Hình ảnh & Tiểu sử Lãnh đạo, Tướng lĩnh, Sỹ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam

(1/102) > >>

panphilov:
Thiếu tướng Nguyễn Sơn, lưỡng quốc tướng quân



Thiếu tướng Nguyễn Sơn (01/10/1908 – 21/10/1956), nguyên Tư lệnh kiêm Chính ủy Liên khu IV Quân đội Nhân dân Việt Nam, nguyên Giám đốc Toà soạn “Tạp chí Huấn luyện Chiến đấu” Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc.

Huân Chương Quân công hạng Nhì của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nay là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Huân chương Bát nhất hạng Nhất, Huân chương Giải phóng hạng Nhất của Nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

Có tượng đồng đặt tại Bảo tàng Quân đội Nhân dân Việt Nam (Hà Nội) và Bảo tàng Giải phóng quân Trung Quốc (Bắc Kinh). Tại Thủ đô Hà Nội và TP Hồ Chí Minh có 2 con đường mang tên ông - Nguyễn Sơn - viên tướng duy nhất trên thế giới làm tướng của 2 quốc gia.

Thiếu tướng (1948 trong đợt phong quân hàm cấp tướng đầu tiên của Quân đội)

“Tướng quân Hồng Thủy đã có cống hiến rất lớn cho cách mạng Trung Quốc..., nhân dân Trung Hoa mãi mãi nhớ ơn” (Nguyên Soái Bành Đức Hoài, nguyên Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc)

“- Không chính xác! Đồng chí ấy tham gia quân đội từ thời kỳ Hoàng Phố, liệu xem có thể sửa thành tướng cấp quân đoàn chính quy được không?...” (Chủ tịch Mao Trạch Đông)

“Hồng Thủy quả là một con ngựa bất kham đấy, điều khiển không tốt, không cẩn thận, đồng chí ấy sẽ... đá người khác đấy!” (Chủ tịch Mao Trạch Đông)

‘’Nguyễn Sơn là một chiến sĩ cộng sản kiên định, một con người có khí phách, có chút ngang tàng, có khả năng về chính trị, về tuyên truyền, về văn nghệ. Anh lại có phong cách rất riêng - rất là Nguyễn Sơn. Anh coi trọng bạn bè, coi trọng con người, coi trọng bồi dưỡng đội ngũ kế cận.

Trong lịch sử cách mạng Việt Nam cũng như trong lòng mỗi người chúng ta, anh vẫn còn sống mãi với hình ảnh một người cộng sản kiên định, một người bạn, người đồng chí, một người chiến hữu thân thiết và rất mực chân thành, suốt đời phục vụ sự nghiệp cách mạng của nước ta và nước bạn.’’ (Đại tướng Võ Nguyên Giáp)

Thiếu tướng Nguyễn Sơn tên thật là Vũ Nguyên Bác, bí danh Lý Anh Tự, Hồng Thủy, quê tại làng Kiêu Kỵ, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội. Nguyễn Sơn rời quê hương sang Pháp năm 1923. Năm 1925, ông tham gia Việt Nam thanh niên cách mạng ông hội, được Nguyễn Ái Quốc giới thiệu sang Trung Quốc học Trường Võ bị Hoàng Phố.

Tháng 8/1927, ông gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc. Tháng 12 năm 1927, ông tham gia khởi nghĩa ở Quảng Châu. Năm 1929, ông tham gia Hồng quân Công nông Trung Quốc, lần lượt giữ các chức vụ; Chính trị viên Đại đội, Chính uỷ Trung đoàn, Chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn 34, Quân đoàn 12. Tháng 1/1934, ông là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản nước Cộng hoà Xô viết Trung Hoa, Uỷ viên Chính phủ Dân chủ Công nông Xô Viết Trung ương. Từ năm 1934 - 1936, ông tham gia “Vạn lý trường chinh”. Sau đó là Tổng Biên tập báo “Kháng địch” của Biên khu Tấn Sát Ký.

Trong cuộc Vạn lý trường chinh của Hồng quân Trung Quốc nhằm rút lui, bảo toàn lực lượng, lập căn cứ mới thuận lợi kéo dài hơn một năm, trải dài hai vạn năm ngàn dặm. Lúc đi 72 vạn người, đến nơi còn 7 vạn 2, phải vượt qua núi tuyết, vượt qua đồng cỏ mênh mông hoang vắng. Vậy mà Nguyễn Sơn đi tới 3 lần trên con đường ấy để tiền trạm và giải quyết thương bệnh binh. Gần 2 năm trời hành quân có lúc đi môt mình, lạc đường đến vùng dân tộc thiểu số ông phải giả câm xin chăn dê để có cơm ăn, dưỡng sức tìm đường. Về tới Diên An gầy ốm như một bộ xương, quần áo rách không ai nhận ra. Trong khoảng thời gian ấy ông bị khai trừ Đảng 3 lần vì đấu tranh với những điều sai trái và bị vu cáo là phản động, là gián điệp quốc tế, có lúc suýt bị chặt đầu. Nhưng cấp trên nhận ra sai trái lại khôi phục Đảng tịch cho ông. Năm 1938, ông là giáo viên chính trị Trường Cán bộ quân chính kháng Nhật, Biên khu Tấn Sát Ký.

Tháng 8/1945, theo chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông về nước tham gia lực lượng vũ trang. Tháng 10-1945, Chính phủ quyết định thành lập Uỷ ban kháng chiến miền Nam Việt Nam. Trên thực tế lúc này Uỷ ban kháng chiến Miền Nam mới chỉ đạo được ở các tỉnh Nam Trung Bộ, Nam Bộ vẫn còn do xứ uỷ Nam Bộ lãnh đạo. Uỷ ban kháng chiến miền Nam do Tướng Nguyễn Sơn được Trung ương phân công làm chủ tịch. Vào cuối tháng 11-1945, trước khi vào Nam công tác, ông đã cùng Tổng tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái bàn bạc việc thực hiện Chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh và xây dựng hai trường quân sự (Một trường ở miền Bắc và một trường ở miền Nam). UBKC miền Nam Việt Nam lúc ấy được Trung ương chỉ định ông Hoàng Quốc Việt uỷ viên Thường vụ Trung ương Đảng làm chính trị uỷ viên; tướng Nguyễn Sơn làm chủ tịch kiêm Hiệu trưởng trường Trung học lục quân Quảng Ngãi; tướng Nguyễn Chánh làm uỷ viên UBKC miền Nam Việt Nam đồng thời là uỷ viên Trưởng quốc phòng Trung bộ (chủ yếu là các tỉnh phía Nam Trung Bộ), sau này gọi là Liên khu 5.

Tháng 12/1945, thực dân Pháp từ phía Đông Nam Bộ đã đánh lấn lần lượt chiếm các vùng Ninh Thuận, Bình Thuận, Đồng Nai thượng, Daklak, rồi đến Nha Trang, Khánh Hoà và cả Tây Nguyên. Quân đội ta còn non trẻ lại phải đương đầu với một lực lượng mạnh của quân lê dương Pháp, cộng với hàng nghìn quân Nhật thiện chiến. Tuy vậy quân ta vẫn cương quyết chống cự, không cho chúng lấn ra Phú Yên và ở Tây Nguyên, chúng chỉ có thể lập căn cứ An Khê, phía ngoài Pleiku.

Tướng Nguyễn Sơn đã cùng với UBKCMN chủ trương tập trung lực lượng đánh sâu vào vùng địch hậu ở Khánh Hoà, đồng thời tăng cường cán bộ lãnh đạo, chỉ huy cho các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận... tăng cường đánh địch. Thế trận ta hoàn toàn chủ động, nhất là sau khi giặc Pháp phản bội hiệp định sơ bộ 6/3/1946. Tháng 4/1946, Nguyễn Sơn cho mở lớp bổ túc cán bộ Trung đoàn, đồng thời xúc tiến chiêu sinh, mở trường Trung học Quân sự tại Quảng Ngãi do ông làm hiệu trưởng khai giảng vào ngày 19/5/1946.

Tháng 1/1947, ông được bổ nhiệm giữ chức Cục trưởng Cục Quân huấn Bộ Tổng Tham mưu. Tháng 7/1947, ông là Khu trưởng kiêm Chính uỷ Liên khu 4. Ngày 19/ 1/ 1948, ông được Chủ tịch Chính phủ phong quân hàm thiếu tướng Quân đội nhân dân Việt Nam trong đợt phong tướng đầu tiên của Quân đội theo sắc lệnh số 111/SL.

Tháng 10 năm 1950, ông trở lại Trung Quốc, phụ trách khoa Việt Nam bán Mặt trận thống nhất Trung ương và học tại Học viện Quân sự Nam Ninh. Năm 1954, ông tốt nghiệp loại xuất sắc, được cử đến Bộ Tổng Giám Huấn luyện Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc giữ chức Phó cục trưởng Cục Điều lệnh. Sau đó được bổ nhiệm Giám đốc Toà soạn “Tạp chí Huấn luyện Chiến đấu”. Ngày 27/9/1955, ông được Nhà nước Trung Quốc phong quân hàm thiếu tướng. Ông là vị tướng duy nhất của Trung Quốc là người nước ngoài.

Năm 1956, do bệnh tình trầm trọng, ông xin về nước và đã từ trần ngày 21/10/1956. Lễ tang được Nhà nước Việt Nam tổ chức trọng thể và an táng tại nghĩa trang Mai Dịch. Ông là tác giả của nhiều tác phẩm và bài viết về quân sự và văn học bằng tiếng Việt và tiếng Trung Quốc.

Tướng Nguyễn Sơn là một người có tài diễn thuyết và phát biểu trước đám đông. Lý luận của ông có tình, có lí lại không cứng nhắc rất dễ đi vào lòng người. Chính nhờ tài năng này đã giúp ông hoàn thành xuất sắc công tác dân vận suốt cuộc Vạn lý trường chinh ở Trung quốc rồi trong quãng thời gian làm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến miền Nam Việt Nam rồi Tư lệnh quân khu IV.

Tướng Nguyễn Sơn là người có lòng nhân ái, thương yêu cán bộ, chiến sĩ dưới quyền của mình; chan hoà mật thiết với đồng bào, cả những đồng bào tôn giáo luôn tỏ thái độ thân ái, đoàn kết và cởi mở. Các vị cao tăng, linh mục, tu sĩ đều tỏ lòng quý mến. Ông rất giản dị, với bộ quần áo chàm, may theo kiểu áo người dân tộc thiểu số miềm Bắc, miệng luôn ngậm tẩu thuốc, y hệt như người nông dân bình thường, không ai biết đó là vị tướng.

Tướng Nguyễn Sơn còn là một người rất yêu và am tường văn hóa – nghệ thuật, đồng thời biết trân trọng các văn nghệ sĩ. chính Nguyễn Sơn là ngưòi bênh vực, bảo vệ, cho khôi phục các hình thức sân khấu tuồng, chèo vì sau Cách mạng tháng Tám bị những người hữu khuynh toan dẹp bỏ. Ông chi tiền để nhân dân Thanh Hóa dựng lại Hội Múa dân gian cổ truyền. Ông mời Đinh Ngọc Liên - Quản Liên vốn chỉ huy đội kèn Bảo an của Bảo Đại-trao nhiệm vụ khôi phục lại đội kèn, bây giờ là đoàn quân nhạc của quân đội ta. Ông cũng rất khuyến khích phát triển các vốn cổ văn hóa nghệ thuật truyền thống: tuồng, chèo, cải lương, dân ca... Chuyện ông tướng quân sự mà giảng về kịch Lôi Vũ suốt mấy buổi liền vẫn hấp dẫn người nghe. Đến người dịch Lôi Vũ từ tiếng Trung qua Việt ngữ – Đặng Thai Mai – nghe xong cũng phải thốt lên lời khâm phục sự uyên thâm văn học của Nguyễn Sơn.

Tướng Nguyễn Sơn luôn có cái nhìn, cách nghĩ vô cùng nhân văn. Ông không thích những thứ cứng nhắc, khuôn mẫu, gò ép con người…điều này thể hiện rõ qua cái cách mà ông bảo vệ truyện Kiều. Ông phê phán những Trần Trọng Kim, Phạm Quỳnh, Ngô Đức Kế... đã đành. Ông còn làm giật thót người, tái mặt cả những Hoài Thanh, Đào Duy Anh, Trương Tửu... và cả cụ Huỳnh Thúc Kháng. Phê rằng nghiên cứu Kiều mà đứng trên lập trường chính trị, lấy quan điểm con người thời nay để chê bai Nguyễn Du là “tiêu cực”, là “định mệnh”, là “có hậu” một cách gượng gạo v.v..., thì thật là phi lịch sử... Tướng Nguyễn Sơn không thích nghe những như: “Bao chiến sĩ anh hùng lạnh lùng vung gươm ra sa trường...” hay “Không quân Việt Nam lướt bay rầm trời... bom đạn gầm réo”... bởi theo ông thì “Nó đế quốc quá!”.

Là một người tham gia Việt Nam thanh niên Cách mạng hôi từ rất sớm, lại tham gia cuộc Vạn lý trường chinh của Hồng quân Trung quốc nghĩa là ông là một người Cộng sản thực thụ. Nhưng qua những gì ông thể hiện thì ông chỉ là một người chiến đấu giành độc lập, hòa bình cho Tổ quốc, chống lại chiến tranh và xây dựng tình hữu nghị giữa các dân tộc. Với ông Tổ quốc là trên hết.

Tham khảo: Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, Báo Quân đội Nhân dân, Báo điện tử Quảng Ngãi.

panphilov:


Trung tướng Lê Quang Đạo (8/8/1921 – 24/7/1999), nguyên Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, Chủ tịch Đoàn chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Sao Vàng (truy tặng 2003), Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang Nhất – Nhì – Ba, Huy chương Quân kỳ Quyết thắng. Huân chương Itxala (Itxala: Nhân dân) của Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.

Thiếu tướng (1959), Trung tướng (1974)

"Yêu anh từ lần gặp đầu tiên. Người ấy đã mang trong mình một sức mạnh làm tôi tin tưởng gửi gắm cả cuộc đời" (Nhà văn Nguyệt Tú, vợ Trung tướng Lê Quang Đạo).

‘’Anh Lê Quang Đạo có đức tính thật quý báu, rất hiếm có của một cán bộ lãnh đạo cấp cao của Đảng và của quân đội mà không phải nhiều người đều có được. Đức tính quý báu ấy của anh có sức cảm hoá lòng người mà bất kỳ ai, dù chỉ được một lần gặp anh cũng đều có được cái cảm nhận sâu sắc ấy.’’ (Thượng tướng Nguyễn Trọng Xuyên).

“Không có sự lựa chọn nào tốt hơn, un choix heureux (một sự chọn lựa thích hợp)” ( Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, nói khi Trung tướng Lê Quang Đạo được đề xuất giữ trách nhiệm Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam)

Trung tướng Lê Quang Đạo tên thật là Nguyễn Đức Nguyện quê tại xã Đình Bảng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Ngoài ra ông còn các bí danh sau đây : Nho Mẫn, Minh, Miện, Đăng, Trần Hoạt… Năm 1938, ông tham gia phong trào thanh niên dân chủ ở Hà Nội. Năm 1939, ông tham gia phong trào thanh niên Phản đế Đông Dương, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1940.

Từ năm 1940-1942, ông là Bí thư chi bộ xã Đình Bảng, Uỷ viên Ban cán sự phủ Từ Sơn, Uỷ viên Ban Cán sự tỉnh Bắc Ninh, Bí thư Ban Cán sự tỉnh Bắc Ninh, Bí thư Ban Cán sự tỉnh Phúc Yên rồi làm Xứ uỷ viên Xứ uỷ Bắc kỳ. Từ năm 1943 đến tháng 5/1945, ông là Bí thư Ban Cán sự Hà Nội, Uỷ viên Thường vụ Xứ uỷ Bắc kỳ, phụ trách tờ báo “Quyết thắng” và các lớp huấn luyện Việt minh ở Chiến khu Hoàng Hoa Thám. Tháng 8/1945, ông là Chính trị viên Chi đội Giải phóng quân tỉnh Bắc Giang, tham gia lãnh đạo tổng khởi nghĩa ở Bắc Giang.

Từ cách mạng Tháng Tám năm 1945-1948, ông giữ các chức vụ: Bí thư thành uỷ Hải Phòng, Hà Nội, Phó Bí thư Khu uỷ đặc biệt Hà Nội Xứ uỷ viên Bắc kỳ, Bí thư Liên tỉnh uỷ Hà Nội – Hà Đông, Uỷ viên thường vụ Liên khu uỷ Liên khu III, phụ trách công tác tuyên huấn. Năm 1949, ông là Phó trưởng ban Tuyên huấn Trung ương Đảng.

Từ năm 1950-1976, ông công tác trong Quân đội nhân dân Việt Nam và được giao nhiều trọng trách: Cục trưởng Cục Tuyên huấn, Phó Chủ nhiệm Chính trị Chiến dịch Điện Biên Phủ, Phó trưởng đoàn Quân đội nhân dân Việt Nam trong Uỷ ban Liên hiệp đình chiến Việt Pháp, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Bí thư Đảng uỷ, Chính uỷ Chiến dịch Đường 9 – Khe Sanh, Đường 9 - Nam Lào, Bí thư Đảng uỷ và Chính uỷ Mặt trận giải phóng Quảng Trị. Năm 1960, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III, ông được bầu làm Uỷ viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Uỷ viên Quân uỷ Trung ương. Năm 1976, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV, ông được bầu làm Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng và được Ban Chấp hành Trung ương Đảng bầu làm Bí thư Trung ương Đảng. Năm 1978, ông là Phó Bí thư thành uỷ Hà Nội, Chính uỷ Bộ chỉ huy quân sự thành phố Hà Nội.

Năm 1982, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V, ông được bầu làm Uỷ viên Trung ương Đảng và được Ban Chấp hành Trung ương Đảng bầu làm Bí thư Trung ương Đảng, trực tiếp làm Trưởng Ban Khoa giáo Trung ương. Từ năm 1983-1987, ông giữ các chức vụ: Uỷ viên Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bí thư Trung ương Đảng phụ trách công tác dân vận của Đảng, Bí thư Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Từ năm 1986, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, ông tiếp tục được bầu làm Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Tháng 6/1987, tại kỳ họp lần thứ nhất khoá VIII, ông được bầu làm Chủ tịch Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước. Tháng 11/1988, tại Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ III đã bầu ông vào Đoàn Chủ tịch Uỷ Ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và là Bí thư Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Từ tháng 8/1994 đến tháng 7/1999, ông làm Chủ tịch Đoàn chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ( khoá IV).

Một con người ‘‘trắng trẻo, nhỏ nhắn, thư sinh, cặp kính cận to dày’’ như Trung tướng Lê Quang Đạo, nếu không nói ra, ít ai nghĩ rằng ông là một vị tướng. Một vị tướng đã từng tham gia hoạt động cách mạng từ những ngày tiền khởi nghĩa. Một vị tướng đã từng tham gia lãnh đạo Khởi nghĩa giành chính quyền tại Bắc Giang với tư cách là Chính trị viên Chi đội. Và một vị tướng đã từng tham gia chỉ huy Chiến dịch Đường 9 Khe Sanh, Chiến dịch Đường 9 Nam Lào. Là một người làm công tác Chính trị, một Chính ủy nhưng ông là một người rất uyên bác về Quân sự.

Tham khảo : Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, Trang thông tin điện tử Quốc hội Việt Nam, Báo Quân đội Nhân dân

panphilov:


Thiếu tướng Nguyễn Thị Định (15/3/1920 – 26/8/1992), Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân (truy tặng 30/8/1995), nguyên Thiếu tướng Phó Tư lệnh các lực lượng vũ trang Giải phóng miền Nam Việt Nam, nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, nguyên Chủ tịch Ban chấp hành Trung ương Hội Phụ nữ Việt Nam.

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất, 2 Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương chiến sĩ vẻ vang Nhất – Nhì – Ba, Huy chương Quân kỳ quyết thắng. Giải thưởng Hòa bình Lê-nin, Huân chương Plâya Giron và Huân chương Ana MariaGranajales của Nhà nước Cu-ba.

Thiếu tướng (1974)

"Phó tư lệnh quân giải phóng miền Nam là cô Nguyễn Thị Định. Cả thế giới chỉ nước ta có vị nữ tướng quân như vậy. Thật là vẻ vang cho cả miền Nam, cho cả dân tộc ta" (Chủ tịch Hồ Chí Minh).

"Tôi cảm thấy rất vinh hạnh khi viết thư này gửi thǎm Bà - một người phụ nữ nổi tiếng và có một vai trò quan trọng trong lịch sử thế giới, một tấm gương của người phụ nữ chân chính. Tôi rất sung sướng khi sử dụng cuốn hồi ký của Bà để dạy cho sinh viên nước mình về truyền thống Cách mạng Việt Nam" (Giáo sư sử học Christine Whate trường Đại học Tổng hợp Hawai, trong một lá thư gửi Thiếu tướng Nguyễn Thị Định).

“Sự thực là có chị Ba Định ở Bộ Tư lệnh, nhiều việc cụ thể ở chiến trường đã được làm sáng tỏ. Dưới sự chỉ đạo của anh Nguyễn Chí Thanh ở cương vị Chính ủy, chúng tôi được phân công giúp chị nắm những vấn đề cơ bản về chỉ huy và công tác tham mưu quân đội, cũng như công tác chính trị trong các lực lượng vũ trang, đồng thời chúng tôi cũng học tập được ở chị nhiều kinh nghiệm quý báu trong lãnh đạo đấu tranh chính trị và trong công tác xây dựng phong trào quần chúng.

Chúng tôi không khỏi ngạc nhiên về sự thông minh và hiểu biết nhanh chóng của chị về các vấn đề quân sự. Chỉ sau một thời gian không dài, chị đã có nhiều ý kiến đóng góp có giá trị trong việc chỉ huy lực lượng tổng hợp trên chiến trường.

Trong công tác, chị bộc lộ khá rõ sự năng động và tinh thần tích cực, hết mình trong mọi việc. Chị hầu như có mặt trong tất cả các cuộc hội nghị tổng kết về chiến tranh du kích, trong Đại hội Anh hùng chiến sĩ thi đua của Miền. Chị đi thăm các sư đoàn, trung đoàn chủ lực, các đơn vị binh chủng không chỉ ở nơi đóng quân mà còn ở mặt trận. Chị quan tâm cụ thể đến việc tổ chức, huấn luyện, tác chiến và cả việc ăn ở, giải trí của chiến sĩ.

Anh em tiếp đón chị với cương vị người chỉ huy, đồng thời như người chị cả thân thương, họ thường gọi chị bằng cái tên “Chị Ba” trìu mến. Anh Nguyễn Chí Thanh có lần nói vui với chị là “Chúng tôi ghen với chị về lòng thương yêu, quý mến của cán bộ, chiến sĩ đối với chị đấy...”. (Thượng tướng Trần Văn Trà)

"Bước vào lán của chị Ba, cái đập vào mắt trước tiên là tấm bản đồ không ảnh toàn miền Nam bằng lụa treo trên vách. Kế đó là chồng sách quân sự. Trên bàn làm việc của chị lúc nào cũng có một quyển đang xem dở. Chị nghiên cứu, chị học ngày, học đêm chiến thuật chiến tranh hiện đại. Nhớ hôm địch tấn công vào căn cứ, Bộ Tư lệnh phải di chuyển đến nơi an toàn, mỗi người ở cách xa nhau trong cự ly một quả bom đìa để hạn chế bom sát thương một lúc hai người. Bên bờ suối hoang vắng, chị vẫn đọc sách...Tôi mời chị đi xem đơn vị diễn tập, chị vui vẻ nhận lời, và tôi đã tổ chức bảo vệ chị đi chu đáo. Chị tham quan diễn tập với cặp mắt và bộ óc của người chỉ huy binh chủng hợp thành. Chị chỉ ra những chỗ cần phải suy nghĩ thêm, khi chiến đấu ở đồng bằng với điều kiện địch chiếm ưu thế tuyệt đối về không quân, pháo binh, xe thiết giáp, đổ bộ trực thăng. Phải công nhận rằng, với bề dày kinh nghiệm lăn lộn đấu tranh nhiều năm qua, chị biết địch biết ta, am hiểu thời tiết, địa hình, chị tiếp thu nghệ thuật tác chiến hiện đại khá nhanh với nhiều hứa hẹn sáng tạo.." (Thiếu tướng Bùi Cát Vũ)

“Chị Ba Định ạ! Ngày xưa, người dân làng quê bảo nhau rằng những người như chị là sống làm tướng, chết thành thần" (Giáo sư Trần Văn Giàu, trong lời đề tựa cuốn Nhớ chị Ba Định).

Với các chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam Thiếu tướng Nguyễn Thị Định luôn được gọi bằng cái tên trìu mến "Cô Ba Định"

Và trong lòng người dân Việt Nam: "Nǎm 1992 Nguyễn Thị Định qua đời sau một cơn đau tim đột ngột, hầu hết các tỉnh, thành Hội phụ nữ trong cả nước đều lập bàn thờ để tưởng nhớ đến Bà, theo triết lý dân gian: "Sống làm tướng chết thành thần". Nhân dân Hát Môn, Phúc Thọ, Hà Tây nơi thờ Hai Bà Trưng đã rước bát hương thờ Bà Nguyễn Thị Định về thờ trong khu đền Hai Bà như một vị nhân thần mới. Nhiều địa phương đã đặt tên trường học Nguyễn Thị Định, quỹ hỗ trợ trẻ em nghèo hiếu học mang tên Nguyễn Thị Định". (Theo Phụ nữ Việt Nam)

Sinh năm 1920 trong một gia đình nông dân có 10 người con (bà là con út cho nên thường tên thường gọi lúc nhỏ là Út) ở xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Bà sinh ra với thể chất yếu đuối, ốm nhom vì hen suyễn. Đến tuổi đi học, do trường học xa nhà, ở trọ thì tốn kém, bà không được đi học, đành ở nhà học chữ với người anh thứ ba tên là Chẩn. “Người thầy” ấy có ảnh hưởng sâu sắc với cuộc đời cô về nghĩa khí Lục Vân Tiên, về chí hướng đánh Tây, giành độc lập cho đất nước.

Bà tận mắt chứng kiến anh trai tham gia cách mạng, bị bắt, bị đánh đập trong nhà giam ở quận. Bà đứng nhìn, căm thù mà không biết làm gì để cứu anh ra, đành khóc tức tưởi. Từ đó, những câu hỏi về thời cuộc, về cách mạng nảy nở trong đầu bà. Cô hiểu và tin làm cách mạng là việc tốt nhưng là việc rất khó, là con gái chắc không thể làm được. Có thể nói bà đến với Cách mạng trước hết là do sự dìu dắt, hướng dẫn của người anh trai.

Năm 16 tuổi, bà rất đẹp, da trắng, môi đỏ, tóc xoăn, một vẻ đẹp rất đặc biệt. Nhiều gia đình giàu có đánh tiếng dạm hỏi. Tuổi cô thời ấy con gái đã lo lấy chồng nhưng bà không quan tâm đến điều hệ trọng ấy. Bà nói “Nếu lấy chồng, phải là người cách mạng, em mới ưng”. Đó cũng là năm phong trào dân chủ lên cao. Bà say sưa lắng nghe anh trai và các bạn của anh diễn thuyết, rồi tham gia rải truyền đơn, làm giao liên, lo cơm nước cho các anh, tham gia các hội tương tế ái hữu, cổ động báo “Dân chúng"...

Tháng 10 năm 1938, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Được tổ chức Cách mạng và người anh trai mai mối, bà kết hôn với một người Đồng chí của mình tên là Bích. Nhưng hạnh phúc đến với vợ chồng Út Định chưa bao lâu thì giông tố ập đến. Mới sinh con 3 ngày (đây là người con duy nhất của bà tên là Nguyễn Ngọc Minh, tên thường gọi là On. Sau tập kết ra Bắc học ở trường học sinh miền Nam ở Đông Triều, Quảng Ninh. On mắc bệnh nặng rồi nằm lại nghĩa trang Văn Điển), mật thám đến nhà vây bắt chồng bà rồi sau đó bị kết án 5 năm tù và 5 năm đầy đi biệt xứ. Đây là thời điểm sau Nam kỳ khởi nghĩa 1940, cũng như các tỉnh khác ở Nam Kỳ, Bến Tre đã bị giặc Pháp khủng bố, đàn áp một cách dã man. Nhiều cơ sở cách mạng bị vỡ, hàng loạt đảng viên bị bắt, bị tù, trong đó có nhiều đồng chí trong cấp ủy tỉnh và huyện.

Ngày 19/7/1940, bà bị mật thám vây bắt và đưa về khám Lá ở Bến Tre cùng với con trai. Sau đó, Thực dân Pháp tuyên bố đưa bà đi giam giữ ở "căng" Bà Rá và buộc bà phải gửi con về nhà khi con bà mới có 7 tháng tuổi. Trước khi đưa chồng bà ra Côn Đảo và bà đi Bà Rá, Pháp đưa cả hai người đến một nhà giam ở Sài Gòn. Tuy nhiên, hai vợ chồng bà không hề biết điều này.

Tại Bà Rá bà bị xếp và nhà B, nơi dành riêng cho tù nữ chính trị, ở đây mọi người gọi bà là Ba Bích (theo tên chồng). Tại đây bà tiếp tục hoạt động và là trung tâm đoàn kết của khu nhà B, trước hết là việc đoàn kết tù nhân nữ nhằm chống lại những trò chọc ghẹo của những tên cò Tây. Bà còn bày thêm kinh nghiệm là bọn quản tù hay chụp nắm tóc phụ nữ trước khi đánh. Vì vậy, chị em nên cài ít kim may vào trong búi tóc, để khi chúng chụp vào đầu tóc chị em, tay bị kim đâm, sẽ bỏ ra ngay. Tới lúc đó, chị em có thì giờ để đối phó...

Tên quan ba nổi tiếng tàn ác, có thú tính thích nhìn thấy máu đổ, thích xui chó béc-giê cắn xé tù nhân cho ra máu lai láng, bắt bà bước ra sân, giơ cao vỏ chai đựng rượu làm đích cho hắn bắn. Hắn vừa muốn khoe tài bắn súng vừa "nắn gân" bà “chuyên xách động nữ tù đấu tranh”. Nếu bà không chịu bước ra, không giơ cao chai rượu cho hắn nhắm bắn, hắn sẽ có dịp bêu riếu chị là hèn nhát. Còn nếu thể hiện chí khí, viên đạn của tên quan ba có thể cắm vào cơ thể bà. Bà bình tĩnh bước ra sân rồi giơ cao vỏ chai rượu lên. “Đoàng”. Tiếng súng nổ, vỏ chai vỡ toang. Hắn khoái chí cười khanh khách. Chưa thỏa mãn thú tính, hắn bắt bà tháo chiếc vòng cẩm thạch đang đeo ở tay - kỷ vật chồng chị tặng ngày cưới mà bà rất quý yêu, làm đích cho hắn bắn tiếp. Quá phẫn uất, bà tháo vòng, ném mạnh vào viên gạch gần đó, làm chiếc vòng vỡ tan. Trước sự bướng bỉnh, gan dạ của bà, tên quan ba hơi bất ngờ. Lúc ấy, hắn không làm gì nhưng định bụng sẽ trừng trị bà và các “nữ tù ngoan cố” vào một dịp khác.

Bệnh tim ngày càng trở nặng, bà liên tục bị ngất. Chị em nữ tù đấu tranh quyết liệt với tên sếp Tây. Cuối cùng, chúng đành chấp nhận đưa bà về điều trị tại Nhà thương Biên Hòa. Năm 1943, bà được Thực dân Pháp đưa về quản thúc tại địa phương... Ba tháng sau, vết thương những ngày bị đọa đày trong nhà tù đế quốc chưa lành thì bà nhận được hung tin: chồng bà đã hy sinh ngoài Côn Đảo ngày 12/6/1942. Năm 1944, phong trào Việt Minh lên mạnh, bà bắt được liên lạc với tổ chức. Bà gửi con cho mẹ, lao vào công tác và hoạt động ở huyện Châu Thành. Trong Cách mạng tháng Tám 1945, bà đã cầm cờ dẫn đầu hàng ngàn quần chúng tay dao, tay gậy, cờ, băng, biểu ngữ rầm rộ tiến chiếm thị xã Bến Tre.

Sau ngày cách mạng thành công, bà là ủy viên Ban chấp hành Hội Phụ nữ cứu quốc tỉnh và sau đó làm Hội trưởng – lúc bấy giờ quen gọi là Đoàn trưởng Phụ nữ cứu quốc tỉnh. Tháng 3 năm 1946, bà là thành viên trong đoàn cán bộ của khu 8 vượt biển ra gặp Trung ương để báo cáo tình hình kháng chiến ở Nam Bộ và tỉnh để xin Trung ương chi viện. Đòng đi trên chiếc tàu đánh cá nghi trang, từ cửa biển Bến Tre ra Phú Yên. Rồi từ Phú Yên, họ ngồi xe lửa ra Hà Nội.Chuyến đi này không những cung cấp cho Chính phủ, Trung ương Đảng tình hình thực tế của chiến trường Nam Bộ - một chiến trường xa cách Trung ương – mà còn đặt cơ sở cho việc tổ chức chi viện miền Nam về sau này. Kết thúc chuyến đi miền Bắc, bà đi thẳng vào Quảng Ngãi - trụ sở của Ủy ban Kháng chiến miền Nam Việt Nam, nhận súng, tiền và tài liệu của Trung ương mang về cho Xứ ủy Nam Bộ.

Bà cũng là người duy nhất trong 4 thành viên của đoàn trở về lại Bến Tre với chiếc thuyền chở đầy vũ khí chi viện cho chiến trường, xuất phát từ bờ biển Phú Yên, lúc này đang còn là vùng tự do. bằng lòng quả cảm, trí thông minh, bà lại cùng các đồng chí của mình khéo léo vượt trùng dương đưa được 12 tấn vũ khí chi viện cho miền Nam một cách an toàn. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, bà cùng với các đồng chí lãnh đạo ở địa phương bám đất, bám dân, đưa phong trào kháng chiến trong tỉnh vượt qua những khó khăn, cùng cả nước kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh kéo dài 9 năm.

Chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Genève được ký kết (7/1954), bà quyết định ở lại miền Nam, chỉ mình con ra Bắc. Khi đó Bến Tre là một trọng điểm đánh phá bình định ác liệt của chính quyền Ngô Đình Diệm. Bà phải giả làm nghề nuôi heo, nuôi gà vịt tại nhà một đồng bào ở giữa cánh đồng vùng giáp ranh ba xã Tân Hòa, Thạnh Phú Đông, Phước Long. Bà đã từng cải trang thành người tu hành, người chăn vịt, người đi mua bán, làm vợ bé, người ở... Đôi chân của bà hết in dấu bên Minh lại về bên Bảo, hết qua An Hóa lại về Châu Thành xây dựng cơ sở, nắm tình hình phong trào. Cái đầu của bà được địch treo giá: “Thưởng 10.000 đồng cho ai bắt được Nguyễn Thị Định".

panphilov:
Nguyễn Thị Định, trong thời kỳ này, là một trong những cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng bộ Bến Tre, đã cùng với những đồng chí khác ra sức chèo chống, bảo vệ cách mạng, bảo vệ nhân dân trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn, đen tối. Từ con số 2.000 đảng viên lúc đầu còn lại sau khi chuyển quân tập kết, đến khi Đồng khởi (nghĩa là trong khoảng thời gian 5 năm), Bến Tre chỉ còn lại 162 đảng viên. Hơn 80% đồng chí bị giết, bị tra tấn, tù đày, bị tàn phế. Bà là thành viên của "Bộ tham mưu cuộc Đồng khởi”, người chỉ đạo trực tiếp cuộc “khởi nghĩa điểm” của nhân dân 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh (thuộc huyện Mỏ Cày) thắng lợi (17-1-1960), mở đầu cho cao trào Đồng khởi trong tỉnh và cả trong toàn miền Nam về sau.

Từ sau Đồng khởi, bà được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre, rồi Khu ủy viên khu 8 (5/1961), Hội trưởng Hội Liên hiệp Phụ nữ giải phóng miền Nam. Đến khi đế quốc Mỹ chuyển hướng chiến lược từ “chiến tranh đặc biệt” sang “chiến tranh cục bộ” ồ ạt đưa quân vào miền Nam năm 1965, cùng năm này bà nhập ngũ, thì bà nghiễm nhiên trở thành vị tướng, Phó tư lệnh các LLVT giải phóng miền Nam theo dõi chỉ đạo phong trào chiến tranh du kích, đấu tranh chính trị”.

Đó là trận càn lớn nhất của Mỹ - và lính VNCH vào tháng 2/1967, huy động 7 lữ đoàn Mỹ, 2 chiến đoàn VNCH gồm 50.000 tên, 1.100 xe tăng, toàn bộ máy bay nhằm xóa sạch căn cứ Trung ương Cục miền Nam. Bộ Tư lệnh họp, quyết định bằng mọi giá phải bảo vệ vùng căn cứ; chuyển thế bị động sang chủ động tấn công địch. Bộ Tư lệnh phân công bà Nguyễn Thị Định chỉ đạo các đơn vị văn công, tuyên huấn, du kích các cơ quan, đoàn thể tham gia đánh địch. Bà họp toàn thể anh chị em nói: “Mình có ít người, ít vũ khí, phải chia thành từng tổ nhỏ, đào công sự thật chắc, đón hướng đi của địch, đánh cho chúng những đòn bất ngờ, làm chúng nghi là có quân chủ lực đánh”.

Cuộc chống càn đã diễn ra đúng như kế hoạch đã chuẩn bị. Suốt 2 ngày đêm, quân ta bẻ gãy cánh quân chủ yếu của địch. Địch lại mở trận tấn công đợt 2. Dưới hầm, bà vẫn bình tĩnh chỉ huy trận đánh. Bốn giờ chiều, Bộ Tư lệnh nhận được tin du kích khối cơ quan do “chị Ba” chỉ huy đã bắn cháy một số xe tăng địch. Sau những ngày bị du kích đánh cho mệt mỏi, rã rời, địch phải co cụm lại một nơi. Lúc ấy, các đơn vị chủ lực của ta đánh thẳng vào những cụm đóng quân của địch, diệt được nhiều xe tăng, máy bay. Trận càn Johnson City địch thất bại thảm hại. Rừng Tây Ninh vang tiếng hát chiến thắng, bà Nguyễn Thị Định được cán bộ chiến sĩ rất khâm phục.

Trong đợt Tổng tấn công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968, bà được Bộ Tư lệnh phân công đi chỉ đạo tỉnh Tây Ninh. Năm 1970, khi Lonnon lật đổ Xihanúc, các căn cứ của ta ở biên giới Campuchia càng gặp nhiều khó khăn. Chăm chú theo dõi tình hình Campuchia, bà Nguyễn Thị Định trao đổi với các đồng chí ở H12 (Trường sơ cấp Quân giải phóng của Bộ tư lệnh Miền), tìm cách đối phó, bảo vệ căn cứ. Bà phân tích: Địch bên sông Vàm Cỏ chỉ cách ta một con sông nhỏ, ta phải gấp rút tập trung thành lực lượng thống nhất đủ sức đối phó, tránh tình trạng phân tán quá nhỏ, hành động rời rạc. Ta phải ngụy trang chu đáo các kho tàng, tổ chức chiến đấu ở mỗi khu vực. Cần phân tán kho lớn, những vũ khí gọn nhẹ như AK, KCK, K63, B40... chia cho các đơn vị giữ và chiến đấu. Bà kiên nghị nói: “Trong lúc chờ chủ trương của Bộ, của Trung ương Cục, tôi sẽ chịu trách nhiệm trước cấp trên và quyết định đánh. Trong lúc này, ta phải dám nghĩ dám làm, bỏ lỡ thời cơ, ta sẽ gặp khó khăn lớn!”. Rất may, Bộ kịp thời gửi điện xuống căn cứ, giao trách nhiệm cho bà Định cùng Sư đoàn 9, tỉnh Tây Ninh đánh địch bảo vệ lực lượng, bảo vệ căn cứ.

Ông Huỳnh Tấn Phát - Chủ tịch Chính phủ Cách mạng lâm thời đến gặp bà, trao đổi: “Ý kiến của trên muốn đưa hai cơ quan về phía Nam, chị nghĩ sao?”. Bà nói: “Nếu đưa cơ quan Chính phủ Cách mạng lâm thời về phía Nam, ta sẽ mắc mưu địch. Nó đang chờ ta để tiêu diệt. Theo tôi, anh cứ tìm chỗ cho cơ quan di chuyển. Tôi sẽ chịu trách nhiệm tổ chức phối hợp chiến đấu bảo vệ cơ quan đầu não của ta”. Ông Huỳnh Tấn Phát đồng ý. Thế là một không khí sôi nổi, khẩn trương diễn ra.

Quân Mỹ cho quân đổ xuống Xóm Giữa, gần trường Lê Thị Riêng, máy bay B.52 liên tục thả bom. Dưới đất, chúng cho từng đoàn xe bao quanh căn cứ dày đặc, quyết tâm tiêu diệt cơ quan đầu não của kháng chiến. Bà Định cùng Chủ tịch Huỳnh Tấn Phát nhận trách nhiệm dẫn cơ quan dân vận gồm gần 1.000 người lặng lẽ băng trong rừng, trong mưa. Cuộc hành quân đúng như dự kiến của bà Định. Trong lúc cơ quan di chuyển, các lực lượng vũ trang đã anh dũng chiến đấu, bẻ gãy được cuộc càn. Các mũi quân của địch sục vào khu căn cứ cách mạng bị đánh mìn, bị du kích đánh gây nhiều tổn thất, khiến chúng không dám sục sạo. Kho tàng của ta được bảo vệ; các bệnh viện kịp thời sơ tán, an toàn. Đặc biệt, trường H 12 trong tay chỉ có một trung đội nhưng trong 3 ngày tiêu diệt được 3 xe tăng, 2 trực thăng Mỹ.

Trong thời gian địch càn, vùng căn cứ của ta đón gần hàng ngàn đồng bào và lực lượng cơ quan, cán bộ các phân khu khác dồn về. Lò Gò là một trong những căn cứ chống càn có hiệu quả nhất, thiệt hại rất ít, bảo vệ được vùng giải phóng. Đặc biệt, hai cơ quan Chính phủ Cách mạng lâm thời, cơ quan phụ nữ hầu như không bị thiệt hại gì. Sau này, những người có mặt trong cuộc hành quân dời căn cứ ngẫm lại, giật mình khi đưa ra câu hỏi: “Năm ấy, Trung ương Cục không có Phó tư lệnh Nguyễn Thị Định biết chớp thời cơ, dám chịu trách nhiệm, dám nghĩ dám làm, biết phán đoán tình hình, kiên quyết không di chuyển về phía địch đang chờ sẵn, bà cắt đặt chu đáo quân ứng chiến,... thì cơ quan Chính phủ cách mạng lâm thời sẽ ra sao?! Tài chỉ huy và óc phán đoán nhạy bén, tinh thần trách nhiệm, sự dũng cảm của bà đã góp phần xoay chuyển thế bị cô lập bao vây thành thắng, từ bị động chuyển sang phòng ngự và chủ động tấn công...

Chiến tranh chống Mỹ kết thúc, bà chuyển về công tác ở thủ đô Hà Nội, đảm nhiệm nhiều cương vị khác nhau: Ủy viên Trung ương Đảng (Đại hội IV - 12/1976, Đại hội V - 3/1982, VI - 12/1986), Đại biểu Quốc hội nhiều nhiệm kỳ ( Quốc hội khó VI, VII, VIII), Thứ trưởng Thương binh – xã hội, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (1980 - 1992), Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước (từ tháng 6/1987 đến 1992). Bà còn tham gia nhiều hoạt động đối ngoại: Phó Chủ tịch Liên đoàn Phụ nữ dân chủ thế giới, Chủ tịch Hội hữu nghị Việt Nam – Cuba.

Con người bà Ba Định là sự kết hợp hài hòa giữa đức tính can trường, dũng cảm với lòng nhân ái, bao dung, giữa ý chí quyết liệt và sự mau nước mắt, giữa chất hùng của người lính xông pha trận mạc với nữ tính dịu dàng, đồng thời cũng rất rạch ròi, phân minh giữa cái đúng và cái sai, giữa yêu thương và căm giận. Gần 50 bài viết nhân dịp bà ra đi về nơi an nghỉ cuối cùng của bạn bè, đồng chí, người thân, đồng hương, chiến sĩ, tướng lĩnh, nhà doanh nghiệp, nhà văn, nhà báo, nữ tu… được tập hợp lại trong cuốn sách Nhớ chị Ba Định (Nxb Khoa học xã hội, 1993), ngoài nỗi tiếc thương, phần lớn các tác giả đều dành những trang viết ngợi ca bà về cách đối nhân xử thế.

Là con đẻ của nhân dân, của phong trào, bà gắn chặt cuộc đời hoạt động của mình với số phận nhân dân, sống chân chất, mộc mạc như hạt lúa, củ khoai. Người ta yêu quý bà không vì cái chức cao, quyền trọng mà vì cái chất đằm thắm, nhân ái tỏa sáng trong hành vi đời thường cũng như trong lúc thi hành công vụ.

Có cái tâm trong sáng, bà Nguyễn Thị Định thuộc trong số không nhiều người có chức, có quyền mà không bị tha hóa bởi quyền uy và địa vị. Có thể nói bà thuộc vào hàng những người "phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”. Vẫn sau trước thủy chung với bạn bè, đồng chí, luôn luôn nhớ ơn đối với những người cưu mang mình từ những ngày gian khổ, đen tối nhất, nhớ từng bát cháo trắng, từng con cá, cọng rau mà các bà má nghèo đã chắt chiu nuôi mình, bà sống bình đẳng, dân chủ với anh chị em được phân công phục vụ bà hằng ngày.

Tham khảo: Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, Báo Điện tử tỉnh Bến Tre, Báo Công an Nhân dân

panphilov:


Thiếu tướng Hoàng Thế Thiện (20/10/1922 – 5/9/1995), nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Quân đội Nhân dân Việt Nam, nguyên Thứ trưởng thứ nhất Bộ Thương binh và Xã hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công (2 hạng Nhất, 1 hạng Nhì, 1 hạng Ba), Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương chiến công hạng Nhất, 2 Huân chương Kháng chiến hạng Nhất và nhiều huân huy chương khác. Ông còn được Hội đồng Viện hàn lâm Hermann Gmeiner thuộc tổ chức Làng trẻ em SOS quốc tế trao tặng giải thưởng "Kim vàng Danh dự" do đã có những đóng góp đặc biệt cho tổ chức này.

Thượng tá (1958), Đại tá (1966), Thiếu tướng (1974)

"Đồng chí Hoàng Thế Thiện là một cán bộ cao cấp của Đảng, một vị tướng của Quân đội. Đồng chí đã từng đảm nhiệm những chức vụ quan trọng, suốt đời chiến đấu vì sự nghiệp của Đảng, của Dân tộc. Đồng chí có ưu điểm nổi bật là dù ở cương vị nào cũng là tấm gương đoàn kết và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, được đồng chí, đồng đội tin yêu". (Đại tướng Võ Nguyên Giáp)

"Anh Thiện có nhiều kinh nghiệm về công tác chính trị và có kiến thức quân sự. Anh chiến đấu rất dũng cảm. Anh Thiện đã cùng anh Nguyễn Hữu An chỉ huy, chỉ đạo Sư đoàn 1 đánh nhiều trận hay, đặc biệt là đánh thiệt hại nặng lữ dù 173 của Mỹ trong chiến dịch Đắc Tô I trên đồi 875 ở phía tây bắc Kon Tum vào mùa Đông năm 1967 ... Điểm đặc biệt của anh Thiện: tuy là Chính ủy nhưng rất chú ý đến quân sự và nghiên cứu về tình hình địch. Một Chính ủy như thế quả là hơi hiếm". (Thượng tướng Hoàng Minh Thảo)

"Anh Hoàng Thế Thiện - Chính ủy là người toàn năng, không chỉ giỏi về chính trị mà còn là người hiểu biết về quân sự, khá sâu những vấn đề có liên quan đến cương vị của mình và rất xứng đáng là nhân vật trung tâm của Sư đoàn" (Thượng tướng Nguyễn Hữu An)

"Tuy là Chính ủy nhưng anh Hoàng Thế Thiện có trình độ cao về nghệ thuật quân sự, về cách đánh của nhiều hình thức tác chiến khác nhau. Vì vậy, anh không chỉ đảm nhiệm công tác đảng, công tác chính trị mà anh còn thực sự là một cán bộ chỉ huy quân sự, đi sâu vào tác chiến ... Điều làm gương cho chúng tôi và cán bộ quân sự nói chung là địch tìm mọi cách chống lại ta thì anh luôn tìm cách để đánh thắng địch. Đây là một điểm rất đặc biệt ở anh Thiện, một Chính ủy mà cũng là một nhà quân sự. Địch có cách này thì ta có cách khác hay hơn nó để đánh thắng nó. Đây là điều rất cần thiết trong chiến tranh". (Thiếu tướng Hoàng Đan)

Thiếu tướng Hoàng Thế Thiện tên thật là Lưu Văn Thi sinh năm 1922 tại Hải Phòng trong một gia đình nghèo yêu nước. Cha ông từng tham gia phong trào Đông Du của cụ Phan Bội Châu và tham gia phong trào mặt trận Bình dân, là sáng lập viên đồng thời là Ủy viên Ban trị sự Hội Ái hữu công nhân tư gia thành phố Hải Phòng, cụ từng bị thực dân Pháp bắt giam. Gia đình cụ cũng là cơ sở của nhà Cách mạng Nguyễn Lương Bằng.

Ngay từ khi còn là học sinh Trường Bonnal, Hoàng Thế Thiện đã tích cực tham gia vào các hoạt động yêu nước của phong trào Hướng đạo sinh thành phố Hải Phòng. Đầu năm 1940, ông tham gia Tiểu tổ bí mật do nhà cách mạng Vũ Quý phụ trách, tự động xây dựng lại cơ sở cách mạng bí mật tại thành phố Hải Phòng đã bị địch khủng bố tan rã trước đó. Ông tham gia hoạt động trong phong trào Truyền bá Quốc ngữ từ năm 1940 và được cử làm Ủy viên Ban Trị sự Hội Truyền bá quốc ngữ thành phố Hải Phòng.

Tháng 1 năm 1942, ông tham gia Đoàn Thanh niên Cứu quốc và được giao nhiệm vụ xây dựng Đoàn Thanh niên Cứu quốc của Việt Minh thành phố Hải Phòng, đồng thời phụ trách một cơ sở bí mật trong thanh niên, học sinh thành phố. Sau một đợt đấu tranh treo cờ, phân phát truyền đơn toàn thành phố Hải Phòng có kết quả vào cuối năm 1942, ông được giao nhiệm vụ chuẩn bị thành lập Đoàn Thanh niên Cứu quốc toàn thành phố và thống nhất đầu mối chỉ đạo.

Tháng 3 năm 1943, ông bị chính quyền thực dân Pháp bắt tại Ngân hàng Đông Dương và đưa ra xử tại tòa án binh Hà Nội. Ông bị kết án 5 năm tù khổ sai, bị giam tại nhà tù Hỏa Lò (Hà Nội), rồi bị đày lên nhà tù Sơn La. Trong tù, mặc dù bị tra tấn, đày ải nhưng ông không nhụt trí đấu tranh. Ông được kết nạp vào nhóm Trung Kiên ở Hỏa Lò và Hội Lao tù Cứu quốc ở Sơn La, được nhà cách mạng Trần Đăng Ninh trực tiếp huấn luyện về công tác bí mật và vận động quần chúng.

Tháng 3 năm 1945, ông vượt ngục tập thể trong nhóm của nhà cách mạng Trần Quốc Hoàn rồi về Thái Nguyên tiếp tục hoạt động cách mạng. Tháng 4 năm 1945, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương và được cử làm Đội trưởng Đội Vũ trang Tuyên truyền Cứu quốc quân huyện Vũ Nhai. Tháng 8 năm 1945, ông tham gia giành chính quyền tại thị xã Thái Nguyên. Tháng 10 năm 1946, ông làm Thường vụ Tỉnh ủy - Chủ nhiệm Việt Minh tỉnh Thái Nguyên. Tháng 10 năm 1946, ông làm Thường vụ Tỉnh ủy - Chủ nhiệm Việt Minh tỉnh Vĩnh Yên.

Tháng 4 năm 1947, ông được điều vào Quân đội làm Phái viên Chính trị Khu 10, rồi Trưởng phòng Chính trị Liên Khu 10 - Quân khu ủy viên. Tháng 7 năm 1948, ông được cử làm Chính ủy - Bí thư Đảng ủy Trung đoàn Sông Lô (E209). Tháng 9 năm 1949, ông được Bộ Quốc phòng cử làm Trưởng đoàn cán bộ quân sự vào tăng cường cho chiến trường Nam Bộ, Nam tiến lần thứ nhất. Tháng 7 năm 1950, ông làm Phái viên Kiểm tra Bộ Tư lệnh Nam Bộ. Tháng 11 năm 1950, ông làm Chính ủy - Bí thư Đảng ủy Trung đoàn Tây Đô (Khu 9), Chỉ huy phó các chiến dịch Long Châu Hà II và chiến dịch Sóc Trăng II. Cuối năm 1951, ông làm Chính ủy - Bí thư Đảng ủy Trung đoàn Cửu Long (Phân Liên khu miền Tây Nam Bộ). Tháng 10 năm 1952, ông làm Trưởng phòng Chính trị rồi Chủ nhiệm Chính trị Phân Liên khu miền Tây Nam Bộ - Quân khu ủy viên, ủy viên Ban Tuyên huấn và ủy viên Ban Tổ chức Trung ương Cục miền Nam.

Năm 1955, ông tập kết ra Bắc phụ trách Ban Đại diện miền Tây Nam Bộ. Tháng 12 năm 1955, ông làm Chủ nhiệm Chính trị Liên khu 3 - Quân khu ủy viên. Tháng 7 năm 1956, Ông làm Chính ủy Ban Nghiên cứu Sân bay. Tháng 12 năm 1958, ông được phong quân hàm Thượng tá. Tháng 1 năm 1959, ông làm Chính ủy - Bí thư Đảng ủy đầu tiên của Cục Không quân.

Tháng 10 năm 1964, ông trở lại chiến trường Nam Bộ trên con tàu "không số" (Đoàn 125) với bí danh là Hoàng Dân tức Tư Dân, Nam tiến lần thứ hai. Lúc này, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng có chủ trương thành lập một sư đoàn chủ lực của Quân Giải phóng miền Nam ở miền Tây Nam Bộ. Ông về thẳng miền Tây để chuẩn bị cho việc thành lập sư đoàn này và đảm nhiệm chức vụ Chính ủy sư đoàn, nhưng vì nhiều lý do khách quan nên sư đoàn này không thành lập được.

Tháng 12 năm 1964, ông làm Phó Chính ủy Quân khu 8 (Trung Nam Bộ). Tháng 7 năm 1965, ông về miền Đông tham gia thành lập Sư đoàn 9 - Sư đoàn chủ lực đầu tiên của Quân Giải phóng miền Nam, làm Phó Chính ủy - Phó Bí thư Đảng ủy kiêm Chủ nhiệm Chính trị đầu tiên của Sư đoàn 9. Tháng 2 năm 1966, ông được phong quân hàm Đại tá. Tháng 8 năm 1966, ông về Mặt trận Tây Nguyên (B3) làm Chính ủy - Bí thư Đảng ủy Sư đoàn 1, Đảng ủy viên Mặt trận B3; ông đã cùng Tư lệnh sư đoàn Nguyễn Hữu An chỉ huy, chỉ đạo Sư đoàn 1 đánh nhiều trận hay, đặc biệt là đánh thiệt hại nặng Lữ dù 173 của Mỹ trong chiến dịch Đắc Tô 1 trên đồi 875 ở phía tây bắc Kon Tum vào mùa đông năm 1967. Tháng 1 năm 1969, ông làm Chính ủy - Bí thư Đảng ủy Sư đoàn 304.

Tháng 7 năm 1970, ông được điều vào tuyến lửa Trường Sơn, làm Phó Chính ủy - Thường vụ Đảng ủy Mặt trận 968 Nam Lào rồi tham gia chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (tháng 1 năm 1971). Tháng 6 năm 1971, ông làm Phó Chính ủy - Thường vụ Đảng ủy Bộ Tư lệnh Trường Sơn (đoàn 559) kiêm Chính ủy - Bí thư Đảng ủy Bộ Tư lệnh khu vực 470 (tương đương Sư đoàn). Tháng 5 năm 1973, ông làm Chính ủy - Phó Bí thư rồi Bí thư Đảng ủy Bộ Tư lệnh Trường Sơn.

Ngày 16 tháng 4 năm 1974, ông được phong quân hàm Thiếu tướng theo Lệnh số 21-LCT của Chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Tôn Đức Thắng. Tháng 2 năm 1975, ông được điều vào chiến trường B2 (Nam Bộ), Nam tiến lần thứ ba, làm Chính ủy đầu tiên - Bí thư Đảng ủy Quân đoàn 4, Phó Chính ủy - Thường vụ Đảng ủy Mặt trận phía Đông thuộc Bộ Tư lệnh B2. Ông trực tiếp chỉ huy hướng tiến công Dầu Tiếng - Chơn Thành. Tháng 4 năm 1975, ông tham gia chỉ huy cánh quân hướng Đông - một trong năm cánh quân tiến vào giải phóng Sài Gòn trong chiến dịch Hồ Chí Minh.

Tháng 12 năm 1976, ông được bầu làm Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa IV. Tháng 4 năm 1977, ông được cử làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Chủ nhiệm Tổng cục Xây dựng Kinh tế - Bí thư Đảng ủy Tổng cục. Từ tháng 10 năm 1978 đến tháng 6 năm 1982, ông làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, trưởng Ban B.68 Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy Đoàn Chuyên gia Việt Nam toàn Campuchia, Cố vấn cho Tổng Bí thư Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia, Phó Tổng đoàn chuyên gia Việt Nam tại Campuchia, Phó Tư lệnh Chính trị Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia kiêm Trưởng đoàn chuyên gia quân sự Việt Nam tại Campuchia (đoàn 478).

Tháng 7 năm 1982, ông được điều về nước làm Thứ trưởng thứ nhất Bộ Thương binh và Xã hội. Tháng 5 năm 1983, ông được cử làm Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa II. Tháng 2 năm 1987, ông làm Thứ trưởng thứ nhất Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Tháng 7 năm 1987, ông được nghỉ hưu.

"Có thể nói rằng, chặng đường chiến đấu của Thiếu tướng Hoàng Thế Thiện ở Nam Bộ gắn liền với các đơn vị chủ lực, với quá trình xây dựng, chiến đấu và công tác của lực lượng vũ trang chủ lực ở Nam Bộ, từ trung đoàn đến cấp quân đoàn. Ông có mặt ở hầu khắp các chiến trường Nam Bộ, từ miền Tây, miền Trung lên miền Đông và thành phố Sài Gòn, từ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp cho đến kháng chiến chống đế quốc Mỹ và những ngày tháng sôi động sau khi đất nước hòa bình, thống nhất. Những gì ông để lại cho lực lượng vũ trang Nam Bộ là hình ảnh một cán bộ chính trị - quân sự kiên trung, tận tụy, sâu sắc, mực thước và dung hậu. Với tư cách một người lính cầm súng, trên dọc đường hành quân đánh giặc, Nam Bộ là nơi ông dừng chân nhiều nhất, cũng là nơi ông dừng lại sau cùng" (Đại tá Hồ Sơn Đài, tiến sĩ Sử học)

"Cuộc đời và sự nghiệp của Thiếu tướng Hoàng Thế Thiện là một tấm gương sáng về phẩm chất của người cán bộ cách mạng, một vị tướng trưởng thành từ cơ sở, qua nhiều cương vị, là cán bộ lãnh đạo, chỉ huy quân đội đứng mũi chịu sào của nhiều đơn vị. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đồng chí đã được Đảng tin cậy giao nhiệm vụ vào chiến trường Nam Bộ trong những thời điểm khó khăn nhất, nhưng đồng chí đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Trên 50 năm hoạt động cách mạng, gần 40 năm chiến đấu và công tác trong Quân đội, đồng chí luôn thể hiện là một cán bộ chính trị - quân sự trung kiên, dũng cảm, trung thực, liêm khiết, sống gần gũi với đồng chí, đồng bào, nghiêm khắc với mọi biểu hiện cá nhân chủ nghĩa. Thiếu tướng Hoàng Thế Thiện đã có nhiều công lao trong sự nghiệp giải phóng và thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Là một vị tướng có uy tín của Quân đội, công lao và thành tích xuất sắc của đồng chí đã được Đảng, Nhà nước và Quân đội ta ghi nhận. Lịch sử hai cuộc kháng chiến vĩ đại của Dân tộc ta và lịch sử quá trình xây dựng, chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng còn mãi mãi ghi đậm hình ảnh và công lao vị tướng có tài tổ chức và chỉ huy chiến đấu, một Chính ủy kiên trung, mẫu mực, một đảng viên ưu tú của Đảng" (Thiếu tướng Trịnh Vương Hồng, Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam)

Navigation

[0] Message Index

[#] Next page