài này, người ta đã ghi nhận sự kín đáo của Chu Ân Lai trong thời gian hội nghị, đối với vấn đề đại diện của Trung Quốc tại Liên hợp quốc).


Đại sứ Chauvel đã tuyên bố tại một cuộc hội nghị các đại diện ngoại giao của Pháp tại Đông Nam Á, họp tháng 9 năm 1954 ở Băng Cốc: "Người Mỹ tuyệt nhiên không tỏ ra sẵn sàng lấy việc thay đổi thái độ của họ đối với Trung hoa nhân dân để trả giá cho những biện pháp của Bắc Kinh nhằm chấm dứt chiến tranh Đông dương"29 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/Dự thảo báo cáo về hội nghị Băng Cốc (10-10-1954)). Ngoài các cuộc tiếp xúc được móc nối giữa đại diện lãnh sự Trung Quốc và Mỹ ở Geneva, hội nghị đã không đem lại một sự cải thiện rõ rệt nào trong quan hệ Trung-Mỹ. Nếu tinh thần cùng tồn tại hòa bình có tiến triển ít nhiều ở Geneva, tinh thần chiến tranh lạnh còn ngự trị trong toàn bộ quan hệ giữa Washington và Bắc Kinh.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 1397



WWW
« Trả lời #147 vào lúc: 07 Tháng Năm, 2020, 10:05:01 pm »

Phác qua một chính sách độc đáo của Trung Quốc tại Tây Âu

Nếu thái độ của Trung Quốc ở Geneva rõ ràng là do thái độ của Mỹ ở Viễn đông chủ yếu quyết định thì trái lại, khi kết thúc một cuộc hội nghị có mục đích giải quyết một cuộc khủng hoảng ở Đông Nam Á mà tự hỏi về vị trí của Tây Âu trong chính sách của Trung Quốc lúc đó là có vẻ ngược đời. Mới thoạt nhìn vào đề tài các cuộc thương lượng, cũng như thời gian thương lượng quá sớm trong lịch sử quan hệ đối ngoại của nước Cộng hòa Nhân dân Trung hoa, sự suy nghĩ như vậy hình như không thích hợp.


Đối với Trung Quốc, vấn đề Đông dương trực tiếp dính líu đến Trung Quốc không phải chỉ trong thời gian nhưng cũng là trong không gian. Đó là cái cấp bách nhất. Vậy chính là để giải quyết nó mà Chu Ân Lai đã tập trung phần lớn cố gắng của mình vào đấy. Tất cả các cuộc thương lượng mà ông ta đã có thể tiến hành song song luôn luôn được ông ta coi là phụ và giải quyết như một vấn đề phụ. Ngoài ra, mặc dù có sự đối lập, có lẽ chia rẽ Liên Xô với Trung Quốc trong một vài điểm mà chúng tôi cố gắng nêu lên trong chừng mực các nguồn tin của chúng tôi cho phép, mối quan hệ Xô-Trung năm 1954 là những mối quan hệ đồng minh. Điều đó có nghĩa, một mặt những khía cạnh chống Liên Xô là đặc điểm của chính sách Trung Quốc ở Tây Âu mấy năm sau-mặt khác sự phân công trách nhiệm giữa hai nước-Trung Quốc chỉ đóng vai trò năng động đối với các vấn đề Viễn đông-không tạo thuận lợi được bao nhiêu cho việc phát triển một chính sách độc đáo của Trung Quốc ở châu Âu. Chính vì vậy, Trung Quốc đã có thể tiến hành thương lượng ở Geneva mà không bao giờ đả động đến vấn đề cộng đồng phòng thủ châu Âu là vấn đề nổi bật nhất ở châu Âu lúc đó30 (Tuy nhiên, chúng ta lưu ý rằng trong khi yêu cầu Daniel Mayer là Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại trong Quốc hội Pháp, cử một đoàn nghị sĩ đến gặp ông ta ở Geneva, Chu Ân Lai đã nói rõ rằng ông ta ước ao đoàn Quốc hội đó sẽ gồm các nghị sĩ đối lập với cộng đồng phòng thủ châu Âu (CED) (Do đó đã chọn Savary và Lacoste). Xem đoạn trên ở chương V. Nói chuyện với ông Savary ngày 1-7-1954), trong khi vấn đề này, trái lại, đã giữ một vị trí quan trọng trong lập luận của Liên Xô31 (Thực ra vấn đề đặt ra là tình trạng quan hệ kinh tế Trung-Xô).


Mặc dầu có những sự dè dặt đó mà người ta không được hạ thấp trọng lượng của nó, chúng ta vẫn có thể phát hiện thấy trong cách xử sự của Trung Quốc ở Geneva một vài "mầm mống" của một chính sách châu Âu sẽ được phát huy đầy đủ, rất muộn về sau này, trong một bối cảnh khác nhau về căn bản.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 1397



WWW
« Trả lời #148 vào lúc: 07 Tháng Năm, 2020, 10:07:13 pm »

Những mâu thuẫn Mỹ-Tây Âu

Trước hết, ngay từ thời kỳ này Trung Quốc đã tìm cách móc nối các quan hệ riêng biệt về kinh tế với Tây Âu. Chắc chắn là mục tiêu của nước Cộng hòa Nhân dân Trung hoa trong lĩnh vực này trước hết là để đối phó trực tiếp với chính sách cấm vận của Mỹ. Tức là chính phủ Bắc Kinh chủ yếu mong muốn tăng gấp bội các hiệp định buôn bán với bất cứ nước ngoài nào cũng được. Vì vậy mà trong thời gian hội nghị Geneva, người ta đã thấy Trung Quốc ký kết hoặc đàm phán để ký kết các hiệp định với nhiều nước khác nhau như Phần Lan, Anh hay Indonesia. Về phương diện này, Tây Âu chỉ là một trong những khu vực mà Trung Quốc mong muốn phát triển việc trao đổi buôn bán.


Tuy nhiên, cũng rõ ràng là trong hàng loạt các nước đó, các nước công nghiệp phát triển nhất ở Tây Âu được Trung Quốc đặc biệt quan tâm. Chỉ cần nhắc lại danh sách một vài công ty có tiếp xúc với các cơ quan thương mại của Trung Quốc ở Geneva cũng đủ để thuyết phục như Công ty rèn, ép Jemmapes (Forges et Laminoirs de Jemmapes) công ty thép Creusot (Aciéries du Creusot). Trung Quốc chủ yếu mong muốn nhập thiết bị cơ bản và sản phẩm chế tạo theo trình độ kỹ thuật tiên tiến, đáp ứng đòi hỏi của việc thực hiện kh 5 năm lần thứ nhất. Không kể Liên Xô và các nước anh em khác ở Đông Âu32 (Lúc này như thế nào? Tư liệu của chúng tôi dĩ nhiên không đủ để trả lời câu hỏi này. Chúng tôi chỉ lưu ý rằng nước Cộng hòa Nhân dân Trung hoa không bao giờ tham gia Hội đồng tương trợ kinh tế (COMECON) thành lập năm 1949. Về vấn đề này, xem Sidney Klein, sách đã dẫn, và Robert O.Freedman, Economic Warfare in the Communist Bloc. A Study of Soviet Economic Pressure aganist Yugoslavia, Albania and Communist China (Chiến tranh, kinh tế trong khối cộng sản. Nghiên cứu về sức ép kinh tế của Liên Xô đối với Nam Tư, Albania và Trung hoa Cộng sản) Praeger, New York, 1970, tr.103-111), các mặt hàng này chỉ có thể tìm thấy ngoài Tây Âu, ở các nước Mỹ và Nhật. Vậy mà hoàn cảnh quốc tế ngăn cấm Trung Quốc hy vọng đạt được quan hệ buôn bán thực chất với hai nước đó. Vậy thì Tây Âu là khu vực duy nhất có thể đem lại những triển vọng hứa hẹn. Nếu tiêu chuẩn chính trị đóng vai trò quyết định trong sự đối kháng Trung-Mỹ, kể cả trong tình trạng hai nước không có quan hệ kinh tế với nhau, ngược lại tiêu chuẩn đó hình như lại không hướng Trung Quốc vào nước Tây Âu này hơn nước Tây Âu khác. Tại Geneva, Trung Quốc đã nói chuyện với bất kể là với Thụy Sĩ (là nước duy trì quan hệ với chế độ Bắc Kinh ở mức đại biện) hay với Pháp, Tây Đức, Bỉ, Italia (là những nước hãy còn chưa công nhận Cộng hòa Nhân dân Trung hoa). Tình hình đó sẽ lại xuất hiện mấy năm sau trong quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc và Tây Âu33 (Năm 1970, ngoại thương của Trung Quốc với các nước Tây Âu chia ra như sau (tính ra triệu đôla). Tây Đức: 270 (chưa Công nhận Cộng hòa Nhân dân Trung hoa. Anh: 212 (đã công nhận Cộng hòa Nhân dân Trung hoa năm 1950. Pháp: 154 (đã công nhận Cộng hòa Nhân dân Trung hoa năm 1964). Ý: 132 (đã công nhận Cộng hòa Nhân dân Trung hoa năm 1970). Hà Lan: 58 (đã công nhận Cộng hòa Nhân dân Trung hoa năm 1950)).


Nhưng nếu người ta muốn nói đến nguồn gốc chính sách của Trung Quốc đối với châu Âu nhân dịp họp hội nghị Geneva, không phải lý do ở những cuộc tiếp cận thương mại đầu tiên, đó mới chỉ là khía cạnh hoàn toàn nhỏ bé của vấn đề. Điều chủ yếu là ở chỗ khác, ở tình hình thuần túy chính trị.


Từ hội nghị Berlin đến hội nghị Geneva, Trung Quốc không ngừng khẳng định như là một cường quốc, quan tâm đến toàn bộ vấn đề trên thế giới, đặc biệt là vấn đề châu Âu34 (Xem đoạn trên ở chương IV). Sau khi đã có thể thảo luận ngang hàng với các cường quốc phương Tây về hai trong các vấn đề quốc tế. Vấn đề Triều Tiên và vấn đề Đông dương-nước Cộng hòa Nhân dân Trung hoa cho rằng hơn lúc nào hết, mình được phép thảo luận các vấn đề quan trọng khác để xây dựng thế cân bằng quốc tế. Rút ra những kế quả của các hiệp định về Đông dương, Chu Ân Lai tuyên bố ở Berlin ngày 24 tháng 7: Nhân dân Trung Quốc liên quan đến hòa bình không phải chỉ ở châu Á mà cũng ở châu Âu nữa35 (Tân hoa xã, Berlin 25-7-1954. Câu này được Chu Ân Lai nhắc lại trong báo cáo trước Hồng đồng Quốc vụ viện 21 tháng 8 ). Thông cáo Trung Quốc-Đức công bố hôm sau nói về quan hệ hai nước, đồng thời nói về an ninh tập thể ở châu Âu và việc vũ trang lại Tây Đức36 (Như trên, Berlin, 26-7-1954). Ngày 27 tháng 7 tại Warsawa, thủ tướng Trung Quốc nhắc lại hai chủ đề này37 (Như trên, Warsawa, 28-7-1954). Trong cùng thời gian, tờ Nhân dân nhật báo cũng đăng một bài dài về an ninh châu Âu38 (Nhân dân nhật báo, 27-7-1954).


Nhưng về các vấn đề khác, nhân hội nghị Geneva, Trung Quốc biết tỏ thái độ, rút cục lại là những nhân tố đầu tiên của chính sách đối với Tây Âu. Thường hơn cả, là thực tế đem đối lập lợi ích của Tây Âu với lợi ích của Mỹ. Người ta còn nhớ, lúc sắp họp hội nghị, Trung Quốc đã nhấn mạnh đến lợi ích của châu Âu (nhất là của Pháp và của Anh) ở châu Á. Cũng thế, khi thông cáo Trung Quốc-Đức ngày 26 tháng 7 ca ngợi sự phát triển và tăng cường hơn nữa quan hệ kinh tế giữa Cộng hòa liên bang Đức và Trung Quốc đó là "chiếu cố đến lợi ích của nhân dân Đức"40 (Xem đoạn trên ở chương III). Bản thông cáo nói tiếp: "Một bộ phận lớn các giới kinh tế Tây Đức không tán thành các mối quan hệ một chiều giữa Cộng hòa liên bang Đức và lợi ích của các độc quyền Mỹ"41 (Tân hoa xã, Berlin, 26-7-1954). Để tố cáo hơn nữa dự án của Mỹ về phòng thủ chung ở Đông Nam Á, tờ Nhân dân nhật báo đã nhắc lại rằng liên minh này đi đến "đánh bật Anh và Pháp ra khỏi vùng này"42 (Nhân dân nhật báo, 22-7-1954 (Xã luận)). Người ta có thể nhận xét rằng khi đánh giá những khác nhau về chính sách của Bi-đôn và Măng-đét Phrăng, báo chí Trung Quốc thường kèm theo việc phân tích lối xử sự của hai người đó đối lập nhau trong thái độ đối với Mỹ, vì vậy, trong bài xã luận ngày 22-7-1954, Nhân dân nhật báo so sánh hai thái độ của hai vị chính khách Pháp trong cuộc thương lượng về Đông dương đã viết: "Đoàn đại biểu Pháp của Chính phủ hiếu chiến Laniel Bidault đã đi ngược lại nguyện vọng của nhân dân Pháp, theo đuôi chính sách tiếp tục và mở rộng chiến tranh của Mỹ". Đúng vậy, rõ ràng tiêu chuẩn quyết định đối với Trung Quốc là chính sách của mỗi bên trong hai chính phủ đó đối với cuộc khủng hoảng Đông dương. Trong trường hợp thứ nhất, Trung Quốc có nguy cơ phải đối phó với một cuộc can thiệp của Mỹ ở Đông dương; trong trường hợp thứ hai, khả năng về một nền hòa bình thông qua thương lượng loại trừ mối đe dọa của Mỹ có nhiều hơn. Nhưng ngoài những sự quan tâm trước mắt, giọng của báo chí Trung Quốc cũng như thái độ của Chu Ân Lai tại Geneva có vẻ như phản ánh ý muốn lâu dài là khai thác những khó khăn giữa Mỹ và Tây Âu để cô lập Mỹ.


Nói một cách tổng quát, thái độ của Trung Quốc đối với Tây Âu, như đã được bày tỏ trong thời gian hội nghị Geneva, tỏ ra phụ thuộc chặt chẽ vào Liên Xô trong những điểm chủ yếu, nhất là về vấn đề Đức và an ninh tập thể. Chỉ nhớ rằng đối với Trung Quốc, có hai mục tiêu ưu tiên:

1.Đi tới bình thường hóa quan hệ với các nước Tây Âu, trước mắt là về thương mại (đây là khía cạnh duy nhất được đoàn đại biểu Trung Quốc đề cập trong các cuộc đàm phán tay đôi ở Geneva). Về lâu dài về ngoại giao.

2.Khẳng định sứ mệnh của Trung Quốc với tư cách là cường quốc thứ 5, được thảo luận các vấn đề châu Âu cũng như các vấn đề quốc tế khác.


Ngoài những phương hướng cơ bản được thể hiện khá rõ rệt với các nhà thương thuyết và nhà quan sát đương thời, chúng tôi còn thấy trong giai đoạn Geneva-mặc dù chưa có chứng cớ rõ rệt-đã ló ra cái quan niệm của Trung Quốc về một Tây Âu thống nhất ở mức độ nhất định do có mâu thuẫn giữa Tây Âu và Mỹ43 (Ở đây chúng tôi dùng chữ thống nhất (UNITÉ) trong nghĩa của phương Tây về "thống nhất châu Âu-Unité européenne (năm 1954 sự thống nhất này chưa có mấy) không bằng nghĩa của Trung Quốc về: "thống nhất" (cuộc đấu tranh) của các dân tộc cùng chung cảnh ngộ bị đế quốc áp bức: Do đó cũng vào lúc này Trung Quốc nói đến thống nhất giữa Trung Quốc và Ấn Độ trong chừng mực hai nước đã chịu khổ vì chủ nghĩa thực dân Anh); trước hết là ở châu Á mà Trung Quốc có thể hy vọng lợi dụng được, thậm chí trong một phạm vi tổng quát hơn (buôn bán quốc tế, quan hệ ngoại giao, Liên hợp quốc). Thực ra đến năm 1954, khía cạnh này trong chính sách của Trung Quốc chắc là chưa dễ thấy nhất đâu44 (Không có tài liệu tổng hợp nào của Bộ Ngoại giao Pháp nói về khía cạnh đó của chính sách Trung Quốc. Chauvel đã xác nhận điều này (buổi nói chuyện ngày 24-6-1975). Ông Guillermaz cũng cho rằng năm 1954 Trung Quốc chưa có chính sách gì về châu Âu chẳng hạn, ông nhận xét rằng tại Geneva Chu Ân Lai không có phân biệt gì giữa Bidault biểu tượng của chủ nghĩa Đại Tây dương và Mendès France là người lúc đó đã chuyển sang một chính sách độc lập hơn với Mỹ (cuộc nói chuyện ngày 14-3-1973). Bối cảnh của "chiến tranh lạnh" đương nhiên làm cho ngoại giao của Trung Quốc phải hoàn toàn giống Liên Xô cùng theo đuổi những mục tiêu tương tự. Nhưng có lẽ bối cảnh chiến tranh lạnh báo hiệu một cách chính xác nhất chính sách tương lai của Trung Quốc đối với châu Âu, đặc biệt là những lý thuyết về "khu vực trung gian thứ hai" ra đời vào những năm 1960 và về "thế giới thứ hai" những năm 197045 (Dĩ nhiên bối cảnh của thời kỳ này là cuộc xung đột Trung-Xô căn bản khác với tình hình năm 1954. Nhưng ý kiến về một Tây Âu bị Mỹ bóc lột, được nói ra từ năm 1954 sẽ là nền tảng của "mâu thuẫn" giữa "khu vực trung gian thứ hai" với chủ nghĩa đế quốc Mỹ).
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 1397



WWW
« Trả lời #149 vào lúc: 07 Tháng Năm, 2020, 10:11:07 pm »

Hình ảnh Trung Quốc ở Tây Âu

Bối cảnh chiến tranh lạnh ở Tây Âu cũng như ở Mỹ, làm cho việc xem xét chính sách của Trung Quốc thiếu khách quan. Trong lúc Điện Biên Phủ bị bao vây, việc Trung Quốc viện trợ ồ ạt cho Việt Nam đã làm chấn động một bộ phận dư luận Pháp. Rồi sau khi hội nghị Geneva bế mạc, vụ một máy bay thương mại-một phương tiện chở thư của một công ty Anh ở Hồng Công bị người Trung Quốc hạ ở ngoài khơi đảo Hải Nam ngày 23 tháng 7 gây ra ở Anh một sự xúc động dễ hiểu. Những sự kiện như vậy chỉ có thể nhen lên những tình cảm chống Trung Quốc của một bộ phận lớn trong dư luận Tây Âu. Dù sao tình hình đó cũng không thuận lợi mấy cho việc đánh giá thận trọng tính đặc thù trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc cũng như lợi ích có thể khai thác được về mặt thế cân bằng quốc tế.


Tuy nhiên, khung cảnh châu Âu rất xa lạ với khung cảnh ở Mỹ. Về đối nội, châu Âu không hề có biểu hiện của chủ nghĩa Maccarthysme-chủ nghĩa phát xít mới ở Mỹ-N.D). Nhưng về đối ngoại có những quan điểm đối chọi nhau kịch liệt, giữa Tây Âu và Mỹ. Một mặt, như Trung Quốc thường nhấn mạnh đúng là trước và trong thời gian hội nghị Geneva, trong nhiều trường hợp lợi ích của Mỹ và của Tây Âu không ăn khớp với nhau, nhất là ở Viễn đông. Một bộ phận dư luận, nhất là các giới kinh tế, ý thức được vấn đề đó. Mặt khác đối với PHáp cũng như đối với Anh, việc kết thúc chiến tranh Đông dương, trái ngược với điều xảy ra ở Mỹ, được đón nhận như một sự an ủi lớn lao hơn là một thất bại. Cuối cùng, trong cuộc khủng hoảng Đài Loan là vấn đề gay cấn nhất ở Viễn đông sau chiến tranh Triều Tiên và Đông dương, Tây Âu lại ít dính líu hơn rất nhiều, do đó dư luận cũng kém nhậy cảm hơn so với Mỹ. Bấy nhiêu nhân tố cắt nghĩa tác động rất khác nhau mà Trung Quốc thấy được ở Tây Âu về kết quả của cuộc thương lượng ở Geneva.


Đặc biệt là ở Anh; từ tháng 4 năm nay, chính phủ London giữ thái độ ôn hòa đối với vấn đề Trung Quốc, phần lớn báo chí bảo thủ cũng như báo chí Công Đảng đã tán thành những cố gắng của I-đơn cùng với Chu Ân Lai tìm ra công thức thỏa hiệp ở Đông dương. Dư luận rất hoan nghênh việc Trung Quốc cam kết tôn trọng độc lập của Lào và Campuchia mà Anh đặc biệt quan tâm46 (Ví dụ Times (Thời báo) 16-7-1954. Báo cáo trong hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/điện Massigli/London/số 2862 16-7-1954). Một cách tổng quát hơn, báo chí đã hoan nghênh ý muốn của Trung Quốc đi đến một giải pháp bằng thương lượng47 (Ví dụ Times (Thời báo) 19-7-1954. Báo cáo trong hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/điện Massigli/London/số 2876 19-7-1954) trùng hợp với mục tiêu của Anh. Vì vậy phản ứng của báo chí đối với hiệp định ngày 21 tháng 7 căn bản khác với phản ứng ghi được ở bên kia Đại Tây dương.


Tờ báo Người bảo vệ Manchester (Manchester Guardian) nêu bật ý chí hòa bình của Trung Quốc: "Về tinh thần, chúng ta sẽ ở thế yếu nếu chúng ta từ chối thương lượng trong lúc người Trung Quốc tỏ ra yêu chuộng hòa bình hơn. Đóng hết các cửa với người Trung Quốc, không đếm xỉa đến họ như nhiều người Mỹ mong muốn, sẽ là một chính sách yếu đuối và khờ dại"48 (Manchester Guardian (Người bảo vệ Manchester) 21-7-1954. Báo cáo trong hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/điện Massigli/London/ số 2902/21-7-1954). Về phần mình, tạp chí Nhà kinh tế học (The Economist) nhận xét rằng Trung Quốc đã có nhiều tiến bộ mới hướng về mục tiêu của họ là cơ được quy chế cường quốc"49 (The Economist (Nhà kinh tế học) 24-7-1954). Có thể trích dẫn nhiều bài xã luận khác để minh họa tính chất rất thực tế và xây dựng của các kết luận của Anh. Chắc chắn là điều đó không ngăn cản tờ báo đó lên tiếng cùng với nhiều báo khác ủng hộ việc thành lập tổ chức Hiệp ước liên minh phòng thủ chung Đông Nam Á, nhưng so với báo chí Mỹ thì giọng ôn hòa hơn nhiều. Tờ Điện tín hàng ngày (Daily Telegraph) viết rằng để có hiệu lực, một hiệp ước như vậy không được để cho các nước trong nhóm Cô-lôm-bô phản đối50 (Daily Telegraph (Điện tín hàng ngày) 21-7-1954. Báo cáo trong hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/điện Massigli/London/số 2902/21-7-1954), điều này có nghĩa là làm cho hiệp ước đó mất đi, càng nhiều càng hay, tính chất chống Trung Quốc mà lâu nay người ta thường gán cho Washington.


Nhưng ngoài những bài xã luận tức thời, trong những tháng tiếp theo, thường xuyên có một chiều hướng dư luận ủng hộ việc đề cập vấn đề Trung Quốc một cách thực dụng và nghiêm túc. Đây là đặc điểm nổi bật nhất của sự phản ứng của Anh. Bối cảnh các mối quan hệ tay đôi Trung-Anh sẽ càng ủng hộ nhiều cho tình hình trên. Như vậy đối với London, kết cục của sự kiện nghiêm trong ở đảo Hải Nam ngay từ hôm 26 tháng 7 sẽ là một công hàm xin lỗi của chính phủ Trung Quốc. Bắc Kinh giải thích rằng chiếc máy bay đã bị hạ vì tưởng lầm là của "bè lũ Quốc dân đảng". Trung Quốc tỏ ý tiếc về sự hiểu lầm này, tỏ lời chia buồn đến các gia đình nạn nhân và nhận sẽ bồi thường51 (Tân hoa xã, Bắc Kinh, 26-7-1954. Về vấn đề này xem H.Trevelyan sách đã dẫn, tr.110-111. Anh đòi bồi thường 367.000 bảng Anh. Trung Quốc bắt đầu trả từ tháng 12. Coral Bell, sách đã dẫn, tr.248). Một kết cục khác hẳn thấy ở Mỹ đối với vụ rắc rối xảy ra 24 tiếng đồng hồ trước đó khi máy bay hải quân của Mỹ đã hạ 2 máy bay Trung Quốc để trả đũa. Rồi sau đó mấy ngày, một phái đoàn quan trọng của Công Đảng do Attlee (sẽ được Chủ tịch Mao Trạch Đông tiếp) và Bevan đích thân cầm đầu lên đường đi Bắc Kinh theo lời mời của Chính phủ Trung Quốc. Đó sẽ là cơ hội để báo chí Anh trong hầu hết tháng 8, nói trở lại về tiến bộ của Trung Quốc, việc thành lập các cơ chế chính thức, sự cố gắng công nghiệp hóa. Như báo Người bảo vệ Manchester đăng bài về chính sách đối nội của nhà cầm quyền Trung Quốc nhan đề "Một chính phủ thanh liêm đang hoàn thành một công tác vĩ đại"52 (Manchester Guardian, 3-9-1954. Trong báo chí Trung Quốc, xem các bài của Morgan Philipps trong báo Le Populaire 3-9-1954 và của Chauvel Attlee trong Aurore 7, 8, 9, 10, 13, 14 và 15-9-1954).


Nhưng đó cũng sẽ là dịp để nhà cầm quyền Bắc Kinh trở lại vấn đề cần thiết củng cố các mối quan hệ giữa Trung Quốc và Anh, nhất là trong lĩnh vực kinh tế53 (Về chuyến đi này, xem chủ yếu H.Trevelyan, sách đã dẫn, tr.118-120. Về các bài bình luận Trung Quốc liên quan đến chuyến đi thăm này, xem Nhân dân nhật báo, Đại công báo, Quang minh nhật báo, 15-8-1954 cũng như People's China 16-8-1954. Báo chí Trung Quốc đã dành cho chuyến đi thăm này, tầm quan trọng nổi bật). Một không khí rất khác với không khí về cuộc khủng hoảng Đài Loan ở cùng thời gian này mà Mỹ tỏ ra nhậy cảm. Điều này đã giải thích hình ảnh của Trung Quốc sau hội nghị Geneva được tiếp nhận một cách trái ngược nhau giữa Washington và London.


Là cường quốc phương Tây duy nhất công nhận Trung hoa nhân dân, đã từ chối tham gia "hành động chung" để cứu Điện Biên Phủ, có quan hệ chặt chẽ với nhóm Cô-lôm-bo, Anh đã được chọn làm đồng chủ tịch hội nghị Geneva, thực sự đóng vai trò trọng tài ở Geneva. Vì vậy, Anh phải có một tầm nhìn rộng đối với các vấn đề vì đặt vấn đề Trung Quốc trong một triển vọng càng rộng lớn càng hay. Đương nhiên tầm nhìn như vậy thể hiện trong dư luận Anh nhất là trong báo chí54 (Một trong các bài đáng ngạc nhiên nhất là về phương diện này, nhưng chắc là không tiêu biểu lắm của dư luận trung bình ở Anh là các bài của Tiến sĩ Hewlett Johnson, đứng đầu tu viện Canterbury đăng trong People's China, số 19 ngày 1-10-1954, tr.42.43).
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM