Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 08 Tháng Mười Hai, 2019, 12:46:57 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất  (Đọc 30730 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 701



WWW
« Trả lời #10 vào lúc: 05 Tháng Hai, 2011, 12:22:37 PM »

Tóm lại, có nghĩa là năm 1953-1954, quân đội thật sự trở thành một tổ chức độc lập, vừa bằng chế độ tuyển quân, vừa bằng cơ cấu tổ chức. Tuy tách khỏi tổ chức Đảng như vậy, quân đội vẫn phải triệt để phục tùng Đảng. Vả lại, từ hai năm nay, vai trò chính trị và hành pháp của quân nhân đã dần dần giảm đi: Chính là như vậy mà ở các tỉnh, những trách nhiệm dân sự và quân sự đã chính tức tách biệt nhau từ tháng 11 năm 1952. Ngay cả trong một số trường hợp, uỷ ban quân sự của Đảng hãy còn đóng vai trò quan trọng, quân đội Giải phóng nhân dân năm 1954 không còn chút nào là một nhóm để gây sức ép nhằm bảo vệ, bên trong hoặc bên ngoài, đường lối chính trị riêng biệt này hay đường lối chính trị riêng biệt khác. Đây là một điểm không phải không bổ ích để phân tích thái độ của Trung Quốc trong việc giải quyết cuộc khủng Đông Dương.


Về mặt các thể chế chính trị, thời kỳ chuyển tiếp đã qua. Một uỷ ban hiến pháp, đứng đầu là Chủ tịch Mao Trạch Đông, đã được thành lập tháng 1 năm 1953; tháng rưỡi sau đó, ngày 1 tháng 3, một đạo luật tuyển cử đã được thông qua, dự kiến một hệ thống bầu cử gián tiếp để chọn đại biểu vào Quốc hội tương lai. Ngay trong năm đó, các cuộc bầu cử sơ bộ đầu tiên để bầu các hội đồng địa phương đã được tổ chức và đến năm 1954 được kết thúc bằng các cuộc bầu cử Quốc hội. Vả lại, chính nhằm chuẩn bị bầu cử đã tiến hành cuộc điều tra dân số đầu tiên ngày 30 tháng 6 năm 1953. Vào ngày đó Trung Hoa lục địa có 582 triệu dân.


Trong khi các hoạt động bầu cử tiếp dẫn ở nhiều cấp và nhiều vùng khác nhau, dự thảo Hiến pháp đầu tiên do ban chỉ huy Trung ương Đảng đưa ra, đã được Uỷ ban hiến pháp chấp nhận tháng 3 năm 195410 (Về vấn đề này, xem Report on the Draft Constitution of Peopl’e s Republic of China (Báo cáo về Dự thảo Hiến pháp của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa) Bắc Kinh, Nhà xuất bản Ngoại văn, 1954). Được đem ra thảo luận trong số cán bộ cao cấp nhất trong hai tháng, bản dự thảo cuối cùng đã sửa đổi lại, được đem công bố ngày 14 tháng 6 năm 1954, một ngày trước khi hội nghị Giơ-ne-vơ về Triều Tiên tan vỡ. Điều đó có nghĩa là khi hội nghị này khai mạc ngày 26 tháng 4 thì việc định ra các thể chế mới đã tiến khá xa. Giai đoạn chủ yếu, Đảng khởi thảo dự thảo Hiến pháp-đã vượt qua và ngay dù về hình thức văn bản chưa được Quốc hội thông qua, vào mùa xuân 1954, Trung Quốc về phương diện lập hiến đã là một nước ở vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.


Về mặt chính trị, việc phân tích kỹ càng tình hình Trung Quốc đem lại ấn tượng về một Đảng rất đoàn kết, nhất trí xung quanh Chủ tịch Mao Trạch Đông và về một chế độ từ nay hoàn toàn ổn định. Đó là kết luận của W W. Rô-xtốp (W.W.Rostow) lúc bấy giờ là chủ nhiệm của “Dự án về Trung Quốc" tại Trung tâm nghiên cứu quốc tế trường Đại học kỹ thuật Mát-sa-su-sét (Mỹ) trong cuốn sách nhan đề Triển vọng của Trung Hoa cộng sản xuất bản tháng 8 năm 1954: “Công việc này (xem xét tình hình Trung Quốc giữa năm 1954) làm chúng ta nghĩ rằng mặc dù có sự bất mãn quan trọng nhưng vô tổ chức về chính trị của quyết chiến, địa vị hiện thời của chế độ cộng sản Trung Quốc ở lục địa Trung Hoa đã được đảm bảo về đối nội, do có sự đoàn kết và các công cụ kiểm soát”11 (Uôn-tơ, W.Rô-xtôp và những người khác: The Prospects for Communist China (Tương lai của nước Trung Hoa cộng sản) Cambrigde Technology Press of Massachussetts Institute of Technology, 1954, tr.311). Hoặc một đánh giá khác nữa cũng của chuyên gia đó: “Kết luận chung của chúng tôi (…) là ê-kíp lãnh đạo ở Bắc Kinh hiện nay có sức mạnh đoàn kết của một cường quốc hiếm có và cả duy nhất nữa trong lịch sử chủ nghĩa cộng sản. Sự đoàn kết đó tập trung vào con người của Mao”12 (Như trên, tr.131). Cuối cùng, ông ta viết về quân đội: “Ngoài ra, chừng nào Mao còn giữ được quyền kiểm soát, thì không chắc rằng quân đội thừa nhận và ủng hộ một lập trường chính trị nào độc lập với các cấp cao nhất trong chính phủ"13 (Như trên, tr.134). Với câu, chữ kém câu nệ hơn, người ta báo cáo về Bộ Ngoại giao (Pháp): “Không nên hi vọng chế độ độc tài chuyên chế sụp đổ, một nền độc tài thiết lập bằng cuộc chinh phục quân sự năm 1949, có bộ máy cảnh sát hùng hậu và vũ trang tốt, có thể đàn áp mọi mưu toan nổi dậy”14 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp (châu Á-châu Đại dương) 13-3-1954. Bản ghi nhớ về vấn đề Những nhân tố kinh tế có thể ảnh hưởng đến lập trường của Trung Quốc ở Giơ-ne-vơ. Cùng một ý kiến trong cuốn The China Prbolem and U.S.Policy (Vấn đề Trung Quốc và chính sách của Mỹ) Department of State Publication 5460 Far Eastern Series 64, tháng 5-1954, tr.4 (bài của Et-uyn Ma-tin, Phó vụ trưởng, Vụ Trung Quốc Bộ Ngoại giao Mỹ).


Ngay cả đôi khi cách đánh giá tuyệt đối đó không phản ánh đúng tình hình thực tế15 (Bộ Ngoại giao Pháp thắc mắc về sự thay đổi một vài thành viên chính phủ Bắc Kinh tháng 9-1953. Đặng Tiểu Bình thay Bạc Nhất Ba làm Bộ trưởng Bộ Tài chính, Xem hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp (châu Á-châu Đại dương ngày 15-10-1953). Bản ghi nhớ về “Trung Quốc". Ngoài ra, phân tích bài diễn văn của Trần Vân ngày 5-3-1954 có một chú thích như sau: “Nội dung bao hàm sự tồn tại một nhóm cơ hội trong Đảng Cộng sản Trung Quốc đối lập với Mát-xcơ-va”. (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp châu Á-châu Đại dương) 12-3-1954. Bản ghi nhớ về “hội nghị Giơ-ne-vơ”. Ngoài ra, việc Cao Cương không xuất hiện trước công chúng đã được chú ý (Nói chuyện với J. Ghi-éc-ma, 14-3-1954). Ngược lại, một bài xã luận báo Economist (Nhà kinh tế học) ngày 19-6-1954 nhan đề “The Men at the To”. (Những người ở tột đỉnh) còn nhấn mạnh thế mạnh của Cao Cương ở Mãn Châu). Rõ ràng là cho đến trước hội nghị Giơ-ne-vơ, sức mạnh và sự đồng nhất của chế độ mới ở Trung Quốc không còn là điều phải hoài nghi nữa.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 701



WWW
« Trả lời #11 vào lúc: 05 Tháng Hai, 2011, 12:25:41 PM »

Hiện đại hoá nền kinh tế

Trong lĩnh vực nền kinh tế, con đường trải qua kể từ khi cộng sản lên cầm quyền cũng là đáng kể. Dù cho người ta có đề cập đến vấn đề thông qua lĩnh vực nông nghiệp-thu hút 85% dân số, các cơ sở hạ tầng, lĩnh vực công nghiệp mới thành hình, hoặc lĩnh vực tài chính công cộng thì cũng không chối cãi được rằng đến mùa xuân 1954 chế độ mới đã phục hồi được nền kinh tế quốc dân. Chắc chắn là đã phạm phải những sai lầm, có những mục tiêu không đạt được nhưng những thiếu tót đó không thể che lấp được mặt chủ yếu là Trung Quốc từ nay có một nền sản xuất chưa cao lắm nhưng đang tiến triển, ít nhất là về số lượng.


Trong nông thôn, cuộc cải cách ruộng đất gần hoàn thành. Năm 1952, hầu như tất cả các mức sản xuất cao nhất trước cách mạng đã được đuổi kịp. Nhất là, theo thống kê chính thức, sản lượng ngũ cốc từ 108,1 triệu tấn năm 194916 (Xem bảng 1. Năm 1949 đúng là một năm thu hoạch đặc biệt kém. Về sản lượng nông nghiệp và công nghiệp năm 1952-1953, xem thống kê chính thức của Trung Quốc, nhưng chắc số liệu cần được phê phán), đã tăng lên 154,4 triệu tấn năm 1952 và 156,9 triệu tấn năm 1953. Mức tăng như vậy không phải là thấp. Tuy nhiên, sản lượng đạt được còn chưa đáp ứng đủ nhu cầu, như Đặng Tử Khôi phụ trách về nông nghiệp đã thừa nhận. Năm 1953, nhu cầu về ngũ cốc của Trung Quốc là 275 hoặc 300 triệu tấn17 (Nhân dân nhật báo, 23-9-1953, Ghi-éc-ma trích dẫn, Xem J. Ghi-éc-ma, sách đã dẫn, tr.38). Trong lĩnh vực công nghiệp, nhiều ngành đã vượt qua sản lượng cao nhất trước cách mạng. Nói riêng về than năm 1955 đạt 69 triệu tấn, vượt năm 1942; về thép với 1,7 triệu tấn, đã nhiều hơn gần 2 lần năm 1943, về bông với 107 triệu tấm vải, đã vượt hơn 2 lần năm 193618 (Xem bảng 2. Những năm để tham chiếu là những năm có sản lượng cao nhất trước cách mạng).



Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 701



WWW
« Trả lời #12 vào lúc: 05 Tháng Hai, 2011, 12:27:16 PM »

Tổng quát lại, so với năm 1949, sản lượng công nghiệp năm 1953 tăng gấp ba lần, còn sản lượng nông nghiệp tăng 53%19 (Xem bảng 3, tiếp theo).


J. Ghi-éc-ma ghi nhận như sau:
“Cuối năm 1952, theo nguồn tin chính thức mặc dù có nhược điểm và sai lầm trong xây dựng cơ bản-chỉ thực hiện được 85% kế hoạch-có nhiều kết quả đã đạt được trong các lĩnh vực: cải cách ruộng đất gần hoàn thành, công nghiệp đã triển khai, vận tải đã phục hồi và phát triển, ngân sách cân đối, đồng tiền ổn định. Tất cả các ngành đều đạt mức thống kê cao nhất trước chiến tranh. Việc chấm dứt chiến tranh Triều Tiên, viện trợ quan trọng của người Nga mà giá phải trả là đắt nhưng cần thiết, sẽ làm cho chế độ mới đi vào kỷ nguyên kế hoạch hoá, vừa đi vào tập thể hoá, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội sắp có thể bắt đầu20 (J. Ghi-éc-ma, sách đã dẫn, tr.45).


Quả vậy, từ tháng 11 năm 1953, Uỷ ban kế hoạch đã thành lập trực thuộc Hội đồng Chính phủ21 (Uỷ ban này thay thế Uỷ ban Kinh tế và Tài chính trực thuộc Hội đồng Quốc vụ viện) và từ đầu 1953, đưa ra về mặt lý thuyết kế hoạch 5 năm đầu tiên. Vậy mà việc lãnh đạo Uỷ ban kế hoạch lại đã giao cho Cao Cương, người còn cầm vận mệnh khu đông bắc Trung Quốc là nơi chiếm phần chủ yếu trong tiềm lực công nghiệp của đất nước. Những cuộc đả kích đánh vào nhân vật quan trọng này bắt đầu từ 1953 vì những hoạt động chống Đảng của ông ta và sau đó việc hạ bệ vào tháng 2 năm 195422 (Xem đoạn trước) cũng đã làm xáo động mạnh mẽ việc xây dựng kế hoạch23 (Việc quản lý kế hoạch chỉ được cải tổ từ cuối năm 1954 khi thành lập nhiều cơ quan mới. Vào lúc này, Lý Phú Xuân vốn là Phó chủ nhiệm nay lên làm Chủ nhiệm Uỷ ban kế hoạch). Thêm vào những thiếu sót trong bộ máy thống kê, việc thiếu những cán bộ kỹ thuật kinh tế trong ê-kíp lãnh đạo và việc Liên Xô chậm xác định ý đồ viện trợ cho Trung Quốc, những khó khăn về chính trị nói trên, đã làm chậm trễ rất nhiều công việc nghiên cứu càn thiết phải có trước để thực sự kế hoạch hoá. Thực tế, đến đầu năm 1955 những mục tiêu của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất mới được quyết định một cách chính xác tức là chậm hai năm kể từ lúc chính thức đề ra kế hoạch và đến tháng bẩy năm đó, Quốc hội mới thông qua. Lý Phú Xuân, người thay thế Cao Cương đã đưa những lý do của tình hình chậm trễ đó:

“… Điều đó được giải thích là ở chỗ công tác điều tra nghiên cứu các nguồn tài nguyên thiên nhiên của chúng ta chưa đẩy mạnh, chúng ta có ít số liệu thống kê, chúng ta lại có nhiều thành phần kinh tế khác nhau cùng tồn tại, chúng ta thiếu kinh nghiệm trong việc lập kế hoạch dài hạn. Chúng ta lại chỉ có kinh nghiệm vụn vặt không hoàn chỉnh trong công tác xây dựng"24 (Lý Phú Xuân: Báo cáo về kế hoạch 5 năm lần thứ nhất về phát triển nền kinh tế quốc dân của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa 1953-1957, Bắc Kinh Nhà xuất bản Ngoại văn, 1956, tr.7).
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 701



WWW
« Trả lời #13 vào lúc: 05 Tháng Hai, 2011, 12:29:16 PM »

Tháng 4 năm 1954 khi hội nghị Giơ-ne-vơ khai mạc, công tác kế hoạch hoá của Trung Quốc mới ở giai đoạn đề ra những ý định hơn là giai đoạn thực hiện. Nhưng nếu những mục tiêu bằng con số chưa được ấn định thì đường lối chủ đạo đã được đề ra. Chính vì vậy, Đổng Tất Vũ, chẳng hạn, là người đứng đầu Uỷ ban công tác chính trị và pháp luật đã trình bày trong một bài báo đăng trên tờ Sự thật ngày 1 tháng 1, như sau:

“Chúng ta đều biết, việc xây dựng nền công nghiệp nhất là công nghiệp nặng đòi hỏi một số vốn khổng lồ. Theo lời dạy của Lê-nin và Xta-lin, và theo kinh nghiệm của Liên Xô, chỉ có thể có được công nghiệp bằng cách tiết kiệm và tích luỹ xã hội chủ nghĩa"25 (Đổng Tất Vũ: Nhân dân Trung Quốc đấu tranh xây dựng chủ nghĩa xã hội, Pra-vơ-đa, 1-1-1954, Ghi-éc-ma trích trong sách đã dẫn, tr.91).


Chính vì vậy mà những người phụ trách kinh tế đã quyết định dành ưu tiên tuyệt đối cho việc phát triển công nghiệp nặng, vì chỉ có công nghiệp nặng mới có khả năng phát động quá trình tích luỹ về sự phát triển. Chính là để cung cấp một phần về tài chính cho việc phát triển công nghiệp nặng mà tháng 1 năm 1954 đã phát hành công trái 6.000 tỷ nhân dân tệ (cũ) hạn 8 năm, lãi suất mỗi năm 4%. Ở phương Tây người ta cũng đã biết được ý định của Trung Quốc là ráo riết công nghiệp hoá theo mô hình Liên Xô. Bản ghi nhớ của Bộ Ngoại giao (Pháp) tháng 3 năm 1954 nhắc đến rõ ràng: “Các người lãnh đạo Trung Quốc đã tập hợp lực lượng chủ chốt của đất nước để hướng vào mục đích chủ yếu nếu không phải là duy nhất, hiện nay được tóm tắt thành ba chữ: “công nghiệp hoá”26 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp (châu Á-châu Đại dương 30-3-1954). Bản ghi nhớ về vấn đề Những nhân tố kinh tế có thể ảnh hưởng đến lập trường của Trung Quốc ở Giơ-ne-vơ).


Cũng như kế hoạch hoá, việc tập thể hoá (nông nghiệp) mới ở bước đầu. Đúng như vậy, từ tháng 12 năm 1951 trong lúc cuộc cải cách ruộng đất đang tiếp diễn, ban chỉ huy Trung ương đã khởi thảo dự thảo quyết định về tương trợ và hợp tác. Đến tháng 2 năm 1953 mới phổ biến dự thảo này27 (J. Ghi-éc-ma, sách đã dẫn, tr.96). Nhưng mục tiêu của những biện pháp ban đầu đó còn hạn chế: mới chỉ là thúc đẩy việc thành lập các tổ tương trợ ở nông thôn, một số có tính chất tạm thời, một số khác hoạt động thường xuyên. Năm 1954 khoảng một nửa tổng số nông hộ đã được tổ chức theo cách trên.


Giai đoạn sau này mới là tập thể hoá thực sự, nghĩa là thành lập các hợp tác xã nửa xã hội chủ nghĩa và hoàn toàn xã hội chủ nghĩa nhiều khi từ các tổ tương trợ phát triển lên. Từ 1952-1953 một vài địa phương đã tổ chức làm thử để rút kinh nghiệm nhưng phong trào chỉ thực sự phát động kể từ ngày 16 tháng 12 năm 1953. Cùng với việc ban chỉ huy Trung ương thông qua “Quyết định phát triển các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp” và đem công bố ngày 8 tháng 1 sau đó28 (Xem “Hợp tác xã nông nghiệp ở Trung Quốc-Quyết định về việc phát triển các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp” do ban chỉ huy Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc thông qua ngày 16-12-1953-Bắc Kinh, Nhà xuất bản Ngoại văn, 1954. Cũng xem bản tin Tân Hoa xã, 8-1-1954. Quyết định của ban chỉ huy Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc về việc phát triển các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp).


Tuy nhiên, vào mùa xuân 1954, chính sách tập thể hoá hãy còn chưa đi vào giai đoạn thực hiện tích cực29 (Tháng 12-1953, ban chỉ huy Trung ương quyết định thành lập 45.000 hợp tác xã trong năm 1954, nhưng từ tháng 3-1954 có tin đã lập xong 90.000 hợp tác xã (mục tiêu cho năm 1957 là 800.000 hợp tác xã). Xem W.W. Rô-xtâu, sách đã dẫn, tr.94 và chú thích 43, tr.98).


Như vậy có nghĩa là về mặt này cũng như về kế hoạch hoá, tình hình không rõ ràng mấy. Về nguyên tắc, những người lãnh đạo Trung Quốc luôn luôn nhắc đi nhắc lại rằng nước Trung Hoa từ nay kiên quyết đi vào con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhưng thực ra một phần khá lớn nền kinh tế quốc dân còn được quản lý giống như khi cồn ở thời kỳ quá độ tức là với khá nhiều tính chất thực dụng.


Vả lại, phải thừa nhận rằng đến đầu năm 1954, viện trợ của Liên Xô (và các nước dân chủ nhân dân Đông Âu) dành cho Trung Quốc còn khá hạn chế30 (Về quan hệ giữa Trung Quốc và phe xã hội chủ nghĩa vào khoảng năm 1954, xem trang sau). Chắc chắn là tiếp sau đó, nhất là sau khi ký các hiệp định giữa Bắc Kinh và Mát-xcơ-va ngày 12 tháng 10 năm 195431 (Đặc biệt, một hiệp định vay nợ 520 triệu rúp (khoảng 130 triệu đôla Mỹ). Xem D.M Giôn-xơn và Hung dahchiu: Agreement for the People’s Republic of china, 1949-1967 (những hiệp định của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa) Harvard University press. Cambrigde (Mass.), 1968, trang 30, 31), sự tham gia của Liên Xô vào kế hoạch 5 năm lần thứ nhất trở nên lớn lao hơn. Không những Liên Xô cung cấp một phần quan trọng về tài chính mà cả chuyên gia, cơ sở kỹ thuật cần thiết cho việc xây dựng nền công nghiệp Trung Quốc. Nhưng đến mùa xuân 1954, viện trợ kinh tế của Liên Xô hãy còn ít. Yếu tố chủ yếu của viện trợ này là hiệp định ký ngày 14 tháng 2 năm 1950 ở Mát-xcơ-va32 (Xem Hiệp ước Xô-Trung, ngày 14-2-1950, People’s China 1-3-1950), theo đó Liên Xô đã cho Trung Quốc vay 300 triệu đôla Mỹ để mua thiết bị công nghiệp của Liên Xô. Khoản vay này, lãi suất hằng năm 1%, đem sử dụng trong 5 năm mỗi năm 60 triệu. Như vậy đến năm 1954 số tiền vay đã sử dụng gần hết và từ nay Trung Quốc đã phải bắt đầu trả nợ dưới hình thức giao nguyên liệu và thực phẩm, giải ra trong mười năm (từ 1954 đến 1963) và theo giá thị trường thế giới. Đúng là giữa 1950 và 1954 nhiều hiệp định khác nhau về hợp tác kinh tế và kỹ thuật được ký kết giữa Trung Quốc và Liên Xô, nhất là vào tháng 3 và tháng 9 năm 1953, hai bên ký văn kiện về việc Liên Xô giúp xây dựng 91 “dự án lớn” mới, nhưng phần lớn các hiệp định đều là thứ yếu so với hiệp định tháng 2 năm 195033 (Về vấn đề này, tham khảo Sydney Klein: The Road Divides: Economic Aspects of the Sino-Soviet Dispute (con đường chia rẽ-Khía cạnh kinh tế của cuộc tranh chấp Trung-Xô) Hồng Công, 1966, tr.45-85).


Các giới ngoại giao phương Tây đã đánh giá khá đúng về những sự lựa chọn chủ yếu của kế hoạch 5 năm và những vấn đề đặt ra khi bắt đầu triển khai. Những thiếu sót trong sản xuất nông nghiệp được mọi người biết đến và được coi như một trong những yếu tố chủ yếu của tình hình kinh tế Trung Quốc. Một vài tác giả không do dự nói đến nạn đói và thậm chí xem đó là một trong những lý do có thể đưa đến cuộc khủng hoảng chính trị nội bộ34 (W.W. Rô-tâu, sách đã dẫn, tr.294 và 303).


Ngoài ra, người ta được biết rằng chế độ mới đã quyết định dành phần lớn phương tiện của mình vào việc công nghiệp hoá đất nước, W.W Rô-xtốp (W.W. Rostow) viết: “Thực chất mô hình cộng sản Trung Quốc nằm trong những mô hình chủ trương phát triển công nghiệp dựa vào sự phát triển của nông nghiệp”35 (Như trên, tr.257). Tóm lại, Trung Quốc theo hoàn toàn mô hình Xta-lin về xây dựng chủ nghĩa xã hội36 (Như trên, tr.256). Vậy mà, đã không thể bảo đảm đủ lương thực cho nhân dân và còn phải cung cấp phần dư thừa có thể xuất khẩu để bù đắp cho nhu càu nhập khẩu thông thường, nông nghiệp chắc chắn là không thể là nguồn cung cấp quan trọng về tài chính cho công nghiệp37 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp, (châu Á-châu Đại dương 30-3-1954) Bản ghi nhớ về những nhân tố kinh tế có thể ảnh hưởng đến lập trường của Trung Quốc ở Giơ-ne-vơ).
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 701



WWW
« Trả lời #14 vào lúc: 05 Tháng Hai, 2011, 12:31:38 PM »

Về phần Liên Xô và các nước dân chủ nhân dân Đông Âu thì chính các nước này cũng phải đối phó với những vấn đề kinh tế nghiêm trọng; theo các nhà quan sát phương Tây, thì họ tỏ ra không đủ sức “cung cấp cho Trung Quốc khối lượng viện trợ cần thiết để triển khai kế hoạch 5 năm lần thứ nhất”38 (Như trên, cũng xem W.W Rô-xtốp, sách đã dẫn, tr.276). Phải chăng như thế là đã gợi ý rằng xét cho cùng, công nghiệp hoá của Trung Quốc chỉ có thể đi qua con đường mở cửa ra phương Tây? Quả vậy, rõ ràng rằng tình hình kinh tế Trung Quốc năm 1954 như đã được phân tích ở phương Tây, thúc giục Chính phủ Bắc Kinh phải phát triển bằng mọi cách nền ngoại thương với các nước không phải là xã hội chủ nghĩa39 (W.W. Rô-xtốp, sách đã dẫn, tr.272 và 302). Đó cũng là lập trường của Bộ Ngoại giao (Pháp).


“Muốn đạt được quy chế cường quốc, Trung Hoa phải có đủ cố gắng khổng lồ trong những năm tới để công nghiệp hoá, Trung Hoa chỉ làm được như vậy bằng cách nhập khẩu ồ ạt sắt, thép và thiết bị các loại của các nước tư bản chủ nghĩa. Vậy mà nông nghiệp Trung Quốc lúc này đang ở trong tình thế khó khăn, do các biện pháp tập thể hoá được quyết định hơi hấp tấp nhằm mục đích thuần tuý chính trị. Dù thế nào nữa, vì sản phẩm dư thừa có thể xuất khẩu lại quá ít, hệ thống trao đổi hàng nông sản và chăn nuôi lấy sản phẩm công nghiệp hoàn toàn không thích nghi với nhu cầu hiện tại. Vậy Trung Hoa có nhu cầu cấp thiết lập lại các mối quan hệ quốc tế bình thường với các nước phương Tây để có thể, nhờ các khoản vay dài hạn, mua của các nước đó, tất cả những thứ cần thiết cho việc xây dựng nền công nghiệp của mình”40 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp (châu Á-châu Đại dương 13-3-1954). Bản ghi nhớ về vấn đề Những nhân tố kinh tế có thể ảnh hưởng đến lập trường của Trung Quốc ở Giơ-ne-vơ (Tác giả gạch dưới)).


Đúng là báo chí Trung Quốc, nhất là từ lúc ký kết đình chiến Triều Tiên, luôn luôn cổ vũ việc bình thường hoá quan hệ thương mại với tất cả các nước trên thế giới. Xã luận Nhân dân nhật báo, ngày 3 tháng 9 năm 1953, nhân dịp kỷ niệm lần thứ 8 cuộc bại trận của Nhật, trong khi chào mừng “tương lai tươi sáng của các dân tộc châu Á” đảm bảo rằng ngoài những hậu quả khác, đình chiến Triều Tiên phải đem lại ”Việc phục hồi và phát triển mối quan hệ bình thường và quan hệ kinh tế giữa các nước châu Á, nhất là giữa Nhật Bản và các nước khác”41 (Nhân dân nhật báo 3-9-1953). Những hiệp định đầu tiên ký kết với các nước trung lập hoặc phương Tây đã được hoan nghênh nhiệt liệt nhất. Trong xã luận dài của báo People’s China Khai Bái Niên (K’o-Pai-nien) Uỷ viên ban lãnh đạo Viện quan hệ với nước ngoài, thành viên của đoàn đại biểu Trung Quốc tại Giơ-ne-vơ, khi nhắc lại rằng Trung Quốc “mong muốn phát triển quan hệ buôn bán với tất cả các nước trên thế giới”, còn nói rõ: “nước Trung Hoa không có định kiến với bất kỳ nước tư bản chủ nghĩa nào muốn phát triển quan hệ buôn bán trên cơ sở bình đẳng và hai bên đều có lợi”42 (Peple’s chian, 1-10-1953, tr.16-17. Về yêu cầu kinh tế của Trung Quốc và về ý muốn thương lượng xem hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/Điện số 9 Tuỳ viên quân sự/Hồng Công/8-3-1954;-Cao uỷ Pháp tại Đông Dương/Tổng cục tư liệu/Bản ghi nhớ về vấn đề “Hoà bình ở Đông Dương"/số 467/22-3-1954 (châu Á-châu Đại dương 12-3-1954). Bản ghi nhớ về hội nghị Giơ-ne-vơ; Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp (Bản ghi nhớ J.Sô-ven 9-4-1954). Về vấn đề hội nghị Giơ-ne-vơ). Và “những lời kêu gọi” đó thường nhằm vào Nhật Bản"43 (Nhân dân nhật báo “quan hệ Trung Quốc-Nhật Bản" 30-10-1953).


Như vậy, vào lúc sắp họp hội nghị Giơ-ne-vơ, các cường quốc phương Tây đánh giá rằng các nhu cầu kinh tế mà Trung Quốc buộc phải nghĩ tới có thể đóng  vai trò quyết định trong thái độ của chính phủ Bắc Kinh. Bản ghi nhớ của Bộ Ngoại giao (Pháp) nói ở trên đã kết luận là “được phép nghĩ rằng các vấn đề kinh tế đó sẽ ở đằng sau các mối quan tâm của Trung Quốc mặc dù những nhà thương lượng phương Tây có quyền từ chối cuộc thảo luận, những vấn đề đó sẽ vẫn có khả năng là đề tài của một sự mặc cả ngầm”44 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp 13-3-1954. Bản ghi nhớ về vấn đề Những nhân tố kinh tế có thể ảnh hưởng đến lập trường của Trung Quốc ở Giơ-ne-vơ hai mươi năm sau, đại sứ Sô-ven viết rằng năm 1954 nước Pháp không có lý do để nghĩ rằng Bắc Kinh có thể nhân nhượng những nguyên tắc của mình để có được đầu máy xe lửa thậm chí những khoản vay dài hạn. Xem sách đã dẫn của Sô-ven, tr.41. Tuy vậy vào lúc bấy giờ đó không phải là một ý kiến được chấp nhận rộng rãi). Nếu thật sự nước Trung Hoa có nhu cầu tăng cường trao đổi với phương Tây, thì lợi ích của họ là phải chứng tỏ một thái độ mềm dẻo nào đó về vấn đề Đông Dương, một vấn đề mà không khí chính trị căng thẳng do Trung Quốc kéo dài ở Đông Á đã gây trở ngại cho việc chấm dứt việc cấm buôn bán đề ra từ năm 195145 (W.W Rô-xtốp. Sách đã dẫn tr.95 Về cấm vận do Liên hợp quốc quyết định năm 1951, xem đoạn sau. Vấn đề đàm phán thương mại giữa Trung Quốc và phương Tây diễn ra trong thời gian hội nghị Giơ-ne-vơ sẽ được nghiên cứu ở chương V).
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 701



WWW
« Trả lời #15 vào lúc: 06 Tháng Hai, 2011, 02:09:42 PM »

Phá thế cô lập với phương Tây

Quả vậy, triển vọng của sự cần thiết mở cửa vấn đề kinh tế với bên ngoài đặt ra vấn đề quan hệ chính trị giữa Trung Quốc và cộng đồng quốc tế không xã hội chủ nghĩa.

Khi hội nghị Giơ-ne-vơ khai mạc, chỉ mới có 20 nước có quan hệ ngoại giao với Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, trong đó 11 nước là những nước xã hội chủ nghĩa. Đi đầu là Liên Xô, đặt quan hệ với Bắc Kinh ngày 3 tháng 10 năm 1949, theo sau là tám nước dân chủ nhân dân khác, trong cùng tháng đó, rồi đến lượt An-ba-ni ngày 23 tháng 11 năm 1949, và sau cùng trong loạt đầu tiên các nước đặt quan hệ với Trung Hoa nhân dân là nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, ngày 18 tháng 1 năm 195046 (Về sự thừa nhận lẫn nhau giữa Cộng hoà nhân dân Trung Hoa và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, xem chương II), chậm 3 tháng so với các nước xã hội chủ nghĩa khác.


Nước Trung Hoa theo cách diễn đạt của Mao Trạch Đông, đã “đứng hẳn về một bên”. Quan hệ với phe xã hội chủ nghĩa nhất là với Liên Xô, trong nhiều năm, là trung tâm của chính sách đối ngoại. Vào mùa xuân năm 1954, hiệp ước đồng minh Trung-Xô, ngày 14 tháng 2 năm 1950 chắc chắn là một trong những luận cứ chủ yếu của sự cân bằng chiến lược ở Viễn Đông47a (Xin nhắc lại rằng “Hiệp ước hữu nghị đồng minh và tương trợ” trước hết là một hiệp định phòng thủ chống mọi cuộc xâm lược mới” của Nhật Bản hoặc của một nước đồng minh của Nhật” (điều 1)).


Tuy nhiên, việc kéo dài đàm phán mới ký kết được hiệp ước nói trên, việc Liên Xô áp đặt thời hạn cho việc từ bỏ những lợi ích của họ ở Trung Quốc, việc đòi bồi hoàn trong một số trường hợp, ý muốn của Liên Xô muốn lập các công ty Xô-Trung để tham gia khai thác ở Tân Cương là bấy nhiêu dấu hiệu của những mối bất đồng giữa Liên Xô và Trung Quốc, đằng sau những hiệp định nói trên. Việc nước Nga Sa hoàng tham dự vào việc phân chia đế quốc Trung Hoa cũ và mối quan hệ khó khăn giữa Xta-lin và Đảng Cộng sản Trung Quốc trong những năm trước “giải phóng" hãy còn mới trong tâm trí nhiều nhà lãnh đạo Trung Quốc để trong một ngày có thể xoá đi hằng chục năm giữ kẽ với nhau, hoặc thậm chí kình địch thật sự với nhau. Có nghĩa là nếu sự liên minh với Liên Xô đem lại cho chế độ mới của Trung Quốc một sự ủng hộ bên ngoài về quân sự và kinh tế tuyệt đối cần thiết với Trung Quốc thì ngược lại sự liên minh đó không phải là không đặt ra với Trung Quốc một vài vấn đề quan trọng. Kể từ năm 1956 Mao Trạch Đông đã công khai nói ra những khó khăn ông ta đã phải vượt qua trong năm 1949-1950 để ký được hiệp ước 14 tháng 247b (Mao Trạch Đông: Tuyển tập, tập V. tr.328).

Nói chung, phần đông các chuyên gia và những người có trách nhiệm về chính trị ở phương Tây đều tin rằng có những khó khăn đó.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 701



WWW
« Trả lời #16 vào lúc: 06 Tháng Hai, 2011, 02:12:08 PM »

W.W. Rô-xtốp, chẳng hạn, chỉ tin ở tính bền vững của liên minh Trung-Xô trong chừng mực sự liên minh đó cần thiết cho chính sách đối ngoại của Trung Quốc. Đối với Rô-xtốp, sự bành trướng cộng sản, dù là của lịch sử ở châu Âu hay của Trung Quốc ở châu Á, chỉ giải thích được rằng các chính phủ Mát-xcơ-va và Bắc Kinh liên minh với nhau là để chống kẻ thù chung: Mỹ và Nhật Bản. Nhưng ông ta thêm:

“Điều cũng có thể đúng sự thật là một số đông những người cộng sản Trung Quốc, trong khuôn khổ các mối quan hệ chặt chẽ và liên tục với Liên Xô, gây sức ép nhằm những mục tiêu như sau: Các lực lượng vũ trang Trung Quốc ngày càng độc lập đối với cố vấn và trang bị của Liên Xô; Liên Xô thu hẹp quyền lực và giảm bớt sự mặc cả ở vùng biên giới; Trung Quốc phụ thuộc đến mức tối thiểu về ngoại thương với khối cộng sản; và nói chung Liên Xô chỉ có khả năng tối thiểu tác động trực tiếp, kiểm soát, hoặc thậm chí theo dõi sự phát triển bên trong của chế độ cộng sản Trung Quốc48 (W.W. Rostow, sách đã dẫn, tr.131).


Một nhà quan sát thành thạo như Rô-bớt Noóc (Robert C.North) cũng cho rằng “sẽ phạm sai lầm nếu nghĩ rằng chính sách của Trung Quốc tất yếu là chính sách của Nga”49 (Robert C. North: Moscow and the Chinese Communists (Mát-xcơ-va và cộng sản Trung Quốc) Stanford University Press, 1953, tr.270). Ông ta viết “Chắc chắn là những xung khắc giữa cộng sản Trung Quốc và cộng sản Nga có thể sẽ ngày càng trầm trọng mà Mỹ và đồng minh phải tìm cách phát hiện và khai thác”50 (Rô-bớt C.Noóc, sách đã dẫn, tr.277).


Như vậy, Bộ Ngoại giao (Pháp) cũng nghĩ là có thể thấy rõ “một vài sự khác trinh sát" giữa Trung Quốc và Liên Xô. Theo bộ đó, chuyến đi thăm Mát-xcơ-va của Kim Nhật Thành cuối 1953 đã “rõ ràng đưa ra ánh sáng sự sa sút ảnh hưởng của Trung Quốc và việc lập lại ưu thế Nga ở Bắc Triều Tiên”. Nhưng lời phát biểu của Kim Nhật Thành về “Liên Xô” là người bạn trung thành và gần gũi nhất của nhân dân Triều Tiên” đã được đặt ra một cách cẩn thận. Đồng thời, theo các nhà quan sát nước ngoài, lập trường của Trung Quốc và Liên Xô trong việc tổ chức hội nghị bàn về vấn đề chính trị ở Triều Tiên, tỏ ra có sự khác nhau. Tháng 8 năm 1953, Liên Xô đề nghị với các nước trung lập ngoài châu Á (Ba Lan, Tiệp Khắc, Xy-ri, Ai Cập, Mếch-xi-cô) tham gia hội nghị trong khi Trung Quốc, hồi tháng 9 cùng năm đó, lại đề nghị một danh sách các nước trung lập châu Á (Miến Điện, In-đô-nê-xi-a, Pa-ki-xtan, Ấn Độ). Cuối cùng, Bộ Ngoại giao Pháp cho rằng “sự vụng về của Vi-xin-xki (Visinskij) đưa ra không đúng lúc vấn đề Trung Quốc gia nhập Liên hợp quốc” “có lẽ không phải hoàn toàn là ngẫu nhiên”51 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp (châu Á-châu Đại dương 15-101-1953), bản ghi nhớ về Trung Quốc, tr.5-6). Bản ghi nhớ của Bộ Ngoại giao Pháp cũng nói thêm rằng “tuy nhiên cũng phải đề phòng là không nên cường điệu ý nghĩa của các dấu hiệu đó. Chính phủ Bắc Kinh-mà sự trung thành về mặt học thuyết là không có gì phải hoài nghi trong hoàn cảnh hiện nay, hết sức cần đến sự viện trợ của Liên Xô để thực hiện kế hoạch công nghiệp hoá". Tóm lại, mặc dù có nhiều dấu hiệu tỏ ra có sự không ăn ý nhau giữa Mát-xcơ-va và Bắc Kinh, người ta còn do dự trong việc chấp nhận rằng hai nước có thể tiến hành những chính sách đối ngoại khác biệt: “Người ta sẽ chứng kiến một ngày kia sự phân chia lãnh thổ Âu-Á này ra hai khu vực ảnh hưởng, một ở phía tây dành cho Mát-xcơ-va, một ở Viễn Đông dưới sự bảo trợ của Bắc Kinh. Tuy nhiên, có thể là vô ích và nguy hiểm nếu xây dựng một chính sách dựa trên những hi vọng xa xôi và có thể sẽ là ảo tưởng”52 (hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp (châu Á-chấu Đại dương 26-11-1953) Bản ghi nhớ vè Trung Hoa nhân dân, tr.5-6).


Đó cũng là sự phân tích gần giống với những điều mà các bộ trưởng ngoại giao Pháp, Anh Mỹ trình bày trong cuộc gặp gỡ tại Béc-muýt (từ 4 đến 7 tháng 12 năm 1953). G. Bi-đôn, trong cuộc gặp ngày 4 tháng 12, đã nhấn mạnh rằng “theo ông ta, những mối quan hệ giữa hai nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa và Liên Xô không thoải mái như người ta tưởng”. Việc gọi đại sứ Liên Xô tại Trung Quốc Ku-dơ-nét-xốp về Mát-xcơ-va tỏ ra có ý nghĩa đối với cách nhìn đó của ông ta”.


Ba ngày sau, trong cuộc họp ngày 7, Đa-lét đưa ra một luận điểm rất gần với Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Pháp. Trong khi thừa nhận rằng “tình trạng quan hệ giữa Bắc Kinh và Mát-xcơ-va có vẻ không rõ ràng đối với ông ta”. Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Mỹ cho rằng có sự “khó khăn giữa hai thủ đô”, ông ta nói thêm rằng “tính chất tế nhị của các mối quan hệ đó (…) là do Mao Trạch Đông, một lãnh tụ quan trọng có uy tín nhiều hơn cả bản thân Ma-len-cốp, khó mà các nhà lãnh đạo mới của Liên Xô có thể ra lệnh cho ông ta. Nếu người Nga đề cao Mao, chính là vì họ cảm thấy bắt buộc phải cư xử với ông ta như là người cùng phe cánh và bình đẳng”* (Từ đây, những dấu “*” là để chỉ những nguồn tài liệu chính thức chưa được phép công bố). Điều đó dẫn Đa-lét đến một kết luận: “Ở đó có một nhân tố có thể sử dụng nếu người ta muốn khai thác một vài sự chia rẽ trong phe cộng sản”*.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 701



WWW
« Trả lời #17 vào lúc: 06 Tháng Hai, 2011, 02:14:47 PM »

Những khó khăn tiềm tàng trong quan hệ giữa Trung Quốc và Liên Xô càng tô đậm thêm quan hệ giữa Bắc Kinh với các thủ đô của thế giới trung lập châu Á, mặc dù những mối quan hệ đó còn chưa mở rộng lắm. Đến trước hội nghị Giơ-ne-vơ, mới có bốn nước của thế giới thứ ba thiết lập quan hệ ngoại giao với Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, tất cả đều là những nước trung lập ở Nam Á và Đông Nam Á: Ấn Độ, Miến Điện, In-đô-nê-xi-a năm 1950, Pa-ki-xtan năm 1951.



Quan hệ Trung-Ấn là trụ cột của toàn bộ các quan hệ giữa Trung Quốc với các nước trung lập châu Á. Tuy nhiên, cho đến mùa xuân 1954, quan hệ Trung-Ấn còn rất sơ sài, mới chỉ có vài hợp đồng cung cấp ngũ cốc được ký kết năm 1951 và 1952. Chỉ đến khi ký hiệp ước về Tây Tạng ngày 29 tháng 4 năm 1954, sau hội nghị Giơ-ne-vơ khai mạc được ít ngày53 (Xem chương IV), mới đánh dấu bước khởi đầu thật sự của sự xích lại gần nhau giữa Trung Quốc và Ấn Độ54 (Về đại cương mối quan hệ Trung-Án trước 1954, xem chương VIII). Một tình hình tương tự trong quan hệ ngoại giao của Trung Quốc với Miến Điện và In-đô-nê-xi-a từ tháng 6 năm 1950, với Pa-ki-xtan từ tháng 5 năm 1951, cho đến năm 1954 mới chỉ đem lại những kết quả hết sức hạn chế. Hiệp định thương mại đầu tiên với Miến Điện chỉ được ký vài ngày trước khi khai mạc hội nghị Giơ-ne-vơ, ngày 22 tháng 4 năm 195455 (Về đại cương mối quan hệ Trung-Miến vào thời kỳ này, xem chương VIII). Hai hiệp định thương mại với In-đô-nê-xi-a được ký ngày 12 tháng 4 năm 1952 và 30 tháng 11 năm 1953 (hiệp định đầu chỉ là bán chính thức); ba hiệp định với Pa-ki-xtan ký ngày 12 tháng 4 năm 1952 (bán chính thức) và 14 tháng 3 năm 195356 (Về các hiệp định này (xem D.M. Giônston và Hungdach-chiu, sách đã dẫn)).


Năm 1954, những quan hệ đó là một trong những “cửa sổ” hiếm hoi của Trung Quốc mở ra với thế giới bên ngoài không phải là xã hội chủ nghĩa. Việc mở cửa này càng có ý nghĩa ở chỗ hai trong số các nước đó, Ấn Độ và Pa-ki-xtan, đều là thành viên của khối Thịnh vượng chung (Liên hiệp Anh), và chính phủ Bắc Kinh có thể hy vọng, bằng con đường này, thiết lập một vài cuộc tiếp xúc có ích với người Ăng-lô Sắc-xông. Nhưng phạm vi hạn chế của những quan hệ đó cũng nói lên sự cô lập của Trung Quốc trên trường quốc tế. Thật là ít ỏi nếu sau ba năm Trung Quốc mới đi đến chỗ khai thác những quan hệ ngoại giao đã được thiết lập với châu Á trung lập trong những năm 1950-1951.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 701



WWW
« Trả lời #18 vào lúc: 06 Tháng Hai, 2011, 02:15:58 PM »

Ngoài ra, ở Tây Âu, mới có sáu nước công nhận nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa. Vương quốc Liên hiệp Anh lo lắng duy trì quyền lợi ở Hồng Công và ở Trung Hoa lục địa, đã đi đầu trong việc này ngày 6 tháng 1 năm 1950, nhưng 4 năm sau quy chế đại diện Anh tại Trung Quốc vẫn chưa được quy định và sự rắc rối giữa Luân-đôn và Bắc Kinh vẫn còn nguyên vẹn57 (Về sự tiến triển quan hệ Anh-Trung Quốc, xem chương V). Hà Lan đã công nhận Trung Hoa nhân dân ngày 27 tháng 3 năm 1950, nhưng vẫn chưa trao đổi đại diện ngoại giao mà đáng lẽ phải được phái đến rồi. Thuỵ Điển và Đan Mạch, ngược lại, đã đặt quan hệ ngoại giao bình thường với chế độ mới từ tháng 5 năm 1950, trong lúc Thuỵ Sĩ và Phần Lan nối tiếp nhau công nhận Trung Hoa nhân dân vào những tháng sau. Cuối cùng, đến trước hội nghị Giơ-ne-vơ, khả năng bình thướng hoá quan hệ giữa Trung Quốc và Na Uy được đặt ra58 (Việc này sẽ diễn ra ngày 5-10-1954).


Con số hạn chế các nước Tây Âu đặt quan hệ với Trung Quốc chủ yếu là do “sự phủ quyết” do Mỹ áp đặt đối với mọi hình thức, làm dịu tình hình căng thẳng, về ngoại giao hoặc về thương mại, với “Trung Hoa đỏ” trong thời kỳ khủng hoảng Triều Tiên. Các cường quốc châu Âu, tất cả đều bận tâm xây dựng lại nền kinh tế của họ, và do đó tất cả đều phụ thuộc nhiều, ít về tài chính với Mỹ, không thể tự cho phép có một lập trường căn bản khác với Mỹ trong thái độ với Cộng hoà nhân dân Trung Hoa. Đúng là cách cư xử của các nước xã hội chủ nghĩa châu Âu cũng không khuyến khích các nước Tây Âu công nhận Trung Quốc.


Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 701



WWW
« Trả lời #19 vào lúc: 06 Tháng Hai, 2011, 02:17:01 PM »

Sau cùng, cuộc chiến tranh Triều Tiên đã khiến cho Mỹ vội vã thành lập một hệ thống an ninh quan tọng ở châu Á và Thái Bình Dương.

Ngay từ ngày 17 tháng 10 năm 1950, chính phủ Oa-sinh-tơn đã ký với Thái Lan một hiệp ước viện trợ, theo đó, Mỹ cung cấp vũ khí cho quân đội Thái Lan và cử một phái đoàn quân sự đến Băng Cốc59 (hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp (châu Á-châu Đại dương 30-11-1950) Bản ghi nhớ về vấn đề an ninh Thái Bình Dương). Sau đó, với hội nghị Xan Phran-xi-xcô, những hiệp định tương trợ tăng thêm nhiều. Ngày 31 tháng 8 năm 1951, Mỹ ký với Phi-líp-pin-mà Mỹ đã trao trả độc lập cách đây mấy năm-một hiệp ước tương trợ được Ma-ni-la chuẩn y vào tháng 8 năm 1952. Ngày 1 tháng 9, khối ANZUS được thành lập (gồm Ô-xtrây-li-a (Australia), Niu Di-lơn (New Zeland), Hoa Kỳ). Đó là một hiệp ước an ninh ba bên, theo đó Oa-sinh-tơn cam kết bảo vệ hai nước Thái Bình Dương chống lại sự đe doạ “có thể từ nước Nhật Bản tái vũ trang hoặc từ Trung Hoa cộng sàn”60 (như trên, tr.2). Cuối cùng ngày 8 tháng 9 năm 1951, Mỹ và Nhật Bản ký hiệp ước hoà bình và hiệp ước phòng thủ đối chọi với liên minh Xô-Trung ký kết trước đó một năm rưỡi.


Hệ thống an ninh Mỹ đã được mở rộng từng phần đến cả Đông Dương, ít nhất cũng là một cách gián tiếp. Tuyên bố của Tơ-ru-man (Truman) ngày 27 tháng 6 năm 1950 đã liên kết cố gắng của Pháp với chính sách của Mỹ ở biển Trung Hoa (tức biển Đông-N.D.), bởi vì trong các biện pháp do Tổng thống Mỹ quyết định nhằm đối phó với sự xâm lược cộng sản ở châu Á, có việc trang bị cho quân đội liên hiệp Pháp cũng như đặt một phái đoàn quân sự Mỹ ở Đông Dương61 (The Department of State Bulletin, 3-7-1950. Bản tiếng Pháp trong Bulletin quotidien de press étrangére số 1614, 28-6-1950). Ngày 18 tháng 5 năm 1951, đã có một cuộc họp ban tham mưu Mỹ-Pháp-Anh ở Xin-ga-po nhằm xây dựng chiến lược phòng thủ chung ở Đông Nam Á, đặc biệt ở Đông Dương62 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp (châu Á-châu Đại dương 30-11-1953), tr.4-6). Các cuộc tham khảo ý kiến khác, tiến hành đầu năm 1952 đã đưa đến cuộc họp vào tháng 10 năm đó, giữa năm nước, ngoài đại biểu Pháp, Anh, Mỹ, còn có có đại biểu Oa-sinh-tơn và Niu Di-lơn. Tháng 4 năm 1953, một cuộc hội nghị mới, họp ở Trân Châu Cảng (Pearl Harbor) quyết định thành lập Bộ tham mưu đồng minh thường trực (“Staff Agency”) gồm năm nước, có nhiệm vụ đảm bảo việc tiếp xúc thường xuyên giữa các thủ đô có liên quan cũng như phối hợp các cố gắng quân sự ở Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương63 (“Staff Agency” họp ba lần, 15-30 tháng 6 năm 1953 ở Trân Châu Cảng, tháng 2-1954 ở Xin-ga-po, xem chương II).


Các buổi họp này, về thực chất, đã báo hiệu các cuộc thương lượng, vào cuối năm 1953, nhằm đi đến một hiệp ước an ninh nhiều bên ở vùng này64 (Vấn đề phòng thủ Đông Dương chống lại sự can thiệp của Trung Quốc sẽ đề cập ở chương II).


Vào thời gian trước hội nghị Giơ-ne-vơ, ngoài hệ thống các hiệp ước phòng thủ chung Mỹ-Triều Tiên ký ngày 8 tháng 8 năm 1953 và khoảng cuối năm 1953 và đầu năm 1954, triển vọng hợp tác quân sự chặt chẽ giữa Hoa Kỳ và Pa-ki-xtan65 (hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp (châu Á-châu Đại dương 30-11-1953). Bản nhớ về vấn đề giao lại các căn cứ Pa-ki-xtan cho Hoa Kỳ. Cũng xem Chronique de politique étrangère (Biên niên chính sách đối ngoại) quyển VII, số 3, tháng 5-1954. Một hiệp định quân sự Mỹ-Pa-ki-xtan được thực sự ký kết tháng 5-1954).


Bấy nhiêu yếu tố gắng liền với nhau, chỉ có thể làm cho Bắc Kinh thấy đó là sự đe doạ trực tiếp đến nền an ninh của Trung Quốc.

Nhưng những nhân tố chính trị, kinh tế hoặc chiến lược trong lúc này không phải là những nhân tố duy nhất quyết định thái độ của Trung Quốc đối với vấn đề Đông Dương. Tính truyền thống lâu dài trong quan hệ với Việt Nam và ở trình độ thấp hơn với Lào và Cam-pu-chia cũng sẽ đóng vai trò quyết định.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM