Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 24 Tháng Một, 2020, 07:11:29 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Cành thanh mai đã ra hoa (truyện ký - Hà Dũng)  (Đọc 27949 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
nttran1979
Thành viên
*
Bài viết: 45


« vào lúc: 19 Tháng Chín, 2010, 10:34:08 PM »

Mình thấy có nhiều bạn tìm đọc sách về đặc công, nên có vài mẩu truyện sưu tầm được nên đưa lên để các bạn cùng đọc.

(Nguồn từ bạn Anh Nguyễn)



CÀNH THANH MAI ĐÃ RA HOA (truyện ký - Hà Dũng)



Phải đến lúc này, hạ tuần tháng 3, dải rừng già trầm mặc bên sườn phía đông dãy Trường Sơn, nơi đặt sở chỉ huy của Bộ tư lệnh mặt trện đường 9 mới thực sự có đôi chút sắc màu của mùa xuân Tân Hợi.

Đó là lúc mà những trận mưa xuân lâm thâm như một làn sương mỏng manh, mơ hồ phủ lên ngàn cây xanh săm, lầm lỳ, gân guốc và khô khốc. Gió mùa đông bắc, trong suốt mấy tháng qua đã rắc lên khoản không gian màu  xanh ấy một lớp cát bụi đất đỏ. Mưa sương rả rích, êm dịu đã làm cho cây lá bóng nhãy lên, trở lại vẻ mượi mà muôn thuở. Từng giọt, từng giọt rơi xuống lớp đất dày là mục khô tạo thành những tiếng sột soạt vui vẻ, rồi nhanh chóng thấm vào đất, dần dà tưới ướt những rễ cây. Thế là, giống như người khát được uống, cây rừng ngày đêm rì rầm chuyển động không ngừng đưa nhựa sống lên rải khắp cơ thể khô cằn khiến cho thân cây trở nên tươi tắn, lớn phổng lên và đan khít vào nhau hơn nữa. Những búp lá non nở bung ra như những ngón tay xinh xắn của trẻ sơ sinh, rụt rè bên những chùm lá đã già hay đang đô thanh xuân, khẽ rung rinh khi một làn gió nhẹ lướt qua. Rồi chẳng bao lâu, từ những kẽ lá, đầu cành, nụ hoa nhú ra trắng hay hồng, lúc đầu chỉ bằng đầu kim hay hạt tấm và lớn dần trong lớp mưa bay lạnh ngắt. Rồi muôn loài hoa với đủ sắc màu rực rỡ lần lượt nối nhau trang điểm cho tấm màu xanh muôn thuở của rừng già. Khu rừng được ướp bởi một mùi thơm thanh khiết nhẹ nhàng và kín đáo của hương hoa, càng trở nên hấp dẫn bờ bản hòa tấu của âm thanh ban mai: tiếng vi vu của ong mật, tiếng xào xạo của lá vàng, tiếng hót nhí nhảnh hay vui tươi hay dạo mạo của loài chim, tiếng lo âu hay nũng nịu của nai con gọi mẹ và cả tiếng rỉ rào của gió biển rải về mơn man trên những búp lá thanh xuân.

Nhưng cái âm điệu Mùa Xuân ấy, gần như ngày nào cũng vậy chỉ ngự trị không gian được lúc bình minh. Đến khi ánh mặt trời đã quét những ánh nắng rực rỡ đầu tiên trên mặt biển và cảnh vật đã thực sự trở nên rõ ràng thì thinh không bỗng ầm ầm vang động bởi những tiếng rít rú của hàng đàn máy bay phản lực Mỹ cất cánh từ những hàng không mẫu hạm ngoài biển Đông. Chúng lao vào đất liền với dáng hùng hổ của những tên kẻ cướp hung bạo. Chúng rạch nát bầu trời Quảng Trị, tìm săn đuổi những đoàn ô tô ngụy trang xanh rờn chở đạn hay kéo pháo đang lầm lỳ bò chậm chạp trên những nẻo đường mòn tiến vào hướng đường 9, từ Đông Hà đến Khe Sanh, hay nối nhau bổ nhào trút bom xuống những tọa độ mà đêm qua hay ngày hôm qua chúng đã đánh dấu được trên bản đồ bay nhờ trinh sát thám không hay chỉ điểm dưới đất. Phần lớn là chúng bay cao tránh tầm lưới lửa phòng không của ta, tham gia chi viện cho quân của chúng ở tận Bản Đông, cầu Ka Ki hay thị trấn Sê Nô bên đất bạn Lào. Từ lúc ấy cho đến tối mịt, người ta chỉ còn nghe thấy tiếng trầm rền của bom nổ từ xa mãi, tiếng uỳnh oàng không ngớt của đại bác hai bên. Cuộc sống của những con người đang hoạt động dưới màu xanh mướt của ngọn cây mới diễn ra với một nhịp điệu cực kỳ khẩn trương căng thẳng.

Chiến dịch đường 9 – Nam Lào đang đi đến giai đoạn cuối và vì thế càng trở nên quyết liệt. Bộ Chỉ huy của ta quyết tâm giáng một đòn chí tử bằng tất cả sức mạnh của mình cho hai sư đoàn rưỡi châu Mỹ và bốn sư đoàn thiện chiến nhất của quân Sài Gòn, đẩy mạnh phối hợp chiến trường nhằm chia lửa và phân tán lực lượng địch, tạo thuận lợi thêm cho mặt trận chính. Sở chỉ huy mặt trận đường 9 vào những ngày cuối tháng ba vì thế càng bị cuốn hút vào cơn bão lốc chiến trường ấy.

***

Chiếc lán nhỏ, lợp mái tranh, tường cót nứa, ẩn kín dưới tán lá cây rậm rạp, được ngăn làm hai gian nhỏ: gian trong là phòng ngủ có đặt hai chiếc giường dã chiến. Gian ngoài có vẻ rộng hơn là nơi làm việc có một bộ bàn ghế mộc sơ sài, một chiếc tủ nhỏ chỉ cao khoảng một mét, hai chiếc máy điện thoại. Nổi bật hơn cả là tấm bản đồ chiến sự mặt trận đường 9 – Nam Lào với những ký hiệu xanh đỏ chi chít treo trên cót vách. Tư lệnh đặc công, phụ trách chi huy phó mặt trận đường 9 Nguyễn Chí Điềm đang đứng trước tấm bản đồ. Gọn gàng trong chiếc áo bông quân phục và mặc dầu đã đi giày da, ông cũng chẳng cao hơn thêm lên bao nhiêu. Với tầm vóc nhỏ bé và chiếc điếu cày chỉ dài gang tay do cậu cần vụ sáng tạo nên từ một đoạn ống kim loại máy bay Mỹ, mới trông, ông giống một viên chức dân sự cấp huyện. Nhưng khi ông đeo kính và đứng trước tấm bản đồ với giọng nói sôi nổi có tính chất khẳng định và một chiếc que dài trong tay, thì ông bộc lộ rõ ra là một người chỉ huy có bản sắc riêng. Những lúc này dáng mặt ông băn khoăn, có vẻ không vui.

Một chiếc máy điện thoại bỗng reo lên một hồi ngắn nghe cạch cạnh, vừa đủ cho người trong nhà nghe. Tư lệnh Điềm nhắc ống nghe lên:

-03 nghe đây

Đáp lại giọng nói trầm, hơi khàn của ông, là tiếng nói trong trẻo của cô điện thoại viên thường trực ở phòng trực ban:

- Báo cáo đồng chí 03, có phái viên mặt trận Bộ xuống muốn được gặp và làm việc với đồng chí. Có thể đưa vào thẳng chỗ đồng chí không ạ?

“Lại cái chuyện đốc chiến đây!” – Đại tá Điềm nghĩ thầm rồi tặc lưỡi trả lời:

- Cô nói với trực ban đưa đồng chí phái viên Bộ vào chỗ tôi nhé!

Đặt ống nghe, đại tá Điềm thong thả nhồi thuốc vào chiếc điều cày, rồi cũng dáng thong thả như vậy, ông đánh diêm và ghé miệng rít một hơi dài, ngửa cổ lên phun ra một làn khói xanh mù mịt. Ông thoáng nhớ lại những hoạt động chiến đấu của bộ đội. Đặc biệt là của lực lượng đặc công đường 9 trong đợt hoạt động vừa qua. Tự nhiên cặp mắt mệt mỏi của ông lại lướt trên tấm bản đồ một  lượt nữa. Ông chuẩn bị để sẵn sàng trình bày với phái viên Bộ những điều vướng mắc của ông đối với việc sử dụng đặc công trong tác chiến hiệp đồng binh chủng trong đợt chiến dịch vừa qua.

Anh chiến sỹ cảnh vệ đưa một người có vóc dáng cao lớn, đi đôi giày vải, lưng khoác tấm vải dù Mỹ.

- Báo cáo đồng chí phó chỉ huy mặt trận, Xuân Quang có mặt!

Người cán bộ vừa bước lên thềm nhà, vừa cất tiếng chào vui vẻ, thân mật. Tư lệnh reo lên:

- Ôi, Tưởng ai, hóa ra là cậu đấy à? Tớ đoán cậu xuống có việc gì rồi!

Người cán bộ có tên Xuân Quang, chính là trưởng phòng tác chiến của Bộ tư lệnh đặc công, hiện là trưởng phòng đặc công trong Bộ tham mưu của mặt trận Bộ. Khi vào chiến trường tham gia chiến dịch này, anh cùng di với tư lệnh binh chủng nhưng do diễn biến và yêu cầu của tình hình, anh được giữ lại trên mặt trận Bộ đặc trách theo dõi các lực lượng đặc công toàn mặt trận, còn tư lệnh binh chủng thì được Bộ giao nhiệm vụ làm chỉ huy phó mặt trận đường 9, đặc trách các lực lượng đặc công tác chiến trên địa bàn bắc Quảng Trị. Vì là người nhà, nên hai người trò chuyện với nhau rất thân mật, cởi mở. Sau khi hỏi thăm sức khỏe tư lệnh, Xuân Quang đi đến bên tấm bản đồ, quan sát một lượt rồi khẽ nói:

- Các “cụ” trên ấy có ý nóng ruột về việc đánh đá của đặc công mình trong đợt vừa qua nên cho tôi xuống hỏi anh lý do vì sao như vậy. Bản thân tôi ở trên ấy cũng rất lo lắng. Chúng ta có nhiệm vụ quan trọng trong chiến dịch và phải chứng minh như thế nào cho những luận điểm mà chúng ta đã tổng kết vừa qua về vai trò chiến dịch, chiến lược của bộ đội đặc công trong chiến đấu hiệp đồng binh chủng.

Tư lệnh pha trà, rót nước rồi đẩy chiến cốc đến trước mặt người cán bộ cộng sự rất gần gũi và tâm đắc của mình. Giọng ông không giấu được nỗi băn khoăn:

- Quang này! Cậu với mình hai đứa ở với nhau thế nào không nói làm gì. Nhưng bây giờ cậu là cấp trên của mình xuống đây, mình sẽ báo cáo để cậu nắm được tình hình đặc công và chúng mình cùng bàn bạc với nhau xem phải nhưu thế nào. Bởi vì chính mình cũng chưa hài lòng với hiện trạng này. Thằng địch mở chiến dịch Lam Sơn 719, bộc lộ toàn bộ lực lượng ra dã ngoại, thoát ly hậu cứ là cơ hồi rất lớn cho đặc công ta làm bàn. Thế mà ta đã chứng minh khả năng như thế nào? Có làm được một số trận cũng đáng nói đấy, nhưng chưa phải đã phát huy hết khả năng. Mình với cậu sẽ cùng tìm nguyên nhân để kịp thời khắc phục. Bây giờ đã là giữa tháng ba rồi.

Nói xong, tư lệnh kéo chiếc xà cột da, mở nắp lôi ra một xấp giấy. Đó là những tờ điện báo của các đơn vị đặc công trực thuộc các sư đoàn và của đặc công trực thuộc mặt trận.

Xuân Quang có nước da đỏ au và thể lực rất cường tráng. Với sự thành thục nghiệp vụ của một trưởng phòng tác chiến binh chủng, anh đỡ tập giấy từ tay đại tá Điềm, rồi vừa đọc từng tờ, vừa đưa mắt đối chiếu trên bản đồ treo trên vách:

- Như thế là từ đầu chiến dịch tới nay, đặc công 403 không đánh được trận nào. Nó được giao nhiệm vụ vào Lao Bảo nhưng không vào được. Sau đó lại giao nhiệm vụ cho nó vào Bản Đông nhưng cũng không vào được. Loay hoay mãi, sư đoàn cho chuyển sang vác gạo!... thằng d 11 sư đoàn 11, hiệp đồng với bộ binh tập kích cụm cơ giới của thiết đoàn 4 chạy về Bản Đông, đánh được nhưng bị tiêu hao nặng. Trận tập kích vào d 2 dù ngụy ở cao điểm 555 cũng không thành công. Nó đánh được hai trận tập kích dã ngoại, diệt một đại đội địch… Anh đặc công 320 mãi tới ngày 11 tháng này mới nhận nhiệm vụ, mới đánh được vài trận cò con… Đặc công 324 hiệp đồng với bộ binh vây lấn đánh vào chỉ huy sở tạm được… Anh d 10 sư 2 đánh trận này được: ngày 5 tháng ba nó mới nhận lệnh, ngày 7 đã tập kích sở chỉ huy trung đoàn 2 sư 1 ngụy ở điểm cao 725 diệt khoảng một trăm tên, phán bốn pháo, tạo điều kiện thuận lợi cho sư đoàn bước vòa vây lấn… Anh 31 của chúng ta, chuẩn bị hai trận nhưng cả hai trận trong tháng hai và tháng này chẳng nên cơm cháo gì… Làm ăn khá hơn cả có lẽ là anh 35. Từ trung tuần tháng hai đến nay, nó đánh được gần mười trận tập kích vào hậu cứ Ái Tử, Sa Mưu, đốt gần hai triệu lít xăng, phá hủy hơn chín vạn viên đạn đại bác… Như thế là cho đến nay, đặc công chưa đánh được trận nào vào sân bay của chúng. Điều này khiến các “cụ” trên ấy có ý kiến đấy. Những trận đánh được vừa qua, quả thật cũng chưa làm cho chúng ta hài lòng. Mà anh em thì rất cố gắng, quyết tâm rất cao, chịu gian khổ rất lớn. Vậy thì do những nguyên nhân gì?

(còn tiếp)



« Sửa lần cuối: 22 Tháng Chín, 2010, 06:50:39 PM gửi bởi ptlinh » Logged
nttran1979
Thành viên
*
Bài viết: 45


« Trả lời #1 vào lúc: 20 Tháng Chín, 2010, 02:55:07 PM »


Ngồi vắt chéo chân trên chiếc ghế dựa, hai tay chắp lại trước bụng, đại tá Điềm lắng nghe tiếng đọc rành rọt từng bức điện tuy rằng ông đã gần như thuộc lầu từng câu trong mỗi báo cáo ngắn ngủi. Cặp mắt hơi có màu vàng vì bị bệnh tật của ông thoắt ánh lên một niềm hứng khởi khi nghe nhắc lại kết quả những trận tập kích kho xăng, kho đạn, sở chỉ huy của địch trên một địa bàn trải rộng từ Bản Đông về đến Ái Tử, Sa Mưu và thoáng tối đi khi nghe đến những trận đánh không thành. Khi Xuân Quang đã nghiên cứu xong các bức điện, đại tá Điềm thở phào một hơi, giọng tư lự:

- Rốt cuộc, chính là trong chiến dịch này ta phải cố gắng bằng mọi cách, chứng minh bằng hoạt động cụ thể những điều mà chúng mình đã nêu ra trong hội nghị tổng kết cuối nắm sáu tám và mấy lần sau đấy. Từ những hoạt động của đặc công ta trên các chiến trường, nhất là chiến trường miền Nam trong những năm qua cho đến chiến dịch này, chúng ta phải xây dựng cho được hệ thống lý luận hoàn chỉnh về khoa học quân sự của binh chủng ta, khẳng định nghệ thuật chiến đấu đặc công trong các trường hợp đánh độc lập và đánh hiệp đồng. Chúng ta sẽ dựa vào đó mà bồi dưỡng đội ngũ cán bộ của binh chủng và sau nữa, ta sẽ đề nghị với Bộ tổ chức khóa học đặc công trong các nhà trường, học viện, cho các cán bộ chỉ huy binh chủng hợp thành. Đó là trách nhiệm cơ bản của chúng ta. Nó cũng đang la niềm ước vọng cháy bỏn của mình.

Trưởng phòng tác chiến lắng nghe tư lệnh với một nỗi cảm thong sâu sắc. Từ lâu, anh rất hiểu con người ông. Điều quý giá nhất mà anh nhận thấy ở tư lệnh từ ngày binh chủng được thành lập đến nay là niềm say mê nghiên cứu những nét đặc thù của lực lượng đặc biệt này. Là người cộng sự gần gũi nhất của tư lệnh, anh hiểu rằng, trên cương vị người đứng đầu một binh chủng đặc biệt của quân đội ta, đại tá ngày đêm lo nghĩ trên những vấn đề cơ bản của nó. Trước khi về đảm nhận trọng trách ngày, ông đã từng là tư lệnh một lữ đoàn dù của quân đội ta. Đó là một binh chủng mới mẻ, hiện đại. Đành rằng lý luận về nghệ thuật chiến đấu của bộ đội nhảy dù thì thế giới người ta đã hoàn chỉnh, nhất là đối với Liên Xô. Ta có thể tham khảo và học tập. Nhưng vận dụng vào điều kiện của ta, vào nền kinh tế xã hội và công nghiệp quốc phòng thì phải xây dựng bộ đội nhảy dù như thế nào? Thế là tư lệnh lao vào nghiên cứu, học hỏi tổ chức bộ đội, tiến hành huấn luyện và nghiêm túc rút kinh nghiệm. Bộ đội dù ai cũng biết rằng bản than tư lệnh rất gương mẫu trong việc tập nhảy, rèn luyện thể lực (ông vốn là một huấn luyện viên thể dục trước đây). Thể trạng ông vốn nhỏ bé, mỗi lần nhảy, gió đẩy dù lạc mục tiêu rất xa, nhiều lần dù rơi xuống sông Chũ, xuống mái nhà, xuống bụi tre gai… ông vẫn kiên trì rèn luyện, ôm dù đi bộ hàng ki-lô-mét về lại đội hình. Kết quả là có được kinh nghiệm phong phú. Từ những cuộc tập luyện nghiêm khắc có bản thân tham gia ông dần dần xây dựng được một hệ thống lý luận về khoa học quân sự cho binh chủng nhảy dù non trẻ Việt Nam và được Bộ tổng tham mưu chấp nhận. Khi bình chủng đặc công được chính thức thành lập vào một ngày lịch sử tháng ba năm sáu bảy, lại chính ông được Bộ Tổng tham mưu chỉ định là người đứng đầu. Điều ấy đã gây ra sự ngạc nhiên lúc đầu đối với cơ quan binh chủng. Nhưng đến khi mọi người hiểu ra rằng, ngay từ đầu cuộc chiến tranh chống Pháp, đại tá Điềm đã từng là trung đoàn trưởng của tỉnh Bình Thuận, đã trực tiếp tổ chức xây dựng những lực lượng đặc công đầu tiên cho địa phương khu 6, đã đánh những trận tiêu diệt có tiếng vang hồi ấy như trận Ngã Hai, Bắc Ái… Và cũng từ ngày ấy, những tư tưởng chiến thuật của đặc công đã dần dần hình thành trong đầu óc của con người ham đánh giặc lại rất có ý thức nghiên cứu này, thì mọi người đều khâm phục sự sáng suốt của trên là nắm vững cán bộ. Đến nay, trên cương vị mới, ông lại nghiên cứu, tìm tòi. Ông đã lắng nghe hàng trăm cán bộ các báo cáo về những trận đánh của họ vào căn cứ hậu cứ, kho tàng sân bay, bến cảng, đã bàn bạc, tranh cãi với họ trước sa bàn hay tấm sơ đồ chiến lệ, trong hội nghị tổng kết của binh chủng lần thứ nhất vào cuối năm 1968, nơi tập trung tinh hoa trí tuệ của các lực lượng chiến đấu đặc công và biệt động của chiến trường miền Nam. Và, điều quan trọng nữa là bản thân ông từ hai năm nay cũng đã mấy lần trực tiếp vào chiến trường, tham gia như một thành viên trong cơ quan tham mưu chiến dịch của Bộ, trực tiếp chỉ đạo lực lượng đặc công chiến đấu trong đội hình binh chủng hợp thành. Từ những kinh nghiệm, những bài học gián tiếp và trực tiếp ấy, tư lệnh dồn mọi tâm sức xây dựng cơ sở lý luận về nghệ thuật chiến đấu của binh chủng đặc biệt, mà thực tế đã chứng minh là rất lợi hại và là một sáng tạo độc đáo của nghệ thuật quân sự Việt Nam, tuy còn rất non trẻ. Trong quá trình biên soạn những tài liệu cơ bản, trưởng phòng tác chiến Xuân Quang là người gần gũi ông nhiều nhất, với tư cách là người chấp bút. Nhưng tư lệnh không chỉ coi anh như một người thư ký mà là một cộng sự ngang hàng. Ông tôn trọng, lắng nghe ý kiến của anh, tranh cãi nhiều khi rất gay gắt với anh trước một đề xuất của anh hay một nhận định của bản thân ông mà anh chưa nhất trí. Nhiều đêm doanh trại đã tắt đèn từ lâu, nhưng ánh sáng trong phòng làm việc của tư lệnh vẫn tỏa ra ngoài cửa sổ và thường là mãi đến mười một mười hai giờ, anh mới có thể gập cặp bìa tài liệu chào tư lệnh ra về. Cũng có nhiều khi, mới năm giờ sáng, cậu công vụ đã chạy sang lay anh thức dậy: Tư lệnh sau đêm suy nghĩ đã có một phát kiến gì mới muốn trao đổi ngay với anh.

Lý luận về nghệ thuật chiến đấu của đặc công trong cuộc chiến tranh giải phóng, cùng với sự đánh giá về khả năng, vai trò của nó có thể đảm nhiệm trong chiến đấu độc lập hay trong chiến đấu binh chủng hợp thành, qua những ngày miệt mài của cơ quant ham mưu, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của tư lện dần dần hình thành và hoàn chỉnh. Nó được báo cáo lên Bộ Tổng tham mưu và đem ra tập huấn cho đội ngũ cán bộ binh chủng. Có những luận điểm đã được khẳng định như những vấn đề kỹ thuật hay chiến thuật cơ ở, chủ yếu là vận dụng cho hoạt động chiến đấu độc lập từng địa bàn, từng trận. Nhưng điều mà tư lệnh Điềm dồn nhiều tâm sức là khả năng hoạt động của lực lượng đặc công chiến đấu trong đội hình binh chủng hợp thành trong từng chiến dịch và vấn đề phát sinh vai trò chiến lược của lực lượng trong phạm vi toàn cục. Vì thế, khi Bộ Tổng tham mưu quyết định mở chiến dịch phản công nhằm đập tan âm mưu của Mỹ-ngụy trong chiến dịch Lam Sơn 719, thì mặc nhiên tư lệnh binh chủng được tham gia trong thành phần cơ quan chiến dịch. Tư lệnh lê đường với niềm hứng khởi đặc biệt và với một quyết tâm vững chắc, sẽ lấy thực tế hoạt động của bình chủng mình trong chiến dịch này để chứng minh cho sự đứng vững của luận điểm và công trình nghiên cứu. Cũng dĩ nhiên, ông lại đưa trưởng phòng tác chiến cùng đi như là một người trợ thủ đắc lực và người đồng chí tâm đắc.

Vẻ băn khoăn không vui của tư lệnh qua những lời tâm sự như cũng thấm sang trưởng phòng tác chiến. Xuân Quang muốn chia sẻ với người chỉ huy đáng tin cậy của mình:

- Theo anh, thì vì sao mà cho đến nay, qua đợt một và cả đợt hai chiến dịch mà đặc công đánh chưa khá, chưa đạt yêu cầu ta đề ra?

Tư lệnh Điềm đứng dậy, cầm chiếc điếu cày, khum bàn tay vỗ vỗ cho bã thuốc bật ra, rồi vừa vung chiếc điếu vừa nói với cái giọng Hà Tĩnh, hơi khan vì thuốc lào:

- Về phần chủ quan thì cũng phải thấy rằng cán bộ mình chưa quen với lối tác chiến binh chủng hợp thành như thế này, vì trước đây anh em mình vẫn quen đánh độc lập, hoàn toàn chủ động cả về thời gian lẫn mục tiêu. Nhưng nay đánh trong đội hình chiến dịch, mọi cái điều liên quan chằng chịt với nhau nên chuẩn bị có lúng túng. Nhưng theo mình thì về chỉ đạo của ta, cũng có khuyết điểm: đặc công nhận nhiệm vụ của chiến dịch quá muộn. Đợt một không đánh được trận nào, đợt hai chỉ đánh được ba tận ở Ái Tử, Sa Mưu. Phần lớn những trận đánh lớn nhỏ vừa rồi của đợt ba chiến dịch. Thành ra tác dụng chiến dịch không lớn. Những điều mà chúng ta đề ra chưa hẳn đã thuyết phục được những người chỉ huy binh chủng hợp thành.

Xuân Quang gật đầu tán thành:

- Tôi cũng nhất trí với anh như thế. Bây giờ, theo tôi chiến dịch đang đi vào đỉnh cao của nó. Lực lượng sáu sư đoàn quân Mỹ và ngụy cùng với phương tiện, khí tài của nó rất lớn. Khả năng chi viện của các căn cứ hậu cứ của chúng cho các đơn vị tuyến một khá hùng hậu và phải nói rằng khá hiệu quả. Vì thế, trên Bộ các “cụ” cũng có ý nóng ruột đốc đặc công phải nhanh mạnh hơn nữa để chi viên cho các sư đoàn. Khi cử tôi xuống gặp anh, các anh ấy đã vừa cười vừa bảo tôi: xuống nói với tư lệnh của anh là hãy tìm cách thuyết phục chúng tớ bằng cái gì đáng giá hơn nữa chứ!

- Mình đang nghĩ đến Tà Cơn. Phải đánh vào căn cứ sân bay dã chiến này bằng được. Ở đây nó có hàng trăm máy bay trực thăng các loại hàng ngày xuất hiện mấy trăm lần chiếc, chi viện rất đắc lực cho quân nó ở Nam Lào. Bây giờ nên như thế nào?

Xuân Quang chẳng còn vẻ gì là “phái viên đốc chiến” của cấp trên xuống nữa, mà đã trở lại đúng vị trí người cộng sự tâm đắc của tư lệnh:

- Cần bám chặt “thằng” Sa Mưu, Ái Tử hơn nữa, tổ chức đánh liên tục nhiều đem, đốt phá tối đa kho đạn và xăng dầu của nó. Việc này, đề nghị anh giao cho tôi xuống với 33 để đôn đốc nó. Vừa rồi nó đã bám đánh được một vài trận tương đối khá rồi. Đánh giao thong vận chuyển trên đường 9 thì đề nghị anh giao cho đặc công mấy sư chủ lực. Riêng cái Tà Cơn là quan trọng hơn cả, phải tập trung vào đấy làm cho được.

Đại tá Điềm gật đầu, chưa thở hết khói thuốc ra đã nói:

- Cái này, mình đã giao cho thằng 35, chủ lực của mặt trận mình. Nó mới thành lập nhưng chất lượng của anh em khá lắm. Mình sẽ gọi cho cán bộ tiểu đoàn lên…À không! Mình sẽ xuống chỗ các cậu ấy. Phải rất khẩn trương kẻo chiến dịch kết thúc đến nơi rồi mà ta chịu để cho không quân nó làm mưa làm gió. Mình thấy chỉ cần sử dụng một đại đội thôi nhưng phải thật tinh nhuệ. Cậu thấy thế nào?

- Vâng – Xuân Quang đứng dậy đến trước tấm bản đồ, ước lượng cự ly từ vị trí tập kết của tiều đoàn 35 đến sân bay Tà Cơn – Nhưng địa hình Tà Cơn cũng khá phức tạp. Riêng khu vực sân bay cũng rộng đến tám ki-lô-mét vuông rồi. Chung quanh có nhiều núi cao bao bọc, chúng có phòng ngự từ xa, chủ yếu từ phía bắc. Nên việc mở đường và bảo vệ hành lang tiến vào cũng rất lớn. Đề nghị anh có thể tăng them lực lượng một phần nữa.

- Thật ra, từ cuối tháng hai, mình đã giao nhiệm vụ trinh sát cho nó rồi và cũng có những kết quả bước đầu. Nhưng bây giờ là bước quyết định. Rồi cũng phải sử dụng đến hai đại đội, kể cả chiến đấu trong sân bay và bảo vệ hành lang. Mình sẽ bàn cụ thể với nó. Mình nhất trí là một mặt điện chỉ đạo nhiệm vụ rõ ràng thấy mấy anh đặc công sư đoàn, nhưng bản thân chúng mình phải nắm chắc hai thằng 33 và 25 ngay chiều nay đấy.

Bàn bạc công việc xong xuôi thì đã đến trưa. Khu rừng khô ráo hơn lúc ban mai, có sáng ra đôi chút. Xuân Quang vươn vai đứng lên, bước ra trước nhà, đưa mắt ngắm nhìn quang cảnh kín đáo và khá nên thơ của khu vực trú quân: cánh rừng già có tán lá dày che kín một cách tự nhiên mợi hoạt động và dấu vết trên mặt đất, hoàn toàn có thể bịt mắt bọn máy bay trinh sát Mỹ. Nhưng dưới tán lá rậm rạp lại rất thoáng. Tầm nhìn có thể phóng ra xa hàng mấy trăm mét qua những qua những cành cây vương cao hùng vĩ. Có tiếng máy bay từ phía ngoài biển, tiếng còi rít lên báo động rồi trong chớp mắt là những tiếng rít xé vụt qua của mấy chiếc máy bay phản lực Mỹ. Xa xa, những tràng sung trọng liên phòng không dội lên nghe quyết liệt. Xuân Quang sực nhớ ra, liền hỏi:

(còn tiếp)
Logged
nttran1979
Thành viên
*
Bài viết: 45


« Trả lời #2 vào lúc: 21 Tháng Chín, 2010, 01:24:30 PM »

- Hầm trú ẩn của anh đâu?

Tư lệnh Điềm trỏ tay vào trong nhà:

- Dưới gầm giường ấy, có lối thong ra hầm đào sâu vào sườn núi kia. Ở đây, bị B52 nó quần cho mấy lần vào lúc đang ngủ nên anh em công binh mới làm thế cho bảo đảm.

Xuân Quang nhìn ra phía đầu nhà. Bên đống đất đắp cao làm thành căn hầm kèo khá kiên cố, anh bống nhìn thấy một cây giống như cây mận, cao chừng hai mét, đang nở hoa trắng xóa. Lại nhìn thấy mấy giỏ hoa phong lan treo lủng lẳng trước cửa sổ, những chùm hoa trắng và tím sẫm chen vào nhau, buông dài như đuôi trâu. Anh hỏi:

- Cây gì giống như thanh mai ấy anh Điềm?

- Cây mận dại đấy thôi. Làm gì có thanh mai ở đây. Chắc là do chim tha hạt đến rồi mọc lên. Nhưng cậu có thấy nó đẹp không? Mình chọn chỗ này vì thấy có cây ấy đang chuẩn bị trổ hoa. À này, cậu còn nhớ cành thanh mia mình trồng ở nhà không? Không biết nó còn sống không nhỉ?

Xuân Quang sực nhớ đến cành thanh mai mà tư lệnh vừa nhắc đến. Cách đây ít lâu, một hôm sang làm việc với tư lệnh, anh thấy ông đang lúi húi trồng một cành gì đó. Hình như nó mới được cắt từ cây mẹ ra, còn có cả vồng đất.

- Tớ xin ở vường thanh mai làng Đông Mỹ đấy – Tư lệnh nói với một vẻ ưng ý – Cậu biết vườn mai trong xóm rồi chứ gì?

Vườn mai ấy thì anh biết. Nó ở cuối xóm. Chủ nhân là một vị hưu quan, đã mất từ lâu. Người nhà trông nom bồi bổ mấy chục cây mai và thu hoa lợi không nhỏ do bán quả cho những người làm thuốc từ Hà Nội về mua. Nhưng đáng nói hơn là vẻ đẹp của nó. Vào dịp những ngày đầu xuân, cả vườn mai nở hoa trắng xóa. Khách du lịch, các nhà vắn, nhà báo ở Hà Nội, các cụ đồ nho ở quanh vùng đều tìm đến nơi này ngắm cảnh, làm thơ, viết báo, chụp ảnh. Đến khi hè về, người ta lại kịp tìm đến và tranh nhau đặt tiền để chờ từng thùng quả thanh mai đã chin vàng, quả nào cũng căng trôn như quả trứng gà so. Người ta chế biến làm vị thuốc. Người ta ngâm làm rượu thanh mai.

- Mua cũng được – Tư lệnh vừa xúc đất lấp hố, vừa giải thích – nhưng không thích bằng trồng được nó. Nên chính mình đã xin chiết một cành rồi trồng ở đây. Chịu khó tưới tắm vun bón cho nó. Rồi nó sẽ lớn, sẽ thành cây, sẽ ra hoa kết quả. Tha hồ ngâm rượu nhé! Mình sẽ chi viện cho các caauju. Một đời cây phải mấy chục năm.

Lúc ấy Xuân Quang đã cười khì:

- Ối dào! Tôi thì tôi cứ đăng ký trước. Khi nào nhòm ngó thấy thanh mai trong vườn ấy quả đã bằng hòn bi là tôi đặt tiền giao hẹn. Bà cụ chủ hẹn khi nào có là tôi vào. Anh trồng thế này không được ăn đâu.

- Cứ trồng – Tư lệnh nói một cách tin tưởng.

Đang nói chuyện thì Thước, cậu cần vụ từ một lối mòn đi về, tay xách chiếc cặp lồng. Cậu ta vọc người thấp lùn, đậm nhưng rất nhanh nhẹn, quản lý rất chắc tiền lương và sự chi tiêu hàng tháng của tư lệnh. Trông thấy Xuân Quang, Thước toét miệng cười:

- Cấp trên xuống thăm anh em đấy à? Em đã lấy cả phần cơm của anh rồi đây!

Quay sang tư lệnh, Thước nói:

- Anh có thư Hà Nội do quân bưu chuyển vào. Của chị Nga đấy mà? Chắc là chị ấy sợ thầy trò mình trong này ăn nhiều B52 quá nên phải hỏi thăm luôn

Nói xong, cậu ta cười, vẻ tự nhiên thoải mái như người nhà.

Tư lệnh cầm lấy bức thư không dán tem bưu điện. Nhìn nét chữ, ông nhận ra ngay là của vợ. Nghe Thước nói, ông ngẫm nghĩ, mỉm cười, định bóc thư, nhưng rồi lại tặc lưỡi:

- Ôi, chắc là bà ấy lại hỏi chung quanh cái B52, cái muỗi sốt rét và cái khoản bia đấy mà! Bà ấy biết mình nghiện bia hơi. Ngoài ấy, ngày nào thằng Thước cũng xách bi đông đi mua cho mình một lít. Thế mà một tháng cộng lại cũng thành một khoản chi khá. Lại còn tí lạc rang nữa. Chà! Lúc này có cốc bia nhỉ? Thôi, ta ăn đi. Đói lắm rồi!

Nói thế, nhưng khi hai người vừa ăn được một bát cơm, tư lệnh đã đặt bát xuống, gật gù:

- Xem xem ngoài ấy ra sao nào!

Ông lấy chiếc kính đeo lên mắt rồi thong thả đọc bức thư có nét chữ rất cứng cáp quen thuộc của vợ. Được mấy phút bỗng ông đặt vội bức thư xuồng bàn, mặt biến sắc:

- Hỏng rồi Quang ạ!

Xuân Quang giật mình nhìn vào bức thư:

- Cái gì thế anh?

- Thằng Ngọc chết rồi!

- Ối!

Xuân Quang chỉ kêu lên một tiếng rồi buông đũa, trân trân nhìn vào những ngón tay run run của tư lệnh. Đại tá Điềm lẳng lặng đọc hết bức thư. Phút chốc, trông ông như già hẳn đi. Cậu cần vụ dáng hớt hải:

- Ngọc hy sinh rồi sao thủ trưởng?

Tư lệnh trở lại vẻ điềm tĩnh, đọc thành tiếng:

…Em báo cho anh một tin đau long: Ngọc hy sinh rồi! Con đã bị trúng đạn trong trận đánh bảo vệ phà Bến Thủy hồi tháng trước. Mãi đến cách đây mấy ngày, một đồng chí thủ trưởng đơn vị của con ra Hà Nội họp có ghé vào nha ta báo cho em biết tin này. Con đã được chon cất cùng với đồng đội của nó ở một địa điểm bên bờ bắc sông Lam. Anh ơi! Em tha thiết mong anh khi nào hết chiến dịch, trở ra anh cố tìm thăm xem mộ con đâu, thắp cho con một nén hương. Còn về phần em, thế nào em cũng tìm cách vào được trong ấy để tìm cho được phần mộ của nó. Con ơi…

Giọng đại tá Điềm khàn hẳn đi. Ông không đọc tiếp nữa. Xuân Quang đã đến bên cạnh ông. Giọng anh rầu rĩ:

- Thật không ngờ tình hình lại đến như thế. Anh Điềm, tôi xin chia sẻ nỗi đau buồn với chị Nga và anh.

Tư lệnh lắc đầu:

- Nhưng thôi… Trường hợp của nhà mình cũng không đặc biệt gì. Bao nhiêu con em nhân dân đã ngã xuống trong sự nghiệp này… Điều mà mình sợ nhất là sức khỏe của bà ấy. Bà ấy vốn có bệnh tim. Lúc này mình lại ở xa.

Nói xong, tư lệnh nhận thấy vẻ buồn bã trên gương mặt cả hai người đồng đội, liền cất giọng cố làm ra vẻ bình thường:

- Thôi, hãy tạm biết vậy. Thước dọn bát đi. Chúng mình bàn thêm một chút nữa rồi phải chia nhau xuống đơn vị thôi.

Một giờ sau, trưởng phòng tác chiến Xuân Quang nắm chặt tay tư lệnh binh chủng từ biệt:

- Hứa với anh là tôi sẽ cố gắng. Một lần nữa tôi xin chia buồn với anh chị.

- Cám ơn. Bây giờ thì chỉ có chiến thắng mới khuây khỏa. Mình cũng đi ngay bây giờ đây.

Ông quay máy điện thoại, gọi tiểu đoàn 35 báo ông sẽ xuống. Mười lăm phút sau, tư lệnh và anh cần vụ lên đường.

***

Tiểu đoàn đặc công 35 đóng quân trong một vạt rừng cao su cách đường số 1 không xa. Những chiếc lán nhỏ lợp tranh, vách cũng ghép bằng cỏ tranh ẩn kín dưới tán là không lấy gì là rập rạp. Tình hình ăn ở nói chung không được cẩn thận chu đáo như ở cơ quan mặt trận.

Ra đón tư lệnh ở đầu suối có hai người: Ích, chính trị viên và Kha, tiểu đoàn phó. Ích vốn là cán bộ quân sự đã làm đại đội trưởng bộ binh hai năm, tính tình điềm đạm, chín chắn, lại là bí thư chi bộ, nên sau khi được đi học một lớp trung cấp của Bộ, được điều về binh chủng và chuyển sang làm cán bộ chính trị tiểu đoàn. Còn Kha là cán bộ đặc công “có hạng” như an hem thường nói, đã chiến đấu nhiều trận ở chiến trường khu 5, đã được thưởng năm huân chương chiến công, nổi tiếng gan lì và được anh em tín nhiệm. Thế mà, bề ngoài Kha trông lầm lì, ít nói, dáng điệu chậm chạp, chẳng có gì hấp dẫn. Vì tiểu đoàn này vốn là quân trực thuộc của bộ tư lệnh đặc công tăng cường cho mặt trận trong này nên cán bộ quen biết tư lệnh lắm. Họ vốn coi ông là “người nhà” nên quan hệ trên dưới cũng cởi mở dễ dàng.

(còn tiếp)
Logged
nttran1979
Thành viên
*
Bài viết: 45


« Trả lời #3 vào lúc: 22 Tháng Chín, 2010, 04:14:06 PM »

Tư lệnh chưa nghe họ báo cáo tình hình đơn vị ngay mà yêu cầu đưa ông đi xem việc ăn ở của các đại đội.

- Ái chà! Làm cả sân bóng chuyền cơ à? Không ngụy trang à? Trinh sát nó phát hiện được thì sao?

- Báo cáo! Chả làm sao. Nó cũng như cái sân của nhà dân thôi mà!- Anh chàng tiểu đoàn phó gan lì thẳng thắn đáp.

- Nhà các cậu làm toàn bằng tranh cả. Phòng cháy ra làm sao?

- Đã có kế hoạch nghiêm ngặt. Với lại nhà đều làm bằng cạnh suối cả. Thủ trưởng cứ yên tâm.

- Công sự hầm hố nông choèn thế này, chống B52 thế nào?

Lại cũng vẫn anh chàng lầm lì ấy trả lời:

- Giữ bí mật là chính thủ trưởng ơi? Với lại anh em có ở đây lâu đâu mà làm cho tốn công. Mục tiêu của anh em là ở phía trước.

Còn anh chính trị viên, chín chắn và khôn ngoan thì nhận khuyết điểm một cách thành thật mà không thanh minh gì.

Khi ngồi vào bàn làm việc, tư lệnh hỏi:

- Tiểu đoàn trưởng đâu?

Ích báo cáo:

- Anh Chinh đi điều nghiên ở Tà Cơn chưa về. Nhưng nghe anh em báo cáo là anh ấy bị ốm dọc đường nên chưa về được?

Nghe nói vậy, trong long tư lệnh nóng như lửa đốt, Tà Cơn là một vấn đề nước sôi lửa bỏng mà tiểu đoàn trưởng bị ốm nằm lại dọc đường thì đánh đá ra sao?

Nhưng Kha lại nói:

- Thủ trưởng cứ yên tâm. Lần này có tôi đi.

Nhìn vẻ lầm lì nhưng chất phác của anh cán bộ tiểu đoàn phó quê Quảng Nam, với chiếc cổ đầy lang ben, tư lệnh Điềm hài long:

- Cậu đi được chứ?

- Được

- Có bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được không?

- Trong một tuần nữa đánh được Tà Cơn không?

Anh chàng Kha thừ người như tính toán một chút rồi đủng đỉnh:

- Đánh được.

Đại tá Điềm hài lòng châm lửa hút một điếu thuốc lào rồi hạ lệnh:

- Tôi muốn nói chuyện với cán bộ về trận đánh này. Các đồng chí triệu tập ngay cán bộ từ trung đội trở lên. Chú ý phòng không, Cái anh hùng của các đồng chí không phải ở chỗ chủ quan khinh địch, có thể gây tổn thất không cần thiết như thế. Còn ở đây ngày nào phải có công sự chắc chắn. Nghe rõ chưa?

Nói chuyện với cán bộ, tư lệnh nói qua về diễn biến chiến dịch cho đến hôm nay, nhấn mạnh đến vai trò của những căn cứ, hậu cứ của địch với mấy sư đoàn Mỹ - ngụy trên đường 9 – Nam Lào, về những trận đánh gần đây của lực lượng đặc công cùng với những hạn chế so với yêu cầu của chiến dịch. Đặc biệt ông nêu ra vấn đề đánh sân bay Tà Cơn với tất cả sự bức thiết của nó.

Đêm đó, tư lệnh còn nói chuyện tâm tình rất khuya với hai cán bộ tiều đoàn, tìm hiểu kỹ về gia đình của Ích và chuyện vợ con còn khá long đong của Kha. Ích đang yêu một cô là vợ liệt sĩ và đã có một con, nhưng gia đình thì phản đối. Còn Kha thì đang kén vợ. Anh chàng cục mịch lì xì thế mà hóa ra kén chọn ra trò. Cậu ta đang theo đuổi một cô sinh viên bách khoa là người đồng hương, nhưng theo nhận định của Ích thì kết quả có vẻ bấp bênh. Cho đến nay, anh chàng mới tìm thấy ở cô một chỗ để gửi những thứ riêng tây đáng giá như vải, len, đồng hồ và một chiếc đài bán dẫn National, nhưng còn trái tim thì chưa được cô gái tiếp nhận.

Không một ai biết rằng suốt đêm đó và cả ngày hôm sau trên chặng đường về, trái tim ông như rỉ máu: ông nghĩ về Ngọc, đứa con mà ông hết lòng thương yêu mặc dù nó là con riêng của vợ.

Những người công tác gần gũi với Đại tá Điềm, ngoài sự mến mộ về đức tính cần cù, tinh thần trách nhiệm cao với công việc và phẩm chất trong sạch liêm khiết, còn có một sự thong cảm với ông về đời sống riêng tư.

Hồi kháng chiến chống Pháp, ông hoạt động trong khu rừng núi khu 6. Anh con trai Đức Thọ, xuất thân nhà nghèo nhưng có chí tiến thủ, đã rời làng quê, theo người bà con ra trọ học ở Hà Nội và cả ở Thái Bình. Anh vừa học, vừa làm nghề gõ đầu trẻ, dạy thêm cho con nhà chủ trọ để lấy tiền tự nuôi mình học hệt bậc cao đẳng tiểu học. Rồi khăn gói gió đưa, anh lại theo người bà con phiêu bạt vào tận Đà Lạt sinh sống và chẳng bao lâu anh đã hòa mình với nhân dân địa phương. Cách mạng tháng tám bùng nổ, anh được giác ngộ cách mạng trước ngày khởi nghĩa và đã tham gia công tác ở địa phương với tất cả nhiệt tình của tuổi trẻ Nghệ Tĩnh. Anh được đào tạo thành cán bộ quân sự, từ trung đội đến cán bộ huyện, rồi tỉnh. Rồi anh trở thành trung đoàn trưởng của trung đoàn chủ lực III của khu vực, góp nhiều công sức trong việc đánh giặc và mở rộng vùng giải phóng đại bàn bị địch chiếm đóng. Anh lấy vợ. Vợ anh là một cán bộ cơ sở của Bình Thuận. Đứa con trai đầu lòng ra đời là niềm hạnh phúc lớn lao, nhưng vợ anh đã phải vừa công tác vừa nuôi con một mình trong điều kiện thiếu thốn mọi bề. Hầu như anh đi vắng trong những thời gian dài. Rồi đứa con gái nữa lại ra đời. Vợ anh lại càng vất vả hơn. Bà con thương cảnh neo đơn, làm cho một căn nhà nhỏ. Vì là gần rừng, dân làng thường bị hổ dữ mò vào bắt trâu bắt lợn và cả bắt người nên chung quanh nhà đã dựng nên một hàng rào chắc chắn bằng gỗ. Đứa con trai phải mang gửi nhờ người bà con nuôi đỡ. Căn nhà hẻo lánh chỉ có hai mẹ con trú ngụ. Một đêm hổ dữ về nhảy qua hàng rào gỗ vào nhà. Nó vồ luôn vợ anh đang khiếp đảm ôm chặt đứa con mới được vài tháng kêu thét như xé ruột. Con hổ nhảy qua rào tha người vợ xấu số vào rừng, nhưng đã bỏ lại dưới chân hàng rào đứa trẻ. Hôm sau, dân làng đi qua nghe tiếng trẻ khóc lần tới mới hiểu rõ điều bất hạnh này. Họ mang con bé về thay nhau chăm bẵm. Trong khi ấy anh vẫn vắng nhà.

Năm 1954, hòa bình được lập lại, anh tập kết ra bắc, mang theo đứa con trai. Còn đứa con gái thì đành để lại. Có người bà con đã nhận nó làm con nuôi và đưa về thị xã. Từ ấy đến nay, anh không nhận được tin gì. Rồi anh gặp chị Nga. Hai người có cảnh ngộ gần giống như nhau, nên có sự tương đồng sâu sắc. Nga về sống chung với anh cùng với một đứa con trai kháu khỉnh lên ba tuổi. Hai người có với nhau hai đứa con nữa. Nhưng vốn là người có bản lĩnh, đôn hậu, ông đã cư xử với các con rất công bằng và hết sức tế nhị trong việc xử lý những khuyết lỗi của chúng mỗi khi chúng có chuyện va chạm cãi cọ nhau. Thật ra Ngọc, con riêng của vợ ông là một đứa bé ngoan, nên ông cũng yêu thương nó bằng tình cảm chân thật của người cha. Và bản thân nó cũng coi ông như người cha đẻ. Khi học hết lớp 10, một hôm, Ngọc ngỏ ý muốn đi bộ đội để đánh giặc theo tiếng gọi của Tổ quốc. Ông còn nhớ rõ những cuộc trao đổi ấy trong gia đình. Ngọc thì hăm hở:

- Con nhất định đi nghĩa vụ đấy. Con đã đăng ký trong lớp cùng với mấy đứa bạn rồi!

Vợ ông ngần ngại giây lâu rồi ứa nước mắt:

- Thì ai đã gọi con đâu. Con gắng thi vào đại học rồi khi nào cần hãy đi cũng chưa muộn kia mà!

- Ai cũng muốn vào đại học cả thì ai đánh giặc? Thằng Mỹ hàng ngày ném bom tàn phá quê hương đất nước mình, chúng con không chịu được.

Chị Nga đành quay sang ông cầu cứu:

- Ý kiến anh thế nào?

Khi ấy, ông cảm thấy mình ở vào vị trí rất khó xử. Ngọc là con chung, ông thương yêu nó như mấy đứa kia, nhưng dù sao thực tế nó vẫn là con riêng của vợ. Nó vào đại học sau này thành bác sỹ, kỹ sư thì không nói làm gì. Nhưng đàng này, nó đi bộ đội, lại muốn vào bộ đội cao xạ, trực tiếp chiến đấu với máy bay Mỹ. Chiến đấu thì đành rằng là nghĩa vụ của mọi thành viên và tất nhiên là anh nào trụ được thì sẽ mau chóng trưởng thành nhưng phải nhận rằng cũng nguy hiểm khôn lường. Có thể tổn thất hoặc bị thương nặng, nhẹ, hoặc hy sinh. Ừ, nếu rằng Ngọc là đứa con chung của cả hai người thì cũng không có gì phải bàn lắm. Nhưng nó là con riêng của vợ, là niềm hạnh phúc và an ủi thầm kín rất riêng tư đối với vợ ông mà cả ông và vợ không ai công khai nói ra được. Nhưng ông thì ông phải cân nhắc. Sau nhiều lần cũng gợi ý với Ngọc về việc tiếp tục học nhưng không kết quả, ông đành bảo vợ:

- Thôi, nếu con nó đã quyết như thế, ta có ép nó cũng không học nữa, ở nhà lêu lổng dễ hư thôi. Tôi thấy nên để cho con đi bộ đội. Nó đã quyết thì chúng mình chỉ nên khuyến khích. Có anh em đồng đội dẫn dặt, lại có chí thì nhất định con nó sẽ trưởng thành. Đành rằng chiến đấu thì có gian nguy nhưng có phải chỉ có riêng con mình phải chịu đâu?

Khi anh con trai mặc bộ quân phục mới tinh về trình diện gia đình với cặp mắt sáng ngời, ông đã bắt tay anh nồng nhiệt như người bạn ngang hàng. Đêm ấy, hai cha con thức khuya, rì rầm mọi chuyện với nhau như đôi bạn tâm giao.

- Với tư cách người lính, ba coi con như người đồng chí nhưng ba muốn hỏi con lần nữa: con tình nguyện nhạp ngũ là để thỏa nguyện chí làm trai hay con có điều gì không ưng ý trong sinh hoạt gia đình? Ba mẹ và anh em con có điều gì khiến con phải cương quyết ra đi không?

- Sao ba quả lo nghĩ thế? Con tuy còn ít tuổi nhưng dù sao con cũng đã là một thanh niên, một đoàn viên rồi, con có sự suy nghĩ độc lập của con chứ. Tuy ba không sinh ra con nhưng bao giờ con cũng kính trọng ba và yêu quý các em con. Con nhập ngũ là vì chí trai, truyền thống chiến đấu hy sinh của trai Nghệ Tĩnh, mà con còn vì ba nữa. Con không muốn người khác đặt một câu hỏi trước ba: ông hô hào con người ta hy sinh, đi ra tiền tuyến nhưng con ông thì sao?

- Mẹ con sẽ lo nghĩ rất nhiều. Ba rất thương mẹ con.

- Con còn thương mẹ con hơn. Nhưng đây là chuyện trong gia đình ta thôi. Ba cứ an tâm, con hứa sẽ sống xứng đáng với gia đình và quê hương.

Người cha, lần đầu tiên từ mười mấy năm nay đã có một cử chỉ khác thường với đứa con, ông ôm chặt người lính binh nhì trong vòng tay cứng cáp của mình, trái tim rung động vì tình nghĩa cha con, và tình đồng đội.

(còn tiếp)
Logged
nttran1979
Thành viên
*
Bài viết: 45


« Trả lời #4 vào lúc: 23 Tháng Chín, 2010, 01:08:52 PM »

Rồi cả nhà, trừ ông đã đến nơi tập trung để tiễn anh con trai lên đường. Mẹ và hai đứa em thì khóc, người anh thì chỉ mím môi, mắt đỏ lên. Anh vào bộ đội pháo cao xạ. Tám tháng sau, được về thăm nhà ba ngày mang theo một bằng khen đưa cho mẹ. Rồi đơn vị di chuyển vào chiến đấu trong Thanh Hóa bảo vệ cầu Hàm Rồng, rồi lại chuyển vào Nghệ An, thiết lập trận địa cơ bản bên bờ sông Lam, trực tiếp bảo vệ nhà máy điện và phà Bến Thủy.

Trước ngày ông lên đường đi chiến dịch đường 9, ở nhà có nhận được bức thư của anh con trai. Trong bức thư ngắn ngủi viết vội, anh hạ sĩ mười tám tuổi nói rằng anh rất tự hào được chiến đấu bên dòng sông quê hương và những ngày này anh rất vất vả nhưng anh sẽ vượt quá… “ Mấy đứa bạn con bảo sao con không nói với ba xin về đặc công, để đỡ vất vả lại được đi học kỹ thuật hay ra nước ngoài có sướng không? Như con nhiều ông cấp ấy! Con chỉ cười…”

Thế mà bây giờ… Ôi! Giá như là thằng Chung hy sinh thì nỗi đau này còn có thể phần nào đỡ làm ta day dứt. Bà ấy cũng nuôi thằng Chung từ khi nó còn bé nhỏ, cũng yêu thương nó như bà ấy đã yêu thương thằng Ngọc. Nhưng dù sao thằng Chung vẫn là con ta, con riêng của ta. Tổn thất này ta phải chịu và có thể chịu đựng riêng mình ta được. Bây giờ ta nói với bà ấy thế nào? Ta có lỗi gì trong việc này không? Bà ấy sẽ nghĩ gì về ta? Thằng Chung đứa con riêng cua ta hiện đang chiến đấu ở trong kia biết tin này sẽ nghĩ gì?

Đó là ngày hai mươi mốt tháng ba. Chiến dịch đang đi vào giai đoạn quyết chiến cuối cùng. Bộ chỉ huy chiến dịch quyết tập trung mọi lực lượng giáng cho địch một đòn chí mạng phối hợp với quân bạn trên chiến trường Nam Lào. Phản ứng của địch cũng vô cùng ác liệc. Hàng ngàn tấn bom, hàng vạn quả đại bác của chúng đã đổ ra, hàng ngày chi viện cho quân chủng bị vây hãm và có nguy cơ bị tiêu diệt. Từ các sân bay ở Ái Tử, Tà Cơn, nhất là Tà Cơn, hàng trăm lần chiến trực thăng các loại tới tấp chở quân, chở lương thực tiếp tế cho mấy sư đoàn linh Mỹ và ngụy đang bị căng ra dọc đường 9 cho tới vùng Bản Đông bên Lào. Phải nhận rằng hoạt động “trực thăng vận” này của chúng ta đã có hiệu quả lớn, hạn chế những trận tiến công dứt điểm của quân ta. Mấy ngày nay, buổi sáng giao ban nào đại tá Điềm cũng hận được những bức điện của bộ chỉ huy chiến dịch thúc giục đẩy nhanh việc đánh phá Tà Cơn, sân bay dã chiến chứa gần một trăm máy bay trực thăng và những kho đạn đại bác, xăng dầu.

Từ phòng họp giao ban trở về nha riêng của mình, đại tá Điềm đã nghe chuông điện thoại reo lên khẩn cấp. Ông vội nhấc ống nghe lên:

- 03 nghe đây!

Trong ống nghe vang lên giọng nói trẻ trung, vui vẻ của Xuân Quang:

- Anh Điềm đấy à? Tôi xin báo cáo với anh tin chiến thắng mới của 33: đem qua, nó lại đột nhập vào Ái Tử lần thứ bá, đốt được một kho xăng và một kho đạn bằng mìn hẹn giờ. Ước lượng kho xăng là năm mươi vạn lít và kho đạn chừng 3 vạn viên. Thế là trong hai đem liền, nó đánh được vào Ái Tử. Thương vong của ta rất nhẹ vì giữ được yếu tố bí mật hoàn toàn.

Tư lệnh nói gần như reo lên:

- Tốt lắm! Tốt lắm! Rất là có ý nghĩa trong những ngày này đối với Nam Lào. Gửi lời biểu dương anh em nhé! Động viên anh em cố gắng làm một trận nữa được không?

Ông nói chuyện thêm vài phút với Xuân Quang nữa, trong lòng cũng vơi bớt được nỗi niềm phiền muộn. Một giờ sau, khi ông đang cắm cúi ghi chép và suy nghĩ về hoạt động chiến dịch của lực lượng đặc công trên toàn mặt trận thì chuông điện thoại lại reo lên:

- 03 nghe đây! P.5 đấy hả?

Một giọng nói Sơn Tây vang lên nghe như hát:

- Báo cáo đồng chí tư lệnh binh chủng, tôi là d trưởng 33 đây ạ. Báo cáo chúng tôi vừa đánh được một trận nữa vào Sa Mưu, phá hủy thêm một kho đạn đại bác khoảng mười vạn viên và một kho xăng đặc chủng hai mươi vạn lít. Đây là lần thứ năm chúng tôi đánh vào mục tiêu này. Anh em rút an toàn. Dọc đường về, hai đồng chí bị thương vì máy bay trực thăng bắn đuổi theo.

- Hoan nghênh anh em! Trực thăng từ sân bay nào?

- Báo cáo! Vẫn bọn Tà Cơn.

Đặt ống nghe xuống, đại tá Điềm bồn chồn đi đi lại lại trước tấm bản đồ chiến dịch. Trong lòng ông sôi réo lên một lời thúc giục từ các trận địa đổ về: “Đánh ngay Tà Cơn. Nếu không thằng địch có thể dùng máy bay trực thăng xúc quân đi hết và đòn quyết chiến của ta sẽ không thực hiện được để kết thúc chiến dịch”.

Mờ sáng hôm sau, đại tá Điềm đã quay máy điện thoại gọi tiểu đoàn 35. Biên kia đầu dây, vẳng lại tiếng nói của Ích, chính trị viên tiểu đoàn:

- Các cậu vẫn liên lạc được với bộ phận của Kha đấy chứ?

- Vâng ạ! Bộ đội của ta lúc này đã tập kết an toàn ở khu B chân núi Động Trì. Dọc đường, bị trực thăng bắn nhưng chỉ có một đồng chí bị thương nhẹ.

- Kế hoạch tiếp theo hôm nay ra sao?

- Báo cáo, theo kế hoạch thì trưa nay, hai đội 61 và 91 sẽ phải tập kết ở khu vực Ba, ở nam sông Nguồn Rào. Nếu không có gì trở ngại thì đêm nay sẽ thực hiện kế hoạch.

- Hãy chuyển lời tôi thăm anh em. Nhắc anh em rằng tôi vẫn theo dõi anh em từng giờ cho tới khi anh em hoàn thành nhiệm vụ. Đồng chí nhắc Kha chớ có sơ xuất sau khi rút. Đơn vị các cậu đã một lần thiệt hại không phải trong trận đánh mà là trên đường về.

- Chúng tôi xin chuyển ngay chỉ thị của đồng chí.

- Các đồng chí phải tổ chức trực canh theo dõi suốt ngày và đêm nay. Toàn mặt trận đang chờ tin các đồng chí đấy!

Đặt ống nghe xuống, tư lệnh rút khăn mùi xoa lau trán. Ông thấy hồi hộp như chính mình sắp lao vào trận đánh này, một trận đánh hậu cứ mà ông đã thấy tầm quan trọng của nó đối với mặt trận chính ở Nam Lào. Nó sẽ chứng minh một cách vững chắc nhất so với những trận đánh hậu cứ khác vừa diễn ra, nhưng luận điểm khoa học của ông về vai trò khả năng của lực lượng đặc công trong chiến đấu binh chủng hợp thành và chấm dứt những hoài nghi của một số cán bộ chỉ huy chiến thuận và cả cấp chiến dịch vào vần đề này.

Đến trưa, khi vừa cầm bát cơm thì một máy điện thoài reo lên. Ông biết  à có điện từ trên bộ chỉ huy chiến dịch.

- Điềm đấy à? Hồng Minh đây!

Đại tá nhận ra, chẳng khó khăn gì giọng nói gân guốc, trầm nặng vùng Quảng Ngãi của đồng chí cán bộ cấp cao trên sở chỉ huy chiến dịch. Nhưng lần này, nó đượm thêm một vẻ nóng ruột:

- Khả năng làm ăn đến đâu rồi vậy?

Tư lệnh binh chủng báo cáo vắn tắt những gì mà ông đã nắm được cho đến lúc này.

- Mình đã tưởng các cậu xì hơi rồi. Nhưng nghe thế cũng có nhiều hy vọng đấy nhỉ? Này, chúng mình vẫn đang cân nhắc những luận điểm của cậu đấy nhé!

Một tràng cười dài thoải mái kết thúc cuộc nói chuyện. Chiều hôm đó, đại tá Điềm đi xuống một đại đội của tiểu đoàn 33 vừa từ Ái Tử rút về củng cố. Ông dự cuộc họp rút kinh nghiệm trận đánh của đơn vị, và dự một bữa liên hoan rất thoải mái với chiến sỹ. Mười một giờ đêm, ông mới về tới nhà.

Đọc các bức điện, ghi chép một hồi lâu, mãi nửa đêm ông mới vào giường nằm. Thế mà trằn trọc mãi không sao ngủ được. Tâm trí ông trôi theo những bước chân của tiểu đoàn 35 lúc này có lẽ đang đánh phá Tà Cơn. Liệu có trót lọt không? Dọc đường có sự cố gì không? Anh em sẽ đánh được đến đâu? Sẽ rút ra thế nào? Cậu Kha là một cán bộ tin cậy được. Nó là một cán bộ hành động, không lý luận nhiều. Những anh em ấy rồi phải cho đi học văn hóa. Nếu không, sự phát triển sau này sẽ bị hạn chế. Lại còn bao nhiêu anh em cán bộ, chiến sỹ nữa. Từ những trận đánh này, tài năng sẽ được rèn luyện, phẩm chất được thử thách sẽ đào tạo được biết bao nhiêu cán bộ ưu tú làm nòng cốt cho binh chủng về sau. Ngay mai, ngày mai. Nếu 35 hoàn thành nhiệm vụ đêm nay thì quân địch sẽ ra sao? Chúng sẽ rối loạn lên vì không còn được tiếp tế, vì không còn phương diện nào mà chuyển quân, hót quân rút chạy. Trận tổng công kích của chiến dịch sẽ diễn ra hết sức đẹp đẽ. Nhưng nếu đêm nay, rủi anh em ta không đánh được thì sẽ ra sao? Ông bồn chồn lo lắng và tự đưa ra biết bao nhiêu giả thiết cho ngày mai trên chiến trường chính, nếu tình huống đó xảy ra, thì binh chủng ta sẽ ra sao? Sẽ nói năng thế nào khi tổng kết chiến dịch? Sẽ củng cố lòng tin tưởng cho đội ngũ cán bộ như thế nào?

(còn tiếp)
Logged
nttran1979
Thành viên
*
Bài viết: 45


« Trả lời #5 vào lúc: 24 Tháng Chín, 2010, 01:19:40 PM »

Ngoài kia, tiếng gãy rắc của một cành cây rơi khiến ông tỉnh hẳn. Ông trở mình. Mùi hương thanh khiết của chùm phong lan ngoài cửa sổ khiến ông bất chợt lại nhớ đến cành thanh mai mà ông đã trồng trước nhà truyền thống binh chủng. Lại nhớ đến một kỷ niệm vui thú của ông trong vười thanh mai Đông Mỹ. Ngày ấy, cách đây đã hai năm, cũng vào dịp này, một người bạn vong niên làm công tác văn hóa ở Hà Nội tới nơi ông làm việc và rủ ông v ào thăm làng mai. Khách vốn có tâm hồn thi nhân, không đi tay không, mà xách theo một chiếc giỏ mây. Khi hai người vào đến vườn mai, sau khi đã xin phép người chủ vườn, người bạn già mới trải một tấm ni long thay cho tấm chiếu ngay dưới gốc một cây mai già có cái gốc vặn vèo và hàng trăm nghìn cành lớn nhỏ vươn ra bốn phía với những chùm hoa mảnh mai, trắng trong tinh khiết. Rồi khách lôi ra một nậm rượu, nậm rượu làm bằng quả bầu khô chứ không phải chai – và một nắm mực khô. Hai người rót rượu, cái chén chỉ to bằng cái mắt trâu, chỉ một tợp là hết – và cứ mỗi lần nâng chén khách lại chúc một điều, hết cho sự trường thọ của hai người, gia đình con cháu lại đến chúc cho sự tồn tại mãi mãi của vườn mai. Khách hào hứng kể vanh vách lai lịch của cái vườn mai nổi tiếng xa gần này, về công dụng tyệt vời của thứ quả quý giá đối với sức khỏe con người, rồi cao hứng ngâm thơ. Còn ông thì mê mải lắng nghe, rung đùi thưởng thức. Cặp mắt vốn chỉ quen xoi mói trên những tấm bản đồ chiến lệ, phút chốc đã trở nên mơ màng, lơ đãng nhìn vô vàn những cánh hóa trắng xanh xao rơi lả tả mỗi khi có làn gió nhẹ lướt qua, mặc cho một vai chiếc cánh mỏng manh rơi xuống như trang điểm cho đĩa mực khô và làm rung rinh chén rượu.

- Cho nên- Khách nói – Năm nào tôi cũng cố tìm cách về thăm lại cái vườn này và hẹn với cụ chủ đến mùa quả chin sẽ về mua lấy vài cân.

Lúc ấy, tư lệnh đã hỏi:

- Bác đã mê thanh mai thế thì sao không xin giống mà trồng quách lấy vài cây ở vườn nha có hơn không?

Khách lắc đầu:

- Không. Cái vườn này còn là một cảm hứng bất tận. Nếu trồng ở nhà tôi thì nó sẽ chẳng còn ý nghĩa gì. Mà về khoa học lại còn vấn đề chất đất nữa cơ đấy! vả lại mình ăn bao nhiêu?

- Nếu vậy tôi sẽ trồng – Lúc ấy đại tá đã quả quyết nói – Cũng là đất Đông Mỹ cả. Minh ăn, người sau này ăn. Lại được chén thoải mái.

Rồi ông ngửa cổ cười một hồi rất sảng khoái.

…Đại tá Điềm lại lan man nghĩ về gia đình. Nghĩ tới vợ, trong lòng ông cồn cào một niềm thương xót. Thế là nhà ông lúc này đã phân tán khắp nơi: thằng Chung là trung úy, hiện đang ở xa nhà. Em ruột nó, đứa con gái bất hạnh hiện nay phiêu bạt mãi đâu, chỉ biết rằng nó được người ta nuôi và đang ở vùng Tây Nguyên, Lâm Đồng hay Buôn Mê Thuột. Ông thì đang ở đây. Thằng Ngọc thì đã ngã xuống rồi, ngã xuống ngay trên đất quê hương. Thương thằng bé này bao nhiêu! Ở nhà chỉ còn ba mẹ con với những công việc bận bịu của cơ quan, của con, lại thêm bệnh tim. Phải ra ngoài máy công cộng mà lấy nước. Giá như mình ở nhà thì mình có thể đỡ đần cho bà ấy… Hết chiến dịch, trên đường về, mình phải dừng lại ở Bến Thủy, tìm xem mộ thằng bé nằm đâu. Chắc là khó tìm. Nhưng phải tìm được, nếu không khi về mình nói với bà ấy thế nào? Ngọc, con thứ lỗi cho ba. Chẳng lẽ ba có lỗi khi đồng ý cho con đi bộ đội hay sao?

Gần sáng, đại tá Điềm mới chợp mắt, lịm đi trong giấc ngủ nặng nề.

Chợt ông giật mình ngồi phắt dậy. Thước, cậu cần vụ đã lay ông, dáng vội vã:

- Mời thủ trưởng ra máy. Em nghe như của 35.

Không kịp khoác chiếc áo ngoài, chỉ hai bước chân, tư lệnh đã đến bên máy điện thoại.

- 03 nghe đây!

Tiếng cười vui vẻ của Xuân Quang nghe khác thường:

- Anh đã biết tin gì chưa?

- Chưa. Chuyện gì thế?

- Đánh Tà Cơn rồi! Cả sân bay biến thành một biển lửa. Kho đạn và kho xăng đều bị đốt phá cả. Tin kỹ thuật mới nhận được. Tôi vội thong báo để anh biết.

Tư lệnh binh chunrng hét to vào máy:

- Hoan hô thằng 35! Thế là mừng rồi! Tình hình thế nào?

- Đài Hà Nội sáng nay cũng vừa đưa tin đấy. Anh không nghe à? Cũng mới kịp đưa tin vậy thôi. Đề nghị anh cho nắm tình hình và báo cáo cụ thể với mặt trận ngay.

- Tình hình ở chính diện thế nào?

- Bọn địch rối như tổ ong vỡ. Bên ta đang mở trận tổng công kích. Các “cụ” đã biết tin Tà Cơn rồi, và có vẻ hài lòng lắm. Xin chúc mừng binh chủng ta và chúc mừng riêng anh.

-  Tốt lắm! cậu cũng nên thu xếp xuống ngay đây với mình thôi. Hãy trở về với công việc của chúng ta.

- Vâng, vâng. Tôi cũng đã định sáng mai xuống chỗ anh. Anh bảo cậu Thước kiếm cái gì anh em mình liên hoan mừng ngọn lửa Tà Cơn chứ!

Tiếng nói của Xuân Quang vang ra ngoài ống nghe khiến cho Thước, cậu công vụ nghe cũng rất rõ. Cậu ta mủm mỉm:

- Thủ trưởng bảo anh Quang có xuống thì mang theo mấy hộp giò xuống liên hoan chứ thầy trò mình dưới này thì có gì!

Đang vui, đại tá Điềm cũng cười theo. Chỉn chu, tằn tiện đến mức nghiệt ngã với mọi người dường như là thuộc tính của mọi anh cần vụ trên đời. Anh chàng Thước này cũng vậy.

Hai hôm sau, đại tá Điềm được lệnh của Bộ gọi về Hà Nội. Cùng về với ông còn có trưởng phòng tác chiến Xuân Quang. Ngoài chăn màn quần áo của hai người, Thước còn ném lên xe lỉnh kỉnh những nồi niêu xong chảo, đèn chão, sung săn và cả mấy giỏ phong lan đang trổ hoa rất đẹp. Xuân Quang thì bận bịu với những xấp bản đồ chiến dịch và sơ đồ các chiến lệ cùng với các thứ chiến lợi phẩm phần nhiều là vũ khí mà anh đã có ý thu thập trong chiến dịch mang về triển lãm và sau này chọn lọc đưa vào nhà truyền thống binh chủng.

Riêng đại tá Điềm thì chỉ thích xách mỗi chiếc cặp da đen đã cũ trông cũng chẳng lấy gì làm đầy đặn. Chiếc cặp này mỗi khi làm việc tại cơ quan bộ tư lệnh hay cả khi đi chiến trường, ông vẫn mang theo và thường trực tiếp giữ. Lần này cũng vậy, sau khi đã ngồi lên ghế sau của chiếc com-măng-ca, ông cẩn thận đặt chiếc cặp da “từ thời” lên đùi. Thấy Thước nhìn chiế cặp, hiểu ý, ông gật đầu:

- Để mình giữ cho. Đối với mình, tất cả chỉ là ở cái cặp này. Nếu không may bị máy bay nó bắn thì có thể vất hết mọi cái lại, trừ cái cặp.

Khác với thái độ của Thước, Xuân Quang nhìn chiếc cặp da cũ kỹ đã bợ hết nước xi màu đen và đã tuột cả quai xách với ánh mắt trân trọng. Anh hiểu giá trị của những gì chứa dựng bên trong chiếc cặp ấy. Nó là cơ sở lý luận để xây dựng nền tảng vững chắc về lâu về dài cho một binh chủng non trẻ nhưng hứa hẹn những bước đi lẫy lừng. Nó thực sự là tâm huyết và cũng là sự nghiệp của bản thân tư lệnh.

Chiếc xe được ngụy trang cẩn thận, vượt qua những cánh rừng cao su. Rừng khô và sạch. Những chiếc lá đỏ sẫm bị gió ào tới, bứt ra khoi tản cây, bay là đà đậu xuống mui xe, kêu lên những tiếng lạt xạt vui vẻ, hòa cùng với tiếng lép bép của lớp lá khô rải đầy dưới bánh xe. Ra đến đường quốc lộ 1, chiếc xe rẽ trái, chạy ngược lên phía bắc. Hai bên đường, những hàng phi lao xanh mướt đung đưa, uốn mình mềm mại trước những cơn gió xuân mát lạnh và phát ra những tiếng rì rào muôn thuở. Cặp mặt có quầng thâm của tư lệnh thoắt ảnh lên một vẻ bỡ ngỡ lẫn chút ngây thơ. Hóa ra, mặc cho bom đạn Mỹ ngày đêm quần xé con đường này, cây cỏ vẫn sinh sôi, nảy nở. Lúa hai bên đường vẫn mơn mởn xanh tươi trên những vạt ruộng phẳng phiu, loáng nước. Những vạt lúa thẳng hàng tăm tắp thế kia chứng tỏ những con người đã cắm cây mạ xuống, dù ban ngày hay ban đêm, vãn bình tĩnh trước những tiếng gào rú của bom B52 hay của những viên đạn đại bác mấy trăm ly từ các chiến hạm ăn cướp ngoài biển Đông bắn vào. Ừ rõ ràng cỏ cây cũng vẫn có sức sống riêng của nó – tư lệnh thầm nghĩ – cái sức sống của những sinh vật đang ở tuổi thanh xuân.

Gần đến phà sông Gianh thì chiếc xe phải giảm tốc độ và len lỏi qua một hàng dài tưởng như vô tận những loại xe lớn nhỏ, ngụy trang kín mít, đậu nép bên đường. Những người trên xe, hầu hết đều mặt quân phục màu xanh đang đi lại bên những hầm trú ẩn đào vội, dáng điệu bồn chồn, hay xúm lại chỗ những cô gái thanh niên xung phong đang chữa đường. Các cô chống những chiếc xẻng cuốc, xà beng, ngắm chiếc xe đang từ từ lăn qua với tốc độ của người đi bộ. Vẻ mặt các cô cũng khác nhau: hớn hở, nhí nhảnh, thờ ơ, lầm lì. Thước hắng giọng ra vẻ:

- Các cô có thấy “bu em” ở đây không?

Rõ ràng là cậu ta không có kinh nghiệm giao thiệp với cánh “ bà cô” này! Quả nhiên, đó đây đã rộn lên những tiếp đối đáp:

- Có đấy! Có đấy!

- Anh bộ đội ơi! Đến đây! Chị ấy ở đây này!

- Em đây! Bố nó ơi!

Một cô vóc dáng cao lớn, có cặp mắt vừa táo tợn vừa dịu dàng lên tiếng xong liền cúi xuống xúc một xẻng đầy đất, từ từ tiếng đến bên chiếc xe. Anh lái xe vốn là tay từng trải, nhác trông thấy đã hoảng hồn, chân nhấn ga, miệng kêu:

- Chạy mau! Chết với chúng nó bây giờ!

Quả nhiên, chưa lăn bánh được quá hai bước chân, một xẻng đất đã hắt ào vào trong x echo anh chàng Thước lãnh đủ. Các cô cười ré lên giữ những tràng vỗ tay và tiếng hò la hưởng ứng của những chàng bộ đội đứng ngồi ngổn ngang đây đó.

Mặc dù cũng bị một nắm đất hắt vào người tư lệnh cũng mỉm cười như bị hút vào cái trò đùa nghịch đó. Những tiến gnosi cười đầy sức thanh xuân khiến ông vui lây. Chúng nó cũng bằng tuổi mấy đưa con mình. Ý nghĩ liên tưởng bỗnglàm ông đau nhói. Ông lại nhớ đến những dòng chữ run rẩy trong thư của vợ. Vẻ mặt ông phúc chốc trở nên rầu rĩ.

Khi chiếc xe đã vượt qua sông Gianh, tiếp tục bon trên mặt đường với tốc độ đều, tư lệnh nhắm mắt, ngả lưng về phía sau, im lìm giây lâu, tưởng như ông tranh thủ giờ phút hiêm hoi này để ngủ bù cho những ngày mệt nhọc vừa qua. Nhưng không. Trong lòng ông, lại day dứt môt nỗi đau âm ỉ. Ngọc, con có giận ba không? Có phải tại ba không đồng tình với mẹ con mà con phải hy sinh không? Nhưng ba có thể làm gì khác được? Ba chịu trách nhiệm trước bao nhiều sinh mạng con người. Họ đều ở lứa tuổi của con. Ba biết ơn con khi con nói con đi bộ đội chiến đầu còn là vì ba. Ừ! Người ta sẽ hỏi: anh hô hào con em người ta xông vào chỗ gian nguy, còn con anh, anh để đâu? Nếu anh giấu con anh ở những nơi an toàn, sung sướng thì rốt cuộc anh chỉ là kẻ đạo đức giả. Bao nhiêu bạn bè của con, đồng đội của con đang đứng trước mặt ba đây trên cung đường đầy bom đạn chết chóc này. Ngày mai họ có thể ngã xuống. Và từ nay cho đến ngày đất nước toàn thắng, sẽ còn phải có bao nhiêu người nữa ngã xuống… Tổ quốc trông cậy vào lớp người có sức đào sông lấp biển như các con. Không thể nào khác được. Nhưng lại chính là con đã ngã xuống. Con của cả ba mẹ. Con của mẹ. Con riêng của mẹ con. Ôi, giá như…

Bánh xe đang lăn qua một “ổ gà” khiến chiếc xe chồm lên. Tư lệnh bừng tỉnh dậy. Ông chớp cặp mặt mệt mỏi, có quần thâm, khẽ nói:

- Trưa nay, về qua phà Bến Thủy, mình muốn dừng lại một ít thời gian Quang ạ!

Xuân Quang hiểu ý của tư lệnh. Anh gật đầu nhìn ông với ánh mắt thương cảm. Cặp mi dài của ông khẽ động đậy trên quầng thâm màu gan gà, làm hằn rõ những vết nhăn li ti bên kẽ mắt. Phút chốc, anh có cảm giác tư lệnh đã già đi đến mấy tuổi.

Để tưởng nhớ liệt sỹ

Nguyễn Chí Điềm
Logged
nttran1979
Thành viên
*
Bài viết: 45


« Trả lời #6 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2010, 08:28:55 PM »

TRƯỚC CỬA MỞ (Truyện ngắn - Nguyễn Bảo)



Tôi đã thức từ lâu nhưng vẫn cuộn tròn trong chăn. Rét. Sương muối dày đặc dâng ngập bên ngoài cửa kính. Gió mùa đông bắc réo u u như giận dỗi ai. Những cánh cửa rung lên lạch xạch. Tuồng như có ai gõ cửa? Hay chỉ là gió trêu đùa? Tôi nằm yên nghe ngóng. Cũng dễ đến mười lăm phút sau tôi mới nghe những tiếng gõ cửa dứt dạt, mạnh bạo của cửa. Ai thế? Tôi rời khỏi giường. Cửa vừa hé, Thủ chợt hiện ra.

- Đứng đợi một lát mới dám phiền anh. Hôm nay rét dữ anh hỉ - Thủ nói và cười gượng như người có lỗi.

- Cậu cũng khách khí quá đấy. Có gì mà phiền, sao lại phải đợi. Vào đi – Tôi trách Thủ.

Không kịp cởi chiếc áo bạt ướt đẫm sương đêm, không kịp cả ngồi xuống ghế, Thủ gấp gấp hỏi tôi có biết tin gì về Thông không? Thông là thủ trưởng cũ của Thủ. Tôi có quen Thông hồi chiến tranh chống Mỹ. Sau giải phóng miền nam, Thông được điều ra công tác ở một cơ quan Bộ. Là trưởng phòng gì đó. Thực lòng tôi cũng không quan tâm lắm đến Thông. Tôi trả lời:

- Không. Có chuyện gì vậy?

- Chết chửa. Tôi vừa nhận được thư của anh Thông, anh ấy đang có chuyện lôi thôi. Cấp trên định chuyển anh xuống dưới đơn vị. Anh không muốn thế nên định xin về hưu. Chả là kho cô quản lý bếp ăn trong cơ quan bị mất mấy chục cân gạo. Chưa rõ nguyên do, nhưng anh Thông nghi cô ta lấy. Chắc là anh Thông có tra hỏi đe nẹt gì. Bức bối cố ta nghĩ quẩn nhảy ào xuống sông tự vẫn.

- Chết không?

- Cũng suýt, may có người trông thấy với lên kịp.

Tưởng thế nào. Chuyện đó cũng không hiếm lắm đâu, không tới mức Thủ phải cuống lên thế.

- Không, cũng phải khẩn trương anh ạ…

Thủ nói một thôi một hồi nữa và rủ tôi đến thăm Thông ngay.

- Mình đi pha trà cho Thủ uống đây. Thủ có muốn đi thì cứ đi, mình hôm nay bận…- Tôi nói với Thủ.

Thủ có vẻ sửng sốt trước thái độ của tôi. Tôi hỏi Thủ:

- Quả thật Thủ tất tưởi từ biên giới về đây chỉ vì chuyện đó thôi à?

- Vâng. Tôi biết tin cả tuần nay rồi. Suốt ruột quá. Dưới đơn vị anh còn lạ gì. Trăm thứ việc, thu xếp mãi mới tranh thủ được ít ngày.

- Thủ cũng lắm công đấy nhỉ? – Tôi không giấu được chút ít mỉa mai.

Hình như không đoán được tâm trạng của tôi, Thủ trả lời thành thật:

- Tàu xe vất vả quá, đáng lẽ đến Hà Nội từ hồm qua, không dè vẫn phải đi suốt đêm. Tôi chỉ sợ đến muộn, anh Thông đã có một quyết định gì đó sau này ân hận. Kể cũng tội, vào Nam ra Bắc đủ cả. Trong quân ngũ từng ấy năm giờ mới về gần vợ, gần con. Chưa được bao lâu, cấp trên lại điều đi đơn vị ai mà không suy tính. Nhưng tính gì thì tính về hưu thì không nên. Về hưu sớm mà làm gì? Lúc này là lúc anh em mình phải xúm vào giúp anh ấy.

Nghe Thủ nói tôi bực thực sự:

- Gớm, chắc gì ông Thông đã cần đến sự giúp đỡ của Thủ. Mà có cần cũng phải tính toán xem thế nào. Cái việc anh ta vấp váp cũng phải trả giá chứ. Ngày xưa anh ta đã không chịu lãnh lấy bài học cho mình thì hôm nay phải lãnh đủ. Đời là thế.

- Anh vẫn còn giận anh ấy? – Thủ hỏi và đưa mắt nhìn tôi dò xét.

***

Chuyện xảy ra đã hơn mười năm. Hồi đó tôi được cơ quan cử đến tiểu đoàn đặc công 910 công tác. Người đầu tiên tôi gặp là Thông. Thông là chính trị viên tiểu đoàn. Tôi chỉ ở tiểu đoàn bộ vài ngày rồi xuống đại đội ngay. Tôi “cắm” ở đại đội chủ công của tiểu đoàn khá lâu. Ở đây người tôi thân nhất là đại đội phó Thủ. Thủ cùng quê với tôi, tuổi tôi và Thủ sàn sàn như nhau. Nhưng chúng tôi thân nhau ở một lẽ khác: Từ ngày tiểu đoàn có phương án đánh đồn Bình Long, Thủ thuộc mẫu người buộc tôi phải chú ý. Thủ đi chuẩn bị chiến trường liên tục. Lần nào Thủ cũng kéo tôi cùng đi. Nhờ Thủ tôi mới có thời cơ xuống vùng giáp gianh,  xuống đồng bằng – nơi những cuộc giao tranh giữa ta và địch xảy ra quyết liệt. Nhờ Thủ tôi được biết thêm nhiều chi tiết cụ thể của đồn Bình Long. Theo phương án tác chiến, Thủ sẽ chỉ huy mũi tiến công chủ yếu của trận đánh. Không hiểu sao trước ngày làm công tác tổ chức chiến đấu, tiểu đoàn quyết định một cán bộ khác thay vị trí của Thủ. Thủ chỉ đi theo tiểu đoàn làm đội quân dự bị. Được tin này mặt Thủ đỏ căng. Thủ gầm lên nguyền rủa Thông. Theo Thủ, quyết định này không của ai khác ngoài Thông. Lần đầu tiên tôi thấy Thủ khóc. Thủ xấn xổ định lên gặp Thông. Tôi phải ngăn Thủ lại. Tôi khuyên Thủ yên tâm, tôi sẽ lên hỏi cho ra đầu đuôi và xin cho Thủ được dự trận đánh.

- Kỷ luật cao nhất đối với cậu ta là không cho dự trận đánh này – Thông trả lời điểm nhiên và kết thúc buổi nói chuyện.

Ở chỗ Thông ra, tôi buồn rượi. Tôi đã bất lực trong việc giúp Thủ trở lại vị trí chiến đấu. Tôi không đồng ý với cách lập luận thiếu lô gisch, thiếu tấm lòng của Thông nhưng tôi cũng không đủ bằng chứng để bênh vực cho Thủ. Tôi chỉ là một người khách của tiểu đoàn, còn Thông là thủ trưởng trực tiếp của Thủ. Thủ ơi! Khi cấp trên chưa thật sự tin mình thì dành phải chờ thời gian, chờ thực tế trả lời. Có gì đâu mà Thủ quằn quại đau đớn dữ vậy?

Việc Thủ không tham gia tác chiến gây cho tôi nhiều lúng túng. Mấy ngày trước thấy tôi băn khoăn về cách đi đứng, Thủ bảo tôi cứ theo anh. Anh sẽ bố trí đi với đội hình đại đội. Khi bộ đội thọc sâu anh sẽ chỉ cho tôi chỗ đứng, đánh xong anh dón vào điểm quan sát. Tôi chấp nhận ý kiến của Thủ, dù biết đi như thế thật nguy hiểm. Tôi không thể cởi trần bôi lọ nghẹ đi với tổ cắt rào và tổ thọc sâu. Cho là tôi có bốc máu anh hùng lên cũng không ai để tôi làm như vậy. Đi với ban chỉ huy tiểu đoàn là hợp hơn cả, vừa theo dõi được các mũi các hướng, theo dõi được công tác chỉ huy vừa an toàn hơn. Nhưng ngay từ hậu cứ, chính trị viên Thông đã ngăn trở tôi. Anh khuyên tôi không đi theo tiểu đoàn, vất vả và nguy hiểm. Năn nỉ mãi anh mới đồng ý cho tôi đi với đội phẫu tiểu đoàn. “ Ở với đội phẫu thà ở hậu cứ còn hơn”. Thủ nói với tôi thế. Tôi không thuộc nhưng người coi thường cái chết nhưng cũng là người biết tự trọng. Nhiều người lính trong tiểu đoàn sốt rét tím môi, chân đi không vững vẫn nằng nặc đòi đi chiến đấu bằng được. Tôi sẽ ngượng, sẽ xấu hổi biết bao khi lủi thủi với một đôi người ốm liệt giường nằm ở hậu cứ, hoặc chui vào hầm phẫu thuật để chỉ chứng kiến những vết thương của đồng đội, những tiếng rên la và những cặp mắt nhìn tôi lạ lẫm. Tôi hiểu rằng Thông muốn tránh cho tôi nỗi vất vả và nguy hiểm. Khi người ta đã không muốn mà mình cứ cù lần bám theo cũng là người không biết tự trọng. Nghĩ như thế tôi càng quyết tâm đi với Thủ. Thủ rất khoái có tôi đi theo. Chẳng phải anh ít quan tâm đến sức khỏe, tính mạng của tôi nhưng trong anh có một niềm tin thật lạ lung. “Chẳng có gì đâu. Họ dọa anh thế thôi. Bọn tôi lúc vào tận lô cốt cũng chẳng sao. Trận đánh này ngon lành lắm. Đi với lính vui mà nhiều chuyện hay lắm anh ạ”. Thủ đã gãi đúng chỗ ngứa của tôi, muốn tạo cho tôi điều kiện gần chiến sỹ, gần cuộc chiến đấu nóng bỏng của họ. Là một người viết ai không muốn có những thực tế ấy. Vấn đề là anh có dám vào cuộc hay không? Thủ và những người lính trong đạo đội anh đã gây cho tôi niềm mê say và lòng dũng cảm. Tôi hoàn toàn yên tâm, vui là khác khi được đi chiến đấu với Thủ. Tiếc thay… Tôi buộc lòng phải chọn cho mình một phươn án mới. Tôi sẽ đi với ban chỉ huy tiểu đoàn, tự đào lấy hầm và tránh sao đừng để thông biết việc này.

***

Trước hôm hành quân đánh Bình Long, Thủ rủ tôi xuống chân ranh cách chỗ đóng quân của tiểu đoàn một buổi đường. Anh nói là có việc không thể dừng, muốn tôi đi cùng cho vu. Tôi không từ chối. Thủ đang có tâm trạng buồn. Đến gần một ngôi mộ dưới chân một dãy núi, Thủ dừng lại. Anh cởi gùi ra lấy một nắm hương. Tới lúc châm hương anh mới nói với tôi: Đây là mộ anh Khang, tiểu đoàn trưởng cũ, người cùng quê với Thủ, người Thủ đã bắn nhầm ở đồn Bình Long năm sáu tám. Che chắn mãi tôi với Thủ mới bật được lửa. Gió. Cái gió vùng giáp ranh sao cho lộng, mà phóng đãng mãnh liệt. Hương bắt gió cháy ào ào, khói thơm ngào ngạt dâng lên bay tỏa một vùng:

- Anh Khang… anh Khang ơi!

Giọng Thủ se nhỏ nhưng rất rõ. Thủ ngồi xuống xòe tay ôm lấy ngôi mộ:

- Bốn năm rồi, anh Khang ơi! Ngay mai tiểu đoàn lại đánh đồn Bình Long. Em đã chờ đợi, đã chuẩn bị bao lâu nay để đánh trận này, trả thù cho anh. Vậy mà… - Thủ bỗng nấc lên – Đành rằng em có khuyết tật này nọ. Thì cứ phê bình em đi, việc gì cấm em không được dự trận. Em có lỗi với anh. Anh giận em lắm phải không anh Khanh? Khôn thiêng anh phù hộ cho tiểu đoàn đánh Bình Long trót lọt. Khôn thiêng anh chỉ đường dẫn lối cho em vào đồn. Em sẽ vào đồn, nhất định thế rồi anh Khang ơi! Em hứa chỉ mắc khuyết điểm một lần này nữa thôi…

Thủ nói chuyện với người dưới mồ như nói chuyện với một người đang sống. Hình như trước mỗi trận đánh Thủ vẫn hay tới đây rủ rỉ với Khang nỗi niềm của mình. Trên đường về chúng tôi đi cắm cúi, yên lặng. Tôi không muốn hỏi Thủ một điều gì, sợ đụng đến vết thương lòng của Thủ. Nhưng rồi Thủ vẫn kể:

- Anh Khang là người tốt lắm. Đầu năm sáu tám, một tiểu đoàn đặc công được thành lập từ hậu phương đi thẳng vào chiến trường Quảng Đà. Tiểu đoàn này toàn là cán bộ chiến sỹ Thanh Hóa. Anh Khang là tiểu đoàn trưởng. Trận đầu tiên tiểu đoàn tham gia tác chiến là trận đánh đồn Bình Long. Một tiểu đoàn Mỹ đóng ở đồn này. Đêm ấy, bọn tôi đang cắt rào bỗng gặp lính Mỹ đi tuần. Chúng giẫm lên cả người chúng tôi. Không còn giữ được bí mật, chúng tôi vùng dậy choảng nhau với chúng. Bọn lính trong đồn báo động. Tiểu đoàn trưởng Khang ra lệnh cường tập đánh vào đồn. Một cuộc đọ súng quyết liệt xảy ra. Bộ đội ào ào xông vào chiếm gần hết các lô cốt. Còn một góc đồn – chỗ có dựng một chòi cu rất cao, bọn Mỹ trụ lại phản kích. Bộ đội xoay xở đủ cách vẫn không lên được. Nghề đặc công đã phải cường tập là bất lợi lắm rồi. Nếu không dứt điểm được sẽ gay go vô cùng. Tiểu đoàn trưởng lệnh phải diệt cho được chiếc chòi cu, phải diệt toàn bộ bọn địch ở nơi cố thủ trước khi trời sáng.

Tôi bị thương ngay từ lúc đánh nhau với mấy thằng Mỹ trong hàng rào cũi lợn. Cả hai chân đều trúng đạn không đi được. Ở đằng sau có người đón, băng bó vết thương. Nhiều người bị thương đã bò ra. Tôi nghĩ: sống cùng sống, chết cùng chết với anh em. Tôi lết về trước, mãi rồi cũng qua hết mấy lớp rào. Trước mặt tôi đạn vẫn bắn ra như mưa. Bộ đội đã xáp hết lên phía trước. Tôi nhìn sự phản kích điên loạn của tụi Mỹ mà lòng căm thù sôi lên sùng sục. Cùng lúc đó tôi nghe nhưng tiến nổ dữ dội của đạn B40 bắn vào chòi cu. Chòi cu đổ rầm rầm, khói bốc mờ mịt. Thủ phải của bộ đội ta nổ dồn dập. Trời đã rạng sáng, thấp thoán trong đường hào ngoằn nghèo phía trước, tôi thấy có bóng người. Cái giống Mỹ cao lớn lắm, đi khom nhưng vẫn nhô cả lưng lên. Đúng là một toán Mỹ cố thủ không nổi đang tìm đường chuồn ra đây. Nòng khẩu AK của tôi rê theo cái lưng gù. Khi nó chỉ cách chừng năm mét đội nhiên người nó rướn lên. Tôi nhằm vào ngực vào bụng nó kéo một loại AK. Im lặng chừng một giây, có một cành cây ngụy trang nhô lên vẫy đi vẫy lại ba lần. Trời ơi! Đấy là tín hiệu của quân mình. Tim tôi như muốn ngừng đập. Tôi đã bắn ai thế? Tôi không còn nghĩ ngợi được gì nữa vội lết đến chỗ có tín hiệu. Mọi người đang xúm lại khiêng người bị thương. Mắt tôi vãi hoa cà hoa cải. Chao! Người tôi vừa bắt một loại AK chính là tiểu đoàn trưởng Khang. Thế này thì còn sống làm gì nữa, mà sống làm sao được! Tôi nhặc ngay lấy khẩu súng ngắn của anh Khang rớt dưới đất. Khẩu súng đã lên đạn. Tôi giơ súng vào đầu bóp cò. Viên đạn nỏ vang, khẩu súng văng ra. Sau này tôi mới biết chính anh Khang đã đạp mạnh và tay tôi để viên đạn bay lên trời. Không biết vì vết thương hay vì quá hoảng sợ, tôi ngất đi. Khi tỉnh dậy tôi đã được nằm ở một bệnh viện dã chiến của mặt trận. Sát bên cạnh tôi là anh Khang.


(còn tiếp)
Logged
nttran1979
Thành viên
*
Bài viết: 45


« Trả lời #7 vào lúc: 27 Tháng Chín, 2010, 09:17:46 PM »

- Thủ, em tỉnh rồi đấy à – Giọng anh Khang đứt quãng lào thào, rất khó nghe:

Người anh quấn đầy bông băng, bất động. Đôi mắt anh lờ đờ, nhịp thở không đều.

- Chắc anh không sống được đâu. Nhưng lỗi không phải do em. Về nguyên tắc, lúc dó anh không được vào điểm. Anh sợ bộ đội không bám đánh đến cùng. Anh sợ có những tình huống phức tạp không ai chỉ huy. Thế là anh nhảy vào. Anh lại to cao nên em mới nhầm. Thế là không có lỗi. Anh không muốn có một người cùng quê hèn như thế. Hành động ấy chẳng qua chỉ trốn traasnh trách nhiệm. Em phải sống, phải làm việc gấp đôi để gánh phần việc của anh…Em phải cố giết thật nhiều địch trả thù cho anh.. Còn về quê em đến…

Thú thật tôi không đủ can đảm nhìn vào anh, vào mắt anh. Tôi gục đầu xuống bên anh lắng nghe. Những lời của anh lúc đó không mạch lạc, tôi phải chắp vá lại mới hiểu hết ý anh. Thấy anh dừng đột ngột giữa câu, tôi người lên. Anh không còn nữa. Những lời trên cũng là những lời trăn trối cuối cùng…

Thủ dừng lại rất lâu. Anh đang ngẫm nghĩ gì thế? Tôi không dám hỏi. Một lúc sau giọng anh như đổi khác, đầy trách móc:

- Bốn năm nay tôi chờ đánh trận Bình Long. Sáu tháng liền tôi đi chuẩn bị cho trận đánh này, vậy mà người ta nỡ đẩy tôi ra khỏi vòng. Nhưng chẳng sao, tôi đã có cách. Anh có chiếc đèn pin phải không? Anh cho tôi mượn nhé!

- Để làm gì? – Tôi hỏi.

- Anh cứ cho tôi mượn, đánh xong anh sẽ biết.

Mặc dù bận túi bụi ở sở chỉ huy, khi đã hòm hòm công việc, Thông vẫn không quên nhòm ngó người này người kia và hỏi xem tôi có đi theo tiểu đoàn bộ không? Nghe có ai đó nói rằng tôi đã đi với đội phẫu tiểu đoàn. “Tốt, chỉ sợ anh ta quấn chân mình, phiền toái, có chuyện gì lại mang vạ”. Nghe câu nói này của Thông, tim tôi bỗng nhói lên. Khi khuyên tôi không nên đi với chỉ huy tiểu đoàn, Thông giải thích rằng đi như thế vất vả, nguy hiểm. Chứ thực lòng nếu có thể đi được thì rất tốt, chẳng những tốt cho công việc của tôi mà còn tốt cho ban chỉ huy vì tôi có thể cổ vũ động viên, góp ý cho ban chỉ huy việc này, việc kia.

Dù tôi muốn nói thế nào anh cũng một mực không cho tôi có mặt ở ban chỉ huy lúc tác chiến. Anh nói chẳng phải anh mà cả cấp trên, cả tiểu đoàn phải có nhiệm vụ tôi… Nhớ lại những lời vui vẻ mà cảm động của anh và nghe anh bộc bạch những lời vừa rồi toi bỗng gai gai rờn rợn… Éo le thay cái miệng lưỡi con người. Hầm chỉ huy được bộ đội chuẩn bị trước. Nó được đào sâu xuống bên một bụi tre ngà trên bờ sông. Dưới bờ sông, các bộ phận đi theo: trinh sát, liên lạc, thông tin, tác chiến, chính trị thi nhau đào hầm ếch vào bờ. Trời tối, dòng nước sông trước mặt cũng chỉ là một khối thẫm, kín đặc. Đụng mặt vào nhau vẫn không nhận ra người nào với người nào. Không được nói chuyện nên không biết ai là ai. Tôi nghiễm nhiên là người của ban chỉ huy. Chiếc hầm ếch của tôi nằm phía sau bụi tre. Tôi lấy làm thỏa nguyện vì vừa nghe được những mệnh lệnh của chỉ huy, vừa nghe được tin tức từ các mũi các hướng báo về qua bộ phận thông tin kề bên. Đào xong hầm, tôi chui tọt vào trong ngồi, yên trí không ai phát hiện ra mình. Tôi biết chỉ có thủ nghi tôi ở đây. Hồi chiều đang hành quân, Thủ hỏi tôi lúc tác chiến đi với bộ phận nào? Tôi trả lời sẽ quyết định khi tới vị trí tập kết. Còn với Thông và một số người khác thì tôi nói là đi với đội phẫu tiểu đoàn.

Xung quanh đồn Bình Long giờ này có hàng trăm con người đang lặng lẽ chiếm lĩnh vị trí chiến đấu. Vậy mà sao trong đồn yên lặng đến rợn người. Không thấy pháo sáng, cũng không nghe loạt đạn nào trong đồn bắn ra. Ở sở chỉ huy, ngoài tiếng lào thào rất nhỏ của tiểu đoàn trưởng Mai trong máy bộ đàm không còn tiến gì khác. Ba mươi phút trôi qua, người đầu tiên nói lớn, đi lại mạnh bạo là Thủ. Anh hỏi ai đó hầm chỉ huy ở đâu? Người này suỵt miệng bảo Thủ nói nhỏ. Thủ lại nói to hơn: “Ối dào, từ đây đến đồn còn xa lắc, yên trí đi”. Khi đến chỗ bụi tre anh báo cho Mai biết các mũi các hướng đã vào hết vị trí tập kết. Mũi trưởng đang vào kiểm tra lần cuối để cắt rào. “Tốt lắm, cậu có thể kiếm cái hầm đâu đó, có việc gì bọn mình gọi nghe!”. Thủ cười mỉa: “Ở đây cần gì phải hầm hào, thủ trưởng”. Thủ chê ban chỉ huy chọn chỗ quá xa điểm chẳng? Tôi nghĩ và cười thầm “Anh chàng mồm miệng chẳng giữ, mang vạ vào thân”. Tôi nghe Thủ hỏi Thông có thấy tôi ở đâu không? “Ở đội phẫu”- Thông trả lời. “Không thấy, tôi vừa ở đó ra đây”. “Thật sao, hay tụt về hậu cứ rồi?”- Giọng Thông vút lên ngạc nhiên rồi trầm xuống- “Mấy ông nhà báo hung hằng thế chứ nhát bỏ cha”. Tiếng Thủ - “Nhát gì. Anh ấy xin đi với tiểu đoàn bao nhiêu lần các anh không cho”. “Xin là xin vậy thôi, bố bảo cũng chẳng dám đi đâu”.

Tôi bỗng sửng sốt. Sao Thông lại nghĩ về tôi như thế. Mới lúc chiều anh ta nói với tôi đã hỏi tỉnh đội. Họ có điện xuống đề nghị tôi phải ở lại hậu cứ. Anh phải chiếu cố lắm mới để tôi hành quân. Sao bây giờ lại có chuyện trớ trêu vậy? Tôi nghe Thủ sục sạo hầm này hầm kia một chặp rồi đi đâu đó. Một lúc khá lâu Thông đi đến hầm trinh sát hỏi xem có thấy tôi ở đâu không? Một đồng chí trinh sách trách Thông sao không cho tôi đi với tiểu đoàn bộ cho vui. Thông cười mỉa mai “Vui cái nỗi gì; nhỡ anh ta làm lộ ra pháo nó giáng cho cha con vắt chân lên cô. Mà mình có chết không sao, anh ta mà sượt tí da cấp trên tha hồ riềng mình”. Tôi rợn cả người. Tôi vẫn ngờ ngợ đó mới là ý nghĩ thực của Thông nhưng sao Thông lại có thể thay đổi giọng lưỡi lạ lung thế. Vừa mới đây nói với Thủ là vậy mà giờ đã ngoắt sang thế này. Tôi đang nghĩ như vậy thì bỗng thấy người bật lên trong hầm. Một tiếng nổ dữ dội làm tôi ù đặc cả tai, đất cát rơi rào rào. Kế đó mặt đất, mặt sông bừng sáng. Đạn lớn đạn nhỏ thi nhau nổi loạn xạ. Rồi nữa, tiếng la ó, tiếng chửi nháo nhác từ đồng Bình Long vọng ra. Chả lẽ đến giờ nổ súng. Không thể, theo hiệp đồng là 12 giờ đêm kia mà.

(còn tiếp)
Logged
nttran1979
Thành viên
*
Bài viết: 45


« Trả lời #8 vào lúc: 29 Tháng Chín, 2010, 10:22:13 PM »


Mai hét lên trong máy bộ đàm: “Vấp mìn à? Ba à, những ai?” Mai gọi Thông mấy lần. Không biết Thông có nghe thấy không nhưng không trả lời. Đạn thẳng bay ra chỗ chúng tôi veo véo. Bọn lính trong đồn hình như đang ùa ra. Mãi một lúc sau Thông mới chui ra khỏi hầm của tổ trinh sát đi lên hầm chỉ huy. Giọng Mai cáu gắt “Anh đi đâu vậy? Gọi hết hơi”. “Tôi đang định đến chỗ phẫu, nghe tiếng nổ vội quay lại. Sao vậy, lộ à hay vấp mìn?”. “C5 Ước, Nông, Phán hy sinh rồi, lớ ngớ thế nào vấp mìn. Tôi đã bảo anh C5 là phải để thẳng Thủ chỉ huy. Anh cứ thành kiến với nó mãi giờ hỏng bét rồi. Làm sao đây?”. “ Anh Mai, giờ mà tranh công đổ lỗi cho nhau ích gì. Vẫn đề là lo việc chung. Hay cho bộ đội tạm rút ra?”. “Rút là rút thế nào? Không rút gì hết. Thông tin đâu, báo cho các mũi các hướng ở chỗ nào nằm nguyên chỗ đó, ngụy trang cho tốt, bất di bất dịch khi chưa có lệnh tiểu đoàn. Thủ đâu rồi anh Thông? Giờ anh lo tìm Thủ, động viên thế nào để cậu ta trở lại C5. Khẩn trương lên không hỏng hết việc”.

- Tôi sợ không ổn. Bọn địch làm dữ vậy chắc là nhặt được xác bộ đội ta. Đằng nào nó cũng biết đêm nay mình đánh. Nó cứ làm căng suốt đêm thế này mình làm gì được. Còn cái tay Thủ, có trời mới biết lúc này rúc ở đâu.

- Ơ hay, vậy bỏ cuộc chăng? Nhặc xác hay không kệ chúng nó. Mình cứ bí mật thật tốt, cứ bám đến cùng sẽ có thời cơ. Anh  không đi tìm Thủ thì cầm lấy máy, để tôi tìm cho…

Bầu trời vẫn sáng rực hỏa châu. Tiếng súng cùng tiếng la hét của địch ngày một dữ dằn hơn. Các trận địa pháo đâu đó bắt đầu chỉnh đạn quanh đồn Bình Long. Đạn nổi ở bờ sông, ở giữa sông, ở cạnh hầm chỉ huy tiểu đoàn và cả ở đâu đó rất xa. Thông đã chui vào hầm chỉ huy, cầm máy gọi về các đại đội. Các mũi các hướng vẫn báo về giữ nguyên vị trí. Riêng C3 không bắt được liên lạc. Tiểu đoàn trưởng Mai bước ra khỏi hầm chửi đổng: “Mẹ kiếp, cha con thằng C3 bỏ chạy rồi chăng? Thế mà ông Thông cứ khăng khăng tay Thành “vững”. Vững quái gì mới thế đã dẫn bộ đội chạy”. Thông không nói gì. Mai ra khỏi hầm. Đến bờ sông anh gọi trinh sát đi theo anh. Đi được một đoạn anh bỗng nói như reo:

- Thủ hả? Cậu biến đi đâu thế? Bớt bớt cái thói tự do ấy đi nhá!

- Ấy, thủ trưởng nói gì vậy? Vừa nãy em không chạy đến chỗ C3 thì tay Thành dẫn bộ đội nhót về rồi. Hắn vin vào chuyện bị lộ và định vù.

- Nhưng sao cậu lại biết nó định vù?

- Em còn lạ gì, hồi trước nó ở C5- thằng Thành ấy – mấy lần đánh nhau toàn luần quần ở cửa mở băng bó thương binh. Nhát như thỏ, chỉ được cái mồm miệng dẻo như kẹo, nói không ai bằng. Ấy thế nên mới được chính trị viên Thông đưa lên mây.

- Nhưng bây giờ sao rồi? – Tiếng Mai gấp gáp có vẻ sốt ruột.

- Em đang chạy đến chỗ C3 bỗng nghe bộ đội nháo nhác ở ngã ba Khe. Em đến thì ra lính C3. Em bắt quay lại hết. Dọa anh nào chống lệnh bắn bỏ. Thằng Thành hạch sách em. Em bảo đó là lệnh tiểu đoàn. Lệnh anh Thông. Nghe thế hắn cuống lên, trở lại rồi. Thủ trưởng cho bắt liên lạc đi.

Mai và Thủ cùng mấy anh trinh sát quay trở lại hầm chỉ huy. Thông mừng rỡ:

- Thủ đấy phải không?

- Vâng, có thân tôi đây thủ trưởng.

- Cậu lại đây, trời, may quá, đang cho đi tìm cậu. Thế này nhé, chỗ C5 Ước cùng hai b trưởng vấp mìn, hy sinh rồi. C5 có hoàn thành nhiệm vụ được không là do cậu. Cậu về ngay đó, xốc lại đội hình, động viên bộ đội cứ bám vị trí chờ thời cơ – Giọng Thông thiết tha.

- Không! Tôi không đi. Tôi có phải cái giẻ rách, khi cần thủ trưởng dùng, không cần thủ trưởng ném. Mấy bữa trước thủ trưởng sợ tôi đi với C5 trận đánh không bảo đảm. Giờ thủ trưởng lại bảo C5 có hoàn thành được nhiệm vụ hay không là do tôi. Tôi không thích đi tàu bay giấy thủ trưởng ạ!

- Thủ - Giọng Mai rành rọt – Chuyện cá nhân không được bàn lúc này – Cậu phải về C5 như anh Thông nói. Cậu sẽ chỉ huy C5, chịu trách nhiệm về hướng chủ yếu đó.

- Thủ trưởng không ra lệnh em cũng về. Em chỉ chọc thủ trưởng Thông chơi. Tình hình này cứ kiên trì chờ đợi sẽ có thời cơ vào đấy thủ trưởng ạ.

- Tớ cũng nghĩ thế. Cậu đi nhanh lên. Lính C5 tốt lắm, mất chỉ huy mà không một ai bỏ đội hình.

- Thủ trưởng khen lính C5 có mà khen suốt ngày.

Thông im tiếng từ nãy đến giờ lúc này mới lên tiếng:

- Nào bắt tay, hoàn thành nhiệm vụ nhé! Mình vẫn đánh giá cậu là người tốt. Giữ cậu lại chẳng qua chỉ vì nghĩ đến tương lai lâu dài của cậu, của tiểu đoàn. Cực chẳng đã mới phải tung át chủ bài ra lúc này.

Không biết Thủ có bắt tay Thông không, giọng anh mai mỉa:

- Tôi đã nói với thủ trưởng, tôi không thích đi tàu bay giấy.

Bốn giờ sáng, đồn Bình Long mới trở lại trạng thái ban đầu. Bọn địch chắc đinh ninh số bộ đội ta vấp mìn chỉ là số đi chuẩn bị nên thôi không bắn nữa. Tiếng hò la bên trong cũng lặng dần. Chỉ có bầu trời Bình Long vẫn thỉnh thoảng rực lên trong ánh đèn pháo sáng. Mai lệnh cho các mũi các hướng vào cắt rào. Từ khi cắt rào đến khi đánh chiếm đầu cầu, thọc sâu và trung tâm không có gì trắc trở. Khi B40, B41 nổ, thủ pháo nổ, từ các chỗ nấp ở bờ sông chúng tôi túa ra, tìm chỗ cao nhìn vào đồng. Mai cùng số dự bị tiểu đoàn chạy hết vào điểm. Không hiểu sao lúc đó tôi cũng hăng thế, khỏe thế. Tôi nhảy vào chỗ cửa mở cõng một thương binh và cũng khoác một khẩu AR15 chạy ra. Tôi cố ý tìm Thủ nhưng không thấy. Bọn địch phản pháo rất nhanh. Trận đánh vừa dứt điểm, pháo Hòn Bằng đã giội vào Bình Long tới tấp. Mai trực tiếp chỉ huy bộ đội giải quyết nhanh gọn chiến trường và rút ra. Bộ đội bị thương vì đạn pháo khá nhiều. Nhiều cán bộ chiến sỹ hỏi tôi có gặp Thông ở đâu không? Trong niềm vui, niềm hào hứng của trận đánh, quả thật tôi đã không còn chú ý đến Thông. Quanh anh là những chiến sỹ trẻ. Mặt họ hào hển, say mê. Họ đang kể về những tình huống xảy ra ở các mũi các hướng của họ. Tôi đến bên Thông hỏi thăm Thủ. Thông khoát tay. Cái khoát tay đó có nghĩa là Thủ không còn nữa. Tôi lặng người bàng hoàng. Chao ôi, vui đó rồi buồn đó, cái trò đánh nhau:

- Trường hợp nào vậy anh? – Một ai đó hỏi thay tôi.

- Chắc vấp mìn. Cậu này vốn tính ẩu, nóng nảy. Anh em chỉ gặp Thủ ở cửa mở, lúc tiến công không thấy nữa.

- Không! Không phải thế đâu. Chắc là thế nào đó thôi. Anh đừng võ đoán lung tung.

Tôi quả quyết nói rồi bỏ đi. Rải rác ở phía sau vẫn còn bộ đội, thương binh đi về. Tôi hy vọng và chờ đợi. Tôi không làm sao tin được Thủ đã hy sinh dễ dàng như vậy, mặc dù tôi hiểu rằng: trong chiến tranh không có cái chết dành riêng cho người anh hùng.


(còn tiếp)
Logged
nttran1979
Thành viên
*
Bài viết: 45


« Trả lời #9 vào lúc: 30 Tháng Chín, 2010, 11:26:43 PM »

(Mình quên nói từ đầu đây là các tập truyện ngắn trong quyển Những người mặc áo cỏ của nhiều tác giả, mình sẽ cố gắng đưa lên từ từ, lúc ban đầu quên ko để ý cái tiêu đề, đã tìm cách sửa tiêu đề nhưng ko được, có ai có thể giúp ko, cảm ơn)

Ngày hôm đó tôi tạm biệt đơn vị đặc công 901 về quân khu. Trên đường về tôi còn ghé tỉnh đội nắm tình hình chung của mặt trận. Tôi biết rằng có ở lại nữa cũng chỉ thêm buồn. Vắng Thủ, tôi vắng đi một niềm vui, một niềm hào hứng đã đành, Thủ đối với tôi còn là một kỷ niệm cháy bỏng. Tôi biết trong tiểu đoàn không mấy ai hiểu hết về Thủ. Thông càng không biết. Tôi đã nói thẳng với Thông như vậy lúc chia tay. Thông nói với tôi không muốn tranh luận điều đó làm gì vì Thủ đã hy sinh rồi. May thay kết cục câu chuyện, kết cục chuyến đi của tôi đã không dừng ở đó. Ngay chiều hôm sau tôi được gặp Thủ ở tỉnh đội. Cùng đi với Thủ là cậu liên lạc của đại đội. Cậu liên lạc dong theo một tên tù binh đã bị trói gô cả hai tay. Tôi và Thủ ôm chầm lấy nhau. Thủ thật đây mà tôi vẫn ngỡ như mơ. - Mình cứ tưởng Thủ hy sinh rồi chứ!- Tôi nói, nước mắt chực trào ra. - Chết thế nào được. Suốt thời gian đi chuẩn bị tôi đã hình dung ra trận đánh thế nào rồi. Cái khó nhất là diệt thằng tiểu đoàn trưởng liên đội bảo an này – Thủ chỉ vào mặt tên tù binh – Tôi theo dõi rất kỹ quy luật hoạt động của nó. Đụng việc gì nó chui hầm ngay. Tôi mượn cái đèn pin của anh là vậy. Tôi muốn không nhầm nó với thằng lính nào khác. Trước lúc nổ súng tôi đã nằm ngay gần miệng hầm ngầm. Có lệnh rút rồi tôi vẫn nằm lại. Anh có thấy tình huống pháo bắn rất dữ lúc rút không? Chính hắn gọi các trận địa pháo cứ bắn thẳng vào điểm. Nhưng hắn mới gọi được thằng Hòn Bằng đã phải bỏ máy nhắm tít lại. Nhờ cái đèn pin của anh đây. - Bậy quá, thế mà ông Thông… Tôi chưa nói hết câu Thủ đã cắt ngang: - Tôi biết hết rồi. Ông Thông thì nói làm gì. Tôi đến khốn khổ, khốn nạn với ông ta. Nhưng thôi, anh bỏ qua cho ông ấy. Hơn mười năm đã trôi qua. Chiến tranh, bom đạn, chết chóc… Có nhiều lý do để người ta bỏ qua khuyết điểm của nhau, để thương yêu nhau. Thực lòng tôi sẽ chẳng còn nhớ những chuyện trên nếu không gặp lại Thủ. Bây giờ Thủ là một trung đoàn trưởng trấn giữ một vùng biên giới của Tổ quốc. Thi thoảng tôi có gặp Thông, anh đã mang quân hàm đại tá. Nhưng chúng tôi chẳng bao giờ giáp mặt nhau. Cũng không phải ghét bỏ gì nhau nhưng tôi thấy ngượng. Ngượng cho anh và cả cho chính tôi nữa. Tôi có nên chiều Thủ đến thăm Thông không? Thủ vẫn năn nỉ tôi: - Những lúc này người ta rất cần đến người thân, bạn bè. Anh nên đi với tôi. Tôi có ông anh làm ở Bộ thủy lợi, thuộc loại có chức có quyền. Chưa bao giờ tôi nhờ vả ông ấy. Nhưng lần này sẽ nhờ ông giúp anh Thông làm một việc gì đó ở Bộ Thủy lợi. Anh Thông ra làm bên ngoài có khi hợp. Nếu có anh đi theo dễ thuyết phục anh ấy hơn. - Thú thật mình cũng không bận gì. Nhưng mình không muốn gặp ông ấy – Tôi nói với Thủ. Thủ đi rồi. Tôi đóng cửa, định làm việc. Nhưng lạ thay, công việc cũng không làm tôi hào hứng. Công việc cũng không giúp được tôi khuây khỏa. Tại sao tôi khó trở lại với Thông đến thế? Tôi thành kiến với Thông ư? Vậy ra tôi có gì khác Thông? Tôi bỗng thèm khát sự thanh thản của Thủ, thèm khát tấm lòng độ lượng, rộng mở của Thủ. Tôi quyết định dẹp công việc sang bên, mở cửa đi theo Thủ.

Hà Nội 1-1986

Logged
Trang: 1 2 3 4 5 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM