Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 09 Tháng Mười Hai, 2019, 05:32:26 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975, tập 7  (Đọc 66018 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9028


Lính của PTL


« Trả lời #50 vào lúc: 15 Tháng Một, 2011, 10:36:35 AM »

Trong lúc Tiểu đoàn 5 (Trung đoàn 95) tập kích địch ở làng Tri Bưu, thì Tiểu đoàn 7 (Trung đoàn 18) đánh chiếm và trụ chốt được ở cầu Sắt; Tiểu đoàn 5 (Trung đoàn 165) cùng với lực lượng của Trung đoàn 88 đánh chiếm một phần làng Đại Ngũ, trụ lại đánh địch phản kích.

Mặc dù có thêm 2 trung đoàn tăng cường và trên thực tế, bộ đội ta chiến đấu kiên cường, thu được một số kết quả, nhưng đợt phản kích thứ 5 của ta không đạt được mục tiêu đề ra, thế phòng ngự của ta ở thị xã Quảng Trị cho đến cuối tháng 8-1972 vẫn chưa được cải thiện.

Dù vẫn còn giữ được thị xã - Thành cổ Quảng Trị, nhưng lực lượng ta bị tổn thất và mất sức chiến đấu nhanh; mỗi trung đoàn chỉ còn 800 đến 900 quân, đại đội chỉ còn 20 đến 30 người, thậm chí con 4-5 tay súng. Trong lúc đó, cán bộ cấp trung đội, đại đội, tiểu đoàn phần lớn do đề bạt nhanh, nên không đáp ứng được yêu cầu chỉ huy đơn vị. Bên cạnh đó, vũ khí trang bị của ta cũng bị hao tổn lớn trong quá trình chiến đấu; một số đơn vị, súng bộ binh còn 30 đến 35%; pháo phòng không, xe tăng bị tổn thất nghiêm trọng, tên lửa đất đối không đánh B.52 hỏng hóc không có khí tài sửa chữa, thay thế; đạn dược không có cơ số dự trữ. Khó khăn, thiếu thốn của ta tạo ra so sánh lực lượng ngày càng có lợi cho địch.

Tới giữa tháng 8-1972, thay mặt Quân ủy Trung ương, đồng chí Võ Nguyên Giáp giao nhiệm vụ cho các phái viên vào chiến trường Trị - Thiên, truyền đạt ý định của Quân ủy Trung ương và phương hướng chuyển vào phòng ngự chiến dịch, phòng ngự hậu phương, củng cố thế trận từ hướng tây và đông. Thực hiện chủ trương của Quân ủy Trung ương, Bộ Tư lệnh chiến dịch chỉ thị cho các hướng, các đơn vị vừa khẩn trương hình thành, bổ sung, hoàn chỉnh kế hoạch tác chiến, vừa xây dựng trận địa phòng ngự. Mặc dù gặp mưa bão lớn, nhưng đến đầu tháng 9-1972, về cơ bản, bộ đội ta đã xây dựng được hệ thống phòng ngự liên hoàn, nhất là ở các khu vực trọng điểm, hình thành hệ thống điểm tựa, cụm điểm tựa, khu vực phòng ngự cấp trung đoàn, sư đoàn. Lúc này, Sư đoàn 325 phụ trách hướng phòng ngự chủ yếu. Hướng này bao gồm khu vực từ Cam Lộ, Đông Hà, Ái Tử, Nhan Biều đến thị xã Quảng Trị. Trên hướng phối hợp, ở phía tây quốc lộ 1, Sư đoàn 308 phòng ngự từ nam thị xã đến tích Tích Tường, Như Lệ, Tân Téo, điểm cao 105B; Sư đoàn 304 đảm nhiệm khu vực phòng ngự từ Trường Phước, động Ông Do, động Chiêm Dòng đến điểm cao 367. Phía đông quốc lộ 1, Sư đoàn 320B phòng ngự từ Triệu Phong đến Cửa Việt. Bên cạnh đó, ta cũng hình thành phương án chuẩn bị trận  địa, bố trí xung lực, hỏa lực, pháo mặt đất và phòng không, xe tăng bên bờ bắc sông Thạch Hãn đề phòng tình huống địch đánh sang. Như vậy, đội hình và trận địa phòng ngự chiến dịch đã được xác định và đây cũng là lúc cuộc chiến đấu bảo vệ thị xã - Thành cổ Quảng Trị diễn ra quyết liệt, gay go hơn hết.

Tại Pari, trên bàn đàm phán, phái đoàn ta và Mỹ sau hàng tháng trời họp bàn những chi tiết quan trọng của bản Dự thảo Hiệp định do mỗi bên đưa ra, đã thống nhất sẽ họp phiên chính thức vào trung tuần tháng 9-1972. Chính vì thế, cả ta và địch đều dồn sức đẩy mạnh hoạt động quân sự để đáp ứng đòi hỏi của đấu tranh ngoại giao; và chiến trường Trị - Thiên vẫn là “điểm nóng nhất” trên toàn bộ chiến trường miền Nam Việt Nam.

Sang đầu tháng 9-1972, địch đã hình thành được thế bao vây từ đông bắc đến tây nam thị xã Quảng Trị. Chúng đẩy mạnh các cuộc tiến công “lấn dũi” để củng cố bàn đạp tiến công ở Triệu Phong, nam và đông nam thị xã Quảng Trị, khu vực nam La Vang và tây Mỹ Chánh, chuẩn bị cho cuộc tiến công lớn, nhằm chiếm thị xã và Thành cổ trước ngày 14-9-1972. Song song với các cuộc tiến công đánh chiếm bàn đạp, địch đẩy mạnh các hoạt động tăng cường lực lượng và phương tiện chiến tranh. Sư đoàn thủy quân lục chiến được tăng cường 1 chi đội xe tăng M48 (từ Sư đoàn 1 bộ binh Quân đoàn 1 Việt Nam cộng hòa), Liên đoàn 1 biệt động quân, Thiết đoàn 17 kỵ binh, Chi đoàn 1 chiến xa; Sư đoàn dù cũng được tăng cường Liên đoàn 7 biệt động quân, 1 liên đội pháo hỗn hợp. Ngày 7-9, Quân đoàn 1 Việt Nam cộng hòa tăng cường thêm cho mỗi sư đoàn 2 xe phun lửa M125 và 4 xe trộn nhiên liệu. Để chuẩn bị thật kỹ lưỡng cho cuộc tiến công này, Bộ Tư lệnh Hải quân thuộc Vùng 1 duyên hải Quân lực Việt Nam cộng hòa đã điều các tàu chiến và tàu chở quân từ Đà Nẵng ra cửa biển Thuận An, thực hiện ý đồ nghi binh, thu hút sự chú ý của ta về hướng đổ quân từ biển, như đã làm trước khi mở cuộc hành quân Lam Sơn 72.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9028


Lính của PTL


« Trả lời #51 vào lúc: 15 Tháng Một, 2011, 10:38:08 AM »

Những ngày đầu tháng 9-1972, mưa trắng trời Quảng Trị - Thừa Thiên. Mực nuớc ở các sông Thạch Hãn, Nhùng dâng rất cao, ảnh hưởng đến việc cơ động lược lượng của bộ đội ta. Dù vậy, cán bộ, chiến sĩ ta không quản thời tiết khắc nghiệt và sự ngăn chặn gắt gao của hỏa lực không quân, hải quân và pháo binh địch, vẫn nêu cao quyết tâm bảo vệ thị xã và Thành cổ Qảng Trị. Bộ Chỉ huy chiến dịch chủ trương tập trung lực lượng thuộc 3 sư đoàn 304, 308 và 312 tăng cường cho lực lượng bảo vệ thành cổ, mở đợt phản kích mới hất địch ra khỏi thị xã. Để tăng sức chỉ huy, bảo đảm sự hợp đồng chiến đấu chặt chẽ giữa 2 sư đoàn 304 và 308, Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định cử đồng chí Phạm Hồng Sơn, Phó Tư lệnh, đồng chí Hoàng Minh Thi, Phó Chính ủy xuống trực tiếp chỉ huy 2 sư đoàn này.

Nhằm dòn đường cho đợt tiến công mới, ngày 7-9-1972, không quân, hải quân và pháo binh của Mỹ - ngụy mở đợt tập kích hỏa lực mang tên Phong lôi. Suốt 48 giờ, địch liên tục giội bom, bắn phá các trận địa ta ở khu vực thị xã và Thành cổ. Trong khi đó, máy bay B.52 rải nhiều thảm bom dọc theo bờ bắc sông Thạch Hãn, tập trung nhiều nhất vào khu vực Ái Tử, Đông Hà, Nhan Biều và các trận địa pháo của ta. Không quân Mỹ sử dụng các loại bom điều khiến bằng lade ném xuống các cổng thành cổ nhằm khai thông cửa ngõ tiến vào thành cổ.

Sau trận bão bom, 6 giờ sáng ngày 9-9-1972, trên hướng tiến công vào thị xã, Sư đoàn dù quân Sài Gòn chia làm hai cánh quân, một cánh đánh chiếm trại Gia Long (còn gọi là trại Hồ Đắc Hanh), cách nam Quảng Trị 2,5 km, nằm trên con đường nối La Vang tới thị xã Quảng Trị; cánh khác thọc vào Tích Tường, Như Lệ bám chặt bờ nam sông Thạch Hãn, ngăn chặn ta từ hướng tây thị xã. Tại phía bắc thị xã, Liên đoàn 1 biệt động quân sử dụng 2 tiểu đoàn 37 và 39 tiến chiếm Bích Khê, Nại Cửu, khóa chặt con đường từ thị xã đi Bích Khê, ngăn chặn ta từ phía bắc sông Vĩnh Định tiến qua và ở tả ngạn sông Thạch Hãn tiến sang chi viện cho lực lượng bảo vệ thị xã - Thành cổ.

Cùng lúc, Sư đoàn thủy quân lục chiến từ thôn Thạch Hãn chia làm các mũi, đồng loạt tiến công vào thị xã. Trên hai hướng nam và đông nam, Lữ đoàn 258 (gồm các tiểu đoàn 1, 2 và 6) vựo qua thôn Độ Tam, chiếm được sân vận động Quảng Trị, thôn đệ Ngũ, chiếc cầu dẫn vào bệnh viện thị xã, cách Thành cổ 400 m. Hướng bắc và đông bắc, Lữ đoàn 147 sử dụng Tiểu đoàn 3 làm mũi tiến công chủ yếu, từ làng Tri Bưu đánh vào góc phía đông bắc Thành cổ; mũi tiến công khác của Tiểu đoàn 7 dọc theo bờ sông Vĩnh Định, đánh vào tây bắc Thành cổ.

Ngay từ đầu, các mũi tiến quân của địch đều bị bộ binh và pháo binh ta ngăn chặn. Trong khi đó, Sư đoàn 308 mở các trận tiến công nhằm vào lực lượng Sư đoàn dù, đánh thiệt hại nặng các tiểu đoàn 7, 8, 6. Các trung đoàn thuộc Sư đoàn 308 n\hanh chóng hình thành đội hình đánh tạt sườn quân dù. Trung đoàn 209 đánh chiếm ngã ba Phước Môn, thôn Phú Long; Trung đoàn 24 diệt gọn 1 đại đội địch ở cầu Nhùng. Trung đoàn 102 tập kích địch ở ngã ba Long Hưng. Trong các cuộc giao tranh, cả hai bên đều bị tổn thất nặng. Về phía ta, Trung đoàn 102 (Sư đoàn 308) phải lui về phía tây Long Hưng để củng cố. Trung đoàn 24 không giữ được cầu Nhùng, phải lui về Trường Phước và bị kẹt lại ở đây vì nước lũ. Về phái địch, trong ngày tiến công đâu tiên, các mũi hướng tiến công đều bị ta ngăn chặn, bị tổn thất nặng nềm, buộc phải dừng lại củng cố. Nhân lúc địch ngừng tiến công, đêm 9-9, Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn 48) và Tiểu đoàn 5 (Trung đoàn 95) tập kích vào đội hình địch ở làng Hành Hoa, phía đông bắc Thành cổ, loại khỏi vòng chiến đấu 200 tên. Ngày 10-9, cuộc chiến đấu giữa ta và địch ở khu vực Thành cổ diễn ra quyết liệt hơn. Đã có lúc, 1 trung đội lính thủy đánh bộ lọt được vào khu vực Thành cổ. Tiểu đoàn 3 bộ đội địa phương Quảng Trị phản kích mạnh mẽ, tiêu diệt 11 tên, buộc số còn lại phải rút ra ngoài thành. Tuy vận, sức ép của địch ngày một tăng.

Được lực lượng biệt động và quân dù hỗ trợ, lực lượng lính thủy đánh bộ sau khi chiếm được trại Gia Long và La Vang, đã đồng loạt tiến công vào Thành cổ từ nhiều hướng. Ngày 13-8 Tiểu đoàn 6 (Lữ đoàn 258) lính thủy đánh bộ chiếm được góc đông nam Thành cổ. Ta phản kích quyết liệt, nhưng không ngăn chặn được lực lượng này. Ngày 15-9, Tiểu đoàn 3 (Lữ đoàn 147) lính thủy đánh bộ chiếm góc phía đông bắc Thành cổ và kiểm soát hoàn toàn cửa bắc. Lúc này, lực lượng giữ thành được tăng cường Tiểu đoàn 8 bộ đội địa phương Quảng Trị. Thế nhưng, trước sức tiến công ồ ạt của địch, bộ đội ta không cản được bước tiến của chúng. Ngày 15-9, Quân ủy Trung ương chỉ thị cho các lực lượng bảo vệ thị xã - Thành cổ, bằng mọi giá phải giữ vững trận địa. Chấp hành mệnh lệnh của Quân ủy Trung ương, ngày 16-9, Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định đưa Trung đoàn 18 vượt sông sang tăng cường cho lực lượng ở thị xã và Thành cổ. Lúc này, sông Thạch Hãn qua nhiều ngày mưa to, nước dâng rất cao; không quân, pháo binh địch đánh phá dữ dội, khống chế các bến vượtg dọc triền sông, phá hủy phần lớn các phương tiện vượt sông của ta. Do vậy, chỉ có bộ phận đi đầu của Trung đoàn 18 sang được bờ nam. Nhưng cùng lúc đó, các lực lượng trong Thành cổ và thị xã đã rút lui lúc 18 giờ ngày 16-9-1972.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9028


Lính của PTL


« Trả lời #52 vào lúc: 15 Tháng Một, 2011, 10:43:01 AM »

Sau khi rút khỏi khu vực thị xã và Thành cổ, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương yêu cầu bộ Chỉ huy chiến dịch nhanh chóng hình thành cách đánh mới, nhằm bảo đảm giữ vững thế trận; đồng thời, phái có phương án bố trí hệ thống trận địa phòng giữ hậu phương trực tiếp chiến dịch, đặc biệt là khu vực Ái Tử - Đông Hà - Cửa Việt; bên cạnh đó, cần có phương án luân phiên tác chiến để đưa các đơn vị ra phía sau để củng cố(1). Tiếp đó, tháng 10-1972, Bộ Chính trị và Thường vụ Quân ủy Trung ương chỉ thị cho Bộ Tư lệnh chiến dịch “phải dứt khoát dùng hình thức phòng ngự trận địa mới giành được thắng lợi”(2). Đây là sự nhạy bén lớn về mặt nhận thức trong chỉ đạo chiến lược, bởi trước đó, “hình thức phòng ngự trận địa” vẫn được xem là nhận thức sai lầm, đi ngược lại “tư tưởng cách mạng tiến công”. Quan điểm chỉ đạo của Bộ Chính trị, Thường vụ Quân ủy Tư đã nhanh chóng được quán triệt và là cơ sở để Bộ Chỉ huy chiến dịch xác định chủ trương tác chiến cho giai đoạn chiến đấu mới, đó là kiên quyết tiêu hao, tiêu diệt địch là chủ yếu để bảo vệ và phát triển vùng giải phóng, đồng thời tranh thủ củng cố lực lượng, chuẩn bị điều kiện để mở những trận phản công (tức phản đột kích) đẩy lùi địch, tiến tới đánh bại cuộc hành quân của chúng(3).

Từ cuối tháng 9 cho đến giữa tháng 10-1972, ta đã hình thành ba khu vực phòng ngự cơ bản: khu vực phía đông do Sư đoàn 320 phụ trách gồm Triệu Phong, Gio Linh; khu vực phía tây, do Sư đoàn 308 và 304 đảm nhiệm bao gồm phía tây đường số 1 từ bắc Mỹ Chánh đến phía nam Thạch Hãn(4); Khu Giữa - khu phòng ngự chủ yếu, gồm phía tả ngạn sông Thạch Hãn, từ Nhan Biều, Ái Tử, Phượng Hoàng đến Đông Hà, Cam Lộ do Sư đoàn 325 đảm nhiệm. Các khu vực, các hướng hợp thành hệ thống phòng ngự hoàn chỉnh, vững chắc và ngày càng được củng cố, phát triển.

Vào thời điểm này, lực lượng quân đội Sài Gòn ở Quảng Trị tuy bị hao tổn lớn, nhưng chúng nhanh chóng bổ sung lực lượng và phương tiện chiến đấu, gấp rút hoàn chỉnh phương án đánh chiếm toàn bộ tỉnh Quảng Trị bằng cuộc hành quân mang tên Lam Sơn 72A. Với lực lượng chủ yếu của 2 sư đoàn lính thủy đánh bộ và Sư đoàn dù, từ nửa cuối tháng 9-1972, địch đẩy mạnh nỗ lực quân sự trên hai hướng là đông và tây, hòng mở rộng bàn đạp để tiến lên chiếm khu vực Ái Tử, Đông Hà. Ở hướng đông, Sư đoàn thủy quân lục chiến tiến công các mục tiêu như An Lộng, An Hòa, Bích La, Cửa Việt; trên hướng tây, Sư đoàn dù tiến chiếm điểm cao 367, động Ông Do và tuyến nam sông Thạch Hãn, khu vực Tích Tường, Như Lệ, Đá Đứng.

Do có phương án chuẩn bị tốt, nên khi địch tiến công, bộ đội ta đã chiến đấu có hiệu quả, bảo vệ vững chắc trận địa phòng ngự. Trên tất cả các hướng phòng ngự, bộ đội tổ chức nhiều trận phản kích, đánh vào các cụm quân địch ở Chợ Sát, Nại Cửu, An Tiêm, gây cho địch nhiều thương vong. Các đơn vị bộ đội địa phương Quảng Trị phối hợp chặt chẽ với bộ đội chủ lực tập kích địch ở Gia Đẳng, Phường Sơn. Trong lúc đó, pháo binh ta bắn phá nhiều kho kho tàng, trận địa pháo và Sở Chỉ huy Lữ đoàn 258 thủy quân lục chiến. Các trung đoàn 66, 209 và 41 phối hợp với Trung đoàn 36 ở Tích Tường chặn đánh quyết liệt các mũi tiến công của hai tiểu đoàn dù (tiểu đoàn 1 và 2) và Tiểu đoàn 8 biệt động quân, khiến cho các đơn vị này của quân Sài Gòn chẳng những không chiếm được khu vực Phước Môn, Tân Téo, điểm cao 24, 36, 105B, mà còn bị đánh thiệt hại nặng, phải rút về phía sau củng cố (Tiểu đoàn 8). Những ngày tiếp theo, địch thay đổi thủ đoạn tiến công, ban đêm cho lực lượng bí mật luồn qua khoảng giữa các chốt của ta, tiếp cận động Ông Do. Tuy nhiên, thủ đoạn mới của địch đã bị các chốt của ta, nhất là chốt ở điểm cao 105B đánh thiệt hại nặng Tiểu đoàn 6 dù, buộc đơn vị này phải lùi về phía sau củng cố.

Từ ngày 23-10, được không quân và pháo binh yểm trợ, địch đánh phá quyết liệt khu vực điểm cao 230, 367 và sau khi đánh chiếm được điểm cao 108, 118, 101, 124, chúng nhanh chóng tập trung lực lượng, dồn sức đánh lên điểm cao 367 - vị trí phòng ngự quan trọng của ta rên hướng tây. Tại khu vực này, Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 9) và Tiểu đoàn 2 độc lập có sự phối hợp của Trung đoàn 24, Tiểu đoàn 19, Tiểu đoàn 35, liên tục mở các trận phản kích, tập kích, loại khỏi vòng chiến gần 300 tên địch, phá hủy 8 khẩu pháo và một số phương tiện chiến đấu khác của chúng. Tuy nhiên, hoạt động của ta ở khu vực này chỉ làm chậm bước tiến quân của địch, chứ không ngăn chặn được chúng. Sau khi địch tiến chiếm điểm cao 367 vào ngày 3-11-1972, nơi đây, ta chỉ còn giữ được thế xen kẽ với địch ở phía đông và phía tây.

Cũng trong thời gian này, ở khu giữa, sau nhiều lần thám báo, biệt kích vượt sông Thạch Hãn, đột nhập vào khu vực do ta kiểm soát, đêm 1-11-1972, địch sử dụng Tiểu đoàn 6 (Lữ đoàn 367) thủy quân lục chiến, mở cuộc hành quân Sóng thần 9, đánh chiếm khu vực Nhan Biều. Tiểu đoàn 8 (Trung đoàn 18 - Sư đoàn 325) có xe tăng yểm trợ đón đánh địch. Cùng lúc, pháo binh ta bắn phá mãnh liệt vào đội hình xe tăng, thiết giáp và xe vận tải của địch. Cuộc hành quân của địch bị đẩy lùi; Tiểu đoàn 6 thủy quân lục chiến bị đánh thiệt hại nặng nề, viên tiểu đoàn trưởng chết tại trận. Thành tích chiến đấu của Trung đoàn 18 được Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi thư khen và đề nghị thưởng Huân chương Quân công hạng nhất(5).

Như thế, qua gần hai tháng thực hiện kế hoạch tiến công quân sự Lam Sơn 72A hòng chiếm lại phần lớn vùng giải phóng Quảng Trị, đặc biệt là khu vực Ái Tử, Đông Hà, Cửa Việt, nỗ lực này của địch đã bị chặn lại; tuy nhiên, chúng cũng chiếm được điểm cao 367, hình thành thế tiến công động Ông Do.


(1) Điện số 276/Đ, ngày 22-9 và Điện số 288/Đ, ngày 28-9-1972, đồng chí Văn ký, lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.
(2) Điện số 235/Đ tháng 10/1972 của Bộ Chính trị và Thường vụ Quân ủy Trung ương gửi Bộ Tư lệnh chiến dịch Trị - Thiên, lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.
(3) Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Tóm tắt các chiến dịch… Sđd, tr.364.
(4) Khu vực này, từ cuối tháng 10; Sư đoàn 312 vào thay thế để 2 sư đoàn 308 và 304 lui về phía sau củng cố.
(5) Sư đoàn 325 (1954-1975), Sđd, t.2. tr.174.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9028


Lính của PTL


« Trả lời #53 vào lúc: 15 Tháng Một, 2011, 10:46:36 AM »

Từ đầu tháng 11-1972, nhiều trận mưa bão liên tếp dồn đổ xuống miền Trung, đặc biệt là khu vực Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế. Tình hình thời tiết ảnh hướng đến hoạt động quân sự của các bên. Nhiều nơi, trận địa phòng ngự của ta bị ngập nước, sức khỏe bộ đội giảm sút. Mặc dù gặp rất nhiều khó khăn, nhưng cán bộ, chiến sĩ vẫn trụ bám trận địa, sẵn sàng đánh địch.

Về phía địch, để phục vụ cho yêu cầu đấu tranh chính trị và đấu tranh ngoại giao, từ đầu tháng 11-1972 cho đến cuối tháng 1-1973, quân đội Sài Gòn tiếp tục nỗ lực tiến công quân sự. Lúc này, địch dồn sức tiến công sang hướng thứ yếu. Trong cuộc hành quân mang tên Sóng thần 36, địch tập trung phi pháo với mật độ cao (50 lần chiếc cường kích, 6 tốp B.52, 300-400 đạn pháo một ngày), đánh phá khu vực Long Quang, Thanh Hội. Chúng sử dụng các tiểu đoàn 6, 2 và 8 thuộc Lữ đoàn 367 lính thủy đánh bộ có thiết giáp và xe tăng M48 yểm trợ, liên tiếp mở các đợt tiến công vào các vị trí phòng ngự của quân ta ở khu vực Long Quang - Thanh Hội. Trước tình hình đó, Bộ Chỉ huy chiến dịch lệnh cho Trung đoàn 48 vượt sông sang bờ nam sông Thạch Hãn, cùng với lực lượng ở đây chặn đứng cuộc hành quân của địch. Chiến sự ở khu vực bờ nam sông Thạch Hãn diễn ra ác liệt. Mặc dù bị thiệt hại nặng, nhưng địch vẫn tỏ rõ quyết tâm tìm kiếm một thắng lợi quân sự. Từ ngay 15-12, chúng mở tiếp cuộc hành quân Sóng thần 45 đánh ra khu vực Cửa Việt. Lần này, địch huy động một lực lượng quân sự và xe pháo lớn tham chiến, bao gồm: Tiểu đoàn 4 và 579 thủy quân lục chiến, 3 chi đoàn xe tăng - thiết giáp, 15 đại đội bảo an theo hướng Linh An, Thạch Hội tiến ra Cửa Việt. Đương đầu với lực lượng tiến công này của địch, Sư đoàn 320, trong vòng 11 ngày (từ 15 đến 25-12), đã chiến đấu quyết liệt chặn đánh tiêu hao, tiêu diệt hơn 1 nghìn tên địch, phá hỏng, phá hủy 23 xe quân sự, bắn rơi 11 máy bay các loại, thu 39 súng. Địch buộc phải chấm dứt cuộc hành quân và đưa lực lượng còn lại về phía sau củng cố. Cho đến trước ngày ký Hiệp định Pari, địch còn mở cuộc hành quân Sóng thần 18 (từ ngày 17-1 đến ngày 20-1-1973) đánh ra Cửa Việt. Nhưng, cũng như các cuộc hành quân mang tên Sóng thần trước đó, một lần nữa địch phải chịu thất bại nặng nề.

Thời gian dịch chuyển dần sang nửa cuối tháng 1-1973, hoạt động quân sự của cả ta và địch trên chiến trường miền Nam nói chung, chiến trường Quảng Trị nói riêng, càng gắn chặt với diễn biến trên bàn Hội nghị Pari. Quân địch một mặt giữ chặt các khu vực đã chiếm được, một mặt tăng cường thêm lực lượng, nhất là xe tăng và thiết giáp chuẩn bị cho cuộc tranh chấp quyết liệt mới. Về phía ta, để giữ vững vùng giải phóng và các khu vực phòng thủ, Bộ Chỉ huy chiến dịch chỉ thị cho Sư đoàn 320 đưa dần Trung đoàn 101 sang khu vực nam Cửa Việt (Long Quang - Thanh Hội), đồng thời rút một phần Trung đoàn 64 ra ngoài củng cố. Cùng thời gian, ở hướng đông, ta cũng tăng cường Trung đoàn 52, 1 tiểu đoàn pháo 100mm, 1 đại đội pháo 85mm. Tiếp đó, Bộ Chỉ huy chiến dịch yêu cầu các sư đoàn khẩn trương tổ chức trận địa phòng ngự thật vững chắc, trọng điểm là khu vực Ái Tử, Đông Hà, Cửa Việt, Tà Cơn, Lao Bảo. Trên hướng tây, nhằm cải thiện thế trận, từ ngày 23-1-1973, ta mở một đợt phản kích, dùng hai trung đoàn 209 và 93 chiếm lại Tích Tường 1, các điểm cao 52, 29, 15 và đẩy mạnh hoạt động của các lực lượng ở phía sau lưng địch. Tại khu vực điểm cao 367, Trung đoàn 2 (Sư đoàn 324), Trung đoàn 15 và Tiểu đoàn 8 bộ đội địa phương chủ động tiến công, tiêu hao nhiều sinh lực địch, phá hủy nhiều phương tiện chiến đấu của chúng, khiến cho Liên đoàn biệt động quân Sài Gòn luôn trong trạng thái bị động đối phó. Ở đây, ta vẫn giữ được thế trận xen kẽ với địch, bảo vệ được các kho tàng và tuyến đường 15N(1)… cho đến ngày ngừng bắn theo quy định của Hiệp định Pari (ngày 28-1-1973).

Nhìn lại trên toàn bộ mặt trận Trị - Thiên, từ sau khi bộ đội ta rút khỏi thị xã - Thành cổ Quảng Trị (16-9-1972) đến cuối tháng 1-1973, mặc dù địch liên tiếp mở các cuộc hành quân Lam Sơn 72A, Sóng thần 9, Sóng thần 36, Sóng thần 45, Sóng thần 18, đánh ra các vùng mới giải phóng của ta, nhưng chúng đã bị lực lượng vũ trang ta ngăn chặn quyết liệt. Âm mưu chiếm lại và tái lập vùng chiếm đóng đã bị rơi vào tay Quân giải phóng như trước tháng 5-1972 của địch bị thất bại. Trong giai đoạn này, với thế trận phòng ngự tương đối vững chắc trên tất cả các hướng, bộ đội ta chẳng những đã bảo vệ được trận địa, giữ vững được các khu vực phòng thủ, mà còn tiêu diệt gọn 12 đại đội, đánh thiệt hại nặng 15 tiểu đoàn và 2 chi đoàn xe tăng - thiết giáp, bắn rơi hơn 100 máy bay, phá hỏng, phá hủy gần 350 xe quân sự các loại, hơn 350 khẩu pháo các loại, 38 kho xăng, đạn, đánh sập 8 cầu, bắn cháy 8 tàu, 13 xuồng, thu 650 súng các loại và 24 máy thông tin…

Thất bại của địch trên chiến trường Trị - Thiên góp phần làm suy yếu toàn diện quân đội Sài Gòn - xương sống của Việt Nam hóa chiến tranh của Mỹ. Đồng thời, thất bị đó chứng tỏ lực lượng vũ trang ta đã giành lại thế chủ động chiến lược trên từng khu vực và trên toàn chiến trường.

Về phía ta, trên mặt trận Trị - Thiên, trong gần một năm chiến đấu quyết liệt, lực lượng cũng bị thương vong nặng: hơn 14.000 cán bộ, chiến sĩ hy sinh và mất tích; gần 55.000 thương bệnh binh, chưa kể hơn 100 người bị rơi vào tay địch và 6.583 người đào, bỏ ngũ.

Cuộc chiến đấu của quân dân ta trên mặt trận Quảng Trị, đặc biệt 81 ngày đêm trụ bám kiên cường ở khu vực Thành cổ, là bản anh hùng ca bất tử về chủ nghĩa anh hùng cách mạng của con người Việt Nam, của tuổi trẻ Việt Nam trong đấu tranh vì nền tự do, độc lập và thống nhất non sống. Cuộc chiến đấu của quân và dân ta ở mặt trận Trị - Thiên trong suốt năm 1972 đã góp phần quyết định làm chuyển biến mạnh mẽ thế bố trí chiến lược giữa ta và địch, tạo tương quan lực lượng có lợi cho ta, bất lợi cho địch. Thắng lợi đó của quân và dân Trị - Thiên cùng với những chiến thắng ở các hướng khác trên khắp chiến trường miền Nam là nhân tố quan trọng đưa đến thắng lợi trên mặt trận đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Pari.


(1) Quân đội nhân dân Việt Nam - Bộ Tổng Tham mưu: Tổng kết chiến dịch Quảng Trị - Thừa Thiên 1972. Tài liệu dùng tập huấn cán bộ cao cấp và trung cấp. Cục Quân huấn, 1973, tr.51-57.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9028


Lính của PTL


« Trả lời #54 vào lúc: 17 Tháng Một, 2011, 10:14:17 AM »

II - TIẾP TỤC BAO VÂY ĐỊCH
Ở KON TUM VÀ BÌNH LONG

Vào lúc ở chiến trường Trị - Thiên quân và dân ta đang chuẩn bị cho đợt tiến công thứ ba, thì cũng là lúc các chiến trường Tây Nguyên và Đông Nam Bộ có những bước chuyển mới.

Ở Tây Nguyên, khi mùa mưa đến, việc bảo đảm hậu cần - kỹ thuật và cơ động lực lượng cả ta gặp nhiều trở ngại, khó khăn. Trước tình hình đó, Bộ Tư lệnh mặt trận Tây Nguyên đã điều chỉnh kế hoạch tác chiến nhằm mục tiêu kiên quyết giữ vững, mở rộng và hoàn chỉnh vùng giải phóng, tạo cục diện mới trong năm 1972.

Đầu tháng 6-1972, sau khi Sư đoàn 2, Trung đoàn 52 và Trung đoàn công binh 83 được điều xống đồng bằng Khu 5, Bộ Tư lệnh mặt trận sắp xếp lại lực lượng và điều chỉnh thế bố trí chiến dịch theo phương án hoạt động mới:

- Trên hướng bao vây thị xã Kon Tum, các trung đoàn 28, 66 có pháo binh phối hợp luân phiên vừa củng cố, huấn luyện, vừa đánh diệt lực lượng địch nống lấn và giải tỏa thị xã Kon Tom.

- Trung đoàn 24 và Trung đoàn 95 luân phiên củng cố, huấn luyện, tiếp tục đánh giao thông, thực hiện làm chủ đường 14 trong từng thời gian nhằm cô lập thị xã Kon Tum, uy hiếp thị xã Plâyku và bảo vệ vùng giải phóng ở Huyện 3 và Huyện 4 (Gia Lai).

- Sư đoàn 320 đẩy mạnh các hoạt động ở tây nam thị xã Plâyku cùng một số đơn vị độc lập tiêu diệt địch trên đường 19 tây, mở mặt trận mới hỗ trợ tích cực cho việc giải phóng vùng nông thôn ở Huyện 4 và Huyện 5 (Gia Lai).

- Lực lượng vũ trang các tỉnh phối hợp với lực lượng bộ đội chủ lực hoạt động mạnh trên các khu vực trọng điểm(1).

Thực hiện phương án tác chiến mới, từ đầu tháng 7-1972, Trung đoàn 66 triển khai lực lượng, lần lượt đánh bại hai đợt tiến công của Trung đoàn 53 (Sư đoàn 23) Việt Nam cộng hòa, đập tan âm mưu lấn chiếm các vị trí Hà Môn, Đắc Vát, điểm cao 751 (Ngọc Quân), điểm cao 601 (Lam Sơn), tạo được hệ thống phòng ngự vững chắc hơn cho Kon Tum.

Cùng thời gian, 2 trung đoàn 24 và 95 thay phiên nhau đẩy mạnh các hoạt động đánh cắt giao thông trên đường 14, cô lập địch trong thị xã Kon Tum, uy hiếp mạnh thị xã Plâyku, bảo vệ vững chắc vùng giải phóng thuộc các huyện 3, 4 Gia Lai.

Phía tây nam thị xã Plâyku, từ cuối tháng 7-1972, Sư đoàn 320A chuyển hướng hoạt động, phối hợp chặt chẽ với lực lượng bộ đội địa phương, đánh tiêu diệt địch trên đường 19 tây Plâyku. Sự xuất hiện của Sư đoàn 320A ở khu vực tây nam Plâyku là bất ngờ lớn đối với địch. Chỉ trong một thời gian, lực lượng sung sức nhất của ta đã tiêu diệt được đồn Tầm, bức rút đồn Chư Phổ, giải phóng làng Dịt - Thanh Giáo ven đường 19 tây, phát triển nhanh sang phía đông quận lỵ Thanh An, giải phóng 6 ấp làng K’Lan, diệt đồn Chư Bồ, giải phóng hoàn toàn khu dồn Chư Bồ - Đức Cơ. Thừa thắng, ngày 10-9-1972, Sư đoàn 320A cùng lực lượng tăng cường bao vây căn cứ biên phòng Đức Cơ, sử dụng Tiểu đoàn 631 vây lấn, rồi tiêu diệt căn cứ biên phòng Chư Nghé. Đợt hoạt động đánh phá tổng hợp của quân ta đã buộc địch phải phân tán lực lượng chống đỡ, giảm sút cường đột các cuộc hành quân lấn chiếm ở bắc Kon Tum. Chúng phải điều lực lượng lớn của Sư đoàn 23 và các liên đoàn biệt động dối phó với ta trên hướng thị xã Plâyku.

Việc sử dụng Sư đoàn 320A mở các đợt đánh phá trong hợp trên hướng Plâyku là hoạt động nổi bật hơn cả trên chiến trường Tây Nguyên trong khoảng thời gian nửa cuối năm 1972(2). Các đội vũ trang tuyên truyền của Sư đoàn 320A được sự phối hợp chặt chẽ với các địa phương, luồn sâu vào các ấp chiến lược, tuyên truyền, giáo dục, giác ngộ cho đồng bào; đồng thời, phối hợp với đòn tiến công quân sự, đưa hàng vạn dân thoát khỏi sự kìm kẹp của địch trở về vùng căn cứ.

Tuy nhiên, đưa được dân thoát khỏi sự quản lý của địch đã khó, lo cuộc sống mới cho dân còn khó hơn.Ý thức được khó khăn đó, cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 320A nêu cao quyết tâm “dù bộ đội phía trước có đói cũng phải bớt gạo để giúp dân”. Quyết tâm này đã trở thành khẩu hiệu hành động của bộ đội trên toàn chiến trường. Nhiều đơn vị tự nguyện rút bớt từ một phần ba đến một nửa khẩu phần ăn hằng ngày, dành ra được hàng tấn gạo, hàng chục cân muối hỗ trợ nhân dân. Những việc làm cụ thể của bộ đội và chính quyền địa phương góp phần giúp đồng bào vượt qua những ngày gian khó, làm cho những con người lâu nay bị địch tuyên truyền những thông tin xuyên tác về cách mạng, có được những hiểu biết mới, nhận thức mới, để từ đó, nhanh chóng ổn định cuộc sống và gắn bó với cách mạng.

Trong thời gian này, mặc dù gặp nhiều khó khăn về hậu cần, nhưng lực lượng vũ trang và nhân dân Tây Nguyên vẫn giữ vững được nhịp độ tiến công địch. Càng về cuối năm, thế bố trí chiến lược, tương quan lực lượng và tính chủ động chiến lược trên chiến trường nghêng dần về ta. Trước tình hình thuận lợi đó, ngày 23-9-1972, Đảng ủy Mặt trận Tây Nguyên mở hội nghị nhằm đề ra chủ trương hoạt động trong những tháng cuối năm. Hội nghị đã thảo luận, thống nhất và đề ra phương hướng hoạt động của lực lượng vũ trang Tây Nguyên theo đúng tinh thần chỉ đạo của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh, đó: Tranh thủ thời cơ có lợi, tập trung mọi lực lượng, mở một chiến dịch tổng hợp quy mô lớn, đẩy mạnh tiến công quân sự và chính trị, tiêu diệt và làm tan rã lớn quân ngụy, chủ yếu là địa phương quân, giải phóng nhiều vùng nông thôn rộng lớn, giành cho được những địa bàn quan trọng(3).


(1) Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1980, tr.253.
(2) Mặt trận Tây Nguyên 1972, Tài liệu tổng kết, tr.74-80, lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.
(3) Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước..., Sđd, tr.257.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9028


Lính của PTL


« Trả lời #55 vào lúc: 17 Tháng Một, 2011, 10:16:13 AM »

Bước vào đầu tháng 10-1972, Trung đoàn 24B cơ động vào Đắc Lắc, tiến hành các hoạt động tiến công quân sự, mở rộng vùng giải phóng ở khu vực Cheo Reo - đường số 7. Ở hướng Buôn Ma Thuột, Trung đoàn 25 mới thành lập trên cơ sở hai tiểu đoàn 20B và 5 (Đoàn 671) cũng bước vào đợt hoạt động mới. Để đáp ứng yêu cầu tác chiến lớn và được Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng phê chuẩn, ngày 20-9-1972, Đảng ủy và Bộ tư lệnh mặt trận quyết định thành lập Sư đoàn 10, gồm các trung đoàn 28, 66 95 bộ binh và 8 tiểu đoàn binh chủng(1). Sự ra đời của Sư đoàn 10 đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của các lực lượng vũ trang Tây Nguyên, đồng thời chứng tỏ quyết tâm của ta trong giai đoạn tác chiến mới.

Thực hiện quyết tâm đó, ngày 12-10-1972, Bộ Tư lệnh mặt trận khẩn trương mở đợt tiến công vào căn cứ Plây Cần, nhằm mở rộng vùng giải phóng bắc Kon Tum và khai thông đường 14. Trong quá trình tập kết lực lượng vào khu chiến, Trung đoàn pháo binh 40 đã tháo rời các bộ phận của pháo 85mm và 105mm, tổ chức khiêng, vác vào khu chiến, cách vị trí địch 1-2km. Đây là lần đầu tiên bộ đội ta sử dụng cách ngắm bắn trực tiếp, phá hoại công sự địch, chi viện cho bộ binh đánh chiếm trận địa.

Được pháo binh chi viện đắc lực, có xe tăng làm lực lượng đột kích và được tăng cường Tiểu đoàn 37, Trung đoàn 66, sua 5 giờ chiến đấu, đã tiêu diệt gọn cứ điểm của Tiểu đoàn 95 biệt động biên phòng quân đội Sài Gòn, làm chủ căn cứ Plây Cần.

Căn cứ Plây Cần bị tiêu diệt, căn cứ Đắc Siêng bị đặt vào thế cô lập. Đây là thời cơ tốt để ta phát triển tiến công, dứt điểm căn cứ Đắc Siêng. Bởi thế, các đơn vị ta sau khi đánh chiếm được Plây Cần, đã một mặt chấn chỉnh lực lượng, gấp rút hành quân về phía nam thị xã Kon Tum cùng với Trung đoàn 95 mở mặt trận mới; mặt khác, để lại một bộ phận nhỏ đi chuẩn bị trận địa ở khu vực xung quanh căn cứ Đắc Siêng.

Ngày 22-10-1972, Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam chỉ thị cho mặt trận phải tổ chức đánh Đắc Siêng ngay. Trung đoàn 66 nhận lệnh của mặt trận trong khi đơn vị đứng cách Đắc Siêng 7 ngày đường. Tình thế gấp rút, bộ đội hành quân cả ngày lẫn đêm, rút ngắn thời gian đi đường còn 5 ngày. Ngày 29-10, cuộc tiến công của Trung đoàn 66 bắt đầu. Sau những loạt pháo ngắm bắn trực tiếp nhằm vào công sự, trận địa địch, bộ binh ta dũng mãnh xông lên và chỉ sau 30 phút, đã làm chủ được căn cứ Đắc Siêng, tiêu diệt và bắt sống gọn quân địch trong căn cứ.

Đây là trận đánh thứ hai trong vòng 20 ngày bộ đội ta sử dụng phương pháp đánh công sự vững chắc theo phương pháp sử dụng pháo ngắm bắn trực tiếp. Cũng với cách đánh phá công sự này, 3 ngày sau chiến thắng Đắc Siêng, Tiểu đoàn 3 (Trung đoàn 400) và Tiểu đoàn 361 tiến công và đánh chiếm căn cứ đức Cơ trên đường 19 tây - nơi đã bị một lực lượng nhỏ của ta vây hãm suốt từ ngày 10-9-1972. Căn cứ Đức Cơ rơi vào tay quân ta, con đường nối tuyến hành lang vận chuyển chiến lược của ta với vùng giải phóng Kon Tum đã thông suốt.

Vào thời gian này, ở khu tam giác Phú Nhơn - Phú Mỹ - Mỹ Trạch, lực lượng của Sư đoàn 320A phối hợp với bộ đội địa phương tiến công tiêu diệt được căn cứ 43, phá tan hai ban chỉ huy hành quân quận Phú Nhơn và tiểu khu Plâyku, giải phóng 9 làng trên tục đường 194 từ Phú Mỹ đến bắc Phú Nhơn, với hơn 1.000 dân. Đến tháng 11, hầu hết địa bàn huyện 5 Gia Lai đã hoàn toàn giải phóng. Với vùng giải phóng rộng lớn, ta đã tạo được một bàn đạp vững chắc để phát triển tiến công về hướng thị xã Plâyku.

Cuối tháng 11-1972, địch điều 3 tiểu đoàn bộ binh, 32 tiểu đoàn thiết giáp và một số đơn vị pháo trong đó có pháo 175mm tăng chường cho Tây Nguyên. Có thêm lực lượng, chúng liên tiếp mở các cuộc hành quân nống ra hướng trọng điểm với quy mô lớn. Ở hướng Đức Cơ, có lúc lực lượng địch lên tới 11 tiểu đoàn, 3 chi đoàn thiết giáp và 2 tiểu đoàn pháo.

Cuộc chiến đấu chống địch lấn chiếm đã diễn ra quyết liệt trên khu vực bắc thị xã Kon Tum, trên đường 14 và đường 19 tây cho đến ngày ký kết Hiệp định Pari.

Sau 350 ngày đêm chiến đấu, lực lượng vũ trang Tây Nguyên đã giành được những thắng lợi lớn, đánh thiệt hại nặng 1 sư đoàn thiếu quân lực Sài Gòn và loại khỏi vòng chiến đấu nhiều tiểu đoàn địch tham chiến phá vỡ hệ thống phòng ngự then chốt của chúng ở bắc Kon Tum và tây nam thị xã Plâyku.

Là một hướng quan trọng trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972, cuộc chiến đấu của quân và dân Tây Nguyên đã thu hút và ghìm chân một bộ phận quan trọng lực lượng Quân đoàn 2 trong thời gian khá dài, tạo điều kiện thuận lợi cho Khu 5 đẩy mạnh tiến công chống pháo bình định. Đòn tiến công quân sự đã tạo ra bước tiến nhảy vọt về giải phóng đất đai và giành dân. Lúc này, vùng giải phóng của ta bao gồm hầu hết tỉnh Kon Tum, tây nam thị xã Plâyku và phía tây đường 14, với hơn 4 vạn dân. Trải qua chiến đấu, lực lượng vũ trang Tây Nguyên đã trưởng thành vượt bậc trên nhiều mặt; khối chủ lực mở được chiến dịch tiến công hiệp đồng binh chủng quy mô tương đối lớn; phát triển phong phú chiến thuật đánh công sự vững chắc; không ngừng nâng cao trình độ và tốc độ đánh tiêu diệt; thực hiện đánh giao thông và cắt đường dài ngày, đánh bại các cuộc hành quân giải tỏa đường, đánh tỉa giao thông thường xuyên và đánh tập trung quy mô vừa.

Những thắng lợi mà quân và dân Tây Nguyên giành được trong năm 1972 là tiền đề vững chắc để thực hiện nhiệm vụ chiến đấu và xây dựng trong giai đoạn mới.


(1) Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999, t.2, tr.419.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9028


Lính của PTL


« Trả lời #56 vào lúc: 17 Tháng Một, 2011, 10:18:58 AM »

*
*   *

Trên chiến trường miền Đông Nam Bộ, từ nửa cuối tháng 5-1972, Bộ Chỉ huy chiến dịch quyết định kết thúc đợt 1 chiến dịch tiến công Nguyễn Huệ. Lúc này, địch vẫn chiếm giữ thị xã Bình Long. Quân ta tiếp tục bao vây thị xã này, khống chế đường 13, giữ vững vùng sâu Phước Tuy, các chi khu Đất Đỏ, Xuyên Mộc, Đức Thạnh… Đồng thời, ta ghìm địch tại Chơn Thành, Lai Khê. Về phía địch, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3 chủ trương dùng khối chủ lực hiện có để nới rộng vòng vây ở Bình Long và giải tỏa đường 13, sử dụng các sư đoàn bộ binh 21, 25 và 7 để thực hiện kế hoạch phòng thủ Diên Hồng(1), nhằm ngăn chặn quân ta phát triển tiến công uy hiếp Sài Gòn.

Kiên quyết trong chỉ đạo nhằm tiếp tục đẩy mạnh tiến công quân sự trên các chiến trường, ngày 8-5-1972, đồng chí Lê Duẩn - Bí thư thứ nhất Ban chấp hành Trung ương Đảng chỉ thị cho Trung ương Cục về kế hoạch tác chiến ở An Lộc, trong đó chỉ rõ: “Phương hướng tác chiến tốt nhất là bao vây An Lộc, tập trung lực lượng tiêu diệt viện binh của địch, tiêu diệt được số đơn vị của địch trên đường 13, nhất là hai lữ đoàn…, đồng thời tạo thêm điều kiện để giải phóng An Lộc và uy hiếp Sài Gòn”(2).

Lúc này, Trung ương Cục quyết định điều chỉnh lại thành phần Bộ Chỉ huy chiến dịch Nguyễn Huệ. Đồng chí Hoàng Văn Thái được điều xuống đồng bằng sông Cửu Long chỉ huy chiến dịch tổng hợp. Đồng chí Trần Văn Trà (Tư Chi) và đồng chí Trần Độ (Chín Vinh) về tăng cường cho Sở Chỉ huy Bộ Tư lệnh Miền. Đồng chí Hoàng Cầm (Năm Thạch) và đồng chí Trần Văn Phác (Tám Trần) giữ cương vị Tư lệnh và Chính ủy chiến dịch. Lúc này, chủ trương của Bộ Tư lệnh Miền quyết định chuyển hướng tiến công csang vây lỏng thị xã Bình Long, kiên quyết chốt chặn trên đường 13, thu hút, tiêu hao địch ở ngoài công sự, tạo điều kiện cho việc đánh phá bình định ở Đông Nam Bộ và mở chiến dịch tiến công tổng hợp ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long.

Bước vào đợt chiến đấu mới, từ ngày 16-5-1972, Sư đoàn 7 tiếp tục chốt chặn trên đường 13, nhằm đẩy lùi và đánh bại mọi hành động phản kích của địch, đồng thời bảo vệ vững chắc vùng giải phóng Lộc Ninh. Khu vực tác chiến trên quốc lộ 13 được lựa cọn ở đoạn Tân Khai - Tàu Ô - Xóm Ruộng - Ngọc Lầu, dài 12 km. Đây là khu vực địa hình trống trải, hai bên đường đồng rộng bỏ hoang, tiện cho việc quan sát và thích hợp cho đánh giáp lá cà. Trận địa của Sư đoàn 7 được xây dựng ở hai vị trí bắc suối Tàu Ô(3) do Trung đoàn 14 chốt giữ và nam suối Tàu Ô (ngã ba Ngọc Lầu) do Trung đoàn 12 chốt giữ. Trung đoàn 209 làm lực lượng dự bị, cơ động. Trên từng khu vực chốt chặn, mỗi trung đoàn hình thành hai bộ phận: một bộ phận làm nhiệm vụ chốt chặn, bộ phận còn lại bố trí hai bên sườn sẵn sàng cơ động tiến công địch. Các tiểu đoàn và đại đội cũng hình thành hai bộ phận lực lượng tương tự.

Đồng thời với việc bố trí lực lượng, cán bộ, chiến sĩ của Sư đoàn 7 cùng bộ đội địa phương, dân quân du kích khẩn trương xây dựng và củng cố trận địa (gồm hệ thống hầm. giao thông hào); tổ chức các đơn vị bảo đảm chiến đấu; mỗi đơn vị có từ 30 đến 35 chiến sĩ làm nhiệm vụ tiếp tế, tải thương, chuẩn bị khăn ướt, vải nhựa, than củi để phòng độc). Đồng thời, phương án bố trí lực lượng chốt chặn, lực lượng đánh vận động, các tầng hỏa lực chi viện(4)… cũng được gấp rút hoàn thành.


(1) Kế hoạch Phòng thủ Diên Hồng được đề ra từ tháng 6-1972. Theo đó: dùng lực lượng phía sau của Sư đoàn bộ binh 21 vào nhiệm vụ phòng thủ khu vực đông bắc Sài Gòn, khu vực mang mật danh “khu vực sông Hồng”; Sư đoàn bộ binh 25 vào nhiệm vụ phòng thủ khu vực tây Sài Gòn, “khu vực Đà Giang”; Sư đoàn bộ binh 7 - phòng thủ khu vực nam Sài Gòn, “khu vực Nhật Lệ” và khu vực đông nam Sài Gòn, “khu vực Trà Khúc”, gồm đặc khu rừng Sác, tiểu khu Biên Hòa.
(2) Lê Duẩn: Thư vào Nam, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1985, tr.311.
(3) Con suối Tàu Ô chảy từ tây sang đông tục lộ 13, rộng 20 đến 30 m; về mùa khô, mực nước rất thấp, lòng suối nhiều nơi đất cứng, xe tăng có thể đi qua. Phía nam suối Tàu Ô có cống Ông Tề, rộng 8 m. Địa thế khu vực này tương đối cao, thấp dần về phía nam, do đó đứng ở Tàu Ô có thể nhìn bao quát được khu vực bắc Chơn Thành - nơi đặt Sở chỉ huy của Sư đoàn bộ binh 21 quân đội Sài Gòn.
(4) Ta bố trí hai bên sườn bộ phận chốt các loại hỏa lực như B72, súng 12,7mm, cối 82mm; cấp trung đoàn có cối 120mm; cấp sư đoàn có các đơn vị H12, ĐKB, pháo 85mm, B41 và bãi mìn chống tăng.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9028


Lính của PTL


« Trả lời #57 vào lúc: 17 Tháng Một, 2011, 10:20:43 AM »

Về phía địch, ngày 11-5, chúng điều Trung đoàn 15 (Sư đoàn bộ binh 9) từ đồng bằng sông Cửu Long lên khu vực đường 13, tăng cường cho Sư đoàn bộ binh 21. Ngày 15-5, địch dùng trực thăng đổ bộ Trung đoàn 15 (Sư đoàn 9) và Trung đoàn 33 (Sư đoàn 21) xuống khu vực Tân Khai. Cùng thời gian, Thiết đoàn 9 (thiếu) theo đường bộ, cũng cơ động tới bố trí trận địa tại khu vực này.

Chọn Tân Khai làm căn cứ xuất phát, ngày 19-5-1972, địch hình thành hai hướng, mở cuộc tiến công trận địa chốt trên đường 13 của ta. Trung đoàn 15 và Thiết đoàn 9 là lực lượng chủ công, tiến theo hướng tây đường 13; Trung đoàn 33 làm nhiệm vụ hỗ trợ, tiến theo hướng đông. Chủ động và kiên quyết tiến công địch, bộ đội ta liên tục tổ chức đánh vào đội hình hành quân của chúng tại Đức Vinh (22 và 23-5), Thiết đoàn 9 - lực lượng đột kích của địch bị tụt lại phía sau do gặp phải bãi lầy. Đây là điều kiện thuận lợi để các đơn vị thuộc Trung đoàn 12 (Sư đoàn 7 ) và Trung đoàn 1 (Sư đoàn 9) của ta bao vây, tiến công vào đội hình Trung đoàn 15 Quân lực Việt Nam cộng hòa. Địch sử dụng lực lượng không quân, pháo binh bắn phá chi viện ở mức rất cao cho Trung đoàn 15 trên địa bàn nhỏ hẹp xã Thanh Bình. Các đơn vị Quân giải phóng nhanh chóng áp sát đội hình địch, đánh gần, nhằm hạn chế hỏa lực chi viện của chúng chúng. Vòng vây của quân ta hãm địch vào tình thế nguy khốn(1). Trong 3 ngày (từ 21 đến 23-5) ta đã loại khỏi vòng chiến hơn 300 tên địch.

Trong lúc đó, Trung đoàn 14 (Sư đoàn 7) chủ lực Miền bao vây tiến công cụm quân địch ở Tân Khai, đánh thiệt hại nặng trận địa pháo 105mm và bắn rơi 8 máy bay địch; Trung đoàn 12 (Sư đoàn 7) của ta tiến công tiêu diệt một bộ phận lực lượng Trung đoàn 33. Tuy nhiên ta đã bỏ lỡ cơ hội tiêu diệt gọn Trung đoàn này vì chưa chuẩn bị phương án truy kích khu chúng rút chạy về căn cứ xuất phát vào sáng 29-5.

Trên hướng tiến công chủ yếu, địch dùng Thiết đoàn 9 để tiếp tế và tải thương cho lực lượng bị bao vây của Trung đoàn 15. Thế nhưng, lực lượng ứng cứu này đã bị Trung đoàn 12 (Sư đoàn 7) tổ chức vận động phục kích, đánh thiệt hại nặng.

Mặc dù chịu nhiều thiệt hại về lực lượng và phương tiện chiến đấu, nhưng địch đã nhanh chóng khôi phục lại lực lượng, tiếp tục mở đường vào thị xã Bình Long. Những ngày đầu tháng 6-1972, Trung đoàn 15 được tăng cường Tiểu đoàn 2 dù (330 quân) vượt qua trận địa chốt chặn của ta ở đông xã Thanh Bình (8-6) và hợp điểm với lực lượng của chúng từ trong thị xã tiến ra tại khu vực cống Ka Cam. Đồng thời, Trung đoàn 48 (Sư đoàn bộ binh 18) đổ bộ đường khong xuống thị xã thay cho Lữ đoàn 1 dù. Lúc này, ta vẫn giữ được các vị trí ở ngoại vi thị xã như khu vực sân bay Téc Ních, Tân Lợi, Núi Gió, điểm cao 169.

Ở hướng tiến công phía nam, ngày 21-5, lợi dụng lúc ta thay quân, địch đánh chiếm khu vực chốt tại nam cống Ông Tề. Trung đoàn 32 (sư đoàn bộ binh 21) quân đội Sài Gòn và hai tiểu đoàn biệt động (65 và 73) nhanh chóng phát triển tiến công sang khu chốt ở bắc cống Ông Tề. Kiên quyết bảo vệ trận địa, Trung đoàn 209 (Sư đoàn 7) chủ lực Miền lập tức triển khai lực lượng, mở cuộc tiến công nhằm chiếm lại các vị trí vừa mất. Tại những khu vực này, ta và địch giành giật với nhau từng đoạn chiến hào, từng vị trí chiến đấu. Pháo binh địch tại Chơn Thành nã vào khu vực trận địa ta với mật độ cao (có ngày địch bắn tới 10.000 viên vào khu vực chính diện 2 km). Đồng thời, máy bay B.52 cùng với các loại máy bay chiến thuật AD6, A37 oanh tạc dữ đội. Dưới bom, đạn đánh phá ác liệt của địch, lại thêm những trận mưa đầu mùa, lực lượng ta bị tiêu hao lớn, công sự trận địa nhiều nơi bị vỡ do bom đạn và nước ngập. Lúc này mỗi tiểu đoàn của ta chỉ còn từ 100 đến 150 cán bộ, chiến sĩ. Lương thực cạn kiệt, bộ đội có lúc phải nhịn đói vì không tiếp tế được. Trước tình hình đó, Bộ Chỉ huy chiến dịch quyết định rút Trung đoàn 14 lúc này đang cùng Trung đoàn 12 chốt giữ khu vực Tân Khai - Đức Vinh xuống khu vực cống Ông Tề tăng cường cho Trung đoàn 209. Có thêm lực lượng, bộ đội ta hình thành đội hình phản kích địch. Trên hướng chính diện, ta sử dụng một bộ phận lực lượng vận động áp sát và tạo ra đội hình xen kẽ với địch nhằm hạn chế phi pháo của chúng; một bộ phận khác bí mật luồn ra phía sau, đánh các trận địa pháo và bãi xe tăng của địch. Bằng cách đánh gần, ta giành giật với địch từng khu vực, từng chốt, từng hầm, từng công sự. Qua hơn hai tuần quần lộn với địch, từ ngày 21-5 đến ngày 6-6, ta đã giành lại trận địa, đồng thời đánh thiệt hại nặng hai tiểu đoàn địch, buộc Trung đoàn 32 (Sư đoàn bộ binh 21) quân đội Sài Gòn phải lùi về Chơn Thành để củng cố.


(1) Chiến sử Bình Long của địch ghi lại: “Tại đây, đau xót nhất là với dòng suối Xa Cát trải dài trước mặt, binh sĩ Trung đoàn 15 (thiếu) cần nước uống mà không thể lấy được, bởi vì vừa ròi khỏi các hố phòng thủ thì địch từ bên kia bờ suối nhắm bắn ngay, hết sức dữ dội”, dẫn theo Chiến sử Bình Long, Sài Gòn, Bộ Tham mưu Quân lực Việt Nam cộng hòa, 1973, tr.162-163.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9028


Lính của PTL


« Trả lời #58 vào lúc: 17 Tháng Một, 2011, 10:22:56 AM »

Từ ngày 21-6-1972, địch điều Trung đoàn 48 (Sư đoàn bộ binh 25) và Thiết đoàn 3 từ đường 22 sang đường 13, phối hợp cùng với Trung đoàn 33 (Sư đoàn bộ binh 21) và Lữ đoàn dù 1 mở cuộc tiến công quy mô sư đoàn tăng cường vào khu chốt Tàu Ô. Với số quân đông, tiến công trên hướng chính diện 2km, địch tỏ rõ quyết tâm nhổ bật “chiếc đinh cái”(1) án ngữ trục đường 13. Bắt đầu từ ngày 22-6, được phi pháo yểm trợ, các mũi tiến công của địch liên tục đột phá vào các chốt của ta. Với thế trận được bố trí sẵn, vận dụng chiến thuật chốt kết hợp với vận động tiến công, các đơn vị Quân giải phóng đã chạn đánh chó hiệu quả các mũi tiến quân của địch, làm cho đội hình của chúng rối loạn và mất dần khả năng tiến công. Qua 9 ngày đêm (từ 22-6 đến 30-6) chống trả quyết liệt với địch, bộ đội ta đã đánh thiệt hại nặng Trung đoàn 46, diệt 6 xe tăng M41 và bắt số 1 chiếc khác. Trung đoàn 46 quân đội Sài Gòn phải lui về Xóm Ruộng, chất dứt cuộc hành quân đầy tham vọng.

Tuy nhiên, sau nhiều tháng quần lộn với địch, trong điều kiện thời tiết không thuận lợi, bộ đội ta sức chiến đấu đã giảm sút, khả năng bảo đảm hậu cần gặp rất nhiều khó khăn. Mặc dù vân giữ được trận địa chốt Tàu Ô, nhưng các con đường tiếp tế cho lực lượng ta ở đây đều bị địch khống chế. Nhận thấy áp lức của ta trên đường 13 giảm xuống, từ ngày 14-7 sau khi điều chỉnh lại lực lượng(2), bổ sung quân số và vũ khí, địch tập trung toàn bộ Sư đoàn bộ binh 25 và Trung đoàn 31 (Sư đoàn bộ binh 21) chia thành ba cánh, tiến công ào ạt vào trận địa chốt của ta. Chúng nhanh chóng hình thành các chốt nhỏ dọc đường tiến quân nối từ ngã ba Xóm Ruộng đến Tàu Ô. Dựa vào các chốt này, địch tiến công sang các chốt của ta, chia cắt trận địa và chặn đường tiếp tế của ta. Đã có lúc lực lượng tiếp tế của ta phải cải trang, giả tranh thành binh lính Sài Gòn, trà trộn vào đội hình của chúng, bất chấp mọi hiểm nguy, đưa nhu yếu phẩm đến cho bộ đội ở các chốt.

Chiến đấu trong điều kiện khó khăn, gian khổ, thiếu thốn như vậy, nên trong suốt cả tháng 7, cán bộ chiến sĩ ta ở khu vực chốt Tàu Ô chỉ đủ sức chiến đấu cầm cự với địch, nhằm giữ vững các chốt cơ bản.

Sang nửa đầu tháng 8-1972, sau nhiều trận phản kích nhằm làm giảm sức ép của địch xung quanh các chốt không có kết quả, Bộ Chỉ huy chiến dịch Nguyễn Huệ quyết định sử dụng một bộ phận lực lượng đánh vào cụm căn cứ phía sau của địch ở khu trung tuyến như Lai Khê, Chơn Thành - nơi đặt Sở Chỉ huy của Bộ Tư lệnh tiền phương Quân đoàn 3 và Sở Chỉ huy Sư đoàn bộ binh 25 quân đội Sài Gòn, nhằm thu hút địch từ trước về phía sau, giảm sức ép của chúng trên khu vực chốt Tàu Ô, đồng thời hạn chế khả năng địch đưa lực lượng đánh ra vùng giải phóng của ta.

Thực hiện chủ trương mới này, ngày 11-8-1972, bộ đội đặc công cùng với Tiểu đoàn pháo cối 22mm của ta bất ngờ tập kích căn cứ Lai Khê. Trong lúc đó, một bộ phận lực lượng của Sư đoàn bộ binh 7 và Trung đoàn 205 vận động phục kích đoạn đường từ Chơn Thành đi Lai Khê, chốt chặn đoạn từ Bàu Bàng - Lai Khê, sẵn sàng đón đánh quân địch từ phía bắc đến giải tỏa cho Lai Khê. Nhận được tin căn cứ Lai Khê bị tiến công, địch vội vã điều Liên đoàn biệt động quân số 6 từ Biên Hòa lên ứng cứu. Chúng dùng trặc thăng không vận hai tiểu đoàn, tiểu đoàn còn lại đi theo đường bộ. Liên đoàn biệt động quân số 3 bấy giờ đứng chân trên đường 22 cũng được lệnh lập tức di chuyển sang đường 13, đóng quân tại Bến Cát làm dự bị phía sau cho Liên đoàn biệt động quân số 6. Như vậy, phản ứng đầu tiên của địch là điều lực lượng từ phía sau lên, chứ chưa điều Sư đoàn bộ binh 25 quay về ứng cứu. Điều đó không nằm ngoài phán đoán của ta. Vì vậy, ngay khi các tiểu đoàn của Liên đoàn biệt động quân số 6 đang di chuyển, chứa kịp triển khai đội hình chiến đấu, các đơn vị của ta lập tức chặn đánh, tập kích vào đội hình của chúng, gây thiệt hại nặng cho Tiểu đoàn 35 ở bắc Lai Khê. Tiểu đoàn 51 ở tây nam Bầu Bàng (21, 22-8). Để tránh bị tiêu diệt, tiểu đoàn còn lại của địch phải cắt đường chạy về phía nam vào ngày 27-8.


(1) Địch coi trận địa chốt của ta trên đường 13 như “chiếc đinh cái”.
(2) Nhận thấy áp lực của ta trên mặt trận đường 13 đã giảm bớt, trong lúc tình hình ở Quảng Trị rất căng thẳng và đồng bằng sông Cửu Long đang bị ta tiến công, địch lần lượt thay quân trên toàn mặt trận đường 13, đồng thời rút bớt lực lượng ở đây để tăng cường cho các chiến trường khác. Chúng điều Sư đoàn bộ binh 18 và Liên đoàn biệt động quân số 5 lên phòng thủ thị xã Bình Long thay cho Sư đoàn bộ binh 5 + Lữ đoàn dù 1 + Liên đoàn 81 + Liên đoàn biệt động quân số 3; đưa Lữ đoàn dù 1 và Liên đoàn 81 ra Quảng Trị. Ngày 24-7, hai đơn vị này đã có mặt trong đội hình của cuộc hành quân Lam Sơn 72. Trên đường 13, Sư đoàn bộ binh 25 và 2 tiểu đoàn 73 và 74 biệt động quân đến thay thế cho Sư đoàn bộ binh 21 và Trung đoàn 15 về đồng bằng sông Cửu Long để ứng phó với chiến dịch đánh phá tổng hợp của ta.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9028


Lính của PTL


« Trả lời #59 vào lúc: 17 Tháng Một, 2011, 10:26:30 AM »

Ngày 28-8, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3 lệnh cho Sư đoàn 25 bỏ Tàu Ô lui về Chơn Thành và Lai Khê để cứu vãn tình thế ở vùng trung tuyến. Không bỏ lỡ thời cơ, ngày 1-9-1972, ta tổ chức truy kích Sư đoàn 25 đang trên đường vận động, loại khỏi vòng chiến gần 600 tên, bắt sống 84 tên, thu 180 súng các loại. Đây là trậ đánh cuối cùng sau 135 ngày đêm bộ đội ta chốt chặn trên đường 13. Sau trận đánh, địch phải từ bỏ cố gắng giải tỏa đường 13.

Trong thời gian này, phối hợp với hướng chủ yếu trên đường 13, quân và dân địa phương đẩy mạnh hoạt động đánh phá bình định, củng cố vùng giải phóng, tập kích vào một số mục tiêu ở Phước Long như sân bay Phước Bình, Sở Chỉ huy Trung đoàn 9 (Sư đoàn bộ binh 5) quân đội Sài Gòn, đài tiếp vận núi Bà Rá, chi khu Bồ Đức; gây tổ thất đáng kể cho địch. Trên hướng đường 22 và đường 1, ta tập kích đài truyền tin núi Bà Đen (5-5), diệt nhiều đồn bốt, làm chủ khu vực Tòa thánh Tây Ninh. Tiếp đó, ta tập kích Trung đoàn 31 (Sư đoàn bộ binh 21) của địch khi chúng vừa được điều động đến phụ trách khu vực Trảng Bàng - Bảo Nghĩa. Với những thắng lợi trên đây, ta chẳng những giữ vững được vùng mới giải phóng, mà còn nối thông vùng này và vùng căn cứ địa ở Tây Ninh.

Ở vùng giáp ranh Sài Gòn, các lực lượng vũ trang ta duy trì các hoạt động tập kích, phục kích, quấy rối và tiêu hao sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch. Đặc biệt, sân bay Biên Hòa bị ta phản kích (31-8) và dùng lực lượng tinh nhuệ bí mật đột nhập (10-9) phá hủy hàng trăm máy bay các loại, bắn cháy 4 xe tăng và loại khỏi vòng chiến gần 160 tên địch(1).

Tại khu vực Bình Long, cho đến cuối tháng 8, ta không còn giữ được thế bao vây uy hiếp thị xã. Sau các đợt phản kích quyết liệt, địch đã chiếm lại các khu vực xung quanh như điểm cao (28-7), Núi Gió (9-8), Tân Lợi (20-8) và một phần sân bay Téc Ních (6-9). Ở Phước Tuy, ta cũng để mất chi khu Đất Đỏ - Xuyên Mộc vào ngày 12-8, sau gần 3 tháng chiếm giữ.

Tháng 9-1972 đi qua cũng là lúc hoạt động tác chiến trong khuôn khổ chiến dịch Nguyễn Huệ của quân và dân ta tròn 6 tháng. Suốt 6 tháng ròng rã, trên địa bàn trọng yếu của chiến trường Đông Nam Bộ - Bình Long, lần đầu tiên, lực lượng vũ trang ta tổ chức và thực hành chiến dịch quy mô cấp quân đoàn tăng cường, có hiệp đồng binh chủng; lần đầu tiên ta tổ chức trận địa chốt chặn trong khoảng thời gian 4 tháng trên một tuyến đường huyết mạch đường 13, và đã thu được những thắng lợi quan trọng. Ta đã giải phóng và tạo lập được vùng làm chủ, vùng giải phóng dọc theo biên giới Việt Nam - Campuchia, nối thông với căn cứ địa Tây Ninh: khống chế hoàn toàn đường 13 từ bắc Chơn Thành lên đến Bình Long, giành được thắng lợi bước đầu ở tuyến trung gian.

Tuy nhiên, do phải chiến đấu dài ngày, trong điều kiện vô cùng ác liệt, lực lượng bị tiêu hao lớn, sức chiến đấu của bộ đội giảm sút, Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định: Đồng thời với việc kiềm chế chủ lực địch trên đường 13 và thị xã Bình long, chuyển trọng tâm chiến dịch vào cuộc đánh phá bình định ở vùng sâu bắc Bình Dương thuộc Phân khu 5 và vùng Củ Chi đường 1 thuộc Phân khu 1, kết hợp tranh thủ bổ sung, chấn chỉnh, củng cố lực lượng(2)

Thực hiện chủ trương huyển trọng tâm hoạt động trên đây, Bộ Tư lệnh chiến dịch sử dụng Sư đoàn bộ binh 7 được tăng cường thêm Trung đoàn bộ binh 205 và 2 tiểu đoàn đặc công thuộc Trung đoàn 249 cùng bộ đội địa phương, dân quân, du kích, mở đợt đánh phá bình định trên hai hướng bắc Bình Dương (hướng chính) và Củ Chi (hướng phụ); Sư đoàn bộ binh 9 tiếp tục trụ bám và kiềm chế địch trên đường 13. Trên hướng chính bắc Bình Dương, ta thành lập Bộ Chỉ huy chung gồm các đồng chí Bộ Tư lệnh Sư đoàn 7, Trung đoàn đặc công 249 và Huyện đội trưởng huyện Bến Cát. Lực lượng tập trung của huyện Bến Cát lúc này gồm có Đại đội 61 và Đại đội 5 (nữ), dân quân du kích biên chế từ tiểu đội đến một trung đội mỗi xã, đặt dưới sự chỉ huy trực tiếp của Ban Chỉ huy huyện đội gồm đồng chí Út Phương và Tám Hòa.


(1) Địch thú nhận bị cháy 108 máy bay các loại, 1 xưởng vô tuyến điện, 57 căn nhà và chết 31 lính (Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử chiến dịch Nguyễn Huệ (1972), tr.49).
(2) Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử chiến dịch Nguyễn Huệ (1972), tr.52-53.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM