Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 15 Tháng Tư, 2024, 01:12:22 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: 10 cô gái ngã ba Đồng Lộc  (Đọc 84219 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
crawling0805
Thành viên
*
Bài viết: 486


« Trả lời #80 vào lúc: 14 Tháng Tư, 2011, 10:28:34 pm »

Tôi phải tìm hiểu về từng người một, từng gia đình một… để có thể phác họa đôi nét chân dung đủ nười liệt sĩ khi còn sống; giúp cho mọi người sau này khi đến thăm mộ mười cô có thể hình dung ra vài nét cơ bản nhất về từng cô đang yên nghỉ dưới mồ.

Tôi mở ống kính máy ảnh ra, lấy góc độ và cự ly, chụp một số kiểu ảnh về khu mộ mười cô. Những tấm ảnh này sẽ ghi lại trung thực nhất nơi mười cô yên nghỉ lúc ban đầu. Tôi vẽ sơ đồ khu mộ rồi ghi tên từng cô vào từng ô một.

Năm cô người Đức Thọ, ba cô ở Can Lộc, một ở Hương Sơn, một ở Thạch Hà. Võ Thị Tần, Hồ Thị Cúc nhiều tuổi nhất, đều sinh năm 1944, bằng tuổi em gái tôi. Võ Thị Hà ít tuổi nhất – sinh năm 1951, bằng tuổi em trai út tôi. Các cô đã hy sinh – vì sự sống của con đường chiến lược qua Ngã Ba Đồng Lộc này – hơn một năm rồi. Còn các em tôi, ba đứa đang ở ba trường Đại học…

Giọt nước mắt trào ra ở khóe mắt tôi. Một nỗi hàm ơn sâu sắc pha lẫn sự kính trọng cao cả. Một niềm tiếc thương vô hạn xen lẫn sự xót xa khôn cùng. Tôi thầm hứa với các em đang yên nghỉ dưới mồ:

- Anh sẽ cố gắng hết sức mình, để ghi lại một phần nào tấm gương hy sinh anh dũng của các em, để lại cho đời sau. Các em khôn thiêng hãy phù hộ cho anh làm được việc này, để anh có dịp đền ơn các em, đền ơn các liệt sĩ đã hy sinh vì Tổ Quốc.

Ngay lúc đó, một cơn gió lang thang tình cờ bay qua khu mộ Mười cô. Gió rất thơm. Hương thơm của khói hương thoang thoảng đâu đây. Hương thơm của hoa chạc chìu man mác, xa xăm, dìu dịu, mơ hồ…
Bên cạnh khu mộ có hai tấm bia to. Một tấm bia ghi tóm tắt thành tích chung của “Đồng Lộc kiên cường bất khuất”, và một tấm bia dựng ngay bên bờ hố bom – nơi mười cô đã hy sinh – ghi tóm tắt tiểu sử mười cô.

Tôi chụp ảnh hai tấm bia đó, và ghi lại nội dung trên các tấm bia, để phòng xa sau này… Ai ngờ, sự phòng xa đó có ích. Năm 1972 giặc Mỹ ném bom trở lại Đồng Lộc, và các tấm bia không còn nữa. Bây giờ, tôi xin công bố nguyên văn:
                                                                    “ĐỒNG LỘC KIÊN CƯỜNG BẤT KHUẤT”

Ngã Ba Đồng Lộc là một điểm địch đánh phá tàn khốc nhất của giai đoạn ném bom hạn chế. Trong 4 năm chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ trên miền Bắc nước ta (1964 – 1968) chúng đã dội xuống đây 37000 quả bom các loại, gây một tội ác tầy trời đối với nhân dân ta.

Ngã Ba Đồng Lộc nơi giằng co hết sức ác liệt giữa ta với địch. Các lực lượng thanh niên xung phong, bộ đội, công an nhân dân, giao thông vận tải và toàn thể nhân dân địa phương đã kiên trì chiến đấu và chiến thắng oanh liệt, bảo đảm cho đường ta vẫn thông, xe ta vẫn chạy…

Ngã Ba Đồng Lộc nơi xuất hiện nhiều tấm gương sáng: Tiểu đội Võ Thị Tần (mười cô gái thanh niên xung phong)

Tổ máy húc: Uông Xuân Lý, tiểu đội quan sát La Thị Tám với biết bao nhiêu hình ảnh kiên cường bất khuất đã ghi tại đây những trang sử vàng sáng chói của dân tộc Việt Nam anh hùng.

                                                                                                                   Ngày 31 – 9 – 1969
                                                                                                                   Ty văn hóa Hà Tĩnh

“16 giờ 40 phút ngày 24.7.1968 mười cô gái thanh niên xung phong thuộc tổng đội 55 P18 đã hy sinh anh dũng trên mảnh đất này trong lúc đào công sự chuẩn bị cho đồng đội chiến đấu.

1 – Võ Thị Tần                   22 tuổi – Đảng viên – quê ở xã Thiên Lộc. Ba năm liền chiến sĩ thi đua.
2 – Hồ Thị Cúc                   21 tuổi – Đảng viên – quê ở xã Sơn Bằng. Ba năm liền lao động tiến tiến.
3 – Võ Thị Hợi                    20 tuổi – Đoàn viên – quê ở xã Thiên Lộc. Ba năm liền lao động tiến tiến.
4 – Nguyễn Thị Xuân           20 tuổi – Đoàn viên – quê ở xã Vĩnh Lộc. Ba năm liền lao động tiến tiến.
5 – Dương Thị Xuân            19 tuổi – Đoàn viên – quê ở xã Đức Tân. Lao động xuất sắc.
6 – Trần Thị Rạng               19 tuổi – quê ở xã Đức Vĩnh. Lao động xuất sắc.
7 – Hồ Thị Xanh                 18 tuổi – Đoàn viên – quê ở xã Đức Hòa. Lao động xuất sắc.
8 – Nguyễn Thị Nhỏ            19 tuổi – Đoàn viên – Quê ở xã Đức Long.”
Tấm bia này chỉ mới ghi dở dang đến người thứ 8 là Nguyễn Thị Nhỏ - còn Trần Thị Hường và Võ Thị Hà chưa kịp ghi vào đây – tuổi các cô chưa thật chính xác – Sau này tôi mới được biết: Hà Thị Xanh không phải họ Hồ, Nguyễn Thị Nhỏ quê ở Đức Lạng, chứ không phải Đức Long như bia đã ghi…
Đó là toàn bộ tư liệu chính thức, ban đầu về mười cô gái Ngã Ba Đồng Lộc mà tôi có trong tay…
Logged
crawling0805
Thành viên
*
Bài viết: 486


« Trả lời #81 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2011, 05:28:57 pm »

Chuông đồng hồ báo thức reo vang cùng một lúc với chuông điện thoại gọi đúng giờ… Tôi nhỏm dậy ngay, vì có ngủ được chút nào đâu. Trời đã sáng rồi!
Tôi sách chiếc cặp da to và túi quà ra cổng. Chú xe ôm hẹn từ chiều hôm qua đã có mặt, chờ tôi…

                                                                                                          *
                                                                                                     *        *
Đúng bảy giờ sáng thứ hai 13 tháng 10 năm 2003, tôi có mặt tại điểm hẹn của Đoàn đi Hà Tĩnh. Đó là cổng Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam ở 36 Lý Thường Kiệt, Hà Nội.
Chiếc xe du lịch 12 chỗ ngồi màu sữa ngà của Nhà xuất bản Phụ nữ đã chờ sẵn.
Xe chuyển bánh lúc 7 giờ 15 phút, đi thẳng ra đường Lê Duẩn, vào Hà Tĩnh.

Thu Hà cho biết đã liên hệ với các chị ở Tỉnh Hội Phụ nữ tỉnh Hà Tĩnh từ trước, mọi việc đã sẵn sàng. Còn tôi, đã viết thư cho anh Nguyễn Thế Linh – C trưởng C552 – về chuyến đi này; đồng thời cũng có thư cho văn phòng Tỉnh Đoàn Hà Tĩnh nhờ tìm hộ o Đức ở Thanh niên xung phong C552 trước đây. Tìm được o Đức, tôi sẽ đến được nhà liệt sỹ Trần Thị Hường, ngay trong buổi tối hôm nay…

Tôi thấy lòng mình thanh thản và vui sướng khi được đi trên chiếc “xe tình nghĩa” này. “Tình nghĩa” là bởi vì đối với một cộng tác viên đã lâu năm lắm rồi, không viết gì nữa cho Nhà xuất bản, nhưng vẫn được mời đi thực tế tiếp, để chuẩn bị tái bản cho một cuốn sách cũ đã in gần ba chục năm trời. trong thời gian chuẩn bị cho chuyến đi này, thấy tôi băn khoăn về việc tốn kém quá, cô Quỳnh Giao – Giám đốc Nhà xuất bản Phụ nữ - đã nói:

- Anh yên tâm. Việc này… không thể tính bằng tiền được. Vì mười liệt sĩ ở Ngã Ba Đồng Lộc, chúng ta sẵn sàng làm mọi việc cần thiết. Vả lại, anh cũng cao tuổi rồi, đi một mình sao được?

Tôi im lặng, xúc động vì tình nghĩa của Nhà xuất bản đối với Mười Cô và đối với riêng tôi…
Cả đêm tôi không ngủ được, nhưng vẫn không thấy mỏi mệt chút nào. Xe tốt, đường tốt, đi êm như ru… Tôi định tranh thủ chợp mắt một chút để lấy sức làm việc trong mấy ngày tới. Nhưng, tôi không tài nào ngủ được nữa. Những kỷ niệm hơn ba mươi năm về trước đã ùa về trong tâm trí đêm hôm qua, lại tiếp tục…

                                                                                                         *
                                                                                                    *       *
Sau buổi làm việc đầu tiên với Đại đội trưởng C552 Nguyễn Thế Linh - ở chính quê hương anh, xóm Mai Long, xã Xuân Lộc – tôi được làm quen với đồng đội của mười liệt sĩ.

Trước hết, tôi tìm gặp những người có mặt tại nơi và trong lúc các cô hy sinh để nhớ và ghi chép thật đầy đủ, chi tiết, trung thực sự kiện đau thương này. Phần lớn là các cô ở A8 và A5 – C552.

Mỗi người một ý, một chi tiết, gợi mở cho nhau, liên kết với nhau để dựng lại giờ phút làm nên lịch sử của Mười Cô. Những giọt nước mắt lặng lẽ trào ra trên khóe mắt của người kể và những người nghe. Những khoảnh khắc lặng yên, ngắt quãng của sự kìm nén tiếng nức nở tự trong lòng người kể - phần lớn là các cô mới ngoài hai mươi tuổi…

Cứ thế, từ cái chết của Mười Cô, tôi mở rộng dần ra các mối quan hệ và thân phận của Mười Cô. Ai thân với liệt sĩ nào kể về Liệt sĩ ấy; càng chi tiết, càng riêng tư càng tốt. Dương Minh Châu ở A5 – cùng quê và rất thân với Nguyễn Thị Xuân ở Vĩnh Lộc – kể cho tôi nghe mối tình đầy sóng gió, bi thảm của “Xuân Vĩnh Lộc” và anh công binh phá bom Dương Thanh Vĩnh ở Thạch Hà. Chỉ riêng mối tình này, có thể viết thành tiểu thuyết hay và dài, nhưng tôi chỉ viết điểm xuyết trong tập ký này vài nét chấm phá đơn sơ…
Logged
crawling0805
Thành viên
*
Bài viết: 486


« Trả lời #82 vào lúc: 17 Tháng Tư, 2011, 09:05:17 pm »

Tiểu đội của Võ Thị Tần có mười sáu người. Ngoài mười cô hy sinh một lúc ở Ngã Ba Đồng Lộc, còn lại sáu người. Đó là Lê Thị Lan, Trần Thị Nhị và Nguyễn Thị Hường ngày hôm đó đi lĩnh dụng cụ cho đại đội ở Nga Lộc. Nguyễn Thị Xuân (Đức Hồng) và Bùi Thị Tịnh làm việc ở nhà ăn. Lê Thị Hồng đi làm nắp hầm ở Quảng Bình đang trên đường về Đồng Lộc… Tôi tranh thủ gặp những người còn lại để hỏi chuyện về những người đã hy sinh. Phần lớn các cô chỉ nhớ những nét khái quát về tính cách, sinh hoạt của bạn mình. Những chuyện vui với nhau thì nhớ lâu. Còn về cuộc đời và thận phận của từng người đã hy sinh thì mờ mịt, hoặc chưa rõ ràng, còn nhiều ẩn số… Muốn biết tường tận từng người, phải đến từng gia đình liệt sỹ để thăm hỏi, tìm hiểu. Nhưng tôi không có điều kiện và thời gian…

Trước hết, tôi không phải là nhà báo, nhà văn chuyên nghiệp được phân công viết về Mười Cô. Tôi chỉ là một người thợ Lò Cao đi viết nghiệp dư tự chọn lấy đề tài này. Quỹ thời gian rất hạn hẹp.

Ngày giã từ Ngã Ba Đồng Lộc lần thứ nhất đã đến. Tôi bùi ngùi chia tay các bạn thanh niên xung phong A4, A5 và A8 của C552 như chia tay với những người thân. Một mình ra nghĩa trang Mười Cô để thắp hương tạm biệt. Trước những nấm mồ bình dị và yên lặng của Mười Cô, tôi cảm thấy mình bất lực, kém cỏi và có lỗi vô cùng… Hoàng hôn tím nhạt mờ sương khói. Yên lặng đến tận cùng. Cô đơn đến tột cùng. Nước mắt lưng tròng, tôi bước chân đi…

                                                                                                      *
                                                                                                 *        *

Về đến Hà Nội, tồi trình bày ngay với cha tôi toàn bộ chuyến đi Hà Tĩnh lần này. Đề tài thì rộng lớn, nhưng lực bất tòng tâm…
Ông nhìn như xoáy vào mắt tôi, rồi nói:

- Con muốn trồng cây ăn quả, hay trồng cây rau ngắn ngày? Không bao giờ được phép ăn xổi ở thì với những người đã hy sinh cả cuộc đời cho Tổ Quốc. Đây là món nợ thiêng liêng mà con phải trả cho các cô Đồng Lộc. Bố hạn cho con… trong vòng mười năm phải xong!

Tôi lẳng lặng lên đường về Khu Gang thép Thái Nguyên.
Thế là từ ngày hôm ấy, tôi bắt đầu rà soát lại tất cả những tư liệu mà mình có về Mười Cô Đồng Lộc. Và cay đắng nhận ra rằng mình chưa có được bao nhiêu! Ngoài giờ làm việc và những bổn phận phải làm khác, tôi tìm gặp những người Hà Tĩnh có mặt ở Khu gang thép lúc đó, để làm quen, tìm hiểu phong tục tập quán của từng vùng. Tôi chú ý nhất đến những người quê ở Can Lộc, Đức Thọ. Hương Sơn, Thạch Hà… Tôi tìm đọc tất cả những trang viết về Hà Tĩnh thời đó có ở Thư viện Gang thép, thư viện thành phố Thái Nguyên. Càng đọc, càng thất vọng, càng thấy mình còn ít vốn sống quá!

Tôi định bỏ cuộc. Về lý, không ai chê trách được tôi. Nhưng về tình… ? Tôi còn phải trở lại Đồng Lộc, còn phải thường xuyên gặp mặt cha tôi ở Hà Nội… Tấm lòng tôi không cho phép!
Thế là, từ năm ấy – 1970 – tôi để dành những ngày phép năm ít ỏi cho những chuyến đi Hà Tĩnh, tìm hiểu thêm tình hình và gia cảnh Mười Cô. Những chuyến đi không chính thức hồi đó, chỉ mình tôi biết mục đích, và một mình thực hiện.

Đến gia đình nào, tôi cũng tự giới thiệu mình là đồng đội cũ của con em gia đình, nhân có việc đi qua tranh thủ rẽ vào thăm. Tôi không dám nói sự thật (là tìm hiểu gia cảnh để viết về Mười Cô), vì lý do không viết được thì có tội với gia đình liệt sỹ biết chừng nào! Cứ thế, tôi lắng nghe, gợi hỏi và quan sát; ghi nhớ vào lòng, không được phép ghi chép vào sổ tay như thường lệ nữa!

Gia đình nào cùng muốn tôi ở lại để ăn cơm, nhưng tôi đều từ chối, vì còn phải đi gấp mấy nơi nữa. Sau đó, tôi ra quán đầu làng, ăn tạm củ khoai, củ sắn, rồi ghi vội những số liệu, chi tiết, tên người vào sổ tay, kẻo quên mất…


Logged
crawling0805
Thành viên
*
Bài viết: 486


« Trả lời #83 vào lúc: 18 Tháng Tư, 2011, 10:04:59 pm »

Cứ thế, năm này qua năm khác, tôi như con ong hút mật cần cù, lặng lẽ, nên gom góp được một số tư liệu về Mười Cô Đồng Lộc. Tôi quyết định viết bản thảo lần thứ nhất vào cuối năm 1973. Tôi chọn đường dây chính là mối tình của Xuân Vĩnh Lộc và anh công binh Dương Thanh Vĩnh quê ở Thạch Hà. Các cô liệt lĩ khác chỉ làm nền cho hai nhân vật này. Viết trong ba tháng xong. Tôi hí hửng mang gần một trăm trang bản thảo về Hà Nội để cha tôi đọc và đánh máy dùm. Ông đọc một đêm xong, gọi tôi lên, bảo:

- Con viết như này là chưa được, chưa công bằng! Bao nhiêu đơn vị, bao nhiêu con người dũng cảm mới làm nên Ngã Ba Đồng Lộc anh hùng. Thế mà chỉ có một cặp tình nhân là nổi bật lên! Con phải viết lại từ đầu. Làm sao toát ra được: đó là những cô gái bình thường, nhưng là một tập thể kiên cường, bất khuất. Hy sinh, nhưng lại trở thành bất tử!...

Tôi công nhận là cha tôi nói rất đúng, nhưng sức mình có hạn. Vả lại, tôi cũng muốn nhanh chóng được in một cái gì đó, để bạn bè biết rằng mình đã “tốt nghiệp” Lớp viết văn trẻ - khóa 3 của Hội Nhà văn. Cha tôi cười độ lượng.

- Con nghĩ thế, cũng được; nhưng như vậy chỉ là vì mình. Con hãy nghĩ vì những tấm gương hy sinh của Mười Cô Đồng Lộc mà làm việc!

Thế là tôi lại lủi thủi ôm tập bản thảo không thành về khu Gang Thép Thái Nguyên.
Tôi bố cục lại, sắp xếp lại các nhân vật của mình trong tập truyện ký này; và nhận ngay ra rằng mình còn thiếu nhiều mảng vốn sống quá. Lại phải đi tiếp thôi!

Kỳ nghỉ phép năm 1974 tôi để dành cho việc tìm hiểu các đơn vị hợp thành tác chiến ở Ngã Ba Đồng Lộc vào mùa hè năm 1968. Hồi ấy, chưa giải phóng miền Nam, nhiều chuyện còn phải giữ bí mật. Những người trong cuộc hồi 1968 đang ở chiến trường B. Những người mới đến lại không biết, hoặc không muốn nói cho một anh viết văn nghiệp dư “vô danh, tiểu tốt” như tôi.

“Danh không chính, ngôn không thuận”. Với một chút tư liệu có thêm không đáng kể , tôi lầm lũi về Khu gang thép Thái Nguyên như một kẻ chiến bại.

Đúng vào thời điểm ấy, nhiều sóng gió đến với cuộc đời tôi. Năm 1972, Mỹ ném bom trở lại miền Bắc. Mẹ các cháu sinh thêm con gái. Mấy mẹ con được chuyển vùng về Hà Nội. Một mình tôi ở lại khu Gang Thép Thái Nguyên trong căn nhà lá đơn sơ – mới chuyển từ Gia Sàng về xóm Bình Dân ở chân đồi xưởng Gang – để lấy chỗ cho Nhà máy Luyện Cán Thép Gia Sàng đang xây dựng. Tôi cố thu xếp thời gian để viết bản thảo lần thứ nhất về Đồng Lộc – năm 1973 – nhưng coi như thất bại. Đợt đi lấy tài liệu bổ sung năm 1974 cũng không thành công. Đã thế, sau chuyến đi này tôi được tuyển lên nhà máy Luyện Cán Thép Gia Sàng để học nghề Luyện thép Lò Thổi đỉnh. Tôi không làm việc ở Đài truyền thanh Gang thép nữa. Cơ hội và điều kiện làm văn nghệ coi như chấm dứt.
Logged
crawling0805
Thành viên
*
Bài viết: 486


« Trả lời #84 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2011, 09:52:19 pm »

Tôi tập trung vào việc học kỹ thuật Luyện thép, quy trình, quy phạm kỹ thuật điều khiển lò thổi đỉnh… sao cho bằng các bạn được cử đi học tại Cộng Hòa Dân Chủ Đức, không còn thời gian nghĩ đến việc viết tiếp về Mười Cô Đồng Lộc nữa.

Trong không khí cả nhà máy mới đang chuẩn bị đi vào sản xuất, tôi nhận được thư của chị Nguyễn Thị Hồng – cán bộ biên tập ở Nhà xuất bản Phụ nữ. Chị mong tôi về Hà Nội để bàn về việc sửa lại tập truyện vừa Gương xanh đã xếp hàng ở Nhà xuất bản từ cuối năm 1969, bây giờ mới được để mắt tới.

Tôi lưỡng lự mất mấy ngày, rồi cũng về Hà Nội. Chị Hồng nói với tôi: “Anh nên sửa cái kết thúc để nhân vật chính không chết. Chết thì buồn quá! Nếu sửa được thì Gương xanh sẽ in trong năm 1975”. Tôi đồng ý sửa, để cho người yêu của o Thanh chết thay thôi. Quả nhiên, sau ngày giải phóng miền Nam – cũng là ngày khánh thành Nhà máy Luyện cán Thép Gia Sàng – Gương xanh được xuất bản lần thứ nhất tại Hà Nội. Tên tác giả theo tên khai sinh, như ý muốn của cha tôi. Tên là Đồng Tâm bị bãi bỏ. Coi như tôi phải làm lại từ đầu.

Năm 1975, sau ngày giải phóng miền Nam, xưởng Luyện Thép Gia Sàng như bước vào những ngày lễ hội. Tôi sung sướng được làm việc với các chuyên gia Cộng Hòa Dân Chủ Đức trong buồng điều khiển lò thồi đỉnh. Sau nhiều năm đứng trước ánh lửa lò cao, sau nhiều năm bom đạn, bây giờ tôi mới được luyện thép. Đứng trước ánh lửa từ lò luyện thép – do mình điều khiển – tôi thật sự hạnh phúc.

Tôi làm việc hết mình, nhiệt tình và say mê công việc mới đến nỗi không dứt ra được để viết vào lúc nào. Các chuyên gia bạn yêu quý tôi về tính chính xác và sự cẩn trọng trong công việc. Lãnh đạo nhà máy đưa tôi lên làm Thư ký công đoàn phân xưởng thép – Đó là chức danh lớn nhất trong cả cuộc đời tôi!

Vào thời điểm ấy, đồng chí Đỗ Phú Hoan – tổng biên tập tạp chí Quản lý lao động của Bộ Lao Động lên thăm nhà máy. Ông xem ra thép và thấy tôi trong buồng điều khiển lò thổi đỉnh. Chẳng hiều vì sao, anh lại hỏi anh Tô Tôn Quyền – lúc đó là xưởng trưởng xưởng luyện thép về tôi. Ông đợi ra thép xong, tôi nghỉ tay, mới gặp và nói:

- Tôi biết anh là một người thợ lò thép giỏi, có văn hóa, viết văn được. Anh có muốn về Hà Nội, làm phóng viên của báo tôi không?

Thấy tôi ngần ngại, ông nói tiếp:

- Chúng tôi muốn tăng cường đội ngũ công nhân như anh, trong lực lượng phóng viên của chúng tôi. Nếu anh đồng ý, chúng tôi sẽ làm việc với lãnh đạo Gang Thép. Anh không phải làm đơn xin đi đâu.

Tôi cười, khiêm tốn trả lời;

- Rất cám ơn sự quan tâm và nhã ý của anh. Nhưng việc tôi đi hay không, lại là do tổ chức quyết định. Hơn nữa, tôi chưa học nghề làm báo bao giờ…

Ông Hoan về Hà Nội. Tôi vẫn ngày ngày ra lò luyện thép làm việc, coi như câu chuyện thoáng qua, không bận tâm đến nữa. Nhưng, chỉ nửa tháng sau, anh Phạm Quang Thùy – trưởng phòng Lao động tiền lương của Công ty Gang thép Thái Nguyên – xuống Nhà máy Luyện Cán Thép Gia Sàng làm việc với lãnh đạo nhà máy, sau đó gặp tôi, anh nói:

- Lãnh đạo công ty và nhà máy đồng ý cho Đồng Tâm về Hà Nội làm báo, nhưng phải đào tạo người thay thế ngay. Càng sớm, càng tốt.

Bước ngoặt lớn nhất của cuộc đời tôi đã đến một cách đột ngột và lạ lùng, như thế. Tôi tức tốc về Hà Nội xin ý kiến cha tôi. Ông lặng đi rất lâu, rồi thận trọng nói:

- Thời hạn cho con mười năm để viết về Mười Cô sắp hết rồi. Con phải cố lên… Đây là thời cơ được ăn cả, ngã về không. Con phải hết mình…

Tôi trở về Thái Nguyên với quyết tâm đào tạo người thay thế mình thật tốt, thật nhanh chóng, để còn có thời gian làm việc trả nợ Mười Cô.

Tháng 3 năm 1976, đào tạo được người thay thế điều khiển lò thổi đỉnh, tôi tranh thủ vế Hà Nội làm giấy giới thiệu là cộng tác viên của Nhà xuất bản Phụ Nữ, đi Hà Tĩnh lấy tư liệu về Mười Cô ở Đồng Lộc để viết tiếp. 
Logged
crawling0805
Thành viên
*
Bài viết: 486


« Trả lời #85 vào lúc: 21 Tháng Tư, 2011, 10:53:48 pm »

Lần này, danh chính, ngôn thuận nên có nhiều thuận lợi hơn. Hà Tĩnh sát nhập với tỉnh Nghệ An thành tỉnh Nghệ Tĩnh. Tôi vào Vinh tìm gặp lãnh đạo tỉnh mới. May sao, Phó chủ tịch tỉnh Nghệ Tĩnh lúc đó lại là anh Trần Quang Đạt, tôi đã từng gặp gỡ và làm việc ở Hà Tĩnh hơn tám năm về trước. Anh còn nhớ tôi, nên nhiệt tình giúp đỡ các tư liệu về hồi tháng 7 năm 1968 ở góc độ người lãnh đạo bảo đảm giao thông trong chiến tranh ở Hà Tĩnh. Những tư liệu trước đây tôi không thể nào có được. Sau đó, anh viết giấy giới thiệu cho tôi xuống các địa phương mà tôi cần đến.

Giấy giới thiệu do chính anh Đạt viết và ký tên, đã giúp tôi vượt qua mọi thủ tục rườm rà; để nhanh chóng đến với các gia đình liệt sỹ. Đến gia đình nào, tôi cũng xin lỗi về việc trước đây đã không thể nói thật dự định của mình – vì sợ việc không thành – xin các gia đình lượng thứ. Gia đình nào cũng châm chước bỏ qua, và còn nói:

- Cái tâm của anh từ Hà Nội vào thăm gia đình chúng tôi là quý lắm rồi. Khôn ngoan chẳng lọ thật thà. Giá anh cứ nói thật dự định của anh từ hồi ấy, có phải chúng tôi đã cung cấp đầy đủ hơn các sự việc anh cần biết rồi không?

Có cô em của một liệt sỹ còn thẹn thùng nói”

- Thấy anh nói tiếng Bắc, bọn em cứ đoán già đoán non: “Biết đâu anh ấy yêu chị mình từ trước lúc hy sinh, nên bây giờ về thăm gia đình”... và cứ tiếc cho chị mãi...

Cả nhà cười ầm lên. Ngay sau đó, tôi như người trong nhà, hỏi chuyện thoải mái, ghi chép thật tỉ mỉ, đàng hoàng; không còn cấn cái như trước nữa.

Chuyến đi vào Hà Tĩnh lần này tôi cũng mang theo máy ảnh để chụp cho các gia đình liệt sỹ làm kỷ niệm. Gia đình liệt sỹ Hồ  Thị Cúc ở Sơn Bằng – Hương Sơn – tôi chụp nhiều nhất. Một phần vì thương cô Cúc – hoàn cảnh éo le nhất trong Mười Cô đã hy sinh. Một phần vì nhiều người đã không hiểu hết cảnh đời cô, nên đã chưa viết thật đúng về cô.


Ngày cuối cùng trước khi rời Hà Tĩnh về Hà Nội, tôi đến thăm mộ Mười Cô  an táng tại nghĩa trang  Liệt sỹ xã Thiên Lộc – Can Lộc - Những ngôi mộ được xây bằng đá xám, xếp hàng bên nhau, trên nền đất cao hơn một chút  so với các mộ liệt sỹ khác. Lần lượt thắp hương cho từng ngôi mộ một, tôi đọc từng dòng chữ khắc trên mộ chí, và thân phận của từng người lần lượt hiện ra trong trái tim tôi. Các cô không còn xa lạ như lần đầu tiên  tôi đến thăm khu mộ Mười Cô ở chân đôi Trọ Voi - gần Ngã Ba Đồng Lộc - cuối năm 1969. Mười Cô như đang đứng xếp hàng ngay ngắn trước mặt tôi. đang mỉm cười khích lệ tôi, và chờ đợi kết quả tốt lành mà mọi người mong muốn...

Tháng 9 năm 1976 tôi rời Khu Gang thép Thái nguyên về làm phóng viên tập san Quản lý lao động ở Hà Nội.

                                                                                                          *
                                                                                                      *       *

Tôi cất tiếng khóc trào đời vào lúc nửa đêm thứ năm ngày 8 tháng 12 năm 1938 tại nhà A5 Bệnh viện Bạch Mai Hà Nội. Cô đỡ người Pháp sau đó nói ngay với cha tôi: “Thằng bé này khóc to và thảm thiết lắm”. Cha tôi sợ tái người đi, và không dám khai sinh ngay cho tôi. Tròn bốn năm và năm ngày sau đó, mẹ tôi đột ngột từ trần,  khi mới vừa 28 tuổi. Trước giỗ đầu mẹ tôi một ngày, em trai tôi cũng ra đi…

Tôi lớn lên trong sự yêu thương, đùm bọc của cha và mẹ già – một người mẹ phúc hậu và hiền lành nhất mực. Tôi học hành các cấp phổ thông ở Hà Nội. Không đường ngang ngõ tắt nào ở Hà Nội mà tôi không biết đến… Tháng 10 năm 1959, tốt nghiệp lớp 10 xong, tôi tình nguyện vào Nông trường Đồng Giao – Ninh Bình, làm công nhân đo đạc. Tháng 8 năm 1960 tôi về Khu Gang thép Thái Nguyên làm thợ xây dựng, thợ lò cao, rồi làm thợ luyện thép ở đó; Cho đến khi về Hà Nội làm báo vào tháng 9 năm 1976, vừa tròn 17 năm…
Logged
crawling0805
Thành viên
*
Bài viết: 486


« Trả lời #86 vào lúc: 22 Tháng Tư, 2011, 09:40:15 pm »

Tôi tranh thủ mọi thời gian có được để viết truyện ký về Mười Cô Đồng Lộc. Hồi ấy, hầu như ai cũng nghèo. Tôi phải xin Vũ Duy thông các bản tin của Việt Nam thông tấn xã đã quá hạn để viết bản thảo vào mặt sau. Viết được trang nào, cha tôi đánh máy cho trang ấy. Cuối năm 1977 tôi viết xong bản thảo Đài Hoa Tím. Vũ Duy Thông đưa tôi lên Việt Trì để thăm họa sĩ – nhà thơ Hoàng Hữu, và nhờ vẽ hộ bìa sách. Khi đó, Hoàng Hữu vừa qua một trận mổ tim, tôi rất thương, không dám nhờ nữa. Nhưng Hoàng Hữu bảo: “Thích nhất là được vẽ bìa sách cho bạn bè. Mình sẽ làm cho Tân”.

Hoàng Hữu bảo tôi tóm tắt nội dung truyện ký, rồi nói: “Cấu tứ thì lâu. Còn vẽ thì nhanh thôi. Khi nào xong, mình sẽ mang về cho Tân”.
Chúng tôi về Hà Nội với tâm trạng đầy phấp phỏng, lo cho sức khỏe của Hoàng Hữu hơn là việc nghĩ đến cái bìa sách sẽ ra sao…

Tôi trân trọng mang bản thảo Đài hoa tím đến Nhà xuất bản Phụ nữ, giao cho chị Nguyễn Thị Hồng. Một tuần sau, Hồng đề nghị với tôi:

- Gần mười năm nay, ai cũng nghĩ là Mười Cô đều chưa chồng. Nay anh viết rất rõ là cô Cúc từng có chồng rồi… Liệu khi sách in ra, có ảnh hưởng gì không?

Tôi nói ngay:

- Trước hết, đó là sự thật, không thể thay đổi được. Không nên thi vị hóa cái chết của Mười Cô mà nói sai sự thật đi. Vả lại, người từng có chồng, cái chết còn đau đớn hơn các cô chưa có chồng. Sao lại phải né tránh sự thật này? Nếu đây là tiểu thuyết, tôi sẵn sàng thay đổi ngay. Nhưng, đây là truyện ký về một đơn vị anh hùng…

Cuối cùng, Hồng cũng đồng ý với tôi cứ để nguyên sự thật này trong Đài hoa tím.
Đúng vào lúc sắp sửa đưa bản thảo vào nhà in, đích thân Hoàng Hữu mặt bạc đi, cười đôn hậu, mang bìa sách xuống. Bìa đẹp, chuyển tải được nội dung và giản dị. Nhà xuất bản và tác giả đều tâm đắc. Vũ Duy Thông còn nói đùa: “Khéo không bìa lại đẹp hơn sách đấy!”. Mọi người đều cười vui, nhưng riêng tôi vẫn thấy còn áy náy… Hạn mười năm đã hết rồi. Thôi, đành vậy! Tôi cám ơn Hoàng Hữu, rồi chia tay anh. Đâu có biết đó là lần cuối cùng gặp nhau!

Đài hoa tím in xong vào đầu tháng 10 năm 1978, để chào mừng Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ 5. Sách in đẹp, với số lượng 11.200 cuốn. Nhà xuất bản Phụ nữ có lời giới thiệu trân trọng ở hai trang đầu truyện ký, làm tôi xúc động. Tôi mang tập sách in đầu tiên nhận được về tặng cha tôi. Ông ứa nước mắt, tay hơi run run khi cầm cuốn sách mỏng manh của tôi, nói:

- Giá như mẹ con còn sống… Cứ để đây cho bố đọc. Bằng cách nào con cũng phải mang vào biếu mỗi gia đình liệt sỹ một cuốn sách này, để cảm ơn họ. Nhờ có các gia đình liệt sỹ giúp đỡ tận tình nên con mới viết được thế này...

Trong một chuyến đi công tác vào Vinh, tôi mang theo hơn mười cuốn sách mới in xong, để làm quà tặng. Thời gian làm báo rất hạn hẹp, nên tôi chỉ kịp tặng anh Trần Quang Đạt và nhờ anh cho người chuyển hộ mười cuốn tới các gia đình liệt sỹ ở Hà Tĩnh. Anh Đạt vui vẻ nhận lời. Tôi tin là sách sẽ đến đúng các địa chỉ đã ghi, yên tâm về Hà Nội….

Năm, tháng qua đi… Chiến tranh biên giới 1979, tôi lên Cao Bằng, làm phóng viên mặt trận, rồi không làm báo nữa, chuyển về Nhà Văn hóa Trung ương thuộc Bộ Văn Hóa. Tôi vừa làm việc, vừa học tại chức chuyên ngành Văn ở trường Đại học Tổng Hợp. Năm 1981 cha tôi từ trần. 1983 mẹ già tôi cũng ra đi. 1985 bảo vệ luận văn tốt nghiệp đại học. 1990 nghỉ hưu và ly hôn. 1991 lập gia đình mới, làm lại từ đầu… 1997 sinh con gái út. 2000 chuyển nhà lần thứ tư về phố Quán Thánh – nơi ở hiện nay, không biết có phải là lần cuối cùng không!

Bằng chừng ấy sự kiện đã đến với cuộc đời tôi, sau hơn hai mươi năm Đài hoa tím ra đời, tôi không còn điều kiện và thời gian để đi thăm Hà Tĩnh nữa. Không một chữ, không một lời nào – dù là chê bai – đáp lại từ phía Hà Tĩnh về cuốn sách của tôi. Cũng có thể vì tôi không ghi địa chỉ ở trong sách! Cũng có thể vì tôi thay đổi địa chỉ quá nhiều lần… Cũng có thể vì sách của tôi không có giá trị gì, nên mọi người cho qua, không cần nhắc tới nữa? Tôi buồn lắm, mặc dầu lương tâm tôi thanh thản, vì đã cố gắng hết mình, phần nào đã trả nợ được Mười Cô.

Mỗi lần đọc báo, nghe đài, xem tivi thấy có tin gì về Hà Tĩnh – nhất là về Ngã Ba Đồng Lộc – tôi vẫn quan tâm như trước, coi như chuyện buồn, vui của quê hương mình. Nhưng, riêng tôi vẫn có mặc cảm của một người con bị làng xóm bỏ rơi…


Logged
crawling0805
Thành viên
*
Bài viết: 486


« Trả lời #87 vào lúc: 25 Tháng Tư, 2011, 09:37:38 pm »

Xe dừng lại rất đột ngột.
Tôi mở choàng mắt, và hiểu ngay: Xe mình bị bắn tốc độ. Lúc ấy là 15 giờ 10 phút, tại thị trấn Hồng Lĩnh, bắc Hà Tĩnh.

Hai cảnh sát giao thông tiến lại gần xe, chào anh Đễ rồi làm thủ tục xem giấy tờ xe. Trong lúc Đễ làm việc với cảnh sát, tôi thầm nghĩ: “ chuyến đi này là vì Mười Cô Đồng Lộc. Chẳng nhẽ mới vào đến đây đã bị rắc rối thế này sao!”.
Đễ quay lại nói với Thu Hà:

- Các anh ấy bảo phải nộp phạt, bấm một lỗ vào bằng lái xe, rồi xe mới được đi! Nếu không, xe sẽ bị giữ lại… Chờ giải quyết.

Thu Hà rất bình tĩnh, cầm một số giấy tờ đến chỗ hai anh cảnh sát giao thông, nhẹ nhàng nói:

- Chúng tôi ở Nhà xuất bản Phụ nữ, vào đây để làm cuốn sách về Mười Cô gái Ngã Ba Đồng Lộc. Chiều nay phải làm việc với lãnh đạo Tỉnh, nên có hơi vội. Mong anh thông cảm.

- Thôi, các anh, chị đi đi, kẻo muộn. Anh lái xe nhớ rút kinh nghiệm nhé – Anh cảnh sát nói, sau khi đã xem một số giấy tờ Thu Hà đưa ra.

Đường quốc lộ 1A vô cùng đẹp đẽ, bằng phẳng, rộng rãi. Hai bên là rừng cây xanh thẫm, hoặc ruộng đồng xanh tốt. Chiếc cầu nào cũng đẹp, cũng vững bền. Không còn dấu tích chiến tranh phá hoại ngày xưa. Tôi nhìn ngắm say sưa và cảm động, như đứa con xa nhà hơn hai mươi năm, nay mới được trở về quê hương mình. Tôi thầm cảm ơn Mười Cô đã kịp thời “giải vây” cho chúng tôi đúng lúc. Chắc cái tâm của chúng tôi đã động đến Mười Cô…

16 giờ chúng tôi đến thị xã Hà Tĩnh.
Tôi ngỡ ngàng trước quang cảnh thị xã đẹp đẽ và hiện đại. Những con đường rộng rãi, văn minh.
Đoàn chúng tôi đến Tỉnh Hội Phụ nữ trước.

Không có thông tin về cô Đức vì Văn phòng Tỉnh Đoàn chưa nhận được thư tôi gửi vào, tôi rất buồn, hụt hẫng đến lạ. Chính Đức đưa cho tôi hai tấm ảnh nhỏ, chụp một số liệt sỹ khi còn sống ngày mới vào Thanh niên xung phong. Tôi cho làm lại ảnh bằng kỹ thuật số, phóng to ra để dễ dàng nhận diện từng người. Bây giờ, không gặp Đức, ai là người nhận diện các liệt sỹ cho tôi? Ai là người đưa tôi đến gia đình liệt sỹ Trần Thị Hường? Tôi cũng muốn biết chuyện chồng con của Đức bây giờ ra sao… Nhưng, chịu rồi! Trong bữa tiệc tiếp đoàn chúng tôi lúc 18 giờ, chị Liên ở Tỉnh Hội Phụ nữ cho biết: Gia đình liệt sỹ Trần Thị Hường vào ở Huế hơn mười năm nay. Còn cô Đức, chính chị Huệ ở C555 cũ cũng không biết Đức đang ở nơi nào!

21 giờ, tôi gọi điện cho Linh va hẹn sáng mai gặp nhau ở Đồng Lộc.
Ngoài trời đang mưa… Ngày mai có tạnh không?

                                                                                                             *
                                                                                                      *           *
Đã lâu lắm rồi tôi mới được ngủ một đêm tại thị xã Hà Tĩnh. Lần này nệm ấm giường êm, lại có cả điều hòa nhiệt độ mát rười rượi, nhưng sao khó ngủ thế? Bên ngoài mưa tầm tã. Thỉnh thoảng đâu đây lại văng vẳng tiếng ếch kêu. Nếu không có ánh đèn đường hắt vào cửa sổ thường xuyên, tôi cứ ngỡ như mình đang ở một xóm làng nào xa lắm…

7 giờ. Cả đoàn ăn nhẹ tại khách sạn, rồi lên đường. Xe chuyển bánh ra quốc lộ 1A đi về phía Vinh. Qua cầu Cày, cầu Cúc, Cầu Nga và cầu Sim  rồi rẽ trái vào Đồng Lộc. Hơn ba mươi năm tôi mới trở lại con đường này… thanh bình, đẹp đẽ và êm đềm quá!

Xe qua cầu Chợ Vực, rồi chạy thẳng ra Ngã Ba Đồng Lộc.
Từ xa, chúng tôi nhìn thấy TƯỢNG ĐÀI CHIẾN THẮNG cao vút giữa ngàn cây xanh rì, thăm thẳm. Không phải tượng đài trong phim ảnh tôi đã từng xem. Tượng đài thật đó. Uy nghi và thanh thoát quá! Tới Ngã Ba Đồng Lộc, xe đi chậm hẳn lại. Mọi người đều thấy chính giữa ngã ba là CỘT BIỂU TƯỢNG LƯU NIỆM CỦA NGÀNH GIAO THÔNG VẬN TẢI. Ba ngôi sao chỉ ba hướng đường hội tụ: Khe Giao, Ba Giang và Lạc Thiện. Nằm gần đối diện với cột biểu tượng này, cạnh chân đồi Trọ Voi là Nhà bia, phía ngoài vành khu di tích.
Logged
crawling0805
Thành viên
*
Bài viết: 486


« Trả lời #88 vào lúc: 26 Tháng Tư, 2011, 09:57:52 pm »

Xe ôtô rẽ trái vào khu di tích, dừng lại trước cổng vào nhà Ban quản lý khu. Lúc ấy là 8 giờ 15. Trời vẫn đang mưa…

Chúng tôi lên nhà khách khu Di tích, ngồi đợi. Cô Đặng Thị Yến – Phó ban quản lý khu di tích – ra đón tiếp chúng tôi rất niềm nở. “À, ra đây là cô gái thứ Mười một – như người ta vẫn nói đây”. Tôi nghĩ thế, và lặng lẽ nhìn Yến. Một phụ nữ trẻ, linh hoạt, tháo vát, nhiệt tình và giàu nội tâm. Vì được Tỉnh Hội Phụ nữ đặt vấn đề trước, nên Yến trình bày ngay với Đoàn chúng tôi về tình hình gia đình Mười liệt sỹ Thanh niên xung phong A4-C552. Chỉ nghe Yến nói, cũng biết là cô đã vào thăm các gia đình liệt sỹ nhiều lần, gần như người nhà của họ. Qua Yến, tôi được biết: Chỉ có gia đình liệt sỹ Trần Thị Rạng là đã chuyển đi xa, còn các gia đình khác, vẫn ở nơi cũ, nếu cần, Yến sẽ đưa đi.

Yến vừa cho người vào xã Xuân Lộc, xóm Mai Long để mời anh Linh ra Đồng Lộc gặp đoàn chúng tôi, Tuy hẹn anh Linh từ hôm qua – qua điện thoại ở Thị xã – nhưng vì trời mưa to quá, nên tôi không dám chắc sẽ gặp được anh. Khi thấy anh Linh tôi mừng quá. Chúng tôi nhận ra nhau ngay, mặc dù già đi nhiều rồi, biến đổi khác nhiều rồi. Nếu không có thư và điện hẹn trước, không gặp nhau tại Ngã Ba Đồng Lộc thì chưa chắc đã được thế! Chúng tôi ôm lấy nhau, mừng mừng, tủi tủi… Gặp nhau khi còn rất trẻ, chỉ mới trong ngoài ba mươi, nay đã thành ông nội cả, ngoài sáu mươi tuổi rồi! Chúng tôi nhìn nhau trong đáy mắt, không biết nói chuyện gì trước, chuyện gì sau. Khoảng cách thời gian hơn ba mươi năm đằng đẵng như bị xóa đi… Tôi tặng Linh một phiên bản Đài hoa tím năm xưa; đưa cho Linh xem những tấm ảnh chụp ở Đồng Lộc hồi 1969, trong đó có ảnh hai anh em. Tôi tặng Linh tấm ảnh này để làm kỷ niệm một thời…Chúng tôi theo Yến đi tham quan KHU DI TÍCH LỊCH SỬ NGÃ BA ĐỒNG LỘC VÀ THANH NIÊN XUNG PHONG TOÀN QUỐC dưới trời mưa. Tôi đi bên Linh và đoàn của mình với cảm giác vui – buồn lẫn lộn. Từ dưới đường lên đội Trọ Voi khoảng 50m, qua mấy dãy tam cấp dài là NHÀ BIA TƯỞNG NIỆM THANH NIÊN XUNG PHONG TOÀN QUỐC. Nhà bia này được  Trung ương Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh đầu tư xây dựng năm 1998, khắc tên 1950 anh hùng, liệt sỹ thanh niên xung phong cả nước, và các anh hùng liệt sỹ hy sinh tại Ngã Ba Đồng Lộc.

Chính giữa Nhà bia là một lư hương bằng đá rất lớn, lúc nào cũng nghi ngút khói hương. Mặt chính diện của Nhà bia khắc hai dòng chữ to, nổi bật:
                                                                   ĐỜI ĐỜI NHỚ ƠN
                                                               CÁC ANH HÙNG LIỆT SỸ
Dưới hai dòng chữ đỏ này, là danh sách các anh hùng, liệt sỹ hy sinh tại Ngã Ba Đồng Lộc, gồm họ và tên, quê quán, năm sinh. Hai bên mặt chính diện là danh sách các liệt sỹ thanh niên xung phong hy sinh trên khắp mọi miền Tổ Quốc.

Chúng tôi kính cẩn thắp hương, đứng mặc niệm một phút trước Bia tưởng niệm. Chúng tôi tin Nhà bia này sẽ lưu danh các liệt sỹ đến muôn đời, để các thế hệ hôm nay và mai sau tôn vinh, chiêm ngưỡng, tự hào.
Chúng tôi đi ngang khu mộ của Mười Cô, chỉ cách nhà bia hơn ba chục mét, cũng ở trên đồi Trọ Voi.

Ngay bên cạnh đường, phía ngoài khu mộ Mười Cô. Là dấu tích hố bom ngày xưa đã vùi lấp Mười Cô. Tôi nói là dấu tích, vì nó chỉ còn là một vũng đất nhỏ, nông choèn, chứ không sâu hoắm, to và rộng như ngày xưa tôi đứng ở dưới đáy hố bom này chụp ảnh tấm Bia tưởng niệm Mười Cô. Xung quanh hố bom là những chân hương đỏ cắm chi chít. Hương của khách từ các nơi đến thăm khu mộ.

Chúng tôi bước lên một khoảng sân rộng lát gạch đỏ, rồi đến bảy bậc thềm rất dài, qua chiếu nghỉ lại đến bảy bậc thềm nữa, rồi mới đến khoảng sân trước tấm bia Tổ Quốc ghi công tưởng niệm Mười Cô. Tấm bia này được đặt chính giữa một bức tường hộp có mái che bia lợp ngói đỏ, có bệ đặt đồ lễ. Một lư hương bằng đá đen rất to ngay trước bệ bia để mọi người thắp hương.

Chúng tôi lấy đồ lễ mang từ Hà Nội vào, kính cẩn đặt lên bệ. Ngoài hoa quả, bánh kẹo còn có gói ô mai mơ chua ngọt mua ở phố Hàng Đường.
Mười nấm mộ bằng đá trắng, xếp thành hai hàng. Hàng trước bốn, hàng sau sáu. Xung quanh khu mộ là tường bao rất trang nhã. Ảnh các liệt sỹ gắn trên mộ trí đều là ảnh màu tráng men, mới tinh. Tối hôm qua, ở trụ sở Tỉnh Hội có chị còn băn khoăn là ảnh các liệt sỹ cũ quá, cần phải thay bằng ảnh màu. Có một đoàn khách ở miền Nam ra, kịp làm việc này, chưa được một tuần.
Logged
crawling0805
Thành viên
*
Bài viết: 486


« Trả lời #89 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2011, 10:26:28 pm »

Đã hơn ba lần đứng trước ba khu mộ của Mười Cô, tôi có nhiều cảm xúc khác nhau. Ở khu mộ thứ nhất – chôn tạm – chỉ là những nấm đất bình thường, như những nấm mộ khác, nhưng tôi đau đớn hơn nhiều, vì chưa biết được thân phận của Mười Cô, vì các cô mới mất, còn nguyên xương thịt ở dưới đó. Ở khu mộ tại nghĩa trang liệt sỹ xã Thiên Lộc, Can Lộc, gần dãy núi Hồng Lĩnh, sau khi cải táng, được xây bằng đá đen, uy nghi và trầm mặc – trên một nền đất riêng cao hơn một bậc giữa các mộ liệt sỹ khác – nhưng tôi vẫn có cảm nghĩ là không ổn, chưa tương xứng với Mười Cô, và có phần nào xa lạ, mặc dù thân phận của Mười Cô tôi đã rõ hơn nhiều…Lần này, trước khu mộ riêng vĩnh cửu, đồ sộ và hoành tráng này, tôi cảm động sâu sắc về sự tri ân của nhân dân ta đối với Mười Cô. Một không gian nên thơ và hùng vĩ, bao bọc lấy một biểu tượng anh hùng của một thời anh hùng. Mười liệt sỹ thanh niên xung phong ở Ngã Ba Đồng Lộc nay đã là MƯỜI CÔ TIÊN TRẺ MÃI. Thời gian càng lùi xa, các Cô càng linh thiêng hơn, thần thánh hơn, nhiều huyền thoại hơn. Các cô đã trở thành bất tử.

Nỗi buồn, thương và nhớ tiếc của tôi đối với Mười Cô cũng nhẹ nhàng hơn, thanh thản hơn trước. Cũng có thể vì thời gian đã trôi qua hơn ba mươi năm rồi… Sự từng trải của bản thân với những nỗi đau ly biệt ngập tràn quá khứ… Sự đền đáp xứng đáng của những người đương thời đối với sự hy sinh oanh liệt của Mười Cô, làm lòng tôi nguôi đi. Tôi cũng cố gắng hết sức mình để trả món nợ tinh thần và tình cảm đối với Mười Cô hơn hai mươi năm về trước… Dùng chiếc khăn tay mới tinh, tôi vừa lau từng mộ chí, lau từng tấm ảnh vừa thầm thì: “Anh đã về thăm các em đây. Các em được như thế này là anh mừng rồi, yên tâm rồi. Các em hãy tha thứ cho anh về việc không có mặt trong những lần cải táng, chuyển mộ. Không một ai báo tin cho anh cả! Thế nào, Xuân Vĩnh Lộc. Em đã gặp anh Vĩnh Thạch Hà chưa? Còn Cúc, em đã gặp người chồng bất hạnh ở dưới sông Ngàn Phố chưa? Anh mong tất cả các em đừng bao giờ gặp lại những nỗi đau trên trần thế nữa. Các em là những Cô Tiên bay đi khắp các phương trời, để giúp đỡ những đồng đội còn sống, nhưng đang gặp nhiều khốn khó, những người thân đang gặp khó khăn… Các em giúp đỡ những người không quen biết, nhưng yêu thương, trân trọng các em… Mong các em được yên nghỉ đời đời và hòa bình mãi mãi”.

Tôi cất khăn tay vào túi áo, đứng rất lâu trước những nấm mộ đang nghi ngút khói hương. Ai đã để ở mỗi nấm mộ một tấm gương soi, một chiếc lược xinh, vài ba quả bồ kết. Hoa và hoa. Hoa tươi dưới trời mưa lây phây. Cả mười ngôi mộ đều nhìn về phía có tượng đài Chiến thắng, sau lưng là dãy núi Mũi Mác. Tôi đặt chiếc địa bàn đo hướng mộ Mười Cô. Chính Đông Bắc. Phương Cấn theo La bàn Dịch học. Cấn là phi cung của tuổi Mậu Dần(1938). Tôi lặng người đi vì sự trùng hợp ngẫu nhiên.

Trời vẫn mưa. Thu Hà cầm gói ô mai đến trước dấu vết hố bom, vung xuống đó một nắm như để mời Mười Cô.

Chúng tôi vào Nhà truyền thống Thanh niên xung phong toàn quốc. Gian chính diện có tượng Bác Hồ, đồng chí Trần Phú và cụm tượng bộ đội, thanh niên xung phong. Trong ba gian nhà lớn trưng bày 110 hiện vật gốc, 145 hiện vật được phục chế, bao gồm đồ đạc sinh hoạt, dụng cụ chiến đấu của thanh niên xung phong: xe bò, xe cút kít, xắc cốt, ống nhòm… 12 ảnh gốc chụp cảnh trong giờ chiến đấu, cảnh đời thường và cảnh ca hát của thanh niên xung phong. Trong số năm vạn thanh niên xung phong nổi bật lên có các tấm gương của Mười Cô Đồng Lộc A4-C552, 12 cô gái hy sinh ở Truông Bồn, 13 cô thanh niên xung phong hy sinh tại Núi Nhồi – Thanh Hóa; 12 nam nữ thanh niên hy sinh tại Ga Gôi – Nam Hà; 8 nữ thanh niên xung phong hy sinh trên đường Quyết Thắng… và nhiều tấm gương tiểu biểu khác.
« Sửa lần cuối: 28 Tháng Tư, 2011, 05:21:01 pm gửi bởi crawling0805 » Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM