Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 25 Tháng Chín, 2022, 03:41:32 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Rừng xà nu  (Đọc 67258 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4816



« vào lúc: 23 Tháng Sáu, 2010, 04:50:53 pm »

RỪNG XÀ NU

Tác giả: Nguyễn Trung Thành (Nguyên Ngọc)
Nguồn: thuvienonline







NHÀ VĂN  NGUYÊN NGỌC

Tiểu sử:
Tên thật: Nguyễn Văn Báu.
Sinh năm: 1932
Nơi sinh: Thăng Bình - Quảng Nam.
Bút danh: Nguyên Ngọc, Nguyễn Trung Thành, Nguyễn Kim.
Thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, ký.

Các tác phẩm:
· Đất nước đứng lên (1956)
· Mạch nước ngầm (1960)
· Rẻo cao (1961)
· Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc (1969)
· Đất Quảng (1971 - 1974)

Giải thưởng văn chương:
· Giải nhất về tiểu thuyết trong Giải thưởng văn học 1954-55 của Hội Văn nghệ Việt Nam cho tiểu thuyết “Đất nước đứng lên”.
· Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2001.
« Sửa lần cuối: 14 Tháng Ba, 2021, 12:57:27 pm gửi bởi ptlinh » Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4816



« Trả lời #1 vào lúc: 23 Tháng Sáu, 2010, 04:55:14 pm »

   Làng ở trong tầm đại bác của đồn giặc. Chúng nó bắn, đã thành lệ, mỗi  ngày hai lần, hoặc buổi sáng sớm và xế chiều, hoặc đứng bóng và sẩm tối, hoặc  nửa đêm và trở gà gáy. Hầu hết đạn đại bác đều rơi vào ngọn đồi xà nu1 cạnh  con nước lớn. Cả rừng xà nu hàng vạn cây không cây nào không bị thương. Có  những cây bị chặt đứt ngang nửa thân mình, đổ ào ào như một trận bão. Ở chỗ  vết thương, nhựa ứa ra, tràn trề, thơm ngào ngạt, long lanh nắng hè gay gắt, rồi  dần dần bầm lại, đen và đặc quện vào thành từng cục máu lớn.

   Trong rừng ít có loại cây sinh sôi nảy nở khỏe như vậy. Cạnh một cây xà  nu mới ngã gục, đã có bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi  tên lao thẳng lên bầu trời. Cũng ít có loại cây ham ánh sáng mặt trời đến thế. Nó  phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh nắng, thứ ánh nắng trong rừng rọi từ trên  cao xuống từng luồng lớn thẳng tắp, lóng lánh vô số hạt bụi vàng từ nhựa cây  bay ra. Có những cây con vừa lớn ngang tầm ngực người lại bị đại bác chặt đứt  làm đôi. ở những cây đó, nhựa còn trong, chất dầu còn loãng, vết thương không  lành được, cứ loét mãi ra, năm mười hôm thì cây chết. Nhưng cũng có những  cây vượt lên được cao hơn đầu người, cành lá sum sê như những con chim đã đủ  lông mao lông vũ. Đạn đại bác không giết nổi chúng, những vết thương của  chúng chóng lành như những vết thương trên một thân thể cường tráng. Chúng  vượt lên rất nhanh, thay thế những cây đã ngã... Cứ thế, hai ba năm nay rừng xà  nu ưỡn tấm ngực lớn của mình ra, che chở cho làng...

   Đứng trên đồi xà nu ấy trông ra xa, đến hút tầm mắt cũng không thấy gì  khác ngoài những đồi xà nu nối tiếp tới chân trời...

*

   Ba năm đi lực lượng, bữa nay Tnú mới có dịp ghé về thăm làng. Thằng bé  Heng gặp ở con nước lớn dẫn anh về. Ngày anh ra đi nó mới đứng đến ngang  bụng anh, chưa biết mang gùi, chỉ mới đeo cái xà lét nhỏ xíu theo người lớn ra  rẫy. Bây giờ nó mang một khẩu súng trường Mát, dẫn anh đi. Vẫn là con đường  cũ, qua cái nà bắp nay đã trồng sắn và cây pom chu2 vắt lên hai cái dốc đứng  sững đã được cắt ra từng bậc, chui qua một rừng lách rậm ngày xưa thì vô số vắt  lá, rồi đến cái làng nhỏ của anh. Nhưng nếu không có người dẫn, chắc chắn Tnú  không dám đi một mình. Đường cũ nay chằng chịt hầm chông, hố chông, cứ  mười phút lại gặp một dàn thò chuẩn bị sẵn, cần thò căng như dây ná, đánh một  phát chắc chắn gãy đôi ống quyển, lưỡi thò từng đôi, từng đôi gác lên dàn, sắc  lạnh. Thằng bé Heng lớn lên cũng ít nói như những người dân làng Xô Man này.  Nó đội một cái mũ sụp xin được của anh Giải phóng quân nào đó, mặc một  chiếc áo bà ba dài phết đít, vẫn đóng khố, súng đeo chéo ngang lưng ra vẻ một  người lính thực sự. Thỉnh thoảng, tới chỗ ác chiến điểm, nó quay lại nhìn Tnú,  cười một cái rất liếng như bảo:

   - Coi được chứ, anh Tnú?

   Mắt nó lóe lên một tia sáng nhỏ, lộ ý khoe khoang rõ rệt. Tnú cũng cười,  gật đầu. Hiểu ý nhau, hai người lại cặm cụi đi. 

   Tới con suối nhỏ có một khúc nứa dẫn nước từ trong lòng đá ra, thằng  Heng dừng lại, bảo:

   - Rửa chân đi. Nhưng đừng uống nước lạnh, về chị Dít phê bình đó.

   Tnú cười:

   - Chị Dít là vệ sinh viên à?

   Heng cãi lại:

   - Không, chị Dít là bí thư chi bộ chớ. Một người làm hai việc, làm luôn cả  chính trị viên xã đội nữa.

   À ra vậy. Tnú không uống nước, anh bỏ mũ, cởi mấy khuy áo trên ngực,  rồi khom lưng xuống, ngửa hai bàn tay vả nước lên mặt, lên đầu. Nước mát lạnh  đến tê người. Máu trong đầu anh phản ứng, giật giật ở hai má. Tnú vẫn nghĩ: “À  ra vậy! Dít đã thành bí thư chi bộ xã”. Thực tình, anh không hình dung được Dít  bây giờ ra thế nào. Dít là em gái Mai. Ngày Mai mất và Tnú ra đi, nó còn là một  đứa bé không có áo mặc, đêm lạnh nó không ngủ, đốt lửa ngồi tới gà gáy rồi đi  giã gạo thay chị. Nó gằn đủ ba mươi lon gạo trắng, đổ ruột nghé cho Tnú mang  đi. Nó lầm lì, không nói gì cả, mắt ráo hoảnh, trong khi mọi người, cả cụ già  Mết, đều khóc vì cái chết của Mai...

   Heng giục:

   - Tắm nước lâu lạnh, cảm sốt đó. Đi chớ, sắp tới rồi!

   Tnú không lau khô đầu tóc. Anh cầm mũ đi theo Heng.

   Đến chỗ sắp bước vào rừng lách, có một cây lớn ngã ngang đường phải leo  qua. Cạnh đó du kích đã đào một cái công sự dài. Hồi Tnú ra đi cây này chưa  ngã. Tnú dừng lại. Chính ở đây anh đã gặp Mai lần đầu. Tất nhiên không phải là  lần đầu hẳn, cả hai đều là người làng, họ biết nhau từ ngày mẹ còn địu trên  lưng. Nhưng chính ở đây lần đầu tiên sau khi ở tù về Tnú gặp lại Mai, thấy Mai  đã lớn anh không ngờ, và Mai thì cầm hai bàn tay anh lúc ấy còn lành lặn, ứa  nước mắt khóc, không phải như một đứa trẻ nữa mà như một người con gái đã  lớn, vừa xấu hổ vừa thương yêu. Kỷ niệm đó cắt vào lòng anh một nhát dao nứa.  Anh trợn mắt lên, như những lúc bị tra tấn đau quá trước đây. Thằng bé Heng  không biết câu chuyện đó. Leo lên thân cây rồi nó quay lại nhìn Tnú, hất hàm ra  hiệu:

   - Đi chớ, anh Tnú! Lâu ngày về, chân không leo nổi cái dốc nữa à?

   Tnú trèo qua thân cây. Con đường đổ xuống dốc lỗ chỗ hố chông. Mặt Tnú  đanh lại. Anh lẳng lặng đi cho đến khi anh nhận ra tiếng chày dồn dập của làng  anh. Bây giờ anh mới chợt hiểu ra rằng hình như cái mà anh nhớ nhất ở làng,  nỗi nhớ day dứt lòng anh suốt ba năm nay chính là tiếng chày đó, tiếng chày  chuyên cần, rộn rã của những người đàn bà và những cô gái Strá, của mẹ anh  ngày xưa, của Mai, của Dít, từ ngày lọt lòng anh đã nghe thấy tiếng chày ấy rồi.  Tnú cố giữ bình tĩnh nhưng ngực anh vẫn đập liên hồi, chân cứ vấp mãi mấy cái  rễ cây vả chỗ quẹo vào làng. Anh vượt đi lên trước Heng. Heng chạy theo anh,  vừa gọi:

   - Chông đấy, có chông đấy, không phải như trước đâu, đi theo tui chớ!...

   Đến làng, mặt trời chưa tắt. Thằng bé Heng tháo cây súng chống xuống  đất, gọi to:

   - Người già ơi, có khách đấy!

   Ở mỗi cửa nhà ló ra bốn, năm cái đầu ngơ ngác. Những cặp mắt tròn xoe,  rồi những tiếng ré lên và những tiếng reo:

   - Giàng ơi! ... Tnú!... Anh Tnú, thằng Tnú! Nó về rồi,... mày về rồi thật  đó, hả Tnú!

   Có những người không kịp bước xuống thang, nhảy phốc một cái từ trên  sàn nhà xuống đất. Những bà già - trời ơi bà cụ Leng vẫn còn sống kia à! - vừa  lụm cụm bò xuống thang, từng bậc, từng bậc, vừa chửi:

   - Con cháu! Ma bắt mày, thằng quỷ!... Mày không chờ tau chết rồi hãy về  một thể có được không! 

   Ở các nhà vẫn còn những cái đầu lấp ló: các cô gái không ra, chỉ ngồi bên  trong cười rúc rích. Cả làng đã vây quanh Tnú. Anh nhận ra tất cả. Ông già  Tâng này, vẫn chòm râu quai nón đó, chỉ thêm cái ống điếu dài gò bằng sắt máy  bay trực thăng, anh Pre này, trông già hẳn đi, chị Blom này, tóc đã lốm đốm  bạc, bà già Prôi này, đã rụng hết cả hai hàm răng rồi... Một lũ trẻ lau nhau, đứa  nào đứa nấy mặt mày lem luốc khói xà nu. Còn ông già Mết đâu rồi! Tnú định  hỏi:

   - Cụ Mết đâu?

   Một bàn tay nặng trịch nắm chặt lấy vai anh như một cái kìm sắt. Anh  quay lại: cụ Mết! Ông cụ vẫn quắc thước như xưa, râu bây giờ đã dài tới ngực và  vẫn đen bóng, mắt vẫn sáng và xếch ngược, vết sẹo ở má bên phải vẫn láng  bóng. Ông ở trần, ngực căng như một cây xà nu lớn. Ông cụ đẩy Tnú ra một  bước, nhìn anh từ đầu đến chân, rồi phá lên cười:

   - Hà hà!... Đeo cả tôm-xông về à!... Anh lực lượng!... Được!

   Tnú hiểu ý ông cụ. Ông không bao giờ khen “Tốt! Giỏi!”. Những khi vừa  ý nhất, ông chỉ nói “Được!”.
Lúc ông cụ Mết nói, mọi người đều im bặt. Ông nói như ra lệnh. Sáu mươi  tuổi rồi mà tiếng nói vẫn ồ ồ, dội vang trong lồng ngực.

   - Cấp chỉ huy cho mày về mấy đêm?... Một đêm à, được! Cho một đêm, về  một đêm, cho hai đêm, về hai đêm, phải chấp hành cho đúng. Đêm nay mày ở  nhà tau.

   Không ai phản đối. Ông cụ lại nói:

   - Thôi ai về nhà nấy, trời hết sáng rồi, làm lửa nấu cơm được rồi đó. Lũ  con nít đi tắm nước cho sạch, rửa hết khói xà nu đi, đừng có vẽ mặt như văn  công đóng kịch nữa, đứa nào không sạch thì phê bình, nghe chưa?... Thằng Tnú  cũng đi rửa chân đi. Mày có nhớ cái máng nước ở chỗ nào không?... Nhớ à,  được! Tưởng quên rồi thì tau đuổi ra rừng, không cho ở làng nữa đâu!

   Nói vậy nhưng ông cụ vẫn bảo Tnú đưa ba lô và tôm-xông cho ông, rồi  thân hành dẫn anh ra tới máng nước đầu làng. Lũ trẻ con ùa theo rối rít. Có mấy  cô gái Tnú nhớ mặt nhưng không kịp nhớ ra tên, đang lấy nước vào những ống  bương dài, vác ống đứng tránh ra một bên, nhường vòi nước cho anh. Vừa rửa  sạch ở suối nhỏ rồi, nhưng Tnú vẫn rửa lại. Anh cởi áo ra để cho vòi nước lạnh  ngắt của làng mình giội lên đầu, lên lưng, lên ngực như những ngày xưa, cũng  chính ở vòi nước này đây, trên tấm đá bằng đã vẹt hẳn một bên vì ông cụ Mết  vẫn ra mài dao ở đây.

   Ông cụ Mết đứng lặng nhìn tấm lưng rộng của Tnú. Những vết thương xưa  vẫn còn ngang dọc trên tấm lưng ấy, đã thành sẹo tím. Từ đôi mắt ông cụ lăn ra  hai giọt nước mắt lớn, ông lén trở tay chùi một cách vội vã. Tnú không kịp nhìn  thấy. Còn lũ trẻ thì ngơ ngác sửng sốt...

   Từ các nhà đã quyện lên những sợi khói tím thẫm.


---------------------------------------------------------
(1)  Xà nu: một loại cây tương tự như cây thông mọc rất nhiều ở Công Tum, nhựa và gỗ xà nu đều rất quý.
(2)  Pom chu: có nơi gọi là cây chuối nước hay giong riềng, củ có nhiều bột.


Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4816



« Trả lời #2 vào lúc: 23 Tháng Sáu, 2010, 05:00:05 pm »

*

   Bữa cơm tối ở nhà cụ Mết, ngoài món canh tàu môn bạc hà nấu lạt trong  ống nứa, còn có thêm mấy con cá chua. Đó là món đặc biệt cụ Mết đãi người đi  xa về. Tnú mở ống lương khô, xúc cho ông cụ một muỗng muối. Ông cụ bảo:

   - Tau cũng còn nửa lon muối của huyện thưởng cho con Dít kỳ ngày nó đi  đại hội chiến sỹ thi đua, về chia đều cho mỗi bếp một phần. Nhưng cái đó để  dành cho người đau. Còn cái này mày cho thì tau ăn.

   Ông cụ không nêm muối vào canh. Ông chia đều cho mỗi người mấy hạt,  họ ăn sống từng hạt, ngậm rất lâu trong miệng để nghe chất mặn đậm đà tan  dần. Cơm gạo trắng ghế rất nhiều củ pom chu. Ông cụ bưng chén cơm, nói như  thanh minh:

   - Năm nay làng không đói. Gạo đủ ăn tới mùa suốt. Nhưng phải để dành,  dự trữ mỗi bếp cho được ba năm. Mày đi cách mạng, người chỉ huy cũng dạy  mày rồi, đánh thằng Mỹ phải đánh dài.

   Rồi đột ngột, ông cụ hỏi:

   - Mười ngón tay mày vẫn cụt thế à? Không mọc ra được nữa à!... Ừ...

   Ông cụ đặt chén cơm xuống, giận dữ:

   - Nhưng lành hết rồi chứ? ... Được! Ngón tay còn hai đốt cũng bắn súng  được... Mày có đi qua chỗ rừng xà nu gần con nước lớn không? Nó vẫn sống  đấy. Không có cây gì mạnh bằng cây xà nu đất ta. Cây mẹ ngã, cây con mọc  lên. Đố nó giết hết rừng xà nu này!... Kìa, ăn đi chớ! Gạo người Strá mình làm  ra ngon nhất rừng núi này đấy, con ạ...

   ... Cơm nước xong, từ phía nhà ưng3, có ai đấy đánh lên một hồi mõ dài lại  ba tiếng. Dân làng lũ lượt kéo tới nhà cụ Mết. Các cô gái dụi tắt đuốc ở cầu  thang trước khi bước vào nhà. Cũng có người, các bà cụ, cầm cả cây đuốc còn  cháy rực đi thẳng vào, soi lên mặt Tnú, nhìn đi nhìn lại thật kỹ rồi ném bó đuốc  vào bếp, lửa bốc lên, cháy giần giật. Các ông cụ chưa bước lên cầu thang đã nói  oang oang:

   - Thằng Tnú đâu rồi? Cho nó ăn no rồi chớ, ông Mết?

   Có tiếng một bà già:

   -  Bọn đàn ông này, xê ra một chút cho con Dít nó ngồi với chớ. Dít ơi,  ngồi đây con!

   Tnú ngẩng nhìn lên, Dít đã ngồi sụp xuống trước mặt anh, hai chân xếp về  một bên, đưa tay kéo tấm váy che kín cả gót chân. Tnú bất chợt nghe một luồng  lạnh rân rân ở mặt và ở ngực. Mai! Trước mặt anh là Mai đấy! Anh không ngờ  Dít lớn lên lại giống Mai đến thế. Cái mũi hơi tròn của Dít ngày trước nay đã  nhỏ và thẳng lại, hai hàng lông mày rậm đến che tối cả đôi mắt mở to, bình  thản, trong suốt. Dít nhìn Tnú bằng đôi mắt ấy rất lâu, trong khi bốn, năm đứa  bé, đứa nào cũng tranh chỗ ngồi gần chị Dít. Rồi chị hỏi Tnú, giọng hơi lạnh  lùng:

   - Đồng chí về có giấy không?

   Tnú không hiểu:

   - Giấy gì?

   - Giấy cấp trên cho nghỉ phép đó. Không có giấy, trốn về thì không được.  Ủy ban phải bắt thôi.

   Tnú cười ồ. Anh định đùa, bảo nhớ làng quá trốn về thăm một bữa, nhưng  nhìn đôi mắt nghiêm khắc của Dít và nghe cái im lặng chờ đợi chung quanh,  anh mở túi áo, lấy một mảnh giấy nhỏ đưa cho chị.

   - Báo cáo đồng chí chính trị viên xã đội...

   Dít cầm lấy tờ giấy, soi lên ánh lửa. Hàng chục cái đầu chụm lại, mấy đứa  bé lắp bắp đánh vần. Dít đọc rất lâu, đọc đi đọc lại đến ba lần. Cụ Mết hỏi:

   - Đúng chớ? Nó có phép chớ?

   Dít đưa trả lại giấy cho Tnú. Bây giờ chị mới cười:

   - Đúng rồi, có chữ ký của người chỉ huy. Sao anh về có một đêm thôi?

   Rồi chị tự trả lời:

   -  Thôi cũng được. Về một đêm cho làng thấy mặt là được rồi. Bọn em  miệng đứa nào cũng nhắc anh mãi.

Tiếng cười nói im đi một lúc bây giờ lại rộn lên, chật cả căn nhà nhỏ.

   - Có chữ ký người chỉ huy đó nghe!

   - Tốt lắm rồi!

   - Một đêm thôi, mai lại đi rồi, ít quá, tiếc quá!

   Tiếng ông cụ Mết ồ ồ át tất cả:

   - Hà hà... được!

   Ông cụ đẩy hai, ba đứa bé ra, bước tới, ngồi xuống trước bếp lửa, cạnh  Tnú. Biết ông cụ sắp nói, mọi người im lặng. Ông cụ gõ ống điếu lên đầu ông  táo, bẻ một que nứa nhỏ ở sạp, cẩn thận soi cho hết tàn thuốc trong ống điếu,rồi  ngẩng lên, nhìn quanh một lượt. Mọi người đã ngồi đâu vào đấy và lắng chờ.  Ông cụ bắt đầu nói:

   - Ông già bà già thì biết rồi. Thanh niên có đứa biết, có đứa chưa rõ. Còn  lũ con nít thì chưa biết - Ông cụ trừng mắt nhìn lũ trẻ, chúng nó cảm thấy cái  nghiêm trang trong lời ông già, đứa nào đứa nấy ngồi im thin thít, mắt dán vào  miệng ông cụ - ... Tnú, anh Tnú của chúng mày về rồi đó. Đó, nó đấy, nó đi  Giải phóng quân đánh giặc, nay nó về thăm làng một đêm, cấp trên cho về một  đêm, có chữ ký người chỉ huy, chị bí thư coi giấy rồi. Nó đấy! Nó là người Strá  mình. Cha mẹ nó mất sớm, làng Xô Man này nuôi nó. Đời nó khổ, nhưng bụng  nó sạch như nước suối làng ta. Đêm nay, tau kể chuyện nó cho làng nghe để  mừng nó về thăm làng. Người Strá ai có cái tai, ai có cái bụng thương núi,  thương nước, hãy lắng mà nghe, mà nhớ. Sau này tau chết rồi, chúng mày phải  kể lại cho con cháu nghe...

   Tất cả đều im lặng. Chỉ có tiếng vòi nước đầu làng lanh tanh trộn lẫn tiếng  mưa đêm gõ đều trên vòm lá cây. Tnú cũng im lặng. Anh nhìn cụ Mết. ánh lửa  chập chờn soi thân hình cụ, làm cho thân hình vạm vỡ ấy trông kỳ ảo như một  người anh hùng trong các bài hát dài suốt đêm Tnú đã nghe từ bé. Rồi anh nhìn  Dít. Dít đã lớn bằng Mai ngày anh ở tù về, gặp lại chỗ gốc cây lớn đầu rừng lách  nay đã đổ xuống ngang đường và du kích đã lợi dụng làm một ác chiến điểm.  Dít cũng im lặng lắng nghe, đôi mắt mở to, bình thản, suy nghĩ.

   -... Người già chưa quên, người chết quên rồi thì để cái nhớ lại cho người  sống. Hồi đó thằng Mỹ - Diệm ở khắp rừng núi này. Nó đi trong rừng như con  heo. Lính của nó cắm lưỡi lê là dính máu, cũng đỏ như màu mũ đỏ của nó...  Thằng Tnú còn nhỏ, mới đứng ngang bụng tau đây. Nó lanh như con sóc.

   Ừ, người già chưa quên. Người nhỏ cũng chưa quên. Tnú cũng không  quên. Anh thấy rõ ràng một đứa bé đứng tới ngang bụng cụ Mết. Nó đeo một  cái xà lét nhỏ xíu của mẹ nó để lại, trong xà lét trên bỏ rau dưới giấu hai lon gạo  trắng, nó luồn như một con sóc qua các hốc đá cheo leo, nó chạy lon ton trong  rừng đi tìm nuôi anh cán bộ. Một đứa con gái còn nhỏ hơn nó nữa hối hả chạy  theo nó. Đứa con gái vén chiếc váy của mẹ mới dệt nhảy từ mỏm đá này qua  mỏm đá khác như một con chim sáo, vừa nhảy vừa gọi lanh lảnh:

   - Tnú, Tnú, chờ với chớ, chờ với chớ!

   Tnú thì quay lại trợn mắt:

   - Bí mật chớ, Mai! Sao đi đâu cũng tác như con mang thế?

   Mai muốn cười, nhưng sợ Tnú, không dám cười...

   Ừ, tất cả vẫn chưa xóa nhòa. Chưa cái gì có thể xóa nhòa. Vẫn rõ mồn một.  Tnú này. Cụ Mết này. Anh cán bộ này...

   Như vừa hôm qua đây vậy.



-----------------------------------------------------
(3)  Nhà ưng: nhà họp chung của làng
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4816



« Trả lời #3 vào lúc: 23 Tháng Sáu, 2010, 05:03:13 pm »

*

   Anh cán bộ ở trong rừng lúc bấy giờ là anh Quyết. Từ ngày bọn Mỹ -  Diệm tới rừng núi này, không bữa nào chúng không đi lùng, không đêm nào chó  và súng của chúng không sủa vang cả rừng. Nhưng dân làng Xô man vẫn tự hào:  năm năm, chưa hề có một cán bộ bị giặc bắt hay giết trong rừng làng này. Lúc  đầu thanh niên đi nuôi và gác cho cán bộ. Mỹ - Diệm biết được, nó bắt thanh  niên, nó treo cổ anh Xút lên cây vả đầu làng.

   - Ai nuôi Cộng sản thì coi đó!

   Rồi nó cấm thanh niên đi rừng. Bà già, ông già thay thanh niên đi nuôi cán  bộ. Nó lại biết. Nó giết bà Nhan, chặt đầu cột tóc treo đầu súng.

   Sau cùng đến lũ trẻ thay ông già, bà già. Trong đám đó, hăng nhất có Tnú  và Mai. Hễ Tnú đi rẫy thì Mai đi với cán bộ. Hễ Mai ở nhà giữ con Dít cho mẹ  thì Tnú đi. Cũng có bữa cả hai đứa cùng đi. Để cán bộ ngủ một mình ngoài rừng  ban đêm, bụng dạ không yên được. Lỡ giặc lùng, ai dẫn cán bộ chạy. Anh  Quyết hỏi:

   - Các em không sợ giặc bắt à? Nó giết như anh Xút, như bà Nhan đó.

   Tnú đang nằm trong lòng anh Quyết, ngồi dậy, tung tấm dồ ra:

   - Cụ Mết nói: cán bộ là Đảng, Đảng còn, núi nước này còn.

   Trong rừng, anh Quyết dạy Tnú và Mai học chữ. Anh chẻ nứa, đập dập ra,  ghép lại thành mấy tấm bảng to bằng bàn tay. Ba anh em đốt khói xà nu xông  bảng nứa đen kịt rồi lấy nhựa cây luông tờ ngheo phết lên một lớp dày, rửa nước  cũng không phai được. Tnú đi ba ngày đường tới núi Ngọc Linh, mang về một  xà lét đầy đá trắng làm phấn. Mai học giỏi hơn Tnú, ba tháng đọc được chữ, viết  được cái ý trong bụng mình muốn, sáu tháng làm được toán hai con số. Tnú học  chậm hơn mà lại hay nổi nóng. Học tới chữ i dài, nó quên mất chữ o thêm cái  móc thì đọc thành chữ a. Có lần thua Mai nó đập bể cái bảng nứa trước mặt Mai  và anh Quyết, bỏ ra ngoài suối ngồi một mình suốt ngày. Anh Quyết ra dỗ, nó  không nói. Mai ra dỗ, nó đòi đánh Mai. Mai cũng ngồi lì đó với nó:

   - Tnú không về, tui cũng không về. Về đi, anh Tnú. Mai làm cái bảng khác  cho anh rồi.

   Nó cầm một hòn đá, tự đập vào đầu, chảy máu ròng ròng. Anh Quyết phải băng lại cho nó. Đêm đó, anh ôm nó ngủ trong hốc đá. Anh rủ rỉ:

   - Sau này, nếu Mỹ - Diệm giết anh, Tnú phải làm cán bộ thay anh. Không  học chữ sao làm được cán bộ giỏi.
 
   Tnú giả ngủ không nghe. Nó lén chùi nước mắt giàn giụa. Sáng hôm sau,  nó gọi Mai ra sau hốc đá:

   - Mai nói cho tôi chữ o có móc là chữ chi đi. Còn chữ chi đứng sau chữ đó  nữa, chữ chi có cái bụng to đó.
   Mai quay mặt đi, không dám cười. Nó viết một chữ có cái bụng to lên tấm  bảng nó vừa mới làm cho Tnú. Nó cố nói nhỏ nhưng giọng vẫn lanh lảnh:

   - Anh nhớ giỏi lắm, chữ bê đó.

   - Ừ, bê... bê... đầu tôi ngu quá!

   Tnú hay quên chữ, nhưng đi đường núi thì đầu nó sáng lạ lùng. Nó liên lạc  cho anh Quyết từ xã về huyện. Không bao giờ nó đi đường mòn. Giặc vây các  ngả đường, nó leo lên một cây cao nhìn quanh một lượt rồi xé rừng mà đi, lọt tất  cả các vòng vây. Qua sông, nó không thích lội chỗ nước êm, cứ lựa chỗ thác  mạnh nhất mà bơi ngang, rượt lên trên mặt nước, cưỡi trên thác băng băng như  một con cá kình. Nó nói:

   - Qua chỗ nước êm thằng Mỹ - Diệm hay phục, chỗ nước mạnh nó không  ngờ.

   Nhưng lần đó, Tnú tới thác sông Đác Năng, vừa cuốn cái thư của anh  Quyết gửi về huyện trong một ngọn lá dong ngậm vào miệng định vượt thác, thì  họng súng của thằng giặc phục kích chĩa vào tai lạnh ngắt. Tnú chỉ kịp nuốt  luôn cái thư.

   Ba ngày sau, người Xô Man thấy bọn giặc trói chặt Tnú dẫn về làng.

   - Đứa nào làm Cộng sản, chỉ thì sống!

   Dân làng đứng vây quanh Tnú. Ông cụ Mết đứng bên cạnh Tnú. Tnú chỉ  đứng tới bụng ông cụ. Ông cụ nói tiếng Strá, giọng trầm vang dội:

   - Tnú, đừng làm xấu hổ làng Xô Man.

   Tnú chỉ trả lời ông cụ bằng một cái nhìn. Ông cụ nói:

   - Được!

   Lưng Tnú ngang dọc những vết dao chém.

   - Cộng sản đâu, chỉ ra!

   Tnú nói nhỏ:

   - Cởi trói đã, tay mới chỉ được.

   Chúng nó cởi trói một tay, Tnú để bàn tay ấy lên bụng mình:

   - Ở đây này.

   Lưng Tnú thêm một vết dao nữa. Trên tấm lưng chưa rộng bằng bề ngang  cái xà lét mẹ để lại đó, ứa một giọt máu đậm, từ sáng đến chiều thì đặc quện lại,  tím thâm như nhựa xà nu.

   Khi chúng lại dẫn Tnú đi, Mai ôm nó, khóc nức nở. Nó nói như giận dữ:

   - Khóc chi! Đừng! Mai phải học cho giỏi. Tui chết, Mai phải làm cán bộ...

   Ba năm sau, Tnú thoát ngục Công Tum trở về, lưng anh đã lành hết vết  thương. Đến gốc cây to đầu rừng lách anh gặp Mai. Mai cầm hai bàn tay anh,  giàn giụa nước mắt. Còn anh ngạc nhiên thấy Mai đã lớn nhanh không ngờ. Mai  dẫn anh về làng. Hôm đó dân làng cũng tụ tập ở nhà cụ Mết như đêm nay đây.  Cũng như đêm nay đây...
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4816



« Trả lời #4 vào lúc: 23 Tháng Sáu, 2010, 05:06:07 pm »

   Tiếng cụ Mết vang vọng, như dội lại từ cái đêm xa xôi ấy. 

   - ...Cũng như đêm nay đây, quanh cái bếp này đây. Trời cũng mưa nhỏ lấm  tấm như thế này. Tôi ngồi chỗ này, đúng chỗ này. Thằng Tnú ngồi chỗ này. Còn  con Mai thì ngồi đây, chỗ con Dít ngồi bây giờ... Phải không, Tnú?
 
   Phải rồi! Tất cả cũng in hệt như thế này. Cũng mưa lấm tấm đều đều trên  lá vả, cũng lửa xà nu cháy giần giật, cũng máng nước đầu làng lách tách trong  đêm khuya. Dân làng cũng tụ tập tất cả ở đây để mừng Tnú thoát ngục Công  Tum trở về. Mai cũng ngồi trước mặt Tnú như vậy đấy, cũng đôi mắt có hai  hàng lông mày đậm đến che tối cả tròng đen long lanh, ừ có lẽ đôi mắt đó ít  trang nghiêm hơn, chứa chất nhiều yêu thương hơn, nhưng cũng bình thản như  vậy, cứng rắn như vậy đó. Và cụ Mết không kể chuyện như bây giờ. Cụ chỉ nói:

   - Mai, đưa cái giấy của anh Quyết đây. Tnú, đọc lên cho cả làng nghe.

   Sau khi Tnú bị bắt ít lâu, anh Quyết chuyển sang huyện Bảy rồi hy sinh ở  đó. Anh bị thương nặng trong một trận phục kích, đưa về trong rừng thì chết.  Trước khi chết, anh gửi cho làng Xô Man bức thư này. Tnú cầm mảnh giấy soi  lên ánh lửa xà nu:

   “Em Tnú, em Mai và đồng bào Xô Man. Tui chết. Người còn sống phải  chuẩn bị giáo, mác, vụ, rựa, tên, ná. Giấu kỹ trong rừng, đừng cho giặc lấy. Sẽ  có ngày dùng tới.
   Còn Tnú phải học chữ cho giỏi, thay tui làm cán bộ...”

   Ừ, cũng đông đủ như thế này đây. Cụ Tâng, anh Pre, chị Blum, bà Prôi, cụ  Leng. Chỉ khác là còn có Mai. Tnú đọc giấy anh Quyết rồi cả làng đốt đuốc xà  nu, theo cụ Mết, đi dưới mưa. Đêm càng khuya mưa càng nặng hạt, họ vào rừng  lấy giáo, mác, vụ, rựa đã giấu kỹ từ ngày được thư anh Quyết. Tnú đi ba ngày  lên núi Ngọc Linh, nhưng không mang về một xà lét đá trắng làm phấn như ba  năm trước. Anh mang về một gùi nặng đá mài. Núi Ngọc Linh, trên ngọn của  nó, có một mỏ đá mài đủ dùng cho một trăm cuộc khởi nghĩa.
   Đêm đêm, làng Xô Man thức, mài vũ khí. Ban ngày thì theo cụ Mết đi  phát hết các rẫy củ, trồng pom chu và sắn, xanh mượt cả núi rừng...

   Tin làng Xô Man mài giáo đến tai bọn giặc ở đồn Đác Hà. Giữa mùa suốt  lúa, chúng kéo về một tiểu đội, vừa đúng lúc đứa con trai đầu lòng của Mai và  Tnú ra đời. Cũng thằng chỉ huy năm trước, thằng Dục, nó đội mũ đỏ màu máu. Nó gầm lên:

   - Lại thằng Tnú chứ không ai hết. Con cọp đó mà không giết sớm, nay nó  làm loạn rừng núi này rồi.
 
   Cụ Mết và Tnú dẫn thanh niên lánh vào rừng. Họ không đi đâu xa, chỉ  luẩn quẩn các gốc cây, hốc đá quanh làng, bám sát giặc. Chúng nó đóng lại  trong làng bốn đêm. Ngọn roi của nó không từ một ai. Tiếng kêu khóc dậy cả  làng. Thằng Dục lăm lăm khẩu súng lục:

   - Đứa nào ra khỏi làng bắt được bắn chết ngay tại chỗ!

   Không ai lọt ra được. Chỉ có con Dít nhỏ lanh lẹn, cứ sẩm tối lại bò theo  máng nước đem gạo ra rừng cho cụ Mết, Tnú và thanh niên. Tảng sáng ngày thứ  tư thì chúng bắt được con bé khi nó ở ngoài rừng về. Chúng để con bé đứng giữa  sân, lên đạn tôm-xông rồi từ từ bắn từng viên một, không bắn trúng, đạn chỉ  sượt qua tai, sém tóc, cày đất quanh hai chân nhỏ của Dít. Váy nó rách tượt từng  mảng. Nó khóc thét lên, nhưng rồi đến viên thứ mười, nó chùi nước mắt, từ đó  im bặt. Nó đứng lặng giữa bọn lính, cứ mỗi viên đạn nổ, cái thân hình mảnh dẻ  của nó lại giật lên một cái nhưng đôi mắt nó thì vẫn nhìn bọn giặc bình thản lạ  lùng, bình thản như đôi mắt chị bí thư bây giờ vậy.

   Không làm gì được con bé, thằng Dục dùng đến nước đòn cuối cùng. Nó  bắt Mai.

   - Bắt được con cọp cái và cọp con, tất sẽ dụ được cọp đực trở về.
 
   Tnú nghe rõ câu nói đó của thằng Dục. Anh nấp ở gốc cây cạnh máng  nước đầu làng. Từ chỗ ấy nhìn thấy sân làng rõ mồn một. Hai bàn tay anh bíu  chặt lấy gốc cây khi bọn lính gồm mười thằng dẫn Mai ra giữa sân. Mai địu con  trên lưng, thằng bé chưa được một tháng. Ai cũng bảo nó giống Tnú lạ lùng.  Không đi Công Tum mua vải được, Tnú phải xé đôi tấm dồ của mình ra làm tấm  choàng cho Mai địu con. Thằng bé nằm trong tấm choàng ấy, ngủ say trên lưng  mẹ.

   Thằng Dục hỏi:

   - Chồng mày ở đâu, con mọi Cộng sản kia?

   Mai xốc lại đứa con trên lưng, giương đôi mắt to nhìn thằng Dục.

   - Mày câm à, con chó cái! - Nó quát bọn lính - Đứng ỳ ra đó à!

   Một thằng lính to béo nhất liếc mắt nhìn thằng Dục, tay cầm một cây sắt  dài bước tới cạnh Mai. Nó lè lưỡi liếm quanh một lượt, rồi chậm rãi giơ cây sắt  lên. Mai thét to một tiếng. Chị vội tháo tấm địu, vừa kịp lật đứa con ra phía  bụng thì cũng vừa lúc cây sắt giáng xuống sống lưng.

   - Thằng Tnú ở đâu, hả?

   Cây sắt thứ hai đập vào trước ngực Mai, chị lật đứa bé ra sau lưng. Nó lại  đánh sau lưng, chị lật thằng bé ra trước ngực. Trận mưa cây sắt mỗi lúc một dồn  dập. Không nghe thấy tiếng thét của Mai nữa. Chỉ nghe đứa bé khóc ré lên một  tiếng rồi im bặt. Chỉ còn tiếng cây sắt nện xuống hừ hự.
 
   Tnú bỏ gốc cây của anh. Đó là một cây vả. Anh đã bứt đứt hàng chục trái  vả mà không hay. Anh chồm dậy. Một bàn tay níu anh lại. Tiếng cụ Mết nặng  trịch:

   - Không được, Tnú! Để tau!

   Tnú gạt ông cụ ra. Ông cụ nhắc lại:

   - Tnú!

   Tnú quay lại. Ông cụ không nhìn ra Tnú nữa. Hai con mắt anh bây giờ là  hai cục lửa lớn. Ông cụ buông vai Tnú ra.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4816



« Trả lời #5 vào lúc: 23 Tháng Sáu, 2010, 05:08:49 pm »

   Một tiếng thét dữ dội. Tnú đã nhảy xổ vào giữa bọn lính. Anh không biết  anh đã làm gì. Chỉ thấy thằng lính giặc to béo đã nằm ngửa ra sân, thằng Dục  tháo chạy vào nhà ưng. Tiếng lên đạn lách cách quanh anh. Rồi Mai ôm đứa con  chúi vào ngực anh. Hai cánh tay rộng lớn như hai cánh lim chắc của anh ôm  chặt lấy mẹ con Mai.

   - Đồ ăn thịt người, tau đây, Tnú đây!...

   Tnú không cứu sống được Mai.

   - ...Ừ, Tnú không cứu sống được mẹ con Mai...

   Tiếng ông cụ Mết vẫn trầm và nặng. Ông cụ vụng về trở tay lau giọt nước  mắt. Bỗng nhiên ông cụ nói to lên:

   - Tnú không cứu sống được vợ, được con. Tối đó, Mai chết. Còn đứa con  thì đã chết rồi. Thằng lính to béo đánh một cây sắt vào ngang bụng nó, lúc mẹ  nó ngã xuống, không kịp che cho nó. Nhớ không, Tnú, mày cũng không cứu  sống được vợ mày. Còn mày thì bị chúng nó bắt, mày chỉ có hai bàn tay trắng,  chúng nó trói mày lại. Còn tau thì lúc đó tau đứng sau gốc cây vả. Tau thấy  chúng nó trói mày bằng dây rừng. Tau không nhảy ra cứu mày. Tau cũng chỉ có  hai bàn tay không. Tau không ra, tau quay đi vào rừng, tau đi tìm bọn thanh  niên. Bọn thanh niên thì cũng đã đi vào rừng, chúng nó đi tìm giáo mác. Nghe  rõ chưa, các con, rõ chưa? Nhớ lấy, ghi lấy. Sau này tau chết rồi, bay còn sống  phải nói lại cho con cháu: chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo!...
   Chúng nó trói chặt Tnú bằng dây rừng, khiêng ném vào góc nhà ưng rồi  kéo đi ăn thịt con heo của anh Brôi.

   Tnú nằm trong góc nhà. Bóng tối đã dày đặc. Anh suy nghĩ, ngạc nhiên tự  thấy mình rất bình thản: “Đứa con chết rồi. Mai chắc cũng chết rồi. Tnú cũng sắp chết. Ai sẽ làm  cán bộ? Đến khi có lệnh Đảng cho đánh, ai sẽ làm cán bộ lãnh đạo dân làng Xô  Man đánh giặc? Cụ Mết đã già. Được, còn có bọn thanh niên. Rồi con Dít sẽ lớn  lên. Con bé ấy còn vững hơn cả chị nó. Không sao... Chỉ tiếc cho Tnú. Tnú  không sống được tới ngày cầm vũ khí đứng dậy với dân làng...”

   Thằng Dục không giết Tnú ngay. Nó đốt một đống lửa ở nhà ưng, lùa tất  cả dân làng tới, cởi trói cho Tnú, rồi nói với mọi người:

   - Nghe nói chúng mày đã mài rựa, mài giáo cả rồi, phải không? Được, đứa  nào muốn cầm rựa, cầm giáo thì coi bàn tay thằng Tnú đây!

   Nó hất hàm ra hiệu cho thằng lính to béo nhất. Chúng nó đã chuẩn bị sẵn  cả. Thằng lính mở tút se, lấy ra một nhúm giẻ. Giẻ đã tẩm dầu xà nu. Nó quấn  giẻ lên mười đầu ngón tay Tnú. Rồi nó cầm một cây lửa. Nhưng thằng Dục bảo:

   - Để đó cho tau!

   Nó giật lấy cây lửa.

   Tnú không kêu rên một tiếng nào. Anh trợn mắt nhìn thằng Dục. Nó cười  sằng sặc. Nó gí cây lửa lại sát mặt anh: 

   - Coi kỹ cái mặt thằng Cộng sản muốn cầm vũ khí này xem sao! Số kiếp  chúng mày không phải là số kiếp cầm giáo mác. Bỏ cái mộng cầm giáo mác đi,  nghe không!

   Một ngón tay Tnú bốc cháy. Hai ngón, ba ngón. Không có gì đượm bằng  nhựa xà nu. Lửa bắt rất nhanh. Mười ngón tay đã thành mười ngọn đuốc.

   Tnú nhắm mắt lại, rồi mở mắt ra, nhìn trừng trừng.

   Trời ơi! Cha mẹ ơi! Anh không cảm thấy lửa cháy ở mười đầu ngón tay  nữa. Anh nghe lửa cháy trong lồng ngực, cháy ở bụng. Máu anh mặn chát ở đầu  lưỡi. Răng anh đã cắn nát môi anh rồi. Anh không kêu rên. Anh Quyết nói:  “Người Cộng sản không thèm kêu van...” Tnú không thèm, không thèm kêu  van. Nhưng trời ơi! Cháy! Không, Tnú sẽ không kêu! Không!

   Tiếng cười giần giật của thằng Dục. Các cụ già chồm dậy. Bọn lính gạt ra.  Tiếng kêu ré của đồng bào. Tiếng chân ai rầm rập quanh nhà ưng. Ai thế?

   Tnú thét lên một tiếng. Chỉ một tiếng thôi. Nhưng là tiếng thét vang dội.  Tiếp theo là tiếng “Giết!”. Tiếng chân người đạp trên sàn nhà ưng rào rào. Tiếng  bọn lính kêu thất thanh. Tiếng cụ Mết ồ ồ: “Chém! Chém hết!” Cụ Mết, đúng  rồi, cụ Mết đã đứng đấy, lưỡi mác dài trong tay. Thằng Dục nằm dưới lưỡi mác  của cụ Mết. Và thanh niên, tất cả thanh niên trong làng, mỗi người một cây rựa  sáng loáng, những cây rựa mài bằng đá mà Tnú mang từ đỉnh núi Ngọc Linh về...

   Tiếng anh Brôi nói, trầm tĩnh:

   - Tnú! Tnú! Tỉnh dậy chưa? Đây này, chúng tôi giết hết rồi. Cả mười đứa,  đây này! Bằng giáo, bằng mác. Đây này!

   Lửa đã tắt trên mười đầu ngón tay Tnú. Nhưng đống lửa xà nu giữa nhà  vẫn đỏ. Xác mười tên giặc ngổn ngang quanh đống lửa đỏ.

   Cụ Mết chống giáo xuống sàn nhà, tiếng nói vang vang:

   -  Thế là bắt đầu rồi. Đốt lửa lên! Tất cả người già, người trẻ, người đàn ông, người đàn bà, mỗi người phải tìm lấy một cây giáo, một cây mác, một cây vụ, một cây rựa. Ai không có thì vót chông, năm trăm cây chông! Đốt lửa lên!

   Tiếng chiêng nổi lên...

   Đứng trên đồi xà nu gần con nước lớn, suốt đêm nghe cả rừng Xô Man ào ào rung động. Và lửa cháy khắp rừng...
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4816



« Trả lời #6 vào lúc: 23 Tháng Sáu, 2010, 05:10:45 pm »

*

   Không ai nhận thấy đêm đã khuya. Mưa mỗi lúc một nặng hạt.

   Cụ Mết ngừng, nhìn mọi người. Chòm râu trên ngực cụ rung rung:

   - Đó, tau kể đã hết. Làng Xô Man cầm giáo từ đêm đó, Tnú cũng ra đi từ  đó. Lành mười ngón tay rồi nó ra đi. Lành thật, ngón nào cũng cụt một đốt,  nhưng còn hai đốt cũng cầm giáo, bắn súng được. Thằng Tnú đi tìm Cách mạng.  Nghe nói bên kia núi Ngọc Linh cũng có thằng Dục, người bên đó cũng nổi dậy  rồi. Làng phái nó đi tìm. Nó đi từ đó đến giờ... Cha mẹ mày, đi lâu thế! Để cho  lũ con gái chúng nó lớn lên chẳng còn thằng thanh niên nào cho nó bắt chồng!...  Thôi, tau kể hết rồi đó. Bây giờ đến mày. Ba năm nay mày đi, mày đã làm xấu  hổ cái làng Xô Man này những gì, kể cho bà con đây nghe nào! Mày đã làm  những gì, con! Giết được mấy thằng Diệm, thằng Mỹ rồi?

   Tnú đứng dậy. Anh bước tới trước bếp lửa, đứng lặng hồi lâu. Biết kể gì  đây. Lòng anh tràn ngập thương yêu. Anh nói:

   - Cụ Mết! Đồng bào! Tui... Ừ, tui đã gặp thằng Dục rồi...

   - Thằng Dục à? Nó ở đâu?

   - Nó ở trong đồn.

   - Mày giết nó chưa?

   - Giết rồi!

   - Ừ, mày cho nó ăn cái đạn này chứ?

   - Không.

   - Sao thế?

   Tnú cởi khẩu súng ở vai ra, để xuống một bên.

   - Thế này: bữa đó đánh đồn. Lính nó, mình giết hết.

   - Sạch à?

   - Sạch. Chỉ còn thằng chỉ huy dưới hầm. Kêu nó không lên. Bỏ lựu đạn, nó  có ngách. Người chỉ huy mình hỏi: - Ai xuống? - Tui xuống. Tối lắm. Tui mò  thấy nó. Nó bắn. Tui giật được súng nó. Nó vật tui. Nhưng tui mạnh hơn. Tui  tống đầu gối lên ngực nó. Tui bấm đèn pin lên mặt nó. - Dục, mày có nhớ tau  không? - Nó lắc đầu. - Được, đây này, hai bàn tay tau đây này, nhớ chưa? Tau  vẫn cầm được súng! Mắt nó trắng dã. Tui nói: Này tau có súng đây, tau có cả  dao găm đây. Nhưng tau không giết mày bằng súng, tau không đâm mày bằng  dao, nghe chưa? Dục! Tau giết mày bằng mười ngón tay cụt này thôi!

   Dít hỏi, bình thản:

   - Chết chớ?

   - Chết rồi.

   - Nhưng có đúng thằng Dục không?

   - Đúng chớ... Chúng nó đứa nào cũng là thằng Dục.

   Cụ Mết cũng đứng dậy, cụ lại đặt bàn tay nặng như sắt lên vai Tnú:

   - Được! Hà hà...

   Theo tiếng cười của ông cụ, tiếng cười nói xôn xao lại rộn cả căn nhà nhỏ.

   Đại bác từ đồn giặc bắn vào đồi xà nu ngoài con nước lớn, nhưng chẳng ai  nghe thấy, tiếng cười tiếng nói át cả tiếng súng.

   Tnú lại ra đi. Cụ Mết và Dít đưa anh ra đến rừng xà nu gần nước lớn. Trận  đại bác đêm qua đã đánh ngã bốn năm cây xà nu to. Nhựa ứa ra ở những vết  thương đang đọng lại, lóng lánh nắng hè. Quanh đó vô số những cây con đang  mọc lên. Có những cây mới nhú khỏi mặt đất, nhọn hoắt như những mũi lê.

   Ba  người đứng ở đấy nhìn ra xa. Đến hút tầm mắt, cũng không thấy gì  khác ngoài những rừng xà nu nối tiếp chạy đến chân trời...

1965
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4816



« Trả lời #7 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2010, 09:05:11 am »

Đường chúng ta đi
(Tùy bút)


NGUYÊN NGỌC


   Đêm nay là một đêm chuẩn bị. Ngày mai chúng tôi sẽ ra trận.

   Chúng tôi đóng trong làng. Bây giờ đã khuya, bốn bề đều im lặng. Cho  đến ngôi sao xa ngoài khung cửa cũng đứng im, lóng lánh như giọt nước mắt  vui lặng lẽ của người vợ ở quê ta gặp chồng sau mười năm trời gian lao và cách  biệt. Gió se lạnh, thoang thoảng hương lúa lên đòng, thơm như sữa một người  mẹ trẻ.

   Tôi nằm đã lâu, không ngủ. Không sao ngủ được. Có gì đấy, vừa êm ả vừa  trào sôi đang dậy trong lòng tôi, người lính đêm nay.

   Sáng mai chúng tôi sẽ ra trận. Đội trưởng của chúng tôi nói:

   - Ngủ đi, ngủ cho ngon. Mai sẽ làm một trận tiêu diệt thật gọn!

   Tôi nghe lời, nhắm mắt, rồi mở mắt. Không ngủ được. Sáng mai chúng tôi  sẽ ra trận. Tôi bồi hồi suy nghĩ vì việc đó ư? Không, tôi là một người lính cũ.  Trong đời tôi, đêm nay là đêm chuẩn bị ra trận lần thứ bao nhiêu rồi, cũng  không còn nhớ rõ. Điều gì đây? Có gì đây đang trào dậy trong lòng tôi, như một  linh cảm mơ hồ, như một hơi men say, một cơn sóng ngầm xao động ở tận chỗ  sâu kín nhất của tâm hồn.

   Thường vẫn vậy đấy, bắt đầu hầu như chẳng có gì cả. Chỉ là một giọng  hát. Đội trưởng chúng tôi vừa tắt đài. Trên đài, một người con gái nào đó vừa  hát một bản dân ca của đất nước ta trong đêm khuya. Bây giờ tất cả im lặng rồi,  giọt sao ngoài khung cửa đọng lại, đứng im, không nháy nữa, đêm đã đi vào  chiều sâu, mà vẫn còn nghe âm vang mãi giọng hát của người con gái lúc nãy.  Một gịong hát dân ca, ngân nga bát ngát như cánh cò trên đồng lúa miền Nam  chạy tới chân trời, có lúc rụt rè, e thẹn như khóe mắt người yêu mới gặp, có lúc  tinh nghịch, duyên dáng như những đôi chân nhỏ thoăn thoắt gánh lúa chạy trên  những con đường làng trộn lẫn bóng tre và bóng nắng... Có lẽ không phải là một  người con gái đã hát trên đài. Đó chính là quê hương ta đang lên tiếng hát.  Tiếng ngân nga dội lên từ lòng đất, ở trong đó một góc vườn có đôi cây sầu  đông và một giàn bầu đong đưa quả nặng, một ngày đã xa mẹ ta đã chôn nhúm  nhau của ta thuở ta mới lọt lòng. Đó là tiếng ngân của mặt đất, của dòng sông,  của những xóm làng và những cánh đồng sau một ngày lao động và chiến đấu.

   Không biết các bạn có bao giờ nghĩ như vậy không. Riêng tôi cứ mỗi lần  nghe vọng lên tiếng hát đậm đà, uyển chuyển của những bản dân ca Việt Nam,  lòng tôi bỗng dưng xao xuyến lạ thường, tôi bỗng đứng lại như sửng sốt, như  kinh ngạc, và bàng hoàng tự hỏi: đất nước ta, con người Việt Nam ta vẫn còn  giữ được tiếng hát ấy ư? Kỳ diệu biết bao nhiêu! Kỳ diệu biết bao nhiêu, tiếng  hát và tấm lòng Việt Nam chúng ta!

   Dân tộc chúng ta sinh ra và lớn lên trên một mảnh đất mấy nghìn năm nay  chưa giờ phút nào nguội tắt ngọn lửa chiến tranh. Từ trong đêm mờ xa xôi của  lịch sử, hình ảnh cha ông ta, hình ảnh con người Việt Nam suốt hàng trăm thế  hệ nối tiếp bao giờ cũng là hình ảnh một con người cầm vũ khí đứng lên trong  cuộc chiến đấu trường kỳ và dữ dội để giành và giữ lấy quyền sống của mình.  Không biết có nơi nào nữa trên trái đất, quyền làm người được bảo vệ bằng  nhiều máu đến vậy không? Giá như chúng ta minh họa lịch sử dân tộc, thì có  trang nào, dòng nào mà không phải vẽ thanh gươm tự vệ và tô đậm một màu  máu? Máu thắm đượm rãnh cày ta gieo hạt giống, máu thấm đượm mảnh sân  con ta nô đùa ngày bé, máu thắm đượm con đường nơi đó mẹ ta lau nước mắt  ngày tiễn ta ra đi, máu thắm đượm bờ ao em ta ngồi giặt áo trên chiếc cầu nhỏ  ghập ghềnh... Ôi dân tộc ta từ trong máu lửa mà sinh ra, mà lớn lên. Từ trong  máu lửa bốn nghìn năm chúng ta đứng dậy và cất tiếng nói. Từ trong máu lửa đỏ  cháy cả không gian và thời gian như vậy, tưởng như chỉ có thể là tiếng kêu rú  căm hờn, dân tộc ta chỉ có thể nấc lên tiếng khóc xé ruột, xé lòng... Thế nhưng  lạ lùng thay, từ trong máu lửa cháy đỏ cả lịch sử, chúng ta lên tiếng nói, và tiếng  nói ấy lại là tiếng hát trữ tình, điềm đạm, trong sáng, duyên dáng và say sưa như  một cuộc hò hẹn, xao xuyến như buổi gặp gỡ ban đầu. Một dân tộc đánh giặc  bốn nghìn năm mà tiếng hát vẫn êm dịu, uyển chuyển như vậy, dân tộc ấy mãnh  liệt và bình tĩnh biết chừng nào.
 
   Cám  ơn  chị, người con gái hát trên đài đêm nay, cám ơn chị đã hát lên  lòng tự tin và sức sống không gì dập tắt nổi của dân tộc ta.

   Đêm nay, đêm chuẩn bị đánh một trận mới sau những trận ác chiến đã  qua, cám ơn chị đã hát lên hộ chúng tôi lòng dũng cảm trầm lặng và vững chãi  của đất nước, của chúng tôi. Sáng mai chúng tôi lại sẽ lên đường. Cuộc chiến  tranh yêu nước đang cháy trên quê hương. Những Điện Biên Phủ đang gọi  chúng tôi ở phía trước. Đêm nay nghe tiếng hát êm ả của quê hương, rồi sáng  mai chúng tôi sẽ ra trận. Mười bốn triệu người miền Nam sẽ tiếp tục cuộc ra  trận lớn lao của mình...

   Cuộc ra trận lớn đó kéo dài đã hơn mười năm nay.

   Mười năm, nhớ lại mà lòng dào dạt tự hào! Đồng chí Giải phóng quân  ngày mai sẽ ra trận, hãy nhớ lại mười năm, hãy nhớ lại đoạn đường chống Mỹ  và thắng Mỹ ba nghìn sáu trăm ngày ta đã đi qua.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4816



« Trả lời #8 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2010, 09:07:11 am »

   Mười năm nay bao nhiêu triệu cặp mắt mong chờ lo âu chăm chú nhìn về  phía chúng ta từ khắp nơi trên trái đất, chăm chú theo dõi ta, từ cái thuở ta còn  len lỏi trong rừng đêm bốn bề giặc bủa; những đôi mắt nặng trĩu chịu đựng và lo  chờ, bạc xám như lớp tro phủ hòn than vùi trên khuôn mặt đen bóng của châu  Phi; những đôi mắt sôi nổi từ phía châu Mỹ La-tinh; những đôi mắt trầm ngâm  của châu Á, long lanh của châu Âu; những đôi mắt xao động sóng gió từ vô số  hòn đảo trên châu Đại Dương rộng lớn. Họ chăm chú nhìn và hỏi chúng ta, bởi  vì ở đây, trên mảnh đất bên bờ bể Đông Nam châu Á này, họ đang nhìn và đang  hỏi số phận của chính họ. Họ biết ở đây, trên mảnh đất nhỏ vùng nhiệt đới sum  suê cây lá này, trong túp lều chui đụt mà hai mươi năm trời đi đánh giặc ta chưa  có chút thì giờ về đánh tranh lợp lại cho mẹ ta, trên cánh đồng bùn lầy cha ta  ngày ngày trầm lặng từng bước từng bước đi theo chiếc cày và con trâu cũng  trầm lặng của người, trên bãi sông tiễn đưa, trong góc vườn hò hẹn của quê ta  đây, chính ở đây đang diễn ra cuộc chiến đấu lớn lao, quyết liệt và tiêu biểu  nhất giữa con người lao động và con ác thú đế quốc ngày nay. Kẻ thù xấc láo và  cuồng dại đã chọn mảnh đất quê ta và mười bốn triệu người Việt Nam chúng ta, đã chọn mẹ ta, em ta, vợ ta, con ta, tuổi trẻ và tình yêu của ta, mái trường và sân đình làng ta... làm vật thí nghiệm cho những âm mưu mới đẫm máu của chúng.  Chúng cố lấy máu ta mong vẽ nên con đường thoát trước cuộc tấn công dồn dập  của nhân loại cần lao, chúng cố đốt cháy làng quê ta để mong nhen nhúm chút  ánh sáng đen tối đưa chúng thoát con đường hầm tắc nghẽn của chúng. Với lòng  dạ sói lang đó, chúng đã đổ lên mảnh đất này tất cả những tội ác mà những tên  bạo chúa trong suốt lịch sử lâu dài của loài người đã nghĩ ra được, tất cả những  mưu đồ mà những cái đầu thông minh nhất trong những cái đầu tư bản đần độn  của chúng đã nghĩ ra được. Chưa bao giờ dân tộc ta đứng trước một con ác thú  dữ tợn và thâm hiểm như vậy. Triệu triệu những cặp mắt lo âu của thế giới quay  nhìn chúng ta. Họ lo nghĩ về số phận của chúng ta và số phận của chính họ. Bởi  vì sau cuộc chiến đấu của đội xung kích thì sẽ đến cuộc chiến đấu của các binh  đoàn.

   Chúng ta cũng nghe từ trong sâu thẳm của thời gian, lịch sử của cha ông  hỏi chúng ta. Chúng ta nghe những người cộng sản nguyên thủy bốn nghìn năm  trước đã theo đức tổ Hùng Vương đến sinh cơ lập nghiệp trên bãi phù sa sông  Hồng, những người nô lệ nổi dậy trong cuộc khởi nghĩa của Trưng Vương,  những người nông dân vót nhọn cọc sắt đâm thủng thuyền Ô Mã Nhi trên sông  Bạch Đằng, những người dân cày chém chết Liễu Thăng dưới chân ải Chi Lăng,  những người áo vải đã đánh trận phản công vĩ đại của Nguyễn Hụê diệt mấy  mươi vạn quân xâm lược Tôn Sĩ Nghị ở Đống Đa; chúng ta nghe Nguyễn Trãi  trong rừng đêm chép binh thư, nàng Kiều mười lăm năm trời dày vò đau khổ, cô  Nguyệt Nga trung trinh..., chúng ta nghe quá khứ đau thương oanh liệt của dân  tộc hỏi ta. Một câu hỏi lớn lao nóng hổi, bức xúc:

   - Bằng cách nào đây, bằng con đường nào đây đánh ngã kẻ thù tàn bạo,  đánh đổ con ác thú Mỹ, để giữ quyền sống cho dân tộc, cho ta và bầu bạn năm  châu?

   Tìm ra một lối đi. Soi lấy một lối đi qua khu rừng dày của chủ nghĩa đế  quốc, băng tới chân trời huy hoàng mà Đảng Mác Lê-nin đã chỉ cho dân tộc từ  gần ba mươi lăm năm trước. Mười năm sống mái với kẻ thù, chúng ta mở lấy  một lối đi.

   Những người lính đều hiểu rằng muốn tiêu diệt quân giặc, phải hiểu rõ  chúng và tự hiểu rõ mình. Chính vì thế mà cần có những người trinh sát gan dạ,  từng trải và thông minh. Mười năm nay chúng ta đã tình nguyện làm đội trinh  sát trong đoàn quân rộng lớn những người lao động đau khổ trên trái đất. Mười  năm nay chúng ta trinh sát và tiến đánh con thú đế quốc Mỹ.

   Ôi mười năm! Ai nói được hết giá đắt của mười năm, của mỗi một ngày  trên mảnh đất cháy bỏng này. Mỗi một ngày chiến đấu và suy nghĩ, mười năm  chiến đấu và suy nghĩ, mười bốn triệu người, ba mươi triệu người chiến đấu và  suy nghĩ. Cả dân tộc suy nghĩ, cả Đảng suy nghĩ. Mưu lược của cha ông từ Bà  Triệu, Ngô Quyền cho đến Quang Trung, Hoàng Hoa Thám, trí tụê của chủ  nghĩa Mác Lê-nin vĩ đại đọng lại trong chúng ta, suy nghĩ cùng chúng ta. Chúng  ta suy nghĩ trong những đêm dài thức suốt. Mỗi một tội ác của kẻ thù, chúng ta  theo dõi và suy nghĩ; mỗi một dòng máu của đồng bào, chúng ta chăm chú nhìn,  tìm lấy một bài học và suy nghĩ; mỗi một đồng chí thân yêu bị bắt và bị chém,  chúng ta lau nước mắt, rút lấy bài học đắng cay và suy nghĩ. Mỗi một thân cây  bị chặt đứt đem rào ấp chiến lược, chúng ta học và suy nghĩ. Trong những ngày  tố cộng đẫm máu tươi, chúng ta suy nghĩ. Trong những đêm “sám hối” quỳ  trước ngọn lửa bạch lạp đỏ ngầu, trên tấm ván rắc đầy sỏi nhọn, hai tay đỡ hai  hòn gạch nặng, cứ mỗi lần mỏi gục quỵ xuống là ngọn roi, tảng búa của tên ác  ôn diệt cộng giáng xuống trên đầu, chúng ta học và suy nghĩ. Tôi đã nghe nhiều  đồng chí đảng viên chúng ta nói về những đêm “sám hối” trong cái chiến dịch  tố cộng âm u và rùng rợn ấy. Có những lúc ngẩng đầu lên nhìn tên giặc, máu  chảy sôi trong huyết quản, chỉ muốn rướn người lên ném hai viên gạch nặng trĩu  căm thù vào đầu nó: “Không thể được nữa! Tao giết mày đây, rồi tới đâu thì  tới!”. Nhưng nhiều đồng chí chúng ta đã không làm như vậy. Họ biết họ cần  sống để suy nghĩ một cách sống, một con đường sống cho đất nước, cho loài  người. Họ cần sống để học hiểu kẻ thù và tìm lấy một con đường tiêu diệt nó.

   Chúng ta suy nghĩ bằng Chợ Được, Vĩnh Trinh, Hướng Điền, Ngân Sơn...,  bằng sinh mệnh của hàng nghìn đảng viên và cán bộ, bằng những chiếc đầu rơi  dưới máy chém 10-59. Chúng ta suy nghĩ trong cơn đau xé ruột giữa trận đầu  độc Phú Lợi, chúng ta suy nghĩ trước nấm mộ chôn sống ba trăm đồng chí và  đồng bào Phước Cẩm, Phước Sơn, chúng ta suy nghĩ trong lao tù đế quốc mọc  khắp quê ta như nấm độc và trên Côn Đảo chơ vơ... Suy nghĩ về kẻ địch và về  chính mình. Chân lý đã mọc lên từ trong máu đổ mười năm. Bằng máu và nước  mắt, bằng những hy sinh không bờ bến, chúng ta đã đốt lên ngọn đuốc soi  đường, soi rõ bộ mặt, tâm địa, gan ruột kẻ thù, soi rõ gót chân A-sin của chúng  nó rồi! Và soi rõ cả quả tim ta, những sức lực và trí tuệ tiềm tàng trong máu và  trong cánh tay ta!
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4816



« Trả lời #9 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2010, 09:09:21 am »

   Rồi chúng ta đứng dậy.

   Ở làng ông Tía nhỏ bé chênh vênh trên sườn núi, nơi đó con thú dữ Ngô  Đình Diệm sáu năm đã ăn thịt một phần mười số dân trong làng, một đêm kia  người ta bắt đầu mài rựa. Đó là những con người đã hiểu địch và tự hiểu mình.  Tiếng rựa sen sét trong đêm khuya, họ mài lòng căm thù, cho bén hơn, cho  nhọn hơn. Sắp đến lúc rồi! ở Trà Bồng, những người Re đem ống thuốc độc tích  lũy và giấu kín trong lòng đất sáu năm nay ra nhúng lại những mũi tên. Dây nỏ  được buộc lên, căng như sự chờ đợi sôi sục nén lại bấy lâu nay. Đó là những con  người đã hiểu ta và hiểu địch. Họ yên lặng, không nói. Sắp đến lúc rồi!

   Ở Bến Tre, có một người phụ nữ đào hầm chông. Đó là con người đã hiểu  địch và hiểu mình.

   Những con người đã hiểu mình và hiểu giặc mài rựa, chuốt tên và rèn  gươm, và nhồi thuốc, và đúc súng. Chúng ta vót chông nhọn hoắt căm thù và trí  tụê chúng ta, tay ta gài thò, những mũi thò cẩn thận, tinh vi như những suy nghĩ  cô đọng mười năm của chúng ta, chúng ta đào hố chông, khắp đất nước lỗ chỗ  hố chông, lởm chởm như những mưu kế đã luyện chín mười năm trong đầu ta,  sắc và độc vô cùng...

   Rồi chúng ta đứng dậy.

   Bảy cây rựa mài sắc ở làng ông Tía một buổi sáng chặt đứt đầu một tiểu  đội giặc không kịp trở tay. Lửa cháy một làng ở Trà Bồng. Những người con gái  Hre hát tu lêu rất hay, trong một đêm trở thành quân khởi nghĩa. Chỉ trong một  đêm, anh nông dân đi cày hôm qua, chị hàng xén xinh xinh bữa trước, cô học  sinh vừa mới cắp vở đến trường, và cả mẹ nữa, bà mẹ già hai mươi năm trời mòn  mỏi đợi con... bỗng trở thành du kích và Giải phóng quân, như một sự biến hóa  phi thường.

   Kẻ thù đã bắt đầu mở tiệc trên mảnh đất chúng tưởng đã san phẳng bằng  máy chém và rào kín bằng dây thép gai Mỹ bỗng nghe mảnh đất dưới chân  chúng rùng rùng chuyển động. Súng đã nổ bốn bề, người đã ào ào xông tới, mõ  đã dậy khắp làng quê. Khởi nghĩa! Khởi nghĩa! Chúng nó kinh hoàng chống đỡ.  Nhưng không kịp nữa rồi. Trong mười năm, nhân dân đã suy nghĩ về chúng nó  và về bản thân mình và đã quyết định. Bản án đã tuyên bố rồi. Mười bốn triệu  người đã đứng dậy, và đi tới, trên hai chân vững chãi, rập ràng. Dân tộc ta đã  quyết làm cuộc kháng chiến lần thứ hai.

   Những bà mẹ trong những túp lều chui đụt ngày trước đã hiến đứa con đầu  lòng của mình cho Tổ quốc, nay lại gửi giọt máu thứ hai của mình cho tiền  tuyến. Những người vợ ngày xưa đã tiễn chồng ra bộ đội, nay lại may tấm áo có  cầu vai và tấm võng xi-ta cho chồng đi làm Giải phóng quân... Nhưng lịch sử  không lặp lại, chúng ta không làm nguyên lại một việc đã làm. Ngày xưa, chỗ  bến đò tiễn đưa, vợ ta nói:

   - Anh ra tiền tuyến chiến thắng, em ở lại hậu phương sản xuất.

   Ngày nay cũng trên bến đò ấy, dưới gốc cây chim chim mười năm qua đã  trở thành cây cổ thụ, vợ ta cũng cầm tay ta, nhưng lời tiễn đưa đã khác:

   - Anh ra tiền tuyến chiến thắng. Em ở lại tiền tuyến của em, cùng với mẹ  và con cũng sẽ chiến thắng.

   Rồi khi ta nổ súng, ta bỗng nghe bên cạnh ta, song song với tiếng ta hò reo  là tiếng mõ dậy của mẹ, của chị, của vợ, của em ta đang xông tới trên tiền tuyến  của họ.

   Mười năm suy nghĩ đâu có phải chỉ để học nguyên lại cách đánh giặc ngày  trước. Chúng ta đã sáng tạo ra những cách đánh mới hơn, dữ dội, ác liệt, rập  ràng và công hiệu hơn. Mười năm suy nghĩ, chúng ta đã rèn đúc ra bao nhiêu là  thứ vũ khí mới lạ lùng. Bàn tay nhỏ của em ta cũng trở thành vũ khí. Bộ ngực nở  nang của người yêu ta cũng trở thành vũ khí. Tấm thân còm cõi của mẹ ta cũng  trở thành vũ khí. Lời nói duyên dáng đậm đà của cô hàng xén ở góc chợ nay  cũng trở thành vũ khí. Tất cả đều gieo tan rã và cái chết lên đầu giặc. Kẻ thù  kinh hoàng. Động đến cái gì, chúng cũng chạm phải cái chết. Phát súng của  chúng ta nã vào đầu chúng. Lời nói bình thản của mẹ, của em ta làm cho chúng  rối loạn. Tiếng mõ tre trong đêm của làng ta vây chúng trong một vòng vây kín  đặc. Chúng nó sợ tất cả. Sợ một đôi mắt im lặng, một đôi môi mỉm cười, một  cánh tay gặt lúa, chúng nó sợ màu vàng của chiếc áo cà sa, sợ màu đỏ ửng trên  má chị sinh viên; chúng nó sợ một hạt muối trắng mặn mà, một tiếng tơ-rưng  trong và ngọt... Nụ cười, lời nói, tiếng đàn, phát súng, mũi chông, tiếng kinh cầu  siêu... tất cả, tất cả dồn lên trong một cuộc xung phong tới tấp, một cuộc tiến  công chưa bao giờ đông đảo và rập ràng như vậy.

   Chúng nó có vũ khí Mỹ. Trả lời chúng, ta có tiếng nói của vũ khí và vũ khí  của tiếng nói. Miệng súng và miệng người yêu ta đều phun cái chết vào mặt  quân thù.

   Mặt trận của chúng ta mở khắp nơi, trong rừng sâu, trên đồng lúa, giữa  đường phố, trên chuyến tàu, trong nhà chùa, trong trường học và cả trong trại  lính của chúng. Một cuộc nội công ngoại kích rầm rập, ào ạt. Không có hậu  phương, đâu cũng là tiền tuyến, không có phía sau, đâu cũng là phía trước.  Mười bốn triệu người ra trận. Một cuộc chiến tranh và một cuộc khởi nghĩa rùng  rùng. Chúng ta vây giặc trong một vòng vây mười bốn triệu nghĩa quân.

   Từ xưa đến nay, bao giờ cũng vậy, con người tự nhận thức ra mình trong  quá trình chiến đấu với kẻ thù và với thiên nhiên. Mười năm đánh nhau với kẻ  thù tàn bạo nhất của loài người, chúng ta đã học được rất nhiều. Song, điều lớn  lao và đẹp đẽ nhất là chúng ta đã học hiểu thêm về chính bản thân chúng ta.  Qua máu lửa, chúng ta hiểu kỹ hơn, sâu hơn, quả tim Việt Nam chúng ta đúc  bằng gang và trí tụê chúng ta đã chín đến chừng nào. Chúng ta hiểu rõ hơn sức  mạnh của cánh tay ta, uy lực của lời nói ta. Chúng ta đổi mười năm xương máu,  hàng vạn đồng chí và đồng bào rơi đầu, hàng triệu người thành thương tật, để  soi sáng thêm những đức tính tiềm tàng của con người Việt Nam và con người  lao động. Chúng ta hiểu chúng ta rồi, và chính vì thế mà sức chúng ta càng  mạnh hơn bao giờ hết, niềm tin của chúng ta càng vững như thép và tình yêu  dân tộc trong chúng ta càng thấm sâu vô cùng.
Logged
Trang: 1 2 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM