Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 08 Tháng Tư, 2020, 10:23:06 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Cuộc chiến bí mật - Hồ sơ Lực lượng đặc biệt Quân đội VNCH  (Đọc 360577 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
NicolasCage
Thành viên
*
Bài viết: 213



« Trả lời #70 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2011, 11:25:04 AM »

Toán Verse nhảy dù xuống tăng cường cho toán Tourbillon ngày 7/11/1965. Trong số 8 người nhảy dù xuống miền Bắc, thì có 2 biệt kích quân bị chết do dù không mở. Điều này quả rất đáng nghi ngờ. Hai tuần sau, khi đã huấn luyện cho toán Tourbillon về kỹ thuật do thám đường, toán Verse tự ý di chuyển ra khỏi khu vực hoạt động. Suốt 18 tháng sau đó, Verse liên tục báo cáo lập được nhiều thành quả, nhưng thật ra chỉ là những con số trong bản báo cáo mà thôi. Trong trạng thái không mấy tin tưởng, SOG ra lệnh cho toán Verse di chuyển đến một địa điểm bí mật của CIA trên đất Lào. Mệnh lệnh này không được toán Verse thi hành.

 Cuối cùng, vào tháng 6/1967, phi đoàn hành quân đặc biệt 21 của SOG tại Thái Lan đã sử dụng trực thăng xâm nhập lãnh thổ miền Bắc Việt Nam để bốc toán Verse. Nhưng thật đáng tiếc, một máy bay Mỹ đã bị bắn rơi ngay gần bãi đáp. Ba tuần sau, đài Hà Nội đưa tin bắt sống được toán biệt kích Verse.

Khoảnh khắc trước khi rơi của chiếc CH-46 Sea Knight khiến toàn bộ 12 Lính thủy đánh bộ Mỹ cùng 1 phi công thiệt mạng, 3 người khác bị bỏng nặng, ngày 15/7/1966 gần khu phi quân sự

Toán Tourbillon gồm 8 biệt kích nhảy dù xâm nhập lãnh thổ miền Bắc ngày 16/5/1962, một biệt kích quân chết ngay khi tiếp đất. Toán được tăng cường lần đầu tiên vào tháng 11/1962, nhưng cả 4 biệt kích quân đều tử nạn. Tháng 5/1964, thêm 7 người nhảy dù xuống tăng cường cho toán Tourbillon, thì có 1 người chết. Đến tháng 7, toán Tourbillon được tăng cường  thêm 8 người, thì có 2 người chết. Mặc dù tất cả các biệt kích quân đều đã qua khóa huấn luyện nhảy dù của SOG, được trang bị quân phục đặc biệt để bảo vệ thân thể, thế nhưng con số tổn thất lại quá cao. Trong con số tổn thất ấy, có thể họ bị bắt, bị bỏ mạng, bị tàn phế và có cả những người hợp tác với lực lượng anh ninh Bắc Việt để tóm gọn những toán biệt kích khác.

Ngày 12/12/1964, bốn biệt kích quân nhảy dù xuống tăng cường cho toán Tourbillon, nhưng 8 ngày sau, hai người trong số họ đã bỏ mạng trong một cuộc phục kích. Kế đến, toán Verse nhảy dù vào tháng 11/1965, có 2 biệt kích quân chết. Hầu như mỗi phi vụ nhảy dù xâm nhập lãnh thổ miền Bắc  đều có biệt kích quân bỏ mạng.

Riêng năm 1966, đã hai lần SOG tìm cách thu hồi toán Tourbillon, nhưng cả hai chuyến đều phải hủy bỏ vì toán biệt kích không liên lạc bằng vô tuyến tại bãi đáp. Đêm Giáng sinh 24/12/1966, toán Tourbillon được tăng cường thêm 2 người, nhưng hai tuần sau, nhân viên truyền tin mới được tăng cường bí mật gửi cho SOG một bức điện cho biết một trong số hai người đã nằm trong tay đối phương.

Xâu chuỗi những sự kiện trên, có thể phỏng đoán toán Tourbillon có lẽ đã nằm trong tay đối phương từ lâu. Khi toán Verse nhảy dù xuống tăng cường cho Tourbillon, có thể định mệnh đã an bài sẵn cho các biệt kích quân trong toán. Phòng 2 của cơ quan MACV cùng với SOG thẩm định lại tình hình các toán biệt kích quân thả xuống lãnh thổ Bắc Việt. Họ đi đến kết luận tất cả các toán biệt kích đều đã bị bắt, kể cả Ares.

Ngay từ đầu, kế hoạch thả biệt kích xuống lãnh thổ Bắc Việt đã gặp trở ngại. Chuyến thả dù đầu tiên vào tháng 3/1961 thì bị lưới lửa phòng không của Bắc Việt vít đầu xuống, buộc phải đáp xuống khẩn cấp. Cả toán biệt kích lẫn phi hành đoàn đều bị bắt hoặc bỏ mạng. Năm 1963, CIA quyết định thả 13 toán biệt kích xuống miền Bắc thì 1 toán bị đơn vị an ninh Bắc Việt bắt ngay khi vừa đáp đất. Năm 1964, thêm 5 toán biệt kích bị bắt, chỉ có 1 toán lọt lưới. Chuyện này lặp lại trong năm 1965 và 1966, mỗi năm có 1 toán thoát, số còn lại bị bắt sống hoặc bị tiêu diệt ngay tại bãi đáp.

Thiếu nữ Đà Nẵng đón chuẩn tướng F.J. Karch tại bãi biển Mỹ Khê, ngày 8/8/1965
« Sửa lần cuối: 21 Tháng Hai, 2011, 04:28:17 PM gửi bởi NicolasCage » Logged
NicolasCage
Thành viên
*
Bài viết: 213



« Trả lời #71 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2011, 11:53:56 AM »

Từ năm 1961, CIA và SOG huấn luyện để thả dù xuống lãnh thổ miền Bắc tổng cộng 54 toán biệt kích, gồm 342 biệt kích quân. Nhiều người trong số họ cho đến lúc chết vẫn lầm tưởng mình đã lựa chọn con đường đi đúng đắn. Thật ra, Kế hoạch 34A chính là một thất bại của ngành tình báo Mỹ và cho đến nay nhiều sự việc, sự kiện vẫn chưa được làm sáng tỏ và báo cáo một cách rõ ràng.

Trường hợp của toán Remus, được một tù binh Bắc Việt do quân đội Mỹ bắt được cho biết: một toán biệt kích nhảy dù xuống một địa điểm gần làng của anh ta và bị lực lượng công an biên phòng bắt ngay tức khắc. Khi người tù binh chỉ làng của anh ta trên bản đồ, thì nơi đó gần địa điểm thả dù toán Remus. Tin này làm đau đầu Bộ chỉ huy SOG. Một câu hỏi nghiêm túc được đặt ra: Làm sao an ninh Bắc Việt có thể “hốt gọn” toán biệt kích Remus một cách nhanh gọn, ngay tại địa điểm thả dù ở một nơi xa xôi, hẻo lánh như vậy?

Tháng 3/1968, báo Nhân Dân, cơ quan ngôn luận của Đảng Lao động Việt Nam đã đưa tin về quy định mức án tử hình cho tất cả những kẻ nào hành động chống lại cách mạng. Đến đầu tháng 8/1968, Bắc Việt lại đưa tin đã bắt được ba toán biệt kích. SOG chỉ còn lại 5 toán biệt kích là Red Dragon, Hadley, Eagle, Ares và Tourbillon và họ sắp đăt chuẩn bị các phi vụ trả đũa.

SOG gửi điện báo cho 1 toán biệt kích biết sẽ thả dù tiếp tế đựng trong thùng chứa có hình dạng như giống bom Napalm do phản lực cơ F4 thả. Lần này họ cho thả bom thật và tin rằng người nhận sẽ là đơn vị công an biên phòng chứ không phải toán biệt kích. Vì lẽ đó, trong năm 1968, máy bay C123, C130 của SOG thả tiếp tế (bom thật) xuống lãnh thổ miền Bắc 8 chuyến. Công an biên phòng Bắc Việt sau đó không thèm nhận đồ tiếp tế thả cho các toán Hadley và Tourbillon nữa.

Với nhiệt độ từ 800-1000°C, chỉ cần 1 quả bom hạng trung nặng 250 pound, nạn nhân sẽ không còn cơ hội sống sót trong vòng bán kính 30m

Từ cuối năm 1967, SOG thả những toán biệt kích Strata, do thám đường, tìm mục tiêu 150 dặm qua khỏi khu phi quân sự. Vùng hoạt động của những toán Strata nằm dưới vĩ tuyến 20 nên không bị ảnh hưởng bởi quy định giới hạn tập kích bằng đường không ngoài vĩ tuyến 20 của Tổng thống Johnson. Thời gian hoạt động của các toán biệt kích trong lòng đối phương là 1 hoặc 2 tuần. Mục tiêu cho những toán Strata là do thám hệ thống đường sá dẫn đến các đèo Mụ Giạ, Bản Karai, bản Raving, trước khi đổ vào hể thống đường mòn Hồ Chí Minh. Hầu hết các toán biệt kích đều xâm nhập qua biên giới Lào khoảng 10 dặm, trong vùng đồi núi hiểm trở.

Các thành viên của toán Strata được huấn luyện trong Trung tâm huấn luyện Long Thành như những toán biệt kích được thả xuống miền Bắc những năm trước đó. Họ được huấn luyện riêng để giữ bí mật, sau đó đưa ra căn cứ gần núi Non Nước, Đà Nẵng.

Tất cả có 14 toán biệt kích, với quân số từ 90-122 biệt kích quân.
Các toán Strata xâm nhập lãnh thổ Bắc Việt Nam đều xuất phát từ căn cứ không quân Nakhon, Thái Lan. Họ được máy bay C130 Black Bird của SOG đưa vào căn cứ không quân và được lệnh “chỉ ở trong phòng làm việc của SOG”. Sau khi thay đổi sang quân phục của Quân đội Bắc Việt, biệt kích quân lên trực thăng “Pony” thuộc Phi đoàn 21 của SOG. Với khoảng nửa giờ bay qua 65 dặm bề ngang của nước Lào, trực thăng phải bay cao trên cao độ 10.000 bộ để tránh lưới lửa phòng không Bắc Việt, sau đó bay dọc theo dãy Trường Sơn. Khi đến không phận Bắc Việt, máy bay bay thấp để tránh tên lửa SAM để đến bãi thả biệt kích.

Nhưng mọi hoạt động của Strata đều chấm dứt vào ngày 15/10/1968 sau cú điện thoại từ Washington đến Nam Việt Nam cho Đại tá Cavanaugh, chỉ huy trưởng SOG: “Ông có toán biệt kích Strata nào vượt biên ra ngoài Bắc không?” Một tướng lãnh ở Lầu Năm Góc hỏi Cavanaugh. Ông trùm SOG trả lời: “Có hai toán đang hoạt động ngoài vĩ tuyến 17”. Vị tướng ra lệnh: “Ông phải thu hồi các toán biệt kích trong vòng 24 tiếng đồng hồ”. Vị tướng cho biết thêm, Tổng thống Johnson sắp sửa ra lệnh hoàn toàn chấm dứt các phi vụ ném bom miền Bắc Việt Nam.

Tổng thống Johnson tại Cam Ranh, 26/10/1968

Đại tá Cavanaugh sau này than thở rằng Washington không cần biết đến sinh mạng của những biệt kích quân đang nằm lại tại Bắc Việt. Bởi muốn thu hồi một toán biệt kích trong vòng 24 giờ đâu phải là chuyện dễ. Rất nhiều nguyên nhân trong vấn đề hành quân ngoại lệ, về thời tiết... Đến ngày 23/10 những toán biệt kích Strata cuối cùng mới về đến trung tâm huấn luyện ở Đà Nẵng.

Từ lúc toán Strata đầu tiên xâm nhập lãnh thổ miền Bắc cho đến lúc rút hết các toán biệt kích Strata, kéo dài 13 tháng. Tổng cộng biệt kích Strata xâm nhập miền Bắc 26 lần. Trong 26 lần xâm nhập ấy có 26 biệt kích quân mất tích. Trong số đó có 2 toán bị xóa sổ hoàn toàn. Tổn thất của Strata có nhiều nguyên nhân: do thời tiết xấu; do kế hoạch cấp cứu các toán biệt kích bị đình trệ, có khi kéo dài đến 5 ngày mới kết thúc. Trong số 102 biệt kích quân của Strata thả xuống lãnh thổ miền Bắc Việt Nam thì có tới một phần tư quân số bị tổn thất.
Logged
NicolasCage
Thành viên
*
Bài viết: 213



« Trả lời #72 vào lúc: 23 Tháng Hai, 2011, 09:58:44 PM »

KẾ HOẠCH 35 – VƯỢT BIÊN

Trong chiến tranh Việt Nam, không thể không nói đến vai trò cực kỳ quan trọng của đươg mòn Hồ Chí Minh. Chính phủ Bắc Việt quyết định xây dựng con đường chiến lược này từ năm 1959. Đến cuối năm 1963, hệ thống đường mòn Hồ Chí Minh càng phát triển, gia tăng số lượng và chất lượng chi viện cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Hệ thống đường mòn Hồ Chí Minh trên đất Lào gồm nhiều nhánh nhỏ chạy quanh co, xuyên qua núi non hiểm trở, rừng cây rậm rạp. Quân đội Bắc Việt xây dựng dọc theo tuyến đường hệ thống tiếp vận, kho lương thực, đạn dược, quân trang, quân dụng, các cơ quan chỉ huy, trạm giao liên... chi viện mọi mặt cho lực lượng vũ trang Giải phóng ở chiến trường miền Nam và cả quân tình nguyện của họ ở Lào, Campuchia.


Ông trùm CIA là Colby đã ra lệnh do thám hệ thống đường mòn Hồ Chí Minh từ mùa hè năm 1961. Theo tài liệu đã giải mã, thì khu vực Colby giao cho SOG do thám kéo dài từ Attapeu về hướng bắc tới Tchepone và đường số 9, giáp ranh với địa bàn thuộc hai quân khu I và II của quân đội Sài Gòn. Attapeu nằm về hướng đông nam của vương quốc Lào, sát khu vực biên giới 3 nước Việt Nam – Lào – Campuchia, phía nam Tây Nguyên. Trong vòng hai năm 1961-1693, CIA đã tổ chức 41 cuộc hành quân của biệt kích Mỹ, xâm nhập, do thám trên lãnh thổ vương quốc Lào.

Viên Đại úy Jerry King chỉ huy toán biệt kích hỗn hợp, gồm 1 biệt kích quân Mỹ, 1 Biệt động quân Thái Lan và 3 biệt kích Lào. Trong tháng 7/1962, họ đã nhiều lần xâm nhập vào khu vực gần Tchepone. Có lần họ xâm nhập đúng nơi đóng quân của một trung đoàn quân Bắc Việt. May sao, họ không bị phát hiện và chạy thoát. Đại úy King vẫn kịp nhận diện quân phục, phù hiệu, vũ khí của đối phương. Rõ ràng đó là 1 trung đoàn chính quy của Quân đội Bắc Việt. Dựa vào tình tiết này, CIA phỏng đoán trung bình hàng tháng, Bắc Việt có thể đưa 1.500 quân vào miền Nam theo hệ thống đường mòn Hồ Chí Minh. Năm 1963, nhân cơ hội những biến động trên chính trường Sài Gòn, Bắc Việt tăng cường đưa quân vào miền Nam Việt Nam.

Ban Tham mưu hỗn hợp MACV-CIA là cơ quan soạn thảo kế hoạch 34A cảm thấy sự cần thiết phải lưu tâm đến con đường chi viện huyết mạch của đối phương và yêu cầu phạm vi thực hiện Kế hoạch 34A phải bao gồm luôn cả lãnh thổ vương quốc Lào. Theo tin tình báo của tháng 5/1964, cho thấy nhiều bằng cớ chứng tỏ có sự hiện diện của Quôn đội Bắc Việt trên đất Lào. Do đó, Tư lệnh Bộ chỉ huy Quân đội Mỹ tại Nam Việt Nam được phép phối hợp với chính quyền Sài Gòn tổ chức những cuộc hành quân xâm nhập vào lãnh thổ Lào để thu thập tin tức. Tuy nhiên, do có liên quan đến Bộ Ngoại giao nên các cuộc hành quân xâm nhập của biệt kích bị giới hạn trong khoảng không gian giữa đường 9 và vĩ tuyến 17. Thêm một hạn chế nữa là các biệt kích quân Mỹ không được phép vào đất Lào. Do những trở ngại trên, các biệt kích quân Sài Gòn khi vượt biên sang Lào không được mang quân phục của quân đội VNCH và chỉ được phép nổ súng trong trường hợp tự vệ.

Trước khi biệt kích quân Sài Gòn có thể vượt biên, bất kỳ ai trong cơ quan MACV cũng có thể đảm nhận vai trò huấn luyện họ. Tháng 4/1964, Đại tá Clyde Russell là chỉ huy trưởng đầu tiên của Đoàn nghiên cứu, quan sát (SOG) đã đến văn phòng tướng Westmoreland trình diện. Trong buổi trình diện, có sự hiện diện của Bộ trưởng quốc phòng Mc. Namara; Tổng tham mưu trưởng quân đội Mỹ là tướng Taylor và Đại sứ Lodge. Những nhân vật quan trọng này đã chất vấn Đại tá Russell: “Khi nào SOG mới có thể hành quân xâm nhập vào đất Lào?“ và họ ra lệnh: “Phải đặt chân trên mặt đất, nhìn tận mắt về những hoạt động của cộng sản trên hệ thống đường mòn”.

Tướng Westmoreland và đại sứ Hoa Kỳ tại Nam Việt Nam Henry Cabot Lodge đón đại sứ Liên Hợp Quốc Arthur Goldberg tại sân bay Tân Sơn Nhất, ngày 01/03/1967.

Khoảng 30 ngày sau, SOG huấn luyện xong vài toán biệt kích, sẵn sàng vượt biên xâm nhập lãnh thổ Lào bằng cuộc hành quân Leaping Lena. Đến cuối tháng 6/1964, có 5 toán biệt kích, mỗi toán gồm 8 biệt kích quân Sài Gòn xâm nhập vào khu vực đường 9 Nam Lào, nằm về phía đông Tchepone. Những toán biệt kích được lệnh do thám các hoạt động của đối phương như chuyển quân, chuyển đồ tiếp vận của quân đội Bắc Việt. Nhưng kết quả thật thảm hại, chỉ có 5 trong số 40 biệt kích quân chạy thoát thân trở về. Bộ chỉ huy hành quân Leaping Lena quyết định không thả thêm toán biệt kích nào nữa trong năm 1964.
Logged
NicolasCage
Thành viên
*
Bài viết: 213



« Trả lời #73 vào lúc: 23 Tháng Hai, 2011, 10:27:05 PM »

Đầu mùa mưa năm 1965, Đại tá Donald Blackburn đã thay thế Đại tá Russell làm chỉ huy trưởng SOG. Tháng 9/1965, Blackburn chỉ định Đại tá Bull Simons tổ chức cuộc hành quân 35 (OP.35). Trong lúc đó, quân Bắc Việt phát triển mạnh hệ thống đường mòn Hồ Chí Minh, tạo thành khá nhiều mục tiêu cho các toán biệt kích tìm kiếm và chỉ điểm cho máy bay đến oanh kích. Trung tá Ray Call cho rằng: “Đối phương đem đồ tiếp vận vào quá nhiều, các toán biệt kích gọi phi cơ oanh kích, bắn phá không xuể. Càng bắn phá bao nhiêu, họ càng đem đồ vào nhiều bấy nhiêu. Chắc phải thả bom những nơi cung cấp đồ tiếp vận cho họ là Trung Cộng hoặc Nga Xô (!)”.

Đồng Hới, 31/01/1966

Trung tá Ray Call được chỉ định tổ chức những cuộc hành quân do thám xâm nhập vào lãnh thổ vương quốc Lào. Trước tiên, ông ta thành lập Bộ chỉ huy hành quân tại Đà Nẵng, một thành phố nằm cách biên giới Việt – Lào trên 50 dặm. Sau đó, Ray Call phải tìm một địa điểm khác gần biên giới làm căn cứ tiền phương cho những chuyến hành quân xâm nhập (FOB). Đại tá Simons và Trung tá Call chọn trại biệt kích Khâm Đức, nằm cách biên giới 10 dặm, để đưa các toán biệt kích xâm nhập lãnh thổ Lào và chỉ định Thiếu tá Charlie Norton làm chỉ huy trưởng căn cứ. Tiếp đến, Đại tá Bull Simons tìm một sĩ quan biệt kích, có nhiều kinh nghiệm hoạt động trong lòng đối phương để làm sĩ quan chỉ huy hành quân. Đại úy Larry Thorn là người được chọn.

Đại úy Larry Thorn ở trong trại biệt kích Khâm Đức cho đến 1965, sau một chuyến thả biệt kích, ông ta mất tích cho đến năm 2002 mới tìm ra hài cốt cùng với phi hành đoàn H34 King Bee Việt Nam.

Kế hoạch 35 được triển khai dưới sự điều hành của một Bộ chỉ huy đóng tại Sài Gòn, còn Bộ chỉ huy hành quân tại Đà Nẵng có nhiệm vụ chỉ huy các căn cứ hành quân tiền phương (FOB); đồng thời soạn thảo lệnh hành quân, điều hành các ban yểm trợ, phối hợp liên lạc, quản lý nhân viên, tiếp tế cho các căn cứ hành quân. Trong đó, căn cứ hành quân đầu tiên là trại biệt kích Khâm Đức. Tính đến cuối năm 1965, căn cứ này có 5 toán biệt kích là Iowa, Alaska, Idaho, Kansas và Dakota.

Mỗi toán biệt kích thường gồm 3 biệt kích quân Mũ Nồi Xanh của Mỹ, cùng 9 biệt kích quân là người dân tộc thiểu số. Thông thường, SOG tuyển mộ người Nùng. Trong vòng hai năm 1965-1966, các toán biệt kích bí mật xâm nhập lãnh thổ Lào bằng đường bộ, không được sử dụng trực thăng, vì Đại sứ Mỹ tại Lào là Bill Sullivan yêu cầu : “Tôn trọng nền chính trị trung lập của nước Lào”.

Với việc một số phi vụ xâm nhập trót lọt theo Kế hoạch 35, Washington ra lệnh gia tăng mức độ xâm nhập vào lãnh thổ Lào và mở rộng phạm vi hoạt động khoảng 200 dặm, dọc theo biên giới Việt – Lào. Theo lệnh Washington, Bull Simons tăng thêm số lượng các toán biệt kích lên 20 toán và lập thêm các đội xung kích tiếp ứng cho Kế hoạch 35. Những Đại đội xung kích có nhiệm vụ tấn công các mục tiêu do các toán thám báo tìm ra.

Một toán hỗn hợp MACV-SOG tại Sở Bắc

Thêm một căn cứ hành quân tiền phương được thiết lập tại Kontum và trại biệt kích Khâm Đức được lệnh di chuyển ta Phú Bài, gần thành phố Huế, thuộc lãnh thổ Quân khu I. Từ Phú Bài, các toán biệt kích có thể xâm nhập các mục tiêu trên đất Lào từ vĩ tuyến 17 trở vào đến thung lũng A Sầu. Khu vực còn lại sẽ do các toán biệt kích ở Kontum, vùng nam Tây Nguyên, thuộc lãnh thổ Quân khu II đảm trách. Năm 1967, Kế hoạch 35 lập thêm 2 Bộ chỉ huy khu vực (CCC), đóng tại Kontum và vùng nam (CCS) đóng tại Buôn Mê Thuột. Bộ chỉ huy tại Đà Nẵng gọi là Bộ chỉ huy Bắc (CCN-Sở Bắc). Mỗi Bộ chỉ huy có 2 căn cứ hành quân tiền phương. Bộ chỉ huy Bắc đảm trách khu vực từ vĩ tuyến 17 đến thung lũng A Sầu; Bộ chỉ huy Trung chịu trách nhiệm khu vực còn lại trên đất Lào; Bộ chỉ huy Nam chịu trách nhiệm xâm nhập lãnh thổ Campuchia từ tháng 5/1967.
Logged
NicolasCage
Thành viên
*
Bài viết: 213



« Trả lời #74 vào lúc: 23 Tháng Hai, 2011, 11:50:59 PM »

Trong hai năm 1966-1967, Đại tá Bull Simons đã xây dựng một đơn vị bí mật gồm 3 Bộ chỉ huy, với 110 sĩ quan, 615 biệt kích quân người Mỹ. Không rõ quân số biệt kích là người dân tộc thiểu số và người Việt là bao nhiêu. Tuy nhiên, có thể ước chừng mỗi Bộ chỉ huy có 30 toán thám báo, với quân số khoảng 800 biệt kích quân. Thêm 6 đại đội xung kích, 3 đại đội bảo vệ, tổng quân số lên đến hàng ngàn. Ngoài ra, người Mỹ còn lập thêm trung tâm huấn luyện biệt kích quân.


Khi Đại tá Blackburn nhận lệnh hành quân viễn thám vượt biên, ông ta dựa theo chương trình Sao Trắng mà Đại tá Bull Simons trước đây đã thành công trên đất Lào. Kế hoạch 35 được chia làm ba giai đoạn. Đợt thứ nhất, các toán biệt kích sẽ xâm nhập Lào để do thám, đánh dấu vị trí các Bộ chỉ huy của quân đội Bắc Việt; các căn cứ và kho tiếp vận. Khi tìm ra mục tiêu, họ sẽ chỉ điểm cho các máy bay Mỹ oanh kích. Đợt 2, sẽ tung Đại đội xung kích tấn công chớp nhoáng vào các mục tiêu ngoại biên rồi rút lui. Cuối cùng là tuyển mộ, tổ chức các bộ tộc người dân tộc thiểu số, vốn sống gần đường mòn Hồ Chí Minh, để phá hoại hoặc chống lại quân đội Bắc Việt.

Trong các bản báo cáo về Sở chỉ huy hành quân Shining Brass, cho biết nhiệm vụ chính của các toán biệt kích là do thám đường mòn, xác định mục tiêu cho máy bay đến oanh kích. Nhiệm vụ khác là bắt tù binh để cung cấp tin tức cụ thể nhất về các đơn vị của đối phương. Các toán biệt kích thỉnh thoảng xâm nhập vào vùng bị máy bay B52 ném bom rải thảm để thẩm định kết quả những trận dội bom. Họ chụp ảnh sự tàn phá của bom và đếm xác đối phương bỏ lại. Toán biệt kích đem theo máy nghe lén và sẽ thu những cuộc điện đàm từ Bộ chỉ huy đến các đơn vị của quân đội Bắc Việt.

Tháng 6/1967, Bộ trưởng Quốc phòng Mc. Namara ra lệnh triển khai chương trình Mussel Shoals. Chương trình này đặt máy thăm dò điện tử, theo dõi sự chuyển quân của đối phương trên đường mòn Hồ Chí Minh hoặc trong những cánh rừng già rậm rạp; những nơi nghi có sự hiện diện của quân đội Bắc Việt. Các tín hiệu điện tử sẽ báo về Trung tâm kiểm soát Nakhon Phanom tại Thái Lan rồi truyền tiếp đến Trung tâm hành quân thứ 7 của Không quân Mỹ đến đánh bom. Hàng ngàn chiếc máy dò điện tử được thả xuống từ máy bay, một số khác do các toán biệt kích SOG đem gài vào vùng đối phương kiểm soát.

Với tuổi thọ khoảng 70 ngày, "cây nhiệt đới" sẽ thu thập chấn động, nhiệt để gửi về trung tâm

Biệt kích quân cũng được dùng trong những phi vụ cứu phi công lâm nạn đang lẩn trốn, hoặc tấn công trại tù binh của quân đội Bắc Việt. Tháng 9/1966, Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương của Mỹ thành lập Trung tâm hỗn hợp cứu người (JPRC), trực thuộc SOG. Trung tâm hành quân giải cứu chia làm hai bộ phận: Thứ nhất là tấn công bất ngờ vào trại tù hoặc những nơi tình nghi giam giữ tù binh. Bộ phận thứ hai có nhiệm vụ tìm kiếm quân nhân lâm nạn do rơi máy bay hoặc trên đường đào tẩu sau khi trốn khỏi trại tù binh. Những nhiệm vụ kể trên đều nằm trong Kế hoạch hành quân Bright Light.

Ngoài các toán viễn thám, Kế hoạch 35 còn tổ chức thêm những đơn vị trên cấp trung, đại đội xung kích để ngăn chặn, tấn công các cuộc phục kích trên đường mòn Hồ Chí Minh và tiếp ứng cho các toán thám báo, trong trường hợp các toán này bị đối phương phát hiện và bao vây.
Logged
NicolasCage
Thành viên
*
Bài viết: 213



« Trả lời #75 vào lúc: 24 Tháng Hai, 2011, 12:02:07 AM »

Đến cuối mùa thu năm 1965, chi tiết về Kế hoạch hành quân đã thảo xong, 5 toán biệt kích đã sẵn sàng vượt biên. Do phi vụ bí mật, toán biệt kích xâm nhập vào đất Lào phải “sạch”. Họ không đeo quân hàm, phù hiệu đơn vị. Riêng quân phục được SOG đặt làm ở đâu đó bên Á Châu, vũ khí được trang bị cũng không phải súng đạn Mỹ và không thể truy tìm được nơi sản xuất. Các thành viên của toán không được đem theo bất cứ vật dụng gì có thể nhận diện được họ.


Từ tháng 10 cho đến cuối năm 1965, các toán biệt kích vượt biên 7 lần. Những lần xâm nhập đầu tiên không làm đối phương nghi ngờ, kết quả thu được là khá khả quan. Các toán biệt kích SOG tìm ra nhiều mục tiêu để chỉ điểm cho máy bay oanh tạc. Một lần, biệt kích phát hiện ra kho tiếp vận lớn. Lần khác, họ tìm thấy bãi đậu xe và kho nhiên liệu. Sau 37 lần máy bay oanh kích, kho nhiên liệu, tiếp vận của đối phương bốc cháy, gây ra nhiều tiếng nổ phụ. Trong những chuyến xâm nhập khác, biệt kích khám phá ra cầu cống, bãi đậu xe, kho tiếp vận và các binh trạm của quân đội Bắc Việt. Báo cáo thẩm định về các trận đánh bom cho biết mục tiêu đã bị phá hủy.

Sự thành công nào cũng có cái giá của nó. Một trong những chuyến xâm nhập đầu tiên vào tháng 10/1965, một toán biệt kích được thả vào khu vực tình nghi có che giấu một căn cứ tiếp vận lớn của đối phương. Hai trực thăng H34 thả toán biệt kích xuống một bãi đáp gần biên giới và toán sẽ vượt biên đến mục tiêu trên bộ. Tin tình báo cho biết có nhiều hoạt động của đối phương trong vùng, thêm yếu tố thời tiết xấu, do đó Đại úy Larry Thorn đi theo trên chiếc H34 thứ 3, trường hợp khẩn cấp, phải thu hồi toán biệt kích. Theo lệnh của máy bay quan sát đường không, hai chiếc H34 thả toán biệt kích xuống bãi đáp rồi bay về căn cứ hành quân tiền phương Khâm Đức. Đại úy Thorn vẫn tiếp tục bay quanh vùng cho đến khi nhận được báo cáo của toán biệt kích là đã di chuyển đến một nơi an toàn. Hôm đó thời tiết xấu, sương xuống thấp, chiếc H34 chở Đại úy Larry Thorn biến mất, mãi đến năm 2002 mới tìm thấy hài cốt.

Những kết quả ban đầu mà SOG thu được đã làm cho giới lãnh đạo Mỹ hài lòng. Họ quyết định mở rộng phạm vi hoạt động cho các đơn vị SOG và lệnh cho Đại tá Bull Simons gia tăng các cuộc hành quân của biệt kích trong năm 1966. Những sĩ quan cao cấp của Bộ chỉ huy Quân đội Mỹ tại Việt Nam (MACV) muốn oanh tạc hệ thống tiếp vận, truyền tin của đối phương tại Nam Lào. Bởi thực tế cho thấy quân đội Bắc Việt rõ ràng ngày càng phát triển, mở rộng hệ thống đường mòn Hồ Chí Minh để tiếp tế, chuyển quân vào Nam Việt Nam, nhằm mở những trận đánh ngày càng lớn hơn, tạo thế và lực mới ở chiến trường miền Nam.

Các toán biệt kích đem về khá nhiều tin tình báo mà không ảnh không thể hiện. Kể cả những sự kiện đang diễn ra trên đất Lào chứ không phải chỉ có vài ba đơn vị nhỏ lẻ của Bắc Việt đang xâm nhập vào Nam. Tướng Westmoreland muốn SOG vượt khỏi những giới hạn ràng buộc để mở rộng phạm vi, cũng như quy mô các cuộc hành quân do thám. Ông ta cho phép sử dụng trực thăng thả các toán biệt kích, vì phương tiện trực thăng sẽ làm các hoạt động của biệt kích quân ngày càng hiệu quả hơn. Ngay cả Đô đốc U.S. Grant Sharp, Tư lệnh Lực lượng Thái Bình Dương cũng muốn SOG được tự do hành động. Giống như Westmoreland, ông ta rất thích, ưu ái lực lượng biệt kích, thường nhận xét và phê những lời tốt đẹp vào các bản báo cáo hành quân của SOG.

Huế 1972

Kế hoạch 35 đòi hỏi phải thành lập 3 tiểu đoàn, với 450 biệt kích quân là người Nùng làm lực lượng cơ động và đơn vị xung kích cho cuộc hành quân Shining Brass, đã được viên Tư lệnh Lực lượng Thái Bình Dương chấp thuận ngay. Những tiểu đoàn xung kích này được giao nhiệm vụ bảo vệ các căn cứ hành quân tiền phương (FOB), vừa tấn công những mục tiêu do các toán thám báo tìm ra; đồng thời tiếp ứng cho các toán thám báo trong trường hợp khẩn cấp. Những tiểu đoàn xung kích Nùng được tổ chức từ cấp trung đội (Hornet Force), đại đội (Hatchet/ Havoc Force) đến cấp tiểu đoàn (Haymaker Force). Giới nắm quyền cũng như quân sự Mỹ đều đồng ý, ngoại trừ Đại sứ Mỹ tại Lào là Sullivan. Ông ta chỉ tán thành mở các cuộc hành quân đến cấp trung đội, trong phạm vi 10km, sâu trong lãnh thổ vương quốc Lào, với thời gian không quá 5 ngày và phải thông báo cho tòa Đại sứ trước 40 giờ đồng hồ về khu vực hành quân.
Logged
NicolasCage
Thành viên
*
Bài viết: 213



« Trả lời #76 vào lúc: 24 Tháng Hai, 2011, 09:04:27 PM »

Mặc dù bị giới hạn nhưng năm 1966 vẫn là năm được coi là thành công của SOG. Theo số liệu thống kê, năm 1966 có 111 chuyến hành quân xâm nhập. Cao nhất là tháng 9, với 15 cuộc hành quân. Ngoài nhiệm vụ tìm ra mục tiêu để chỉ điểm cho máy bay oanh tạc, các toán biệt kích còn bắt cóc được 15 người. Trong cuộc hành quân Bright Light năm 1966, các toán biệt kích SOG thực hiện 4 phi vụ cứu phi công Mĩ bị bắn rơi ở miền Bắc Việt Nam hoặc trên lãnh thổ Lào. SOG cũng tổ chức 13 cuộc tấn công của các trung đội Hornet (biệt kích người nùng) vào căn cứ đối phương trên đất Lào.

Toán Georgia trong 1 chuyến xâm nhập Lào

Hầu hết các chuyến xâm nhập trong năm 1966 kéo dài ra từ 3-5 ngày. Khi chạm trán đối phương hoặc phát hiện ra căn cứ của đối phương, lập tức máy bay điều hành không yểm (FAC) sẽ gọi các phi đội đến yểm trợ. Trưởng toán biệt kích sẽ chỉ điểm cho máy bay oanh kích thông qua trung gian FAC. Khi cần thiết phải “bốc” toán biệt kích nào đó ra, FAC sẽ điều động trực thăng đổ quân, trực thăng vũ trang đến đem toán thám báo ra khỏi khu vực nguy hiểm. Thông thường, các phi đoàn trực thăng đem theo trung đội Hornet (biệt kích Nùng) đến để tiếp ứng cho các toán thám báo. Trường hợp khẩn cấp, FAC sẽ điều động thêm khu trục hoặc phản lực đến yểm trợ. Năm 1966 có thể coi là năm thiệt hại lớn cho SOG trên đất Lào với 3 biệt kích quân Mỹ, cùng 25 biệt kích quân Việt Nam mất tích.

Năm 1967, Trung tâm chỉ huy hành quân Shining Brass, với nhiệm vụ phá hoại các căn cứ đối phương trên hệ thống đường mòn Hồ Chí Minh trên đất Lào, được đổi tên thành Trung tâm hành quân Prairie Fire. Trung tâm này tổ chức tất cả 187 chuyến xâm nhập, tìm kiếm căn cứ của đối phương cho máy bay oanh kích và 68 cuộc hành quân cấp trung đội Hornet hoặc cấp đại đội Hatchet. Trung tá Jonathan Carney, chỉ huy phó Kế hoạch 35 năm 1967, tin rằng các hoạt động biệt kích trong hai cuộc hành quân  Shining Brass và Prairie Fire đã gây thiệt hại không nhỏ cho quân đội Bắc Việt. Có nhiều căn cứ, kho tàng tiếp tế bị máy bay oanh kích phá hủy. Trước tình hình trên, Hà Nội bắt đầu tổ chức những đơn vị chống biệt kích để bảo vệ hành lang vận chuyển của họ trên đất Lào.

Năm 1967 đã diễn ra một sự kiện khá quan trọng trong hoạt động của SOG. Đó là phạm vi hoạt động của SOG đã mở rộng sang lãnh thổ vương quốc Campuchia. Tướng Westmoreland đã được SOG báo cáo rằng hệ thống đường mòn Hồ Chí Minh không dừng lại trên đất Lào mà tiếp tục phát triển vượt qua biên giới Lào – Campuchia. Năm 1967, tướng Westmoreland yêu cầu Washington cho SOG điều động lực lượng biệt kích xâm nhập lãnh thổ Campuchia để do thám mức độ quân đội Bắc Việt tăng cường chi viện cho cộng sản ở miền Nam tới đâu.

Pleiku, 24/01/1966

Theo đó, tháng 5/1967, SOG được lệnh vượt biên xâm nhập lãnh thổ vương quốc Campuchia bằng cuộc hành quân Daniel Boone, nhằm thu thập tin tức tình báo chiến lược tại vùng ba biên giới Việt – Lào – Campuchia.

Phạm vi cuộc hành quân Daniel Boone được giới hạn từ vùng ba biên giới kéo dài xuống khu vực Lưỡi Câu trên đất Campuchia, nơi tập trung rất đông quân chính quy Bắc Việt lẫn Quân Giải Phóng, đây cũng là nơi đặt Bộ Chỉ huy tối cao của Việt Cộng là Trung ương Cục miền Nam, thường được gọi tắt là “R” và Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.
Logged
NicolasCage
Thành viên
*
Bài viết: 213



« Trả lời #77 vào lúc: 24 Tháng Hai, 2011, 09:36:50 PM »

Tương tự như hoạt động ở bên Lào trước đây, các toán biệt kích phải đi bộ xâm nhập qua biên giới. Trực thăng chỉ được sử dụng trong trường hợp khẩn cấp. Ngoài ra, không được sử dụng máy bay oanh kích và các đại đội xung kích tiếp ứng. Khi các toán biệt kích xâm nhập sang lãnh thổ Campuchia, họ phải tự bảo toàn sinh mạng của mình. Còn CIA chỉ lo bơm vào đầu họ tư tưởng “hy sinh vì chủ nghĩa quốc gia”.

Những toán biệt kích trực thuộc Trung tâm hành quân Daniel Boone phát hiện thấy nhiều đơn vị Quân đội Bắc Việt trên đất Campuchia. Điều đó chứng tỏ Hà Nội đã phát triển hệ thống hành lang vận chuyển chiến lược nối dài sang đất Campuchia, để thiết lập nhiều căn cứ vật chất, các kho nhiên liệu, sở chỉ huy, căn cứ truyền tin dọc theo các tuyến hành lang vận chuyển. Từ ngày 1/7 đến 31/12/1967, tổng cộng những toán biệt kích Daniel Boone đã xâm nhập lãnh thổ vương quốc Campuchia 99 lần. Họ tự đánh giá có 63 lần thành công.

Bồng Sơn, 02/02/1966

Năm 1967 được coi là năm thành công của Kế hoạch 35. Trên lãnh thổ Lào, các toán biệt kích đã phát hiện ra những căn cứ của đối phương và chỉ điểm cho những máy bay oanh kích. Còn trên đất Campuchia, các toán biệt kích trong chương trình hành quân Daniel Boone đã đem về những tin tức, hình ảnh về các hoạt động của đối phương trên đất Campuchia. Tuy nhiên, những gì SOG thu được đều phải trả bằng giá rất đắt. Có thể nói, tổn thất của SOG mỗi năm một gia tăng, số lượng biệt kích quân Mũ Nồi Xanh của Mỹ tử trận năm 1966 mới 3 người, tăng lên 42 người vào cuối năm 1967, cộng thêm 14 biệt kích quân khác mất tích.

Năm 1968, Tổng thống Johnson ra lệnh chấm dứt tất cả các hoạt động của SOG ở miền Bắc Việt Nam và giới hạn các hoạt động ngoài lãnh thổ tại Lào, Campuchia. Trong vòng nửa năm, các toán biệt kích SOG, cùng các Đại đội xung kích chỉ hoạt động trên lãnh thổ miền Nam Việt Nam, vừa yểm trợ cho các đơn vị quân đội Mỹ trong cuộc Tổng công kích của Quân đội Bắc Việt và Quân Giải phóng. Trong khi đó, Hà Nội bắt buộc phải bảo vệ hệ thống đường mòn Hồ Chí Minh để tiếp tục tăng cường quân số, vũ khí, đạn dược và vật chất vào chiến trường miền Nam Việt Nam.

Phản ứng đầu tiên của Bắc Việt là bố trí dọc theo biên giới Việt – Lào, mỗi vị trí một hoặc hai quân nhân để cảnh giới trực thăng thả biệt kích. Sau đó, họ rải quân ở những nơi có thể dùng làm bãi thả biệt kích. Quân đội Bắc Việt cũng sử dụng những bộ tộc người dân tộc thiểu số sống gần tuyến đường mòn Hồ Chí Minh để báo động bằng chiêng, trống, tù và... mỗi khi phát hiện trực thăng. Những sĩ quan Bắc Việt đã tiến hành nghiên cứu mọi phương thức hành quân của các đơn vị SOG, vẽ lại lộ trình di chuyển, tìm ra quy luật hoạt động rồi từ đó đề ra cách thức tiêu diệt hoặc bắt sống các toán biệt kích quân.

Để bảo vệ hệ thống đường mòn Hồ Chí Minh, Bộ chỉ huy các binh trạm, bãi đậu xe, kho nhiên liệu, lương thực, đồ tiếp vận... Quân đội Bắc Việt đã giao trách nhiệm bảo vệ an ninh cho các đơn vị hậu cần. Đến mùa khô 1967-1968, chỉ huy mới của SOG là Đại tá Steve Cavanaugh, cho rằng Hà Nội đã tổ chức xong một hệ thống bảo vệ đường mòn rất phức tạp, gây nguy hiểm cho các toán biệt kích của SOG. Quân đội Bắc Việt cũng tổ chức những đơn vị đặc biệt để truy lùng, tiêu diệt những toán biệt kích xâm nhập tuyến đường chiến lược hàng đầu của họ, với tên gọi là những đội “săn biệt kích”. Những đơn vị “săn biệt kích” này được tuyển chọn từ Lữ đoàn Dù số 305 của Quân đội Bắc Việt, thành lập năm 1965. Sau đó, phát triển thành Sư đoàn Đặc công số 305, nổi danh bởi sự dữ dội, không khoan nhượng cũng giống như Lực lượng Đặc biệt của Quân đội Bắc Việt. Một bộ phận của Sư đoàn này được huấn luyện thành đơn vị chống biệt kích, với nhiệm vụ truy lùng và tiêu diệt các toán biệt kích quân của SOG.

Trong một trận tấn công cấp đại đội Hatchet vào căn cứ bộ chỉ huy của đối phương trên đất Lào, ngay khi Đại đội xung kích vừa đáp đất, Quân đội Bắc Việt dường như đã biết trước, nổ súng xối xả vào đại đội biệt kích. Sau đó, họ bao vây, thanh toán gọn đại đội xung kích của SOG. Một hạ sĩ quan Mũ Nồi Xanh của Mỹ duy nhất còn sống sót là Charles Wilklow, do bị thương nặng nên đối phương không thèm giết. Wilklow chứng kiến cảnh Quân đội Bắc Việt đem những xác lính Mỹ đem chôn. Bốn ngày sau, Charles Wilklow lết ra đến một nơi trống trải và được trực thăng tìm thấy, bốc đem về.

Hatchet Force xuất kích
Logged
NicolasCage
Thành viên
*
Bài viết: 213



« Trả lời #78 vào lúc: 24 Tháng Hai, 2011, 10:31:27 PM »

Biến cố Tết Mậu Thân 1968 đã khiến cho các đơn vị SOG phải giảm bớt số lượng các cuộc hành quân ngoại biên. Theo thống kê của Trung tâm hành quân Prairie, họ đã tổ chức tổng cộng 546 chuyến xâm nhập ngoại biên. Trong đó có 310 chuyến hành quân sang lãnh thổ Lào, chiếm 57%;  43% còn lại trên lãnh thổ miền Nam. Riêng chương trình hành quân Daniel Boone đã tổ chức 726 chuyến xâm nhập, nhưng chỉ có 287 chuyến sang lãnh thổ Campuchia, chiếm 39%. Tất cả những chuyến xâm nhập vào Campuchia đều nhân cơ hội biến cố Tết Mậu Thân để giảm áp lực khi xâm nhập.

Đường Đồng Khánh, Sài Gòn 1968. Phía xa là nhà thờ Cha Tam

Theo báo cáo, chương trình Daniel Boone quay trở lại mục tiêu xâm nhập lãnh thổ Campuchia từ tháng 10/1968. Tính đến cuối năm 1968, SOG đã thực hiện được 53 chuyến xâm nhập Campuchia. Trong ba tháng cuối năm 1968, Kế hoạch 35 tổ chức trung bình hàng tháng có 46 chuyến xâm nhập lãnh thổ Lào và Campuchia.

Trong biến cố Tết Mâu Thân 1968, chương trình hành quân Prairie Fire đã giảm bớt hoạt động trên lãnh thổ Lào để lo sự vụ “bên trong”, vừa yểm trợ cho căn cứ Khe Sanh của Mỹ, khi đó đang bị bao vây. Từ tháng 1 cho đến giữa tháng 6/1968, SOG bố trí 600 quân túc trực phòng thủ, bảo vệ các đơn vị Quân đội Mỹ và căn cứ Khe Sanh. Nhưng sau đó, các căn cứ hành quân tiền phương, trại biệt kích Khâm Đức đã rơi vào tay đối phương ngày 12/5/1968, làm giảm đi hiệu quả của các đơn vị SOG trên đất Lào. Trại biệt kích Khâm Đức trước biến cố 1968 từng đảm nhiệm một phần ba địa bàn xâm nhập trên lãnh thổ Lào, với nhiều mục tiêu quan trọng.

Tại căn cứ hành quân tiền phương 4 (FOB 4), Trung tá Lauren Overby phải đối diện với quá nhiều khó khăn của hậu Mậu Thân 1968. Các toán biệt kích xâm nhập thường xuyên chạm trán với đối phương. Nhiều toán biệt kích vừa chạm đất đã đụng đối phương ngay tại bãi đáp. Lauren Overby than rằng: “Hầu như không thể để cho các toán biệt kích ở lâu trong lòng đối phương. Phe chúng ta có thể thành công bên Campuchia (Daniel Boone), nhưng riêng khu vực hành quân của tôi lại quá nhiều khó khăn. Căn cứ hành quân tiền phương này cách biên giới Lào khoảng 6 dặm. Có thể đối phương có người theo dõi chuyện làm ăn của bọn tôi (?!)”.

Những toán biệt kích quân thuộc chương trình hành quân Prairie Fire chịu nhiều tổn thất trong năm 1968. Con số thương vong càng ngày càng gia tăng. Cụ thể tại lãnh thổ Lào, có 18 biệt kích quân tử trận, 101 bị thương, 18 mất tích. Tại miền Nam, có 21 biệt kích quân tử trận, 78 bị thương và 6 mất tích. Tổn thất của Kế hoạch 35, thuộc chương trình hành quân Daniel Boone trên lãnh thổ Campuchia có vẻ tổn thất nhẹ hơn, với 17 trường hợp tử trận, 56 bị thương và 3 mất tích. Hai Bộ chỉ huy Bắc (CCN) và Trung (CCC) với quân số khoảng 100 sĩ quan và 600 hạ sĩ quan, binh sĩ biệt kích Mỹ, thì con số tổn thất như trên là quá cao. Kỷ lục tổn thất cao nhất không phải là Quân đội Sài Gòn, mà là các đơn vị quân đội Mỹ tham chiến tại Việt Nam.

Huế, 1968

Năm 1969, tình hình cũng không khả quan trên lãnh thổ Lào. Theo báo cáo của Kế hoạch 35, thì trung tâm hành quân Prairie Fire đã tổ chức 452 chuyến vượt biên, trong đó có 404 chuyến thả biệt kích xâm nhập với 48 chuyến hành quân cấp đại đội xung kích Hatchet Force. Nhiều chuyến xâm nhập vùng ba biên giới, nhiệm vụ của các toán biệt kích là khám phá hệ thống đường ống dẫn dầu, công binh xưởng sửa chữa xe cộ và trạm bơm xăng. Ngoài ra quân biệt kích sẽ khám phá hệ thống truyền tin, đường dây thông tin liên lạc của đối phương bố trí dọc theo đường mòn Hồ Chí Minh.

Tháng 9/1968, Đại tá Steve Cavanaugh lên làm chỉ huy trưởng SOG, Đại tá Jack “The Iceman” Isler được giao cho nhiệm vụ chủ trì Kế hoạch 35. Trong lúc đó, quân đội Bắc Việt tăng cường thêm lực lượng cho các đơn vị bảo vệ đường mòn Hồ Chí Minh. Tình hình đó gây trở ngại, nguy hiểm cho các toán biệt kích xâm nhập lãnh thổ Lào. Jack “The Iceman” Isler than thở: “Nhiệm vụ quá khó khăn, không có toán nào ở lâu được quá hai ngày. Thậm chí khi mới thả xong 1 toán biệt kích, trên đường trực thăng bay về, phải quay trở lại để bốc toán biệt kích ra”.
Logged
NicolasCage
Thành viên
*
Bài viết: 213



« Trả lời #79 vào lúc: 24 Tháng Hai, 2011, 11:10:08 PM »

Trong năm 1969, con số thiệt hại của biệt kích Mỹ là 50% cho mỗi chuyến vượt biên xâm nhập lãnh thổ Lào trong chương trình hành quân Prairie Fire, so với 44% của năm 1968, 39% cho năm 1967. Tính trung bình cứ hai chuyến xâm nhập, lại có lính Mũ Nồi Xanh Mỹ tử trận, bị thương hoặc mất tích. Năm 1969, chương trình Prairie Fire tổ chức 452 chuyến xâm nhập thì tổn thất về phía người Mỹ là 19 trường hợp tử trận, 199 bị thương và 9 mất tích. Chương trình hành quân Prairie Fire do Bộ chỉ huy Bắc (CCN) ở Đà Nẵng và Bộ chỉ huy Trung (CCC) ở Kontum đảm trách. Quân số năm 1969 của hai Bộ chỉ huy hành quân Bắc và Trung, thuộc lực lượng Mũ Nồi Xanh Mỹ có 72 sĩ quan và 409 hạ sĩ quan, binh sĩ.

Trung úy Micheal Forte (giữa) thuộc MACV-SOG tại Bộ chỉ huy Trung (CCC), Kontum, 1971

Kế hoạch 35 triển khai trên lãnh thổ Canpuchia có vẻ ít khó khăn hơn so với ở Lào và Nam Việt Nam. Chương trình hành quân Daniel Boone đã đổi tên thành Salem House. Năm 1969, con số thiệt hại trung bình cho mỗi  chuyến vượt biên xâm nhập lãnh thổ  Campuchia là 13%. Cũng trong năm 1969, Trung tâm hành quân Salem House đã tổ chức 454 chuyến xâm nhập thu thập tin tức tình báo chiến lược. Trong đó, tổn thất lớn nhất của lực lượng biệt kích Mũ Nồi Xanh là Mỹ mất đi một toán biệt kích nổi tiếng, từng nhận nhiều huy chương của quân đội. Đó là trường hợp Trung sĩ Jerry “Mad Dog” Shriver.

Ngày 24/4/1969, một đại đội xung kích Hatchet Force, trong đó có Shriver được trực thăng đổ bộ xuống tấn công vào căn cứ đầu não Trung ương Cục miền Nam và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Đại đội này bị đối phương xóa sổ hoàn toàn. Trung sĩ Jerry Shriver mất tích, không tìm ra xác. Nhiều phi đội phản lực, khu trục được gọi đến để yểm trợ cho đoàn trực thăng cấp cứu đem những biệt kích quân còn sống sót của đại đội biệt kích Hatchet Force ra.

"Huyền thoại" Mad Dog Shriver, mất tích ở Campuchia


Đến năm 1970, khi chương trình Việt Nam hóa chiến tranh bắt đầu được triển khai thì con số thiệt hại của SOG nhờ đó được giảm đi. Vẫn theo số liệu của Trung tâm hành quân Prairie Fire, tại thời điểm năm 1970, cơ quan này đã tổ chức 441 chuyến vượt biên, chiếm tới 95% phi vụ thả biệt kích hoạt động trên lãnh thổ Lào. Tuy nhiên, việc sử dụng các đơn vị đến cấp đại đội ngày càng trở nên khó khăn do việc quân đội Mỹ lần lượt rút khỏi Việt Nam, kèm theo họ không cung cấp đủ phương tiện cho các đơn vị SOG.

Đến cuối năm 1970, con số thiệt hại của lực lượng biệt kích Mỹ là 12 trường hợp bỏ mạng, 98 bị thương và 4 mất tích. Chương trình hành quân Salem House tại Campuchia phần nào nhẹ đi do sự kiện ngày 18/3/1970 khi mà ông hoàng Sihanouk bị tướng Lon Nol đảo chính lật đổ ngôi vị. Nhân cơ hội đó, liên quân Mỹ và Sài Gòn tổ chức cuộc hành quân Bình Tây, tấn công sang đất Campuchia. Trung tâm hành quân Salem House đã tổ chức 577 chuyến xâm nhập Campuchia, chủ yếu do lực lượng Lôi Hổ thuộc Nha Kỹ Thuật của Quân đội Sài Gòn đảm nhiệm, vì lính Mỹ không được phép sang Campuchia, theo lệnh ban hành ngày 30/6/1970.

Đến cuối năm 1970, Quân đội Bắc Việt đã hoàn thành hệ thống chống biệt kích rất hiệu quả. Người chỉ huy trưởng cuối cùng của SOG là Đại tá Skip Sadler thừa nhận: “Chỉ có 40% các toán biệt kích hoạt động bên Lào lâu hơn 24 tiếng đồng hồ. Đối phương đã đợi sẵn và biết mình sẽ đến”. Người lính Mũ Nồi Xanh cuối cùng của Mỹ bỏ xác ở rừng xanh vào ngày 29/1/1971 trên đất Lào là Trung sĩ David Mixter.

Cùng năm 1971, Quân đội Sài Gòn tiến công sang lãnh thổ Lào, bằng cuộc hành quân Lam Sơn 719. Để yểm trợ cho cuộc hành quân này, SOG tổ chức nhiều cuộc hành quân giả để đánh lạc hướng Quân đội Bắc Việt. Tại khu vực phía tây căn cứ Khe Sanh, SOG thả dù hình nhân giả đem theo chất nổ, khi chạm đất sẽ nổ để nghi binh, làm như thả nhiều toán biệt kích xuống địa bàn đã định. Trong lúc cuộc hành quân Lam Sơn 719 đang triển khai, SOG thả biệt kích xuống thung lũng A Sầu, hy vọng sẽ trói được tay đối phương, vừa để thu thập tin tức tình báo chiến lược cho các đơn vị của Mỹ.

Từ ngày 1/1/1971 đến 31/3/1972, Kế hoạch 35 đã tổ chức 474 chuyến hành quân xâm nhập. Trong đó, lực lượng Mũ Nồi Xanh đã chỉ huy 278 chuyến xâm nhập, còn lại 196 chuyến do Nha Kỹ Thuật thuộc Bộ Tổng Tham mưu Sài Gòn đảm nhiệm. Mùa khô năm 1970-1971, những chuyến xâm nhập sang Lào và Campuchia ngày càng trở nên rất nguy hiểm. Trong các bản báo cáo của SOG cho thấy, trong tổng số các toán xâm nhập đã có 7 toán phải chiến đấu tìm đường tháo chạy.

Đại tá Roger Pezzelle, người đã chỉ huy triển khai Kế hoạch 35 kể lại: “Trong tháng 8/1971, chúng ta thả toán biệt kích Kansas vào khu vực phía nam khu phi quân sự. Chỉ trong vòng 10 phút, quân đội Bắc Việt kéo tới một trung đội, rồi đại đội, rồi cả tiểu đoàn (!)...” Pezzelle khẳng định thêm: “Quân đội Bắc Việt đưa quân rất đông vào Nam Việt Nam. Họ dùng xe chuyển quân, chở lương thực, đồ tiếp vận đến các đơn vị hành quân của họ trên chiến trường. Biệt kích báo cáo là đối phương có cả xe tăng ở Kontum, nhưng chẳng ai tin, cuối cùng phải chụp ảnh đem về”.

Biệt kích Làng Vây di tản đến Khe Sanh, sau khi căn cứ bị tràn ngập

Cuối năm 1971, Kế hoạch 35 thực hiện phi vụ cuối cùng. Theo bản báo cáo của SOG gửi Bộ Tư lệnh Quân đội Mỹ tại Việt Nam (MACV) cho biết trước cuộc tấn công Mùa hè đỏ lửa, mà Quân đội Bắc Việt gọi là “Chiến dịch Nguyễn Huệ”, mũi tiến công chính của Quân đội Bắc Việt sẽ vượt sông Bến Hải, đánh sang khu phi quân sự. SOG gọi đó là kiểu “đánh vào đầu”. Ngày 30/4/1972, Bộ Tư lệnh Lực lượng Thái Bình Dương ra lệnh cho SOG bàn giao tất cả cho Nha Kỹ Thuật, trực thuộc Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Sài Gòn, chấm dứt “huyền thoại về Đoàn Nghiên cứu, quan sát – SOG”.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM