Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 25 Tháng Tám, 2019, 03:45:37 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam  (Đọc 57956 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #90 vào lúc: 06 Tháng Hai, 2011, 05:51:24 PM »

Phần II

Những bài viết về
Đại tướng, Tổng Tư lệnh
Võ Nguyên Giáp

MỘT CUỘC GẶP GỠ ĐẦY ẤN TƯỢNG(1)

DƯƠNG TRUNG QUỐC

10 giờ 30 ngày 9-11-1995, tại Nhà khách Bộ Quốc phòng (phố Phạm Ngũ Lão, Hà Nội), Đại tướng Võ Nguyên Giáp và ông Rôbớc Mắc Namara (Robert Mc Namara) gặp nhau. Đối với giới báo chí thì đây là một cơ hội lịch sử, do vậy phải mất gần 10 phút hai cựu Bộ trưởng Quốc phòng của cuộc chiến năm xưa mới được giải thoát khỏi vòng vây cuồng nhiệt của những máy ảnh, máy quay phim, micro… và những câu phỏng vấn không bao giờ dứt của giới báo chí quốc tế và Việt Nam.

Phút gặp gỡ đầu tiên, hai ông đứng trao đổi với nhau về việc tập thể dục buổi sáng. Một người đã 85 tuổi, còn một người sắp bước vào tuổi 80 (ông Mắc Namara sinh năm 1916) nhưng cả hai đều tỏ ra nhanh nhẹn và minh mẫn.

Ông Mắc Namara mở đầu cuộc trao đổi bằng lời bày tỏ về ý định của Đoàn tiền trạm Hội đồng đối ngoại New York mà ông dẫn đần sang Việt Nam lần này để chuẩn bị cho một cuộc hội thảo về chiến tranh Việt Nam dự kiến sẽ tổ chức tại Mỹ vào mùa thu năm tới và hy vọng tướng Giáp sẽ nhận lời mời tham dự. Ông Mắc Namara cũng nhấn mạnh rằng với một cuộc chiến tranh đã làm hơn ba triệu người Việt Nam với gần 6 vạn người Mỹ bị chết thì việc tìm cho ra những bài học lịch sử, đặc biệt là bài học về những cơ hội bị bỏ lỡ để tránh khỏi xảy ra chiến tranh là rất có ý nghĩa không chỉ cho hai nước xưa kia đã từng tham chiến nay đang hướng tới những quan hệ tốt đẹp mà còn là những bài học bổ ích cho một thế giới đang đầy rẫy các biến cố và xung đột. Ông Mắc Namara cũng kể lại rằng ngay sau khi thôi giữ chức Bộ trưởng bộ Quốc phòng (3-1968) ông đã trở thành Chủ tịch Ngân hàng Thế giới (World Bank Group of Instiutions) và giữ cương vị đó 13 năm liên tục cho đến khi nghỉ hưu (6-1981). Cũng trên cương vị này, năm 1978, Ngân hàng Thế giới đã cho Việt Nam vay một khoản tín dụng 60 triệu USD cho các dự án về thủy lợi. Giờ đây mới có dịp sang Việt Nam, ông vừa gặp các quan chức của Ngân hàng Thế giới và được biết Việt Nam là một quốc gia đã sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính được đầu tư từ bên ngoài, đó là những dấu hiệu khẳng định tính tự chủ, khả năng vươn lên và phát triển của Việt Nam.

Bước vào chủ đề chính, vị cựu Bổ trưởng Quốc phòng Mỹ xin hỏi Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Thưa ngài, quả thực cho đến bây giờ, tôi vẫn không rõ những gì xảy ra trong ngày 4-8-1964?” (Đó là người trước khi Tổng thống Mỹ Giônxơn mở màn cuộc chiến tranh phá hoại đối với miền Bắc và trực tiếp đổ quân Mỹ can thiệp và mở rộng cuộc chiến tranh Việt Nam. Và hành động này được giải thích bằng việc trả đũa cho sự kiễn đã diễn ra trong ngày 4-8-1964 mà theo báo cáo của phía Mỹ thì chiến hạm Maddox đã bị hải quân Việt Nam tấn công ở vùng biển quốc tế).

31 năm sau sự kiện đó, Mắc Namara mới trực tiếp nhận được một câu trả lời chính xác. Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói: “Ngày 2-8-1964, tùa Mỹ xâm phạm hải phận Việt Nam ở khu vực đảo Hòn Mê Một đơn vị hải quân địa phương của chúng tôi đã đánh đuổi. Còn ngày 4-8-1964, không có một hoạt động quân sự nào từ phía Việt Nam được tiến hành trên khu vực này”. Các vị khác Mỹ nghe rất chăm chú.

Đại tướng nói tiếp: “Nói điều này có thể là công việc nội bộ của Mỹ, nhưng theo tôi biết thì trước những ngày này, ở Mỹ người ta đã soạn thảo những văn bản để chuẩn bị cho việc mở rộng chiến tranh ở Việt Nam rồi”.


(1) Bài đăng trên Tạp chí Xưa & Nay, số 21, tháng 11 năm 1995, tr.16, 34.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #91 vào lúc: 06 Tháng Hai, 2011, 05:52:03 PM »

Về vấn đề có những cơ hội nào có thể vãn hồi hòa bình ở Việt Nam mà đã bị cả hai bên bỏ qua, Đại tướng nói rằng trong khi kiên quyết chiến đấu chống xâm lược, Việt Nam cũng rất mong muốn kết thúc chiến tranh. Việt Nam đã theo dõi rất chặt và phân tích mọi nội dung được đề cập tới trong những bài diễn văn của Tổng thống Mỹ ở Bantimo về công thức Manila - Antôniô… Nhưng Việt Nam cũng nhận thấy rằng mỗi lần người đứng đầu nước Mỹ nói đến những sáng kiến hòa bình thì cũng là lúc tăng quân Mỹ ở Việt Nam. Như vậy chỉ có thể nghĩ đó là hòa bình giả và chiến tranh thật, hoặc một nền hòa bình trên sức ép quân sự của Mỹ. Có thể nói rằng phía Việt Nam đã không để lỡ một cơ hội nào vì dân tộc Việt Nam là một dân tộc yêu hòa bình hơn ai hết và chiến tranh sẽ mang lại đau khổ trước hết cho người Việt Nam. Đại tướng cũng kể lại cho các vị khách Mỹ câu chuyện cách nay ngót 50 năm, khi ông Pôn Muýt, một học giả được Chính phủ Pháp nhờ chuyển một giải pháp hòa bình cho Chính phủ kháng chiến Việt Nam, trong đó có một điều khoản đòi hỏi quân đội Việt Nam hạ vũ khí. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hỏi lại Pôn Muýt rằng nếu như người Đức gửi một tối hậu thư như vậy thì thái độ của những người kháng chiến Pháp sẽ như thế nào?

Đại tướng cho rằng quan điểm mà ông Mắc Namara viết trong cuốn Nhìn lại quá khứ: Tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam cho rằng một trong những nguyên nhân Mỹ thua ở Việt Nam là do không hiểu về dân tộc Việt Nam và nhất là không hiểu về chủ nghĩa yêu nước của người Việt Nam là hoàn toàn đúng. Đại tướng nhấn mạnh rằng dân tộc Việt Nam là một dân tộc mà ý thức và quyết tâm bảo vệ độc lập đã trở thành một triết lý, bản sắc văn hóa và cũng là một nguyên tắc không gì lay chuyển của người Việt Nam. Sai lầm của Mỹ không những chỉ là không lường được sức chịu đựng và tinh thần quyết tâm của nhân dân Việt Nam mà còn thể hiện ở chỗ muốn tìm kiếm hòa bình ở Việt Nam bằng những cuộc thương lượng với những nước lớn khác. Tinh thần độc lập, tự chủ của dân tộc Việt Nam không chỉ có ý nghĩa trong quá khứ chiến tranh mà cả trong công cuộc xây dựng, đổi mới hiện nay. Việt Nam sẽ đổi mới bằng cách riêng của mình. Những yếu kém về công nghệ Việt Nam sẽ học tập ở nước ngoài nhưng Việt Nam luôn phải giữ vững tinh thần độc lập và bản sắc dân tộc.

Đại tướng kể lại rằng có lần, tại Angiê nhân tham dự ngày lễ kỷ niệm Quốc khánh của Angiêri, Brêdinxky, người được coi là kiến túc sư của chiến lược đánh phá chủ nghĩa cộng sản dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu đã gặp và hỏi Đại tướng rằng: “Chiến lược của ngài là gì?”. Câu trả lời: “Chiến lược của tôi là Hòa bình trong Độc lập và Tự do”.

Đại tướng cũng nhắc lại cuộc gặp gỡ mới đây với A.Tômát và nhóm cựu chiến binh của cơ quan OSS (Office of Strategic Services - Cục Công tác chiến lược) của Mỹ đã từng sát cánh cùng các chiến sĩ Việt Minh đánh phátxít Nhật hồi Cách mạng Tháng Tám 1945. Đại tướng nói rằng lúc đó chúng tôi đã nghĩ đến những bước phát triển tốt đẹp trong quan hệ giữa hai nước. Nhưng chính học thuyết đôminô và chống cộng đã dẫn đến những sai lầm của Mỹ ở Việt Nam trong những thập kỷ vừa qua. Việt Nam là một dân tộc quý trọng nền độc lập của mình nhưng cũng luôn tôn trọng độc lập của dân tộc khác. Mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dẫn ra câu đầu tiên của bản Tuyên ngôn Độc lập Mỹ.

Ông Mắc Namara bày tỏ sự tán đồng với những ý kiến của Đại tướng và cả hai vị đều tán thành ý nghĩa và sự bổ ích của cuộc hội thảo dự định sẽ tổ chức.

Trước chính ngọ, hai nhân vật của cuộc chiến tranh năm xưa đã vui vẻ chia tay nhau giữa vòng vây của các nhà báo.

Ngày hôm sau (sáng 10-11) cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mắc Namara đã phát biểu trước các nhà báo: “Tôi thực sự xúc động khi quay trở lại Việt Nam, điều mà tôi từng mong ước 21 năm qua. Thời gian quả là dài nhưng nó giúp con người ta nguôi đi những dằn vặt về những việc đã làm. Điều làm tôi thực sự cảm động là tôi không hề nhận thấy sự thù hận trong ánh mắt của người Việt Nam đối với tôi. Một Việt Nam thanh bình, dẫu chưa phồn vinh nhưng quả là đẹp. Một đất nước như thế, một dân tộc như thế thì họ từng đứng vững trong quá khứ và sẽ tiến lên trong tương lai là điều không thể tranh cãi”. Nói về cuộc gặp gỡ với tướng Giáp, ông mắc Namara cho rằng đó là một cuộc gặp gỡ đầy ấn tượng.
« Sửa lần cuối: 12 Tháng Hai, 2011, 06:55:37 AM gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #92 vào lúc: 06 Tháng Hai, 2011, 05:53:10 PM »

CUỘC GẶP LẠI ĐẦY ẤN TƯỢNG(1)

DƯƠNG TRUNG QUỐC

15 giờ 30 ngày 23-6-1997, tại Nhà khách Chính phủ, cuộc gặp gỡ của ông Rôbớc Mắc Namara và Đại tướng Võ Nguyên Giáp diễn như hoạt động cuối cùng của cuộc Hội thảo Việt - Mỹ được coi là lần đâu tiên giữa các cựu quan chức và học giả hai nước trao đổi về quan hệ Việt - Mỹ trong quá khứ với mục đích rút ra những bài học cho tương lai như thư của hai vị đại diện cho hai nhà nước đã gửi đến Hội thảo: bà Nguyễn Thị Bình và ông Bin Clintiơ. Kết quả cuộc hội thảo kéo dài hơn 3 ngày (từ ngày 20 đến ngày 23-6) đã được hai bên công bố tại khách sạn Sofitel lúc 14 giờ càng kích thích giời báo chí kéo sang Nhà khách Chính phủ chứng kiến cuộc gặp mặt của Đại tướng Võ Nguyên Giáp với cựu Bộ trưởng Mắc Namara cùng các thành viên phía Mỹ vì 8 câu hỏi đã được phía Mỹ gửi trước mong được Đại tướng giải đáp.

10 phút dành cho các nhà báo thao tác nghiệp vu bằng những câu hỏi ngắn gọn, bằng những ánh chớp máy ảnh, những trường đoạn camera và chấm dứt khi ông Mắc Namara đưa ra một đề nghị kiên quyết yêu cầu mọi nhà báo đều phải rời khỏi phòng họp.

Khi yên tĩnh đã trở lại, hai vị cựu Bộ trưởng Quốc phòng của những năm tháng chiến tranh Việt - Mỹ mới bắt tay nhau một lần nữa và trao đổi những câu hỏi xã giao của những người đã từng quen biết, không còn dè dặt thăm dò lần đầu như câu chuyện về tập thể dục buổi sáng ở cuộc gặp đầu tiên hồi tháng 11-1995 tại Nhà khách bộ Quốc phòng.

Về phía Mỹ, ông Mắc Namara ưu tiên giới thiệu 2 trong cố 52 vị thành viên phía Mỹ (gồm 6 cựu quan chức, 6 học giả và 40 quan sát viên) là tướng Uyliam Xmít, nguyên trợ lý đặc biệt cho Tổng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ Maxwell Taylor và ông Chester Cooper, nguyên là nhà phân tích khu vực Đông Nam Á, thành viên Hội đồng an ninh Quốc gia và trợ lý chính cho nhà thương lượng W.A. Harriman.

Là người không tham gia cuộc Hội thảo, Đại tướng Võ Nguyên Giáp mở đầu bằng những lời hoan nghênh và cho rằng cần có nhiều chộc hội thảo nữa để tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau hướng tới tương lai về hòa bình, hợp tác trên cơ sở bình đẳng, đôi bên cùng có lợi.

“Tôi là quân nhân, tôi nói thẳng”

Nói về chiến tranh ở Việt Nam, người Mỹ hay nói đến giới hạn của sự dính líu từ năm 1961 đến năm 1969, Đại tướng cho rằng như thế là chưa đủ vì từ năm 1950 Mỹ đã can thiệp vào cuộc chiến tranh Đông Dương, đến Điện Biên Phủ, 80% chiến phí là của Mỹ. Thực chất sự dính líu của Mỹ vào chiến tranh Việt Nam dưới hình thức và mức độ khác nhau phải là một phân tư thế kỷ, từ năm 1950 đến năm 1975. Bị chi phối với một thứ “thần học” (théologie như cách nói của Mắc Namara) là học thuyết “đôminô, Mỹ cho rằng Việt Nam là vị trí quan trọng liên qnan đến an toàn của mình, cho nên Kennơđi coi Việt Nam là trọng điểm để tiêu diệt phong trào giải phóng dân tộc và đến Giônxơn thì phát động chiến tranh ra miền Bắc đổ quân vào miền Nam.

Trở lại vụ Vịnh Bắc Bộ (2 - 5-8-1964) và trận Plâycu (6-2-1965) phía Mỹ đạt câu hỏi ai ra lệnh và khi ra lệnh có nghĩ đến phản ứng của Mỹ ra sao? Đại tướng nói rằng việc này ông đã nói trong cuộc gặp mặt lần trước, nhưng vấn đề đơn giản là “lúc bấy giờ bộ đội Việt Nam ở miền Nam cũng như Hải quân ở miền Bắc được lệnh lúc nào quân địch xâm phạm, tiến vào lãnh thổ thì phải đánh, tôi là một quân nhân, nếu các ngài đồng ý, tôi nói thẳng rằng: “Chính sách (mở rộng chiến tranh của Mỹ) quyết định rồi nhưng phải tìm một cái cớ đưa ra Quốc hội!”. Cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ là sai lầm chiến lược lớn nhất, và cũng là thảm bại đầu tiên và lớn nhất của lịch sử Mỹ”.

Ông Mắc Namara bật dậy ngắt lời: “Xin lõi Đại tướng, ngài nói không đúng”.

Đại tướng bình thản nói: “Ngài đánh chúng tôi trước khi có trận Plâycu, vả lại trận này cũng như trận đánh Maddox chỉ là hoạt động địa phương. Còn phản ứng của chúng tôi đối với việc mở rộng chiến tranh phá hoại là chuyển cả miền Bắc vào tình trạng chiến tranh để bảo vệ miền Bắc và đánh thắng chiến tranh không quân của Mỹ, làm trọn nhiệm vụ hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn”.

“Từ lo sợ không có trong tư duy quân sự Việt Nam”

Phía Mỹ đưa ra câu hỏi: “Những hành động quân sự nào của Mỹ làm tướng Giáp lo sợ nhất và vào những thời điểm nào?”.

Đại tướng cười và vui vẻ nói: “Chúng tôi trả lời từ “lo sợ” không có trong tư duy quân sự của chúng tôi, bởi vì với chúng tôi, không có gì quý hơn độc lập, tự do, chúng tôi quyết đánh Mỹ và chúng tôi luôn tin tưởng là sẽ thắng”.

Phía Mỹ đưa ra câu hỏi: “Nhìn lại quá khứ, tướng Giáp đánh giá thế nào về thành công và thất bại của Tổng tiến công Mậu Thân?”.

Đại tướng nói rằng: “Sức mạnh của Mỹ tuy lớn nhưng có những hạn chế cơ bản, Ví như Kỵ binh bay mạnh ở chỗ cơ động nhưng đối với chúng tôi thì cơ động nhất là lực lượng tại cỗ, quân Mỹ đến đâu thì đã có lực lượng của chúng tôi ở đó”.

“Còn về Tổng tiến công Mậu thân, mục đích chúng tôi là làm sao cho Mỹ rút. Về cách đánh mà nói thì đợt một là thắng lợi lớn, những đợt sau nếu theo ý kiến của Trung ương chuyển nhanh về nông thôn thì thắng to, nên vì vậy có tổn thất… Chiến tranh nhì chung là chiến lược tổng hợp. Mục tiêu của chúng tôi là Mỹ phải chấm dứt leo thang, ngồi lại đàm phán. Như thế cũng tôi đã đạt được buộc Mỹ phải ký Hiệp định Pari. Chỉ có điều chúng tôi không dự kiến đầy đủ Níchxơn lật lọng đến thế. Sắp ký rồi thì lại ném bom B.52…. Cuối cùng chúng tôi đã thắng lợi hoàn toàn trong toàn bộ cuộc chiến tranh bảo vệ nền độc lập và thống nhất Tổ quốc của một nước nhỏ, kinh tế lạc hậu đánh thắng hai đế quốc to. Đó là thắng lợi của ai? Của nhân dân Việt Nam đồng thời cũng là của các lực lượng tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên thế giới, trong đó có những người Mỹ chống lại chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam”.


(1) Bài đăng trên Tạp chí Xưa & Nay, số 41, tháng 7 năm 1997, tr.29-30.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #93 vào lúc: 06 Tháng Hai, 2011, 05:55:30 PM »

“Các ngài nên đọc Nguyễn Trãi”

Phía Mỹ nhận rằng Mỹ không thắng được Việt Nam là do Mỹ không hiểu Việt Nam và bỏ qua nhiều cơ hội để chấm dứt sự sính líu vào cuộc chiến tranh Việt Nam. Nhưng về phía Việt Nam thì sao, có cơ hội nào bị bỏ lỡ không?

Câu trả lời của Đại tướng là: “Chúng tôi không bỏ qua một cơ hội nào”. Ông Mắc Namara ngắt lời: “Cái đố còn phải bàn lại…”.

Đại tướng đáp: “Mỹ xâm lược Việt Nam là sai lầm. Mỹ không hiểu Việt Nam. Chúng tôi là một dân tộc có tinh thần bất khuất hàng ngàn năm chống giặc ngoại xâm, nhưng rất mong muốn hòa bình. Thế kỷ XV, sau khi đánh thắng quân Minh đã từng có những lời tuyên ngôn trong các áng văn bất hủ Bình Ngô đại cáoPhú Chí Linh của Nguyễn Trãi:

         Đem lại thái bình muôn thuở
         Tắt muôn đời chiến tranh.

Các ngài nên đọc những sách đó. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm ra con đường cứu nước và phát triển học thuyết quân sự độc đáo Việt Nam động viên chiến tranh toàn dân, do dân, vì dân nên đánh thắng”.

“Nước nhỏ có vai trò của nước nhỏ”

Về quan hệ giữa Việt Nam và các nước lớn trong chiến tranh, Đại tướng nhắc lại nhiều lần: “Nước lớn có vai trò nước lớn, nhưng tôi muốn nhắc với ngài rằng nước nhỏ có vai trò nước nhỏ. Danh dự, sức mạnh độc lập tự do, sức mạnh văn hóa của một nước không thể đo bằng cây số vuông. Trong quá khứ, Liên Xô và Trung Quốc đã giúp đỡ Việt Nam nhiều trong chiến tranh nhưng Mỹ đã sai lầm khi tìm giải pháp quyết định cho cuộc chiến tranh này ở những cuộc thương lượng với những nước lớn đó. Ngày nay, muốn gây dựng một trật tự thế giới mới thì các dân tộc phải bình đẳng và tôn trọng độc lập chủ quyền của nhau. G7, G8 bàn với nhau, được, nhưng nếu không tính đến các nước nhỏ thì không bao giờ thế giới có hòa bình và ổn định phát triển”.

Kết thúc câu trả lời cho những câu hỏi về phía Mỹ đặt ra, Đại tướng nói: “Tôi mong rằng những điểm tôi suy nghĩ đã lâu, bây giờ nói rất ngắn sẽ giúp cho việc xây dựng quan hệ Việt Nam với Mỹ. Do vị trí địa lý chính trị và vai trò Việt Nam gắn liền với văn hóa và lịch sử của nó, quan hệ Việt - Mỹ sẽ góp phần vào sự ổn định khu vực và thế giới. Tôi nhất trí với ngài Mắc Namara là không có nước nào có thể áp đặt được ý định của mình cho các dân tộc khác, nhất là với Việt Nam, phải tôn trọng lẫn nhau và cùng có lợi trên nguyên tắc bình đẳng.

Sự bình thường hóa quan hệ giữa hai nước đã mở ra những cơ hội để chúng ta đẩy nhanh sự phát triển những quan hệ hòa bình trong hợp tác và cùng có lợi trên cơ sở bình đẳng tôn trọng chủ quyền của nhau vì lợi ích của nhân dân hai nước và sự ổn định phát triển thế giới.

“Vị tướng tôi đánh giá cao nhất là Tướng Nhân Dân”

Sau câu hỏi của tướng Xmít bằng cách nào Việt Nam đối phó được với những vũ khí hiện đại của Mỹ, một câu hỏi được mọi người chú ý đặt ra: vị tướng nào trong chiến tranh được tướng Giáp đánh giá cao nhất?

Đại tướng trả lời: “Quân đội nhân dân Việt Nam ở cả miền Bắc và miền Nam, như Chủ tịch Hồ Chí Minh nói là một quân đội anh hùng của một dân tộc anh hùng có tinh thần quyết chiến rất cao, thông minh và sáng tạo. Còn vị tướng đã có công lao lớn đến đâu cũng chỉ là giọt nước trong biển cả. Chỉ có nhân dân Việt Nam là người đánh thắng Mỹ. Các ngài gọi tôi là vị tướng huyền thoại, nhưng tôi tự nghĩ tôi bình đẳng với những người lính của mình. Tôi hoàn thành nhiệm vụ cũng như những người lính hoàn thành nhiệm vụ. Trên bình diện nhiệm vụ thì tôi cũng như người lính là bình đẳng, cho nên tôi rất tôn trọng người lính.

Còn các ngài hỏi tôi rằng tướng ngụy nào tôi để ý đến nhất thì có lẽ sự đánh giá ấy nên hỏi Bộ Tư lệnh quân đội Mỹ”.

“Hôm nay, ngài lại thắng lớn về thời gian”

Người phát biểu cuối cùng của cuộc gặp mặt là ông Chester Cooper, vị tướng thành viên Hội đồng An ninh Quốc gia thời chiến tranh của Mỹ chân thành nói: “Thưa Ngài, tôi thán phục ngài từ 20 năm về trước, nay tôi cũng vẫn thán phục Ngài và chắc các bạn tôi ở đây cũng vậy. Chúng tôi sang đây với một tinh thần suy tư cởi mở và sẵn sàng muốn tìm hiểu dân tộc Việt Nam. Chúng tôi học hỏi được rất nhiều. Bài thuyết trình của Ngài cũng nhắn nhủ chúng tôi được nhiều điều”.

Đại tướng bình luận: “Các ngài chưa hiểu hết đâu”.

Ông Cooper: “Chính vì vậy chúng tôi sẽ tiếp tục cuộc tìm hiểu này và hy vọng lần sau chúng tôi sẽ trình bành để Ngài hiểu hơn về nước Mỹ chúng tôi. Chúng tôi sẽ nhớ mãy ngày hôm nay”.

Lúc chia tay, Đại tướng Võ Nguyên Giáp bắt tay ông Mắc Namara: “Bắt tay một con người dũng cảm và có thiện chí”.

Cuộc gặp mặt kết thúc mà không thực hiện được một dự kiến tất cả sẽ chụp một bức ảnh chung bởi vì dự tính cuộc gặp mặt chỉ diễn ra dưới 1 tiếng đồng hồ đã kéo dài thêm gần 30 phút. Ông Mắc Namara và tướng Xmít vội vã trở về khách sạn để ra sân bay kịp thời về nước.

Trong cuộc gặp mặt, cựu Bộ trưởng Mắc Namarra không trình bày nhiều nhưng luôn tỏ ra sốt ruột về thời gian, thỉnh thoảng ông lại ngắt lời Đại tướng với câu xin lỗi lịch sự nhưng không giấu được sự sốt ruột vì muốn dành thêm thời gian để các thành viên của mình trình bày quan điểm. Nhưng thản nhiên và cũng lịch sự, Đại tướng của động dành phần lớn thời gian để phát biểu quan điểm của mình. Không giữ được kiên nhận, ông Mắc Namara thốt lên: “Thế là Ngài lạ thắng về thời gian rồi”. Đại tướng lập luận: “Các ngài thua vì chưa hiểu, muốn hiểu nên lắng nghe”.

Sau cuộc gặp mặt, tôi gặp Stein Tonnesson, nhà sử học người Na Uy, thành viên duy nhất không có quốc tịch Mỹ của đoàn Mỹ, là tác giả của nhiều tác phẩm viết về lịch sử Việt Nam. S.Tonnesson bình luận về cuộc gặp mặt giữa hai cựu Bộ trưởng Bộ Quốc phòng: “Lần này, tướng Giáp lại thắng trong một trận chiến về ngôn từ” (une guerre des mots).
« Sửa lần cuối: 12 Tháng Hai, 2011, 07:02:22 AM gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #94 vào lúc: 06 Tháng Hai, 2011, 05:57:16 PM »

BÁC HỒ VÀ ĐỒNG CHÍ VÕ NGUYÊN GIÁP
TRÊN ÔTÔ Ở QUẢNG TRƯỜNG BA ĐÌNH
NGÀY 2-9-1945
(1)

VÕ AN NINH
(VŨ HẠNH HIÊN ghi)

Ngày 2-9-1945, có người Hà Nội nào mà ngồi yên được. Tôi cũng vậy, nhất là mình lại có máy ảnh trong tay. Tôi ý thức được giờ phút trọng đại của dân tộc Việt Nam sắp đến. Ai cũng như ai, nhìn lại 80 năm của thời Pháp đô hô, cứ nghĩ như một đêm đen quá dài. Bây giờ bình minh đã đến.

Ngày 2-9-1945, cả Hà Nội náo nức đón Lễ Độc lập. Ai cũng đứng vào một hàng ngũ nào đó để cuồn cuộn chảy về hướng Ba Đình, người người tay cờ, tay khẩu hiệu. còn tôi làm gì? Chụp, chụp và sẽ phải chụp thật nhiều ảnh. Cái đích của tôi là phải chụp được ảnh Cụ Hồ khi đang đọc Tuyên ngôn Đọc lập, nếu không, thì hỏng hết.

Đúng 2 giờ chiều, từ chân lễ đài tôi nhìn thấy các vị đại biểu dự lễ xuống xe và bước lên kỳ đài. Tôi thấy rất đông người và có nhiều người tôi không được biết tên… Tôi luýnh quýnh theo chân liền và hoàn toàn không bị ai ngăn cản. Trên kỳ đài, diện tích có vài mét vuông thôi mà hàng chục người đứng. Mọi người hình như chen vai thích cánh, hỏi như vậy làm sao tôi chụp được ảnh Cụ Hồ đang đọc Tuyên ngôn Độc lập? Các vị dự lễ cũng rất tế nhị, khi tôi giơ máy lên, người đứng trước cũng khẽ nghiêng mình cho tôi chụp nhưng cái lưng khác lại che lấp ngay lập tức. Biết là không làm gì được, tôi vội tụt xuống cầu thang, đứng ôm máy dưới chân kỳ đài. Nghĩ kế khác. Buổi lễ diễn ra trong vòng một tiếng rưỡi đồng hồ. Khi bài Tiến quân ca kết thúc buổi lễ vừa dứt, tôi đã thấy một chiếc ôtô tiến sát vào chân kỳ đài. Xe đến đón Cụ Hồ đi bên có ông Võ Nguyên Giáp. Đúng lúc Cụ Hồ và ông Giáp đến ngồi vào xe và xe chưa lăn bánh tôi nhào tới đưa máy vào khoang cửa và nói: - Thưa Cụ, vừa rồi trên kỳ đài đông quá, con không chụp được ảnh Cụ. Xin Cụ cho phép con được lấy một hình của Cụ. Cụ Hồ khẽ gật đầu. Nhưng lúc ấy Cụ Hồ đang đội mũ. Trời đã xế chiều. Cái mũ cát vành rộng lại che đi mất nhiều ánh sáng. Tôi đánh liều: - Thưa Cụ, con muốn Cụ hạ cái mũ xuống ạ. Ông Giáp ngồi bên tủm tỉm cười như hiểu ý nguyện của tôi. Ông đưa tay lên hạ cái mũ của Cụ Hồ đang đội và nhìn tôi, nói: - Này thì bỏ mũ xuống. Thế là tôi có được một bức ảnh có một không hai trong cả cuộc đời gắn bó với nghệ thuật nhiếp ảnh: Cụ Hội ngồi bên có ông Giáp cả hai gương mặt đều cương nghị, nhưng hiền hòa, có chút khắc khổ vì những lo toan cho vận nước ở giờ phút ngàn cân treo sợi tóc. Hơn nữa, đây là tấm ảnh chụp vào ngày lịch sử muôn đời ghi nhớ của dân tộc ta ngay sau khi Cụ Hộ đọc Tuyên ngôn Độc lập với quốc dân đồng bào của cả nước và thế giới. Một phòng triển lãm ảnh về ngày Lễ Độc lập đã được tổ chức tại phố Tràng Tiền - Hà Nội ngay sau ngày 2-9-1945. Một cán bộ Việt Minh đồng thời là bạn tôi thấy tôi có bức ảnh quý giá đó nên vồ vập liền. Ông đã treo bức ảnh Cụ Hồ và ông Võ Nguyên Giáp ở chỗ trang trọng nhất của phòng triển lãm.

Hồi đó, mỗi khi có triển lãm, nhất là những triển lãm về đấu tranh cho đọc lập tự do, dân chúng thường đi xem rất đông, cho nên bức ảnh nói trên được nhiều người biết đến. Riêng tôi, do thời cuộc, đã để thất lạc cả phim và tấm ảnh gốc đó. Nhưng may mắn làm sao, tôi đã gặp lại tấm ảnh đáng quý của đời mình được in trong một cuốn hồi ký viết gần đây của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Và tôi đã “sao” lại tấm ảnh tác phẩm của chính mình. Khách đến thăm nhà không ai không ngước mắt lên tấm ảnh này mà gia đình tôi đã trân trọng treo ở giữa phòng khách. Những đóm nắng chiều rơi trên khuôn mặt hai nhà cách mạng trở thành những yếu tố thật kỳ diệu như khắc họa một thời gian khó và quyết liệt của của cả một dân tộc mà Hồ Chủ tịch và Võ Nguyên Giáp cùng nhiều nhà cách mạng khác là những nhân vật đại diện.


(1) Bài đăng trên Tạp chí Xưa & Nay, số 97, tháng 8 năm 2001, tr.4-10 (Tựa do Ban Biên tập đặt).
« Sửa lần cuối: 12 Tháng Hai, 2011, 06:57:51 AM gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #95 vào lúc: 06 Tháng Hai, 2011, 05:58:13 PM »

“VÕ NGUYÊN GIÁP VẪN LÀ TỔNG TƯ LỆNH
THÂN YÊU NHƯ NGÀY NÀO”
(1)

Thượng tướng HOÀNG MINH THẢO
NHẬT HOA KHANH thực hiện

Một buổi chiều đầu tháng 4-2001, tôi đạp xe tìm đến nhà riêng Thượng tướng Hoàng Minh Thảo (số 69 Phùng Chí Kiên, quận Cầu Giấy, Hà Nội). Căn biệt thự mới xây dựng đang được mở rộng. Vôi, vữa, đất, cát chất từng đống trong sân.

Một ông già hơi cao, vóc dáng vừa phải, hồng hào và khỏe mạnh đang đứng ở cổng biệt thự tiễn một vị khách. Đoán chừng đây là người mà mình muốn gặp, tôi hỏi: Thưa anh, anh là Thượng tướng Hoàng Minh Thảo? Ông không trả lời mà chỉ mỉm cười thân mật, mời tôi vào một căn phòng nhỏ đầy sách báo. Vừa pha trà, ông vừa giải thích: “Đây là căn nhà của các con trai tôi, một cháu đi vắng tương đối lâu ngày, vợ chồng tôi ở tạm căn hộ này của cháu”.

Thế là tôi được “nhìn tận mặt, bắt tận tay” vị Đại đoàn trưởng Đại đoàn 304, Tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên, Chỉ huy trưởng trận Buôn Ma Thuột (tháng 3-1975), Nhà giáo nhân dân, Giáo sư, giám đốc Học viện Quân sự Cấp cao, Viện trưởng Viện Chiến lược Quân sự đã về hưu. Qua sách báo, tôi được biết năm nay ông tròn 80 tuổi (sinh năm 1921), những lúc này, trước mắt tôi, dáng vẻ quắc thước và hiền hậu của Thượng tướng khiến tôi nghĩ ông chỉ độ 70 tuổi.

Tôi nói với vị lão tướng: Tôi ở thành phố Hồ Chí Minh ra Hà Nội từ giữa tháng 3 (2001) nhưng hôm nay mới tới gặp và đề nghị ông trả lời phỏng vấn về Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp nhân dịp kỷ niệm lần thứ 90 ngày sinh Đại tướng (25-8-2001) Ông vui vẻ bảo: Phát biểu về đồng chí Tổng Tư lệnh là việc cần thiết vì Võ Nguyên Giáp (tức anh Văn là một nhân vật lịch sử lớn. Chúng ta phải làm việc với nhau nhiều buổi. Sau lần đầu tiên đến với Thượng tướng, trong vòng gần bốn tháng, tôi còn tới nhà riêng của ông thêm mười hai lần nữa. Lần nào tôi đến, ông cũng trực tiếp bổ sung cẩn thận từng câu từng chữ trong bài trả lời.

* Đề nghị Thượng tướng, nếu có thể, phát biểu một câu vắn tắt về Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp

Nói vắt tắt về bất cứ vấn đề gì cũng khó, về Võ Nguyên Giáp càng khó, vì đồng chí Tổng Tư lệnh để lại dấu ấn của mình trên nhiều lĩnh vực, trước hết là quân sự rồi đến chính trị, văn hóa, đạo đức, v.v.

Tuy nhiên, tôi vẫn nói rằng Võ Nguyên Giáp là một trong những nhân vật lịch sử lớn của lịch sử Việt Nam thế kỷ XX.

Riêng trên lĩnh vực quân sự, Võ Nguyên Giáp là nhân vật nổi bật hàng đầu trong phong trào giải phóng dân tộc ở nước ta và có thể, trên toàn thế giới.

* Thưa Thượng tướng, Thượng tướng được biết và được làm việc với Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp từ khi nào?

Câu hỏi của anh tuy đơn giản nhưng đối với tôi, thật xúc động.

Tám chữ Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp gợi ngay lên trong tâm trí tôi hỉnh ảnh quân đội ta suốt 31 năm máu lửa từ ngày còn trứng nước tới ngày toàn thắng. Tám chữ Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp gợi ngay lên trong tâm trí tôi cuộc đấu tranh của toàn dân vì độc lập dân tộc, vì phẩm giá con người, trong đó, mấy triệu chiến sĩ, hầu hết là thanh niên, đã mãi mãi yên nghỉ trong lòng Đất mẹ.

Ngừng một lát sau những giọt nước mắt, vị lão tướng nói tiếp:

Tôi vốn có may mắn và vinh dự được biết tên các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp từ năm 1940, hồi hoạt động bí mật ở Trung Quốc, nhưng chưa được gặp cả hai. Mãi tới cuối năm 1942, tôi mới được gặp đồng chí Võ Nguyên Giáp ở đầu hang Pác Bó (huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng) và từ đó, được vinh dự chiến đấu dưới sự chỉ huy trực tiếp hoặc chỉ đạo của anh Văn cho tới khi kết thúc thắng lợi cuộc chống Mỹ, cứu nước.

* Xin Thượng tướng phát biểu ý kiến về nhân vật lịch sử lớn Võ Nguyên Giáp trong những giai đoạn đặc biệt của cuộc trường chinh giải phóng dân tộc ta từ trước Cách mạng Tháng Tám đến ngày toàn thắng

Trong nhiều giai đoạn đặc biệt của lịch sử dân tộc như mấy năm trước Cách mạng Tháng Tám, ngót một năm rưỡi sau Cách mạng Tháng Tám (từ tháng 8-1945 đến cuối năm 1946), bốn năm chiến đấu trong vòng vây (cuối năm 1946 đến năm 1950), bốn năm cuối cuộc kháng chiến chống Pháp (1951-1954) và hai mươi năm chống Mỹ, ở bất cứ giai đoạn đặc biệt nào, ở bất cứ bước ngoặt lịch sử nào, Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp cũng thể hiện rất rõ tài năng quân sự và quân chính (tức công tác chính trị trong quân đội) của mình. Ngoài ra, đồng chí còn thể hiện vững vàng phong cách ung dung bình tĩnh của một vị tướng đứng đầu toàn quân, ngay cả trong những năm tháng đồng chí ở vào hoành cảnh gay go nhất.


(1) Bài đăng trên Tạp chí Xưa & Nay, số 97, tháng 8 năm 2001, tr.4-10 (Tựa do Ban Biên tập đặt).
« Sửa lần cuối: 12 Tháng Hai, 2011, 07:00:41 AM gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #96 vào lúc: 06 Tháng Hai, 2011, 05:58:31 PM »

* Thưa Thượng tướng, nghiên cứu sự nghiệp của Võ Nguyên Giáp, bản thân tôi nhận thấy Đại tướng, Tổng Tư lệnh bao giờ cũng triệt để thực hiện luận điểm của ông: “Phải giành bằng được chiến thắng ở mức cao nhất đi đôi với việc giảm xuống thấp nhất sự hy sinh xương máu của tướng sĩ”. Ý kiến của Thượng tướng về nhận xét ấy?

Tôi hoàn toàn đồng ý với nhận xét của anh. Nhân đây, tôi muốn nói rõ về luận điểm lớn này của đồng chí Tổng Tư lệnh.

Đại tướng, Tổng Tư lệnh không bao giờ chấp nhận một chiến thắng phải trả bằng bất cứ giá nào về xương máu tướng sĩ hoặc phải trả bằng cái giá quá đắt về xương máu tướng sĩ do những quyết định tùy tiện hoặc thiếu thận trọng gây nên. Không bao giờ, không bao giờ chấp nhận như vậy! Đừng nghĩ rằng Đại tướng, Tổng Tư lệnh “sợ” hy sinh xương máu! Đứng nghĩ rằng đồng chí Tổng Tư lệnh chùn bước sợ địch, không dám tiến công quân địch và thiếu tinh thần cách mạng tiến công! Không! Hoàn toàn không!

Đồng chí Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp chưa hề bao giờ nhân danh việc thực hành quan điểm cách mạng tiến công để đưa ra những mệnh lệnh chủ quan gây nên thương vong nghiêm trọng và vô lý cho các đơn vị, nhất là cho các sư đoàn.

Những đòn tiến công vừa táo bạo vừa cẩn trọng của đồng chí Tổng Tư lệnh chẳng những gây khiếp sợ cho quân địch mà đồng thời còn bảo toàn được chủ lực và bảo toàn được tính mạng của tướng sĩ với tỷ lệ cao.

Đồng chí Võ Nguyên Giáp luôn luôn ý thức được rất sâu sắc rằng: người chỉ huy các cấp nói chung, nhất là Tổng Tư lệnh, phải có trách nhiệm với từng vết thương và từng giọt máu của mỗi người lính. Tôi biết rõ đồng chí Tổng Tư lệnh nhiều đêm thao thức, nước mắt ướt đẫm vì được tin một chiến dịch nào, máu chiến sĩ đổ quá nhiều mà chiến thắng thì chưa tương xứng.

Đây là trái tim anh Văn! Đây là cách đánh và cách tiến công nhân văn chủ nghĩa của Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp!

Gương mặt hiền hậu của vị giáo sư lão tướng bỗng lặng đi một lát. Đôi mày ông chau lại. Sau một ngụm nước trà, giọng ông mạnh hơn: Nguyên tắc bất di bất dịch trong chỉ huy và chỉ đạo chiến trường của Đại tướng, Tổng Tư lệnh suốt hai cuộc kháng chiến là: tầm cao mỗi chiến thắng phải tỷ lệ nghịch với tổng số thương binh và tử sĩ trong chiến thắng ấy.

Tổng tiến công Tết Mậu Thận 1968, Khe Sanh, Quảng Trị, Đường 9 - Nam Lào, v.v. chứng tỏ hùng hồn rằng: nếu bỏ qua hoặc coi nhẹ nguyên tắc lớn nói trên thì tổn thất xương máu của chủ lực sẽ rất nặng và tầm vóc chiến thắng sẽ bị hạn chế.

Chiến sĩ và cán bộ chỉ huy các cấp càng ngày càng hiểu và yêu thương đồng chí Tổng Tư lệnh chính vì sự thực hiện triệt để trước sau như một của Tổng Tư lệnh đối với nguyên tắc "phải giành được chiến thắng ở mức cao nhất đi đôi với việc giảm xuống thấp nhất thương vong của tướng sĩ”.

Thượng tướng Hoàng Minh Thảo tạm dừng lời. Trong giây lát, tôi cảm tưởng tâm trí ông đang chập chờn hình ảnh những chiến trường mịt mờ khói đạn và hình ảnh những chiến sĩ trẻ xông lên, ngã xuống…

* Thưa Thượng tướng, về vai trò chỉ đạo và chỉ huy của Đại tướng, Tổng Tư lệnh đối với các chiến trường và các chiến dịch, Thượng tướng thấy thế nào?

Đại tướng, Tổng Tư lệnh rất nhiều lần ra trận chỉ huy trực tiếp. Nhưng ngay cả khi chỉ dạo từ tổng hành dinh, bằng nhiều cách, đồng chí vẫn luôn luôn gắn với chiến trường. Ai nấy đều biết rằng đồng chí Tổng Tư lệnh đặc biệt chú trọng đến việc đi kiểm tra mặt trận trong những trường hợp không cần thiết phải ra chiến trường trực tiếp chỉ huy.

Là Tổng Tư lệnh kiêm Bí thư Quân ủy Trung ương, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã trực tiếp chỉ huy thắng lợi nhiều chiến dịch lớn có tính chất quyết định về chiến lược. Đồng thời, suốt hai cuộc kháng chiến, đồng chí còn dành thời gian để trực tiếp chỉ đao và theo dõi việc chiến đấu của tất cả các quân chủng và binh chủng từ lục quân tới không quân và hải quân, từ tên lửa tới đặc công, từ công binh tới hậu cần, quân y, tình báo, v.v.

Đã có lần, trên đường đi thăm một đơn vị chiến đấu, Đồng chí Tổng Tư lệnh gặp máy bay phản lực Mỹ ném bom gần ôtô của mình và đồng chí phải nhảy khỏi xe, nằm rạp xuống mặt đất. Lần khác, cũng trên đường công tác, đồng chí đột ngột bị bệnh sỏi mật thập tử nhất sinh, phải đưa ngay về Hà Nội và sau đó chuyển ngay sang Liên Xô cứu chữa mấy tháng liền.

Đặc điểm của phong cách chỉ đạo và chỉ huy của đồng chí Tổng Tư lệnh là: hết sức cẩn trọng, xuất phát từ thực tiễn chiến trường, dám chịu trách nhiệm trước lịch sử, táo bạo nhưng không tùy tiền, đánh chắc thắng, giành thắng lợi cao nhất đi đôi với hạn chế cao nhất tổn thất xương máu của chiến sĩ.

Với đồng chí Tổng Tư lệnh, tư tưởng chiến lược chung của chiến tranh cách mạng (ở đây là chiến tranh giải phóng dân tộc Việt Nam) là tiến công và tiến công vừa liên tục vừa mãnh liệt nhưng về mặt tác chiến, điều đó không loại trừ tác chiến phng trong từng cuộc chiến đấu, trong một chiến dịch cụ thể và thậm chí, trong chiến lược. quan điểm đúng đắn này được chính Đại tướng Võ Nguyên Giáp bước đầu trình bày trong chương cuối cùng cuốn Tổng hành dinh trong mùa Xuân toàn thắng(1)

Quan điểm chỉ đạo và chỉ huy nói trên của Đại tướng. Tổng Tư lệnh đã được thực tiễn chiến trường chống Pháp và chống Mỹ chứng minh là đúng cả về thực tiễn lẫn về mặt lý luận.

Các đề xuất về chiến lược của đồng chí Tổng Tư lệnh bao giờ cũng thể hiện một tư duy quân sự nhìn xa trông rộng, bao giờ cũng chứa đựng những hạt nhân hợp lý và thể hiện một tinh thần trách nhiệm lớn đối với vận mạng của dân tộc.

Suốt hai cuộc kháng chiến, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã hoàn thành xuất sắc trọng trách Tổng Tư lệnh, Bí thư Quân ủy Trung ương (hồi đầu cuộc chống Pháp, gọi là Bí thư Tổng Quân ủy) và đã cùng các đồng chí khác trong Bộ Chính trị, trong Quân ủy Trung ương, trong Bộ Tổng tư lệnh chỉ đạo toàn quân thực hiện thắng lợi đường lối chính trị và đường lối quân sự của Đảng dưới ánh sáng tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh.

Suốt hai cuộc kháng chiến, chưa bao giờ Bô Chính trị bác bỏ bất cứ một đề xuất chiến lược nào của Bí thư Quân ủy Trung ương kiêm Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp hoặc của tập thể Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh.

Đây là một sự thật.


(1) Xem: Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010.
« Sửa lần cuối: 12 Tháng Hai, 2011, 07:09:18 AM gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #97 vào lúc: 07 Tháng Hai, 2011, 06:30:26 AM »

* Thưa Giáo sư, Thượng tướng, nghiên cứu về sự nghiệp Võ Nguyên Giáp, bản thân tôi còn thấy Đại tướng, Tổng Tư lệnh là một nhà lý luận quân sự, một nhà tư tưởng quân sự. Ý kiến của Giáo sư, Thượng tướng?

Tôi nhất trí với nhận xét của anh: Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp còn là một nhà lý luận quân sự và một nhà tư tưởng quân sự. Từ thực tiễn chống Nhật, chống 18 vạn quân Tưởng, chống pháp và chống Mỹ, Đại tướng, Tổng Tư lệnh đã viết mấy chục tác phẩm về vô số vấn đề quan trọng của cuộc đấu tranh vũ trang ở nước ta. Những tác phẩm này, trên thực tế, đóng vai trò chỉ đạo chính trị, chỉ đạo tư tưởng và chỉ đạo cả chiến lược lẫn chiến thuật quân sự cho toàn quân, nhất là cho cán bộ chỉ huy các cấp.

Tính lý luận trong các tác phẩm quân sự của Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đạt tới trình độ cao. Tư tưởng quân sự Võ Nguyên Giáp là tư tưởng chỉ dạo và chỉ huy độc đáo và sáng tạo của Bí thư Quân ủy Trung ương kiêm Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đối với các chiến dịch, các chiến trường cả nước và nước bạn suốt hai cuộc kháng chiến dưới ánh sáng tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh và đường lối quân sự của Đảng.

Lý luận và tư tưởng quân sự Võ Nguyên Giáp luôn luôn xuất phát từ tình hình thực tiễn chiến trường, góp phần tích cực làm đổi mới cục diện chiến trường và tịch cực tạo ra chiến thắng trên chiến trường. Đồng chí Tổng Tư lệnh có nhiều sáng tạo trong chỉ huy, trong chỉ đạo và trong lý luận quân sự suốt hai cuộc kháng chiến. Ở đây, tôi chỉ nêu lên một số dẫn chứng tiêu biểu trong nhiều dẫn chứng tiêu biểu.

Thời kỳ đầu cuộc chống Pháp, chính đồng chí sáng tạo ra cơ chế “Đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung”. Nhờ vậy, trong hoàn cảnh bấy giờ, mỗi đại đội và mỗi tiểu đoàn đều gắn bó với nhân dân nhiều hơn và đều phát huy được tốt nhất tiềm năng của mình trong việc tiêu diệt địch.

Trong chiến dịch Biên giới (1950), chính đồng chí sáng suốt đề xuất ra phương án đánh Đông Khê thay cho phương án đánh Cao Bằng.

Trong chiến dịch Đông - Xuân 1953-1954, khi chuẩn bị chiến dịch Điện Biên Phủ, dưới sự chỉ đạo của Bác Hồ và Ban Thường vụ Trung ương Đảng, Đại tướng, Tổng Tư lệnh đã chủ trương phân tán quân Pháp ra khắp các chiến trường Đông Dương để chúng khó ứng cứu Điện Biên Phủ. Đây là một mưu kế chiến lược cao.

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ (1954), chính đồng chí đề xuất ra phương án “đánh chắc, tiến chắc” thay cho phương án “đánh nhanh, thắng nhanh” phiêu lưu và duy ý chí. Nhờ vậy, mấy vạn chiến sĩ không bị hy sinh, hầu hết các đơn vị chủ lực của toàn quân đã được bảo toàn về cơ bản sinh lực của mình ở Điện Biên Phủ.

Ngay từ thời chống Pháp, Đại tướng đã nêu lên quan điểm về ba thứ quân (dân quân du kích, bộ đội địa phương và bộ đội chủ lực), trong đó đặc biệt nhất mạnh đến vai trò bộ đội chủ lực và việc thành lập các đại đoàn (về sau gọi là sư đoàn).

Ngay sau khi kết thúc thắng lợi cuộc chống Pháp, chính Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một trong những nhà lãnh đạo đầu tiên của Đảng và Nhà nước khẳng định phải tiếp tục cuộc cách mạng giải phóng dân tộc bằng cuộc chống Mỹ theo đúng tư tưởng của Bác Hồ.

Vào những năm đầu chống Mỹ, các đồng chí Nguyễn Văn Vịnh, Trần Văn Trà, v.v. đề xuất việc làm đường Trường Sơn để chuyên quân, vũ khí, thuốc men, v.v. vào Nam. Ban đầu, một số ý kiến còn ngần ngại và chưa hăng hái lắm. Trong bối cảnh ấy, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nhận ngay ra tầm quan trọng chiến lược của con đường mạch máu cực lớn trong tương lai này. Đồng chí khẳng định ngay: việc làm đường Trường Sơn là một công tác đột xuất và lâu dài của toàn quân. Đồng chí cũng xác định ngay: đường Trường sơn phải được gấp rút thực hiện từng bước, dù giai đoạn đầu vô cùng gian khổ. Tháng 5-1959, Nghị quyết 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng xác định đường lối của cách mạng miền Nam ra đời. Dưới ánh sáng Nghị quyết 15, Quân ủy Trung ương đã ra nghị quyết thành lập Đoàn 559 về vấn đề làm đường chiến lược Trường Sơn.

Vấn đề đường chiến lược Trường Sơn được đồng chí Bí thư thứ nhất Lê Duẩn tán thành mạnh mẽ.
« Sửa lần cuối: 12 Tháng Hai, 2011, 07:01:33 AM gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #98 vào lúc: 07 Tháng Hai, 2011, 06:31:07 AM »

Với các cương vị Bí thư Quân ủy Trung ương, Tổng Tư lệnh và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đặc biệt theo dõi vấn đề làm con đường chiến lược trọng yếu này. Anh Văn lập tức và liên tục tạo mọi điều kiện thuận lợi để đồng chí Võ Bẩm và sau đó, lần lượt là các đồng chí Phan Trọng Tuệ, Đồng Sĩ Nguyên trực tiếp chỉ huy việc xây dựng đường Trường Sơn, từng bước trở thành hiện thực, từ đường thô sơ tiến dần lên một hệ thống đường cơ giới, đường ống, đường sông phong phú và kỳ diệu.

Đường Trường Sơn (tức đường Hồ Chí Minh) là một trong những mối quan tâm lớn và thường xuyên của anh Văn suốt cuộc chống Mỹ.

Cũng cần phải nói rõ: anh Văn còn hết sức lo lắng và chăm sóc đến việc hình thành và phát triển đường Hồ Chí Minh trên biển. Khi đọc bức điện báo cáo chuyến tàu bí mật chuyển hàng vượt biển Đông từ miền Bắc vào miền Nam sau khi băng qua vô số gian khổ đã tới đích thắng lợi, anh đã khóc vì quá xúc động.

Gần cuối cuộc chống Mỹ, đồng chí Võ Nguyên Giáp đề xuất ra việc khẩn trương thành lập các quân đoàn để nhân sức mạnh tổng hợp của các sư đoàn. Đề nghị ấy vượt qua nhiều khó khăn, tới tháng 10-1973, mới chính thức bước đầu được thực hiện với sự thành lập Quân đoàn 1.

Về vấn đề này, tôi xin nói thêm: năm 1971, khi đánh Đường 9 - Nam Lào, ta đã thành lập B70 (mang hình thức quân đoàn nhưng chưa phải là quân đoàn). Lúc ấy, từ Tây Nguyên, tôi và các đồng chí chỉ huy quân sự ở Tây Nguyên đã điện cho anh Văn hoan nghênh chủ trương thành lập B70 của anh Văn, coi đây là một biểu hiện của việc thực hiện đúng quy luật phát triển quân đội ta. Anh Văn ủng hộ sự hoan nghênh đó của chúng tôi bằng cách tích cực vượt mọi khó khăn, xúc tiến việc thành lập Quân đoàn 1 như trên đã nói.

Chiến dịch giải phóng miền Nam Mùa Xuân 1975 đã chứng minh quan điểm nói trên về việc thành lập các quân đoàn của đồng chí Tổng Tư lệnh đã sáng tạo và chính xác, đáp ứng nhạy bén yêu cầu của thực tiễn chiến trường, đáp ứng nhạy bén yêu cầu của sự phát triển quân đội và quy luật phát triển của chiến tranh với thời điểm đó.

Mùa xuân 1975, mưu kế chiến lược của Võ Nguyên Giáp là ghìm lực lượng cơ động của địch ở hai đầu nam bắc của toàn chiến trường miền Nam (tức Huế - Đà Nẵng và Sài Gòn) làm cho địch sơ hở ở Tây Nguyên để khi ta giải phóng Tây Nguyên thì quân ngụy không còn lực lượng dự bị cơ động cứu Tây Nguyên nữa. Đây là một mưu kế chiến lược sáng suốt, nhìn xa trông rộng của anh Văn.

Trước khi rời Hà Nội vào Tây Nguyên, tôi đến chào và xin thêm ý kiến của Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng và Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp tại nhà riêng mỗi đồng chí.

 Tại nhà riêng của anh Văn, bản thân tôi được anh trực tiếp nhắc nhở, phân tích mưu kế chiến lược trên, đồng thời nhấn mạnh về nghi binh. Anh Văn còn dự đoán: nếu địch thua đau ở Tây Nguyên, chúng sẽ co cụm về đồng bằng để cố thủ. Anh cũng hứa sẽ tăng cường ngay cho Tây Nguyên hai sư đoàn để quân ta có sức mạnh áp đáo.

Trước khi tiễn tôi ra cửa, đồng chí Bí thư Quân ủy Trung ương kiêm Tổng Tư lệnh đặc biệt lưu ý tôi: giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột và toàn bộ Tây Nguyên là quyết tâm chiến lược và mệnh lệnh chiến lược của Bộ Thống soái tối cao (tức Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh) đứng đầu là đồng chí Bí thư thứ nhất Lê Duẩn sau nhiều lần thảo luận vô cùng kỹ lưỡng. Vì vậy, anh Văn nói tiếp, giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột và toàn bộ Tây Nguyên là trách nhiệm của toàn quân, trước hết là trách nhiệm của Bộ Tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên, trước lịch sử.

Đôi mắt của Đại tuớng, Tổng Tư lệnh ánh lên những tia nhìn quyết tâm và tin tưởng mãnh liệt ở sức mạnh của quân đội ta. Gương mặt đồng chí Tổng Tư lệnh trở nên rắn rỏi hơn và rạng rỡ hơn nữa.

Anh Văn siết chặt tay tôi và chúc tôi lên đường chiến thắng.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #99 vào lúc: 07 Tháng Hai, 2011, 06:32:13 AM »

Tôi ra trận lần này với vũ khí mới, đó chính là quyết định quả cảm và sáng suốt của Bộ Thống soái tối cao cùng những lời chỉ dẫn, những dự đoán của đồng chí Tổng Tư lệnh.

Trên chiến trường, quân ngụy trúng kế của anh văn: lực lượng cơ động của quân ngụy bị ghìm chặt ở hai đầu nam - bắc của toàn miền Nam.

Trên chiến trường, thực tế diễn ra đúng như dự đoán của anh Văn: khi bị thua đau ở Tây Nguyên, địch lập tức co cụm về đồng bằng để cố thủ.

Sau khi đồng chí Võ Nguyên Giáp nhanh chóng tăng cường cho Tây Nguyên hai sư đoàn nữa, ta có thêm lực lượng để thực hiện nghi binh ở Plâycu và có thêm lực lượng áp đảo để đánh địch phản kích ứng cứu Buôn Ma Thuột, buộc địch phải hoản loạn rút bỏ Tây Nguyên. Nhờ vậy, Plâycu, Kon Tum, ta không đánh mà thắng! Cái hay chính là ở đó! Nói một cách khác, đây cũng là một mưu kế chiến lược sáng suốt nữa của đồng chí Tổng Tư lệnh.

Mùa xuân 1975, vào những giờ phút sôi động và khẩn trương, chính anh Văn đã kịp thời quyết định lập cánh quân phía Đông do đồng chí Lê Trọng Tấn làm Tư lệnh và đồng chí Chu Huy Mân làm Chính ủy.

Mùa xuân 1975, chính anh Văn đã ra mệnh lệnh “Thần tốc, thần tốc hơn nữa; táo bạo, táo bạo hơn nữa, tranh thủ từng giờ từng phút xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam; quyết chiến và toàn thắng”. Mỗi đảng viên và chiến sĩ thuộc Quân đoàn 2 đều nhận được mệnh lệnh này và ai nấy đều hiểu rõ đó chính là hồi trống vang rền thôi thúc chiến đấu, chính là điệu kèn xung trận. Tư lệnh cánh quân phía Đông Lê Trọng Tấn và Tư lệnh Quân đoàn 2 Nguyễn Hữu An (thuộc cánh quân phía Đông) cùng toàn thể quân đoàn vượt hàng ngàn cây số, “bay” vào Sài Gòn sớm nhất trong năm cánh quân. Một đơn vị xe tăng của quân đoàn đã tiến vào Dinh Độc Lập, góp phần kết thúc thắng lợi chiến dịch 55 ngày đêm giải phóng miền Nam.

Cũng vào mùa Xuân 1975, chính anh Văn và các đồng chí khác trong Quân ủy Trung ương đề xuất với Bộ Chính trị vấn đề giải phóng Trường Sa. Bộ Chính trị nhất trí. Anh Văn trực tiếp chỉ đạo và theo dõi việc giải phóng Trường Sa. Hải quân ta đã đánh bật hải quân ngụy, giải phóng tất cả các đảo do quân ngụy Sài Gòn chiếm giữ trong quần đảo Trường Sa.

Rõ ràng, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã đưa ra đúng lúc nhiều mưu kế chiến lược, tài tình hoặc những mệnh lệnh, những phương án đặc sắc có tầm chiến lược suốt hơn 30 năm chiến tranh nhân dân giải phóng dân tộc.

Rõ ràng, những phương châm, phương án, những mệnh lệnh, mưu kế nói trên chứng tỏ năng lực xuất sắc về mặt phân tích thực tiễn và về mặt phân tích lý luận của đồng chí Tổng Tư lệnh.

Nhân đây, tôi cần nhấn mạnh: anh Văn là một nhà quân sự có tư duy sắc sảo về chiến tranh nói chung và về chiến tranh giải phóng dân tộc Việt Nam nói riêng.

Chương X “Đôi dòng suy ngẫm” (tức chương cuối cùng của cuốn hồi ức Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng nói trên) đã góp phần chứng minh hùng hồn điều đó.

Những suy ngẫm trong chương này có giá trị của một trong những bản tổng kết ngắn gọn. Bản Tổng kết ngắn gọn này chứa đựng nhiều bài học thực tiễn và lý luận cốt lõi và sâu sắc về nghệ thuật quân sự không chỉ rút ra từ Mùa Xuân 1975, mà còn rút ra từ toàn bộ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Những sáng tạo và những quan điểm sáng suốt nói trên cùng với nhiều sáng tạo và nhiều quan điểm sáng suốt khác trong hai cuộc kháng chiến chứng tỏ thiên tài và bản lĩnh lớn của anh Văn, đồng thời chứng tỏ anh Văn là nhà lý luận quân sự lớn.
« Sửa lần cuối: 07 Tháng Hai, 2011, 06:43:28 AM gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM