Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 05 Tháng Bảy, 2020, 12:42:09 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất  (Đọc 34588 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 1238



WWW
« Trả lời #120 vào lúc: 06 Tháng Năm, 2020, 09:54:20 pm »

Bắt đầu từ phiên họp ngày 6 tháng 7, người ta đề cập đến vấn đề thứ hai, vấn đề đưa huấn luyện viên và thiết bị quân sự vào Lào và Campuchia118 (Tường thuật của Trung Quốc về phiên họp đăng ở tin Tân hoa xã, Giơ-ne-vơ, 6-7-1954). Đề nghị ngày 16 tháng 6 của Trung Quốc, nói rõ ở đoạn ba rằng "một cuộc thương lượng riêng sẽ xác định rõ các chủng loại và số lượng vũ khí cần thiết để tự vệ có thể đưa vào trong các nước này". Ngoài ra, các đại biểu Campuchia và Lào đã yêu cầu xem xét cùng một lúc vấn đề cố vấn quân sự, theo họ, cần được phép ở lại trong hai vương quốc với việc nhập các thiết bị cần thiết cho việc phòng thủ ở hai nước đó119 (Hội nghị Giơ-ne-vơ về Đông Dương (...), sách đã dẫn, tr.365-367, phiên họp ngày 6 tháng 7).


Trên mọi điểm đó, Lý Khắc Nông và Chauvel đã có cuộc nói chuyện lâu. Vào ngày 8 tháng 7 sau bữa cơm tối do Lý Khắc Nông thết Chauvel, về phía Trung Quốc có cả Trương Văn Thiên vừa từ Mát-xcơ-va trở về và trong ngày hôm đó, Vương Bính Nam, Trần Gia Khang và Hoàn Hương cùng dự120 (Tin Tân hoa xã, Giơ-ne-vơ, 9-7-1954). Hai đại biểu đều hoàn toàn đồng ý là việc nhập các vũ khí vào Lào và Campuchia phải triệt để hạn định trong nhu cầu tự vệ của hai nước và Mỹ không được đặt căn cứ quân sự ở hai nước này121 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/Đoàn đại biểu Pháp ở Giơ-ne-vơ/"Nói chuyện giữa Chauvel và ông Lý Khắc Nông ngày 8 tháng 7"/9-7-1954 và Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/Điện Chauvel/Geneve/số 1071-1072/9-7-1954. Toàn bộ biên bản của cuộc gặp này dựa trên hai văn bản trên, sẽ không dẫn ra nữa). Nhưng Chauvel muốn đẩy cuộc nói chuyện đi xa hơn khi đề cập đến vấn đề căn cứ quân sự Pháp ở Lào. Đại sứ Pháp tìm cách nhấn mạnh chính là do nhu cầu đặc biệt của nước này mà chính phủ ông ta đã cam kết duy trì hai nơi đóng quân ở vương quốc này122 (Chauvel khẳng định là những nhà cầm quyền Lào muốn có nơi đóng quân). Vậy phải tìm một giải pháp về điểm này để có thể làm vừa lòng người Lào mà không gây lo ngại cho các nước láng giềng. Lý Khắc Nông không đưa ra câu trả lời nào và lái câu chuyện sang cuộc thương thuyết giữa các chuyên viên quân sự mà ông ta khẳng định là không biết tình hình tiến triển ra sao123 (Nếu đúng như vậy thì điều đó có thể chứng minh những khó khăn có lẽ tồn tại giữa Trung Quốc và Việt Minh trong thời kỳ này. Tuy nhiên cần nhớ rằng ba đoàn đại biểu cộng sản, mỗi đoàn trong phạm vi thẩm quyền của mình tỏ ra tiến hành thương thuyết một cách độc lập với nhau trong suốt thời gian hội nghị).


Thực tế, các cuộc nói chuyện tay đôi giữa Pháp và Việt Minh từ cuối tháng 6 đến nay đang bị khủng hoảng nghiêm trọng vì ý đồ của Việt Minh là, một mặt đòi cho Pathet Lào có một khu tập kết, thực tế bao gồm một nửa vương quốc, mặt khác đòi từ nay lấy vĩ tuyến 13 làm đường giới tuyến ở Việt Nam. Ngay khi được thông báo về cuộc khủng hoảng thực sự đó, người Trung Quốc can thiệp ngay với Việt Minh để tìm cách giải quyết. Vương Bính Nam đã tổ chức một cuộc họp bí mật giữa Đại tá Ghi-éc-ma và thứ trưởng Bộ Tư pháp của Việt Minh Trần Công Tường, trong cuộc gặp này, Trần Công Tường đã đọc một bản tuyên bố rất hòa dịu124 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/Bản ghi nhớ gửi Bộ Thưm mưu quân đội-Cục 2/số 245-AM/Băng Cốc/31-8-1954, tr.5. Trong cuộc nói chuyện ngày 19-9-1975, ông Guillermaz cũng nhấn mạnh đến giá trị của sự can thiệp này của Trung Quốc để làm thí dụ minh họa ý muốn giành được giải pháp bằng thương lượng dù cho có phải gây sức ép với Việt Minh). Đây là một sự vận động một lần nữa chứng tỏ một cách nổi bật ý muốn của Trung Quốc giúp vào việc giải quyết cuộc khủng hoảng bằng thương lượng.


Cho nên, trong cuộc gặp ngày 8 tháng 7, đại sứ Chauvel nhắc lại các khó khăn đó, trước hết là các vấn đề liên quan đến khu tập kết của các lực lượng Pathet Lào. Về điểm này, Lý Khắc Nông đánh giá thái độ của Việt Minh là "đáng tiếc". Sau khi nói rõ "mong muốn duy nhất" của Trung Quốc ở các vùng đó là không có căn cứ quân sự Mỹ, thứ trưởng Trung Quốc kết luận rằng nếu điều kiện đó được thỏa mãn, Trung Quốc sẵn sàng giúp Pháp trong cuộc thương lượng. Rồi đại sứ Chauvel đề cập đến "tham vọng" của Việt Minh về đường giới tuyến ở Việt Nam. Ông ta nói thêm rằng để tìm ra một giải pháp, đoàn đại biểu Pháp sẽ dự thảo một bản tuyên bố; văn kiện này, độc lập với hiệp định ngừng bắn, có thể nói lên những nguyên tắc của một giải pháp chính trị sau này cho vấn đề Việt Nam. Đại sứ kết luận rằng ý kiến đó đã được Phạm Văn Đồng quan tâm đến. Lý Khắc Nông coi sự phát triển đó là tích cực nhưng hình như Việt Minh đã không cho ông ta biết.


Đoàn đại biểu Trung Quốc trả lời các vấn đề Campuchia và Lào ngay trong phiên họp hạn chế vào ngày hôm sau, 9 tháng 7. Trước hết, họ đưa ra nhận xét là các đoàn đại biểu Campuchia và Lào đã chấp nhận rằng chiểu theo chủng loại và số lượng, các vũ khí có thể nhập vào hai nước này nhằm duy nhất thỏa mãn nhu cầu phòng thủ hai nước đó; ngoài ra các nước này cam kết ngăn cấm việc đặt mọi căn cứ quân sự nước ngoài trên lãnh thổ của họ125 (Hội nghị Giơ-ne-vơ về Đông Dương (...), sách đã dẫn, tr.369). Ngoài ra, Lý Khắc Nông còn ghi nhận ý kiến của hai Chính phủ Campuchia và Lào muốn sử dụng nhân viên quân sự Pháp để huấn luyện quân đội của họ, nhưng ông ta kết luận: "Có thể thảo luận vấn đề đó khi xem xét vấn đề rút quân đội và nhân viên quân sự nước ngoài"126 (Như trên, tr.370. Tường thuật của Trung Quốc về phiên họp này trong tin Tân hoa xã, Giơ-ne-vơ, 9-7-1954). Cũng như về vấn đề kiểm soát, về vấn đề cố vấn quân sự, đại biểu Trung Quốc đã giữ nguyên lập trường cũ, không làm ai thỏa mãn. Thật vậy, về vấn đề giới hạn vũ khí, trong phần kết luận, Lý Khắc Nông đề nghị đưa vấn đề ra bàn tại các ủy ban quân sự. Chauvel phản đối ngay, cho rằng đây là một vấn đề thuộc thẩm quyền của hội nghị toàn thể, không chỉ của Việt Minh và Bộ chỉ huy Pháp127 (Như trên, tr.373). Sam Sary liền ủng hộ nhận xét đó bằng cách nêu ra rằng "không phải là kẻ xâm lược (Việt Minh) được hạn chế những phương tiện phòng thủ của nạn nhân sự xâm lược"128 (Như trên, tr.374). Ngoài ra, đại biểu Campuchia còn đặc biệt lưu ý đại biểu Trung Quốc rằng đây không chỉ là dụng cụ và nhân viên quân sự Pháp mà Campuchia dành quyền thỉnh cầu bất cứ ai theo ý muốn. Sam Sary kết luận: "Không được áp đặt một ngoại lệ nào cho việc củng cố nền độc lập"129 (Như trên, tr.374-375). Vấn đề này sẽ lại nổi lên một cách nghiêm trọng vào đêm 20 rạng ngày 21 tháng 7, chúng ta sẽ trở lại vấn đề đó.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 1238



WWW
« Trả lời #121 vào lúc: 06 Tháng Năm, 2020, 09:55:47 pm »

Tính chất bất động-sẽ là quá mạnh nếu nói đó là cứng rắn-của lập trường Trung Quốc là dễ hiểu thôi. Một mặt trong lúc không có Chu Ân Lai tại Giơ-ne-vơ, Lý Khắc Nông có lẽ phải tuân theo những chỉ thị không để ông ta được tự do hành động bao nhiêu. Vả lại thời hạn một tháng mà Măng-đét Phrăng đề ra cho cuộc thương lượng chắc đã khuyến khích những người cộng sản giữ nguyên lập trường của họ trong khi chờ đợi kết quả vào giờ phút chót. Trong thư gửi Chauvel ngày 2 tháng 7, thủ tướng nội các Pháp đã viết: "Chính là đến tối ngày 19, các bên sẽ phải ngả lá bài của mình"130 (J.Lacouture và Ph.Devillers, sách đã dẫn, tr.242). Ngoài ra cuộc thương thuyết đã không thể tiến triển được bao nhiêu chừng nào chưa có kết luận của các ủy ban quân sự. Chắc hẳn tất cả những điều đó đã nói lên thái độ thận trọng của Lý Khắc Nông.


Nhưng trước hết có nhiều sự kiện xảy ra ở ngoài hội nghị có thể làm cho người Trung Quốc giữ thái độ hết sức dè dặt. Thoạt tiên là thông cáo công bố ở Washington ngày 29 tháng 6 vào lúc kết thúc cuộc hội đàm Mỹ-Anh. Một vài đoạn trong thông cáo có lẽ làm Trung Quốc lo ngại đến cao độ. Thực vậy, Mỹ và Anh tuyên bố "đã xem xét lại hậu quả của tình hình do việc không thể ký được một (...) hiệp định" về Đông Dương và hai bên muốn "xúc tiến kế hoạch phòng thủ chung Đông Nam châu Á"131 (Ban tin Bộ Ngoại giao Mỹ (The Department of State Bulletin) 12-7-1954, tr.49). Từ đó liệu Anh có đáng thay đổi căn bản thái độ của mình không? Sau một thời gian rất dài từ chối không dính líu quá sâu vào việc dự thảo hiệp ước Đông Nam châu Á để khỏi làm giảm khả năng thành công của hội nghị Giơ-ne-vơ, phải chăng Anh vừa mới chấp nhận luận điểm của Mỹ cho rằng ký một hiệp ước như thế là cách tốt nhất làm cho người Trung Quốc có thái độ ôn hòa? Rồi đến ngày 7 tháng 7 tại quốc hội Pháp, Măng-đét Phrăng lại tuyên bố chính phủ ông ta đã quyết định phái sang Đông Dương những đơn vị mới gồm toàn người trẻ trong lực lượng tổng dự bị, và đã có tất cả những biện pháp để tiếp tục cuộc chiến đấu nếu hội nghị thất bại132 (Articles et documents, số 77, 8-7-1954. Nói thêm rằng ngày 12 tháng 7, I-đơn báo cáo trước Hạ nghị viện rằng đã thành lập một nhóm nghiên cứu Anh-Mỹ về dự thảo Hiệp ước phòng thủ chung ở Đông Nam Á. C.V.Curl, sách đã dẫn, tr.69). Vậy, chính sách hòa bình của Thủ tướng mới của Chính phủ Pháp thật sự là gì? Phải chăng Mỹ đã thành công trong việc buộc Pháp phải tiếp tục những cố gắng chiến tranh? Bấy nhiêu câu hỏi đầu vào tháng 7 đã không thể không làm cho đoàn đại biểu Trung Quốc phải bối rối và trong lúc Chu Ân Lai vắng mặt, đó có lẽ là nguồn gốc gây nên thái độ thiếu chủ động của họ.


Dấu hiệu của sự lo âu này thực ra còn bộc lộc trên báo chí Trung Quốc. Một bài dài đăng trên Nhân dân nhật báo ngày 2 tháng 7 đã nêu song song các cuộc hội ở New Delhi, Yangon và cuộc hội đàm ở Washington. Tờ nhật báo Trung Quốc tố cáo mạnh mẽ các kế hoạch Anh-Mỹ về Cộng đồng phòng thủ châu Âu và Hiệp ước an ninh chung Đông Nam châu Á. Theo bài báo, cả hai dự án này không có mục đích nào khác là lập ra các khối quân sự hiếu chiến vi phạm chủ quyền và độc lập của các nước châu Âu và châu Á. Do đó, chúng đi ngược lại hoàn toàn với những nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình do Trung Quốc đề nghị. Hơn nữa chính là vì các nhà lãnh đạo Mỹ lo sợ trước tình đoàn kết giữa các dân tộc châu Á được tăng cường mà biểu tượng là các cuội hội đàm Trung-Ấn, Trung-Miến, mà chúng quyết tâm đi bước trước trong mưu đồ xâm lược của chúng133 (Nhân dân nhật báo, 2-7-1954, Quang minh nhật báo, xã luận ngày 4-7-1954 và Nhân dân nhật báo ngày 6-7-1954 cũng phát triển như vậy). Còn tờ Đại công báo thì nói thêm rằng các tác giả của thông cáo Washington buộc phải nói đến Hiến chương Đại Tây dương chính là để tìm cách ngăn chặn ảnh hưởng đang phát triển của năm nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình: nhưng đương nhiên điều đó chỉ là hoàn toàn giả nhân giả nghĩa134 (Đại công báo, 5-7-1954). Cùng trong lúc đó, báo Trung Quốc còn tố cáo kịch liệt chuyến công du châu Á của tướng Mỹ Van Fleét, "đại biểu của tập đoàn cầm quyền nước Mỹ thù nghịch với nhân dân Trung Quốc" đã từng là chỉ huy quân đoàn 8 của Mỹ ở Triều Tiên. Là phái viên đặc biệt của tổng thống Eisenhower, chuyến đi thăm châu Á của ông ta lúc này chỉ bóc trần "chính sách chiến tranh của Mỹ ở phần này của thế giới"135 (Tin Tân hoa xã, Bắc Kinh, 7-7-1954. Đồng thời Đại công báo 13-7-1954 và Tân hoa xã, Bắc Kinh, 17-7-1954). Trung Quốc đã đặc biệt lên án việc Van Fleét dừng lại ở Triều Tiên, ở đây người ta đã gợi đến khả năng gửi quân Triều Tiên hải ngoại đến Đài Loan mà người ta đã nói đến liên minh phòng thủ tương hỗ giữa Mỹ và "những tàn quân ăn cướp Tưởng Giới Thạch"136 (Hiệp ước này sẽ được ký ngày 2-12-1954), và ở Nhật Bản, nơi Mỹ đang tiến hành vũ trang lại một cách điên cuồng137 (Nhân dân nhật báo 9-7-1954. Mấy ngày trước đó,  Trung Quốc đã tố cáo những đơn đặt hàng quan trọng về vũ khí của Bộ chỉ huy quân sự Mỹ tại Nhật Bản với các nhóm công nghiệp Nhật. Tin Tân hoa xã, Bắc Kinh, 26-6-1954).


Đối với Trung Quốc, những sự phát triển của tình hình như vậy biểu hiện rõ ràng các kế hoạch xâm lược của chủ nghĩa đế quốc Mỹ. Nếu Chu Ân Lai lúc này có mặt ở Giơ-ne-vơ, có lẽ những sự phát triển trên đã thúc đẩy Bắc Kinh có thể có những sáng kiến mới nhằm ngăn chặn nguy cơ do một tình hình như vậy đưa đến. Nhưng vắng mặt Thủ tướng Trung Quốc, những sự phát triển của tình hình đó ngược lại chỉ làm cứng rắn thêm lập trường của các đại biểu vốn không quen thương lượng mà không có bộ trưởng của họ.


Ngay sau hội nghị dẫm chân tại chỗ sau khi các trưởng đoàn rời khỏi Giơ-ne-vơ, đã làm nổi bật thêm các hoạt động của các trưởng đoàn. Đối với Chu Ân Lai, những thông cáo chung công bố ở New Delhi, Yangon cũng được xem như những sự kiện rất lớn. Vị trí của Trung Quốc được củng cố thêm sau những sự kiện đó. Từ Việt Minh đến Ấn Độ đã xuất hiện một thứ nhất trí có lợi cho quan niệm của Trung Quốc về cùng tồn tại hòa bình và cho việc áp dụng những nguyên tắc đó vào việc giải quyết vấn đề Đông Dương. Tầm vóc của sự ủng hộ đối với lập trường của Trung Quốc ở châu Á (và ngay cả ở châu Âu) sẽ làm tăng thêm hiệu lực cho chính sách của họ vào lúc kết thúc hội nghị. Liên tục tiến hành các cuộc thương lượng, những cuộc gặp gỡ của Chu Ân Lai với Nehru, U Nu và Hồ Chí Minh đã làm cho nền ngoại giao Trung Quốc tiến lên một bước đáng kể138 (Tuy nhiên cần chú ý rằng hình như các nhà ngoại giao phương Tây không quan tâm đến khía cạnh này (nói chuyện với Chauvel ngày 24-6-1975). M.Phrăng đã nhận thấy điều đó và cho rằng từ châu Á trở về, Chu Ân Lai hết sức mong muốn cuộc thương lượng về Đông Dương đi đến kết quả (nói chuyện với M.Phrăng, 3-7-1954)).
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 1238



WWW
« Trả lời #122 vào lúc: 06 Tháng Năm, 2020, 09:59:41 pm »

Chương IX
Giai đoạn cuối cùng của hội nghị


Từ nay, hội nghị chỉ còn mười ngày để Măng-đét Phrăng thực hiện lời cam kết đối với Quốc hội Pháp. Molotov là người đầu tiên trở lại Giơ-ne-vơ ngày 8 tháng 7. Thủ tướng Pháp, đến ngày 10 và trong liền ngày đó ông có cuộc hội đàm quan trọng với trưởng đoàn đại biểu Liên Xô, hôm sau ông ta đã gặp Phạm Văn Đồng. Còn Chu Ân Lai thì ngày 12 tháng 7 mới trở lại, cùng đi có các cố vấn của ông ta Shih Che và Kiều Quán Hoa và phụ trách lễ tân Wang Cho Ju1 (Tin Tân hoa xã, Giơ-ne-vơ, 12 tháng 7 năm 1954). Cùng ngày, Chu Ân Lai đã nói chuyện với Molotov, rồi với Phạm Văn Đồng. Ngày 13 tháng 7 ông gặp Măng-đét Phrăng, rồi gặp I-đơn2 (Tin Tân hoa xã, Giơ-ne-vơ, ngày 13 tháng 7 năm 1954) trước khi ông này cùng đi với Johnson3 (Đại sứ Johnson tiếp tục lãnh đạo đoàn đại biểu Mỹ với danh nghĩa quyền trưởng đoàn) trở lại Paris để gặp Dulles.


Một lần nữa lại náo động trong giới ngoại giao. So sánh kết quả được trong hai tháng qua, đúng là khối lượng các vấn đề phải giải quyết trong có mỗi một tuần đã chứng minh cho việc đẩy nhanh đột ngột cuộc thương lượng.


Nối lại các cuộc hội đàm cấp Bộ trưởng

Những vấn đề phải giải quyết

Vấn đề thứ nhất là vấn đề giới tuyến. Các cuộc hội đàm giữa tướng Delteil và Tạ Quang Bửu, lúc đầu là đáng phấn khởi, vì trên thực tế ngay từ 10 tháng 6, Việt Minh đã chấp nhận sự chia cắt ở vĩ tuyến 17° hay 18°4 (Về vấn đề này xem những văn kiện Brebisson trong Fredéric Dupont, sách đã dẫn, tr.171-173 ám chỉ đến việc vạch một đường phân chia hai vùng ở gần Huế. Xem thêm J.Laniel, le drame indochinois (Tấn thảm kịch Đông Dương) Sách đã dẫn, tr.112, lại nói đường giới tuyến giữa 17° và 18°). Ngoài ra từ 24 tháng 6 đoàn đại biểu Pháp nhận được chỉ thị phải làm sao đạt được việc lấy vĩ tuyến 18° làm đường phân giới5 (Xem lại chương VII ở trên). Sau cùng trong bị vong lục Anh-Mỹ trao cho chính phủ Paris ngày 29 tháng 6, Anh và Mỹ đã lấy việc "tôn trọng hiệp định-nếu đạt được-tùy thuộc vào việc định giới tuyến ít nhất là ở vĩ tuyến 17°, như vậy là một bước lùi so với mục tiêu của Pháp* (Nguồn tư liệu chưa được phép công bố). Giữa những lập trường khác nhau đó, một giải pháp thỏa hiệp có thể đạt tới một cách dễ dàng. Vậy mà từ 25 tháng 6 một cảm tưởng ngược lại toát ra từ sự tiến triển của các cuộc hội đàm Pháp-Việt Minh. Tạ Quang Bửu và đại tá Hà Văn Lâu tỏ ra cứng rắn hơn thái độ lúc đầu, nay lại đòi giới tuyến lùi hẳn xuống phía nam, ở vĩ tuyến 13°6 (Cần lưu ý rằng vĩ tuyến 13° (và vĩ tuyến 14°) sẽ làm cho Việt Nam dân chủ cộng hòa có biên giới chung với Campuchia. Phần đề nghị này là một bước lùi khá xa so với đề nghị ngày 10 tháng 6 (xem đoạn trước)). Nhiều cuộc gặp sau đó đã không làm lập trường Việt Minh về điểm này mềm dẻo hơn. Vả lại vấn đề này đã là trọng tâm thảo luận giữa Măng-đét Phrăng và Molotov ngày 10 tháng 77 (Có lẽ hồi ký Khrushchev (sách đã dẫn) ám chỉ đến cuộc hội đàm ngày 10 tháng 7 trong đoạn viết sau đây: Ngay từ phiên họp đầu tiên của hội nghị, Măng-đét Phrăng, lúc đó đứng đầu Chính phủ Pháp đề nghị rút quân Pháp về bên kia vĩ tuyến 17. Tôi thú nhận là lúc nghe tin này chúng tôi miệng há hốc vì ngạc nhiên và vui sướng. (tr.157). Đoạn trên đây gây ra nhiều bình luận. Một mặt về câu chữ "phiên họp đầu tiên của hội nghị", thực ra là cuộc gặp đầu tiên giữa Molotov và Măng-đét Phrăng: vì cuộc hội nghị đã kéo dài được hai tháng. Mặt khác theo quyết định ở (Pariss ngày 24 tháng 6 (xem đoạn trước ở chương VII). M.Phrăng không nêu vĩ tuyến 17 mà là vĩ tuyến 18°. Cuối cùng chính là Việt Minh chứ không phải M.Phrăng, hôm 10 tháng 6 trong cuộc hội đàm Delteil-Tạ Quang Bửu, một tháng trước đó đã đề nghị giới tuyến ở phía trên Huế. Bấy nhiêu yếu tố hình như không phù hợp với tính chân thực của tập "Hồi ký Khrushchev". Ở một đoạn khác, Khrushchev viết: Việc rút về bên kia vĩ tuyến thực ra là yêu cầu sách tối đa mà từ đó chúng tôi tính chuyện thương thuyết. Chúng tôi đã chỉ thị cho các nhà ngoại giao của chúng tôi nêu vấn đề từ đó chỉ là nhằm mục đích duy nhất là đưa một lập trường cứng rắn vào ván bài thương lượng". (tr.457). Bởi vậy nếu đoạn trên là đúng sự thật, thì hình như Việt Minh lúc đầu (đề nghị ngày 10 tháng 6 theo gần đúng chỉ thị của Liên Xô, đề nghị phân ranh giới ở vùng Huế như một yêu sách tối đa mà thôi. Nhưng thấy yêu sách này khá gần với lập trường của Pháp, nên Việt Minh có lẽ quyết định đưa cao yêu sách lên (đề nghị vĩ tuyến 13°). Rồi hai đồng minh cộng sản của họ, để nhằm đạt tới một giải pháp họ đang cần đến, có lẽ đã gây sức ép để Việt Minh rút về lập trường ban đầu mà họ hoàn toàn hài lòng. Do đó ngày 19 tháng 7, Trung Quốc đưa ra đề nghị đặt giới tuyến ở vĩ tuyến 17 (xem đoạn sau). Trừ ra một vài điều không đúng, tập Hồi ký Khrushchev về phương diện đó, có lẽ phù hợp với diễn biến thật sự của cuộc thương lượng như chúng tôi đang dựng lại ngày nay). Chính trong lúc cuộc thương lượng đang ở giai đoạn đó, hôm sau (11 tháng 7) Chu Ân Lai trở lại Giơ-ne-vơ. Giữa vĩ tuyến 13° mà nay Việt Minh đòi hỏi và vĩ tuyến 18 do Pháp đề nghị, chủ yếu là có các thành phố Huế và Đà Năng, phần lớn Tây Nguyên cũng như đoạn cuối của đường số 9 nối liền Savanakhet với Quảng Trị, lối thoát duy nhất của Lào về hướng Nam Việt Nam. Có nghĩa là lập trường của các bên đều rất xa nhau.


Về vấn đề Lào, cuộc thương thuyết cũng không đạt kết quả nhỏ nhất nào từ khi Trung Quốc đưa ra kiến nghị 16 tháng 6 và sau khi thông qua đề nghị có sửa đổi ngày 19 tháng 6 và sau khi thông qua đề nghị có sửa đổi ngày 19 của Pháp8 (Xem lại chương VII). Sau ngày Molotov và Chu Ân Lai lên đường, thái độ của Việt Minh về vấn đề này cứng rắn lên khá nhiều. Nhân danh Pathet Lào, Tạ Quang Bửu đi đến chỗ đòi hỏi cho chính phủ cách mạng Lào được kiểm soát phần nửa phía đông nước Lào, kể cả cao nguyên Bô-lô-ven ở phía nam. Việt Minh cũng đặt vấn đề như vậy trong một thời gian khi đợi công nhận quyền của Khơ-me Issarak được có một vùng lãnh thổ. Như vậy là rất xa với những lời bảo đảm của Chu Ân Lai lúc sắp lên đường đi thăm Ấn Độ, nếu không kể bị vong lục Anh-Mỹ ngày 29 tháng 6 đã đặt vấn đề giữ gìn toàn lãnh thổ của Lào và Campuchia làm điều kiện đầu tiên cho việc London và Washington "tôn trọng" mọi hiệp định về Đông Dương. Ở đây những trở ngại còn phải vượt qua là rất lớn. Tuy vậy ngày 10 tháng 7, Molotov đã cho M.Phrăng biết rằng "Theo ông ta không nên gây nhiều rắc rối đối với lãnh thổ Lào và Campuchia". Một lạc quan làm cho người ta nhẹ nhõm, nhưng lúc đó chưa dựa trên cơ sở ban đầu nào về giải pháp.


Về thành phần và hoạt động của ủy ban kiểm soát, các vấn đề phải giải quyết cũng còn nhiều9 (Thực tế, đây là một vấn đề mà người Liên Xô bảo lưu như một hôm Vương Bính Nam đã nêu với đại tá Ghi-éc-ma (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/bản ghi nhớ gửi bộ tham mưu các lực lượng vũ trang-Cục 2 Paris/về vấn đề "Trung hoa nhân dân ở Giơ-ne-vơ"/Số 245-AM/Băng Cốc/31-8-1954 tr.6). Người ta còn nhớ, trong khi các Bộ trưởng vắng mặt hội nghị đã đề cập đến vấn đề này trong 5 phiên họp nhưng không đạt được tiến bộ nào10 (Phiên họp ngày 22, 25 và 29 tháng 6 cũng như các phiên họp ngày 2 và 6 tháng 7. Xem chương VIII đoạn trên). Quyền trưởng đoàn đại biểu Trung Quốc Lý Khắc Nông đã phát biểu nhiều lần nhưng không đem lại yếu tố tích cực nào. Đại sứ Johnson cũng phát biểu tại cuộc họp rằng Mỹ không thể chấp nhận sự có mặt của bất kỳ đại biểu cộng sản nào trong ủy ban đó. Vào đầu tháng 7, nếu như đại biểu Pháp nghĩ ngày càng nhiều đến một cơ cấu gồm Ấn Độ, Ba Lan và Canada, thì cũng càng khó đi đến một thỏa thuận nào về thành phần và nhất là về hoạt động của thể chế này.


Thêm vào tất cả các vấn đề đã được thảo luận kéo dài từ hai tháng nay, còn có thêm một loạt vấn đề nữa không kém quan trọng nhưng gần đây mới được đề cập hoặc mới nói đến một cách rất mập mờ. Chẳng hạn như trường hợp về các thể thức rút quân Liên hiệp Pháp khỏi các vùng sẽ trao cho Việt Nam dân chủ cộng hòa. Trong lúc Việt Minh mong muốn việc rút quân nói trên sẽ hoàn thành trong thời hạn 90 ngày, thì người Pháp yêu cầu thời hạn 380 ngày. Ngoài ra có những điểm căn bản mà chưa có đề nghị cụ thể nào được đưa ra trình bày: như vấn đề về thời hạn tổng tuyển cử hoặc tính chất các bảo đảm của các nước tham gia hội nghị đối với hiệp định. Đó là bấy nhiêu vấn đề cần giải quyết mà Chu Ân Lai rất khẩn trương sắp phải làm việc trong tuần lễ cuối cùng của cuộc thương lượng.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 1238



WWW
« Trả lời #123 vào lúc: 06 Tháng Năm, 2020, 10:01:27 pm »

Các cuội hội đàm mới giữa Trung Quốc và Pháp và sức ép của Trung Quốc đối với Việt Minh

Ngay sau khi từ Bắc Kinh trở lại Giơ-ne-vơ, ngoài cuộc gặp Molotov ngày 12 tháng 7, chính là với Măng-đét Phrăng mà người đứng đầu nền Ngoại giao Trung Quốc phải nối lại các cuộc nói chuyện. Có Trương Văn Thiên, Lý Khắc Nông và Vương Bính Nam cùng dự, Chu Ân Lai đã nói chuyện trong hơn một giờ đồng hồ với thủ tướng Nội các Pháp ngay từ sáng ngày 13 tháng 711 (Tin Tân hoa xã, Giơ-ne-vơ, 13-7-1954). Từ sau cuộc hội đàm được mọi người biết đến ở Berne, đây là cuộc gặp lần thứ hai giữa hai vị chính khách.


Sau khi Chu Ân Lai tổng kết một cách lạc quan chuyến đi thăm châu Á, cuộc thảo luận đi ngay vào các vấn đề từ mấy ngày nay là trung tâm các cuộc hội đàm giữa các Bộ trưởng12 (Tường thuật dựa vào các nguồn sau đây và sẽ không dẫn ra nữa: Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/bản ghi nhớ về vấn đề "hội đàm giữa M.Phrăng và Chu Ân Lai". Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/điện Chauvel/Giơ-ne-vơ/số 1109-13-7-1954). Cũng như đã nói với Molotov hôm 10 tháng 7. M.Phrăng cũng bắt đầu trình bày lý do khiến đoàn đại biểu Pháp chọn vĩ tuyến 18° làm đường phân chia hai vùng tập kết: Vùng này là vùng Cổng An Nam "một biên giới" vừa "ngắn" vừa có ý nghĩa "lịch sử". Sau mấy lời trao đổi về lợi, hại của phương án này và của phương án do Việt Minh đưa ra, Chu Ân Lai kết luận rằng "về vấn đề này hai bên đều phải nhân nhượng lẫn nhau. Ông nói với M.Phrăng: "Tôi tin là nếu các Ngài tiến lên một bước thì bên kia sẽ đi nhiều hơn về phía các Ngài". Một lúc sau, Chu Ân Lai lại nhấn thêm ý kiến đó. Nếu nước Pháp nhượng bộ một ít thì Việt Nam dân chủ cộng hòa sẽ nhượng bộ nhiều. Như vậy là nói rõ ra rằng Việt Minh sẵn sàng có những nhượng bộ quan trọng. Phải chăng việc Molotov và Chu Ân Lai trở lại Giơ-ne-vơ đã có tác động đến Phạm Văn Đồng. Chu Ân Lai kết luận "ông ta (chỉ Phạm Văn Đồng) có nhiều điều lý thú muốn nói (...) khiến vị trưởng đoàn đại biểu Pháp thấy cần chăm chú lắng nghe".


Rồi một cách mập mờ hơn nhiều, thủ tướng Trung Quốc nói sang các vấn đề khác như: Bản tuyên bố chính trị cuối cùng phải "chú ý đến lợi ích của nhân dân Việt Nam" hoặc về những "quan hệ hữu nghị", mà Việt Nam sẽ phải thiết lập với Pháp. Cuối cùng để kết thúc cuộc hội đàm, Chu Ân Lai đả kích mạnh mẽ chính sách của Mỹ mà theo ông ta là tìm cách "phá hoại hội nghị (...) bằng cách không cử Bộ trưởng Ngoại giao đến dự".


Theo sự thỏa thuận của hai vị đứng đầu chính phủ Trung Quốc và Pháp, ngay chiều hôm đó, đại sứ Chauvel đến gặp Chu Ân Lai để trao và giải thích thêm bản dự thảo và tuyên bố chính trị cuối cùng do đoàn đại biểu Pháp chuẩn bị. Văn kiện này rất chung, sẽ là một bộ phận của các văn kiện cuối cùng của hội nghị mà mục đích duy nhất là nhân danh tất cả các bên tham dự hội nghị nói lên một số nguyên tắc nhằm hướng dẫn các bên trong việc tìm giải pháp chính trị cho vấn đề Đông Dương. Thủ tướng Trung Quốc chỉ nghe đại sứ Chauvel giải thích, không nêu vấn đề gì khác và trả lời sẽ cho biết sau những nhận xét của đoàn đại biểu Trung Quốc13 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/bản ghi nhớ về vấn đề Chauvel đến gặp Chu Ân Lai ngày 13 tháng 7 năm 1954; hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/điện Chauvel/Giơ-ne-vơ số 1121-13-7-1954).


Điểm chủ yếu của những cuộc hội đàm mới giữa Trung Quốc và Pháp chắc chắn là sự đảm bảo của Chu Ân Lai rằng Việt Minh sẵn sàng có những nhượng bộ quan trọng. Đúng như thế, ngay sau đó cũng vào sáng 13 tháng 7, M.Phrăng đến gặp Phạm Văn Đồng. Chính là trong cuộc hội đàm ngắn ngủi đó, trưởng đoàn đại biểu Việt Minh đã đưa ra đề nghị lấy vĩ tuyến 16 làm giới tuyến mà không giải thích gì thêm* (Nguồn tư liệu chưa được phép công bố). Như vậy Phạm Văn Đồng đột nhiên bỏ toàn bộ Tây Nguyên cũng như nhiều thành phố khác mà Việt Minh đứng vững ở đó từ lâu, nhất là Quảng Ngãi và Quy Nhơn.


Sự nhượng bộ đúng là quan trọng. Thế là Pháp đã giành được sự nhượng bộ mà không phải đi "bước trước" như Chu Ân Lai đã nói một tiếng đồng hồ trước đó. Một cách khôn khéo, Măng-đét Phrăng chỉ nhận xét: "Đà Nẵng, Huế và đường số 9 thiết yếu đối với đường giao thông của Lào với thế giới bên ngoài, lại ở phía trên vĩ tuyến 16". Phạm Văn Đồng đáp lại rằng có thể dự kiến một sự thu xếp về việc sử dụng con đường đó. Lập tức thủ tướng Pháp bèn nói luôn rằng kinh nghiệm hành lang Berlin "đưa ông ta đi đến kết luận là những người sử dụng con đường nào thì chính họ phải kiểm soát con đường đó"* (Nguồn tư liệu chưa được phép công bố). Vì vậy Pháp vẫn giữ phương án ban đầu.


Thực tế ngày 13 tháng 7 là ngày có tính chất quyết định: buổi chiều cùng ngày, Phạm Văn Đồng cùng đi có Phan Anh, Bộ trưởng Bộ Công thương, trong đoàn đại biểu Việt Minh, đến gặp lần đầu tiên các đại biểu của Quốc gia Việt Nam. Cuộc hội kiến quan trọng và có ý nghĩa: Chủ yếu hai bên đề cập đến vấn đề thống nhất lại đất nước mà người ta đang chia cắt. Về điều này Việt Minh đưa ra đề nghị đầu tiên về tổ chức tổng tuyển cử trong thời hạn 6 tháng14 (J.Lacouture và Ph.Devillers, sách đã dẫn, tr.258. Được khẳng định qua cuộc nói chuyện với ông Trần Văn Đỗ, lúc đó là trưởng đoàn đại biểu Việt Nam. Trong cuộc gặp đó, trái với điều nói với M.Phrăng, sáng hôm đó Phạm Văn Đồng còn ám chỉ đến việc chia cắt ở trên vĩ tuyến 13° (nói chuyện với Trần Văn Đỗ ngày 23-1-1976)). Đó là một vấn đề sẽ ở vào trung tâm các cuộc thương thuyết của tuần lễ cuối cùng này.


Trước những phát triển của tình hình như vậy, cần có ngay những bình luận về vai trò của Trung Quốc trong quá trình tiến triển của thái độ Việt Minh. Sự trái ngược giữa những yêu sách họ đưa ra từ cuối tháng 6 lập trường mềm dẻo kể từ 13 tháng 7 là nổi bật. Có thể đưa những giải thích khác nhau nhưng hình như tất cả đều quay về Trung Quốc. Có thể là việc Dulles đến Paris là một trong những nhân tố khiến Phạm Văn Đồng phải hạn chế tham vọng của mình. Vả lại M.Phrăng đã nói rõ ràng điều đó với Bộ trưởng ngoại giao Mỹ trong cuộc hội đàm ngày 13 tháng 7: "Chính là mối lo ngại thấy Dulles đến Giơ-ne-vơ đã đưa Phạm Văn Đồng đến chỗ nhân nhượng như vậy (đề nghị về vĩ tuyến 16)* (Nguồn tư liệu chưa được phép công bố). Đứng về quan điểm Việt Minh, nếu Dulles trở lại Giơ-ne-vơ cầm đầu đoàn đại biểu Mỹ, thì chỉ có thể gây trở ngại cho thương lượng. Từ đó tăng thêm nguy cơ hội nghị thất bại, cuộc xung đột tiếp tục và mở rộng. Trước mắt điều đó buộc Việt Minh phải phụ thuộc ngày càng nhiều vào các đồng minh cộng sản của mình, trước hết là lệ thuộc vào Trung Quốc. Người ta không thể tóm tắt tốt hơn những lời nói của hoàng thân Bửu Lộc cách đây một tháng về những mối lo ngại có thể có được về Việt Nam dân chủ cộng hòa. Theo ông ta Việt Minh lo ngại Mỹ can thiệp không phải vì bản thân cuộc can thiệp ấy đáng sợ mà vì nó có thể "làm tăng thêm" sự lệ thuộc của họ vào người Trung Quốc, do người Trung Quốc sẽ phải tăng cường viện trợ cho Việt Minh, đồng thời tăng cường những đòi hỏi của họ. Vào đầu tháng 6, Hoàng thân viết "Vậy nay những người cộng sự của ông Hồ Chí Minh đã phải lo lắng đến sự lệ thuộc ấy sẽ làm hại nhân dân Việt Nam vốn là kẻ thù truyền kiếp của nước Trung hoa dù theo chủ nghĩa quốc gia hay theo chủ nghĩa cộng sản. Họ cũng sợ rằng sự thao túng của Trung Quốc mạnh đến mức tổn thất nghiêm trọng đến độc lập và ngay cả tương lai xứ sở. Vì vậy, những người lãnh đạo Việt Minh tuyên bố sẵn sàng nhượng bộ khá nhiều để thỏa hiệp với chính phủ Quốc gia Việt Nam"15 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/Điện Dejean/Cao ủy phủ/Sài Gòn, số 31504-08-8-1954. Tuy vậy Nguyễn Quốc Dinh cho rằng văn kiện này không phản ánh ý kiến của đoàn đại biểu quốc gia Việt Nam. Ông phải viết như vậy để làm dễ dàng hơn với nhiệm vụ của đại sứ Việt Nam ở Washington đối với nhà đương cục Mỹ, nhưng vấn đề không còn là tranh chấp giữa cộng sản và tự do mà là giữa Trung Quốc và Việt Nam (nói chuyện ngày 30-6-1954)).


Cuộc hội kiến ngày 13 tháng 7, giữa Việt Minh và những người quốc gia được giải thích cho một lập luận tương tự. Sự nhượng bộ về giới tuyến có lẽ là kết quả của mối lo ngại mà Việt Minh cảm thấy đối với đồng minh hùng mạnh của họ đồng thời có lẽ là do sức ép của Trung Quốc đối với họ. Người ta hãy nhớ lại điều Chu Ân Lai đã thổ lộ cho thủ tướng M.Phrăng hôm gặp nhau ở Berne. "Đoàn đại biểu Trung Quốc đang thúc đẩy đoàn đại biểu Việt Nam dân chủ cộng hòa nhích lại gần không những với nước Pháp mà còn với Việt Nam của Bửu Lộc"16 (Xem chương VII). Người ta hãy nhớ trong lúc Chu Ân Lai vắng mặt, Vương Bính Nam đã vận động để thứ trưởng Bộ tư pháp Việt Minh đọc cho Đại tá Ghi-éc-ma một bản tuyên bố lời lẽ ôn hòa nhằm vượt qua những khó khăn đang gây trở ngại cho cuộc thương thuyết Pháp-Việt Minh17 (Xem chương VIII). Điều có ý nghĩa là sự nhượng bộ của Phạm Văn Đồng đã xuất hiện ít lâu sau khi Molotov và Chu Ân Lai trở lại Giơ-ne-vơ, hoặc nói cho đúng hơn, ngay sau cuộc hội đàm giữa Chu Ân Lai và M.Phrăng. Từ đó, làm sao không thấy được, ít nhất là một phần, kết quả của sức ép Trung-Xô, đây là lối giải thích như người ta đã ghi lại, hoàn toàn thích hợp với cách nói rằng chuyến đi của Dulles đến Paris là nguyên nhân làm cho lập trường Việt Minh mềm dẻo hơn. Ngày hôm sau, 14 tháng 7 tờ Nhân dân nhật báo hài lòng ghi nhận rằng "Hội nghị Giơ-ne-vơ bước vào giai đoạn mới" và cuộc hội đàm giữa Chu Ân Lai và M.Phrăng là một "cống hiến quan trọng" vào sự nghiệp hòa bình18 (Nhân dân nhật báo, ngày 14 tháng 7 năm 1954).
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 1238



WWW
« Trả lời #124 vào lúc: 06 Tháng Năm, 2020, 10:02:42 pm »

Trung Quốc góp phần vào thỏa hiệp cuối cùng

Thành phần ủy ban kiểm soát


Đối với đoàn đại biểu Trung Quốc, những cuộc hội đàm ngày 13 tháng 7 giữa Chu Ân Lai và M.Phrăng đánh dấu bước mở đầu của một hoạt động khẩn trương. Trong một cuộc gặp Tổng thư ký Vương Bính Nam vào hôm sau, đại tá Ghi-éc-ma nhận thấy Trung Quốc quá vội vã để sớm hoàn thành những công việc cuối cùng của hội nghị19 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/bản ghi nhớ gửi đại sứ Chauvel về vấn đề "Hội đàm Guillermaz-Vương Bính Nam/Giơ-ne-vơ/14-7-1945").Trong cuộc gặp này, Vương Bính Nam còn tuyên bố rõ ràng: "Chỉ còn vài khó khăn cuối cùng nữa để đi đến hiệp định, chúng tôi không thể nghĩ đến khả năng thất bại"20 (Như trên-Ba ngày sau, Bộ trưởng ngoại giao Pakistan Rahin, đi ngang qua Paris, đã cho Bộ Ngoại giao biết rằng những tin tức mới nhận được từ Đại sứ quán Pakistan tại Bắc Kinh đã nói lên... "nguyện vọng sâu sắc của Trung Quốc muốn có một quyết định hòa bình trong thời hạn đã định". Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp: Điện Guérin de Beaumont/Paris/số 1570/17-7-1954...). Cùng ngày, một bài xã luận dài của Nhân dân nhật báo nhắc lại sự cần thiết phải nhanh chóng ký kết hòa bình ở Đông Dương. Hơn lúc nào hết Trung Quốc kêu gọi ý chí độc lập của nước Pháp: "Một chính sách đi ngược lại lợi ích của nước Pháp không thể đem lại kết quả nào cả. Nước Pháp là một cường quốc thế giới. Nó phải có con đường độc lập và danh dự của riêng nó. Nó phải có con đường độc lập và danh dự của riêng nó. Điều này có nghĩa là nước Pháp phải theo chính sách đối ngoại độc lập, coi trọng lợi ích dân tộc của Pháp và lợi ích hòa bình thế giới"21 (Nhân dân nhật báo, ngày 14 tháng 7 năm 1954).


Trong tất cả các vấn đề còn chưa giải quyết, vấn đề thành phần ủy ban kiểm soát phải được xem xét đầu tiên. Người ta chỉ nhớ lại rằng nước Pháp đã từ ít lâu nay, đề nghị một ủy ban ba bên gồm có Ấn Độ (chủ tịch), Canada và Ba Lan. Còn về phía các đoàn đại biểu cộng sản đề nghị cuối cùng do Liên Xô đưa ra ngày 1 tháng 6 nói đến hoặc một công thức năm nước, hoặc một công thức ba nước và trong trường hợp này có thể là Ấn Độ (chủ tịch), Ba Lan và Indonesia hoặc một nước châu Á khác. Sự có mặt của hai nước châu Á trong ủy ban quốc tế hiển nhiên là sự nhượng bộ của Liên Xô đối với Trung Quốc, ngay từ đầu muốn thấy được các nước trong khu vực có một vai trò quan trọng trong việc giải quyết vấn đề Đông Dương. Vả lại trong công thức ủy ban năm nước cũng do Liên Xô và Trung Quốc đề nghị, có một nước châu Á khác là Pakistan.


Về vấn đề này, có vẻ như Trung Quốc đóng vai trò nổi bật nhất trong những bước phát triển cuối cùng của hội nghị. Trong khoảng thời gian từ 13 đến 16 tháng 7, ngày nào Chu Ân Lai cũng gặp Krista Menon, ông này cũng đến Giơ-ne-vơ vì hội nghị sắp đi đến kết thúc22 (Tin Tân hoa xã, Giơ-ne-vơ, 13, 14, 15 và 16-7-1954). Người ta còn chưa có tin tức chính xác về các cuộc hội đàm Trung-Ấn, nhưng rất có thể là vấn đề kiểm soát chiếm vị trí ưu thế trong các cuộc hội đàm đó.


Ngoài ra, ngày 17 tháng 7, vấn đề được bàn thêm giữa M.Phrăng, Molotov và I-đơn* (Nguồn tư liệu chưa được phép công bố) lần này không có mặt Chu Ân Lai. Trong dịp này, trưởng đoàn đại biểu Anh đưa ra một đề nghị mới, ủy ban kiểm soát nên gồm các nước Cô-lôm-bô, một nước cộng sản và một nước phương Tây. M.Phrăng tán thành ý kiến này. Còn Molotov chỉ nhắc lại rằng về vấn đề cũng cần coi trọng ý kiến của Trung Quốc và của Việt Minh. Cùng ngày23 (Tin Tân hoa xã, Giơ-ne-vơ, 17-7-1954) có thêm cuộc họp giữa Molotov và Chu Ân Lai, Phạm Văn Đồng.


Cuối cùng "bước quyết định" được vượt qua vào hôm sau, 18 tháng 7, sau một phiên họp hạn chế của hội nghị, khi thủ tướng Trung Quốc cho I-đơn bảo ông ta đồng ý ủy ban gồm có Ấn Độ, Canada và Ba Lan, tức là ba nước theo đề nghị của Pháp24 (A.I-đơn, Memoires (hồi ký), sách đã dẫn, tr.160). Mỹ cũng đồng tình với cách giải quyết này, mặc dù có Ba Lan trong ủy ban kiểm soát-còn về các đại biểu cộng sản, họ tiếp nhận rất nhanh khi có sửa đổi một vài chỗ, dự án thỏa hiệp do Pháp khởi thảo về các thủ tục bỏ phiếu và về các vấn đề quan hệ giữa ủy ban quốc tế và ủy ban hỗn hợp như sẽ được ghi trong các hiệp định cuối cùng.


Sự diễn biến và kết quả các cuộc thương thuyết về vấn đề kiểm soát chứng tỏ trong vấn đề này thêm một nhân nhượng thực sự của Trung Quốc. Điều có ý nghĩa là công thức công bằng giữa một nước phương Tây và một nước xã hội chủ nghĩa chung quanh một hay nhiều nước trung lập đã được hình thành trong cuộc họp giữa Liên Xô và phương Tây ngày 17 tháng 7, mà Chu Ân Lai không tham dự; là nước bị từ chối không được vào ủy ban kiểm soát lại là nước có quan hệ với Trung Quốc (Indonesia hoặc một nước châu Á) và cuối cùng là chính Chu Ân Lai đã đi gặp I-đơn để vận động ông ta về một công thức sau này được hội nghị chấp nhận. Đúng là công thức đã được thông qua khá tiêu biểu cho nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình mà vị đứng đầu nền ngoại giao Trung Quốc bênh vực.


Ngược lại công thức đó có lẽ lai không chứng minh được điều Trung Quốc rất mong muốn là các nước châu Á theo ý của Trung Quốc, phải có địa vị ưu thế trong việc giải quyết các vấn đề ở trong khu vực.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 1238



WWW
« Trả lời #125 vào lúc: 06 Tháng Năm, 2020, 10:04:01 pm »

Thời hạn tuyển cử ở Việt Nam

Về tổng tuyển cử ở Việt Nam, thái độ của Trung Quốc cũng tỏ ra là muốn hòa giải như vậy. Ngay trong cuộc hội đàm ngày 23 tháng 6 ở Berne, Chu Ân Lai đã nhận rằng, một khi đã đạt được đình chiến, giải pháp chính trị có thể chia ra nhiều bước trong một thời gian khá dài... Điều này đã được M.Phrăng xem như một kết quả rất tích cực của cuộc hội đàm với thủ tướng Trung Quốc25 (Xem lại chương VII). Từ hôm đó, vấn đề này-là vô cùng quan trọng vì nó quyết định toàn bộ khả năng chống đỡ về chính trị của Quốc gia Việt Nam trong trường hợp có tuyển cử. Về phía mình, đoàn đại biểu Pháp cho rằng cần thiết ra là hai năm để chính phủ Sài Gòn có thời gian chuẩn bị, đã đưa ra con số từ "hai đến ba năm là ít nhất"26 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/Bản ghi nhớ gửi đại sứ Chauvel về vấn đề: Hội đàm Guillermza-Vương Bính Nam (phần thứ 2) ngày 19 tháng 7 năm 1954 hồi 18 giờ 30/Giơ-ne-vơ 19-7-1954. Đại tá Guillermaz đã lưu ý Vương Bính Nam rằng Trung Quốc đã đề ra hai năm chuẩn bị tổng tuyển cử bầu Quốc hội và trong điều kiện đó, người ta không thể từ chối một thời hạn ngắn hơn ở Việt Nam (nói chuyện với tướng Guillermaz ngày 14 tháng 3 năm 1975). Nguồn tài liệu chưa được công bố). Như vậy lập trường các bên về vấn đề này còn rất xa nhau.


Molotov và M.Phrăng đã bàn bạc kỹ vấn đề này trong cuộc hội đàm ngày 15 tháng 7. M.Phrăng tỏ ra muốn định rõ bất kỳ thời hạn nào cho cuộc tuyển cử. Ông ta muốn hội nghị chỉ nên nhắc nhỏ nguyên tắc hiệp thương thôi. Về phía mình, Molotov đưa ra ý kiến nên giao việc định thời hạn tuyển cử cho các đại biểu hai bên Việt Nam và Việt Minh và chính phủ Sài Gòn* (Nguồn tài liệu chưa được công bố). Hôm sau, vấn đề lại được đem ra bàn trong cuộc nói chuyện ba bên giữa M.Phrăng, I-đơn và Molotov. Đại biểu Liên Xô lúc đó đã đề nghị nếu thời hạn tháng 6 năm 1955 gần quá thì nên theo công thức "trong năm 1955". Điều này không làm thủ tướng Nội các Pháp hài lòng hơn* (Nguồn tài liệu chưa được công bố).


Trong cuộc họp ngày 17 tháng 7, Chu Ân Lai và M.Phrăng chỉ đề cập sơ qua vấn đề này. Thủ tướng Trung Quốc nhận xét rằng đây là một trong "những vấn đề quan trọng" phải được thương thuyết trực tiếp giữa Pháp và Việt Minh27 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/Bản ghi nhớ về vấn đề Hội đàm giữa M.Phrăng và Chu Ân Lai tr.5), như vậy lặp lại lập trường của Molotov đưa ra hai ngày trước đây. Tuy nhiên trong cuộc gặp Đại tá Ghi-éc-ma ngày 19 tháng 7, Vương Bính Nam tuyên bố rằng sau khi suy nghĩ về các lý lẽ của M.Phrăng, Chu Ân Lai đưa ra "đề nghị hợp lý là cuộc tuyển cử nên hoãn lại hai năm cho đến năm 1956, còn thời hạn chính xác sẽ do đại biểu hai miền Nam Bắc thỏa thuận với nhau"28 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp: Bản ghi nhớ gửi đại sứ Chauvel về vấn đề hội đàm Guillermaz-Vương Bính Nam (phần thứ 2), ngày 19 tháng 7 hồi 18 giờ 30/Giơ-ne-vơ 19-7-1954, tr.9). Một lần nữa sự nhượng bộ là có ý nghĩa quyết định; 24 tiếng đồng hồ trước kỳ họp do M.Phrăng ấn định, sự nhượng bộ đó đã loại bỏ một trong những trở ngại cuối cùng. Quan niệm của Trung Quốc về cùng tồn tại hòa bình ở Đông Dương không loại trừ việc củng cố về chính trị đối với "Quốc gia Việt Nam" bởi vì rõ ràng là như vậy chế độ đó sẽ được hai năm làm tăng thêm một cách đáng kể cơ hội (thắng thế) trong cuộc tổng tuyển cử được dự kiến. Một cử chỉ như vậy soi sáng một cách rất đặc biệt chính sách của Trung Quốc ở Đông Dương29 (Xem đoạn sau chương XIII).
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 1238



WWW
« Trả lời #126 vào lúc: 06 Tháng Năm, 2020, 10:06:19 pm »

Đường giới tuyến ở Việt Nam và vấn đề Lào

Vấn đề định giới tuyến ở Việt Nam gắn liền với giải pháp về vấn đề Lào. Tự thỏa mãn với nhượng bộ của Việt Minh ngày 13 tháng 7 về việc đặt giới tuyến ở vĩ tuyến 16 có ý nghĩa là bỏ lại cho Việt Nam dân chủ cộng hòa con đường số 9 từ Savanakhet đi Quảng Trị là con đường duy nhất của Vương quốc Lào ra khỏi biển Đông Dương. Một lần nữa, cuộc thương lượng trở lại vấn đề căn bản tức là vấn đề độc lập của Lào đối với Việt Minh, một đề tài khiến tất cả các kẻ thù, kể cả Bắc Kinh hết sức chú ý.


Ngày 14 tháng 7, trong lúc Dulles hãy còn ở Paris, người ta được biết rằng Mỹ đã quyết định bổ sung viện trợ quân sự cho Thái Lan30 (Tin Tân hoa xã, Bắc Kinh ngày 14-7-1954). Ngày hôm sau, báo chí Trung Quốc tố cáo kịch liệt chứng cớ mới đó về âm mưu xâm lược của Mỹ ở Đông Dương. Tờ Công báo ở Thiên Tân kêu gọi Thái Lan "không nên làm công cụ xâm lược cho Mỹ ở châu Á". Một lần nữa, Trung Quốc cảnh cáo các nước trong khu vực, không có gì tốt sẽ đến với họ (...) nếu làm công cụ phục vụ âm mưu thực dân mới của Mỹ31 (Đại công báo 15-7-1954). Vào lúc chỉ còn có vấn đề thành lập liên minh quân sự ở Đông Nam Á mới ngăn cản cộng sản tràn xuống vùng này, sáng kiến của Mỹ quả là có khả năng làm cho nhà đương cục Trung Quốc lo ngại đến cực độ. Điều đó nghĩa là sáng kiến đó chỉ làm cho lập luận của Pháp về các con đường thoát ra ngoài của Lào có thêm sức nặng hơn nữa.


Gặp Vương Bính Nam cùng ngày hôm đó, Đại tá Ghi-éc-ma trình bày lần nữa rằng "nền kinh tế của Lào không thể tồn tại nếu thiếu một số trục đường bộ ở phía bắc vĩ tuyến 16, đặc biệt con đường dẫn đến Quảng Trị" và ông nói thêm rằng "càng phải chú ý đến lợi ích của Lào vì nước này thật sự gắn với Việt Nam chỉ có qua nước Pháp mà thôi. Không nên để Lào bị cám dỗ quay sang phía khác"32 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/Bản ghi nhớ gửi đại sứ Chauvel về vấn đề "Hội đàm Guillermaz-Vương Bính Nam/Giơ-ne-vơ 14-7-1954). Vương Bính Nam nghe xong chỉ khẳng định rằng "Vĩ tuyến 16 do Phạm Văn Đồng đề nghị, đối với ông ta là hợp lý. Tuy nhiên điểm này, ông ta kết luận rằng "Trung Quốc luôn luốn cố gắng hết sức để làm cho hội nghị thành công và luôn luôn sẵn sàng giúp vào việc tìm kiếm các giải pháp"33 (Như trên).


Ngày 17 tháng 7, vấn đề lại được đem ra bàn trong cuộc gặp giữa Chu Ân Lai và M.Phrăng, thủ tướng Trung Quốc giống như hôm 13 tháng 7, nhắc lại rằng nếu nước Pháp "tiến một bước về vấn đề định giới tuyến, ông Phạm Văn Đồng cũng sẽ tiến một bước dài hơn nhiều34 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp "Hội đàm giữa M.Phrăng và Chu Ân Lai"). Rồi khi Chu Ân Lai, tỏ ý lo ngại về tác động của minh ước do các nước phương Tây dự thảo đối với nền độc lập của các nước Đông Dương. Thủ tướng nội các Pháp trở lại vấn đề Lào, lại dùng lý lẽ về con đường ra biển bằng con đường số 9. Thủ tướng Trung Quốc tỏ ra nhạy cảm hơn các cuộc gặp trước. Ông ta phải thừa nhận "Có một thực tế là Việt Nam dân chủ cộng hòa tuyệt nhiên không cần đến đường số 9. Còn chữ "đường thoát" mà Ngài vừa dùng thì đáng được ghi lại cũng như sự cần thiết của Lào phải có con đường ra bên ngoài mà Ngài đã nói đến35 (Như trên). Đó là cách nói khá mới, rõ ràng là mềm dẻo hơn so với Việt Minh.


Vào chiều ngày 19 tháng 7, Vương Bính Nam gặp lại Ghi-éc-ma và cho biết đoàn đại biểu Trung Quốc đã xác định lần cuối cùng lập trường của mình về giới tuyến. Coi trọng những nhận xét của thủ tướng M.Phrăng nêu ra với Chu Ân Lai trong cuộc hội đàm ngày 17 tháng 7 về vấn đề Đà Nẵng, Huế và con đường số 9, "đoàn đại biểu Trung Quốc chấp nhận và đã làm cho Việt Minh chấp nhận đường giới tuyến ở phía Bắc đường Quảng Trị 10km". Vương Bính Nam nói thêm "Đó là một nhượng bộ cuối cùng, từ nay đến khi hội nghị kết thúc chỉ còn ít thời gian không còn có thể trở lại vấn đề này được nữa". Còn đoàn đại biểu Anh cũng được phía Trung Quốc cho biết quyết định cuối cùng về lập trường của họ. Đại tá Ghi-éc-ma liền nhận xét rằng đề nghị đó là dung hòa, nhưng việc quy định giới tuyến như vậy ở phía Bắc Quảng Trị 10km có tính chát quy ước quá và sẽ đặt vấn đề cắm mốc. Một đường thiên nhiên, thậm chí một đường hành chính có thể tiện lợi hơn. Đối với ý kiến này, Vương Bính Nam đặc biệt không phản đối gì36 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/Bản ghi nhớ gửi đại sứ Chauvel về vấn đề "Hội đàm Guillermaz-Vương Bính Nam (phần thứ 2) 17-7-1954 hồi 18 giờ 30/Giơ-ne-vơ/19-7-1954. Chúng tôi gạch dưới. Dùng chữ "nhân nhượng" là để so sánh với yêu sách trước đây của Việt Minh. Nhưng nếu tính chất xác thực của Hồi ký Khrouchetchev được thừa nhận thì đề nghị này đã hoàn toàn làm thỏa mãn ít nhất là người Liên Xô vì họ đã không hy vọng gì được như vậy" (sách đã dẫn, tr.457. Xem đoạn trước)). "10 km phía bắc con đường Quảng Trị": đó là cách vĩ tuyến 17° vài km. Đó là suýt soáy với giải pháp đạt được 24 tiếng đồng hồ sau đó37 (Phụ bản kèm theo Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam ở phần một đã vạch "giới tuyến quân sự tạm thời từ Đông sang Tây: Cửa sông Bến Hải (sông cửa Tùng) và dòng sông đó (trong vùng  núi sông này tên là Rào Thành) cho đến làng Bô-hô-su rồi từ Bô-hô-su đi thẳng theo đến biên giới Lào-Việt. Đường này không hoàn toàn phù hợp với việc vạch giới tuyến ở 10km bắc đường số 9 nhưng chỉ xa nhau có vài km). Các cuộc hội đàm vào chiều ngày 20 tháng 7 tại trụ sở đoàn đại biểu Pháp giữa I-đơn, M.Phrăng, Molotov Chu Ân Lai và Phạm Văn Đồng38 (Tin Tân hoa xã, 20-7-1954) về điểm này chỉ làm việc xác nhận đề nghị của Trung Quốc đưa ra hôm trước39 (J.Lacouture và Ph.Devillers, sách đã dẫn, tr.268, trình bày việc chấp nhận vĩ tuyến 17 như là một nhượng bộ của Liên Xô tại phiên họp ngày 20 tháng 7. Thực ra văn bản chúng tôi vừa trình bày chứng tỏ rằng phần đóng góp của Trung Quốc vào việc nhượng bộ này quan trọng hơn là hai tác giả nghĩ đến và Trung Quốc đã nhượng bộ từ 19 tháng 7. R.F.Randle (sách đã dẫn, tr.339) chỉ là nhắc lại J.Lacouture và Ph.Devillers (sách đã dẫn), G.V.Astafiev và A.M.Dubinski (sách đã dẫn, tr.97) nói đến sức ép của Trung Quốc đối với Việt Minh đến chỗ nhận vĩ tuyến 16. M.Phrăng xác nhận rằng đó là nhân nhượng của Trung Quốc hơn là của Liên Xô (nói chuyện ngày 3 tháng 7 năm 1975)). Người ta chỉ thông qua một xác định mới tức là lấy dòng sông Bến Hải cho đến làng Bô-hô-su rồi từ đó đi thẳng đến biên giới Lào-Việt, điều này làm cho Việt Nam lợi thêm vài km nữa so với đề nghị của Trung Quốc. Cùng thời gian này, bản thân vấn đề Lào cũng có vài tiến bộ. Ngày 14 tháng 7, Chu Ân Lai tiếp chuyện lâu với Sananikone40 (Tin Tân hoa xã, Giơ-ne-vơ, 4-7-1954), ngày 18 tháng 7, ông ta lại gặp lần nữa41 (Như trên, Giơ-ne-vơ, 18-7-1954). Bắt đầu từ lúc đó, có vẻ như lập trường của Pháp, cụ thể là vấn đề quy định "các trung tâm tập kết" các lực lượng Pathet Lào mà sau này các ủy ban Liên hợp sẽ giải quyết sáp nhập họ với quân đội Vương quốc Lào, Đại tá Ghi-éc-ma đã trình bày côn thức đó cho Vương Bính Nam ngay từ buổi gặp ngày 14 tháng 7. Vương Bính Nam nghe xong không phát biểu gì nhưng cũng không tỏ vẻ ngạc nhiên với một kế hoạch rất xa với yêu sách của Việt Minh, bởi vì đến lúc đó Việt Minh luôn luôn đề nghị cắt dọc nước Lào theo hướng bắc nam dài 1000km42 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/Bản ghi nhớ gửi đại sứ Chauvel về vấn đề "Hội đàm Guillermaz-Vương Bính Nam, Giơ-ne-vơ, 14-7-1954). Gặp M.Phrăng ngày 17 tháng 7, về điểm này Chu Ân Lai chỉ nói rằng đoàn đại biểu Trung Quốc ưa thích ý niệm "khu tập kết" hơn là "điểm tập kết"43 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp hội đàm giữa M.Phrăng, Chu Ân Lai). Vậy là Trung Quốc từ chối không ủng hộ đòi hỏi của Việt Minh nhưng cũng không dễ dàng nhận ngay giải pháp của Pháp.


Vấn đề lại được đem ra bàn lần nữa trong cuộc hội đàm ngày 19 tháng 7 giữa I-đơn-Chu Ân Lai và M.Phrăng. Sau cuộc thảo luận gay go, cuối cùng thủ tướng Trung Quốc "miễn cưỡng rút lui" ý kiến "về vùng tập kết". Ở mỗi tỉnh quy định "một khu đóng quân tạm thời" để từ đó tổ chức việc di chuyển lực lượng Pathet Lào về tập kết tại hai tỉnh Phongsaly và Sầm Nưa. Để bù lại, Chu Ân Lai yêu cầu có "những bảo đảm cụ thể đối với những lực lượng cộng sản Lào trong thời gian từ lúc đình chiến đến khi có tổng tuyển cử". Nhằm mục đích này đoàn đại biểu Lào sẽ chuẩn bị một dự thảo "Dụ" nhà Vua nói về quy chế ưu đãi đối với các lực lượng chống đối cũ44 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/Bản ghi nhớ viết tay về vấn đề "Hội nghị Giơ-ne-vơ về Đông Dương (từ 20/6 đến 21/7) 23-7-1954. Hôm sau, đoàn đại biểu Việt Minh cuối cùng từ bỏ sự bảo đảm này).


Về phần mình, đoàn đại biểu Trung Quốc, trong sự vội vã đưa hội nghị đến kết quả, vào cuối ngày 19 tháng 7 đã cho rằng những khó khăn gay cấn nhất đã được giải quyết. Sáng ngày 20 tháng 7 hãng thông tấn Tân hoa xã điện từ Giơ-ne-vơ: "Đêm khuya hôm qua (tức 19 tháng 7) đã đạt được sự thỏa thuận về các vấn đề chủ yếu liên quan đến ngừng bắn, lập lại hòa bình ở Đông Dương: giới tuyến tạm thời ở Việt Nam, những nơi tập kết ở Lào, thành phần ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát đình chiến, tổng tuyển cử, thời hạn rút các lực lượng vũ trang về các khu vực tập kết". Vì vậy, trong ngày hôm nay (20 tháng 7) hội nghị sẽ họp phiên toàn thể để xác nhận các thỏa thuận đó45 (Tin Tân hoa xã, Giơ-ne-vơ, 20-7-1954). Tuy nhiên Việt Minh "thì không tỏ dấu hiệu vội vã gì để tuân theo lời khuyên ôn hòa của người Trung Quốc"46 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp, Bản ghi nhớ viết tay về "Hội nghị Giơ-ne-vơ về Đông Dương (từ 20-6 đến 21-7) 23-7-1954). Trái ngược với điều Vương Bính Nam đã báo cho Đại tá Ghi-éc-ma, Phạm Văn Đồng vẫn chưa chấp nhận nguyên tắc định giới tuyến ở 10 km phía bắc đường số 9 và kiên quyết giữ vĩ tuyến 16. Ngoài ra, giải pháp về Lào do Chu Ân Lai đưa ra không làm cho Phạm Văn Đồng hài lòng. Chỉ đến phút cuối cùng, trong cuộc gặp ngày 30 tháng 7 vào cuối buổi chiều giữa Chu Ân Lai, Molotov, M.Phrăng, I-đơn và Phạm Văn Đồng, thì lần này dưới sức ép của Liên Xô, Phạm Văn Đồng nhận vĩ tuyến 17°, thời hạn hai năm tổ chức tổng tuyển cử và công thức "khu đóng quân tạm thời đối với Lào"47 (Như trên). Khoảng cách hiển nhiên giữa thái độ của Trung Quốc và Việt Minh trong giờ phút cuối cùng cuộc thương lượng hình như càng xác minh luận điểm nói rằng Chu Ân Lai đã gây sức ép với Phạm Văn Đồng48 (Nhiều nhà phân tích chấp nhận cách giải thích này. Ví dụ như K.C.Chen, sách đã dẫn, tr.319, 320). Đúng là sự phân công trách nhiệm giữa Liên Xô và Trung Quốc, Liên Xô phụ trách các vấn đề chung, Trung Quốc các vấn đề khu vực, tất nhiên làm cho đoàn đại biểu Trung Quốc có thái độ áp đặt đối với Việt Minh rõ rệt hơn là đoàn đoàn đại biểu Liên Xô49 (Nói chuyện với Chauvel ngày 24-6-1975).
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 1238



WWW
« Trả lời #127 vào lúc: 07 Tháng Năm, 2020, 07:13:15 am »

"Trung lập hóa" Đông Dương và bảo đảm các hiệp định

Từ hơn một tháng nay-nói một cách chính xác, từ khi hội nghị về Triều Tiên thất bại-lập trường của Trung Quốc, dưới con mắt của tất cả các nhà quan sát tại Giơ-ne-vơ là hết sức rõ ràng: Chính phủ Bắc Kinh chủ yếu mong muốn đi đến một hiệp định về Đông Dương để tránh mọi sự can thệp của Mỹ. Không có một sáng kiến nào của Trung Quốc trong năm tuần qua có thể được giải thích một cách khác với nhận xét đó: tách vấn đề Lào và Campuchia, gây sức ép với Việt Minh về vấn đề định giới tuyến, thời hạn tuyển cử v.v... Vậy mà sắp đến thời hạn kết thúc mà M.Phrăng đã ấn định, vẫn chưa ai biết được tính chất sự bảo đảm của các nước tham gia các hiệp định sẽ ra sao, các bảo đảm đó sẽ được xác nhận như thế nào, cả đến thái độ cuối cùng của Mỹ cũng chưa hiểu. Đứng về quan điểm của Trung Quốc thì chính là ở đó tồn tại sự hoài nghi là chủ yếu.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 1238



WWW
« Trả lời #128 vào lúc: 07 Tháng Năm, 2020, 07:15:07 am »

Vấn đề "trung lập hóa" Đông Dương

Chuyến đi của Dulles đến Paris đã gây lo ngại sâu sắc cho Chu Ân Lai. Khi tin này được đưa ra, báo chí Trung Quốc một lần nữa giận dữ đả kích cái mà họi xem như những mưu toan cuối cùng nhằm phá hoại hội nghị Giơ-ne-vơ. Tờ Quang minh nhật báo viết rằng bất chấp nguyện vọng hòa bình của các nước châu Á, bọn "phản động cực đoan" Mỹ chỉ nghĩ đến quốc tế hòa tình hình căng thẳng và mở rộng đế chế thực dân của chúng50 (Quang minh nhật báo, 13-7-1954). Cùng ngày tờ Nhân dân nhật báo nhấn mạnh đến sự phá sản không tránh khỏi của chính sách chống Trung Quốc của Mỹ51 (Nhân dân nhật báo, 13-7-1954). Về phần mình, Tân hoa xã trình bày việc Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ từ chối không chịu đến Giơ-ne-vơ như là chứng cớ về ý đồ xâm lược của ông ta, và chuyến đi Paris của ông ta như là chứng cớ về sức ép của Mỹ đối với đồng minh Anh, Pháp của họ để ngăn cản mọi sự thỏa thuận về Đông Dương52 (Tin Tân hoa xã, Giơ-ne-vơ, 13-7-1954). Tuy nhiên bản tin Tân hoa xã ngày 14 tháng 7, ngày thứ hai của các cuộc hội đàm Paris, sau khi nhắc lại những đề tài cũ, đã kết luận "Nhưng ông Dulles không thể ngăn cản các cuộc tiếp xúc ngày càng nhiều giữa các Bộ trưởng ngoại giao ở Giơ-ne-vơ nhằm nhanh chóng đi đến thỏa thuận"53 (Như trên, Giơ-ne-vơ, 14-7-1954).


Đối với Trung Quốc, thông báo Paris công bố ngày 14 tháng 7 được xem như một phần thất bại của Mỹ không lôi kéo được Anh và Pháp hoàn toàn tán thành quan điểm của Mỹ54 (Như trên, Giơ-ne-vơ, 15-7-1954). Trung Quốc cũng không lạ gì ý đồ phương Tây, nhất là về những quan hệ tương lai có thể có giữa ba nước Đông Dương và về Liên minh (phòng thủ chung) do Mỹ đề xướng ở Đông Nam Á. Sau các cuộc hội đàm Paris, cuộc tiếp xúc đầu tiên giữa Trung Quốc và Pháp là cuộc gặp ngày 16 tháng 7 giữa Vương Bính Nam và Đại tá Ghi-éc-ma. Một trong những vấn đề mà vị tổng thư ký đại biểu Trung Quốc nêu lên chính là muốn biết Pháp nghĩ thế nào về tin các hãng thông tấn nói có thể bao gồm Lào và Campuchia vào dự án của Mỹ về phòng thủ chung Đông Nam Á. Đây là một trong những mối quan tâm hàng đầu của người Trung Quốc có thể thấy rõ.


Từ bây giờ thỏa thuận về Đông Dương, ít nhất về các khía cạnh kỹ thuật đã trông thấy rõ và Trung Quốc còn nhìn xa hơn nữa. Đại tá Ghi-éc-ma kết luận: "Tôi hiểu rằng mối lo lắng của ông Chu Ân Lai không chỉ là những vấn đề thuần túy Đông Dương nữa mà là tình hình ở Đông Nam Á do sự kết thúc tốt đẹp các cuộc thương lượng có thể tạo nên"55 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp. Bản ghi nhớ gửi Đại sứ Chauvel về "Hội đàm Guillermaz-Vương Bính Nam (16 tháng 7)" Giơ-ne-vơ, 17-7-1954). Ngay hôm sau, phóng viên Tân hoa xã tại Giơ-ne-vơ gửi tin về nước nhấn mạnh sự "vội vã điên cuồng" của Mỹ đang cố sức đưa Việt Nam, Campuchia và Lào vào trong "khối xâm lược" ở Đông Nam Á nhằm làm thất bại hội nghị56 (Tin Tân hoa xã, Giơ-ne-vơ, 17-7-1954). Vấn đề đặt ra đúng là vấn đề "trung lập hóa" Đông Dương57 (Về quan niệm trung lập của Trung Quốc lúc đó, xem Tung Cheng "trung lập quốc (các nước trung lập) trong Thời sự thủ sách số 12 ngày 20-6-1954, tr.32, 33) đến mức nào đó.


Đề tài này cũng được Chu Ân Lai nêu lại với I-đơn trong cuộc gặp ngày 17 tháng 7. Trước hết là thủ tướng Trung Quốc, sau khi đưa ra một lời giải thích đen tối các cuộc hội đàm tay ba ở Paris khẳng định rằng các nước phương Tây sắp chia Đông Nam Á làm hai vùng với một liên minh chống cộng. Rồi Chu Ân Lai-người đã thừa nhận (như Việt Minh) rằng "hai căn cứ mà Pháp được phép duy trì ở Lào bằng hiệp ước ký với Lào được để ra ngoài không tính vào việc rút toàn bộ quân đội nước ngoài ra khỏi lãnh thổ Lào, lại nhấn mạnh với đại biểu Anh rằng ba nước Đông Dương phải được "độc lập, chủ quyền và trung lập"58 (A.I-đơn, Mémoires (Hồi ký), sách đã dẫn, tr.159, 160, chúng tôi gạch dưới). Những cuộc hội đàm diễn ra cùng ngày đối với M.Phrăng thể hiện những mối quan tâm tương tự: Chu Ân Lai giải thích cho M.Phrăng "Người ta nói rằng Mỹ muốn lôi kéo ba nước Đông Dương vào khối quân sự mới. Những tin dồn dập đó không khỏi làm chúng tôi lo lắng (...). Phải chăng hội nghị Paris đã thông qua một vài cam kết"? Nghe xong, M.Phăng liền đáp lại rằng (hội nghị Paris đã) không trù tính một biện pháp nào như vậy59 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/"Hội đàm giữa M.Phrăng và Chu Ân Lai ngày 17 tháng 7").


Những lời đảm bảo của M.Phrăng và I-đơn đối với Chu Ân Lai đã đưa Trung Quốc đi đến kết luận rằng chỉ có Mỹ mới có thể gây trở ngại cho việc "trung lập hóa" Đông Dương. Có thể đó là lý do khiến thủ tướng Trung Quốc tìm cách thăm dò người Mỹ về vấn đề này. Hôm 18 tháng 7, Hoàng Hoa người phát ngôn của đoàn đại biểu Trung Quốc tiếp xúc với một phóng viên của hãng thông tấn Mỹ Associated Press và nói với anh ta rằng "Vấn đề mấu chốt" bây giờ là xem "các cường quốc phương Tây có thật sự đồng ý trung lập hóa Đông Dương" không? Hoàng Hoa còn giải thích rằng việc Mỹ tổ chức liên minh quân sự Đông Nam Á "uy hiếp mọi sự thỏa thuận có thể đạt được về Đông Dương" và về phương diện đó, thành công hay thất bại của hội nghị Giơ-ne-vơ (có thể) tùy thuộc thái độ của đoàn đại biểu Mỹ đối với vấn đề này"60 (The Pentagon Papers. Tài liệu mật Bộ Quốc phòng Mỹ, sách đã dẫn, tr.47-49). Thực tế người ta không nghĩ rằng với cách vận động như vậy làm sao có thể thúc đẩy lập trường của Mỹ theo hướng "trung lập hóa" Đông Dương mà Trung Quốc mong ước? Nhưng ngược lại, nó thể hiện tầm quan trọng chủ yếu mà Chu Ân Lai gán cho vấn đề đó. Như ông ta đã nói cho M.Phrăng hôm trước, việc lập lại hòa bình ở Đông Dương chỉ có ý nghĩa đối với Trung Quốc nếu nó loại trừ mọi khả năng đặt căn cứ quân sự của Mỹ ở ba nước đó, tức là nếu nó bao hàm "trung lập hóa" Đông Dương61 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/Hội đàm M.Phrăng và Chu Ân Lai).


Thực ra, Trung Quốc có những điều thỏa thuận với Mỹ về vấn đề "trung lập hóa" đó? Một trong bảy điều kiện do Mỹ đưa ra trong bị vong lục ngày 29 tháng 6 về việc Mỹ tôn trọng các hiệp định tương lai về Đông Dương rõ ràng là không được áp đặt bất cứ một hạn chế nào đối với Lào, Campuchia và Nam Việt Nam, có thể làm giảm khả năng của họ duy trì các chế độ không cộng sản vững chắc "và có thể" làm hại đến quyền duy trì các lực lượng thích hợp để giữ an ninh trong nước, "quyền nhập khẩu vũ khí và sử dụng cố vấn nước ngoài"* (Nguồn tư liệu chưa được phép công bố). Chắc hẳn là Trung Quốc không thể biết tường tận văn kiện bí mật đó. Nhưng toàn bộ thái độ của đoàn đại biểu Mỹ tại Giơ-ne-vơ cũng như rất nhiều tuyên bố của những người đứng đầu nước Mỹ từ nhiều tuần nay chẳng phải đã không chứng tỏ rằng chính phủ Washington, trong trường hợp hội nghị thất bại cũng như thành công, muốn chờ dịp để trở lại vấn đề phòng thủ Đông Nam Á trên những cơ sở mới mà thực tế là loại trừ mọi ý nghĩ "trung lập hóa" đó sao?

Ngoài ra, liệu Trung Quốc có thật sự mong muốn đưa nước Mỹ đến chỗ chấp nhận một cách chính thức việc trung lập hóa bán đảo Đông Dương không? Công thức trung lập có lợi là đặt chính phủ Mỹ vào một thế khó khăn trong việc ủng hộ về quân sự một chế độ chống cộng sản này hay một chế độ chống cộng sản khác ở Đông Dương nhưng nó cũng đem lại một vài điều bất tiện không thể bỏ qua. Một mặt, một sự thỏa thuận như vậy cũng gây trở ngại đối với chính sách của Trung Quốc ở Đông Dương ngang như đối với chính sách của Mỹ. Mặt khác lý lẽ còn vững chắc hơn nữa-nếu Mỹ đảm bảo sự trung lập đó thì Trung Quốc không còn xuất hiện như là người kiến trúc sư thật sự của nền hòa bình đã giành được, chỉ nhờ có ý muốn cùng tồn tại hòa bình của Bắc Kinh (và của Mát-xcơ-va), bất chấp sự phản đối của Mỹ. Có lẽ chính là lập luận này đã khiến Hoàng Hoa trong câu chuyện với phóng viên Mỹ ngày 18 tháng 7 đã không loại trừ khả năng đạt được một hiệp định đình chiến ngay cả trong trường hợp Mỹ từ chối không tham gia62 (The Pentagon Papers, tài liệu mật Bộ Quốc phòng Mỹ, sách đã dẫn, tr.47).


Chỉ đến ngày cuối cùng của hội nghị, Chu Ân Lai mới rút lui ý kiến về "trung lập hóa" thật sự đối với Đông Dương. Trong bữa ăn trưa với M.Phrăng63 (Tin Tân hoa xã, Giơ-ne-vơ, 20-7-1954), thủ tướng Trung Quốc cuối cùng đã phải nhận rằng chỉ những liên minh nào có những điều khoản trái với Hiến chương Liên hiệp quốc thì mới bị ngăn cấm đối với Mỹ mà thôi64 (J.Lacouture và Ph.Devillers, sách đã dẫn, tr.266. Chúng tôi tham khảo sách này vì không tìm được tài liệu nào trong hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp liên quan đến cuộc hội đàm này. Vả lại có thể vào giờ phút cuối cùng (rất sôi động) của hội nghị, đã không kịp làm biên bản về các cuộc tiếp xúc). Về phía Trung Quốc, sự nhượng bộ đó càng có ý nghĩa quan trọng khi tuyên bố cuối cùng của hội nghị nhắc đến tổ chức Liên hiệp quốc mà đúng là Trung Quốc còn ở ngoài rìa do hành động của Mỹ. Như vậy là sự nhân nhượng của Trung Quốc đã để rộng quyền cho ba nước Đông Dương trong quan hệ với bên ngoài về quân sự, nó còn thể hiện rõ ràng hơn bao giờ hết ý muốn của Trung Quốc là đi đến-có lẽ phải viết: bằng bất cứ giá nào-một hiệp định về giải quyết hòa bình (cuộc xung đột ở Đông Dương).
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 1238



WWW
« Trả lời #129 vào lúc: 07 Tháng Năm, 2020, 07:16:41 am »

Vấn đề ký kết các hiệp định và sự cam kết của các nước

Cuối cùng còn vấn đề xác định tính chất và hình thức cam kết của các nước tham gia hội nghị.
Từ lâu, rõ ràng là Mỹ không nhận chịu sự ràng buộc của bất cứ văn kiện nào. Trong phiên họp hạn chế ngày 18 tháng 7, Bi-đơn Xmits còn tuyên bố rằng nếu hội nghị đi đến những hiệp định với tính chất mà chính phủ ông ta có thể "tôn trọng" được thì lúc đó Mỹ sẽ tuyên bố đơn phương là Mỹ sẽ "không đe dọa hoặc dùng vũ lực để vi phạm các hiệp định đó"65 (Hội nghị Giơ-ne-vơ về Đông Dương (...) sách đã dẫn, tr.377). Điều đó chứng tỏ ngay trong trường hợp đi đến giải pháp mà chính phủ Washington có thể chấp nhận được, Mỹ cũng từ chối không chịu chính thức ký kết. Vả lại, do nhiều nước tham dự chưa đặt quan hệ ngoại giao với nhau, nhất là giữa Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và Mỹ, thật cũng rất khó mà cùng ký tên vào một văn kiện chung. Tất cả những lý do đó đã hướng hội nghị từ nhiều tuần nay vào việc chuẩn bị những hiệp định riêng biệt về ngừng bắn cho mỗi nước ở Đông Dương, thêm vào đó là những bản tuyên bố đơn phương của các nước tham dự và một "bản tuyên bố cuối cùng" của hội nghị ghi nhận những văn kiện nói trên. Nhằm mục đích đó, từ ngày 12 tháng 7 đoàn đại biểu Pháp đã chuẩn bị nhiều dự thảo khác nhau về "bản tuyên bố cuối cùng"66 (Có tất cả bốn dự thảo của Pháp (12, 16, 17 và 20 tháng 7) Liên Xô đưa ra một dự thảo khác ngày 15 tháng 7. Nhìn bề ngoài, Trung Quốc không có dự thảo nào, để cho đoàn đại biểu Liên Xô chịu trách nhiệm về văn kiện cuối cùng này). Tuy nhiên, đến giờ phút chót của cuộc thương thuyết, vấn đề ký tên vào văn kiện đó vẫn còn được đặt ra.


Về điểm này, thái độ không thay đổi của Trung Quốc là tất cả các nước tham dự, kể cả Mỹ phải đảm bảo việc thi hành những nghị quyết của hội nghị và cam kết bằng chữ ký của mình. Hôm 18 tháng 7 trong lúc gặp phóng viên của hãng thông tấn Associated Press của Mỹ đã nói ở trên, Hoàng Hoa đã để lộ ra rằng Trung Quốc mong muốn có sự cam kết rõ ràng của phía Mỹ67 (The Pentagon Papers, tài liệu mật của Bộ Quốc phòng Mỹ, sách đã dẫn, tr.47. Bản tiếng Anh dùng hai từ "Stamp" và "Subscribe" có thể hiểu theo nghĩa rộng hơn từ "ký tên" (signature)). Nếu Mỹ từ chối, người phát ngôn đoàn đại biểu Trung Quốc nói thêm, "giải pháp cuối cùng có thể bị ảnh hưởng nghiêm trọng"68 (Như trên tr.48). Chiều ngày 19 tháng 7, Vương Bính Nam nhắc lại với đại tá Ghi-éc-ma rằng "hội nghị chỉ có thể có ý nghĩa nếu tất cả mọi người thừa nhận kết quả của nó". Ông ta nói thêm "Tại phiên họp toàn thể ngày 20 tháng 7, giả sử các đoàn đồng ý thì tất cả sẽ ký tên vào bản tuyên bố cuối cùng"69 (Sáng 20 tháng 7 mới có phiên họp toàn thể này). Khi người đối thoại hỏi lại rằng chữ ký có phải là quyết định thành công của hội nghị không thì Vương Bính Nam trả lời một cách tự nhiên: không. Nhưng sáng ngày 2970 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/Bản ghi nhớ gửi đại sứ Chauvel về vấn đề Hội đàm Guillermaz-Vương Bính Nam (phần thứ 2) ngày 19 tháng 7 hồi 18 giờ 30/Giơ-ne-vơ, 19-7-1954. Chúng tôi gạch dưới), ông ta gọi điện thoại cho đại biểu Pháp nói rằng trái ngược với điều ông ta khẳng định tối hôm trước, chữ ký là tuyệt đối cần thiết71 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/Bản ghi nhớ của tùy viên quân sự ở Băng Cốc gửi bộ tham mưu các lực lượng vũ trang, (Cục 2)/Băng Cốc số 245-AM, 31-8-1954, tr.9). Thế là đến phút chót, ngược lại với người Liên Xô72 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/Bản ghi nhớ gửi đại sứ Chauvel về vấn đề "Hội đàm Guillermaz-Vương Bính Nam (phần thứ 2) ngày 19 tháng 7 hồi 18 giờ 30/Giơ-ne-vơ 19-7-1954. Việc Liên Xô không ủng hộ Trung Quốc trong việc này là đáng chú ý. Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/Bản ghi nhớ của tùy viên quân sự tại Băng Cốc đã dẫn ở trên). Trung Quốc vẫn gây ấn tượng rằng ký tên vào văn kiện đó là một điều thành công của hội nghị. Đúng là Trung Quốc có mọi lý do để khuấy động vấn đề này, bởi vì, dù kết quả thế nào, nó có thể làm chính phủ Mỹ phải lúng túng, khó xử trước dư luận công chúng và Quốc hội Mỹ nếu có ký và trước dư luận quốc tế, nếu không ký. Ngoài ra, trong trường hợp có ký tên, văn kiện của hội nghị như vậy là đã thừa nhận về thực tế sự tồn tại của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đối với Mỹ, và sự thừa nhận đó càng có giá trị đối với Trung Quốc vì nó được đưa vào một văn kiện trong đó chính phủ Washington thực tế tán thành việc ông bạn đồng minh Pháp từ bỏ Đông Dương.


Cuối cùng vấn đề chỉ được giải quyết vào ngày 21 tháng 7 lúc sắp bước vào phiên họp kết thúc hội nghị. Thực vậy, hai vị đồng chủ tịch hội nghị Molotov và I-đơn, sẽ đồng ý đưa vào phần đầu của bản tuyên bố cuối cùng danh sách các nước tham dự hội nghị, điều này miễn cho các đoàn đại biểu khỏi ký tên vào văn bản73 (A.E-den, Memoires (hồi ký), sách đã dẫn, tr.161). Như vậy Trung Quốc đã phải thôi không đòi 9 đoàn cam kết bằng chữ ký, chắc chắn là do sức ép chung của Liên Xô và của Anh74 (Tuy nhiên đoàn đại biểu Trung Quốc không tỏ rõ ra quá thất vọng vào lúc đó (nói chuyện với Chauvel ngày 24 tháng 6 năm 1975)). Ý muốn của Trung Quốc đi đến một thỏa thuận sẽ là mạnh mẽ nhất. Điều đó hình như khẳng định rằng thái độ cứng rắn của Trung Quốc về điểm này trong những ngày thương lượng cuối cùng đúng là nhằm mục đích chủ yếu gây khó khăn cho Mỹ, nhưng không bao giờ Trung Quốc nghĩ đến làm hại đến kết quả đã giành được chỉ vì vấn đề đơn giản là ký tên.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM