Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 30 Tháng Ba, 2020, 08:37:49 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954  (Đọc 341587 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
altus
Moderator
*
Bài viết: 1782



« Trả lời #40 vào lúc: 14 Tháng Mười Hai, 2008, 09:20:41 PM »

Chưa đúng bác Altus ạ.  Grin Chức toàn quyền không còn từ lâu. Cơ cấu của Pháp ở Đông Dương thường được nhắc đến với hai vị trí Cao ủy và Tổng chỉ huy (quân sự). Cao ủy to hơn và gồm cả một phần không nhỏ trách nhiệm về quân sự. Nhưng năm 52-53 đã đượct hay đổi.
Nhiệm vụ dân sự của ông Cao ủy được chuyển giao môt phần cho ông "Tổng ủy viên Pháp ở Đông Dương" (Commiscare general de France en Indochine) và một phần cho ba "ủy viên Công hòa Pháp" ở VN, Lào, CPC.
Không những thế, Tổng ủy viên còn là người chịu trách nhiệm trước chính phủ Pháp về phòng thủ và an ninh ở Đông Dương. Tổng chỉ huy quân sự là người điều hành các hoạt động quân sự trong khuôn khổ các kế hoạch chung mà Tổng ủy viên trình lên chính phủ.

Hé hé hé thế mà kế hoạch ĐBP lại do Navarre trình bày tực tiếp với BTTM quân đội và Chính phủ Pháp, được gật một phát là tự thi hành chứ không phải đi xin ý kiến Toàn Uỷ (Commissaire Géneral) đấy.   Shocked

Tôi dịch là Toàn quyền vì bọn Tây nó thay đổi xoành xoạch, còn ta thì trước nay cứ Toàn quyền với Cao ủy mà phang, gộp chung vào một khái niệm là Toàn quyềnRoll Eyes


Trích dẫn
Câu 14: Câu Navarre là tướng cao cấp nhất của Pháp (tính theo quân hàm) đã từng chỉ huy ở VN?

Không. Còn ông Ngũ kim Tưóng quân, sau truy phong Nguyên soái, Đờ Lát nữa.
Còn một người nữa cũng là tướng 5 sao. Xin chờ bác Altus bổ sung tiếp đáp án.

Hỏi là Na-va có phải không chứ có hỏi là "những ai" đâu nào? Ba-rem điểm rắc rối quá.

Tính chi ly ra thì còn Leclerc (1945-1946) và Ely (1954-1955) nữa.

Logged
chiangshan
Thành viên
*
Bài viết: 3405


No sacrifice, no victory


WWW
« Trả lời #41 vào lúc: 14 Tháng Mười Hai, 2008, 09:55:44 PM »

Lão Leclerc này lên lon nhanh còn hơn tên lửa ấy nhỉ Roll Eyes
Năm 1940 mới là thiếu tá, 6 năm sau đã là tướng 5 sao Shocked
Logged

Dân ta phải biết sử ta
Cái gì không biết cần tra Gúc gồ
mig21-58
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 576

binh nhì


« Trả lời #42 vào lúc: 17 Tháng Mười Hai, 2008, 07:49:51 PM »

câu 101 điện biên phủ :
trong cuộc k/c chống mỹ ,có những địa danh:ĐỒNG LỘC ,TRUÔNG BỒN ...v.v..,là trọng điểm đánh phá ác liệt của không quân và pháo mỹ .thế thì trong k/c chống pháp có trọng điểm nào kiểu như thế không ?
Logged
baoleo
Moderator
*
Bài viết: 1500


« Trả lời #43 vào lúc: 18 Tháng Mười Hai, 2008, 08:15:31 AM »

câu 101 điện biên phủ :
trong cuộc k/c chống mỹ ,có những địa danh:ĐỒNG LỘC ,TRUÔNG BỒN ...v.v..,là trọng điểm đánh phá ác liệt của không quân và pháo mỹ .thế thì trong k/c chống pháp có trọng điểm nào kiểu như thế không ?

Cò Nòi-trong trận Điện Biên.
Logged
mig21-58
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 576

binh nhì


« Trả lời #44 vào lúc: 18 Tháng Mười Hai, 2008, 08:57:39 AM »

câu 101 điện biên phủ :
trong cuộc k/c chống mỹ ,có những địa danh:ĐỒNG LỘC ,TRUÔNG BỒN ...v.v..,là trọng điểm đánh phá ác liệt của không quân và pháo mỹ .thế thì trong k/c chống pháp có trọng điểm nào kiểu như thế không ?

Cò Nòi-trong trận Điện Biên.
quá đúng trở lên  Grin
Logged
chiangshan
Thành viên
*
Bài viết: 3405


No sacrifice, no victory


WWW
« Trả lời #45 vào lúc: 22 Tháng Mười Hai, 2008, 10:00:50 AM »

Cái này chả biết để đâu, cho vào topic này vậy. Công tác viết sử của VN, 1 câu chuyện dài...
http://www.tuanvietnam.net/vn/nhanvattrongngay/5640/index.aspx

Vẫn là mình, người dũng sĩ cắm cờ trên đồi Him Lam!


Câu chuyện cảm động về dũng sĩ khuyết đôi mắt Nguyễn Hữu Oanh - người cắm cờ trên đồi Him Lam, qua lời kể của một cây bút quân đội, suốt nhiều năm đi xác minh lại tên cho "dũng sĩ" mà mình luôn ngưỡng mộ.

Người cắm cờ "quyết chiến quyết thắng"

Cách đây vừa tròn 50 năm, tôi và đám bạn chăn trâu ở quê đã rất ngưỡng mộ và rồi có dịp làm quen anh, người đội trưởng xung kích đã chỉ huy tiểu đội đánh thọc sâu vào trung tâm và là người có vinh dự cắm lá cờ “quyết chiến quyết thắng” trên cứ điểm Him Lam, mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ.



Chiến sĩ Nguyễn Hữu Oanh

Anh là Nguyễn Hữu Oanh, thương binh hạng 1/4, mù hai mắt, mất một cẳng tay trái vì vướng mìn địch khi chiến dịch Điện Biên Phủ đi được nửa chặng đường. Anh sinh năm 1929, quê thôn Phường Nga, Xã Yên Trung, huyện Yên Định, Thanh Hoá, nhập ngũ tháng 7-1949 trong hoàn cảnh trốn khỏi nhà địa chủ theo bộ đội.

Hồi đó, từ trại thương binh mù 139 Nguyễn Thái Học, lần đầu tiên sau chiến tranh chống Pháp kết thúc, anh được về thăm quê để làm thủ tục dạm hỏi chị Nguyễn Thị Thanh, người con gái ở thôn tôi, làm vợ.

Nhà chị Thanh cạnh bờ sông Cầu Chày bên bãi cỏ mênh mông, là nơi lũ trẻ chúng tôi thường chăn trâu. Chính vì vậy sự xuất hiện của người thanh niên có chiếc kính đen to với cây gậy dò đường trên ngực áo gắn ngay ngắn tấm huy hiệu“chiến sĩ Điện Biên” đã tạo nên sức hút rất mạnh tới lũ trẻ chăn trâu chúng tôi.

Khi hiểu sự tình, bọn trẻ chúng tôi rất lấy làm tự hào về anh, một người con quê hương đã có vinh dự cắm cờ Bác Hồ trao trên nóc lô cốt địch ở cứ điểm Him Lam mở màn chiến dịch.

Vì vậy, những hôm người nhà dẫn anh tới nhà chị Thanh, đám trẻ chúng tôi lại nhao nhao bắt anh ngồi xuống bãi cỏ ven sông đòi anh kể chuyện kéo pháo qua đèo “Trâu khóc”, chuyện “kéo pháo ra, kéo pháo vào”… rồi trận mở màn Him Lam rất ác liệt rồi cuối cùng quân ta giành phần thắng.

Thời gian trôi nhanh, năm 1959 đám cưới anh Oanh, chị Thanh được tổ chức tại Hà Nội. Bọn trẻ chúng tôi đều trưởng thành và mùa thu năm 1966 tôi nhập ngũ. Suốt từ đó đến hơn hai chục năm sau do đóng quân xa Hà Nội nên tôi không có dịp liên lạc gặp anh chị Oanh, Thanh.

Dẫu vậy, kể cả trong những năm tháng dài nơi chiến trường Quảng Trị hoặc đóng quân trên biên cương phía bắc, hình ảnh người dũng sĩ Điện Biên, thương binh mù Nguyễn Hữu Oanh luôn in đậm trong ký ức tôi.

Từ Nguyễn Hữu Oanh thành... Trần Oanh

Bẵng đi vì công việc, đến năm 2002, với cương vị đoàn trưởng Đoàn Kịch nói Quân đội, do yêu cầu cần có kịch bản với chủ đề Điện Biên Phủ để chuẩn bị cho đoàn dàn dựng chào mừng 50 năm chiến thắng lẫy lừng, tôi tìm đọc nhiều sách viết về Điện Biên, về Lịch sử Sư đoàn 312 - đơn vị của anh Nguyễn Hữu Oanh trong chiến dịch này .


Cựu chiến binh Nguyễn Hữu Oanh, nguyên tiểu đội trưởng xung kích trận đánh Him Lan (giữa) và bà Nguyễn Thị Thanh, vợ cựu chiến binh Hữu Oanh

Khi đọc đoạn trận đánh Him Lam trong cuốn sử Sư đoàn 312 và các sách khác, sự kiện trận đánh Him Lam đều được ghi khá chi tiết đai ý:

Đúng 17 giờ 30 phút ngày 13-3-1954 quân ta được lệnh tấn công cứ điểm Him Lam. Khi có lệnh nổ súng, các mũi quân ta đồng loạt tấn công địch cả 3 mỏm 1,2,3 cứ điểm địch.

Trong khi mũi tiến công mỏm 2 và 3 phát triển thuận lợi thì hướng mỏm 1, mũi chủ yếu của tiểu đoàn 11 gặp ngay khó khăn khi đột phá mở cửa hàng rào.

Đại đội 243 sau khi phá được 7 hàng rào, đến hàng rào cuối cùng thì bị hai hoả điểm địch bắn chéo cánh sẻ rất quyết liệt làm tiểu đoàn 11 không thể nào tiến lên được. Tình hình vô cùng khẩn trương, nếu không dứt điểm, địch trong Him Lam có thể phản kích, các cứ điểm địch khác có thể tiếp viện giải vây.

Trước tình thế đó, đại đội 243 được lệnh xử dụng lực lượng bộc phá dự bị có đại liên yểm trợ bằng mọi cách phải quyết tử lao lên đánh bung hàng rào cuối cùng.

Loạt bộc phá vừa dứt, tiểu đội trưởng xung kích Trần Oanh (đúng ra phải là Nguyễn Hữu Oanh) dẫn đầu tiểu đội dao nhọn lao thẳng vào trung tâm như lốc cuốn dẫn đầu đội hình xung kích của tiểu đoàn 11 toả đánh chiếm các mục tiêu.

Bị địch cản lại, Nguyễn Hữu Oanh phân công 5 chiến sĩ đánh các lô cốt nhỏ, còn anh với quả thủ pháo trong tay, bằng động tác mau lẹ và chính xác anh đút qua lỗ châu mai tiêu diệt bọn địch trong lô cốt mẹ và anh nhảy lên nóc lô cốt phất cờ “quyết chiến qưuyết thắng” vẫy toàn đơn vị đánh thẳng vào trung tâm cứ điểm.

Đến 23 giờ 30 phút ta hoàn toàn làm chủ cứ điểm Him Lam…mở toang cánh cửa sắt án ngữ phía bắc cứ điểm Điện Biên Phủ.

Những chi tiết trên cơ bản đúng như chuyện chiến đấu mà anh Nguyễn Hữu Oanh thường kể cho bọn trẻ chúng tôi nghe từ năm 1958 và tại trang 154 trong cuốn “Lịch sử Sư đoàn bộ binh 312” cũng thể hiện như vậy.

Chỉ có điều đáng lẽ ghi Tiểu đội trưởng xung kích Nguyến Hữu Oanh sách lại ghi là Tiểu đội trưởng xung kích Trần Oanh!

Cẩn thận tôi tìm tra một loạt sách hồi ức, ký sự khác của các vị lãnh đạo hàng đầu Quân đội, Bộ Tổng Tham mưu cũng đều ghi là Trần Oanh. Trước sai sót ấy tôi nghĩ ngay tới việc cần phải góp phần vào việc chỉnh sửa lại đúng tên Nguyễn Hữu Oanh trong cuốn sách này.

Ngày gặp gỡ...

Để cẩn thận, đầu năm 2002 tôi tìm tới nhà anh chị Oanh, Thanh; vừa là thăm gia đình sau 45 năm xa cách, vừa là hỏi chuyện lại bác Nguyễn Hữu Oanh về trận đánh Him Lam…

Thật tuyệt vời, mọi tình tiết chiến đấu, tên từng chiến sĩ trong tiểu đội, cán bộ trung đội, đại đội đến trung đoàn…bác Oanh kể khá chi tiết chính xác như mới xảy ra cách đây không lâu.

Bác nhớ mình thuộc biên chế tiểu đội 1 trung đội 4, Đại đội 243, tiểu đoàn 11, trung đoàn 141, Đại đoàn 312. Đặc biệt, với giọng xúc động, bác kể với tôi, đúng trưa ngày 13 tháng 3 năm 1954 trước khi hành quân chiếm lĩnh trận địa đánh trận mở màn chiến dịch, chi bộ đại đội 243 họp công bố quyết định của đảng uỷ cấp trên công nhận bác là đảng viên chính thức.


Trung tướng Trần Linh (trái) và cựu chiến binh Nguyễn Hữu Oanh

Qua chuyện kể tôi được biết bác Oanh, Thanh vẫn liên lạc với người Chính trị viên tiểu đoàn 11 khi đánh Him Lam là Trung tướng Trần Linh, nguyên Phó Tư lệnh Chính trị Bộ đội Biên Phòng.

Tôi tìm đến gặp ông và nêu những ghi chép trận đánh Him Lam qua lời kể của bác Nguyến Hữu Oanh và Trung tướng Trần Linh xác nhận hoàn toàn đúng sự thực.

Từ đó tôi lặng lẽ chuẩn bị cứ liệu để có cơ sở đề xuất với Sư đoàn 312 sửa tên trong sử cho bác Nguyễn Hữu Oanh, dù biết việc này không phải nhanh chóng đạt hiệu quả.

"Mình còn có một gia đình, còn được gặp thủ trưởng..."

Trước sai sót trên, năm 2004 trước dịp kỷ niệm 50 chiến thắng Điện Biên Phủ, tôi và Trung tướng Trần Linh thống nhất thông tin cho gia đình bác Nguyễn Hữu Oanh biết dù đây là tin không vui có thể gây sốc cho bác Oanh.

Tôi đem cuốn “Lịch sử sư đoàn 312” (NXB QĐND 2000), cuốn “ Điện Biên Phủ, điểm hẹn lịch sử” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp- (NXB QĐND 2000) đọc cho bác Nguyễn Hữu Oanh nghe đoạn đánh Him Lam.

Vì bác Oanh có bệnh huyết áp cao, phải sống trong bóng tối suốt 50 năm qua, lường trước diễn biến tâm lý không tốt, tôi cố tạo không khí nhẹ nhàng theo tinh thần có sai thì sửa, sơ xuất này sửa dễ thôi.

Đây là lần đầu tiên bác Oanh được nghe đoạn sử viết về trận đánh Him Lam mà mình là nhân vật trong cuộc. Nghe tôi đọc xong đoạn đó, lặng một lúc bác cất tiếng nhẹ nhàng: “Chuyện về tiểu đội xung kích, sử ghi như thế là đúng, nhưng tên người thì sai. Nhưng thôi, may mình vẫn còn sống, có một gia đình, còn được gặp thủ trưởng".

Nói đoạn, bác Oanh giang cánh tay lành và phần cánh tay cụt ôm vai Trung tướng Trần Linh, mặt ngẩng lên ra vẻ suy tư làm cả căn phòng nhỏ một chút chìm trong im lặng.

Để lấy lại không khí bình thường, tôi hứa với bác Oanh sẽ có cách làm hợp lý để việc chỉnh lại tên cho bác trong cuốn sử Sư đoàn nhanh được thực hiện.

Với đơn vị, việc làm đó là trách nhiệm, với gia đình, đó là niềm tự hào chính đáng vì đã có người chồng, người cha, người ông đã góp một phần chiến công vào chiến thắng chung của dân tộc. Làm được điều đó chính là tìm lại sự công bằng cho người dũng sĩ Him Lam đã nửa thế kỷ sống không ánh sáng.

"Mấy chục năm qua trong cuộc sống mình vẫn là mình"

Bất ngờ, ngày 10 tháng 2 năm 2007, chuyện buồn ập đến, do tái phát vết thương, người cựu chiến binh, đảng viên 54 năm tuổi đảng Nguyễn Hữu Oanh từ trần.

Trước khi nhắm mắt người dũng sĩ Điện Biên chỉ tâm tư điều rất giản dị rằng: “Nếu có điều kiện đề nghị đơn vị sửa tên trong cuốn sử: đại đội 243 đánh Him Lam không có ai là Trần Oanh. Nếu không sửa được đừng vì thế mà quá buồn lòng, điều quan trọng là mấy chục năm qua trong cuộc sống mình vẫn là mình".

Sau nỗi đau của gia đình bác Oanh, tôi thấy mình phải xúc tiến nhanh lời dặn của bác.

Và dịp may đã đến, một hôm, tại phòng đọc Thư viện Trung ương Quân đội, tôi tìm thấy trong tập báo lưu năm 1954, tờ báo số 131 ra ngày 20 tháng 7 trang 3 đăng toàn bộ tin các đại đoàn tiến hành Đại hội thi đua, tổng kết chiến dịch Điện Biên Phủ.

Trong số báo này có bài viết về Đại hội mừng công của Đại đoàn 312 kèm một bản danh sách Đại hội bầu được 13 chiến sĩ thi đua của Đại đoàn gồm các anh hùng Trần Can, Phan Đình Giót và ở số thứ tự thứ 4 có tên Nguyễn Hữu Oanh, A trưởng xung kích.

Bài báo còn viết lời biểu dương các chiến sĩ thi đua: “Các chiến sĩ anh hùng ấy mỗi người một vẻ thật xứng đãng với ý nghĩa chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ. Như đồng chí Nguyễn Hữu Oanh người tổ trưởng xung kích vượt qua lưới đạn lanh lẹn nhảy lên chóp chỉ huy sở địch, dương cao ngọn cờ “quyết chiến, quyết thắng” của Bác trong trận Him Lam”.

Có thêm tư liệu quý giá này, tôi tìm gặp Trung tướng Trần Linh đề nghị ông làm nhân chứng để hoàn thiện hồ sơ đề nghị Đảng uỷ, chỉ huy Sư đoàn 312 xem xét chỉnh sửa sai sót nêu trên.

Một thuận lợi nữa, nhân dịp kỷ niệm 60 năm truyền thống Tiểu đoàn Phủ Thông (tiểu đoàn 11E 141), tháng 7 năm 2008, Ban liên lạc truyền thống Tiểu đoàn kịp ấn hành cuốn sách “Tiểu đoàn Phủ Thông” và đã chỉnh sửa tên Nguyễn Hữu Oanh theo ý kiến của Trung tướng Trần Linh,

Ngày 25 tháng 11 năm 2008 tại Sở Chỉ huy Sư đoàn 312, Đại tá Lương Đình Hồng, bí thư Đảng uỷ, Chính uỷ Sư đoàn đã thân mật tiếp chị Nguyễn Thị Thanh và cháu Nguyễn Hữu Dũng con trai cả cùng đi.

Đại tá Lương Đình Hồng thay mặt lãnh đạo, chỉ huy Sư đoàn tiếp thu ý kiến phát hiện của gia đình, những tài liệu liên quan để có cơ sở quyết định chỉnh sửa những sai sót trên trong cuốn Lịch sử Sư đoàn lần bổ sung tái bản tới đây.

Sau ít ngày tiến hành thủ tục gặp gỡ nhân chứng, tra cứu thêm tư liệu khác, ngày 03-12-2008, tại công văn Số 327/CV-SĐ do Đại tá Chính uỷ Lương Đình Hồng ký gửi gia đình chị Nguyễn Thị Thanh và các cơ quan liên quan thông báo quyết định của Đảng uỷ, Chỉ huy Sư đoàn về đính chính toàn văn đoạn văn liên quan tới hành động chỉ huy, chiến đấu của đồng chí Nguyễn Hữu Oanh trong trận Him Lam là:

“Sau loạt bộc phá dữ dội, các chiến sĩ xung kích của tiểu đoàn 11 tràn qua cửa mở. Tiểu đội dao nhọn Nguyễn Hữu Oanh lao vào trung tâm như lốc cuốn. Bị địch cản lại, Oanh phân công 5 chiến sĩ đánh các lô cốt nhỏ, còn anh đánh lô cốt mẹ.

Sau khi lừa địch, áp sát cửa hầm, chỉ bằng một quả thủ pháo, Nguyến Hữu Oanh đã diệt lô cốt mẹ, cắm cờ lên đỉnh lô cốt vẫy toàn đơn vị đánh vào tung thâm…”.

Nhận công văn gia đình, người thân rất phấn khởi, với tôi cũng được nhẹ lòng vì đã góp phần trả lại đúng tên cho người dũng sĩ năm xưa đã từng 5 lần được tặng thưởng Huân chương do lập nhiều chiến công trong chiến đấu.

Sự việc như vậy đã có hậu, cũng xin được nói thêm đôi điều cùng độc giả.

Kể thêm về cuộc sống của người dũng sĩ cắm cờ đồi Him Lan

Năm 1959, sau khi anh chị Oanh, Thanh tổ chức lễ cưới, chị được Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam nhận vào công tác tại trại Nhi đồng miền Bắc, chuyên chăm sóc con em cán bộ cao cấp công tác ở các cơ quan Trung ương.

“Nếu có điều kiện đề nghị đơn vị sửa tên trong cuốn sử: đại đội 243 đánh Him Lam không có ai là Trần Oanh. Nếu không sửa được đừng vì thế mà quá buồn lòng, điều quan trọng là mấy chục năm qua trong cuộc sống mình vẫn là mình".

Khi giặc Mỹ mở cuộc chiến tranh phá hoại ra miền Bắc, chị Thanh bám Trại nhi đồng Miền Bắc sơ tán lên Lập Thạch, Vĩnh Phúc.

Khó khăn gian khổ nhưng vừa làm vừa học, chị nhanh chóng hoàn thành chương trình bổ túc văn hoá cấp 3 và khoá học nghiệp vụ nuôi dạy trẻ do trên cử đi. Còn bác Oanh theo trại thương binh mù sơ tán lên Tản Lĩnh, Ba Vì.

Vợ chồng xa nhau nhưng đều động viên cố gắng vượt lên gian khó phấn đấu sống sao có ích. Bác Oanh vẫn cùng đồng đội miệt mài học chữ nổi Brai đủ để đọc sách chữ nổi, tham gia lao động trông rau mầu, gia công tráng giấy nến đánh máy, gia công làm giấy ráp chơ cơ sở sản xuất thủ công, làm móc khung cửa…

Và quan trọng, trong gian khổ, hạnh phúc gia đình đầm ấm đã đến với anh chị.

Lần lượt các năm 1961,1964, 1970 các cháu Nguyễn Hữu Dũng, Nguyễn Hữu Thành, Nguyễn Thảo Nguyên ra đời được học hành, trưởng thành, có công ăn việc làm, đó là sự đáp đền ý nghĩa nhất của cuộc đời.

Năm 1982 được kết nạp Đảng và từ đó đến 1996 được giao nhiệm vụ Chủ nhiệm nhà trẻ Trung ương, năm 1997 nghỉ hưu tại khu tập thể Pháo đài Láng, cạnh Trường cán bộ Phụ nữ Trung ương.

Điều cảm động là dẫu bị mù nhưng cứ mỗi dịp lễ kỷ niệm, nhất là dịp kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ, người thương binh mù ấy lại tự mình ra ban công nhà treo cờ Tổ quốc, trừ hôm bị mệt, bác nhắc các con làm thay bác và dặn không được để cờ nhàu.

***

Một 22-12 nữa lại đến, nhân 63 năm ngày thành lập Quân đội ta, tôi viết câu chuyện nhỏ này như là thắp một nén nhang cắm trên bàn thờ người dũng sĩ trận Him Lam năm xưa, người đã sống như những lời tâm niệm “là người lính chân chính dù thế nào cũng phải thể hiện “mình vẫn là mình”.


Trịnh Thanh Phi
Logged

Dân ta phải biết sử ta
Cái gì không biết cần tra Gúc gồ
tvm303
Thành viên
*
Bài viết: 482


« Trả lời #46 vào lúc: 23 Tháng Mười Hai, 2008, 05:40:34 AM »

Các anh cho em hỏi có phải Leclerc là tướng Đồng Minh đầu tiên tiến vào GP Paris phải ko ạ? Tay này khà nổi tiếng nhưng đúng là lên quân hàm như tên lửa thật, như bác Giáp lên đại tướng.
Logged

"Give me liberty or give me death" - Patrick Henry
minhtit
Thành viên
*
Bài viết: 14


« Trả lời #47 vào lúc: 12 Tháng Một, 2009, 12:53:58 AM »

Chờ mãi không thấy bác vo quoc tuan viết tiếp nên em mạn phép bác gửi 1 bài hồi ký của Thượng Tướng Vũ Lăng do Nhà văn Quân đội Thiếu Tướng Hồ Phương ghi lại về trận đánh đồi C1 & C2 này

CHIẾC CỘT CỜ TRÊN ĐỒI C1

I
Trước hết tôi muốn nói tới chiếc cột cờ. Đó là một vật chuẩn, đồng thời cũng là một vị trí then chốt, một địa điểm cao nhất trên vị trí đồi C1 của bọn Pháp ở Điện Biên Phủ. Có thể nói suốt ba mươi ngày đêm ròng rã trên C1, các cuộc chiến đấu đều diễn ra giằng co tàn khốc chung quanh cái cột cờ ấy. Dù cho về sau này cái cột đã mất biến, cả cái trụ đã phía dưới cũng đã bị ĐKZ bắn nát, thậm chí cả khu đất cao chỗ ấy đã bị pháo, cối san bằng, chúng vẫn cứ gọi nó là "cột cờ". Cột cờ, hai tiếng ấy luôn luôn được nhắc tới trong tất cả các câu chuyện hằng ngày của chúng tôi. Cột cờ, hai tiếng ấy đã làm đau đầu cán bộ, chiến sĩ chúng tôi không biết chứng nào, và đã thu hút tất cả tâm trí, nghị lực của chúng tôi trong những ngày chiến đấu gay gắt ấy.
*
* *
Trước khi đánh C1, trung đoàn chúng tôi đã trải qua nhiều trận chiến đấu lẻ tẻ nhưng cũng không kém phần ác liệt. Nổi bật nhất là trận "Đồi xanh" bảo vệ pháo 75 mi-li-mét và khu hậu tuyến, trước khi mở màn chiến dịch. Chúng tôi cũng đã trải qua nhiều ngày gian khổ làm đường, rồi kéo pháo vào trận địa. Quân số của trung đoàn đã hao hụt ít nhiều. Sức khoẻ của cán bộ, chiến sĩ đã có chiều bị giảm sút. Tuy nhiên, khi nhận nhiệm vụ đánh C1 - một trong những cao điểm trọng yếu thuộc khu Đông Mường Thanh - tất cả trung đoàn tôi đều vô cùng phấn chấn.
Để chuẩn bị tiêu diệt cái C1 ấy, chúng tôi đã kiên trì đào trận địa, liên tục mười tám đêm liền. Công cuộc đào giao thông hào, trận địa cũng là một cuộc chiến đấu dằng dai đổ máu không ngừng. Ác nhất là pháo Hồng Cúm. Không đêm nào bọn địch ở đó không bắn tới tấp về phía chúng tôi. Từng loạt đạn rền lên như những hồi trống. Cứ mỗi lần nghe thấy những "hồi trống" ấy, lòng tôi lại như có lửa đốt. Đêm nào cũng vậy, cứ khoảng 11, 12 giờ lại thấy anh em khiêng thương binh, tử sĩ trở về. Đêm thì hai, ba, có đêm lên tới chín, mười đồng chí. Ban ngày còn thêm cái nạn máy bay. Đã có một hôm, khi vừa mới ra khỏi cửa rừng, một nửa tiểu đội đã bị mất biến trong một đợt bom dữ dội.
Trận địa của chúng tôi men theo những quả đồi trọc rồi mở rộng trên một tràn ruộng hẹp dưới cân C1. Càng ra tới gần địch, càng bị bắn phá nhiều, chiến hào của chúng tôi càng nông và hẹp dần. Đạn thẳng từ C1 bắn vỗ mặt, đạn thẳng từ A1 và D1, hai vị trí kẹp hai bên nách, bắn chéo vào sườn chúng tôi. Để chống đỡ với những loạt đạn thẳng ấy, chúng tôi đã phải dùng những con cúi bằng rơm bện, dài khoảng hai mét, đường kính mét rưỡi, lăn lên phía trước, rồi bò phía sau mà khoét đất. Công việc càng chậm chạp, tinh thần anh tem càng căng thẳng. Tuy nhiên, với một quyết tâm cao độ, một dũng khí cách mạng đã từng được hun đúc các chiến sĩ, cán bộ đã nghiến răng lại, kẻ trước ngã, người sau tiên lên, không một giây phút chùn bước.
Đã có đêm tôi ra trận cùng với anh em để kiểm tra và cổ vũ, hướng dẫn cho họ mau chóng hoàn thành nhiệm vụ. Nom những người chiến sĩ lấm láp, hì hục với chiếc xẻng sáng loáng trong chiến hào, mặt bóng nhẫy mồ hôi, hoang lổ vết máu, lòng tôi cuộn lên biết bao niềm kiêu hãnh, cảm thương khó tả. Chính họ, những người anh hùng ấy đã gây một tác động mãnh liệt tới tình thần và quyết tâm của tôi trong suốt cuộc chiến đấu ấy, cũng như mãi mãi về sau này.
II
Những trận đánh mở màn: Him Lam, đồi Độc Lập đã diễn ra rất ác liệt nhưng cũng tuyệt đẹp. Tôi ngồi trên đài quan sát nom sang khá rõ. Tinh thần tôi càng thêm nao nức.
Hôm ấy tôi được lệnh về Bộ chỉ huy chiến dịch họp. Từ chỗ tôi về trên ấy có vài tiếng đồng hồ vượt núi. Các cán bộ đơn vị bạn cũng kéo về khá đông đủ. Nhiệm vụ trung đoàn tôi đã được quy định từ trước: tiêu diệt C1 rồi phát triển xuống C2 (một quả đồi thấp hơn, dinh liền với C1 bởi một "yên ngựa". C2 nằm vào phía trong tập đoàn cứ điểm , C1 án ngữ phía ngoài). Lực lượng, tình hình địch ở C1 thế nào, chúng tôi đã nắm tương đối vững, nhưng C2 thì vẫn chưa có một chút tài liệu gì. Tôi tranh thủ hỏi các đồng chí quân báo chiến dịch, nhưng cũng chưa ai rõ vì không bắt được "lưỡi".
Sau khi thảo luận kế hoạch tác chiến, không thấy cấp trên đả động tới việc tăng cường trọng pháo 105 mi-li-mét cho chúng tôi, tôi ngạc nhiên và trong thâm tâm không được vui cho lắm. Phải thú thật hồi đó chúng tôi rất "mê" pháo lớn. Trong suốt mấy năm kháng chiến, chưa lần nào chúng tôi được loại súng này chi viện. Sau buổi họp, một cán bộ cao cấp ở Cục tác chiến gọi tôi tới nói chuyện. Biết tôi thắc mắc về vấn đề pháo, anh an ủi:
- Vũ Lăng ạ! C1 của các anh sẽ lợi dụng được pháo hoả của chiến dịch bắn vào A1, D1 đấy! Địch sẽ bị thu hút vào chỗ ấy, các anh sẽ xung phong dễ dàng thôi. Bộ chỉ huy sẽ cho các anh thêm một trung đội súng cối 81 là đủ.
Tôi vẫn chỉ cười gượng. Anh tiếp:
- Như vậy là dứt khoát các anh không có hoả lực trọng pháo chi viện đấy nhé! Bộ chỉ huy cần tập trung vào những nơi chủ yếu (ý nói A1).
Tôi không cưỡng lại mình được nữa, hỏi lại:
- Vậy C1 nó là cái gì?
Anh cười:
- Cũng quan trọng! Nhưng cái kia (ý nói A1) là cao điểm khống chế. Tập trung chi viện cho nó cũng là bảo vệ cho các anh rồi.
Tôi vẫn chưa thông:
- Nhưng nếu nhở ra A1 không xong, chúng tôi lại xung phong trước, thì anh bảo sao?
Anh cán bộ Cục tác chiến không trả lời thẳng vào câu hỏi của tôi mà nói sang vấn đề tư tưởng:
- Không nên bản vị! Bộ phận phải phục tùng toàn cục anh ạ!
Tôi vẫn cố yêu cầu:
- Nhưng ít nhất các anh cũng phải cho tôi cối 120 chứ.
- Không có 120 đâu!
- Thế thì pháo 75 vậy.
- Cũng không được! Đã bảo tập trung cho hướng chủ yếu kia mà! Các anh đã có ĐKZ, cối 81 là tốt lắm rồi...
Tôi không nói nữa, nhưng trong lòng vẫn còn lo ngại, không biết về sẽ đả thông làm sao cho anh em thông suốt đây, vì tư tưởng của anh em rất thích có pháo. Cũng may, một lúc sau anh cán bộ Cục tác chiến báo cáo mọi chuyện lên anh Văn. Tôi và đồng chí An trung đoàn trưởng (người phụ trách đánh A1 đợt đầu) được gọi lên để anh Văn hỏi chuyện. Tôi mừng lắm.
Anh tiếp hai chúng tôi rất ân cần, rồi nhẹ nhàng bảo:
- Các cậu báo cáo quyết tâm đi!
Sau khi đồng chí An nói, đến lượt tôi. Anh luôn luôn mở đôi mắt tươi vui nhìn chúng tôi, luôn luôn mỉm cười và chăm chú lắng nghe. Chúng tôi báo cáo xong, anh hỏi rất tỉ mỉ về tình hình tư tưởng bộ đội, chất lượng cán bộ, chiến sĩ, tình hình đoàn kết nội bộ. Anh hỏi cụ thể tới từng đồng chí cán bộ đại đội làm nhiệm vụ trọng yếu. Cuối cùng anh hỏi:
- Vậy các cậu có tin tưởng chắn thắng không?
Cho tới lúc này, mọi sự thắc mắc của tôi đã tiêu tan hết. Tôi đáp thành thật:
- Báo cáo anh, tin lắm! Bộ đã giao, nhất định chúng tôi làm được.
Anh hỏi luôn:
- Cấu đánh độ bao lâu thì xong?
Tôi đáp:
- Xin anh 45 phút.
- Thôi cho cậu một giờ!
Đoạn quay lại phía đồng chí An:
- Còn cậu?
An huých khẽ tôi một cái, có ý nói: "Cậu tố lên hết bây giờ tớ biết ăn nói sao đây?", rồi An đáp:
- Báo cáo, cũng in anh 45 phút.
Anh Văn cười:
- Thôi, cái này khó hơn, cho cậu một giờ rưỡi, cùng lắm là hai giờ.
Nói xong, anh lại quay trở về phía tôi:
- Thế bây giờ cậu còn thắc mắc gì nhất?
Mặt tôi nóng bừng. Tôi rất lúng túng, sau cũng đánh báo nói thật:
- Kể ra, Bộ cho được một tí pháo thì tốt.
Anh vỗ vào bả vai tôi, cười:
- Thôi được, sẽ cho cậu hai khẩu 75 và ba mươi viên đạn 105.
Tôi sướng quá:
- Vâng! Thế thì có thể xin cam đoan giữ đúng lời hứa với anh!
- Được rồi! Giờ về phải quán triệt quyết tâm cho anh em! Đơn vị cậu đã có thành tích. Lần này phải cố gắng, đánh cho gọn, cho nhanh, phương châm chung là "Đánh chắc tiến chắc" nhưng trong từng trận phải đánh nhanh giải quyết nhanh.
- Rõ!
Tôi quay trở về đơn vị ngay, hai chân như mọc cánh. Sau đó chúng tôi lại nhận được điện: Bộ đồng ý cho cả một số cối 120 mi-li-mét nữa.
III
Trong lúc còn chuẩn bị, chưa nổ súng, tôi tranh thủ thời gian xuống thăm và động viên đại đội chủ công. Bao giờ cũng vậy, trước khi bước vào chiến đấu, chúng tôi vẫn thường muốn được tận mắt trông thấy tất cả công việc chuẩn bị của cái phân đội chủ chốt ấy.
Tôi tới vừa lúc đại đội đang làm lễ trao cờ "Quyết chiến quyết thắng" cho một chiến sĩ danh dự. Tôi mừng rỡ nhận ra người chiến sĩ ấy là đồng chí Cải, tiểu đội trưởng dao nhọn. Đó là một chiến sĩ nhỏ nhắn, rắn như lim. Khuôn mặt tròn trĩnh, chất phác của anh ta toát ra lòng trung thực và ý chí kiên nghị. Tôi còn nhớ hồi chiến dịch Tây Bắc năm trước, khi đi chuẩn bị chiến trường, tôi có lấy một chiến sĩ đi cùng để dẫn đường. Đó là Cải. Lúc đầu tôi cũng không chú ý tới anh này nhiều lắm, chỉ thấy đó là một chiến sĩ thật thà và có kỷ luật. Những càng đi mới càng thấy đó là một chiến sĩ rất tận tuỵ, tháo vát lại gan dạ và thông minh. Cải có một trí nhớ kỳ lạ. Đường rừng ngoắt ngoéo đến thế nào, Cải vẫn không bao giờ bị lạc. Chỉ có một lần Cải đề nghị chúng tôi dừng lại năm phút để tìm đường. Nhưng chỉ sau hai phút, nhìn dấu cây, Cải đã nhớ ra được con đường mòn mà lần trước chúng tôi đã đi qua. Nom thái độ rất bình tĩnh, linh hoạt của Cải lúc đó, tôi rất thích. Từ đó tôi mang một mối cảm tình đặc biệt với Cải. Mỗi lần gặp nhau, chúng tôi đều chuyện trò rất vui vẻ. Hôm nay thấy Cải được mang lá cờ "Quyết chiến quyết thắng", tôi rất hài lòng. Tôi chúc mừng Cải và nhắc nhủ Cải phải đánh cho dũng mãnh, giải quyết trận chiến đấu cho nhanh. Cải cười - nụ cười rất tươi và hồn nhiên như con trẻ:
- Ban chỉ huy cứ tin ở chúng tôi!
Tôi hỏi:
- Có đề nghị gì không?
Cải lại cười:
- Chỉ đề nghị ban chỉ huy nếu không bận lắm, xuống ngủ với anh em dao nhọn một tối.
Mặc dầu rất bận, nhưng tôi vui vẻ nhận lời ngay. Đêm ấy bộ đội chưa xuất kích. Tôi ngủ với tổ của Cải trong một căn hầm nhỏ, khoét vào vách núi. Chúng tôi chuyện trò gần thâu đêm, hết chuyện thời sự, đến chuyện gia đình, vợ con. Đêm ấy tôi mới được hiểu thêm về cuộc đời khổ cực của Cải. Cải vẫn chưa vợ. Tôi cứ hỏi đùa mãi: muốn lấy vợ Thái hay vợ Kinh? Cải đáp: "Bao giờ độc lập mới lấy". Tôi không nói ra, nhưng đã định bụng sau chiến dịch này trở về sẽ giới thiệu cho cậu ấy một người thật xứng đáng.
Chiều hôm sau (30 tháng 3 năm 1954), tôi cho toàn đơn vị triển khai sớm. Đã có kinh nghiệm, tôi biết nếu tranh thủ triển khai được bí mật, nhanh chóng thì phần thắng đã nắm được một nửa. Tôi có thói quen trước khi ra trận chỉ ăn một miếng cơm nhỏ và uống một hớp nước. Tôi cũng có thói quen lúc bộ đội xuất kích, thường chọn một vị trí đứng có thể nhìn bao quát được tất cả hàng quân, tất cả những người cán bộ, chiến sĩ thân yêu của mình trước khi họ bước vào cuộc chiến đấu một sống một chết với quân thù. Cũng cần phải nói: trong tất cả những người đồng chí thân yêu ấy, vẫn có một số người mà không riêng tôi, bất cứ người chỉ huy nào cũng vậy đều quan tâm và có một mối tình cảm đặc biệt: ấy là những người cán bộ chủ chốt, những người đã cùng mình lăn lộn bao phen, vào sinh ra tử..., những người chiến sĩ giỏi, quý như châu báu của đơn vị. Các đồng chí ấy đều đảm đương những nhiệm vụ nặng nề nhất, và trong quá trình biến hoá của trận đánh, bao giờ họ cũng tự động xung phong tới những nơi hiểm nghèo nhất để giành lấy phần thắng lợi quyết định cho đơn vị, và nói rộng hơn: cho Đất Nước! Tôi thích được bắt tay và nói với họ một vài lời, có làm được như thế, tôi mới yên tâm trở về sở chỉ huy. Mấy hôm trước mưa, giao thông hào đều lõng bõng nước và bùn non. Các chiến sĩ bước đi rào rào, mặt mũi anh nào cũng tươi tỉnh như đi hội. Nhiều anh vừa đi vừa nhảy nhót, cười nói rúc rích. Cải từ phía sau xăm xăm đi tới. Tôi gọi. Cải quay lại, cả khuôn mặt trẻ măng của Cải đỏ bừng lên, tôi siết chặt tay Cải, nhìn vào lá cờ " Quyết chiến quyết thắng" đỏ rực cuốn tròn, gài chéo trước ngực Cải.
- Chúc đồng chí thắng lợi!
Bàn tay Cải cũng siết chặt lấy tay tôi:
- Ban chỉ huy cứ tin ở ah em dao nhọn...
Tôi không biết nói thêm điều gì với người chiến sĩ vẻ vang ấy nữa.
Đồng chí chính trị viên đại đội chủ công bước tới. Nom thấy tôi, anh ôm chầm lấy và ứa nước mắt:
- Tôi xúc động quá anh ạ! Chưa bao giờ trung đoàn ta được đánh lớn và đánh một trận quan trọng như trận này. Anh em lại ra quân đẹp quá!
Tôi cũng ôm lấy vai đồng chí ấy, lưu luyến vô ngần.
16 giờ, bộ đội của chúng tôi đã ra tới cánh đồng. Tôi quay trở về sở chỉ huy. Lên cao nhìn xuống trận địa, tôi càng yên tâm và càng thấy rõ tác dụng của chiến hào. Quân ta đi đông như vậy mà tuyệt nhiên không nom thấy gì vì các giao thông hào đã được nguỵ trang rất kỹ, lá che kín cả bên trên. Tôi thở ra một cái nhẹ nhõm, khoan khoái.
« Sửa lần cuối: 12 Tháng Một, 2009, 01:05:14 AM gửi bởi minhtit » Logged
minhtit
Thành viên
*
Bài viết: 14


« Trả lời #48 vào lúc: 12 Tháng Một, 2009, 12:58:40 AM »

IV
Trời chưa tối. Tôi nhìn cái cột cờ rất rõ. Mảnh vải ba màu xanh, trắng, đỏ treo ủ rũ trên đầu một cái cột tre. Đồn địch đỏ loét, nham nhở hầm hố, chi chít bãi mìn, dây thép gai. Cái cột cờ chọc thẳng lên từ chính giữa đỉnh đồi, nom tựa như một cái đũa bông cắm trên một mâm xôi gấc đã rữa nát. Đây không phải lần đầu tiên tôi nom thấy cái cột cờ này cũng như cái cột cờ xâm lược ở những đồn địch thuộc các chiến trường khác. Tôi không có xúc động gì lãng mạn. Ý nghĩ của tôi hôm nay tập trung, tập trung đến căng thẳng vào những vấn đề thuần tuý quân sự. Làm thế nào để nhanh chóng chiếm được cái cột cờ quan trọng ấy? Chiếm được rồi, giữ thế nào? Dưới cột cờ có hầm ngầm không? Một giả thuyết đặt ra: nếu không chiếm được cột cờ thì tình hình trận đánh sẽ xấu đến thế nào?...
Ánh sáng ngả màu chầm chậm. Chiếc kim đồng hồ đã chỉ gần con số 5. Chiếc "tai" máy nói không rời trên tay tôi nửa phút. Một gợn sóng hồi hộp lướt nhanh trong trái tim tôi. Tôi biết tôi đang chờ đợi chủ yếu cái C1 củ chúng tôi, nhưng đồng thời cũng chờ đợi cả một loạt các trận đánh ngay bên sườn: A1, D1 và x kia là E1, cả một đợt tấn công như vũ bão, quy mô có một tác dụng quyết định tới số phận của toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ này.
Đúng 17 giờ, trọng pháo bắt đầu gầm lên những tiếng đầu tiên, xé tan sự im lặng đang đè nặng trĩu trên chiến trường. Núi rừng rung chuyển ào ào. Cơn dông tố đã bắt đầu. Chỉ sau có hai quả hiệu chỉnh mà chiếc cột cờ đã biến mất. Tôi phải kêu lên: "Giỏi quá!". Và từ đầu dây nói bên kia, Quán, tiểu đoàn trưởng chủ công cũng reo lên: "Xuya lắm! Xuya lắm! Anh em phấn khởi lắm!". Tôi dặn Quán phải quan sát kỹ và chuẩn bị sẵn sàng để xung phong.
Sau khi bắn hiệu chỉnh, trọng pháo chuyển sang bắn phá hoại. Cả cái C1 chìm ngập trong một màn khói khổng lồ, và tưởng chứng như đã nát vụn trong những tiếng sấm sét liên hồi. Tôi ra lệnh cho pháo 75 mi-li-mét, cối 81 mi-li-mét và bộ đội nổ súng tức khắc, đồng thời phóng lôi cũng bắt đầu tranh thủ mở hàng rào. Đây là lần đầu tiên chúng tôi dùng cối 60 mi-li-mét để bắn bộc phá phóng mở hàng rào thay cho các tổ đánh bộc phá ống. Tôi chăm chú theo dõi. Những tiếng bộc phá nổ rất dữ, lửa đỏ rực trời, khói đen phụt ra thành từng vệt dài nối nhau trên sườn đồi. Trong khoảnh khắc, Quán báo cáo về: bộc phá phóng rất chính xác, đã mở được hàng rào nhanh quá dự kiến. Hiện chỉ còn lại hàng rào cuối cùng, có lẽ không phải dùng tới tổ bộc phá ống dự bị.
Quán vừa báo cáo xong thì trọng pháo của trên chi viện cho chúng tôi cũng im bặt. Tất cả chúng tôi ở sở chỉ huy đều ngạc nhiên vì cứ tưởng bắn phải lâu lắm, ai ngờ mới có một loáng đã hết rồi. Vừa lúc đó, một sự kiện khác lại xảy đến: Qua các màn khói đã tan mờ, tôi thấy xung kích đang tới tấp theo đường mở xông lên đồi. Mồ hôi tôi toát ra. Tôi dụi mắt nhìn lại, tưởng mình nom nhầm. Nhưng quả đúng là bộ binh đang xung phong. Tôi chỉ còn kịp vồ lấy máy nói gào lên: " Yêu cầu pháo không cấp tập nữa!". Nguyên do như thế này; trong kế hoạch tác chiến đã quy định: sau khi bắn phá hoại, pháo còn bắn cấp tập mấy phút nữa, rồi bộ binh mới xung phong. Tình hình đã xảy ra hoàn toàn không ăn khớp. Tôi đoán ngay: có lẽ do đã quen với lối đánh cũ: khi pháo vừa dứt là bộ binh xông lên tới lô-cốt rồi. Quả nhiên về sau hỏi ra mới rõ: đồng chí tiểu đoàn phó khi ấy phấn khởi quá đã quên mất quy định trong kế hoạch, tức tốc hạ lệnh xung phong ngay.
Tôi gọi máy nói về đại đoàn vừa xong thì đã nom thấy xung kích lên tới chân cột cờ, và chỉ một lát sau đã thấy như có một ngọn lửa đỏ nổi bùng lên giữa đám khói mù mịt: lá cờ "Quyết chiến quyết thắng"! Cải đã lên tới đấy rồi! Khắp người tôi nóng bừng lên. Lá cờ mỗi lúc một hiện rõ, vẫy vùng ngang dọc, bay lồng lộng trong khói lửa. Máy điện thoại đổ chuông vang rộn. Quán nói như thét lên từ phía bên kia: "Chúng tôi đã chiếm được cột cờ!".
Máu trong người tôi càng cuồn cuộn chảy. Tôi muốn reo to lên. Cột cờ! Chúng tôi đã chiếm được vị trí quyết định rồi! C1 của chúng tôi hoàn toàn chắc thắng rồi! Tôi xem lại đồng hồ: tính từ lúc pháo bắn cho tới lúc bộ binh xung phong chỉ có hai mươi phút, và tính từ lúc xung phong tới khi đánh chiếm được cột cờ chỉ có tám phút. Thật là ngoài dự kiến!
Quán báo cáo tiếp: bộ đội của chúng tôi đã đánh sang khu vô tuyến điện. Địch ở đây đang kháng cự, nhưng yếu ớt. Nghe nói, tôi không lo lắng chút nào. Quả nhiên, cũng chỉ vài phút sau, Quán đã reo lên trong máy nói, báo cáo quân ta đã hoàn toàn làm chủ C1, quân địch đã bị tiêu diệt và bắt sống toàn bộ.
Tin chiến thắng ấy lập tức được báo cáo lên Bộ. Cũng ngay lúc ấy chúng tôi nhận được điện: Bộ quyết định tặng thưởng cho tiểu đoàn chủ công của chúng tôi Huân chương Quân công hạng ba.
Nghe xong, một niềm vui sướng rừng rực tràn ngập khắp người tôi. Niềm xúc động quá lớn ấy cộng thêm sự mệt mỏi căng thẳng thái quá, làm cho quả tim tôi bỗng như bị ai bóp nghẹt lại, và hai mắt hoa lên, hai chân bủn rủn muốn ngã xuống. Đồng chí chính uỷ vội đỡ tôi đi nằm.
Logged
minhtit
Thành viên
*
Bài viết: 14


« Trả lời #49 vào lúc: 12 Tháng Một, 2009, 01:00:19 AM »

V
Đến khi tỉnh dậy tôi thấy mình vẫn còn nằm ở sở chỉ huy. Ngọn đèn bão vàng khè đang phun khói mù mịt trong gian hầm. Tiếng chuông máy điện thoại réo liên tục. Mấy cậu bộ đàm đang gọi ra rả. Đồng chí Phạm Sinh, chính uỷ đang trao đổi ý kiến với đồng chí Hoàn, trung đoàn phó. Câu chuyện giữa hai người có vẻ rất khẩn cấp và nghiêm trọng, phía ngoài trận địa, tiếng trọng pháo đang nổ dồn dập. Những loạt liên thanh kéo dài đến kiệt sức.
Tôi biết ngay có chuyện khó khăn rồi. Dự đoán của tôi không sai. Đồng chí chính uỷ cho biết: Sau khi chiếm được C1, quân ta tiếp tục đánh xuống C2 nhưng đã vấp phải những lưới lửa ác liệt ở yên ngựa. Có những khẩu trọng liên bốn nòng nào đó, không rõ ở đâu đã bắn xối xả vào đội hình của quân ta nhiều lần, qua mấy đợt xung phong. Đấy là chưa kể tới pháo ở Hồng Cúm giội về, Mường Thanh bắn tới. Về phía ta, tiểu đoàn trưởng Quán đã phạm một sai lầm là đưa thêm một đại đội (đại đội 35) lên C1 thành ra rất ùn người, trong khi công sự của địch đã bị phá huỷ gần hết, mà quân ta thì chưa kịp cải tạo hoặc làm thêm những hầm hố mới. Lại thêm một khó khăn nữa: một đại đội của một tiểu đoàn bạn (thuộc đại đoàn khác) có nhiệm vụ tranh thủ lúc C1, D1 và đồi E bị tấn công, thọc sâu vào giữa khe hở của hai đồn C1, D1, đánh vào tung thâm địch. Nhưng không ngờ bãi mìn, dây thép gai ở đó quá dày đặc. Họ phá rất khó khăn, lại bị pháo địch bắn dữ dội, phải tạt lên C1 trú chân nhờ và đang tìm cách đánh xuống. Thành thử hiện nay trên C1 có tới ba đại đội. Cả cái khối người đặc biệt ấy không có đầy đủ công sự đang gần như phơi lưng dưới làn đại bác của địch. Hộ không thể rút xuống dễ dàng được nữa. Trọng pháo địch đã bắn chặn cố định, phong toả mất đường liên lạc về hậu tuyến rồi.
Về phía A1, trung đoàn của đồng chí An cũng đang gặp nhiều trở ngại, chưa hoàn thành nhiệm vụ. Cho nên hoả lực địch từ A1 bắn lướt sườn chúng tôi ở C1 rất gắt. Chỉ có D1 là đã xong. Phía sườn phải của chúng tôi tương đối được bảo đảm.
Nghe rõ được tình hình, tôi hiểu ngay: chúng tôi đã ở vào một tình thế bất lợi, nếu không mau chóng giải quyết thì chiến sĩ sẽ còn thương vong gấp bội, mà rồi C1 sẽ hoàn toàn mất đứt! Chính uỷ Phạm Sinh cùng tôi và đồng chí Hoàn, trung đoàn phó thảo luận; chúng tôi nhận định: vẫn có khả năng (dù không hoàn toàn chắc chắn) phát triển sâu xuống C2, nhưng gay nhất là việc đánh phản xung phong ngày hôm sau. Chúng tôi rất mong A1 thành công, nếu được như thế, chúng tôi sẽ được đơn vị bạn bên đó chi viện, thuận lợi biết ngần nào. Sau khi tính toán, chúng tôi đề nghị lên đại đoàn: Một là, chúng tôi tiếp tục đánh C2, nhưng yêu cầu đại đoàn sẽ bảo đảm cho việc đánh phản xung phong ngày hôm sau. Hai là, trước tình hình khó khăn này, cho rút. Nếu đại đoàn cho rút thì xin cho rút sớm, vì để sáng mai mới rút e sẽ còn khó khăn hơn nữa.
Phải nói thành thực rằng quyết định ấy của chúng tôi không làm cho chúng tôi sung sướng gì.
Cho tới khoảng ba, bốn giờ sáng, tình hình trên C1 vẫn không tiến triển được gì hơn, mặc dầu qua những lời báo cáo của Quán, chúng tôi hiểu rằng tình thần anh em vẫn rất tốt. Cả đại đội bạn cũng vậy, họ đề nghị được tình nguyện cùng tham gia chiến đấu nếu quân phản kích đánh lên. Quán đã kiên quyết dùng đại đội 35 liên tục xung phong xuống C2 mấy lần nữa. Kết quả chỉ có một trung đội đã đột nhập được C2, nhưng ngay sau đó thì mất liên lạc hoàn toàn. Hiện nay địch vẫn phong toả "yên ngựa" rất mạnh.
Chúng tôi bèn cho hoả lực bắn kiềm chế, để chi viện cho trung đội đã anh dũng đột nhập C2, mặt khác cấp tốc yêu cầu pháo của Mặt trận kiềm chế pháo địch ở Hồng-cúm, Mường Thanh.
Sau đó mạng dây điện thoại của chúng tôi bị bắn đứt tứ tung. Việc liên lạc rất khó khăn. Trong khi chờ quyết định của đại đoàn, trung đoàn phó Hoàn đã tung thêm một trung đội lên C1 để đánh dấn một đợt cuối cùng nữa, nhưng cũng vẫn không có kết quả. Mờ sáng, đồng chí Quán báo cáo về; đã nom thấy quân địch từ Mường Thành kéo ra cùng hai xe tăng. Chúng đang tập kết ở dưới chân C2, chuẩn bị đánh lên C1.
Cũng trong thời gian ấy chúng tôi nhận được lệnh của đại đoàn đồng ý cho rút.
Tôi vội cầm lấy máy điện thoại. Nhưng tôi thất vọng, mạng dây lại bị đứt mất rồi. tôi sử dụng bộ đàm. Nhưng ác nghiệt thay, bộ đàm cũng bị hỏng nốt. Máu trong người tôi sôi lên. Tim gan cháy bỏng. Tôi xé vội một tờ giấy viết mấy dòng vắn tắt rồi trao cho một đồng chí cán bộ tác huấn và ra lệnh:
- Bằng bất cứ cách nào, đồng chí phải đưa được mệnh lệnh này tới tay đồng chí Quán ngay lập tức!
Lúc ấy vào khoảng 6 giờ sáng.
Cứ như thế, dù đã rất mệt mỏi, cả ngày hôm ấy tôi vẫn cố tham gia cùng đồng chí Phạm Sinh và các đồng chí khác bàn bạc, theo dõi, chỉ huy cuộc chiến đấu đánh quân phản kích của địch.
Bộ đội của chúng tôi đã không chịu rút khỏi C1. Khi mệnh lệnh tới, Quan và Niệm (chính trị viên tiểu đoàn chủ động) đều rất ngạc nhiên; họ nhận định rằng: Đến lúc ấy rút không lợi nữa, chỉ tổ thương vong thêm. Tiểu đoàn uỷ đã họp cấp tốc tại trận, quyết định lãnh đạo bộ đội ở lại chiến đấu và cử Quán trở về báo cáo. Tình hình A1 lúc đó càng xấu. Địch coi như đã giữ vững được A1, nên dốc lực lượng sang giành lại C1, vì C1 mất, A1 sẽ bị nguy hiểm. (Hai quả đồi A1, C1 ở sát nhau gần như sinh đôi. Vận mạng của hai vị trí ấy có liên quan rất mật thiết với nhau).
Do đó các cuộc chiến đấu giành giật nhau trên C1 đã diễn ra hết sức ác liệt. Lối đánh của địch như sau: bắn pháo thật dữ, sau đó cho bộ binh xung phong. Nếu bị đánh bật trở xuống, chúng lại oanh tạc, rồi lại xung phong. Cứ như thế liên tục hết đợt này tới đợt khác. Lối đánh ấy không có gì mới mẻ nhưng cũng đã gây cho bộ đội chúng tôi nhiều tổn thất, vì như tôi đã nói: công sự, hầm hố của chúng tôi không đầy đủ, chưa vững chắc, ngoài ra bộ đội của chúng tôi lại chưa quen đánh phòng ngự cho lắm. Tôi rất nóng ruột chờ Quán. Nhưng giờ này trôi qua, giờ khác trôi qua, vẫn không thấy đồng chí ấy trở về. Trong thâm tâm tôi chỉ cầu mong rằng đồng chí ấy nếu có gặp chuyện chẳng lành thì cũng chỉ bị thương. Quán đối với tôi không những là một người cán bộ quí, mà còn là một người bạn rất tốt. Hai đứa đã quen biết nhau từ lâu, rất hiểu và thương nhau.
Khoảng 9 giờ 30 phút, chính trị viên Niệm tranh thủ mạng dây điện thoại vừa nối được, báo cáo về:
Đã đánh lui được bốn đợt xung phong rất liều lĩnh của địch. Bốn lần đã bị mất cột cờ, bốn lần quân ta dốc sức chiếm lại được. Trong những đợt chiến đấu này, anh em đánh rất hăng. Đơn vị bạn cũng phối hợp rất tận tình. ĐKZ của họ đã hoạt động khá đắc lực. Chúng tôi báo cáo lên đại đoàn. Chính uỷ Chu huy Mân ân cần dặn đi dặn lại: phải động viên anh em rằng tình hình đã biến chuyển thế này, quyết không lùi nửa bước. Chúng tôi truyền đạt lại cho Niệm. Lần nào cũng vậy, chúng tôi đều được trả lời bằng những lời vắn tắt và rắn như thép: "Chúng tôi còn, nhất định trận địa còn, xin hứa với các anh như thế!". Ban chỉ huy chúng tôi cũng bớt lo đôi phần. Chính uỷ Phạm Sinh không giấu được cảm động, nói: "Chúng mình đặt cậu ấy làm chính trị viên, quả đúng!" - Niệm trước đây vốn là tiểu đoàn phó, anh xuất thân và bản thân cũng là công nhân. Đó là một đồng chí mà chúng tôi rất mến và rất tin cậy.
Để tiếp sức cho Niệm, ban chỉ huy chúng tôi cùng quyết định cho tiểu đoàn thê đội 2 của trung đoàn bước vào chiến đấu.
Nhưng ý định ấy chưa kịp thực hiện thì lại có tin báo về: địch dùng một lực lượng gấp đôi, lại chiếm mất cột cờ!
Mất cột cờ, như vậy có nghĩa là bộ đội chúng tôi đã mất một nửa C1 và đã bị dồn xuống một thế thấp hơn, bị địch uy hiếp, chân đứng bấp bênh không vững.
Lại nói về bộ phận của chúng tôi đã đột nhập C2; từ buổi sáng trở đi chúng tôi không sao bắt liên lạc được với anh em nữa. (Nói chung, từ buổi sáng, việc chỉ huy của trung đoàn không còn được thông suốt đều đặn như hồi đêm, vì các cuộc chiến đấu đã diễn ra rất ác liệt, phức tạp, mạng lưới thông tin luôn luôn bị phá huỷ). Chúng tôi nhận thấy rằng phải cố gắng chiếm lại cột cờ bằng bất cứ giá nào. Vì nếu mất cột cờ, coi như mất C1 và mất C1 thì thôi, bao nhiêu công lao và xương máu của chiến sĩ sẽ trở thành uổng phí. Hơn nữa, sau này có đánh lại, cũng sẽ rất khó khăn vì yếu tố bí mật, bất ngờ đã mất rồi. Đại đoàn cũng nhất trí với chúng tôi như vậy và cũng đồng ý phải tập trung lực lượng nhanh chóng giành lại cột cờ tức khắc.
Trong khi ấy hai khẩu đội pháo 75 mi-li-mét báo cáo về: Họ đang bị máy bay, pháo binh địch oanh tạc rất dữ. Cối 120 mi-li-mét cũng thế. Họ xin chỉ thị. Chúng tôi nhận định rằng thiếu hoả lực này rất nguy hiểm, bèn yêu cầu anh em phải bám chặt lấy trận địa để yểm hộ cho bộ binh phản xung phong. Chúng tôi kêu gọi tinh thần thương yêu giai cấp, động viên tinh thần dũng cảm ngoan cường của họ. Kết quả họ đã tỏ ra rất hăng hái thực hiện những yêu cầu ấy. Những loạt đạn liên tiếp bay sả về C1, mở đường cho những đợt phản công của tiểu đoàn Niệm. Liên tục trong mấy giờ liền, Niệm báo cáo về: lúc giành được cột cờ, lúc mất. Tình hình vẫn căng thẳng. Và cho tới 14 giờ thì Niệm báo cáo gần như thất vọng. Lần này địch đã đứng chân khá vững ở cột cờ. Chúng tôi hiểu ngay: tiểu đoàn Niệm đã kiệt sức! Bộ tư lệnh đại đoàn trực tiếp dùng bộ đàm nói chuyện với Niệm, động viên anh phải cùng đồng đội giữ vững trận địa không được bi quan, dao động, phải đề cao tình thần quyết chiến quyết thắng của người đảng viên đương đầu với quân thù. Về phía trung đoàn, chúng tôi quyết định phải cấp tốc tăng viện cho Niệm, phải hợp đồng bộ, pháo thật chặt chẽ, tổ chức một đợt phản công thật mạnh mẽ, mới mong giành lại được cột cờ và hất hoàn toàn bọn địch ra khỏi C1, chấm dứt tình trạng giằng co nhùng nhằng như trước. Chúng tôi bèn tập trung hoả lực lại, cho bắn mãnh liệt và khu cột cờ, một mặt tung ngay một trung đội của thê đội 2 vượt mọi lưới lửa phong toả lên C1, đợt pháo hoả của chúng tôi lần này tập trung vào một mục tiêu nên đã công phá rất mãnh liệt. Các chiến sĩ pháo binh đã biểu lộ một tinh thần thương yêu giai cấp, một dũng khí chiến đấu tuyệt đẹp. Dưới trận địa, bộ binh của chúng tôi lại có sáng kiến buộc băng cá nhân, vải dù, khăn tay vào các đầu gậy cắm trên các miệng chiến hào làm chuẩn; cho nên dù hai bên ta, địch chỉ cách nhau không ngoài năm, sáu mười mét, pháo cối của ta vẫn nã rất chính xác, không hề làm ảnh hưởng tới sinh lực ta một mảy may.
Dưới trận công phá nặng nề ấy, hầm hố của bọn địch bị phá huỷ hầu hết, và đội hình của chúng tan rã hẳn. Bọn địch chạy giạt về phía sau. Chính trị viên Niệm kịp thời chỉ huy bộ đội bám sát, đánh giáp lá cà bằng tiểu liên, lựu đạn, và cả lưỡi lê nữa. Trong đợt phản công quyết liệt ấy, nhiều thương binh cũng lăn xả vào chiến đấu. Có nhiều cuộc vật lộn đã diễn ra trong các hầm hố, ngách hào. Những chiến sĩ nhỏ bé của chúng ta đã đè bẹp cả những tên lính nhảy dù to béo và hung ác nhất. Trong khoảnh khắc, Niệm báo cáo về: đã giành lại được cột cờ! Sau đó anh hớn hở báo cào tiếp: toàn bộ C1 đã được giải phóng. Tôi thở trút ra như cất được một gánh nặng ngàn cân. Nhẩm tính lại, căn cứ vào các báo cáo của Niệm, các chiến sĩ của chúng tôi đã trải qua hai mươi lượt giành đi giật lại cái cột cờ từ sáng tới giờ.
Sau đợt phản công thắng lợi, chúng tôi chỉ thị cho Niệm phải mau chóng củng cố công sự, trận địa. Trời càng về chiều, chúng tôi càng phấn chấn, càng tin rằng có thể giữ vững được C1. Lúc đó có tin bên D1 địch phản kích lên, nhưng cũng đã bị đánh tan, đơn vị bạn vẫn làm chủ ngọn đồi ấy. Tôi càng thêm mười phần vững dạ. Tuy nhiên trong niềm vui ấy vẫn có những nỗi đau buồn thật xót xa. Chúng tôi đã được tin rõ ràng: Quán hy sinh ngay từ lúc xuống tới chân đồi. Cải cũng đã ngã xuống, khi anh lao nhanh như một mũi tên tới chiếm cột cờ địch và giương cao ngon cờ "Quyết chiến quyết thắng" đỏ thắm của Tổ quốc lên. Nặng nề hơn nữa: cả cái trung đội (của đại đội 35) lọt sang C2 đã bị hy sinh tới người cuối cùng. (Về sau này bắt được tù binh dưới C2, chúng tôi được biết rõ hơn: những người chiến sĩ của trung đội ấy đã bị bọn địch đông gấp bội vây chặt và cắt mất đường về. Nhưng họ đã chiến đấu với một tinh thần quyết chiến cao độ làm cho tất cả binh lính địch đều phải khiếp sợ. Hết đạn, hết cả lựu đạn, họ dùng tới những quả bộc phá cuối cùng, lao cả người, cả bộc phá vào đội hình quân thù. Nhiều chiến sĩ đã hy sinh, răng vẫn còn cắn ngập trong cổ họng đối phương. Không có một người nào chịu nằm giúi ở trong những hố cá nhân trú ẩn. Tất cả những người anh hùng ấy đều hy sinh trong những tư thế chiến đấu cực kỳ hiên ngang, lẫm liệt).
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM