Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 22 Tháng Mười Một, 2019, 11:44:12 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Ký ức một thời hoa lửa  (Đọc 342763 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Hai Ruộng
Thành viên
*
Bài viết: 1275


« Trả lời #40 vào lúc: 07 Tháng Tám, 2010, 10:32:54 PM »

 Anh Lê Xuân Tường ơi ! Đọc bài ký ức của anh về " Người cha già của Trung Đoàn " em thấy hay và cảm động quá . Anh em mình hai thế hệ khác nhau sao mà có nhiều đặc điểm giống nhau quá . Em thấy đặc điểm đó chỉ có trong Quân Đội Nhân Dân của ta mà thôi , những vị chỉ huy xứng đáng là vị cha già của đơn vị , dẫn dắt các con từng bước chân trên chiến trường ác liệt . Đơn vị em cũng vậy " Bố Sườn " cũng là vị Tiểu ĐOàn trưởng mà bọn em rất kính mến . Bọn em cũng là lính sinh viên , lúc đầu khi mới về đơn vị thấy trình độ văn hóa của Bố chỉ có cấp một , anh em mình cũng chưa được nể phục lắm , nhưng sau thời gian chiến đấu , mới thấy hết được tính thông minh , nhanh nhẹn của Bố , mới thấy hết được những kinh nghiệm quí báo mà bố truyền đạt dẫn dắt cho anh em mình . Anh em mình mang cái kiến thức của mình ra mà kết hợp với kinh nghiệm của Bố , đúng thật là tuyệt vời . Với kiến thức của một sinh viên anh em mình chỉ cần đứng nhìn Bố canh địa bàn một lần là hiểu và làm được ngay , chỉ nhìn vài ba lần là tính toán và canh cối chính xác cho anh em bắn luôn . Còn đọc bản đồ và xác định tọa độ thì Bố cũng chịu lắm , nhờ vốn ngoại ngữ tiếng ANH có sẳn nên đọc bản đồ của Mỹ thông thuộc . Vì vậy mà Bố thương tụi mình lắm và anh em mình cũng rất kính nể sự bình tỉnh gan dạ và thông minh của Bố . Em cũng viết bài về Bố của tụi em ở đường link nầy nè http://www.quansuvn.net/index.php/topic,8321.550.html và tiếp theo http://www.quansuvn.net/index.php/topic,8321.560.html . Em cũng rất mừng cho anh vì đơn vị anh cũng có vị " Cha già đáng kính của Trung Đoàn " và anh cũng là lính sinh viên như bọn em .
Logged
TichTuongNhuLe
Thành viên
*
Bài viết: 1310



« Trả lời #41 vào lúc: 07 Tháng Tám, 2010, 11:39:30 PM »

NGƯỜI CHA GIÀ CỦA TRUNG ĐOÀN

Cho tôi được dâng lên Ông bài viết nhỏ này như một nén nhang để tưởng nhớ tới một người lính già, một người chỉ huy quả cảm, một người cha già nhân hậu của trung đoàn. Ông là Đại tá Bùi Đức Ngoan, nguyên trung đoàn trưởng trung đoàn 101, sư đoàn 325 trong những năm 1972-1973 tại mặt trận cánh Đông Quảng Trị.
                                            

       Bố Bùi Đức Ngoan trước chúng tôi một thế hệ. Ông tham gia quân đội từ kháng chiến chống Pháp. Một con người dũng cảm, thông minh, đậm chất lính.

       Năm 1973 ông từ trung đoàn 101 lên làm tham mưu phó sư đoàn 325. Sau đó là tham mưu trưởng sư đoàn.

       Một lần tôi vừa luồn sâu ở Hương Trà (Bắc Huế) về đến cứ ở sông Bồ thì nhìn thấy bố đang đợi chúng tôi để đón chúng tôi chuyển sang trinh sát ở Phú lộc (Nam Huế). Thấy chúng tôi về bố quát liền:

       Trinh sát chúng mày như cứt, không bắn được một phát nào. Súng của chúng mày không khác gì que củi . . .

       Lần trinh sát đó chúng tôi bị thám báo phục kích và mất 2 ae.

       Câu mắng của ông làm tôi cảm thấy ông gần gũi với chúng tôi biết bao nhiêu !
Logged

lexuantuong1972
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1885


TÂT CẢ VÌ ĐỒNG ĐỘI


« Trả lời #42 vào lúc: 09 Tháng Tám, 2010, 11:09:52 AM »

  Em cũng rất mừng cho anh vì đơn vị anh cũng có vị " Cha già đáng kính của Trung Đoàn " và anh cũng là lính sinh viên như bọn em .
Bạn Hai Ruộng thân mến! Cha ông ta đã trải qua bao lần chống chọi lại với những kẻ thù của dân tộc và đã đúc kết thành chân lý:"Tướng sĩ một lòng phụ tử/ Hòa nước sông chén rượu ngọt ngào". Với những vị chỉ huy như thế dẫu có phải thua trận nhưng những người lính chúng ta sẽ biết phải làm gì trong những lúc cam go nhất, có phải thế không bạn.
Logged

Ký ức một thời hoa lửa: (P1)(P2)(P3)(P4)
lexuantuong1972
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1885


TÂT CẢ VÌ ĐỒNG ĐỘI


« Trả lời #43 vào lúc: 09 Tháng Tám, 2010, 11:14:41 AM »

NGƯỢC DÒNG KÝ ỨC
(tiếp theo)

Ngày đó đã đến, khoảng 2 giờ chiều đơn vị báo động di chuyển. Cả đại đội tập trung trước sân để phổ biến lệnh hành quân. Phía ngoài hàng rào, lố nhố những gia đình bộ đội với xe cộ lỉnh kỉnh thấp thỏm chờ đợi. Đại đội trưởng yêu cầu một số anh em có tên trong danh sách đứng ra khỏi hàng. Về sau mới biết trong số này có những người được giữ lại làm khung cho đơn vị mới, một số làm công tác khác. Trước đó gần một tháng đã có một số anh em được gọi sang Bộ tư lệnh thông tin và Bộ tư lệnh hải quân - tiểu đội tôi có anh Tuệ ở K12 Xây dựng và anh Châu ở K12 Cảng. Dưới cái nắng tháng 7 gay gắt, cả đại đội lên đường theo hàng một, không ai nói một lời, tất cả hình như chung một tâm trạng của người ra đi không biết bao giờ trở lại. Những anh em có gia đình đi theo được đi phía ngoài hàng cùng người nhà. Những chiếc xe đạp đã trở thành xe chở ba-lô cho những anh em đuối sức.

Khu vực tập kết của sư đoàn tại xã Quyết Tiến (?), những căn lều dã chiến được dựng dưới tán rừng thông và bạch đàn. Đây là nơi phát quân trang đi B. Ngoài những thứ như ba-lô, mũ cối, màn đã có khi nhập ngũ, ở đây chúng tôi được cấp phát: 2 bộ Tô Châu mới, 2 quần lót, 2 áo cộc tay, 1 áo ấm đông xuân cộc tay, 2 khăn mặt, 2 mảnh gỗ nhỏ có tráng lân tinh để đi đêm, 1 bình tông, 1 xanh-tuya-rông, 2 bao tượng đựng gạo (mỗi bao đựng được 8 kg), 1 đôi giầy thấp cổ của Trung Quốc, 2 cuộn quai dép cao-su, 2 bánh lương khô Việt Nam, 2 lạng mì chính Trung Quốc, 1 hộp sữa bột nửa cân, 1 gói ruốc bông, 1 cân đường, 1 mảnh vải mưa to để đi mưa và khi cần có thể bọc ba-lô làm phao để vượt sông, 1 túi đựng lựu đạn kèm theo 1 quả lựu đạn bi mỏ vịt của Liên-Xô, cứ mỗi tổ 3 người có 1 dao găm và 1 bật lửa, mỗi tiểu đội 1 khẩu AK với 1 cơ số 90 viên đạn mang theo từ đơn vị. Mỗi tiểu đội được trang bị 1 bộ nồi quân dụng gồm 1 nồi cơm mà chúng tôi gọi là nồi B12 và 2 nồi nhỏ có nắp được tạo thành những ngăn đựng thức ăn - cái nồi B12 này tôi được phân công mang nó chung thân cho tới khi về tới trung đoàn, kèm theo 2 cái muôi. Những thứ còn lại sẽ được cấp phát ở những trạm tiếp theo. Bữa cơm hôm đó ở trạm cấp phát của sư đoàn được nấu tập trung, tiểu đội chỉ việc đi lấy về ăn. Tụi tôi đồng loạt tung hê hết các bát ăn cơm bằng sắt tráng men (lính gọi là bát B52) được trang bị khi nhập ngũ thay bằng những cái ca lắp ở đáy bình tông. Những cái ca này thật tiện lợi vì ăn xong là lắp vào đáy bình tông cho vào bao đeo ở xanh-tuya-rông. Chỉ bất tiện ở chỗ ăn bằng ca phải dùng cả đũa lẫn thìa. Sau này vào trận mỗi thằng chúng tôi tự trang bị 1 cái thìa và 1 cái dĩa bằng i-nox của Mỹ. Cho đến hôm nay hình ảnh dùng dĩa để xúc cơm, xiên thức ăn và nhất là dùng để đánh chặn trong nồi canh lõng bõng của lính vẫn đọng mãi trong tôi.      

Trong bộ Tô Châu mới thay cho những bộ quân phục bằng vải Hung nặng chịch mầu vàng đất, anh em chúng tôi trông khỏe khoắn, đẹp đẽ và rắn rỏi hơn. Tôi được cấp bổ sung 1 mũ cối mới vì trước đó mũ của tôi bị mất, nghi cho đám mấy thằng ở trường máy kéo. Khi bị thương ở Quảng Trị chính cái mũ này đã đỡ cho tôi khi bị dính cối cá nhân M79. 3 mảnh nhỏ xuyên qua nóc mũ găm vào da đầu, còn mảnh lớn hơn xé thủng vành mũ ghăm vào xương bả vai. Khi tôi ra Bắc điều trị đã gửi mũ về nhà để cho mẹ tôi cất giữ làm kỷ niệm. Chiếc mũ này đã bay xuống sông Hồng khi tôi đi vác nứa kiếm tiền hè năm 1976.      

Chúng tôi lên tầu ở ga Phổ Yên, nhưng đến chiều tầu mới chạy. Tầu chạy như rùa bò, thời gian dừng còn nhiều hơn chạy. Mãi đến tối khuya mới tới  gần Yên Viên và phải xuống đi bộ vì lúc chiều địch đánh vào ga Yên Viên và cầu Đuống vừa bị đánh sập. Thị trấn Yên Viên còn nghi ngút khói bom, nhà cửa, phố xá đổ xập, một vài chỗ những bóng người hối hả đào bới dưới  ánh sáng vàng ệch của đèn bão bên những ngọn khói hương nghi ngút. Vượt qua sông Đuống bằng cầu treo, cầu đung đưa một cách khủng khiếp, những tấm gỗ lát cầu khấp khểnh chỗ có chỗ không, sơ ý là rơi tòm xuống sông. Bên trái phía hạ lưu, cái bóng cầu Đuống đen thẫm bắc qua sông bị trống một khoảng dưới ánh trăng mờ. Qua khỏi cầu treo, chúng tôi ra đường 1, hình như hơi ấm của Hà Nội phía trước thúc chúng tôi rảo bước thật nhanh băng qua những đoạn đường lổn nhổn vì trận đánh bom ban chiều, đoàn quân như những con lạc đà chở nặng hối hả tiến về phía quầng sáng trước mặt: Hà Nội của chúng tôi vẫn sống, vẫn hắt lên bầu trời ánh sáng của niềm tin và hy vọng. Có không ít người dân đã theo chúng tôi hy vọng sẽ tìm thấy người thân của mình trong hàng quân, và chính họ lại là những người đưa thư tận tình nhất. Từng chồng thư của lính đã được họ chuyển ra bưu điện. Một anh về trong nội thành nhận mang thư đến tận nhà, tôi viết vội mấy chữ vào tờ giấy:“Con đi B, đợi con ở cầu phao Bác Cổ” và ghi địa chỉ ở mặt sau để nhờ anh chuyển đến nhà.

Anh Được bị đuối sức phải ngồi lại nghỉ, khi đoàn quân đi hết tôi và anh Oanh dìu anh Được đi cuối cùng cùng với những người yếu sức khác. Trong lòng nóng như lửa đốt vì không thể bỏ bạn mình để vượt lên trước được. Sao lúc này lại khỏe như vậy, mang thêm ba-lô cùng 1 khẩu AK với đủ cơ số đạn của anh Được tôi cứ lao phăm phăm về phía trước hy vọng sẽ gặp được mẹ và những người thân ở bến phà.
(còn tiếp)
« Sửa lần cuối: 09 Tháng Tám, 2010, 04:44:34 PM gửi bởi lexuantuong1972 » Logged

Ký ức một thời hoa lửa: (P1)(P2)(P3)(P4)
lexuantuong1972
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1885


TÂT CẢ VÌ ĐỒNG ĐỘI


« Trả lời #44 vào lúc: 09 Tháng Tám, 2010, 04:40:56 PM »

NGƯỢC DÒNG KÝ ỨC
(tiếp theo)

Tốp đi cuối cùng chúng tôi đã tới cầu phao, nhưng cầu đã cắt vì nước sông lên to, phương tiện vượt sông lúc này chỉ có phà. Phà tới bờ, tôi lao lên khỏi phà và vượt qua đê. Dưới ánh sáng đỏ quạch của ngọn đèn bên đường Trần Khánh Dư, mấy bóng người dáng vẻ bồn chồn như đang đợi ai, tôi nhận ra trong số đó cái bóng cao cao của bố tôi. Chỉ kịp gọi “Bố" nước mắt tôi đã trào ra nghẹn lại. Vừa lúc đó có tiếng gọi phía sau “Tường con ơi, mẹ đợi con mãi ở bến phà ... ”. Thì ra những gia đình lên thăm con em đã về Hà Nội thông báo cho nhau, người nọ báo cho người kia, mẹ Hòa ở Hai Bà Trưng đã chạy sang báo cho mẹ tôi biết. Đơn vị qua phà và lên xe ở đầu dốc Bác Cổ, không thấy tôi, mẹ tôi hỏi mãi mới gặp được một cậu liên lạc cho biết tôi đi ở tốp sau cùng. Cậu đó là Cao Minh Sơn - K16 Nước - làm liên lạc đại đội. Sơn gặp mẹ tôi đang nhớn nhác tìm con, cậu ấy nói: “Bác giống mẹ cháu quá, mẹ cháu ở tận Hải Phòng lên chắc không kịp”. Sau này, khi vượt  sông Thạch Hãn về đơn vị, tôi về c3, Sơn ở c1 cùng d1, e101, f325 chốt giữ khu vực Triệu Long, Triệu Thành ở phía đông bắc Thị xã - Thành Cổ Quảng Trị. Sơn đã hy sinh trong một đêm đầu tháng 9/1972 khi đưa cơm cho đồng đội ở trong chốt. Đã bao năm trôi qua cho mãi đến bây giờ khi mẹ tôi đã xấp xỉ tuổi 90 bà chỉ nhớ mỗi thằng bé xinh trai người Hải Phòng và anh Được ở ngõ Nam Ngư trong số rất nhiều đồng đội của tôi. Và sau này cứ mỗi lần chào mẹ để đi Quảng Trị, bà vẫn nhắc tôi cố gắng đi tìm 2 người đó về. Sơn nằm ở đâu đó ở khu vực An Tiêm, Chợ Sãi ; còn anh Được hy sinh trong khi tập kích địch ở Tích Tường, Như Lệ đầu năm 1973. Cho tới khi ký hiệp định Paris, 2 bên tiếp xúc nhau, lính địch cho biết trận đó có mấy anh chết trong đó có 1 anh trắng trẻo có răng khểnh ...- đó là anh Được. Đã mấy lần chúng tôi cùng gia đình đi tìm các anh nhưng đều không có kết quả. Một phần khi các anh hy sinh không một ai được biết; mặt khác nơi các anh hy sinh lại là vùng tranh chấp, sau này là vùng địch chiếm. Tháng 7/2003, mấy anh em chúng tôi qua nhà Sơn thắp hương và đặt lên bàn thờ Kỷ niệm chương Quyết chiến bảo vệ Thị xã - Thành Cổ Quảng Trị, hè 1972. Quả thật vóc dáng và tuổi tác của mẹ Sơn rất giống mẹ tôi, ôm lấy bà mà tôi không sao cầm được nước mắt. Đất nước chúng ta mất mát nhiều quá, cả một lứa trai ra đi mà rất ít người trở về, cái giá của ngày hôm nay không thể nào đong đếm được.

Xe chở đơn vị đi đã lâu, tốp chúng tôi phải đuổi kịp đơn vị ở Thường Tín. Cả tốp cùng mấy gia đình đi bộ ra bến xe ở công viên Thống nhất để đi Thường Tín. Hà Nội buổi sớm không khí thật trong lành, phố xá còn vắng teo, dân phố đi sơ tán cả. Đi bên cạnh bố mẹ nghĩ rằng sẽ có nhiều chuyện để nói nhưng rồi có nói được đâu...thật là hạnh phúc lúc lên đường lại được gặp những người thân yêu nhất. Giờ này nếu không có chiến tranh, lòng đường nhựa sẽ trở thành những sân bóng của các đội bóng phố tôi rất sôi động. Từ Bác Cổ, ra Trần Hưng Đạo, xuyên qua Lê Văn Hưu, thẳng ra Nguyễn Du, men theo hồ Thuyền Quang rồi Trần Bình Trọng tới bến xe ở cổng  công viên, những con đường quen thuộc với chúng tôi từ thủa thiếu thời sao hôm nay đẹp đến thế...Chúng tôi đi đây, hẹn ngày trở lại.
(còn tiếp)
Logged

Ký ức một thời hoa lửa: (P1)(P2)(P3)(P4)
TichTuongNhuLe
Thành viên
*
Bài viết: 1310



« Trả lời #45 vào lúc: 09 Tháng Tám, 2010, 05:06:15 PM »


Có không ít người dân đã theo chúng tôi hy vọng sẽ tìm thấy người thân của mình trong hàng quân, và chính họ lại là những người đưa thư tận tình nhất. Từng chồng thư của lính đã được họ chuyển ra bưu điện. Một anh về trong nội thành nhận mang thư đến tận nhà, tôi viết vội mấy chữ vào tờ giấy:“Con đi B, đợi con ở cầu phao Bác Cổ” và ghi địa chỉ ở mặt sau để nhờ anh chuyển đến nhà.


       Giáp tết Nhâm Tý (năm 1971 sang 1972), sư đoàn 325 hành quân đi B bằng xe lửa từ Bắc Giang. Khi đi qua Hà nội vào lúc tối, lính tráng chen lấn nhau ở cửa sổ các toa  để nhìn thành phố. Qua barie đầu tiên là phố Trần Phú, nhiều cánh tay đằng sau barie vẫy chúng tôi trên tàu tiễn biệt những người lính Nam tiến. Thư của lính ào ào phóng từ cửa sổ các toa xuống đường, đúng là như bươm bướm. Các lá thư lính không tem viết vội trước lúc đi B. "Nhờ các bác, các anh chị em chuyển dùm đến tận tay nhớ ! . . .". Ai chưa ném kịp thì chờ sang barie phố Cột Cờ (bây giờ là Điện Biên Phủ), rồi barie phố Nguyến Thái Học, barie phố Sinh Từ (Nguyễn Khuyến), phố Khâm Thiên, . . .

       Thế mà sau này các lá thư vẫn đến tận gia đình lính đi B.
« Sửa lần cuối: 09 Tháng Tám, 2010, 06:10:40 PM gửi bởi TichTuongNhuLe » Logged

linh thong tin
Thành viên
*
Bài viết: 746



« Trả lời #46 vào lúc: 09 Tháng Tám, 2010, 05:31:36 PM »

Cái giai đoạn 1971 - 1974, chúng tôi ở Lào gửi thư về nhà toàn viết vào góc phong bì "chiến trường không tem". Thế mà thư vẫn đến tay người nhận. Cô em gửi thư sang gửi thêm cả 10 cái tem. Tôi viết thư về mắng em lãng phí quá. Dù sao BĐ vẫn ưu tiên chiến trường. Tôi không còn nhớ số hòm thư của đơn vị tôi hồi ở bên Lào, chỉ còn nhớ cái đuôi là JB05. Lính ta tếu chữa thành đi B không năm. Ở Sơn Tây là JE42, nhưng tổ dây của bọn tôi ở nông trường 27-7, mỗi lần lấy thư báo lại phải về Sơn Tây, chỗ trạm A 42. Thấy bất tiện, chúng tôi liên hệ với chị đưa thư báo của nông trường lấy địa chỉ là "bộ đội dưới suối". Chả là tổ dây của bọn tôi ở ngay cạnh dòng suối dưới chân đồi
Logged
Hai Ruộng
Thành viên
*
Bài viết: 1275


« Trả lời #47 vào lúc: 09 Tháng Tám, 2010, 08:26:30 PM »

 Tiếp tục anh Tưởng ơi ! Bọn em đang chăm chú theo từng bước chân anh  .
Logged
lexuantuong1972
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1885


TÂT CẢ VÌ ĐỒNG ĐỘI


« Trả lời #48 vào lúc: 10 Tháng Tám, 2010, 08:17:44 AM »

NGƯỢC DÒNG KÝ ỨC
(tiếp theo)

Chúng tôi lên xe khách, mẹ tôi ngẹn ngào nắm lấy tay tôi dường như muốn níu kéo tôi lại. Bố mẹ ơi hãy về đi, bịn rịn qúa con làm sao mà đi được...! Xe chuyển bánh theo đường 1. Giáp Bát, Văn Điển giờ chỉ còn đống gạch vụn. Tới Thường Tín đã thấy những bóng lính trong sắc phục Tô Châu mới toanh đang nhớn nhác bắt xe để về Hà Nội. Thường Tín là trạm giao liên đầu tiên trong hệ thống đường dây chuyển quân vào Nam, từ đây bộ đội sẽ lên tầu hay ô-tô để đi vào. Chúng tôi đóng quân trong nhà dân ở xã Liên Phương. Ngôi nhà mà chúng tôi đóng quân là một ngôi nhà cổ khá bề thế, ba-lô ngổn ngang khắp nhà, anh em đang tranh thủ ngủ để lấy lại sức sau một đêm hành quân, hầu hết tụi Hà Nội tranh thủ về nhà, tôi ở lại vì đã gặp được bố mẹ, phần nữa anh Được vẫn còn mệt chưa lại sức. Chính ngôi nhà này khi anh Minh đi B đã ở đây và sau khi tôi ra viện và từ Đoàn 869 nhập trạm trở về đơn vị cũng ở tại ngôi nhà này.

5 giờ chiều cả đơn vị lên xe, rất đông gia đình bộ đội đi tiễn, tôi biết bố mẹ tôi không thể đến đây được, dù sao cũng còn hơn những anh em ở tỉnh khác. Còi xuất phát đã nổi lên, chợt bóng dáng thân quen của mẹ tôi đang te tái chạy tới, cả chị Châu và anh Văn nữa. Khi biết tôi tập kết đi B ở Thường Tín, anh Văn lấy xe cơ quan chở mẹ tôi và chị Châu vào hy vọng sẽ gặp được anh Thắng. 2 anh em nhập ngũ cùng một đợt, Thắng ở d69 cùng f304B, không biết có đi B đợt này không ? Xe chuyển bánh, nhiều bà mẹ lăn theo xe gọi tên con, nhưng mẹ và chị tôi chỉ đứng đó nhìn theo xe, một tay gạt nước mắt, tay kia vẫy vẫy theo...

Xe tăng tốc trên QL1, trời sáng trăng, cả xe im lặng, mỗi người theo đuổi một ý nghĩ. Ý nghĩ của tôi vẫn còn vương vấn ở phía sau nơi những người thân yêu của tôi ở đó. Trước khi ra đi gặp được những người thân yêu nhất quả là một may mắn vô cùng. Tại sao khi bố mẹ đưa mình ra bến xe ở công viên Thống nhất mà mình không tranh thủ lấy xe đạp phóng về nhìn lại ngõ Tức Mạc thân yêu của mình - nơi đầy ắp những ký ức của tuổi thơ. Ôi cái ngõ nhỏ rợp bóng hoàng lan cổ thụ, với tán lá bàng, lá sấu mướt mát những trưa hè oi ả, và đỏ rực hoa gạo mỗi khi tháng 3 về... bên tai tôi dường như văng vẳng tiếng còi tầu hỏa vọng về từ ga Hàng cỏ xen lẫn tiếng leng keng của tầu điện mỗi sớm mai về...Vĩnh biệt ư ? Không ! Chỉ tạm biệt thôi. Hãy nghĩ tới ngày trở lại và nếu như điều xấu nhất xảy ra thì ta cũng sẽ trở về trong niềm nhớ thương của những người thân yêu nhất...

Chợt có tiếng hát từ xe trước vọng lại, trong xe có vài người hát theo rồi cả xe đều hát “... Mẹ Việt Nam có hay chăng giờ này đàn con đã lên đường...”  Hết bài này đến bài khác cho đến gần Phủ Lý, tiểu đoàn trưởng Trần Ba lầm bầm : “Đ...má ! Không hát nữa để nghe máy bay...”. Phủ Lý chỉ còn một đống gạch vụn dưới ánh trăng mờ mờ. Anh Oanh chỉ về phía phải: “Từ đây về làng anh chỉ non 1 cây số...”. Anh Oanh có người yêu cùng làng tên là Tuyến đang học trung cấp bưu điện truyền thanh. Nếu không đi bộ đội, sang năm 2 người cùng ra trường và sẽ tổ chức cưới.

Tới một xóm nhỏ thuộc huyện Gia Viễn, Ninh Bình chúng tôi xuống xe vào nghỉ tại nhà dân. Ở trạm này chúng tôi được cấp phát tăng võng. Võng là võng đôi bằng vải ga-bac-đin dầy, một nửa để nằm, nửa còn lại để đắp ; tăng bằng vải nhựa dầy. Ông Viên - C phó - hướng dẫn cách mắc võng, mắc tăng kể cả cách có cọc phụ để phòng khi mưa...Nhiều thằng xé ngay 1 nửa cho nhẹ, nửa kia mang ra quán đổi thuốc lá.

Chiều tối ra xe để đi tiếp, lúc ấy có mấy thằng tranh thủ về nhà khi còn ở trạm Thường Tín cũng vừa đến kịp, thế là đủ hết, không một ai bị bỏ lại. Quân tư trang lại nặng thêm vì có tăng, võng và mỗi thằng phải đóng đủ 2 bao tượng gạo. Xe đi đường nào chắc không phải đường 1, đường khá tồi, ngồi trong xe chao đảo, đầu tiên xe chật cứng, thằng nào ngồi trên ba-lô thằng ấy chân không cựa được, đi được một lúc thì những thằng ngồi sau cùng duỗi được cả chân. Lấy cớ là phải đeo cái nồi to nên tôi chọn phía sau cùng, mặc dù vị trí này xóc nhất ít thằng muốn ngồi nhưng được cái chân cẳng thoải mái và nhất là có sự cố gì thì phi ngay xuống được. Không rõ trạm sau là đâu ? Chắc chỉ đến Thanh Hóa là cùng !  

Từ Gia Viễn chúng tôi tới trạm nghỉ tại Hoằng Trinh, Hoằng Hóa, Thanh Hóa. Từ đây xe chở chúng tôi đi tiếp và xuống sà-lan để vượt sông Mã ở phía thượng lưu Hàm Rồng, khi sà-lan ra đến giữa sông thì bị chết máy, nước sông chảy mạnh đẩy sà-lan về xuôi chỉ còn cách cầu vài cây số. Phía hạ lưu sáng rực những quầng sáng của pháo sáng, của chớp bom và những vạch lửa của pháo cao xạ. Cả đoàn nín thở lo lắng khi khoảng cách với quầng lửa ấy mỗi lúc một thu hẹp...Rồi tất cả thở phào nhẹ nhõm khi một chiếc ca-nô được tăng cường đuổi theo và dìu chúng tôi sang bờ bên kia. Chúng tôi lại tiếp tục lên đường đuổi theo đoàn quân, vòng qua thị xã Thanh Hóa qua Triệu Sơn, Nông Cống, lên đường 15 ở Như Xuân, vượt dốc Bò lăn để vào đất Nghĩa Đàn, Nghệ An.

Đường qua dốc Bò lăn xấu khủng khiếp, trời mưa sập sùi, có lẽ đây là đoạn đường xấu nên phải dùng xe 3 cầu. Nhiều chỗ xe nghiêng ngả tưởng chừng như muốn lật tới nơi, xe không có mui bạt nên cây rừng, lau lách, tre nứa ở hai bên đường thi nhau đập vào thành xe và đập vào mũ cối kêu côm cốp. Vuốt vội những giọt nước mưa theo cây rừng táp vào mặt, không một ai nói lời nào, đây mới chỉ chặng gian nan đầu tiên, tất cả còn ở phía trước...
(còn tiếp)
« Sửa lần cuối: 10 Tháng Tám, 2010, 02:45:26 PM gửi bởi lexuantuong1972 » Logged

Ký ức một thời hoa lửa: (P1)(P2)(P3)(P4)
tau khong so
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 146



« Trả lời #49 vào lúc: 10 Tháng Tám, 2010, 10:30:02 AM »

[       Giáp tết Nhâm Tý (năm 1971 sang 1972), sư đoàn 325 hành quân đi B bằng xe lửa từ Bắc Giang. Khi đi qua Hà nội vào lúc tối, lính tráng chen lấn nhau ở cửa sổ các toa  để nhìn thành phố. Qua barie đầu tiên là phố Trần Phú, nhiều cánh tay đằng sau barie vẫy chúng tôi trên tàu tiễn biệt những người lính Nam tiến. Thư của lính ào ào phóng từ cửa sổ các toa xuống đường, đúng là như bươm bướm. Các lá thư lính không tem viết vội trước lúc đi B. "Nhờ các bác, các anh chị em chuyển dùm đến tận tay nhớ ! . . .". Ai chưa ném kịp thì chờ sang barie phố Cột Cờ (bây giờ là Điện Biên Phủ), rồi barie phố Nguyến Thái Học, barie phố Sinh Từ (Nguyễn Khuyến), phố Khâm Thiên, . . .

       Thế mà sau này các lá thư vẫn đến tận gia đình lính đi B.
[/quote]
Chào anh Tường! Đọc đoạn hồi ký của anh tôi lại nao lòng nhớ lại ngày lên tàu đi B mà tôi đa viết ở đầu Topic " Xếp bút nghiên ... " thật là giống nhau quá - các anh đi trước nên đường, cầu ở Ninh Bình chưa bị đánh phá còn được đi xe ô tô. Chúng tôi đi sau : tháng 5/1972 cầu đường sắt Cát đằng Ninh Bình bị bom bẻ cong, chỉ còn 2 thanh ray gắn vài thanh tà vẹt. Chúng tôi xuống tàu bò qua cầu Cát Đằng, cầu run bần bật vì yếu còn chúng tôi run bần bật vì sợ. Tôi xin trích lại ký ức ngày lên đường đi B để anh em xem :
Gần bốn thập kỷ trước, những sinh viên của các trường đại học đã xếp bút nghiên lên đường chiến đấu theo tiếng gọi của tổ quốc. Là một trong số đó, tôi rời trường Đại học kinh tế kế hoạch lên con tàu đầy ắp lính trẻ tại ga Hàng cỏ Hà Nội. Tàu rú còi cong mình qua ba ri e Khâm Thiên trong ánh đèn phòng không vàng vọt đưa hàng ngàn sinh viên - lính trẻ ra trận. Những lá thư thả trắng đường từ ngã tư Khâm Thiên đến tận Thường Tín. Trên bì thư ghi vội dòng chữ " Nhờ ai nhặt được thư này hãy cho xin một con tem và bỏ vào thùng thư giúp, tôi xin cảm ơn hoặc trên phong thư ghi vội dòng chữ to đậm : Đi B ngày 29 tháng 5 năm 1972 - Vĩnh biệt quê hương, Vĩnh biệt em yêu ...  " Những mái đầu xanh chen nhau bên cửa sổ tàu hét lên " tạm biệt Hà Nội. Vĩnh biệt, vĩnh biệt ...
« Sửa lần cuối: 10 Tháng Tám, 2010, 10:46:27 AM gửi bởi tau khong so » Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM