Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 17 Tháng Mười, 2019, 03:57:42 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam  (Đọc 59116 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #70 vào lúc: 26 Tháng Một, 2011, 07:13:36 PM »

CỤ PHAN BỘI CHÂU LÀ MỘT ĐÁNG THIÊN SỨ,
MỘT LÃNH TỤ CÁCH MẠNG,
MỘT NHÀ VĂN HÓA LỚN
(1)

Hôm nay, tôi rất cảm động được đến dự cuộc họp lễ kỷ niệm 130 năm ngày sinh của cụ Phan Bội Châu, tôi không có bài chuẩn bị, tôi xin nói một vài suy nghĩ của tôi về cụ Phan. Trong Bộ Chính trị, tôi và một số đồng chí vẫn nhiều lần trao đổi, đánh giá về cụ Phan. Cụ Phan không chỉ là một nhà trí thức yêu nước bình thường. Cụ Phan Bội Châu là một lãnh tụ cách mạng, một nhà văn hóa lớn

Thời thơ ấu, được nghe cha tôi đọc về Thất thủ kinh đô, được mẹ tôi kể chuyện về phong trào Cần Vương, những câu về và truyện kể đã sớm hun đúc tình yêu quê hương đất nước của tôi. Lớn lên, vào lúc 14 tuổi, vào học trường Quốc học Huế, tôi kết bạn với một số học sinh yêu nước. Rồi hăng hái tham gia phong trào sôi nổi đòi ân xá cụ Phan Bội Châu. Đến khi cụ bị đưa vào Huế thì hằng tuần cứ đến chiều thứ năm, tôi cùng với anh Nguyễn Chí Diểu, anh Hải Triều, chị Bội Lan, chị Thể Chi và một số học sinh trường Quốc học, trường Đồng Khánh đến nghe ông già Bến Ngự nói chuyện. Ấn tượng để lại trong tôi rất sâu đậm. Toàn là những câu chuyện yêu nước thương nòi. Cụ Phan không chỉ là một người trí thức yêu nước như đã viết trên băng khẩu hiệu treo ở đây. Cụ là một chí sĩ lớn. Đạo đức cách mạng là gì? Là suốt đời yêu nước thương dân. Cụ Phan tiêu biểu cho đạo đức ấy. Còn nói về văn chương yêu nước thì sức sáng tác của cụ có thể nói là vào bậc nhất. Cụ là một nhà chí sĩ yêu nước, một nhà văn hóa lớn. Đúng như Nguyễn Ái Quốc đã sớm đánh giá, cụ Phan là một vị “thiên sứ” thức tỉnh 20 triệu đồng bào ta.

Thường đến Tết chúng tôi cùng nhau đến chúc tết cụ.

Có Tết, bài chúc do cụ Võ Liêm Sơn thảo:

      Phan tiên sinh là người hào kiệt
      Mười lăm năm học hết sách thánh hiền
      Gặp lúc đất ngả trời nghêng
      Lòng mẫn thế ư thiên chan chứa…


Cụ Phan Bội Châu lại có bài thơ chúc Tết thanh niên, đến đây tôi còn nhớ:

      Dậy! Dậy! Dậy!
      Bên án một tiếng gà vừa gáy,
      Chim trên cây vừa cất tiếng chào mừng.
      Xuân ơi, xuân có biết chăng?
      Thẹn cùng sông, buồn cùng nước, tủi cùng trăng.


Buồi tủi là do phải sống kiếp người dân mất nước. Rồi đến những câu:

      Đời đã mới, người càng nên đổi mới
      Mở mắt thấy rõ ràng tân vận hội
      Xúm vai mà xốc vác cứu giang san.


Hoặc những câu:

      Đừng ham chơi, ham mặc, ham ăn,
      Đúc gan óc để rời non lấp bể,
      Xôi máu nóng rửa vết nhơ nô lệ
      Mời thế này là mới hỡi chư quân.
      Chữ rằng: Nhật nhật tân, hựu nhân dân.


Đổi mới, lúc đó đã nói đến đổi mới rồi. Chúng tôi mỗi học sinh nam nữ nghe cụ cất tiếng kêu gọi, lòng sáng bừng lên như một bó đuốc, cảm thấy làm gì cũng làm được, bất chấp quên mình như thế nào, hy sinh như thế nào. Sức kêu gọi, sức hô hào của cụ Phan Bội Châu là như vậy.

Lúc cụ Phan Châu Trinh mất thì học sinh ở Huế cùng học sinh cả nước có phong trào để tang cụ Phan Châu Trinh. Chúng tôi đều học thuộc bài văn tế do cụ Phan Bội Châu sáng tác, nhắc đến khí khái của các nhà yêu nước lúc bấy giờ bị đày ra Côn Đảo.

Tôi còn nhớ câu:

Đặng, Hoàng, Ngô, ba bốn bác hàn huyên,
Khi chén rượu, khi câu thơ, ngoài cửa ngục lầm than mà khẳng khái.


Tôi muốn nói thêm: cũng chính vào lúc bấy giờ, anh Diểu, anh Hải Triều và tôi đã hình thành một nhóm nhỏ, một thứ câu lạc bộ. Anh em đến đọc sách báo bí mật, đã có báo Việt Nam hồn, le Paria. Và một hôm Hải Triều mang đến một bức ảnh Nguyễn Ái Quốc còn rất trẻ, đội mũ phớt, chúng tôi rất vui mừng và cùng tôi đều vô cùng khâm phục Nguyễn Ái Quốc. Ít lâu sau tôi có dịp đọc cuốn sách ABC du Marxisme (ABC chủ nghĩa Mác) ở nhà cụ Võ Liêm Sơn. Thế la chúng tôi đi từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa xã hội, đi một mạch, liên tục, rất tự nhiên, không phải mất 10 năm đi tìm đường mà cũng chẳng trải qua một cuộc tranh luận nào cả. Cho nên tôi thường nói, tại Huế tôi đã đến với bình mình của nhân loại. Tôi nghĩ rằng đây cũng là con đường mà nhiều người trong thế hệ thanh niên lúc bấy giờ đã trải qua. Và tôi rất thích, rất mừng là tại ngôi nhà của cụ Phan, có treo ở giữa tấm ảnh của Lênin. Lúc sau này, tôi mới biết từ lâu còn ở Trung Quốc, cụ đã viết một cuốn tiểu sử Lênin.

Một điều hiếm thấy trong lịch sử cách mạng các nước là: Các nhà yêu nước lớn của ta từ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh đến Huỳnh Thúc Kháng cuối cùng đã đi đến nhất trí với con đường của Nguyễn Ái Quốc, cho là con đường đúng đắn duy nhất. Điều đó là một diễm phúc của dân tộc.

Ngày nay, chúng ta đi theo con đường chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; chúng ta không quên những cống hiến của các vị tiền bối yêu nước trong đó có nhà chí sĩ, nhà văn hóa lớn, có vị “thiên sứ” Phan Bội Châu.

Tôi rất biết ơn cụ, rất nhớ cụ và hôm nay xin phát biểu mấy lời từ đáy lòng.


(1) Lời phát biểu của Đại tuóng Võ Nguyên Giáp trong lễ kỷ niệm 130 năm ngày sinh của cụ Phan Bội Châu tại Hà Nội (26-12-1967 - 26-12-1997), Bài đăng trên Tại chí Xưa & Nay, số 48, tháng 2 năm 1998, tr.9-10.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #71 vào lúc: 26 Tháng Một, 2011, 07:15:39 PM »

TRUNG ƯỚNG VƯƠNG THỪA VŨ,
MỘT NGƯỜI CON ƯU TÚ CỦA THỦ ĐÔ HÀ NỘI,
MỘT VỊ TƯỚNG ƯU TÚ CỦA QUÂN ĐỘI
NHÂN DÂN VIỆT NAM
(1)

Trung tướng Vương Thừa Vũ sinh ra tại một làngq uê ngoại thành Hà Nội, nhưng tên tuổi của anh gắn với Hà Nội qua hai sự kiện lịch sử.

Trước hết là cuộc chiến đấu 60 ngày đêm của quân và dân Thủ đô, khởi đầu cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp cách đây nửa thế kỷ. Sau này nhìn lại, mới biết và quân và dân Hà Nội lúc đó đã làm một điều mà theo nhiều nhà lý quận quân sự kinh điển thì khó mà làm được. Trong các cuộc chiến tranh cách mạng, chưa có trường hợp nột lực lượng vũ trang yếu kém đương đầu thắng lợi với một độ quân chính quy tại thành phố.

Hà Nội năm 1946 chiến đấu thắng lợi, tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận, giam chân một lực lượng chính quy khá đông, khoảng 6.500 quân Pháp trong thời gian khía dài là hai tháng, gấp đôi thời gian quy định, tạo điều kiện cho cả nước chuyển sang chiến tranh. Với cuộc rút lui thần kỳ của Trung đoàn Thủ đô, Hà Nội đã thực hiện xuất sắc chủ trương diệt địch đi đôi vứi giữ gìn lực lượng ta để kháng chiến lâu dài.

Đạt được kỳ tích trên là do đường lối đúng đắn sáng tạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự lãnh đạo chỉ huy của Quân ủy và Bộ Tổng Quân ủy, sự phối hợp chiến trường của quân và dân toàn quốc đang hừng hực khí thế chiến đấu từ Nam Bộ kháng chiến, ở Hà Nội là sự vùng dậy của quân và dân Thủ đô với tinh thần quật khởi của Cách mạng Tháng Tám, tinh thần quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh, của vệ quốc quân, tự vệ chiến đấu, tự vệ thành, tự vệ công nhân, công an xung phong… dưới sự lãnh đạo chỉ huy của Thành ủy, Ủy ban bảo vệ và Bộ Chỉ huy chiến khu Hà Nội.

Sự kiện lịch sử thứ hai là cuộc tiếp quản tưng bừng “năm cửa ô đón mừng đoàn quân tiến về” giải phóng Thủ đô sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, kết thúc cuộc kháng chiến lần thứ nhất.

Chúng ta đều biết Thủ đô ta nhiều lần đứng lên chống lại kẻ thù xâm lược. Chỉ đơn cử trận đại phá quân Thanh, Thăng Long đã được giải phóng bằng một cuộc tiến công trực diện của người anh hùng áo vải đánh ngay vào trung tâm, giải phóng Thủ đô.

Lần này, với đường lối chính trị, quân sự, sự chỉ đạo sáng suốt của Đảng, ta đã tiêu diệt địch ở Điện Biên Phủ đưa đến kết quả giải phóng Thủ đô. Đó là cách không trực tiếp đánh vào Thủ đô mà giải phóng Thủ đô và giải phóng toàn miền Bắc.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Đảng và Chính phủ chọn một đơn vị từ Thủ đô ra đi hẹn “ngày về”, nay trở lại: đó là Đại đoàn 308, trong đó có Trung đoàn thủ đô, thay mặt cho cả nước tiến vào tiếp quản Hà Nội, kéo lá cờ chiến thắng của Tổ quốc lên đỉnh cột cờ của Thủ đô giải phóng.

Trong hai sự kiện lịch sử kể trên, Trung tướng Vương Thừa Vũ có sự đóng góp quan trọng ở cương vị Chỉ huy trưởng mặt trận Hà Nội năm 1948, Chủ tịch ủy ban Quân chính Hà Nội năm 1954. Với những cống hiến ấy, Vường Thừa Vũ, một người con của Hà Nội, xứng đáng với quê hương anh hùng, xứng đáng là một ngươi con ưu tú của Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội.

Vừa qua, Hội đồng nhân dân thành phố đặt tên Vương Thừa Vũ cho một địa phương Hà Nội, cùng với tên một số vị tướng khác. Đây là một việc làm đúng đắn, phù hợp với lòng dân, với truyền thống của dân tộc của nền văn hóa Việt Nam.

Đối với quân đội ta, Trung tướng Vương Thừa Vũ là một nhà lãnh đạo chỉ huy ưu tú. Sau mặt trận Hà Nội, anh được Đảng và Chính phủ cử vào Liên khu IV với cương vị Khu phó.

Năm 1949, anh được giao nhiệm vụ Tư lệnh kiêm Chính ủy đầu tiên của Đại đoàn 308, đại đoàn được thành lập đầu tiên có nhiệm vụ đi tiên phong trong vận động chiến của bộ đội chủ lực. Cùng với các đồng chí lãnh đạo chỉ huy đại đội và các trung đoàn, anh đã dày công rèn luyện, xây dựng nên mô hinh binh đoàn chủ lực đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam, dẫn dắt Đại đoàn 308 đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, thực hiện xuất sắc: “Hễ đánh là thắng, hễ đánh là quyết định chiến trường”, xứng đáng với danh hiệu “Đại đoàn quân tiên phong”.

Trung tướng Vương Thừa Vũ là một vị tướng mẫu mực, có tác phong chính quy, có tính kỷ luật cao, chấp hành mệnh lệnh nghiêm, chỉ huy kiên quyết.

Tôi trân trọng giữ gìn trong ký ức một kỷ niệm không bao giờ quên đối với anh Vương Thừa Vũ. Tôi đã kể, ở đây cần nhắc lại, để nêu một điển hình “quân lệnh như sơn”, một yêu cầu cao về tính kỷ luật tuyệt đối, cần thiết để xây dựng quân đội cách mạng tiến lên chính quy hiện đại. trong chiến dịch Điện Biên Phủ, lúc đầu Đại đoàn 308 được giao nhiệm vụ đánh vào trung tâm Mường Thanh. Khi thay đoỏi phương châm tác chiến, lập tức thay đổi nhiệm vụ đánh sang phía Lao thu hút không quân địch để tạo điều kiện cho quân ta lui quân, thực hiện phương thức “đánh chắc, tiến chắc”. Thực hiện nhiệm vụ này khó khăn rất lớn, chiến trường chưa được chuẩn bị, tình hình địch chưa rõ, khó nhất là chưa có bảo đảm hậu cần. Nhận lệnh, anh Vương Thừa Vũ không ngại ngần, chỉ xin chỉ thị về quy mô sử dụng lực lượng. Tôi nói: “Toàn quyền quyết định, từ một tiểu đoàn đến cả đại đoàn. Hậu cần tự giải quyết. Đúng 4 giờ chiều nay xuất phát”. Lúc ra lệnh là 14 giờ 30. Tôi còn nhớ tiếng nói rắn rói của anh Vũ trong điện thoại: “Xin triệt để chấp hành mệnh lệnh”. Toàn đại đoàn lập tức lên đường tiến công thần tốc, vừa hành quân vừa đánh địch, tự giải quyết hậu cần, sau năm ngày giải phóng toàn bộ khu vực sông Nậm Hu, tiến sát Luông Phabăng. Được lệnh trở về, đại đoàn đã thần tốc quay lại kịp tham gia ngay đợt đầu cuộc tiến công tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. “Quân lệnh như sơn” là như vậy.


(1) Bài đăng trên Tạp chí Xưa & Nay, số 56, tháng 10 năm 1998, tr.5-6.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #72 vào lúc: 26 Tháng Một, 2011, 07:17:35 PM »

Anh Vường Thừa Vũ nhận nhiệm vụ gì cũng tận tâm, tận lực thi hành, hoàn thành bằng được.

Đại đoàn 308 thường được giao những nhiệm vụ khó khăn nhất, và “nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua”.

Những con người, những đơn vị như vậy, trong quân đội ta có nhiều; Trung tướng Vương Thừa vũ và Đại đoàn 308 là một điển hình tiêu biểu.

Thời gian chống Mỹ, cứu nước, anh đã được giao nhiệm vụ Tổng Tham mưu phó phụ trách công tác huấn luyện, rèn luyện cho các lực lượng chủ lực có nhiệm vụ bảo vệ hậu phương lớn miền Bắc cũng như những lực lượng bộ đội và cán bộ có nhiệm vụ lên đườngvào tiền tuyến miền Nam chống Mỹ, cứu nước. Trong công tác quan trọng này, anh đã coi trọng cả rèn cán và chỉnh quân, và là một tấm gương về nghiên cứu và học tập, đặc biệt là về tổng kết thực tiễn của chiến trường, của từng cuộc chiến đấu. Anh luôn lấy kết quả chiến đấu và thực tập làm thước đo chất lượng huấn luyện. Anh coi trọng cả hai khâu rèn cán và chỉnh quân, coi trọng cả mặt quân sự và chính trị. Nắm vững đường lối quân sự của Đảng, tư tưởng chiến lược là tiến công, còn về hình thức tác chiến thì có tiến công có phòng ngự, khi có người hiểu sai, thì anh vẫn kiên trì chân lý. Anh nghiên cứu đặc điểm chiến trường, theo dõi thực tiễn từng trận đánh, đề ra nội dung huấn luyện cụ thể, góp phần phát triển lý luận và nghệ thuật quân sự Việt Nam. Anh nói:

      “Bao năm chiến đấu nhiều thực tiễn,
      Xây dựng quân ta cách đánh riêng
      Cách đánh Việt Nam mang truyền thống
      Kết hợp thời đại với tổ tiên”.   

Có thể nói, Trung tướng Vương Thừa Vũ là một tấm gương về học tập, tổng kết thực tiễn và luyện quân.

Và bao trùm lên trên hết, Vương Thừa Vũ là một người cộng sản có đạo đức cách mạng, một vị tướng Trí, Dũng, Nhân, Tín, Liêm, Trung như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dạy.

Gần đây, Trung ương Đảng ta ra nghị quyết về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đặt trọng tâm từ nay đến năm 2000 vào nhiệm vụ xây dựng tư tưởng đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa lành mạnh trong xã hội, trước hết trong các tổ chức Đảng và Nhà nước, trong các đoàn thể quần chúng và trong từng gia đình.

Nói đến đạo đức cách mạng, Trung tướng Vương Thừa Vũ suốt đời tuyệt đối trung thành với đường lối của Đảng, với chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Anh được đao tạo trong một môi trường quân sự của chế độ Tưởng Giới Thạch, nhưng đến lúc giác ngộ cách mạng, anh đã theo đường lối chính trị, đường lối quân sự của Đảng và sớm trở thành một vị tướng xuất sắc của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Anh là một con người suốt đời vì nước, vì dân, sống có lý tưởng. Con người Vương Thừa Vũ thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh. Bác Hồ thường nói: Suy cho cùng là vấn đề ở đờilàm người. Ở đời và làm người, phải thương nước, thương dân, thương những người bị áp bức, bóc lột… Bác nhắc nhớ: Đồng chí càng phải thương yêu nhau, ăn ở thủy chung, có thế mới là con người cách mạng… Con người Vương Thừa Vũ là con người trung thực, tính tinh nghiêm nghị với tấm lòng nhân hậu, cương trực thẳng thắn, nhưng coi trọng đoàn kết thống nhất; chỉ huy kiên quyết đòi hỏi cấp dưới rất cao, nhưng rất mực dân chủ và thương yêu chiến sĩ, thương yêu đồng chí. Anh được cấp trên cấp dưới, đồng cấp, cán bộ, chiến sĩ toàn quân yêu mến và tin tưởng. Ban thân anh rất tôn trọng tình nghĩa, rất quý đồng chí, đồng đội. Anh có lối sống cần kiệm, giản dị, liêm khiết, mẫu mực, không chạy theo danh lợi, luôn luôn nghĩ đến làm việc có ích cho xã hội, cho quân đội. Tôi đã đến thăm nhà anh ở ngoại thành Hà Nội, cùng ăn bữa cơm rất thôn dã. Chị Hợp, vợ anh Vũ nấu món cá kho rất ngon. Đó là một gia đình đầm ấm. Chị Hợp đã từng chịu đựng biết bao gian khổ từ khi anh Vũ bị bắt giam hết nhà ngục Hỏa Lò, căng Bá Vân đến Nghĩa Lộ. Đó là một gia đình cách mạng, có hạnh phúc, từ những lúc khó khăn, mức sống không khác gì của cán bộ khác.

Hôm nay, nhớ đến anh Vương Thừa Vũ, trước hết chúng ta cần học tập đạo đức, lối sống của anh, cũng tức là thực hiện đạo đức, lối sống, thể hiện được những gì tốt đẹp của nền văn hóa Việt Nam.

Có thể nói, trải qua các nhiệm vụ được giao, từ Chỉ huy trưởng mặt trận Hà Nội năm 1946, Đại đoàn trưởng 308, cho đến cương vị chỉ huy lãnh đạo các quân khu, Tổng Tham mưu phó Quân đội nhân dân Việt Nam, anh Vương Thừa Vũ luôn đem hết tinh thần và nghị lực hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, anh đã có đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng quân đội, đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, dưới ngọn cờ của Chủ tịch Hồ Chí Minh và củ Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nhân dịp này, chúng ta xin gửi đến chị Hợp, đến gia đình anh những tình cảm thân thiết nhất.

Chúng ta nhớ mãi hình ảnh của anh. Cán bộ và chiến sĩ ta, cựu chiến binh hay còn tại ngũ hãy học tập tấm gương sáng của Trung tướng Vương Thừa Vũ.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #73 vào lúc: 29 Tháng Một, 2011, 10:24:50 AM »

NGƯỜI ANH HÙNG VÀ CẢ CHIẾN CÔNG
SỐNG MÃI VỚI LỊCH SỬ DÂN TỘC
(1)

Trong lịch sử hàng ngàn năm chống giặc ngoại xâm, đấu tranh giành và bảo vệ nền độc lập dân tộc, đã có biết bao địa danh gắn liền với những chiến công hiển hách của các thế hệ người Việt Nam chúng ta. Từ Như Nguyệt, Chi Lăng, Xương Giang, Ngọc Hồi - Đống Đa, Rạch Gầm - Xoài Mút, Điện Biên Phủ cho đến chiến dịch Hồ Chí Minh Mùa xuân 1975 đã khắc sâu vào trang sử sách quốc gia và tâm khảm con người Việt Nam như những niềm tự hào to lớn.

Nhưng có lẽ, có một địa danh mang tên một con sông được nhắc đến không chỉ một lần rong lịch sử như những chiến công đánh giặc ngoại xâm mà cũng đưa con sông đó lên vị trí chiến lược trong sự nghiệp phòng thủ đất nước. Đó là con sông Bạch Đằng, cửa ngõ phía Đông Bắc ra biển của đất nước ta.

Chiến công Bạch Đằng của Ngô Vương Quyền đại phá quân Nam Hán mà hôm nay chúng ta long trọng kỷ niệm lần thứ 1.060 năm là một chiến công hiển hách không chỉ mang ý nghĩa một chiến thắng quân sự của quân và dân ta đối với quân xâm lược phương Bắc, mà quan trọng hơn, nó thể hiện sự chiến thắng của ý chí độc lập tự chủ của dân tộc ta. Chiến thắng Bạch Đằng với việc xác lập một triều đại Việt Nam độc lập, định đô tại Cổ Loa thực sự có một ý nghĩa to lớn như Đại Việt sử ký toàn thư đã viết: “Tiền ngô Vương có thể lấy quân mới hợp của đất Việt mà phá trăm vạn quân của Lưu Hoằng Tháo, cứu nước xưng vương làm cho người phương Bắc không dám lại sang nữa. Có thể bảo là một con giận mà yên được dân, mưu giỏi mà đánh cũng giỏi vậy. Tuy chỉ xưng Vương, chưa lên ngôi hoàng đế và đổi niên hiệu nhưng mà chính thống của nước Việt ta hầu ngõ đã nối lại được”.

Sau này, nhà yêu nước nổi tiếng thế kỷ XX, Phan Bội Châu đã tôn vinh Ngô Quyền với chiến công Bạch Đằng là “Vị tổ trung hưng của nước ta”.

Còn Bác Hồ trong diễn ca “Lịch sử nước ta” thì ca ngợi người anh hùng dân tộc một cách mộc mạc:

      Ngô Quyền người ở Đường Lâm
      Cứu dân ra khỏi cát lầm ngàn năm.


Nói đến sông Bạch Đằng, chúng ta không thể quên chiến công của Lê Đại Hành chặn đánh quân nhà Tống vào năm Tây Tỵ (981), cùng với chiến công tiêu diệt quân bộ ở ải Chi Lăng đã ngăn chặn cuộc xâm lược của phong kiến phương Bắc.

Và cách đây 770 năm, năm 1228, quân dân Đại Việt dưới sự chỉ huy của người anh hùng kiệt xuất Trần Hưng Đạo đã một lần nữa lập lại chiến công của bậc tiền bối Ngô Vương Quyền, đánh ta 600 chiến thuyền với 60.000 quân giặc, giành thắng lợi hoàn toàn cho cuộc kháng chiến ba lần chống giặc Nguyên - Mông.

Đúng như cảm xúc của Tiến sĩ Phạm Sư Mạnh đời Trần viết trong câu thơ:

      Hung hung Bạch Đằng đào
      Tưởng tượng Ngô Quyền thuyền


Tạm dịch:

      Bạch Đằng cuồn cuộn sóng đào
      Nhớ thuyền Ngô chúa ào ào thuở xưa.


Tinh thần tự chủ, tự tôn về nền độc lập dân tộc cũng như tài nghệ quân sự kiệt xuất của Ngô Quyền trong chiến trận Bạch Đằng năm xưa mãi mãi trở thanh niềm tự hào và di sản quý báu của nhân dân ta.

Chiến thắng Bạch Đằng do Ngô Quyền lãnh đạo thực sự có ý nghĩa như một cột mốc thời gian khẳng định của quyền của dân tộc ta chấm dứt hơn một ngàn năm đô hộ của phương Bắc bằng một trận đánh mang tính chất quyết chiến chiến lược và “nhanh nhất trong lịch sử”. Thực tiến của một thiên niên kỷ tiếp theo kể từ chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Quyền, năm 938 cho đến sự nghiệp kháng chiến cứu nước của thời đại Hồ Chí Minh cũng khẳng định và làm phong phú thêm bản lính đánh giặc và chủ nghĩa anh hùng của dân tộc ta đúc kết trong chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”.

Chính vì thế, nhớ lại người xưa, ôn lại chiến công xưa chính là giúp cho chúng ta tìm đến và làm giàu có hơn nguồn nội lực to lớn, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa của chúng ta hôm nay. Với tinh thần phát huy chủ nghĩa yêu nước, bản sắc văn hóa như Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII đề ra, chúng ta kỷ niệm chiến thắng Bạch Đằng và Anh hùng dân tộc Ngô Quyền như một việc làm thiết thực vì sự nghiệp bảo vệ, đổi mới và phát triển đất nước trước ngưỡng cửa của một thế kỷ mới đầy thử thách và triển vong.


(1) Bài đăng trên Tạp chí Xưa & Nay, số 58, tháng 12 năm 1998, tr.6.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #74 vào lúc: 29 Tháng Một, 2011, 10:26:46 AM »

HƯNG ĐẠO VƯƠNG TRẦN QUỐC TUẤN
VỊ ANH HÙNG DÂN TỘC KIỆT XUẤT
(1)

(Bài đọc tại Hội thảo khoa học kỷ niệm
700 năm ngày mất của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn
(1300-2000) tại Nam Định ngày 16-9-2000)

Nửa cuối thế kỷ XIII, trong vòng 30 năm (1257-1288), giặc Nguyên - Mông đã ba lần xâm lược nước ta và ba lần bị quân dân Đại Việt đánh bại hoàn toàn.

Bấy giờ, giặc Nguyên - Mông là đạo quân xâm lược mạnh nhất, hung bạo nhất thế giới. Từ những thảo nguyên bao la của miền Bắc Á, với tài phi ngựa bắn cung, đội quân Mông Cổ khét tiếng đã tung hoành khắp các lục địa từ Á sang Âu, nô dịch các dân tộc, thôn tính các quốc gia, lập nên một đế quốc rộng lớn từ Thái Bình Dương đến tận bờ Hắc Hải. Vó ngựa của chúng đi đến đâu gieo rắc sự hoang tàn hủy diệt đến đó.

Trong mưu đồ cuồng vọng của đế chế Nguyên - Mông, nước Đại Việt có vị trí đặc biệt quan trọng. Mục đích của chúng là thôn tính nước ta, mở đường tràn xuống vùng Đông Nam Á. Tuy nhiên, kẻ hiếu chiến đã không lường được rằng, chính Đại Việt là nơi chôn vùi uy danh của những đạo kỵ binh xâm lược đã từng là bách chiến bách thắng.

Tiến vào nước ta, giặc Nguyên - Mông đã gặp phải sức mạnh kháng chiến của cả một dân tộc. Nhân dân cả nước ta chung lưng đấu cật, kiên cường và mưu trí, liên tiếp chiến đấu và chiến thắng kẻ thù. Dân tộc ta không những đã bảo vệ quyền độc lập tự chủ của mình mà còn góp phần làm cho nhiều dân tộc khác thoát khỏi hiểm họa bị xâm lược và thôn tính.

Năm 1258, lần thứ nhất xâm lược Đại Việt, quân Nguyên - Mông tưởng rằng sẽ dễ dàng nuốt chửng nước An Nam nhỏ bé. Chúng nhanh chóng chọc thủng các tuyến phòng ngự của ta, tiến vào kinh đô. Triều đình và quân đội phải rút lui khỏi kinh thành để bảo toàn lực lượng. Kẻ địch không ngờ rằng chỉ chín ngày sau khi chiếm được Thăng Long, kỵ binh của chúng đã lâm vào tình trạng thiếu lương ăn, bị chặn đánh khắp nơi, ngày càng thế suy lực yếu. Đòn phản công mạnh mẽ của quân ta ở Đông Bộ Đầu đã khiến đoàn quân viễn chinh vừa qua khí thế hung hăng, nhanh chóng bị tan rã, hoảng loạn và tháo chạy. Đó là thất bại lớn đầu tiên của đội kỵ binh thiện chiến người Mông Cổ.

Hai mươi bảy năm sau (1285), sau khi đánh bại nhà Tống lập nên triều Nguyên ở Trung Quốc, giặc Nguyên - Mông lại phát động chiến tranh xâm lược Đại Việt với quy mô lớn gấp nhiều lần. Đại quân của chúng do Thoát Hoan và Toa Đô chỉ huy từ phía bắc đánh xuống, từ phía Nam tiến lên, hình thành hai gọng kìm giáp công xâm lược. Chúng đã đem sức mạnh sáu chục vạn đại quân, kết hợp kinh nghiệm chinh phạt còn nóng hổi của quân Mông Cổ với kinh nghiệm lâu đời của chủ nghĩa bành trướng phương Bắc, tưởng chừng như trong chốc lát tiêu diệt quân chủ lực của ta, bắt triều đình nhà Trần phải quy phục. Lần nữa, chúng lại không ngờ vấp phải sức mạnh kháng chiến quyết liệt của toàn dân ta. Tinh thần và ý chí “Sát Thát” từ Hội nghị Binh Than tới Hội nghị Diên Hồng đã được nhân lên trong cuộc chiến tranh giữ nước. Cả dân tộc không thể đội trời chung với kẻ thù, toàn dân thực hiện mệnh lệnh của triều đình: “Tất cả các quận huyện nơi có giặc đến phải liều chết mà đánh; nếu không đánh được cho phép trốn vào rừng núi, không được đầu hàng giặc”.

Quân xâm lược đi đến đâu cũng bị quân địa phương và dân binh của ta tiến đánh, lương thảo nơi đồng nội đều bị giấu sạch. Quân giặc phải rảu quân chiếm đóng, sức tiến công ngay càng giảm sút. Quân đội và triều đình nhà Trần thực hành rút lui chiến lược để tránh cái khí thế hăng hái lúc ban mai, đánh cái khí thế tàn lụi lúc buổi chiều của giặc. Trong vòng năm tháng liền, quân Nguyên - Mông muốn đánh mà không được đánh: càng ngày càng sa vào hao mòn, mệt mỏi, thiếu thốn “như bị treo lơ lửng ở khoảng giữa”, tài phi ngựa bắn cung không thi thố được. Nhằm thời cơ ấy, quân ta chuyển sang phản công. Hàm Tử, Chương Dương, Tây Kết, Vạn Kiếp - các trận quyết chiến liên tiếp diễn ra, giành thắng lợi dồn dập. Thành Thăng Long được giải phóng. Thoát Hoan thế cùng phải chui vào ống đồng mới thoát thân. Quân và dân Đại Việt lập nên chiến công hiển hách, đánh bại hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ hai của giặc Nguyên - Mông.


(1) Bài đăng trên Tạp chí Xưa & Nay, số 79, tháng 9 năm 2000, tr.5, 26-27,27.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #75 vào lúc: 29 Tháng Một, 2011, 10:27:38 AM »

Năm 1288, lần thứ ba quân Nguyên - Mông lại một lần nữa xâm lược Đại Việt. Rút kinh nghiệm hai cuộc chiến tranh trước, lần này quân giặc hành quân thận trọng. Chúng chuẩn bị đầy đủ lực lượng, gồm cả bộ binh, kỵ binh và thủy binh tinh nhuệ, lại mang theo cả lương thảo và quyết chí phục thù, tiêu diệt bằng được quân chủ lực và bắt sống triều đình nhà Trần. Nhưng, cũng như hai lần kháng chiến trước, quân Nguyên đi đến đâu cũng bị gặp phải sức kháng cự mãnh liệt của quân dân các địa phương, còn lương thảo thì đi đâu cũng bị giấu sạch. Lần này, ngay từ đầu Trần Quốc Tuấn đã chủ động rút lui, từng bước dẫn dắt quân địch vào thế trận đã bày sẵn. Quân giặc sa vào thế trận làng nước của chiến tranh nhân dân Việt Nam, thiếu lương ăn, thương vong ngày một nhiều, ốm đau do trời nóng nực, tinh thần sụp đổ. Khi bất ngờ nhận được tin đoàn thuyền lương Trương Văn Hổ bị tiêu diệt thì bọn tướng soái nhà Nguyên vô cùng hoảng loạn. Thoát Hoan cùng Ô Mã Nhi vội chia quân rút theo hai đường thủy, bộ. Nhưng với trận quyết chiến Bạch Đằng lịch sử, toàn bộ đạo thủy quân địch đã bị tiêu diệt và bị nhấn chìm trong sóng nước. Chủ tướng giặc là Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp bị bắt sống, quân của Thoát Hoan bị tiêu diệt phần lớn trên đường rút lui từ Vạn Kiếp đến biên cương. Cuộc kháng chiến lần thứ ba của quân và dân Đại Việt giành được thắng lợi rực rỡ. Tư đó giặc Nguyên - Mông từ bỏ ý đồ xâm lược nước ta.

Như vậy, hồi thế kỷ XIII, dưới triều Trần, dân tộc ta hoàn toàn dựa vào sức mình, không có sự chi viện từ bên ngoài đã phải ba lần đương đầu với những đạo quân xâm lược mạnh nhất và hung hãn nhất thời đại và đã đánh thắng chúng. Kẻ địch tiến vào nước ta ào ào như gió, như lửa. Chúng phá vỡ các phòng tuyến của ta, cả ba lần đều chiếm được kinh thành Thăng Long và nhiều địa bàn quan trọng khác.

Trước khí thế hung hãn chưa từng có của giặc Nguyên - Mông, dân tộc Việt Nam không hề biết sợ. “Tiểu dân thanh dã, đoản binh phục hậu”, từ miền ngược đến miền xuiôi, từ núi rừng đến sông biển, tất cả các quận huyện trong nước, hễ giặc đến đều đứng lên đoàn kết chiến đấu, dựa vào thôn xóm, làng bản, địa hình hiểm trở để kiên quyết chống trả. Tổng kết ba lần cuộc kháng chiến, cả nước chỉ có hai hương không chống giặc khi chúng đi qua, còn ở đâu cuộc chiến đấu cũng kiên cường, ở đâu quân và dân ta cũng gây cho quân xâm lược những tổn thất nặng nề và cuối cùng bị đánh bại.

Sức mạnh của nước Đại Việt thời Trần bắt nguồn từ sức sống mãnh liệt, từ nền văn hóa hàng nghìn năm của dân tộc, từ lòng yêu nước, chí khí đấu tranh bất khuất, từ truyền thống nhân ái và cố kết, trí thông minh và sáng tạo được tôi luyện trong quá trình chiến đấu chống ngoại xâm. Dưới thời Trần, chế độ phong kiến tập quyền đang ở vào thời kỳ hưng thịnh: nhiều chính sách tiến bộ về kinh tế và văn hóa đã được thi hành. Nền văn minh Đại Việt đang trên đà phát triển rực rỡ với hào khí Đông A nổi tiếng. Chính nhờ vậy mà khi giặc đến thì cả nước cùng đánh, sức mạnh cả dân tộc đã được huy động; khi giặc lui thì toàn dân lại ráo riết chuẩn bị, đề phòng. Đánh một trận rồi đánh hai trận, ba trận, trận sau lớn hơn và thắng lợi to hơn, cuối cùng đã toàn thắng.

Trong sự nghiệp hiển hách ba lần chiến thắng quân xâm lược Nguyên - Mông thế kỷ XIII, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn có vai trò đặc biệt quan trọng. Ông là một nhà chính trị, quân sự đa tài, được vua Trần tin yêu, giao quyền Tiết chế, thống suất cả vương hầu, tông thất, tướng lĩnh, điều động binh nhung, khí giới. Khi quân Nguyên - Mông xâm lược lần thứ nhất (1258), ông được cử chỉ huy các tướng lĩnh điều quân thủy bộ bảo vệ vùng biên giới Tây Bắc. Trong cuộc kháng chiến lần thứ hai (1285) và thứ ba (1288), ông được cử làm Quốc công tiết chế, thống lĩnh toàn quân đánh giặc.

Bảnh lĩnh của Trần Quốc Tuấn thể hiện ở quyết tâm diệt địch và thắng địch không gì lay chuyển. Ngay những lúc gian nan nguy nhiểm nhất, ông vẫn tin vào thắng lợi, giữ vững lòng quân lòng dân. Đặc biệt, trong cuộc kháng chiến clân thứ hai (1285), khi sự mất còn của nền độc lập nước nhà chỉ con trong gang tấc, quân xâm lược đã chiếm được nhiều địa bàn trọng yếu, trong đó có cả kinh thành Thăng Long và phủ Thiên Trường, một bộ phận quý tộc và quan lại triều Trần đã có người nao núng, hàng giặc, Trần Quốc Tuấn đã hiên ngang bất khuất, giữ vững lòng tin son sắt vào thắng lợi. Câu nói bất hủ của ông: “Bệ hạ muốn hàng trước hết hãy chém đầu thần đi đã”, đã nêu một tấm gương lớn về tinh thần quyết chiến và ý chí “Sát Thát” trước triều định, trước toàn quân và toàn dân ta.
« Sửa lần cuối: 04 Tháng Hai, 2011, 08:31:02 PM gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #76 vào lúc: 29 Tháng Một, 2011, 10:31:27 AM »

Tài năng của Trần Quốc Tuấn biểu hiện ở chỗ ông nhận thức rất rõ dân ta là nguồn sức mạnh giữ nước. Nguồn sức mạnh đó phải được xây dựng, bồi dưỡng lâu dài trong thời bình cũng như trong thời chiến, bằng nhiều chính sách kinh tế, văn hóa, xã hội. Ông chủ trương: “Khoan thư sức dân, làm kế sâu dễ bền gốc là thượng sách giữ nước”.

Ông xem việc đoàn kết nội bộ là một nhân tố cực kỳ quan trọng đê tọa thành sức mạnh. Nhìn lại ba cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông thắng lợi, ông xác định: “Vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục, nước nhà chung sức” là nhân tố đã làm cho “quân địch phải chịu bị bắt” (bị tựu tự cầm). Ông rất coi trọng đoàn kết quân và dân, đoàn kết trong quân đội “như cha con một nhà”.

Chính nhờ nguồn sức mạnh đó mà dân tộc Việt Nam đã có thể đứng vững và vượt qua những thử thách ghê gớm của họa xâm lăng khốc liệt do Đế quốc Nguyên - Mông gây ra.

Trần Quốc Tuấn là vị thống soái có tài năng quân sự tuyệt vời. Nắm vững yêu cầu chiến lược lấy nhỏ thắng lớn, cả nước đánh giặc, ông chủ trương lấy đoản binh chống trường trận, xem đó là điều thường trong binh pháp nước ta; kết hợp tác chiến của quân triều đình với tác chiến và đấu tranh của lực lượng dân quân các địa phương: “Tiểu dân thanh dã, đoản binh phục hậu”.

Cái tài giỏi của Trần Quốc Tuấn là biết chuyển tình thế từ hiểm nghèo thành thuận lợi, xoay chuyển thế trận, tạo nên thời cơ. Và khi thời cơ đến thì chuyển sang phản công, tiến công, chọn đúng hướng, đúng mục tiêu, đánh những trận quyết định, khiến kẻ thù không kịp trở tay, trong chốt lát đã thất bại.

Tài thao lược của Trần Quốc Tuấn nổi bật là tính chủ độnglinh hoạt, “biết người biết mình”, chủ động điều địch, chủ động đánh địch, “xem xét quyền biến… tùy thời mà làm”.

Câu trả lời của ông với vua Trần Nhân Tông: “Năm nay đánh giặc nhàn” khi quân Nguyên tiến công xâm lược lần thứ ba (1288), chứng tỏ vị chủ tướng đã biết rõ địch, biết rõ ta, phân tích sâu sắc tình hình thực tiễn và làm chủ được quy luật của chiến trận. Trong cuộc kháng chiến này, giặc chưa bị đánh lớn mà đã sợ hãi rút chạy, rốt cuộc bị tiêu diệt trên sông Bạch Đằng và ở biên giới. Đó là kết quả kỳ diệu của phương pháp dùng binh độc đáo của ông.

Trần Quốc Tuấn quả là một vị tướng mưu lược, là con người của những quyết định lớn trong những thời cơ lớn.

Nghệ thuật quân sự trong cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông là đỉnh cao của nghệ thuật chiến tranh nhân dân bỏa vệ Tổ quốc của dân tộc ta trong thời đại phong kiến. Người đề ra và vận dụng thiên tài chiến lược, chiến thuật chiến tranh nhân dân đó không ai khác là Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Lần đầu tiên trong lịch sử đấu tranh vũ trang của dân tộc ta, đã xuất hiện hình thái thế trận của dân chúng đánh giặc ở khắp các xóm làng, kết hợp chiến đấu của quan triều đình với quân các lộ và dân binh, tiêu diệt địch trong những trận lớn, xây dựng một thế trận rộng mà sâu, mạnh mà vững, luôn luôn chủ động, luôn luôn tiến công, tạo nên sức mạnh to lớn, chiến thắng quân thù.

Trần Quốc Tuấn không chỉ là vị thống soái lãnh đạo thắng lợi cuộc kháng chiến mà ông còn là một nhà lý luận, một nhà tư tưởng quân sự nổi tiếng. Từ lời Hịch kêu gọi tướng sĩ đầy khí phách hiên ngang đến bản Di chúc lịch sử, những nội dung tư tưởng tiên tiến của ông đã được khẳng định. Ông đã dày công nghiên cứu, tổng kết kinh nghiệm đấu tranh của dân tộc, học tập những tư tưởng quân sự tiến bộ của nước ngoài, rút ra những điều tinh túy, kết hợp với những tri thức quân sự từ thực tiễn chỉ đạo chiến tranh của mình, viết thành những bộ binh thư có giá trị nhằm phục vụ cho sự nghiệp giữ nước. Trần Quốc Tuấn đã để lại cho đời nhiều tác phẩm lý luận quân sự có giá trị, khẳng định một bước phát triển quan trọng của khoa học quân sự Việt Nam. Với Trần Quốc Tuấn, một học thuyết quân sự Việt Nam trong thời đại phong kiến đã hình thành, học thuyết quân sự dân tộc trong chiến tranh giữ nước. Chính trên cơ sở này, Lê Lợi - Nguyễn Trãi phát triển thành học thuyến quân sự dân tộc trong khởi nghĩa nông dân, chiến tranh giữ nước.

Những quan điểm tư tưởng chính trị - quân sự của ông về dựa vào dân, khoan thư sức cho dân, về xây dựng khối đại đoàn kết trong hoàng tộc và triều đình, tronng toàn quân và cả nước, về phương châm chiến lược “dĩ đoản, chế trường”, “quân đội cốt tinh không cốt nhiều, trên dưới một dạ như cha con”… là những tư tưởng tiên tiến, đúng đắn và sáng tạo, vượt thời đại mãi mãi vẫn còn nguyên giá trị”.

Trần Quốc Tuấn là anh hùng kiệt xuất không chỉ về tài năng quân sự, mà còn có đạo đức tiêu biểu của một vị chủ tướng. Ông luôn nêu tấm gương sáng ngời về lòng trung nghĩa, ý thức gạt bỏ mọi hiểm khích riêng tư để đoàn kết tông thất, triều đình và tướng lĩnh, tạo nên một cội nguồn của thắng lợi. Ông chủ trương “bạt dụng lương tướng”, dùng người hiền lương, biết chọn và đào tạo tướng giỏi, thường trọng dụng và tiến cử những người tài giúp nước. Ông quý trọng những người cộng sự, thương yêu binh lính và họ cũng hết mực trung thành với ông; đội quân phụ tử của ông đã trở thành đội quân bách thắng.

Triều đình nhà Trần đã xây dựng nên một đội ngũ tướng lĩnh kiên cường tài giỏi, đoàn kết nhất trí, phần đông là văn võ song toàn. Lịch sử đời đời ghi nhớ chiến công và thành tích của các vị tướng như Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Phạm Ngũ Lão, Trần Khánh Dư, Lê Phụ Trần, Trần Quốc Toản, Trần Bình Trọng, Đỗ Khắc Chung cho đến Yết Kiêu, Dã Tượng…

Năm 1289, trong niềm vui toàn thắng, đô thành bị đổ nát, đất nước hoang tàn, vua Nhân Tông hạ chỉ gấp rút tu sửa lại thành trì Thăng Long. Trần Quốc Tuấn can rằng: “Việc sửa lại thành trì không cần kíp lắm. Việc cần kíp triều định phải làm ngay không thể chậm trễ được là việc úy lạo nhân dân. Hơn 4 năm quân giặc hai lần tràn sang đánh phá, từ nơi núi rừng đến nơi đồng ruộng đều bị tàn phá hầu hết. Vậy mà dân chúng vẫn còn một lòng hướng về triều đình, xuất tài, xuất lực, đi lính, đóng thuế làm nên một lực lượng mạnh cho triều đình chống nhau với giặc. Nay nhà vua đã được trở về yên ổn, việc cần làm trước hết là chú ý ngay đến dân. Những nơi nào bị tàn phá, tùy tình trạng nặng nhẹ mà cứu tế. Nơi nào bị tàn phá nặng có thể miễn tô thuế mấy năm. Có như thế dân mới nức lòng càng quy hướng về triều đình hơn nữa. Người xưa đã nói: “chúng chí thành thành”. Đó mới là cái thành cần sửa chữa ngay. Xin nhà vua xét kỹ”. Vua Trần Nhân Tông đã nghe theo lời khuyên.

Trần Quốc Tuấn quả là một nhân cách lớn, có tấm lòng vì dân, vì nước. Tuy ở ngôi cao chức trọng mà vãn giữ tiết nhã nhặn, không tự tiện làm những việc trái với kỷ cương phép nước, ông không ham lợi giàu sang, lòng trung trong sáng, được mọi người tôn quý và tin yêu. Ông không lạm dụng quyền hạn. Vì có công lớn, ông được phong làm “Thượng quốc công”, được quyền tự ban thưởng cho người khác. Sử sách chép lại rằng, ông đã cẩn trọng giữ gìn chưa hề tự mình ban thưởng cho ai.

Những chiến công đánh bại đế quốc Nguyên - Mông, những cống hiến trên lĩnh vực lý luận, tư tưởng và nghệ thuật quân sự của Trần Quốc Tuấn đã đưa ông lên hàng ngũ anh hùng dân tộc, thiên tài quân sự Việt Nam, xứng đáng là một danh nhân quân sự tầm cỡ thế giới.

Với tài năng chính trị, quân sự kiệt xuất, với tấm lòng tận trung với vua, với nước, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đã cùng với triều đình nhà Trần và quân dân Đại Việt bảo vệ trọn vẹn độc lập dân tộc, đưa triều đại nhà Trần lên hàng triều đại thịnh trị trong lịch sử trung đại, để lại những bài học lịch sử có giá trị về dựng nước và giữ nước. Những thành tựu về võ công và văn trị, những giá trị vật chất và tinh thần thời Trần đã làm vẻ vang lịch sử dân tộc, là niềm tự hào lớn lao cho Tổ quốc ta.
« Sửa lần cuối: 08 Tháng Hai, 2011, 09:05:48 PM gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #77 vào lúc: 29 Tháng Một, 2011, 10:32:44 AM »

Lịch sử sang trang.

Bước vào thời kỳ cận đại và hiện đại, các nước đế quốc phương Tây, với nền kinh tế phát triển, đã mang quân xâm lược thuộc địa khắp các châu lục. Nhân dân ta đã phải sống kiếp ngựa trâu hàng trăm năm dưới ách thống trị của thực dân Pháp. Cho đến khi Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà yêu nước vĩ đại đến với chủ nghĩa Mác - Lênin tìm ra con đường cứu nước. Từ đó, giai cấp đã gắn với dân tộc, độc lập dân tộc đã gắn với chủ nghĩa xã hội, lợi ích quốc gia đã gắn với lợi kích quốc tế. Truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc đã phát huy lên tầm cao mới. Toàn dân ta đã vùng lên đưa Tổng khởi nghĩa Tháng Tám đến thành công, lập ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á. Nhà nước kiểu mới ấy không những “khoan sức cho dân” mà đã trở thành nhà nước của dân, do dân, vì dân. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định, nhân dân là người chủ của đất nước. Tiếp đó, trong khi chính quyền ma con đang trứng nước, toàn dân ta đã phải đương đầu với cuộc xâm lược của chủ nghĩa đế quốc Pháp rồi chủ nghĩa đế quốc Mỹ. Trong suốt 30 năm trường, trên đất nước ta đã diễn ra một cuộc đọ sức lịch sử khốc liệt nhất, dân tộc ta đã giành được thắng lợi oanh liệt nhất, với những kẻ thù mạnh hơn ta gấp nhiều lần, kể cả kẻ thù mạnh nhất thế giới. Chiến tranh nhân dân Việt Nam đã phát triển đến một trình độ cao chưa từng thấy. Học thuyết quân sự Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh đã hình thành.

Với thị trấn “Không có gì quý hơn độc lập, tự do, toàn dân ta đã chịu đựng những hy sinh không bờ bến, cuối cùng giành được thắng lợi hoàn toàn.

Đó là vì với mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, cuộc đấu tranh dân tộc không chỉ mang lại Độc lập, Thống nhất cho đất nước mà còn mang lại Tự do, Hạnh phúc cho giai cấp công nhân, nhân dân lao động, cho toàn dân ta và góp phần vào sự nghiệp cách mạng thế giới. Chúng ta chiến đấu vì đại nghĩa, cho nên tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ rộng khắp và mạnh mẽ của nhân loại tiến bộ. “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết”; đoàn kết giai cấp, đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế, tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn chiến thắng mọi kẻ thù.

Từ khi hòa bình được lập lại, đất nước hoàn toàn độc lập và thống nhất, non sông thu về một mối, Đảng ta đã đề ra đường lối đổi mới, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. chỉ trong một phần tư thế kỷ, chúng ta đã giành được những thắng lợi mới hết sức to lớn về mọi mặt. Tuy nhiên, nhìn thẳng vào sự thật, ham muốn tột bậc của Bác Hồ: làm cho dân giàu nước mạnh, mang lại hạnh phúc cho dân, cho đến nay mới được thực hiện bước đầu. Nước ta vẫn còn là một nước đang phát triển, một ngước nghèo và lạc hậu, còn xa mới đáp ứng được yêu cầu rất cao về năng suất lao động, về hiện đại hóa khoa học và công nghệ, nhằm cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân dưới chế độ xã hội chủ nghĩa. Do vậy, rõ ràng cuộc đấu tranh chống nghèo nàn và lạc hậu còn là một nhiệm vụ hết sức to lớn của dân tộc ta. Cuộc đấu tranh ấy, như Bác Hồ đã nói, còn khó khăn hơn nhiều so với cuộc chiến đấu chống đế quốc và phong kiến.

Như các nghị quyết của Trung ương đã đề ra, hướng đột phá có ý nghĩa quyết định là phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, vì đó là “tiền đề của mọi tiền đề” của chủ nghĩa xã hội như Mác đã nói, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, từng bước thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng ngày càng tiếp cận với nền kinh tế tri thức, giữ vững và phát huy nền văn hóa dân tộc, thực hiện bằng được giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ thực sự là quốc sách hàng đầu, phát triển mạnh mẽ nội lực cho đất nước trước hết là tiềm năng to lớn của con người, trên cơ sở đó chủ động hôi nhập với khu vực và thế giới theo nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi. Và nhiệm vụ có ý nghĩa quyết định là thực hiện bằng được Cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng ta thực sự trong sạch và vững mạnh, là lương tâm trí tuệ và danh dự của giai cấp và của dân tộc.

Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, với trí tuệ và nghị lực sáng tạo của toàn dân, cả nước đoàn kết một lòng, chúng ta tin tưởng vững chắc trong thiên niên kỷ tới, dân tộc Việt Nam ta dưới ngọn cờ tất thắng của Đảng, của Bác Hồ nhất định sẽ biến ước mơ nói trên thành hiện thực, đưa đất nước ta sánh vai với các nước trung bình, các nước phát triển trên thế giới.

Tiến hành cuộc hội thảo về anh hùng dân tộc Trần Quốc Tuấn trong thời điểm sắp bước vào thiên niên kỷ thứ ba, chúng ta càng tự hào về thành tự lớn lao của dân tộc ta từ 700 năm về trước cho đến cả thế kỷ XX. Chúng ta càng tưởng nhớ và biết ơn bao anh hùng và liệt sĩ thuộc biết bao thế hệ đã ngã xuống vì đại nghĩa để chúng ta có được ngày nay.

Với tinh thần ấy, hội thảo của chúng ta không những có ý nghĩa ôn lại truyền thống của cha ông mà còn nâng cao tinh thần trách nhiệm và niềm tin của mỗi một người dân vào tương lai của Tổ quốc Việt Nam.[
« Sửa lần cuối: 04 Tháng Hai, 2011, 08:35:17 PM gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #78 vào lúc: 29 Tháng Một, 2011, 10:34:28 AM »

NHỚ PHAN BÔI(1)

Anh Phan Bôi - Hoàng Hữu Nam đối với tôi là bạn đòng học và bạn đấu tranh cách mạng ngay từ thơi niên thiếu, tại trường Quốc học, Huế. Về sau, trong những năm mặt trận dân chủ, đã từng là bạn đồng nghiệp cùng viết báo của Đảng và cùng hoạt động cách mạng tại Hà Nội.

Đặc biệt, từ những năm đầu Cách mạng Tháng tám thắng lợi, trong Chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, anh đã từng là người cộng tác gần gũi với tư cách là Thứ trưởng Bộ Nội vụ mà tôi là Bộ trưởng, cùng nhau làm việc trong Hội đồng Bộ trưởng, dưới sự lãnh đạo của Bác Hồ.

Anh Hoàng Hữu Nam là một cán bộ tốt của Đảng, có tinh thần hết lòng phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, lại có tài năng, gần gũi với bạn bè, đoàn kết với đồng chí.

Anh ra đi đột ngột, để lại lòng tiếc thương vô hạn đối với chúng tôi.

Mong rằng con cháu trong nhà noi gương của ba, của ông, phục vụ cho nhân dân và Tổ quốc, gương mẫu trên mọi cơng vị học tập và công tác.

Hà Nội, ngày 12-10-2000
Võ Nguyên Giáp     



(1) Bài đăng trên Tạp chí Xưa & Nay, số 90, tháng 4 năm 2001.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #79 vào lúc: 29 Tháng Một, 2011, 10:35:37 AM »

PHÁT BIỂU CỦA ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP
VỀ THƯỢNG TƯỚNG VŨ LĂNG
(1)

Hai cuộc trường kỳ kháng chiến vĩ đại của dân tộc ta chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã san sinh ra những vị tướng vừa có phẩm chất, vừa có tài năng trưởng thành từ cơ sở. Vũ Lăng từng đảm nhiệm cấp tiểu đoàn ngay từ những ngày đầu Thủ đô Hà Nội đứng lên kháng chiến. Tiếp theo đó đã từng là trung đoàn rồi sư đoàn, trung đoàn ở Điện Biên Phủ, sua đó là sư đoàn rồi Tư lệnh Quân khu, Phó Tư lệnh Tây Nguyên, rồi Quân đoàn trưởng, rồi cuối cùng trong cuộc tấn công và nổi dậy là Quân đoàn trưởng quân đoàn 3, quân đoàn trong chiến dịch Hồ Chí Minh đã đánh chiếm Bộ Tổng Tham mưu ngụy.

Vũ Lăng không những là một vị tướng quân sự giỏi mà còn là một nhà nghiên cứu khoa học quân sự đã từng nhận trách nhiệm Phó Cục trưởng Cục Khoa học quân sự, Phó Viện trưởng Viện Khoa học quân sự, và đã có thời gian là Cục trưởng Cục Tác chiến, cục quan trọng nhất trong Bộ Tổng Tham mưu và cuối cùng là Giám đốc Học viện Lục quân Đà Lạt trong một thời gian dài.

Như vậy là đã lập được chiến công trên mặt trận trong hầu hết các chiến dịch từ Biên giới đến Điện Biên Phủ cho đến chiến dịch Hồ Chí Minh và trong nghiên cứu khoa học quân sự, làm tác chiến, đã có những đề xuất, những ý kiến sắc sảo, tỏ ra có trí tuệ sáng tạo tốt.

Vũ Lăng lúc làm việc có quyết tâm cao, bất cứ trong hoàn cảnh nào, thuận lợi hay khó khăn đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, cho nên được các bạn đồng đội, các bạn chỉ huy rất mến phục, đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân rất tốt.

Tôi nhớ mãi những năm tháng làm việc với Vũ Lăng, tôi làm việc gần như thường xuyên. Vũ Lăng là một trong những cán bộ mà khi giao việc thì tin là nhiệm vụ được hoàn thành. Vũ Lăng là con người như thế.

Vũ Lăng mất đi nhưng đã để lại một tấm gương sáng cho cán bộ trong toan quân ta và cán bộ lực lượng vũ trang.


(1) Bài đăng trên Tạp chí Xưa & Nay, số 153, tháng 12 năm 2003, tr. 13.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM