Hình ảnh & Tiểu sử Lãnh đạo, Tướng lĩnh, Sỹ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam

<< < (44/102) > >>

SukhoiSu-47Berkut:
Đại tướng Lê Trọng Tấn, tên thận là Lê Trọng Tố, bí danh Ba Long, sinh tại làng Nghĩa Lộ, xã Yên Nghĩa, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây trong một gia đình trí thức có 7 người con (5 trai, 2 gái). Cha ông là một thày đồ nghèo mất khi ông mới lên 7 tuổi, ông trưởng thành nhờ sự tần tảo của người mẹ. Theo những người trong dòng họ Lê ở Yên Nghĩa thì dòng họ ông bắt nguồn từ chúa Trịnh, chính vì vậy mà người em của ông mang họ Trịnh. Xã Yên Nghĩa là một xã có truyền thống yêu nước cũng như có truyền thống cách mạng, thời kì trước cách mạng, nhân dân xã đã nuôi giấu nhiều nhà cách mạng, mà sau này họ trở thành những lãnh đạo cao cấp của Việt Nam như Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Trần Đăng Ninh, Trần Quốc Hoàn...Đây chính là An toàn khu của Xứ ủy Bắc Kỳ thời tiền khởi nghĩa.

Cảm ơn Panphilov đã đưa tiểu sử các vị tướng cũng như giới thiệu tóm tắt nhưng nêu bật được những nét điển hình của mỗi vị. Tuy nhiên, tôi đề nghị nên chỉnh sửa và bỏ đoạn đỏ ở trên, vì điều đó là không chính xác. Quả thật cũng có một vài ý kiến nói rằng "có thể là như thế" nhưng trên thực tế không có một cứ liệu nào chứng minh họ Lê ở Yên nghĩa bắt nguồn từ họ Trịnh (suy luận là do sợ Quang Trung tiêu diệt nhà Trịnh khi lấy danh nghĩa: “Dĩ phù Lê diệt Trịnh vi danh” nên có thể lúc bấy giờ có sự thay đổi đó). Việc em trai Đại tướng tự nghĩ và chọn cho mình cái tên Trịnh Quý Đông chỉ là vấn đề cá nhân, còn tên cha mẹ đặt hai anh em là Lê Trọng Tố và Lê Quý Giả (cụ Giả mới mất khoảng chục năm, bia mộ là Lê Quý Giả)...nên thông tin này mà diễn đàn đưa là không chính xác, dù có thể đựơc trích từ một nguồn “đáng tin cậy” nào đó, ta có thể xem xét lược bỏ mà không ảnh hưởng đến tính chân thực, toàn vẹn của sự việc.

panphilov:


Thiếu tướng Phó Giáo sư Hoàng Bát (10.02.1932) từng giữ các chức vụ : Trưởng Khoa Phòng không Học viện Quân sự cấp cao, Sư đoàn trưởng Sư đoàn Phòng không 363, 369, 367 Quân chủng Phòng không, Phó Phòng Tác chiến Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không.

Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến công (hạng Nhì, Ba), Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy chương Vì sự nghiệp Khoa học và Công nghệ.

Thiếu tướng (8.1980).

Thiếu tướng Hoàng Bát quê ở xã Khai Sơn, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An. Tháng 9 năm 1949, ông tham gia Thiếu sinh quân Khu 4. Tháng 6 năm 1950, ông được cử đi học khóa 1 Trường Sĩ quan Pháo binh Liên khu 3-4, tiếp đó, tháng 1 năm 1951 ông là học viên Trường Quân chính Đại đoàn 304 ; 7.1951, học lớp súng cối 120mm tại Đại đoàn Pháo binh 351 ; 4.1952, tiểu đội trưởng, trung đội phó (8.1953) Đại đội 112 Tiểu đoàn 83 Trung đoàn 675 Đại đoàn Pháo binh 351 ; 10.1953, trợ lý Ban Chính trị Trung đoàn Pháo Phòng không 367 Đại đoàn Pháo binh 351 chiến đấu ở Điện Biên Phủ Đông-Xuân 1953-1954 ; 9.1954, phụ trách Hành chính văn thư Phòng Chính trị Đại đoàn Pháo Phòng không 367 Bộ Tư lệnh Pháo binh.

Tháng 11 năm 1956, ông được cử giữ chức vụ Bí thư Chủ nhiệm Phòng Chính trị Đại đoàn Pháo Phòng không 367 Bộ Tư lệnh Pháo binh ; 3.1958, Bí thư Chủ nhiệm Phòng Chính trị Đại đoàn 367 ; 2.1959, đi học tại Trường Văn hóa Lạng Sơn ; 9.1961, được cử đi học tại Học viện Phòng không Ka-li-nin của Liên Xô.

Sau khi về nước, tháng 10 năm 1964 ông là Chính trị viên Đội Ra-đa Trung đoàn 290 Quân chủng Phòng không Không quân đi phục kích đánh máy bay thả biệt kích ở Mai Sưu (Bắc Giang) ; 2.1965, Chính trị viên Đại đội 14,5mm bảo vệ Sân bay Vinh ; 3.1965, Tham mưu trưởng, Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 62 Trung đoàn Tên lửa Phòng không 238 Quân chủng Phòng không Không quân (2.1966) ; 5.1967, tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 62 Trung đoàn Tên lửa Phòng không 236 Quân chủng Phòng không Không quân ; 3.1968, Trợ lý Phòng Tách chiến Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không Không quân ; 1.1969, công tác ở bộ phận tổng kết Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không Không quân ; 10.1969, trợ lý Phòng Huấn luyện Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không Không quân ; 12.1970, trung đoàn phó Trung đoàn Tên lửa 236 Sư đoàn Phòng không 361 Quân chủng Phòng không Không quân ; 9.1972, trung đoàn trưởng Trung đoàn Tên lửa 236 ; 9.1975, tiếp tục đi học tại Trường Cao đẳng Phòng không Ô-đéc-xa Liên Xô.

Tháng 8 năm 1976, về nước, ông được cử giữ chức vụ Phó Phòng Tác chiến Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không Không quân ; 6.1977, trưởng Phòng Tác chiến Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không ; 5.1978, Phó Tư lệnh Sư đoàn Phòng không 367 Quân chủng Phòng không ; 4.1979, Tư lệnh Sư đoàn Phòng không 367 ; 8.1979, Tư lệnh Sư đoàn Phòng không 369 ; 10.1979, Tư lệnh Sư đoàn Phòng không 363, Đủy ủy viên Quân chủng Phòng không ; 9.1981, đi học tại Học viện Quân sự cấp cao ; 8.1982, tiếp tục giữ chức vụ Tư lệnh Sư đoàn Phòng không 363 ; 4.1984, giáo viên Khoa Phòng không Học viện Quân sự cấp cao ; 8.1987, Phó Khoa Phòng không Học viện Quân sự cấp cao ; 6.1989, Trưởng Khoa Phòng không Học viện Quân sự cấp cao cho đến khi nghỉ hưu 1.1.1998. Thiếu tướng Hoàng Bát hiện đang sống tại Hà Nội.




panphilov:


Thiếu tướng Đào Sơn Tây (bí danh : Bạch Vân, Tư Khanh ; 10.01.1915-16.06.1998) từng giữ các chức vụ : Phó Chính ủy Quân khu 7, Chính ủy Cục Hậu cần Quân giải phóng miền Nam, Chính ủy Bộ Tư lệnh Pháo binh, Phụ trách Pháo binh Bộ Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam.

Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công (hạng Nhất, Nhì), 2 Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Chiến sĩ Giải phóng (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (4.1974).

Thiếu tướng Đào Sơn Tây quê tại xã Tân Ninh, quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh. Năm 1936 ông tham gia đấu tranh cùng giới thợ ở Sài Gòn Chợ Lớn. Trong quá trình đấu tranh, ông dần giác ngộ lý tưởng Cách mạng và bắt đầu hoạt động trong phong trào công nhân ở các công xưởng Ba Son, Sài Gòn (1938). Năm 1944, ông chuyển về gây dựng cơ sở và hoạt động ở đề pô xe lửa Dĩ An và các làng phụ cận, Sài Gòn. Tháng 8 năm 1945, ông tham gia huấn luyện quân sự, chính trị…cho Thanh niên cứu quốc và Thanh niên tiền phong khu vực Dĩ An, tham gia lãnh đạo giành chính quyền.

Sau khi thực dân Pháp núp bóng quân Anh quay trở lại xâm lượng Nam Bộ, tháng 9 năm 1945 ông được cử giữ chức vụ Chỉ huy phó Bộ đội khu vực Dĩ An thuộc Đặc khu Sài Gòn Chợ Lớn, những đơn vị dưới quyền chỉ huy của ông được gọi là Bội đội Đào Sơn Tây giống như các đơn vị khác thời đó : Bộ đội Huỳnh Văn Nghệ, Bộ đội Tô Ký… ; 1947, ông lần lượt giữ các chức vụ đại đội phó, đại đội trưởng Đại đội 10 Chi đội 6 Gia Định rồi tiểu đoàn phó, tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 917 Trung đoàn 306 Nam Bộ ; 1948, trung đoàn phó Trung đoàn 306 Nam Bộ, Chỉ huy trưởng Liên khu 17 ; 1949, trung đoàn phó Liên trung đoàn 306-312 rồi tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Gia Định, Ủy viên Ban Quân sự Tỉnh ủy ; 1951, sau khi tổ chức lại tỉnh đội Gia Định, ông giữ chức vụ tỉnh đội phó ; 1953, tập kết ra Bắc theo học Trường Đảng Trung ương và được cử đi học Pháo cao xạ ở Trung Quốc.

Năm 1955, ông phụ trách bộ phận binh khí thuộc Lớp chuyển binh chủng Đại đoàn Pháo cao xạ 367 Bộ Tư lệnh Pháo binh ; 1956, Tham mưu trưởng Đại đoàn Pháo cao xạ 367 Bộ Tư lệnh Pháo binh ; 3.1957, tham mưu trưởng Sư đoàn 465 Bộ Tư lệnh Pháo binh ; 3.1958, Trưởng Phòng Huấn luyện cao xạ Bộ Tư lệnh Pháo binh.

Trước yêu cầu mới của Cách mạng miền Nam, tháng 6 năm 1961 ông về Cục Cán bộ vào Nam chiến đấu ; 1962, phụ trách Pháo binh Bộ Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam Việt Nam ; 1966, ông giữ chức vụ Chính ủy Phòng pháo binh Bộ Tư lệnh miền cho đến cuối năm 1967 là Chính ủy Bộ Tư lệnh Pháo binh (Đoàn 69) ; 10.1968, Chính ủy Cục Hậu cần Quân giải phóng miền Nam.

Sau khi miền Nam được giải phóng, thống nhất đất nước, ông giữ chức vụ Phó Chính ủy Quân khu 7 cho đến khi nghỉ hưu ngày 13 tháng 12 năm 1978. Thiếu tướng Đào Sơn Tây mất ngày 16 tháng 6 năm 1998 tại thành phố Hồ Chí Minh.




panphilov:


Thiếu tướng Trần Đình Cửu (bí danh : Nguyễn Xuân Trường, Trần Văn Hiệu ; 17.12.1925-23.12.2002) từng giữ các chức vụ : Phó Tư lệnh về Chính trị Quân khu 7, Cục trưởng Cục Cán bộ Tổng cục Chính trị, Chính ủy Trường Đại học Kỹ thuật Quân sự (nay là Học viện Kỹ thuật Quân sự).

Huân chương Độc lập hạng Nhì, Huân chương Quân công (hạng Nhất, Ba), Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (1.1980).

Thiếu tướng Trần Đình Cửu nguyên quê tại xã Vị Dương, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định nhưng ông lại lớn lên tại thành phố cảng Hải Phòng-một thành phố của công nhân lao động có truyền thống Cách mạng.

Năm 1939, ông vào học năm nhất Trường Bonnal (nay là Trường Ngô Quyền) lớp Cao đẳng tiểu học. Đây là một ngôi trường nổi tiếng của Hải Phòng, nơi học tập của nhiều nhà Cách mạng cũng như lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Quân đội sau này. Trước năm 1930, đã có nhiều nhà cách mạng hoạt động trong học sinh Bonnal, đó là Tổ ‘’Học sinh Đoàn’’ do ông Nguyễn Văn Linh phụ trách.

Những năm 1936-1939, Đảng chủ trương thành lập những hội, đoàn để tập hợp và giáo dục quần chúng như Hội Ái hữu, Hội Tương tế, Hội Hướng đạo…Lúc này ở Hải Phòng có hai tổ chức Hướng đạo : đạo Yên Tử gồm các thanh niên, học sinh nhà giàu và đạo Cửa Cấm gồm thanh niên, học sinh nhà nghèo. Ông tham gia vào đạo Cửa Cấm trong đoàn Quang Trung. Trong tổ chức hướng đạo, ông được ông Lưu Thi (Thiếu tướng Hoàng Thế Thiện), Vũ Quý…chỉ bảo, hướng dẫn và định hướng tới con đường Cách mạng giải phóng dân tộc.

Theo gợi ý của ông Lưu Thi, ông cùng bạn bè thành lập tổ ba người, bước đầu làm công tác liên lạc rồi sau đó tham gia phổ biến các bài hát yêu nước trong học sinh, thanh niên, truyền bá chữ quốc ngữ cho công nhân, thợ thuyền nghèo ở Trường Hạ Lý dưới danh nghĩa Hướng đạo sinh cũng như làm việc thiện…Cũng dưới sự dìu dắt của ông Lưu Thi, ông dần tiếp xúc với sách báo tiến bộ và đặc biệt là sách báo về cách mạng về Xã hội Chủ nghĩa.

Tháng 11 năm 1944, ông tham gia Thanh niên cứu quốc của Mặt trận Việt Minh tỉnh Quảng Yên. Cách mạng tháng 8 thành công, là người có học thức ông được đoàn thể và tổ chức cử đi học Trường Quân chính khóa 5.

Thực dân Pháp núp bóng quân Anh quay trở lại gây hấn ở Nam Bộ, tháng 11 năm 1945 ông lên đường Nam tiến vào chiến đấu tại Mặt trận Biên Hòa Đồng Nai ; 11.1946, làm Huấn luyện viên Trường Quân chính Chi đội 10 Khu 7, Khu 8 ; 4.1948, Chính trị viên Bộ đội chủ lực Khu 7 ; 4.1949, Chính trị viên Tiểu đoàn 303 Bộ đội chủ lực Khu 7 ; 5.1951, Chính trị viên Tiểu đoàn 304 Trung đoàn Đồng Nai chủ lực của Nam Bộ ; 1.1952, Chính trị viên Tiểu đoàn 307 chủ lực Nam Bộ ; Khi thành lập Phân liên khu miền Tây Nam Bộ, tháng 12.1952 ông chuyển về làm Chính trị viên Tiểu đoàn 410 tiểu đoàn tập trung của tỉnh Cần Thơ ; 10.1954, Phó Chính ủy Trung đoàn 2 Phân Liên khu miền Tây Nam Bộ. 

Sau khi tập kết ra Bắc, tháng 4 năm 1955 ông là Trưởng Ban tuyên huấn Phòng Chính trị Phân liên khu miền Tây Nam Bộ ; 6.1955, ông giữ quyền Chính ủy Trung đoàn pháo Sư đoàn 332 Quân khu Đông Bắc ; 5.1956, Chính ủy Trung đoàn cần vụ đối không (Trung đoàn 4 đơn vị tiền thân bộ đội Ra-đa) Đại đoàn 367 ; 5.1957, Trưởng Phòng Cán bộ Tổng cục Cán bộ Bộ Quốc phòng ; 3.1961, được cử đi học Trung cao Chính trị ; 3.1962, Trưởng Phòng Binh chủng Hậu cần, Cục Cán bộ Tổng cục Chính trị Bộ Quốc phòng ; 7.1962, Cục phó Cục Cán bộ Tổng Cục Chính trị. Bước vào cuộc Kháng chiến chống Mỹ cứu nước, từ tháng 12 năm1963 đến 1975 ông nhiều lần là Phái viên của Bộ vào Chiến trường miền Nam.

Sau khi đất nước hoàn tòan thống nhất, tháng 10 năm 1976 ông là Chính ủy Trường Đại học Kỹ thuật Quân sự kiêm Bí thư Đảng ủy trường ; 6.1977, được bổ nhiệm làm Cục trưởng Cục Cán bộ Tổng cục Chính trị ; 9.1979, đi học bổ túc tại Học viện Quân sự cấp cao ; 8.1980, vào giữ chức vụ Phó Tư lệnh về Chính trị kiêm Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 7, 10.1983, khi quân đội thực hiện hệ hội đồng chính trị, ông là Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 7 ; năm 1985 ông là Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 7 đến khi nghỉ hưu 1.7.1988. Thiếu tướng Trần Đình Cửu mất ngày 23.11.2002 tại thành phố Hồ Chí Minh.




panphilov:


Trung tướng Vũ Xuân Vinh (bí danh : Võ Xuân Vinh, 09.02.1923) từng giữ các chức vụ : Cục trưởng Cục liên lạc đối ngoại Bộ Quốc phòng, Trưởng Khoa Phòng không Học viện Quân sự cấp cao, Tham mưu phó Quân chủng Phòng không Không quân.

Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến công (hạng Nhất, Nhì), Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy chương Vì sự nghiệp thanh niên, Huy chương Vì sự nghiệp Lao động Thương binh Xã hội, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng, Huy chương vàng học tập tại Học viên Pháo binh Tên lửa Lê-nin-grát (Liên Xô).

Thiếu tướng (12.1984), Trung tướng (6.1992).

Trung tướng Vũ Xuân Vinh quê tại xã Trực Chính, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định. Trước Cách mạng tháng 8, ông theo học tại Hà Nội. Năm 1944, tốt nghiệp Trường Bưởi (nay là Trường Chu Văn An). Tháng 5 năm 1945, ông tham gia vào hoạt động của sinh viên và thanh niên cứu quốc, bị phát xít Nhật bắt giam từ tháng 5 đến tháng 8 năm 1945. Sau khi thoát khỏi nhà tù phát xít, ông trở về địa phương tham gia giành chính quyền, là Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Trực Chính, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.

Tháng 3 năm 1946, ông được cử đi học tại Trường võ bị Trần Quốc Tuấn khóa 1 ; 12.1946, trung đội phó rồi trung đội trưởng Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 147 Vệ binh Bộ Tổng Tham mưu Bộ Quốc phòng ; 9.1947, đại đội trưởng Đại đội 2 Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 147 chủ lực của Bộ Quốc phòng ; 6.1948, Trưởng ban Tác huấn Trung đoàn 140 ; 10.1948, Phó Ban Tác chiến Mặt trận Trung Du ; 6.1949, Phó Ban Tác chiến Mặt trận Bắc Kạn ; 8.1949, Phó Ban Tác huấn Đại đoàn 308 ; 2.1950, Tham mưu trưởng Trung đoàn 36 Đại đòan 308 ; 2.1951, đi dự Đại hội Thanh niên Sinh viên Quốc tế rồi là phái viên Tổng cục Chính trị ; 3.1952, Tham mưu phó Trung đoàn 36 Đại đoàn 308 ; 6.1953, Tham mưu trưởng Trung đoàn 36 Đại đoàn 308 ; 6.1954, thư ký đoàn Hội nghị Trung Giã đấu tranh với thực dân Pháp thực hiện Hiệp định Giơ-ne-vơ về Việt Nam ; 10.1954, đi học Trường Sĩ quan Pháo binh, sau đó là Tham mưu trưởng Trung đoàn Pháo binh Đại đoàn Pháo binh 349 Bộ Tư lệnh Pháo binh.

Tháng 6 năm 1955, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Trưởng ban Tác huấn Đại đoàn Pháo binh 349 ; 6.1958, theo học ngoại ngữ tại Trường Văn hóa Bộ Quốc phòng ; 1959, được cử đi học tại Học viện Pháo binh Tên lửa Lê-nin-grát của Liên Xô.

Sau khi về nước, tháng 10 năm 1964 ông là Tham mưu trưởng Lữ đoàn 368 Bộ Tư lệnh Pháo binh ; 3.1966, Tham mưu phó phụ trách về Tên lửa Quân chủng Phòng không Không quân ; 3.1967, Tha mưu phó Bộ Tư lệnh Binh chủng Tên lửa (Sư đoàn 369) Quân chủng Phòng không Không quân ; 2.1968, Phó Tư lệnh Sư đòan Phòng không 361 Quân chủng Phòng không Không quân ; 10.1969, Tham mưu phó Quân chủng Phòng không Không quân ; 2.1974, Tư lệnh Sư đoàn Phòng không 375 Quân chủng Phòng không Không quân.

Tháng 6 năm 1976, ông về giữ chức vụ Trưởng khoa Phòng không tại Học viện Quân sự cấp cao ; 1.1980, Cục trưởng Cục Liên lạc Đối ngoại Bộ Quốc phòng cho đến khi nghỉ hưu tháng 9 năm 1996 ; Mặc dù nghỉ hưu, từ tháng 1 năm 1997 ông tiếp tục tham gia hoạt động của Hội Cựu Chiến binh Việt Nam với chức vụ Ủy viên Thường vụ Trung ương Hội.




Navigation

[0] Message Index

[#] Next page

[*] Previous page