Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 29 Tháng Năm, 2020, 02:42:24 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Cuộc chiến bí mật - Hồ sơ Lực lượng đặc biệt Quân đội VNCH  (Đọc 363206 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
NicolasCage
Thành viên
*
Bài viết: 213



« Trả lời #100 vào lúc: 03 Tháng Ba, 2011, 09:25:42 pm »

HÀNH QUÂN SALEM HOUSE

Đầu năm 1969, cảng Sihanouk Ville của Camphuchia nhộn nhịp tàu qua lại, với những chiếc tàu chở hàng đến từ các quốc gia Đông Âu. Hàng đoàn xe vận tải của công ty Hak Ly chờ bốc hàng, sau đó theo đường số 4 đi Phnom Pênh. Đoàn xe rẽ vào một kho tiếp vận quân sự ở ngoại ô thành phố, giao đồ tiếp liệu cho các viên chức Bắc Việt Nam. Những kiện hàng bí mật chứa vũ khí, đạn dược được tiếp tục vận chuyển suốt đêm trên đường số 7, băng qua đồn điền cao su, đến vùng biên giới rậm rạp thuộc tỉnh Kompongcham hay khu vực Lưỡi Câu. Khu vực này do Đoàn Hậu cần 70 đảm nhiệm, gồm nhiều kho lương thực tiếp vận, yểm trợ cho ba sư đoàn chủ lực của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam: Công trường 9; Công trường 5 và Công trường 7.

Phóng viên chiến trường Larry Burrows tại Mimot, Campuchia, 4/5/1970

Như vậy, tất cả mọi vũ khí, đạn dược vào đến lãnh thổ Quân khu III và IV đều quá cảnh qua Campuchia. Sau 21 tháng bí mật xâm nhập, SOG đã khám phá ra nhiều mật khu chứa tới 200.000 quân Giải phóng và Quân đội Bắc Việt. SOG được giao chỉ huy cuộc hành quân xâm nhập vào đất Campuchia, với tên gọi là Daniel Boone. Đến cuối mùa mưa năm 1969, đổi tên thành Salem House để giữ bí mật. Sự hiện diện của Quân đội Bắc Việt được xác định ngày 2/3/1969, khi một toán biệt kích SOG thuộc Sở chỉ huy Nam (CCS) bị đối phương phát hiện, truy kích khiến 2 biệt kích Mũ Nồi Xanh của Mỹ là Trung sĩ William Evans và Micheal May mất tích, xác của họ không tìm ra.

Tổng thống Mỹ Johnson ra lệnh cho pháo đài bay B52 bí mật thả bom xuống khu vực Lưỡi Câu, gây ra 73 tiếng nổ phụ. Chỉ có viên phi công và sĩ quan Navigator biết mục tiêu của trận ném bom. Một tháng sau, Tổng thống Johnson lại hạ lệnh cho B52 ném bom xuống mục tiêu do Tướng Abram đề nghị. Đó là căn cứ của Trung ương cục miền Nam (R), do một hàng binh chỉ điểm. Mục tiêu này cách Mimốt, Campuchia 14 dặm về hướng đông nam; cách biên giới Việt Nam – Campuchia 1 dặm. Trận đánh bom này diễn ra ngày 24/4/1969.

Chuẩn tướng Phillip B. Davision, trưởng phòng Nhì của Bộ Tư lệnh Quân đội Mỹ tại Nam Việt Nam (MACV) yêu cầu SOG cho một đơn vị nhảy vào “thu dọn” chiến trường sau khi trận ném bom B52 chấm dứt. Đại tá Cavanaugh ra lệnh cho Sở chỉ huy Nam chuẩn bị cho một Đại đội xung kích (Hatchet Force) nhảy vào.

Chiến dịch Pegasus, 1968

Trong khi đó tại Sở chỉ huy Nam, “Mad Dog” Shriver, một tên tuổi trong làng biệt kích được giao nhiệm vụ đặc biệt. Trong căn cứ Fort Braggs (Trung tâm chỉ huy biệt kích Mỹ) không ai biết đến SOG là đơn vị nào, cũng như cuộc hành quân Daniel Boone hoặc Salem House là gì, nhưng tên tuổi của Trung sĩ nhất Jerry Shriver đã khét tiếng từ lâu. Chẳng thế mà Jerry Shriver còn có biệt danh là “Chó điên”. “Mad Dog” Shriver cũng là người thích ăn nói bạt mạng nhất trong làng biệt kích Mỹ. Những câu nói liều mạng của Shriver lại được đám biệt kích Sài Gòn tán dương. Có lẽ do các hành động của biệt kích quân nên buộc họ phải liều mạng. Trong một cuộc hành quân, toán biệt kích của Shriver bị đối phương bao vây chặt. Máy bay điều không FAC cho Shriver biết: “Tình hình coi bộ rất xấu”. Anh ta trả lời tỉnh bơ: “Không! Không có gì đâu. Tôi phải đánh nhau với tụi nó tại chỗ tôi muốn” (Dù bị bao vây chặt bên trong lòng đối phương).

Sáng ngày 24/4/1969, trong khi máy bay B52 cất cánh từ đảo Guam thì Đại đội xung kích thuộc Sở chỉ huy Nam tập hợp tại sân bay Quản Lợi (Bình Long), cách căn cứ Trung ương cục Miền Nam khoảng 20 dặm. Đại đội xung kích này có nhiệm vụ vào “thu dọn” chiến trường, sau khi B52 ném bom.

Năm chiếc trực thăng Green Hornet chở 2 trung đội đổ bộ xuống khu vực đã được đánh dấu trên bản đồ. Trung đội thứ 3 do Thiếu úy Bob Killebrew được bố trí ở lại sân bay Quản Lợi làm dự bị. Trung đội 1 của Trung úy Walter Marcantel và Trung đội 2 do Trung úy Greg Harrigan sẽ đổ bộ xuống khu vực gọi là căn cứ Trung ương cục Miền Nam. Khi hai trung đội lên máy bay, thì các pháo đài bay B52 điều chỉnh đội hình lần cuối trước khi đến mục tiêu. Khi trận ném bom vừa kết thúc, những chiếc trực thăng nối đuôi nhau đáp xuống, thả hai trung đội xung kích rồi bay đi.

Một người lính của Sư đoàn 4 bộ binh Mỹ suy sụp sau khi đẩy lui được đợt tấn công của đối phương tại
khu vực gần biên giới Campuchia, cách Pleiku 55 dặm về hướng Tây, ngày 25/5/1967
« Sửa lần cuối: 03 Tháng Ba, 2011, 10:17:43 pm gửi bởi NicolasCage » Logged
NicolasCage
Thành viên
*
Bài viết: 213



« Trả lời #101 vào lúc: 03 Tháng Ba, 2011, 09:55:42 pm »

Thình lình tiếng súng đủ loại rộ lên, vang dội khắp nơi. Những biệt kích quân mới đáp đất vội nhào xuống các hố bom hoặc núp sau những thân cây mới bị B52 đốn ngã để tránh đạn. Nằm cuối đoàn quân, Shriver chỉ điểm cho máy bay biết vị trí khẩu đại liên của đối phương ở phía trước, bên trái đội hình. Theo Shriver, khẩu đại liên này khống chế toán biệt kích của Shriver, làm họ không ngóc đầu lên được. Trong lúc đó Đại úy Cahill, Trung úy Marcantel và Trung sĩ quân y là Ernest Jamison báo cáo cũng bị đối phương áp chế. Jamison chạy ra để cứu những biệt kích quân bị thương cũng bị bắn gục tại chỗ.

"Anh Cả Đỏ" tham chiến tại khu vực biên giới Campuchia, 2/4/1967

Không ai có thể di chuyển được. Shriver nổi đóa, dẫn một biệt kích quân người Thượng xông lên để thanh toán khẩu đại liên. Thế là cả hai biến mất, không tìm ra xác. Jamison nằm chết cách hố bom chừng vài thước. Đại úy Cahill thấy từng tràng đạn AK, B40 của đối phương cày nát mặt đất. Khi anh ta vừa ngóc đầu lên, thì một viên AK xuyên qua miệng, ngược lên trên làm mù một mắt. Anh ta cứ thế gục xuống. Trong một hố bom khác, Trung úy Harrigan đang điều khiển trực thăng vũ trang bắn rocket và minigun cản những đợt xung phong của đối phương. Harrigan báo cáo với sở chỉ huy con số tổn thất: hơn nửa trung đội chết hoặc bị thương. Nhờ bình tĩnh điều không nên Trung úy Harrigan cầm cự được khoảng 45 phút, sau đó trúng đạn, tử trận.

"Mad Dog" Shriver. Chuỗi "thành tích" của Shriver kết thúc khi định đối đầu
với xạ thủ đại liên cứng cựa của đối phương tại Mi Mốt, ngày 24/4/1969


Đại úy O’Rourke bay trên không, rất muốn đáp xuống, nhưng chiếc trực thăng chở anh ta không lọt qua được lưới lửa của đối phương. Trung tá Earl Trabue, chỉ huy trưởng Sở chỉ huy Nam cũng không xuống được, biết quân lính ở dưới mặt đất đang bị tiêu diệt, nhưng đành bó tay. Cuối cùng chỉ còn Trung úy Marcantel sống sót. Earl Trabue lái luôn chiếc B57 Canberra của Úc, thuộc Phi đoàn số 2, cất cánh từ Phan Rang vào đánh giải vây, để cho trực thăng đáp xuống bốc Trung úy Marcantel, khi đó đã bị thương, cùng9 biệt kích quân người Thượng. Ba chiếc khác vào bốc được thêm 15 biệt kích quân bị thương và lấy xác Trung úy Harrigan. Cuộc hành quân kết thúc trong bi thương.

James E. Callahan, Sư 1 Anh Cả Đỏ,  cố gắng cứu đồng đội trong 1 trận đánh tại khu vực chiến khu D, ngày 17/6/1967

Đại tá Cavanaugh sau khi đến thăm các biệt kích quân sống sót sau cuộc hành quân, đã nói với Tướng Davision: “Nếu tôi biết kết quả sẽ như vậy, tôi sẽ không đưa họ vào chỗ chết (!)”. Tướng Davision nhận trách nhiệm về mình trong chuyến hành quân đánh phá căn cứ của Trung ương cục miền Nam. Trung úy Marcantel bình phục, nhưng khoảng sáu tháng sau, anh ta cũng bỏ mạng trong một chuyến nhảy dù xuống căn cứ Fort Davens, thuộc tiểu bang Massachusetts. Anh ta thoát chết trong chiến trận, nhưng bỏ mạng ngay trên đất Mỹ. Còn Đại úy Cahill giải ngũ vì vết thương. Xác Ernest Jaminson tìm được ít lâu sau. Riêng “Mad dog” Shriver đến nay vẫn chưa tìm được hài cốt.

Sau khi nghe báo cáo về số tổn thất của SOG, Tướng Abrams ra lệnh cho MACV phân tích về thiệt hại của SOG trong vòng hai tháng đầu năm 1969. Kết quả có 15 biệt kích quân Mũ Nồi Xanh của Mỹ chết hoặc mất tích, 68 người bị thương, cộng với 10 chiếc trực thăng bị rơi. MACV cho rằng, đổi lại, biệt kích SOG “tiêu hủy 13 xe vận tải Molotova, diệt 1.400 quân đối phương, chỉ điểm cho máy bay đánh bom, gây 455 tiếng nổ phụ”.

Tháng 5/1969, Tổng thống Nixon ra lệnh cho B52 bí mật ném bom trải thảm lần thứ 3 trên lãnh thổ vương quốc Campuchia. Lần này, trên bản đồ có rất nhiều mục tiêu được đánh dấu. Trong đó, có căn cứ của Trung đoàn 27 của Quân đội Bắc Việt. Toán biệt kích Illinois được giao nhiệm vụ xâm nhập vào mục tiêu để kiểm định kết quả trận ném bom. Trung sĩ Ben Thompson được giao làm toán trưởng, toán phó là Trung sĩ George Bacon, Nhiệm vụ của toán là đổ bộ xuống mục tiêu sau trận đánh bom 20 phút. Nhưng chưa được nửa ngày, toán biệt kích đã phải vừa bắn, vừa chạy tháo thân. Để vớt vát danh dự, họ báo cáo với Sở chỉ huy rằng trận đánh bom được thực hiện ở mục tiêu có quá nhiều đối phương (!)

Khe Sanh, 1/4/1968. Lính Quân đội VNCH sau bức tường rào do pháo dựng lên để ngăn đối phương
« Sửa lần cuối: 04 Tháng Ba, 2011, 03:01:27 pm gửi bởi NicolasCage » Logged
NicolasCage
Thành viên
*
Bài viết: 213



« Trả lời #102 vào lúc: 04 Tháng Ba, 2011, 09:02:39 pm »

Để sự kiện lắng dịu ít lâu, ngày 25/8/1969, toán biệt kích Florida do Trung sĩ Ken Worthley làm trưởng toán, đã xâm nhập vào vùng đông bắc Campuchia, nơi tình nghi có Trung đoàn 66 của Quân đội Bắc Việt xâm nhập. Thành viên của toán có 7 biệt kích quân, trong đó gồm Trung sĩ Bob Garcia, Dale Hanson và bốn biệt kích quân của Quân đội Sài Gòn.


Toán biệt kích Florida đáp đất an toàn vào đúng ngọ (12 giờ trưa) và bắt đầu leo lên một con dốc khá cao. Lúc 2 giờ chiều, khi toán biệt kích đang ngồi nghỉ trưa trên một sườn núi thì Garcia trông thấy 2 lính Bắc Việt đang dò tìm dấu vết của họ. Anh ta bắn gục một người. Thế là đạn AK nổ tứ phía. Thì ra có cả một đại đội lính Bắc Việt đang dàn quân trong im lặng bao vây toán biệt kích mang tên bang Florida của Mỹ. Trong lúc cả toán biệt kích tháo chạy, người hiệu thính viên Dale Hanson trúng một viên AK, mất ngón giữa của bàn tay trái. Anh ta phải vừa chạy vừa băng bó; Garcia phải thay anh ta mang máy bộ đàm. Chạy đến chập tối, toán trưởng Worthley quyết định trốn trong một thung lũng qua đêm. Họ đã rải hơi cay mắt để đánh lạc hướng chó.

Sáng sớm hôm sau, họ băng qua một khu rừng. Vào khoảng 9h30’ sáng, khi toán đang di chuyển trên một sườn đồi, bỗng người dẫn đầu ra dấu im lặng. Worthley bò tới trước, trông thấy 2 lính Bắc Việt trên một con đường mòn. Họ nổ súng diệt cả 2, còn biệt kích quân dẫn đường bị thương vào tay. Qua trang phục cho thấy một trong số hai đối phương là cấp chỉ huy vì đeo súng lục, có thể là sĩ quan cấp tá, còn người kia là vệ binh. Toán biệt kích lấy được túi da có đựng tài liệu của viên sĩ quan Bắc Việt. Sau khi xem xét tài liệu, SOG cho biết toán Florida đã diệt được một sĩ quan tình báo cao cấp của đối phương.

Trên đường tháo chạy, trưởng toán Worthley trúng một viên AK vào cổ, chết tức khắc, còn tất cả đều được trực thăng thả dây cứu kéo lên. Khi về đến Kontum, một chiếc “Chim Đen” C130 của SOG đến để chuyển chiếc túi da của viên sĩ quan Bắc Việt về Sài Gòn. Tài liệu trong túi da cho biết một danh sách điệp viên nằm vùng của đối phương. Tài liệu này cũng xác nhận về việc Thái Khắc Chuyên bị Đại tá Robert Rheault, cựu chỉ huy trưởng Liên đoàn biệt kích số 5 của Mỹ, ra lệnh hành quyết vào tháng 5/1969. Vài tháng sau, Đại tá Rheault được tự do, ông ta đâu biết là nhờ công của toán biệt kích Florida.

Trong chuyến xâm nhập đầu tiên của năm 1970 vào Campuchia, do toán biệt kích Vermont ở Kontum thực hiện, nhảy xuống khu rừng rậm rạp thuộc tỉnh Ratanakiri vào ngày 5/1 để tìm kiếm căn cứ binh trạm của đối phương. Trưởng toán là Trung sĩ Franklin “Doug” Miller.
Người biệt kích dẫn đường chẳng may dẫm lên một sợi dây giăng ngang đường, tiếp theo là tiếng nổ lớn làm 4 biệt kích quân bị thương. Trong phút chốc một nửa quân số của toán bị loại ra khỏi vòng chiến đấu và đối phương đã phát hiện ra sự hiện diện của toán biệt kích. Miller băng bó giúp cho những người bị thương, rồi ra lệnh cho toán phó dẫn toán biệt kích lên đồi lập vị trí phòng thủ, còn anh ta ở lại để đương đầu với đối phương.

Phước Vĩnh, chiến khu D, 15/6/1967. Lính Sư 1 Anh Cả Đỏ quan sát máy bay ném bom hỗ trợ

Vừa bắn cầm chừng, vừa lui về chỗ phòng thủ, Miller liên lạc với sở chỉ huy, yêu cầu cho toán rút quân. Sau đó anh ta dẫn toán di chuyển đến bãi trực thăng, vốn là một hố bom lớn, cách đó khoảng 175 thước. Khi chiếc trực thăng định đáp xuống bốc toán biệt kích thì bị đối phương bắn lên xối xả, đuổi chiếc trực thăng bay ra chỗ khác rồi tiếp tục tấn công toán Vermont. Toán biệt kích nấp trong hố bom chống trả quyết liệt mặc dù tất cả đều bị thương, kể cả trưởng toán Miller cũng bị trúng đạn AK vào tay trái. Anh ta vẫn tiếp tục hướng dẫn toán đến một bãi đáp trực thăng khác. Sau đó họ được một toán cấp cứu Bright Light bốc về căn cứ an toàn. Trong trận này, Miller đã đem về cho SOG chiếc huy chương danh dự thứ 7.
Logged
NicolasCage
Thành viên
*
Bài viết: 213



« Trả lời #103 vào lúc: 04 Tháng Ba, 2011, 09:52:11 pm »

Điểm qua những sự kiện trên cho thấy vùng đông bắc Campuchia rất “nóng”. Ngày 9/1/1970, một toán biệt kích thuộc Sở chỉ huy Nam, do Trung sĩ nhất Larry Barlett làm trưởng toán, toán phó là Trung sĩ Richard Thomas đang trên đường di chuyển đến bãi đáp, cách vị trí toán Vermont bị tấn công khoảng 30 dặm về hướng nam. Toán này bất ngờ bị một đơn vị đối phương tấn công. Cả hai biệt kích quân Mũ Nồi Xanh bỏ mạng. Toán cấp cứu Bright Light vào giải cứu, chết thêm một biệt kích quân Thượng trước khi đem được xác hai biệt kích Mỹ ra.



Để chấm dứt những thảm họa tiếp theo, CIA đã phác thảo xong kịch bản cho một cuộc đổi ngôi và đưa ra công diễn. Ngày 11/3/1970, Lon Nol làm cuộc đảo chính lật đổ ông hoàng Sihanouk ở Campuchia, với sự hậu thuẫn của chính quyền Mỹ. Họ cho binh lính xông vào đập phá Tòa Đại sứ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam. Hoàng thân Sihanouk phải chạy qua tị nạn bên Pháp. Lật đổ ông hoàng Sihanouk có lẽ không là giải pháp tốt cho CIA, vì ba hôm sau đảo chính, khi toán biệt kích Pennsylvania do Trung úy Jerry Poole làm trưởng toán xâm nhập vùng rừng núi tỉnh Ratanakiri, với sự tham gia của 2 biệt kích quân người Mỹ là Trung sĩ nhất John Boronski, Trung sĩ Gary Harned. Họ vẫn phải bỏ mạng. Sau 3 ngày lẩn trốn, toán biệt kích được 1 trực thăng vào bốc đi. Nhưng khi chiếc trực thăng bay lên cao khoảng hơn 30 m, thì trúng một quả B40, nổ tung. Tất cả toán biệt kích Pennsylvani cùng phi hành đoàn gồm Đại úy Micheal O’Donnell, Chuẩn úy John Hosken, Rudy Becerra và Berman Gande Fr. đều thiệt mạng, không thu hồi được xác.

Theo tin tức tình báo cho biết, Quân đội Bắc Việt chẳng những không bị tiêu diệt mà còn đang mở rộng vùng kiểm soát dọc theo biên giới Việt Nam – Campuchia về phía bắc và tây bắc. Họ mở rộng vùng căn cứ giải phóng rộng lớn tại tỉnh Svayriêng chỉ trong vòng mấy ngày. Trong khi một đơn vị Bắc Việt khác tiến xuống phía nam, đuổi Quân đội Lon Nol ra khỏi vùng Mỏ Vẹt. Trong vòng 2 tuần lễ, Quân đội Bắc Việt cùng quân kháng chiến Campuchia giải phóng 2 trong số 17 tỉnh của Campuchia và bao vây thêm 5 tỉnh khác, yểm trợ cho quân Campuchia Dân chủ.

Chính phủ mới bên Campuchia do Pon Pốt – Lêng Xari đứng đầu. Sau khi dựa vào Quân đội Bắc Việt và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đánh đổ Lon Nol, Campuchia Dân chủ đã thực hiện chính sách hai mặt: Đối lập về chính trị, hợp tác về quân sự; dựa vào Quân đội Bắc Việt Nam và Quân Giải phóng để chống Mỹ và Quân đội Sài Gòn. Trước động thái trên, Chính phủ Mỹ quyết định bí mật gửi cho Chính phủ Campuchia dân chủ 3.000 khẩu súng AK.


CIDG người dân tộc

Trong lúc đó, tại thủ đô Phnom Pênh của Campuchia, ba Trung sĩ Troy Gilley, Ben Lyons và Charles Chapin bí mật xâm nhập để kiểm định tin tình báo về một binh trạm dành cho sĩ quan cao cấp của Quân đội Bắc Việt. Họ được bốc ra và ba ngày sau, họ đã được thả xuống một địa điểm gần những chiếc lán dành cho cán bộ cao cấp của đối phương. Họ gặp binh sĩ Bắc Việt di chuyển cùng với voi chở đồ. Quân biệt kích phục kích đánh họ tơi tả, sau đó gọi trực thăng bốc về an toàn. Troy Gilley về Sài Gòn khoe rằng sau chuyến đi vừa qua, anh ta biết thêm đơn vị Bắc Việt có voi chuyên chở bị chặn đánh có nhiệm vụ hộ tống 2 tướng lãnh Bắc Việt và cả 2 đều chết trong trận phục kích vừa qua (?).

Báo cáo của Troy Gilley sự thật quá ít, nếu không anh ta chí ít cũng được thưởng tới dăm cái huân chương (trong suốt 30 năm cuộc chiến tranh Việt Nam, duy nhất chỉ có Trung tướng Nguyễn Bình, nguyên Tư lệnh Nam bộ là chết trận vào năm 1951. Năm 2000, ông ta được Nhà nước Việt Nam truy phong danh hiệu AHLLVT. Còn những trường hợp khác đa số đều chết trong thời bình, do tai nạn máy bay).


Philippin, 24/10/1966

Trước áp lực của chiến trường và những khó khăn trong việc xoay chuyển tình thế, liên quân Mỹ và Quân đội Sài Gòn mạo hiểm mở cuộc tấn công sang đất Campuchia. SOG được lệnh đưa mấy toán biệt kích tại căn cứ Đà Nẵng và Kontum đến Buôn Mê Thuột hỗ trợ cho Sở Chỉ huy Nam (CCS). Đến ngày 30/6/1971, SOG chuyển 5 toán biệt kích ra Sở chỉ huy Bắc và 5 toán khác lên Sở chỉ huy Trung; các cuộc hành quân sang đất Campuchia đều giao cho biệt kích quân Sài Gòn đảm nhiệm.
Logged
NicolasCage
Thành viên
*
Bài viết: 213



« Trả lời #104 vào lúc: 04 Tháng Ba, 2011, 10:43:56 pm »

HÀNH QUÂN BIỆT KÍCH CỨU TÙ BINH

Quá bận rộn với công việc khai khẩn, canh nông nên mãi đến năm 37 tuổi, Michael Benge mới nhận thấy phải làm một điều gì đó còn thiếu (?). Tối 28/1/1968, anh ta leo lên chiếc xe Jeep, tự lái từ nhà lên thị xã Buôn Mê Thuột. Là nhân viên làm việc cho cơ quan Phát triển Quốc tế (USAID), làm cố vấn kỹ thuật nông nghiệp tiên tiến của thế kỷ XX cho người Việt Nam. Michael Benge vẫn chưa biết gì về trận Tổng công kích trong dịp Tết Mậu Thân, cho đến khi một toán người vũ trang xuất hiện, chặn xe anh ta lại và kéo ra khỏi xe.


Sân bay Phú Bài, 1/1968

Mặc dù bị trói tay, Benge vẫn cố gắng thuyết phục người chỉ huy toán quân rằng, anh ta chẳng dính dáng gì đến quân đội. Sau đó họ tháo giày để anh ta khỏi chạy trốn và đưa anh ta đi, mỗi khi đi chậm lại là mũi súng AK lại thúc vào lưng giục anh ta đi tiếp. Benge bị coi như tù binh và bị áp giải sang đất Campuchia.

Sau đó toán quân áp giải Benge nhập vào một toán tù binh khác, chừng 12 người khác, gồm cả người Việt Nam và người Thượng. Ngày hôm sau, Benge được đưa đến một trại tù binh của đối phương nằm sâu trong rừng. Tại đây anh ta chứng kiến Tòa án Nhân dân Giải phóng xử một số tù binh, theo tuyên án là biệt kích, ác ôn, có nợ máu với dân, có tội phản quốc. Những người này bị xử bắn tại chỗ. Vài ngày sau, nhân viên USAID (Benge) có thêm những bạn tù Mỹ. Trong số tù binh bị giam giữ tại trại, có cả những người khoác áo thầy tu. Đối phương cho rằng trong cuộc chiến xâm lược Việt Nam có phần can dự của những người tù binh này, dù họ khoác áo gì, hay dưới danh nghĩa nào đi nữa.

Lý luận của họ càng có cơ sở khi một tù binh người Thượng trốn thoát, anh ta lập tức chạy đến một đơn vị SOG, giúp những nhà phân tích xác định vị trí trại tù binh của đối phương. Là một bộ phận của “Trung tâm thu hồi nhân mạng hỗn hợp” (JPRC), SOG ra lệnh cho 5 toán biệt kích cùng 3 đại đội thuộc lữ đoàn dù 173 của Mỹ đi tìm kiếm những công dân Mỹ bị đối phương bắt. Nhìn vào lực lượng ứng cứu, đủ thấy vị trí quan trọng của những tù binh trên, họ có giá trị rất cao nữa là khác. Bởi vậy, giải cứu tù binh là mục tiêu lớn nhất, thường xuyên nhất và lâu dài nhất của các cuộc hành quân Bright Light (giải cứu tù binh) của SOG.


Ngày 18/2/1968, SOG thả 5 toán biệt kích xâm nhập khu vực mà tay chỉ điểm người Thượng và những phân tích gia của SOG vừa đánh dấu trên bản đồ. Bốn toán không tìm được gì. Toán thứ 5 do Trung sĩ Larry Six Pack White làm trưởng toán, cùng Grant Bollenback và 4 biệt kích Thượng phát hiện được 1 hang động tại một tọa độ trên bản đồ. Đến ngày thứ 3, họ nghe có người nói tiếng Việt. Toán biệt kích bò lên quan sát. Họ thấy chừng 25 lính Bắc Việt, nhưng đối phương đã biết có biệt kích xâm nhập, đang dàn quân ra để tấn công.

Toán biệt kích bắn xối xả, khiến cho đối phương phải lui lại. Nhân đó, white chạy lên tìm những tù binh Mỹ. Anh ta chỉ đủ thời gian chụp được 1 nắm giấy tờ, nhét vào áo rồi bỏ chạy. Sau đó được trực thăng vũ trang yểm trợ, White dẫn toán di chuyển đến bãi đáp và được bốc trở về an toàn.

Qua phân tích những tài liệu, SOG cho rằng trong số những người bị bắt có 3 công dân Mỹ là Benge, Olsen và Blood. Cả 3 người đều còn sống. Tuy nhiên còn sống thì không có nghĩa là khỏe mạnh. Ba người bị xích chung lại với nhau, không được ăn uống đầy đủ, làm cho họ yếu đi để không đủ sức chạy trốn và cả 3 vẫn tiếp tục bị áp giải đến khu vực biên giới Việt Nam – Campuchia. Một tháng sau ngày bị bắt, Benge ngã bệnh sốt rét, rồi Betty cũng lên cơn sốt.

Hà Nội, 1973

SOG vẫn tiếp tục tìm dấu vết của họ để giải cứu. Một tù binh Thượng khác lại trốn thoát. Dựa vào tin tức người này cung cấp, ngày 7/4/1968, SOG mở cuộc tập kích vào trại tù binh, với lực lượng tham gia gồm: Trung đội thám báo thuộc chương trình Phượng Hoàng. Họ tìm được một chiếc lán bỏ trống và dấu vết của 3 người Mỹ mới được di chuyển đi nơi khác, trước đó khoảng 2 ngày.
Logged
NicolasCage
Thành viên
*
Bài viết: 213



« Trả lời #105 vào lúc: 04 Tháng Ba, 2011, 11:07:37 pm »

Đến giữa tháng 5, hai người Thượng nữa trốn thoát, báo cáo cho biết Blood, Benge và Olsen bị giam ở một nơi cách Buôn Mê Thuột khoảng 35 dặm về hướng nam. SOG đưa một toán Phượng Hoàng vào tìm thì chạm trán với một đơn vị cấp đại đội của đối phương, phải bỏ chạy. Năm ngày sau, SOG thả hai toán biệt kích vào tìm, nhưng đối phương đã di chuyển trại giam tù binh đến nơi khác.


Mùa mưa năm 1968, Blood chết trong trại tù binh vì bệnh sưng phổi. Benge và Olsen bị thiếu dinh dưỡng, rụng răng, rụng tóc, cộng thêm bị ghẻ ngứa lâu ngày không khỏi. Cuối tháng 11/1968, SOG thả toán biệt kích gồm 15 người từ Sở chỉ huy Nam (Buôn Mê Thuột) đi tìm trại tù binh, theo tin tức tù vượt ngục cung cấp. Họ đụng độ với Quân Giải phóng trước khi đến trại giam. Đối phương lại di chuyển trại giam đến nơi khác.

Trong một lần chuyển trại, sức khỏe của Betty ngày càng yếu, đi không nổi. Benge đến gặp người quản trại xin thuốc cho Betty, nhưng lấy đâu ra thuốc. Ngay chính những người quản tù còn không có thuốc thì lấy đâu ra thuốc cho tù binh. Vì vậy, ba hôm sau, Betty Ann Olsen qua đời. Riêng Benge sau khi di chuyển vào lãnh thổ Campuchia thì không ai biết tin tức gì nữa. Chỉ biết rằng tin tức về Benge sau này được chính Benge kể lại rằng, nhờ ăn rễ cây, côn trùng mà Benge mới sống đến ngày được trả tự do năm 1973. Ít ra thì anh ta cũng đạt được mục tiêu của mình là làm được một điều gì đó đáng nhớ.

Betty Ann Olsen, y tá, chọn cuộc sống độc thân để đến phục vụ những nơi có chiến tranh

Trong cuộc chiến Việt Nam, việc giải cứu tù binh gặp rất nhiều trở ngại. Ngay như lĩnh vực ngoại giao, nhiều khi đã gây rất nhiều rào cản cho các kế hoạch vượt biên giải cứu tù binh. Ngày 5/9/1968, một điệp viên ngầm cho biết, có hai tù binh Mỹ bị giam ở khu vực Thường Thới, cách Sài Gòn khoảng 100 dặm về hướng tây nam. SOG đã lập kế hoạch hành quân giải cứu tù binh đến hai lần, nhưng cả hai đều bị Washington bác bỏ vì tin tình báo không đầy đủ và khu vực dự định hành quân lại nằm bên kia biên giới Việt Nam – Campuchia. Ngày 21/9, Washington bác bỏ kế hoạch giải cứu số tù binh bị giam giữ tại vùng Mỏ Vẹt, kể cả những trại tù binh ở Lào. SOG tìm cách quay sang mua chuộc bằng tiền mặt để đem được tù binh về, với cái giá mỗi tù binh là 5.000 đồng. Đại úy Fred Caristo, một sĩ quan trong Ban tìm kiếm hỗn hợp đã nhiều lần xin gặp đại diện phía Mặt trận Dân tộc giải phóng tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long để điều đình về việc chuộc 5 tù binh Mỹ, với số tiền lót tay giao dịch là 25.000 đồng. Nhưng đó chỉ là câu chuyện phiếm mà thôi.

Có một sự kiện chắc đã được lưu trong hồ sơ của CIA. Đó là việc SOG cử một sĩ quan xin gặp đại diện của một trại tù binh để thương lượng về việc chuộc 21 tù binh Mỹ bị giam giữ ở khu vực gần Tây Ninh. Ngày 11/11/1970, phái viên Ban Tìm kiếm hỗn hợp trao cho viên sĩ quan đại diện Quân Giải phóng bức thư của Tướng Abrams, Tư lệnh Quân đội Mỹ tại Việt Nam, xác định rõ số tiền chuộc 21 tù binh Mỹ. Người Mỹ quen giải quyết mọi việc bằng tiền. Nhưng có điều họ không hiểu cách xử sự ấy sẽ không đem lại kết quả. Tháng 7/1969, một gã chiêu hồi ở gần Chu Lai, Quảng Nam cho biết về một bệnh viện của đối phương trong đó có giam một tù binh Mỹ da màu. Qua phân tích, SOG quả quyết đúng quân nhân đó là Larry Aiken, bị bắt ngày 13/5/1969. Gã chiêu hồi đồng ý dẫn đường cho lực lượng SOG tập kích vào quân y viện, nằm cách Chu Lai khoảng 20 dặm về hướng tây nam. Đơn vị SOG cấp tốc tổ chức cuộc hành quân, do trực thăng của Sư đoàn Dù 101 yểm trợ, theo chương trình Phượng Hoàng, cộng thêm một đơn vị của Quân đội Sài Gòn làm nút chặn.


Ngày 10/7, liên quân Mỹ - Việt theo chỉ điểm của gã chiêu hồi mở cuộc tấn công vào bệnh viện của đối phương, nằm ẩn trong một thung lũng rậm rạp. Chỉ để giải thoát một quân nhân da màu Mỹ, họ đã đem cả một đội quân cơ động bằng máy bay tấn công vào một bệnh viện. Mà ở đó chỉ có những thầy thuốc và thương bệnh binh. Không biết chuyện tàn sát các thương bệnh binh và thầy thuốc ra sao, vì không thấy đề cập đến vấn đề này trong tài liệu. Chỉ biết rằng họ đã tìm thấy người quân nhân da màu Larry Aiken. Khi liên quân Mỹ - Việt tấn công vào bệnh viện nọ, anh ta vẫn còn sống. Nhưng sau đó, mặc dù các bác sĩ đã đem hết khả năng ra cứu chữa, Larry không hề ra khỏi tình trạng mê man và 10 ngày sau đó, anh ta chết. Có lẽ kết cuộc lần này hẳn CIA cũng không mong muốn.
Logged
NicolasCage
Thành viên
*
Bài viết: 213



« Trả lời #106 vào lúc: 05 Tháng Ba, 2011, 10:25:19 pm »

Trở lại những vấn đề ngoại giao. Kể từ ngày 30/6/1970, không một toán biệt kích nào của lính Mũ Nồi Xanh làm trưởng toán được phép vượt biên sang Campuchia. Những cuộc hành quân vượt biên qua Lào còn khó khăn gấp bội, không có bất cứ cuộc hành quân giải cứu tù binh nào ở bên Lào của SOG được chấp thuận.


Trong khi đó, số quân nhân bị mất tích ngày càng gia tăng, đặc biệt trên lãnh thổ Lào. Ngày 31/7/1969, một toán biệt kích gồm 6 người do Đại úy Dennis Neal làm trưởng toán, xâm nhập sâu vào lãnh thổ Lào khoảng 20 dặm gần đường 921. Ngay khi đáp đất, toán biệt kích đã bị tấn công. Lần liên lạc cuối cùng của toán, nghe rõ tiếng cầu cứu trên máy truyền tin: “Cấp cứu! Cấp cứu! Chúa ơi! Nhanh lên!”. Toán ứng cứu Bright Light được phái đến tìm, nhưng không tìm thấy một xác chết hay một dấu hiệu nào khác. Ngày 13/11/1969, một toán biệt kích khác do Trung sĩ Ronald Ray làm trưởng toán, toán phó là Trung sĩ Randy Suber cũng bị xóa sổ trong khu vực cách thung lũng A Sầu 20 dặm về hướng tây đường 923. Số phận toán biệt kích do đối phương định đoạt.

Thượng sĩ Tony Deluca, một trưởng toán biệt kích thuộc Sở chỉ huy Nam ở Buôn Mê Thuột đến làm việc tại Ban Tìm kiếm hỗn hợp, đã xác nhận năm 1969 có 104 quân nhân Mỹ bị mất tích ở Lào, tính đến ngày 1/9/1970 thì có thêm 59 người, nâng tổng số lên 327 người. Trong số đó, có 10 người được Quân đội Bắc Việt trả tự do.

Ngày 25/10/1970, toán biệt kích Fer De Lance bị tấn công và tiêu diệt trên đất Lào, mất thêm một biệt kích có hạng là trưởng toán David Davidson, vốn là bạn thân của Deluca. Trung sĩ David “Babysan” Davidson đã làm trưởng toán được 3 năm. Anh ta rất nổi tiếng trong số các giai thoại về lực lượng SOG. Tiếng tăm của Davidson có lẽ chỉ thua Jerry “Mad Dog” Shriver. Một trưởng toán biệt kích khác là Sonny Franks nhận xét: “Anh ta đi rừng rất giỏi, bất chấp mọi nguy hiểm. Anh ta luôn dẫn dắt được toán trở về”.

Giống như chuyến xâm nhập định mệnh, “Babysan” không những không đưa được toán trở về, mà thậm chí anh ta còn mất mạng.

Chuyện là vào một buổi chiều, vào tháng 10/1970, khi toán Fer De Lance đang hoạt động tại một rặng núi ở phía nam đường 922 của Lào, cách thung lũng A Sầu 10 dặm về hướng tây. Máy bay trinh sát “Covey” (chó biển) bao vùng nghe “Babysan” báo cáo Quân Bắc Việt đang truy lùng họ. Thời tiết hôm đó có nhiều mây che phủ và chiếc “Covey” phải bay trở về lấy thêm xăng. Khi chiếc “Covey” quay trở lại, thì “Babysan” đã ăn đạn, rơi xuống vực. Toán phó là Trung sĩ Fred Gassman báo cáo đang bị đối phương bao vây tứ phía. Ngay sau đó, báo cáo thêm là anh ta bị thương và máy vô tuyến cũng trúng đạn nên hỏng nặng.

David "Babysan" Davidson

Đêm hôm sau, Trung sĩ Frank Burkhart, một cựu trưởng toán của hai toán biệt kích Miter, anh ta là bạn thân của “Babysan”, ngồi uống rượu trong một quán bar ở Sài Gòn, anh ta nói với người bạn ngồi đối diện là Tony Deluca, rằng anh ta muốn dẫn một toán ứng cứu Bright Light đi tìm xác “Babysan”. Nhưng Deluca xua tay, lắc đầu: “Babysan đã chết, mình phải lo cho người sống đã”. Để cho Burkhart đỡ buồn, Deluca kể lại một câu chuyện. Đại để là vào khoảng cuối tháng 9, qua khai thác một hàng binh của Quân Bắc Việt, SOG biết rằng có một trại tù binh giam giữ 12 tù binh Mỹ. Theo đó, ngày 3/10, SOG thả một toán biệt kích Earth Angle, gồm toàn hàng binh Bắc Việt, tìm kiếm trại tù binh. Họ đụng độ với đơn vị tuần tiễu của đối phương, đành phải rút lui. Qua không ảnh xác nhận vị trí trại tù binh của đối phương là có thật. Phòng Nhì Bộ Tư lệnh Quân đội Mỹ tại Việt Nam (MACV) đã gửi một tấm ảnh đến Phnôm Pênh để gã hàng binh Bắc Việt xác định. Gã ta quả quyết đúng, qua máy dò sự thật. Gã ta sau đó tình nguyện dẫn toán biệt kích đi giải cứu, nhưng kế hoạch bị bác bỏ. Chính quyền Washington không muốn có sự hiện diện của bất kỳ quân nhân Mỹ nào trên đất Campuchia. Deluca nói rằng anh ta có ý định riêng để thực hiện.
Logged
NicolasCage
Thành viên
*
Bài viết: 213



« Trả lời #107 vào lúc: 05 Tháng Ba, 2011, 10:44:03 pm »

Sáng hôm sau, Thượng sĩ Deluca không đến Bộ chỉ huy SOG để làm việc. Anh ta mặc thường phục đón taxi vào sân bay Tân Sơn Nhất, mua vé của Hãng hàng không Thái Lan đi Bangkok, với một túi xách tay chứa mấy món đồ bằng vàng trị giá hàng ngàn dollar. Đến Bangkok, Deluca tìm đến một phụ nữ Lào bí ẩn, người mà anh ta biết qua tin tình báo. Người phụ nữ này quen biết với giới trung lưu Lào.

George Clark tại núi Cô Tô, 4/1969

Với sự giúp đỡ của chị ta, Deluca đón xe lửa đi về hướng đông bắc đến biên giới Thái – Lào, gần thị xã Savanakhet. Một sĩ quan SOG cho biết: “Đó là lần cuối cùng có người trông thấy Deluca. Anh ta xâm nhập vào đất Lào một mình đi tìm tù binh”.

Vài tuần sau, Thiếu tá Ed Lesesne được mời đến căn cứ không quân Nakhon Phanom ở đông bắc Thái Lan để nhận diện một tử thi. Khi kéo tấm vải phủ trên tử thi ra, Lesesne nhận diện đúng là xác của Deluca. “Anh ta bị bắn 8 hay 9 viên đạn. Không biết có phải bị hành quyết hay không, vì họ đã rửa xác cho Deluca”. Trung tá Radke coi cái chết của Deluca là “bi kịch kết thúc”.

Cùng vào thời điểm trên, những cuộc hành quân Bright Light giải cứu tù binh trên lãnh thổ miền Nam Việt Nam cũng gặp nhiều trở ngại, làm SOG bị mất mặt không kém như ở Lào. Nhiều cuộc tập kích cứu tù binh do những toán biệt kích biển (SEAL) như toán 1, toán 2, phối hợp cùng SOG thực hiện. Trong 3 năm 1969-1971, SEAL làm nhiều cú ngoạn mục ở vùng ĐBSCL. Ngày 8/11/1971, SEAL xâm nhập nhiều nơi để tìm kiếm dấu vết Trung sĩ Gerasimo Arroyo Baez, bị mất tích từ ngày 24/3/1969, anh ta được 6 cựu tù binh Quân đội Sài Gòn nhận diện khi trốn thoát khỏi trại tù binh, nằm cách mũi Cà Mau khoảng 50 dặm.


Toán biệt kích cải trang giống như Quân Giải Phóng, từ chiến hạm Washtenaw County họ xuất phát bằng thuyền cao su cặp bờ, cách trại tù binh khoảng 200 thước, gặp gã hàng binh cho biết: trại tù binh đã dời đi nơi khác vì 6 tù binh Quân đội Sài Gòn đã trốn thoát nên đối phương sợ họ chỉ điểm. Toán Biệt hải bắt sống được một tù binh, rồi rút êm.

Tại Sại Gòn, SOG mua chuộc gã tù binh, đặt trước mặt anh ta 5.000 USD với điều kiện đưa được Arroyo Baez về, bằng không SOG sẽ thả truyền đơn trên khắp vùng châu thổ Cửu Long tuyên truyền rằng anh ta làm gián điệp cho SOG và chắc chắn đối phương sẽ làm thịt anh ta. Sau đó, toán Biệt hải đưa gã ta trở lại nơi bị bắt, bắn vài phát súng chỉ thiên, dàn cảnh để cho gã tù binh trốn thoát. Nhưng kết cục sau đó, gã tù binh cũng biến mất luôn (!). Phần kết câu chuyện là hài cốt Arroyo Baez được trao cho Chính phủ Mỹ vào năm 1995, nhưng không giải thích tại sao anh ta chết.

Trung tá Trần Văn Đắc - Tám Hà (thứ 3 từ trái sang), 1968
Logged
NicolasCage
Thành viên
*
Bài viết: 213



« Trả lời #108 vào lúc: 05 Tháng Ba, 2011, 11:01:57 pm »

Một lần khác, SOG cứu được 15 tù binh, nhưng không một ai là người Mỹ. Thêm một nỗ lực nữa trong việc giải cứu tù binh, diễn ra vào đầu tháng 5/1971. Khi bộ phận kiểm thính Mỹ nhận được một công điện của Quân đội Bắc Việt cho biết, một tù binh Mỹ đã trốn khỏi trại tù binh ở vùng Tchepone của Lào và đang tìm đường trở lại biên giới Lào – Việt. Lập tức máy bay thám thính bay đi tìm dấu vết người tù binh Mỹ trong phạm vi 6 dặm xung quanh Tchepone.

Toán biệt kích với trang phục giống người bản xứ tại Lào, 1973

Một chiếc máy bay điều không tiền tuyến (FAC) trông thấy dấu hiệu nhiều viên đá đặt lên nhau, SOG cho rằng đó là ký hiệu của Trung úy Jack Butcher, từng đóng quân trong sân bay Đà Nẵng. Chiếc máy bay thám thính OV10 do anh ta lái bị bắn rơi gần Tchepone vào ngày 24/3. SOG đệ trình kế hoạch hành quân qua Lào để giải cứu Butcher và được trả lời cho phép đưa một đơn vị lớn, quân số lên đến 365 người với điều kiện: Trước hết, phải tìm cho ra Butcher đã.

Máy bay thám thính của SOG bao vùng, thả xuống hai túi mưu sinh, hy vọng Butcher sẽ lấy được. Thêm một chiếc FAC có Đại tá Bill Page, sẵn sàng ra lệnh triển khai kế hoạch ứng cứu Fulton, nếu tìm ra Trung úy Butcher. Khu vực hành quân vốn là địa bàn rất nguy hiểm, bởi cuộc hành quân Lam Sơn 719 vừa chấm dứt, với sự hiện diện của 9 sư đoàn chính quy của Quân đội Bắc Việt (có lẽ con số này được CIA đưa ra, để làm nhẹ đi tổn thất của Mỹ và Quân đội Sài Gòn trong cuộc hành quân Lam Sơn 719). Ngày 9/5, chiếc trực thăng CH53 Jolly Green từ Nakhon Phanom, Thái Lan, đưa toán cấp cứu Bright Light đến vị trí đã xác định để tìm Butcher. Họ thấy dấu bàn chân to tướng của Butcher, nhưng chạm trán đối phương, đành phải rút quân về lại căn cứ không quân Nakhon Phanom của Thái Lan.

Trước đó, cũng tại vùng Tchepone, SOG đã cứu được viên Trung úy phi công Larry Parsons của Thủy quân lục chiến Mỹ. Anh ta từng trốn trong rừng 18 ngày. Nên SOG vẫn nuôi hy vọng và tiếp tục tìm kiếm dấu vết Butcher thêm 10 ngày nữa. Cho đến khi kiểm thính nhận được bức điện văn cho biết Quân đội Bắc Việt đã bắt lại được Butcher thì cuộc giải cứu mới thật sự chấm dứt.

Nguyễn Thị Dậu & Phan Cẩm Phi, 2 bóng hồng thuộc binh chủng Dù, Quân đội VNCH, trong một buổi huấn luyện

Nằm trong chương trình “Việt Nam hóa chiến tranh”, hai sư đoàn còn đầy đủ quân số tại Việt Nam là Sư đoàn kỵ binh bay số 1, ở gần Sài Gòn để bảo vệ Trung tâm tiếp vận Quân đội Mỹ và Sư đoàn dù số 101, nằm ở ngoại ô Đà Nẵng. Nhằm giải cứu tù binh, SOG lập kế hoạch và yêu cầu lập hai trung đội vì quân số Mỹ tham chiến ở Việt Nam đã giảm. Tháng 5/1971, kế hoạch giải cứu tù binh được Tư lệnh Quân đội Mỹ tại Việt Nam là Tướng Abrams phê duyệt. Tháng 6/1971, hai trung đội xung kích được thành lập và đặt tên là Trung đội thám báo 1 và 2.

Trung đội 2 đóng tại Đà Nẵng, Trung đội 1 đóng ở Kontum. Mỗi trung đội gồm 3 toán biệt kích. Toán California do Donald Davidson làm trưởng toán; toán Hawaii do Ls Dover làm chỉ huy; toán West Virginia do Larry Kramer làm trưởng toán.
Logged
NicolasCage
Thành viên
*
Bài viết: 213



« Trả lời #109 vào lúc: 05 Tháng Ba, 2011, 11:22:34 pm »

HÀNH QUÂN BIỆT KÍCH TRONG MẬU THÂN 1968

Đầu năm 1968, tại Khe Sanh tổ chức một trại biệt kích. SOG sử dụng trại này làm căn cứ hành quân tiền phương. Với vị trí này, Khe Sanh trở thành tiền đồn bảo vệ phía tây của khu phi quân sự. Trong căn cứ này có tới 6.000 quân thuộc Trung đoàn 26 Thủy quân lục chiến Mỹ và Tiểu đoàn 37 Biệt động quân của Quân đội Sài Gòn. Theo tin tức tình báo thì bên ngoài có sự hiện diện của 20.000 Quân đội Bắc Việt. Do đó, mọi hỏa lực đều tập trung xung quanh căn cứ như pháo binh, không quân, kế cả máy bay chiến lược B52 yểm trợ ngày đêm. Sự có mặt, cũng như các cuộc hành quân vượt biên của SOG đều được bảo mật, không ai biết.

Khe Sanh, 1/4/1968

Trong trại biệt kích Khe Sanh, SOG có 50 biệt kích quân Mỹ và khoảng 500 dân sự chiến đấu. Họ đều sống dưới hầm y như binh sĩ Thủy quân lục chiến Mỹ. Bình quân mỗi ngày chịu đựng 1.500 quả đạn đại bác, súng cối của đối phương bắn vào căn cứ. Bên ngoài Khe Sanh, trên những ngọn đồi, tử thần luôn rình rập. Những toán biệt kích SOG đều xuất phát từ căn cứ hành quân tiền phương 1 (FOB 1) ở Phú Bài, có nhiệm vụ xâm nhập khu vực dọc theo đường mòn Hồ Chí Minh để tìm mục tiêu, chỉ điểm cho máy bay oanh tạc; đặt máy nghe trộm điện thoại, máy do thám điện tử...

Tại phía tây căn cứ Khe Sanh, dọc theo biên giới Việt – Lào, những toán biệt kích SOG khác xuất phát từ “cửa hậu” của SOG là sân bay Nakhon Phanom. Tại đây, SOG có 7 nhân viên làm việc với Phi đoàn 21 “Pony” hành quân đặc biệt thuộc Không lực Mỹ. Một đơn vị có quan hệ mật thiết với SOG nữa là Phi đoàn 20 Green Hornets. Từ tháng 1/1967, “Pony” yểm trợ cho các toán biệt kích SOG hoạt động ngoài lãnh thổ miền Bắc Việt Nam, cũng như yểm trợ các hoạt động của CIA khi họ chuẩn bị đến cuối năm thả những toán biệt kích của SOG xâm nhập vào đất Lào. Vì vậy, căn cứ Nakhon Phanom vủa Thái Lan ngày càng trở nên quan trọng. Nhất là từ đầu năm 1968, khi trực thăng của SOG không thể hoạt động được ở sân bay bên trong căn cứ Khe Sanh

Khe Sanh, 1968

Một trong những mục tiêu thường xuyên của SOG trên đất Lào là rặng núi Cơ Rốc, cao 549m, ở hướng tây Khe Sanh. Ở đó Quân Bắc Việt đào hầm, đục đá, khoét núi làm đường chuyển quân. Ngày 12/1/1968, toán biệt kích Indiana bị phục kích trên một sườn núi, Họ chạy táo tác, thất lạc nhau. Toán phó là Trung sĩ Jim Cohron, cùng hai biệt kích Nùng tách rời khỏi toán. Số còn lại chạy đến một con đường mòn, tìm cách liên lạc với Cohron không được nên tự thoát thân, còn nhóm Cohron thì bị mất tích.
CIA cho rằng, toán Indiana chạm trán với Trung đoàn Đồng Nai của Quân đội Bắc Việt. Hệ thống kiểm soát thông tin bắt được tần số của đối phương cho biết Cohron đã bị bắt. Nhưng cho đến nay, số phận người biệt kích Mũ Nồi Xanh, quê ở tiểu bang Iowa ấy vẫn chỉ là dấu hỏi.

Cách căn cứ Khe Sanh 5 dặm về hướng tây, trong chân ngọn núi Cơ Rốc bên kia biên giới là trại biệt kích Làng Vây, do Đại úy Frank Willoughby chỉ huy. Đầu năm 1968, dưới áp lực của Quân đội Bắc Việt, 282 biệt kích quân người Thượng được tăng cường cho đại đội biệt kích thượng và lực lượng biệt kích Mũ Nồi Xanh của Mỹ.

Daklak, 12/1968

Bộ phận còn lại của toán Indiana đến trại biệt kích Làng Vây vào một buổi tối cuối tháng 1/1968, sau nhiều ngày bị đối phương săn đuổi trên ngọn núi Cơ Rốc. Trưởng toán Rick Bayer thông báo cho hạ sĩ quan Bill Craig rằng toán biệt kích Indiana trông thấy dấu xích xe tăng của Quân đội Bắc Việt. Ngoài ra, khi đi ngang qua sông Sêkong lúc trời sập tối, toán biệt kích trông thấy Quân Bắc Việt thăm dò mực nước sông và đánh dấu bãi chuẩn bị hành quân vượt sông. Bayer không hoài nghi chuyện Quân đội Bắc Việt sẽ đem xe tăng vào chiến trường miền Nam.
« Sửa lần cuối: 05 Tháng Ba, 2011, 11:46:39 pm gửi bởi NicolasCage » Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM