Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 19 Tháng Bảy, 2019, 03:50:10 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Từ điển nhân vật lịch sử Thanh Hóa  (Đọc 77891 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
copbien51
Thành viên
*
Bài viết: 86


dragon thanh hoa


WWW
« Trả lời #80 vào lúc: 06 Tháng Mười Hai, 2010, 10:11:40 AM »

Trần Công Lại (?-1824)
Là võ tướng từ thời chúa Nguyễn Phúc Ánh (sau này là vua Gia Long). Ông  quê ở ở huyện Thụy Nguyên, Thanh Hóa.

Khoảng cuối đời Hậu Lê, ông đầu quân, nhưng sau bỏ về quê, làm nghề buôn bán hoa quả để kiếm sống.

Không rõ năm nào ông di cư vào ở Vĩnh Bình, trực thuộc dinh Long Hồ (Vĩnh Long). Nhưng theo tài liệu thì nhân có việc bất bình với người anh rể, ông bèn bỏ nhà đi đầu quân chúa Nguyễn Phúc Ánh vào năm Bính Thân (1776).

Nhờ có học, ông được bổ chức cai đội trong quân ngũ của tướng Châu Văn Tiếp, và năm sau (1777) thì ông được giữ đồn Giác Ngư bên bờ sông Sài Gòn.
Ông tham gia nhiều trận đánh nhau với quân Tây Sơn, lập được nhiều công, thăng dần đến chức Đô thống chế, tòng sự dưới quyền của Tả quân Lê Văn Duyệt.

Năm 1801, ông theo Lê Văn Duyệt ra tấn công Thị Nại, lập được công to.

Năm 1802, chúa Nguyễn Phúc Ánh tiêu diệt được nhà Tây Sơn, lên ngôi vua lấy hiệu là Gia Long. Tổ chức việc cai trị, nhà vua cử ông làm trấn thủ Sơn Nam Hạ, rồi đổi vào Nghệ An. Lãnh nhiệm bảo an dân chúng, ông lo việc tảo trừ trộm cướp, trừng trị cường hào ác bá, nên rất được lòng dân.
Năm 1810, Lê Chất làm hiệp tổng trấn Bắc Thành, ông được cử ra phụ việc.

Năm 1913, ông lại trở vào làm trấn thủ Thanh Hóa, vì phạm lỗi buộc phải xin từ chức.

Năm 1822, vua Minh Mạng cứu xét công lao, bổ ông làm Vệ úy trấn Vĩnh Thanh (lúc bấy giờ gồm An Giang và Vĩnh Long). Làm việc siêng năng, tận tụy, lại có công đốc suất việc đào kênh Vĩnh Tế, ông được nhà vua cho phục chức thống chế như cũ.
Năm Giáp Thân (1824), ông mất tại chức, được truy tặng chức Đô thống.

Mộ phần ông hiện vẫn còn trong khuôn viên nhà dòng họ đạo Cái Nhum (ông theo đạo Công giáo, mang tên thánh Nicolas), thuộc xã Long Thới, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.
Logged

Từ điển nhân vật lịch sử Thanh Hoá
copbien51
Thành viên
*
Bài viết: 86


dragon thanh hoa


WWW
« Trả lời #81 vào lúc: 06 Tháng Mười Hai, 2010, 10:17:47 AM »

Hoàng Lê Kha (1917-1960)
Là một nhà hoạt động cách mạng, tỉnh ủy viên Đảng bộ Tây Ninh. Ông là người Việt Nam cuối cùng bị hành quyết bằng máy chém.

Trong một số tài liệu còn ghi tên ông là Hoàng Lệ Kha. Ông tên thật là Hoàng Lê Cần, sinh tháng 2 năm 1917, tại làng Trang Các, nay thuộc xã Hà Phong, huyện Hà Trung.

Thời thanh niên, ông lên Hà Nội vào học trường Trường Bách nghệ Hà Nội và được giới thiệu gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1936. Sau khi tốt nghiệp, ông về làm việc tại Sở Đạc điền Hà Nội và tham gia các phong trào Hướng đạo sinh, truyền bá quốc ngữ và các hoạt động yêu nước trong phong trào Mặt trận Bình dân thời bấy giờ.

Năm 1938, Mặt trận Bình dân đổ. Chính quyền thực dân Pháp thực hiện các biện pháp cứng rắn đối với phogn trào dân chủ ở Đông Dương. Năm 1939, ông cũng như nhiều đảng viên Cộng sản khác ở thời kỳ này phải rút vào hoạt động bí mật. Bí danh Nguyễn Văn Lòng có lẽ ra đời tỏng thời gian này. Tuy nhiên, đến năm 1940, do cơ sở bị lộ, ông phải chuyển vào hoạt động tại Sài Gòn, tiếp tục hoạt động trong phong trào hướng đạo sinh, văn nghệ của học sinh sinh viên yêu nước tại đây, tham gia xây dựng Đoàn Thanh niên Cứu quốc, một tổ chức của Việt Minh.

Năm 1945, ông là một lãnh đạo của Đoàn Thanh niên Cứu quốc tham gia giành chính quyền tại Sài Gòn và trở thành một trong những cán bộ chủ chốt của tỉnh Gia Định, phụ trách báo Thống Nhất của Tỉnh bộ Việt Minh tỉnh Gia Định.

Trong kháng chiến chống Pháp ông từng giữ chức vụ: Tổng thư ký Tỉnh bộ Việt Minh tỉnh Gia Định, Trưởng Ty Thông tin Gia Định, Tỉnh đội trưởng Dân quân Gia Định, Tỉnh ủy viên Gia Định Ninh, phụ trách Bí thư Huyện ủy kiêm Chủ tịch huyện Châu Thành (Tây Ninh), Bí thư huyện Dương Minh Châu, sau đó là Phó Bí thư Tỉnh ủy Tây Ninh phụ trách vùng Tòa Thánh Tây Ninh.

Sau Hiệp định Genève, 1954, ông được chỉ định làm Ủy viên thường vụ Tỉnh ủy Tây Ninh, trực tiếp phụ trách thị xã Tây Ninh và huyện Châu Thành. Ngày 5 tháng 8 năm 1959, ông bị chính quyền Việt Nam Cộng hòa bắt với tội danh chống phá chính quyền theo luật 10/59. Ngày 2 tháng 10 năm 1959, ông bị kết án tử hình tại tòa án quân sự đặc biệt. Nhiều tờ báo Sài Gòn, ngày hôm sau đồng loạt đăng tải tin tức và bài vở về sự kiện này đều chung nhận xét: "Hoàng Lê Kha rất bình tĩnh, trả lời rành mạch, không từ chối việc làm của mình”.

Sáng ngày 12 tháng 3 năm 1960, ông bị hành quyết bằng máy chém tại Tây Ninh. Bị dư luận trong nước cũng như trên thế giới lên án, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã chấm dứt việc sử dụng máy chém làm công cụ hành quyết.

Năm 1962, Tỉnh ủy Tây Ninh đã lấy tên ông đặt cho một ngôi trường và một xưởng in trong vùng Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam kiểm soát. Sau năm 1975, để vinh danh ông, nhà nước Cộng hòa Xã hội Chù nghĩa Việt Nam đã truy tặng cho ông bằng Tổ quốc ghi công, danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Huân chương Độc lập hạng nhất, Huân chương kháng chiến hạng nhất.

Hiện nay, ở Thanh Hóa, quê hương ông, có trường THPT Hoàng Lệ Kha mang tên ông. Trường chuyên của tỉnh Tây Ninh hiện nay cũng mang tên Hoàng Lê Kha.
Logged

Từ điển nhân vật lịch sử Thanh Hoá
menthuong
Thành viên
*
Bài viết: 411


Nhất tướng công thành vạn cốt khô


« Trả lời #82 vào lúc: 13 Tháng Hai, 2011, 09:49:08 PM »

Lương Hữu Khánh (TK XVI)
Ông quê ở làng Hội Triều, nay là xã Hoằng Phong, Hoằng Hoá. Ông đậu cử nhân năm 12 tuổi, đậu thứ 2 thi hội, không thi đình dưới triều Mạc Ðăng Doanh.
Ông có công trong việc khôi phục nhà  Lê, được thăng tới Thượng thư bộ Binh, tước Đạt Quận công. Ông đã để lại các tác phẩm như: Quan sử, Tân quan văn kê phú…

Danh sĩ Lương Hữu Khánh đời Lê Anh Tông (1556-1573), con cụ Bảng nhân Lương Đắc Bằng. Không rõ năm sinh, năm mất, quê làng Hội Trào, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
Ông nổi tiếng thông minh từ thuở bé. Vâng lời cha, ông theo học với Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, nguyên là học trò của cha ông khi trước nên cũng giỏi văn học và lí số.
Năm Mậu Tuất 1538, đời nhà Mạc, ông đỗ thứ hai thi Hội nhưng lại không vào thi Đình, vì được tin nhà Lê đang chấn chỉnh lại ở Thanh Hóa. Ông lẻn vào Thanh, được Trịnh Kiểm tiếp đón ân cần, đưa vào ra mắt vua Lê. Từ ấy ông dốc lòng phò Lê chống Mạc, hiến kế, công lao rất dày, được vua Lê, chúa Trịnh đều trọng đãi. Sau làm đến Thượng thư bộ Binh, tước Đạt Quận Công, nghiễm nhiên là trọng thần trong đời Trung Hưng nhà Lê.
Con ông là Khiêm Hanh về sau cũng là vị Hoàng giáp có danh vọng.

Cuộc đời và công tích cụ thể của Lương Khiêm Hanh?
Logged

menthuong
Thành viên
*
Bài viết: 411


Nhất tướng công thành vạn cốt khô


« Trả lời #83 vào lúc: 19 Tháng Tư, 2011, 06:22:20 PM »

                     
                        LƯƠNG ĐẮC BẰNG (1472 - ?)

          Ông quê ở làng Hội Triều, huyện Hoằng Hoá, đỗ Bảng nhãn khoa Kỷ Mùi (1499) đời Lê Hiến Tông, làm quan đến Tả thị lang bộ Lại dưới triều Lê Tương Dực. Năm 1510, ông dâng ''kế sách trị bình'' 14 điều lên vua yêu cầu sửa sang chính trị. Nhà vua khen ngợi nhưng không thi hành. Sau thăng lên Thượng thư bộ Lại kiêm Đông các đại học sĩ, tước Đôn Trung Bá. Ông xin nghỉ việc lui về ở ẩn. Ông là thân sinh của Lương Hữu Khánh Lương Khiêm Hanh, tất cả đều nổi tiếng thần đồng từ bé.
          Có tài liệu nói Lương Đắc Bằng tinh thông thuật số, truyến lại cho học trò là Nguyễn Bỉnh Khiêm. Nhưng hiện nay, ngoài bản ''kế sách trị bình'', ông không để lại tác phẩm nào khác.

1. Lương Đắc Bằng chỉ sinh 1 Nam là Lương Hữu Khánh còn Lương Khiêm Hanh là cháu nội ông, chứ không phải con!

2, Về tiểu sử Lương Đắc Bằng, theo những gì tôi đọc được thì thấy có sự không nhất quán về năm sinh, năm mất cũng như công trạng của ông. Cụ thể:

- Theo “Giới thiệu sơ lược về họ Lường Phủ làng Hội Triều” thì Lương Đắc Bằng sinh năm 1472, năm 12 tuổi thì cha mất và theo lời cha dặn, ông ra Cao Phương học trạng nguyên Lương Thế Vinh. Năm 24 tuổi đậu giải Nguyên. Năm 28 tuổi đậu Bảng nhãn khoa Kỷ Mùi (1499) đời Lê Cảnh Thống. dịp này vua ban tên mới là Lương Đắc Bằng.
Ông mất ngày 5 tháng 7 năm Bính Tý (1516) tại quê nhà.

- Còn “Họ Lương Hội triều Bổn đường gia phổ” lại chép về lương Đắc Bằng hơi khác: Năm 22 tuổi đậu Giải nguyên, Năm Kỷ Mùi (1499) niên hiệu Cảnh thống vua Lê Hiến Tông, thi Hội đậu Tiến sĩ...., nhưng khi vào chầu tạ ơn vua, theo ý hoàng hậu trì Trạng nguyên phải là người trọng trấn, vì ông mới 22 tuổi nên vua mới khiến hạ bảng cho  đậu Bảng nhãn, lấy ông Đỗ lý Khiêm ở xã Ngoại lãng huyện Thơ trì đậu Trạng nguyên...
Đến năm Bính Tý (1516) Trần Cảo giết Trịnh Duy Sản đem quân hãm kinh thành. Ông thống lãnh các dinh đem quân đánh Trần Cảo thu phục kinh thành, cùng các quần thần lập vua Chiêu tông. Trong những năm Quang Thiện (1516- 1522) Ông khiến các tướng truy bắt đảng giặc, Trần tướng, Hà Phi Cao bắt được Lê Quảng Độ tướng của Trần Cảo, đóng cũi giải về kinh sư. Lúc này ông làm Ngự Dinh Tổng ký lục, nội Tri kinh diên, ngoại tham triều chính, thiên hạ có cơ phục hưng, nhưng ngày 5 tháng 7 ông bị bệnh nặng mất 59 tuổi, thiên hạ đều tiếc.

Theo suy đoán của tôi:

Như ta đã biết danh hiệu Giải nguyên là giành cho người đỗ đầu kỳ thi Hương. Mà kỳ thi sơ khởi này thường tổ chức vào mùa Thu các năm Tý, Mão, Ngọ, Dậu. Ai đỗ thi Hương thì mùa Xuân năm sau  (Sửu, Thìn, Mùi, Tuất) mới được dự thi kỳ thi Hội, giành danh hiệu Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa. Do vậy nếu Lương Đắc Bằng thi Hội khoa Kỷ Mùi 1499 thì ông phải dự kỳ thi Hương năm trước tức năm Mậu Ngọ 1498. Như thế không có chuyện 24 tuổi đỗ Giải nguyên, 28 tuổi đỗ Bảng nhãn hoặc 22 tuổi cùng đỗ cả 2 kỳ được!

Do vậy có thể Lương Đắc Bằng sinh năm 1477, năm 21 tuổi đỗ Giải nguyên, năm 22 tuổi đỗ Bảng nhãn. Ông mất năm Bính Tuất 1526, chứ không phải Bính Tý 1516.
Logged

trungdoan95c
Thành viên
*
Bài viết: 14


« Trả lời #84 vào lúc: 12 Tháng Mười, 2014, 06:24:29 AM »

Ông tổ Bùi Khấc Nhất nhà em cũng là thần hoàng làng.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM