Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 17 Tháng Mười, 2019, 06:04:37 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những âm mưu làm tan rã Liên bang Xô viết  (Đọc 88583 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11305



« Trả lời #120 vào lúc: 04 Tháng Chín, 2010, 12:09:57 AM »


CHƯƠNG MƯỜI BA


Một trong những việc quan trọng nhất của Chính phủ Ri-gân là thu thập những tin tình báo chuẩn xác về Liên Xô. Những tin tình báo về quân sự của Liên Xô coi như đáng tin cậy; nhưng Tổng thống, Ủy ban An ninh quốc gia và Cục Tình báo trung ương cho rằng, nước Mỹ thiếu những tin tình báo về các mặt chính trị và phát triển kinh tế của Liên Xô. Vì vậy, việc cần làm ngay là cần chiêu mộ nhân viên tình báo ở phía sau “bức màn sắt”.

Trong mấy năm gần đây khi Cô-xây mới bắt đầu nhận chức ông đã chú ý ngay đến vấn đề này, và rất sung sướng khi thấy Tổng thống Ri-gân coi trọng tập tư liệu về vấn đề đó của Liên Xô. Khi xác định hành động bước sau của chiến lược Ri-gân thì các tin tình báo chuẩn xác lại càng quan trọng, nhất là khi nước Mỹ hi vọng lợi dụng sự yếu kém của Liên Xô về mặt kinh tế và kĩ thuật thì những tin tình báo như vậy không thể thiếu được!

Nhưng đến tháng 4 năm 1984, tình hình xem ra không một chút sáng sủa. Nguồn tình báo về Liên Xô đã cạn kiệt! Mấy năm nay, ngay cả những nhân viên tình báo xưa nay được coi như an toàn cũng bị bắt; nguồn tình báo do đó bị đứt đoạn! Ba nhân viên tình báo từ nhiều năm nay Cục đã khổ công bồi dưỡng thế mà gần đây lại bị nhà đương cục Liên Xô kết tội phản quốc, bị đưa ra bắn! Các quan chức tình báo trung ương chỉ cần vừa bước chân ra khỏi cửa Đại sứ quán Mỹ ở Liên Xô là lập tức bị nhân viên tình báo Liên Xô theo dõi, hành tung của họ hoàn toàn bị lộ! KGB đã liệt kê tất cả nhân viên tình báo Mỹ vào một bản danh sách, họ đã nắm vững họ tên của mỗi một quan chức Cục Tình báo trung ương làm việc ở Đại sứ quán Mỹ. Liền theo đó, một số thiết bị kĩ thuật thu thập tình báo, qua nhiều cố gắng trong một thời gian dài mới lắp đặt được và đã có nhiều thành công vậy mà nay lại im ắng, từ các thiết bị đó không thấy phát ra một thanh âm nào nữa; mức độ thu bắt điện tử cũng bị nhiễu loạn!

Nhưng, nước Mỹ không phải chỉ có toàn tin xấu, mà vẫn còn có nhưng tin tốt! Một sĩ quan cao cấp ở Bộ Tổng tham mưu quân đội Liên Xô đã tìm cách tiếp cận được với trạm tình báo của Cục Tình báo trung ương Mỹ tại Liên Xô. Viên sĩ quan này đã cho là mình “hữu dụng” cho nước Mỹ! Người này hợp tác với Cục Tình báo trung ương không phải vì tiền, mà thuần tuý vì nguyên nhân cá nhân! Trạm tình báo trên đã dày công thiết kế một bộ mật mã để liên lạc với viên sĩ quan nọ, đồng thời nhận các tin tình báo từ tay ông ta. Ngoài giờ làm việc thì viên sĩ quan thường dắt một con chó đi dạo công viên ở ngoại thành Mat-xcơ-va. Ông ta qua việc thay đổi xích chó để làm ám hiệu liên lạc.

Con người này là một mục tiêu quan trọng rất cần tranh thủ, mà ông ta lại chủ động xây dựng được mối liên hệ với Cục Tình báo trung ương trong một giai đoạn khác thường và khó khăn như thế này. Chính vì vậy các nhân viên tình báo Mỹ có lí do để hoài nghi ông ta là một nhân vật nội tuyến. Nhưng một sĩ quan cao cấp như vậy lại tình nguyện cung cấp các tin mật cho Cục Tình báo trung ương, thì việc này quả có sức hấp dẫn lớn đối với Cục này. Vì vậy Cô-xây tán thành tiếp tục giữ mối liên hệ với ông ta. Cuối cùng người sĩ quan đó đã cung cấp được những tin tức tình báo hết sức giá trị. “Việc Liên Xô chiêu mộ được những chỉ điểm viên, đồng thời có được những tin tình báo do các tình báo viên cung cấp, chứng tỏ họ đã có sự cố gắng hết mức.” Giôn Pin-đơ Kơs-tơ nhớ lại “Tôi cho rằng chúng tôi đã có được những tin tình báo hết sức có giá trị của Liên Xô, nhất là những tin tình báo về Bộ Chính trị của Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô và về những người lãnh đạo Liên Xô”.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11305



« Trả lời #121 vào lúc: 04 Tháng Chín, 2010, 12:11:10 AM »


Do Chính phủ Ri-gân cảm thấy hứng thú đối với công việc về kinh tế và kĩ thuật, nên các thương nhân Mỹ có quan hệ buôn bán với điện Krem-li đã trở thành các nguồn tình báo quan trọng. Trong các lĩnh vực này họ đều có những tri thức chuyên môn và những kênh liên lạc của họ hoàn toàn khác hẳn với những kênh của các nhân viên tình báo được Cục Tình báo trung ương tuyển chọn. Một số bạn cũ của Cô-xây trong thương giới như Giắc-sơn đều tự nguyện hiến công, hiến sức cho Cục ông. Một số người khác như A-xe-rơ Đan-nin-sư và Đơ-uây-ân An-đơ-rê-as, Chủ tịch Ủy ban quản công Công ty Mit-lan cũng bị thuyết phục để góp sức với Cục ông. Hễ là các thương nhân hợp tác với Cục Tình báo trung ương đều được Cục đặt bí danh và được Cục giới thiệu tình hình mọi mặt.

Các giám đốc của các công ty Mỹ buôn bán với Mat-xcơ-va, có lẽ so với mọi người khác họ đều biết rõ Liên Xô có những nhu cầu gì về kinh tế và Liên Xô rất cần có những kĩ thuật gì. Họ cũng biết rằng để có được những sản phẩm của nước Mỹ, Liên Xô đã phải khai thác cả sổ đen về tài nguyên của nước ngoài. Đặc biệt phải kể đến nguồn tình báo có giá trị của Giắc-sơn và của An-đơ-rê-as. Những thương gia này sau khi từ Liên Xô trở về nước, họ liền viết báo cáo gửi cho Cục Tình báo trung ương, bấm vào số điện thoại đặc biệt để báo cáo các tin tình báo với Cục này. Tiếp đó, một liên lạc viên đến ngay chỗ họ theo lời hẹn trước. Sau khi niêm phong bản báo cáo thì liên lạc viên này đem nó về Phòng Trưng tập tình báo toàn quốc (NCD). Những Giám đốc đó thường nhận được một lá thư với lời cám ơn ngắn gọn của Cô-xây coi như một sự thù lao đối với công tác của họ. Những tin tình báo đặc biệt quan trọng được đệ trình lên Ủy ban An ninh quốc gia, thậm chí đệ trình lên Tổng thống.

Phòng Trưng tập tình báo toàn quốc là một cơ quan đồ sộ. Cơ quan này có đến 30 văn phòng đại diện đặt ở các thành phố chủ yếu của nước Mỹ; ngoài ra một số đại lý thương nghiệp có mối liên hệ với công ty lớn có quan hệ nghiệp vụ tới hải ngoại, Cục Tình báo trung ương cũng yêu cầu họ hợp tác. Rất nhiều các thương nhân có sự giúp đỡ Cục Tình báo trung ương đều được Cục mới tới Lăng-lây để nghe “giới thiệu tình hình”. Năm 1984, khoảng hơn 200 đến Tổng bộ Cục Tình báo trung ương tham dự một lớp nghiên cứu ngắn hạn về tình báo, đồng thời nghe Cô-xây nói chuyện. Vị Cục trưởng này sau khi đã nói về mối nguy hiểm đối với thế giới hiện nay, ông đi đến kết luận: “Các vị Giárn đốc công ty hiện công tác với Cục Tình báo trung ương đều là của quý vô giá của Cục chúng tôi. Các vị không chỉ cung cấp tình báo cho chúng tôi, mà còn là cầu nối cho sự hợp tác giữa chúng tôi với những người nước ngoài có thể cung cấp những tin tình báo có ích cho Cục. Những tin tình báo đó đối với lợi ích An ninh quốc gia của chúng tôi là vô cùng quan trọng.” Cuối cùng, với giọng nói đầy uy lực ông nói: “Cá nhân tôi xin hứa, nhất định sẽ bao đảm việc giữ bí mật cho các vị.”

Ngoài việc thu thập tình báo cho Cục Tình báo trung ương ra, gần 200 công ty lớn nước Mỹ còn có nhiệm vụ yểm hộ cho người của Cục nữa. Đó là một mục tiêu then chốt của Cô-xây. Sự thật đã chứng minh, những người của Cục Tình báo trung ương này khi chấp hành những nhiệm vụ đặc biệt ở hải ngoại, đã có tác dụng không gì có thể thay thế được. Những người này khi công tác ở Ba Lan đều lấy danh nghĩa là người hoạt động về thương nghiệp, làm như vậy cốt để tránh bị nhà đương cục Ba Lan cho người theo dõi như những trường hợp các nhân viên Đại sứ quán Mỹ ở Ba Lan. Mỗi tháng NCD đều trích yếu một phần thành quả gửi đến Cô-xây, vì như vậy mới có thể hiểu rõ và xác minh Liên Xô rút cục tồn tại nhưng mặt yếu nào? Nhưng, Chính phủ Ri-gân còn có một vũ khí quan trọng nữa, đó là những tin tình báo giả mà họ dựng lên đối với Liên Xô. Đầu năm 1984, Cục Tình báo trung ương và Lầu Năm Góc cùng soạn thảo ra một kế hoạch bí mật thông qua việc cố ý dựng lên tình báo giả để phá hoại nền kinh tế Liên Xô, mục tiêu nhằm vào hạt nhân kinh tế của Liên Xô cùng sự dựa vào bí quyết kỹ thuật phương Tây của nó. Đó là một kế hoạch có nội dung rất rộng bao gồm những tình báo kỹ thuật về lĩnh vực dân sự hoặc dân dụng đã có sự cải biến hoặc hư cấu, những tình báo đó do người trung gian chuyển tới tay nhân viên kĩ thuật Liên Xô. “Chủ yếu là chúng tôi cung cấp những số liệu và tư liệu sai, hoặc sai một phần Chính phủ Liên Xô, do đó làm cho những quyết sách kĩ thuật của họ phạm phải nhiều sai lầm”. Một quan chức có tham dự vào những chuyện này nói “Với biện pháp đó chúng tôi đã làm cho công việc của họ trở nên rối ren!”. Chú ý này đầu tiên là do các nhân viên của Ủy ban An ninh quốc gia và của Lầu Năm Góc đề xuất. Trong quá trình phản đối Liên Xô xây dựng đường ống khí đốt, phía Mỹ đã từng sử dụng chiêu đó. Lần này chỉ là mô phỏng cách làm trước mà thôi! Kết quả, kế hoạch cố ý làm giả tình báo này khiến cho hiệu suất của kinh tế Liên Xô kém đi và những kết cấu đã thiếu sót của họ càng thêm thiếu sót.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11305



« Trả lời #122 vào lúc: 04 Tháng Chín, 2010, 12:12:40 AM »


Cục Tình báo trung ương thông qua các con đường đưa ra những số liệu kĩ thuật không hoàn thiện dễ dẫn đến sai lầm. Cục Tình báo trung ương với một số công ty “ma” ở hải ngoại, đã bán cho các quan chức Liên Xô những tin tình báo đã bị bóp méo, bao gồm các bản thiết kế máy tua-bin chạy ga, kĩ thuật khoan thăm dò mỏ dầu, máy tính phiến tâm và một số hợp chất. Những tin tình báo chuyển vào tay người Liên Xô, nói chung đều thật giả lẫn lộn, hư thực kết hợp, nhưng thoạt đầu chỉ có những tài liệu chân thực 100% mới làm cho các nhân viên kĩ thuật công trình mắc mưu, sau đó họ sẽ sử dụng chúng vào các thiết kế của họ. Lúc bấy giờ mới để lẫn vào một số đáng kể các tài liệu tình báo giả, như vậy sẽ làm cho các công trình của họ cuối cùng đi đến thất bại! Trong năm đầu, kế hoạch này đã thu được rất nhiều “thành quả” rõ rệt:

- Trong kế hoạch mở rộng của nhà máy hoá học Ôm-sư-cơ (Omsk) 1 có sử dụng một tư liệu rất dễ hiểu sai. Trước khi những tư liệu thiết kế này được chứng minh là hoàn toàn không có giá trị thì các chuyên gia Liên Xô đã bị đưa vào một “mê cung” kĩ thuật. Đến khi sửa chữa sai lầm, người Liên Xô đã phải trả giá cho hành vi này của họ khoảng 8 tỉ đến 10 tỉ đôla.

- Một nhà máy sản xuất máy cày ở Uy-crain, tính sử dụng bản thiết kế do một người trung gian của Cục Tình báo trung ương cung cấp. Với một nửa năng lực sản xuất, nhà máy đã vận hành trong 16 tháng, cho đến khi nhân viên kĩ thuật công trình áp dụng bản thiết kế về hệ thống tự động hoá kiểu mới này thì mọi thành phần đều không đạt yêu cầu. Cuối cùng họ đã phải bỏ bản thiết kế đó.

- Đầu năm 1984, người Liên Xô có được bản thiết kế các linh kiện về máy tua-bin chạy ga. Căn cứ vào bản thiết kế này họ đã sản xuất được một số linh kiện. Họ đem số linh kiện đó lắp vào đường ống khí đốt. Nhưng những bản thiết kế này về mặt kĩ thuật công trình đã có một số thiếu sót. Khi những linh kiện đó được lắp vào đường ống liền gây ra sự cố cho máy tua-bin. Kết quả, việc lắp đường ống khí đốt phải hoãn lại một thời gian.

- Thông qua người trung gian, phía Liên Xô đã mua phải máy tính phiến tâm đã bị cố ý huỷ hoại khiến cho các thiết bị trong các nhà máy quân dụng và dân dụng của Liên Xô bị tê liệt. Để khám phá ra bí mật này người Liên Xô phải mất mấy tháng trời; đường dây lắp ráp của nhà máy phải ngừng việc trong mấy tuần lễ.

Khi Cục Tình báo trung ương tạo ra những nguồn tình báo giả về các vấn đề dân dụng thì về kỹ thuật quân sự Lầu Năm Góc cũng làm như thế. Trước kia Mat-xcơ-va thông qua kỹ thuật quốc phòng đoạt được của phương Tây liền vận dụng kĩ thuật đó vào việc chế tạo hệ thống vũ khí của mình. Như vậy Liên Xô đã tiết kiệm được mấy năm trong việc nghiên cứu và khai thác. Hàng năm họ còn tiết kiệm được rất nhiều tiền của. Phát hiện được điều này, Lầu Năm Góc liền tạo ra 6, 7 tài liệu tình báo giả về các vấn đề kĩ thuật quân sự nhậy cảm, hi vọng các tài liệu này sẽ làm cho người Liên Xô chú ý. Các vấn đề kỹ thuật đó bao gồm kỹ thuật tàng hình, sáng kiến về chiến lược phòng ngự và máy bay chiến thuật tiên tiến. Phía Mỹ đã áp dụng mọi biện pháp có thể áp dụng để khiến cho các chuyên gia Liên Xô phải chú ý đến các tài liệu tình báo giả đó; ví dụ như họp báo giới thiệu về các kĩ thuật ấy. Những tình báo giả này bao gồm thời gian biểu, tính năng các kiểu máy, kết quả thử nghiệm, thời gian sản xuất và thành tựu trong vận hành.

Đầu năm 1984, Cô-xây nhận được một bản bị vong lục nội bộ, nói rõ kế hoạch tình báo giả đã thành công rất lớn. Ngoài việc gây ra cho người Liên Xô những vấn đề khó phải giải quyết ra, bản bị vong lục còn nói thêm rằng, tình báo còn làm cho toàn bộ kế hoạch về kỹ thuật của nước ngoài mà Liên Xô đoạt được lâm vào tình trạng ngắc ngoải. “Do không đủ năng lực phân biệt các số liệu và tư liệu là thật hay giả, nên việc việc tiếp thu và ứng dụng kỹ thuật của người Liên Xô đã chậm hẳn lại!”

Để tránh cho trong nước khỏi sa vào tình trạng như Liên Xô, kế hoạch tình báo giả đã bị khống chế nghiêm ngặt ở Mỹ. “Những tình báo giả này chỉ có thể tung ra bên ngoài nước Mỹ thôi! - Giôn Pin-đơ Kơ-xtơ nhớ lại - Tuy nhiên, sự thật chứng minh, đây là loại vũ khí rất mạnh để đối phó với Liên Xô. Chiêu này đã làm cho họ đầu váng mắt hoa, không còn biết đâu mà lần nữa.”
___________________________________
1. Ôm-sư-cơ: tên một thành phố ở miền Tây Si-bê-ri, nước Nga.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11305



« Trả lời #123 vào lúc: 04 Tháng Chín, 2010, 12:16:02 AM »


Cuối tháng 4, Tổng thống Ri-gân triệu tập hội nghị Tổ quy hoạch Ủy ban An ninh quốc gia. Nghị đề thảo luận ưu tiên trong hội nghị là mối quan hệ giữa nước Mỹ và A-rập Xau-đi, là vấn đề quốc vương Pha-khơ-đơ yêu cầu được mua tên lửa “Độc thích” và là mấy bản bảo đảm bằng giấy tờ về vấn đề an ninh của nước Xau-đi. Cô-xây và Uyn-pak ra sức tranh luận để nước Mỹ giữ lời hứa với Pha-khơ-đơ, Uyn-pak nói - Chúng ta cần phải làm một số việc để tăng cường mối quan hệ giữa hai nước, đồng thời để người Xau-đi thấy rằng chúng ta là hậu thuẫn đáng tin cậy của họ”. Như vậy có nghĩa là, tên lửa “Độc thích” sẽ trở thành sự tượng trưng quan trọng nhất, thiết thực nhất của nước Mỹ ủng hộ Xau-đi. Quốc vụ khanh Xu-ơn-xư muốn từ từ hãy xúc tiến việc ấy, ông không muốn lúc này có bất cứ việc gì làm mất đi sự cân bằng hiện nay. Về vấn đề đó Tổng thống Ri-gân chưa biểu thị thái độ.

Vương tử Ban-đan sau khi biết được nội dụng của cuộc họp, ông rất không yên tâm. Đối với lời hứa của Mỹ về vấn đề an ninh của mình, Pha-khơ-đơ cũng rất không yên tâm và tỏ ý chán nản! Thông qua việc tàu vận tải vào vịnh Ba-tư, I-ran tiếp tục uy hiếp khiến cho A-rập Xau-đi rất bối rối. Sau đó, Uyn-pak đến gặp Ban-đan. Vương tử đã nói với ông về tầm quan trọng của việc Xau-đi xin mua tên lửa “Độc thích” của Mỹ. Do Quốc hội đương đe rằng sẽ cấm bất kì kế hoạch bán tên lửa nào, nên Uyn-pak bố trí để Ban-đan đến trực tiếp gặp Tổng thống Ri-gân ở phòng bầu dục vào trung tuần tháng 5. Hôm đến phòng Bầu dục, Ban-đan mang bức thư mật của Quốc vương Pha-khơ-đơ dày 7 trang gửi Tổng thống. Sau khi xem xong lá thư đó, Ri-gân nói với Vương tử “Chúng tôi không đưa ra điều kiện gì với bè bạn đâu! - Tổng thống nói thêm - Các ông sẽ có được loại tên lửa mà các ông muốn, cùng với sự ủng hộ của chúng tôi!” Mấy hôm sau, Tổng thống gửi một lá thư cho Quốc vương Pha-khơ-đơ xác nhận nước Mỹ ủng hộ Vương thất Xau-đi về mặt quân sự. Lời lẽ của lá thư này phản ánh cụ thể sắc thái của người viết nó, nội dung tóm gọn như sau: “Tôi xin hứa, tôi sẽ ủng hộ Ngài!”

Mấy hôm sau, Tổng thống Ri-gân thực hiện lời hứa của ông. Do công việc tiến hành một cách gấp rút nên ông phải “bỏ qua” cả Quốc hội. Sở dĩ ông phải sử dụng biện pháp đột xuất đó là do Xau-đi cần có ngay tên lửa để bảo vệ đất nước không bị sự tập kích trên không bởi I-ran. Sau ngày kỉ niệm Chiến sĩ trận vong, 400 quả tên lửa “Độc thích” được bí mật chuyển đến A-rập Xau-đi. Con số này tuy không đáp ứng đủ con số 1200 quả như hy vọng của Pha-khơ-đơ nhưng ông vẫn hết sức vui mừng và lập tức gửi ngay đến Tổng thống Ri-gân một tấm thiệp cá nhân với những lời cảm ơn thắm thiết.

Tháng 5 năm 1984, Liên Xô đã hoàn thành 2 bản “Báo cáo về công tác tình báo đặc biệt của quốc gia (SNIEs)”; khái quát tổng thể về thái độ của Liên Xô đối với Mỹ. Theo yêu cầu của Rô-be Mac Phơ-ran cố vấn an ninh quốc gia; Cô-xây hạ lệnh công bố công khai bản báo cáo về sự kiện máy bay chở khách1 số 007 của công ty Hàng không Hàn Quốc khởi thảo năm 1983. Một phần tư liệu của báo cáo này là do As-lêch Cơn-chi-ep-xki, phó đại biểu của KGB của Luân Đôn cung cấp. Người này đã bí mật làm việc với ngành tình báo nước Anh. Những cứ liệu khác của bản báo cáo này là do hai người phản bội KGB cung cấp. Một người đã trốn khỏi Đại sứ quán Liên Xô ở Tê-hê-ran rồi đi Mỹ vào ngày 25 tháng 10 năm 1982; một người nữa đã từ Ma-rốc trốn sang Mỹ.

Bản báo cáo này nói: người Liên Xô càng ngày càng cảm thấy sợ hãi Chính phủ Ri-gân. Trên thực tế, điện Krem-li đã lắp đặt hệ thống cảnh báo chiến tranh hạt nhân đặc biệt. Vì họ sợ nước Mỹ đánh phủ đầu bằng vũ khí hạt nhân. Y-u-ri An-drô-pôp là người đầu tiên nói đến tên của các hệ thống cảnh báo đó, khi ấy ông là chủ tịch KGB. Ông cho rằng Chính phủ Ri-gân rất có khả năng phát động một cuộc công kích hạt nhân khủng khiếp! Việc này quyết không phải nói lên rằng tập đoàn lãnh đạo cao cấp nhất của Liên Xô đều có cùng một quan điểm như vậy, nhưng dù sao nó cũng chứng tỏ điện Krem-li đề cao cảnh giác, hết sức chú trọng tới nhất cử, nhất động của Nhà Trắng. SNIEs còn bộc lộ một hiện tượng rất sâu sắc là, những sự kiện trong mấy năm gần đây đã có tác dụng khiến cho các nhà lãnh đạo Liên Xô nẩy sinh tâm lí khiếp sợ!
________________________________________
1. Hồi 3 giờ 30 phút ngày 1 tháng 9 năm 1983, chiếc máy bay chở khách số hiệu KE007 của Hàn Quốc bay chệch đường bay 500km, bay vào vùng trời căn cứ chiến lược hạt nhân trên đảo Sa-kha-rin của Liên Xô. Máy bay này trúng tên lửa của Liên Xô rơi, toàn bộ 269 người trên máy bay chết cả! Sau sự kiện này Hàn Quốc và Mỹ đã lên án Liên Xô gây ra một sự kiện bi thảm trước nay chưa hề có. Nhưng Liên Xô tuyên bố trách nhiệm này là do đối phương đã cố tình bố trí như vây để do thám, trinh sát cơ sở hạt nhân của Liên Xô. Do không tìm được hộp đen của máy bay nên sự việc này đã “xếp đó, bỏ mặc”!
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11305



« Trả lời #124 vào lúc: 04 Tháng Chín, 2010, 12:16:57 AM »


Mác Phơ-ran còn ghi nhớ được nội dung của SNIEs và tâm thái của các nhà lãnh đạo Liên Xô: “Một trong những hành vi của những nhà lãnh đạo Liên Xô khiến người ta phải kinh ngạc là họ đã làm trái với những quan điểm vốn có của họ, họ đã cho rằng thể chế kinh tế của nước Mỹ đã làm cho chế độ tư bản sống lại. Vào thập kỷ 70, kinh tế nước Mỹ suy thoái, khi đó trong lòng họ rất sung sướng! Khi chúng ta bắt đầu hồi phục thì họ coi như bị một đòn đánh có tính huỷ diệt và họ bắt đầu mất hết lòng tự tin. Đương nhiên, về sự hồi phục này, chúng ta coi như đó là một ưu thế về chiến lược của chúng ta”.

SNIEs đặc biệt nói lên một điều là, các nhà lãnh đạo Liên Xô bắt đầu lo lắng vì so sánh lực lượng hai bên thì họ đang chuyển sang hướng bất lợi. Mác Phơ-ran nhớ lại: “Về mặt tâm lí mà nói, nếu đối phương chưa bị một cú đánh có tính huỷ diệt thì chúng ta chưa thể có tác động gì đối với họ được. Trong quá trình xử lí rất nhiều nguy cơ, ta có thể làm cho những nhà chính trị, những người đã khống chế nghiêm ngặt thể chế chính trị cảm thấy kinh hoàng vì một lí do là họ không quen với tình trạng này!”

So sánh lực lượng hai bên, quả thật có sự chuyển biến! Nước Mỹ đương tăng cường xây dựng lực lượng quân sự, nhất là họ đương chi ra một khoản tiền lớn để xây dựng hệ thống vũ khí kỹ thuật cao đời mới. Cho đến giữa thập kỉ 80, sự chi tiêu về quân phí Mỹ đã vượt Liên Xô. Đây là lần thứ nhất kể từ cuối thập kỉ 60. Trong 6 năm đầu thời kì Ri-gân nắm quyền, Lầu Năm Góc đã mua gần 3000 chiếc máy bay chiến đấu, 3700 quả tên lửa chiến lược và khoảng 10000 chiếc xe tăng. Chi tiêu về quân sự của họ đã tăng gấp đôi thập kỷ 70. Những hệ thống vũ khí kiểu mới này so với trước kia thì càng tinh xảo, phức tạp hơn; có lẽ đó mới là điều thật sự quan trọng! Ở ngoại vi hệ thống Liên Xô (Ba Lan và Ap-ga-ni-xtan) đã xuất hiện những điểm yếu rõ rệt. Liên Xô càng ngày càng khó có được những kĩ thuật như phương Tây; vì kiểu thể chế kinh tế tập quyền trung ương cứng nhắc này đang trải qua một thời kì rất khó khăn! Ep-cân-ni Nô-vi-cốp cho rằng: “Nội bộ Ủy ban trung ương và các quan chức cao cấp của KGB đã khẳng định là: áp lực bên ngoài đang phá hoại thể chế kinh tế của Liên Xô! Có người nói: “Chúng ta không có cách nào cạnh tranh với phương Tây, chúng ta chỉ có thể hợp tác với họ”. Đồng thời Liên Xô cũng lo ý đồ thực sự của Ri-gân là muốn phá hoại thể chế của họ.

Mặc dầu Liên Xô ở vào vị thế cơ sở của họ không vững chắc trong cuộc chiến tranh với một nước siêu cường nhưng Krem-li, đầu năm 1984 vẫn tin tưởng Liên Xô có thể thắng ở Áp-ga-ni-xtan. Khi đó liên Xô đang khống chế “nhịp điệu” của cuộc chiến tranh trên chiến trường họ đang ở ưu thế áp đảo; quân du kích Mu-xlim Ap-ga-ni-xtan chỉ có thể, với một phương thức nào đó công kích thi thoảng vào cơ sở quân Liên Xô và quân của Chính phủ Áp-ga-ni-xtan. Nhưng Liên Xô biết lợi dụng ưu thế tạm thời của họ như thế nào thì vẫn còn là một ẩn số!

Mùa xuân năm đó, một tướng lĩnh cao cấp của Bộ Tổng tham mưu quân đội Liên Xô từ Mat-xcơ-va bay tới chỉ huy sở chiến trường ở Til-mai-chư. Thành phố này nằm ở bên bờ sông A-mu, phía bên kia sông là Áp-ga-ni-xtan. Đó là con đường quan trọng từ Liên Xô vận chuyển lương thực cho quân đội của mình đóng ở Ap-ga-ni-xtan, 75% lương thực đều phải vận chuyển qua đây. Thiếu tướng Xa-la-đốp sư trưởng sư Mô-tô hoá 108 của quân đội Liên Xô ra đơn vị tướng này.

Kế hoạch của Liên Xô là phát động một cuộc tiến công đại quy mô ở thung lũng Pan-chê-xi, tướng Sa-la-đốp phụ trách trận đánh. Vị tướng cao cấp của Bộ Tổng tham mưu này sẽ ở ngay tại Chỉ huy sở giám sát cuộc chiến đấu. Trận tiến công này là một trận đánh lớn nhất từ trước tới nay tại Ap-ga-ni-xtan của quân đội Liên Xô.

Ngày 20 tháng 4, mấy chục chiếc máy bay ném bom cất cánh từ căn cứ không quân của vùng Trung Á Liên Xô bay sang Ap-ga-ni-xtan và bắt đầu ném bom rải thảm xuống thung lũng Pan-chê-xi. Quân du kích Mu-xlim Ap-ga-ni-xtan ở dưới mặt đất với sự chỉ huy của Ai-kha-med, Sa-a, Ma-sút, tất cả đều đến náu mình trong hang núi. Liên Xô sử dụng loại bom 500 bảng và 1000 bảng để oanh tạc khiến cho mặt đất rung chuyển ầm ầm. Nhưng trong thung lũng hẹp này lại có rất nhiều hang núi. Sau 2 ngày trút bom xuống nơi ấy từng đoàn, từng đoàn xe tăng và xe thiết giáp bắt đầu chạy qua thung lũng. Đồng thời, những chiếc máy bay trực thăng của Liên Xô thả quân nhảy dù xuống phía chính Bắc của thung lũng Pan-chê-xi. Không nghi ngờ gì nữa; tướng Xa-la-đốp rất vui mừng nhìn thấy cuộc chiến đấu này tiến triển tương đối thuận lợi! Nhưng kết quả cuối cùng thì lại vui buồn lẫn lộn! Quân Liên Xô quả đã chiếm lĩnh được một phần lớn khu vực thung lũng này, còn du kích Mu-xlim Ap-ga-ni-xtan thì lại tìm cách lẩn tránh cuộc tấn công của quân đội Liên Xô để bảo tồn thực lực, chờ đợi thời cơ tái chiến vào dịp khác! Vị tướng cao cấp của bộ Tổng Tham mưu quân đội Liên Xô thì quay về Mat-xcơ-va, thảo luận đối sách với Tổng tham mưu trưởng. Ông kiến nghị, quân đội Liên Xô cần nâng cấp cuộc chiến tranh này, đồng thời cần tìm cách tăng cường hoả lực, với mức độ tối đa như vậy là có thể tuyên bố quân đội Liên Xô đã thắng lợi ở Ap-ga-ni-xtan.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11305



« Trả lời #125 vào lúc: 04 Tháng Chín, 2010, 12:19:49 AM »


Liên Xô đang làm mọi người chú ý tới việc đưa nhiều người vào tử địa trong cuộc chiến tranh này qua cái gọi là thực hiện lời hứa với Ap-ga-ni-xtan. Năm 1979 quân của Chính phủ Ap-ga-ni-xtan có 80.000 người mà hiện nay đã giảm đi 30.000 người. Trong thời gian này còn bổ sung một lượng lớn tân binh để rồi cùng với rất nhiều quân Liên Xô họ bị ném vào phần lớn các chiến dịch sau đó. Vì vậy cuộc chiến tranh này coi như đã “Xô viết hoá”! Liên Xô đã xây dựng bộ đội nhẩy dù ở vùng Trung Á trong đất nước họ, rồi tung vào Ap-ga-ni-xtan đi trấn áp các binh sĩ phản loạn, tiếp đó lại vượt biên giới quay trở về đất Liên Xô. Đơn vị quân đội này được huấn luyện có chất lượng cao; so với quân Chính phủ Ap-ga-ni-xtan trước đây thì đơn vị đó rất có sức chiến đấu.

Trong bối cảnh này, vào tháng 4 năm 1984, nước Mỹ đã tính toán xem bước sau ở Ap-ga-ni-xtan nên áp dụng hành động như thế nào. Những lời hứa của Liên Xô đối với Ap-ga-ni-xtan càng tăng lên thì số thương vong của họ ở đó càng nhiều, gánh nặng chiến tranh của Chính phủ Liên Xô càng nặng! Sự thật tất sẽ chứng minh, cuộc chiến tranh này chẳng khác nào một chiếc búa tạ đập vào nơi sâu thẳm của linh hồn những con người Liên Xô! Trong nội bộ Ủy ban An ninh quốc gia, Đô-nat Phu-chê cho rằng, mặt trận của Liên Xô nếu kéo ra quá dài thì tất sẽ có nhiều khe hở. Chiếm lĩnh Ap-ga-ni-xtan có nghĩa là nơi đây sẽ càng ngày càng kìm giữ nhiều binh lực của Liên Xô. Nếu Chính phủ Mỹ có thể đưa ra một chiến lược, vừa đánh lui được những thách thức của Liên Xô, vừa có được những thắng lợi thực sự thì nước Mỹ có thể gây được ảnh hưởng có tính huỷ diệt đối với họ. Họ có thể tìm được những bằng chứng trong lịch sử. Điều này khiến cho Rô-be Mác Fơ-ran nhớ lại, nước Nga chính là do cuộc chiến tranh Nhật - Nga năm 19051 và những sự tổn thất họ phải chịu trong cuộc thế chiến lần thứ nhất nên mới xẩy ra cuộc Cách mạng nga vào năm đó!

Đúng vào lúc các quan chức của Chính phủ Ri-gân đang tranh luận xem bước sau nên có phương án hành động như thế nào, thì Va-ri Pây-cơ lần đầu tiên lén tiềm nhập vào vùng Trung Á Liên Xô. Tình báo Áp-ga-ni-xtan đã chiêu mộ Pây-cơ để y báo cáo với họ về tình hình vùng này. Do vậy, Pây-cơ đã lên đường đi về cái làng mà y đã sinh sống từ khi thiếu thời đến lúc trưởng thành. Va-ri Pây-cơ hi vọng 2 gia đình mà y quen vẫn còn sinh sống ở đó. Trước kia ở tỉnh Quyn-đốt Ap-ga-ni-xtan y phải vượt qua sông A-mu để vào đất Liên Xô, đó là một việc hết sức khó khăn. Quê hương của Pây-cơ ở Xiê-rơ-khan, vùng chung quanh đó không được an toàn, bờ bên kia sông A-mu là cảng khẩu Ni-giơ-ni Pi-ang-chư sầm uất của Liên Xô. Ở đó khắp nơi đều có nhân viên bảo an của Liên Xô. Vì vậy Pây-cơ chọn một nơi ở phía Tây Xiê-rơ-khan để qua sông, ở đó hai bờ sông A-mu đều có những núi đá cao ngất, giữa dòng sông rất nhiều lau sậy, chúng sẽ che khuất y khi qua sông.

Để không bị phát hiện, Pây-cơ không đi thuyền vượt sông, mà y bơi sang bờ bên kia qua một khoảng sông nước giá lạnh rộng khoảng 700 Y-ac2. Pây-cơ tìm được một miếng da sơn dương khô, y khâu thành một cái túi rồi bơm đầy khí vào bên trong để làm một cái phao qua sông. Khi sang được đất Liên Xô rồi, khắp người y trên dưới vừa ướt, vừa lạnh!

Buổi sáng, mất mấy tiếng đồng hồ, y mới đến được nơi định đến. Tới đó y gặp được mấy người bạn cũ. Pây-cơ ở trong thôn 2 ngày. Ở đây có rất nhiều người tỏ ý ủng hộ việc chống Liên Xô, do đó y cảm thấy rất phấn khởi. 2 người dân trong thôn muốn được y cung cấp súng để đánh người Liên Xô; còn rất nhiều người nữa thì muốn có được sách báo và các tài liệu. Lại còn nhiều người Nga xin xung phong làm người dẫn đường, hoặc xin cung cấp lương thục và nơi ở. Pây-cơ đã báo cáo hết mọi điều đó với Mô-ha-met Ưu-xu-phu. “Rất nhiều báo cáo đã chứng tỏ rằng nhân dân đều muốn được giúp đỡ, điều này đã cho tôi một ấn tượng rất sâu sắc - ƯU-xu-phu nhớ lại - Có một số người muốn được cấp vũ khí, có một số người muốn được gia nhập đội du kích Mu-xlim Ap-ga-ni-xtan, còn có một số người muốn tham gia những hoạt động phản kháng Liên Xô ngay trên đất Liên Xô”.

Ưu-xu-phu căn cứ vào kết quả khảo sát của Pây-cơ, viết một bản báo cáo về Cục Tình báo trung ương khiến các quan chức ở đó rất phấn khởi. Cục lập tức cho mua mấy trăm chiếc xuồng cao su, nhãn hiệu “Hoàng Đạo” cho đội du kích Mu-xlim để họ chuyển quân và các ấn loát phẩm qua sông. Quân du kích muốn tiến công một số mục tiêu ở vùng này nhưng phía Mỹ không đồng ý cung cấp những ảnh vệ tinh về số mục tiêu đó cho họ. Tổng thống Ri-gân và Chính phủ Mỹ đều không muốn nhúng tay vào tất cả mọi hành động của đội du kích Mu-xlim. Nếu quân du kích đánh rất chính xác vào những mục tiêu bí mật có giá trị quan trọng về quân sự của Liên Xô theo kiểu “mổ ngoại khoa” thì có khác nào nói với Liên Xô rằng, Mỹ đã nhúng tay vào việc này! Vì vậy không cung cấp cho đội du kích Mu-xlim những tin tình báo ở phía bắc sông A-mu trở thành một giới hạn không thể vượt qua trong cuộc chiến tranh bí mật tại nội địa Liên Xô.
______________________________________
1. Đầu thế kỉ 20, do tranh đoạt quyền lợi ở Triều Tiên và vùng Đông Bắc Trung Quốc mà giữa Nhật và Nga đã nổ ra cuộc chiến tranh đế quốc, chiến trường chính là vùng Đông Bắc Trung Quốc. Kết cục là nước Nga thua trận! Sau cuộc chiến tranh này, Nhật càng ra sức xâm lược Triều Tiên, năm 1919 đã chiếm được nước này. Còn nước Nga của Nga hoàng sau cuộc chiến bại, trong nước đã xuất hiện rất nhiều nguy cơ, do vậy đã nổ ra cuộc Cách mạng năm 1905.
2. Y-ac (Yards): Thước Anh và Mỹ, bằng 0,914 mét.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11305



« Trả lời #126 vào lúc: 04 Tháng Chín, 2010, 12:20:34 AM »


Mùa xuân năm ấy vào lúc tin về cuộc chiến tranh Áp-ga-ni-xtan được phổ biến rộng rãi đến vùng Trung Á Liên Xô, Lầu Năm Cóc đã bằng trăm phương nghìn kế ngăn chặn không cho kĩ thuật phương Tây chuyển nhượng được cho Liên Xô. Thông qua một loạt những hiệp định song phương và đa phương, rất nhiều các quốc gia đã gia nhập liên minh khống chế kĩ thuật. Đồng thời, những bản liệt kê các kĩ thuật không được xuất khẩu cứ dài mãi lên. Mặc dầu vậy vẫn có một số vật phẩm xuất khẩu phi pháp tìm cách đến được Mat-xcơ-va; điều này chắc chắn! Nhưng nếu Liên Xô muốn thông qua một cách giản đơn “phương thức mua” để đạt được bí quyết kĩ thuật của phương Tây thì việc đó sẽ ngày càng khó! Việc khống chế ngày càng chặt vấn đề xuất khẩu kĩ thuật khiến cho Mat-xcơ-va về phương diện phân phối, bố trí tài nguyên gặp phải những vấn đề rắc rối. Do vậy khiến cho một số quan chức Liên Xô phải có sáng tạo khi triển khai công tác để đột phá được sự hạn chế của phương Tây. Họ đã phải sử dụng một sách lược thông thường, tức là thông qua một nước trung lập thứ ba để có được kĩ thuật tiên tiến của phương Tây.

Trước đó không lâu, nước Mỹ đã biết được sách lược này của Liên Xô. Một số các quan chức của Bộ Quốc phòng, Quốc Vụ viện và bộ Thương nghiệp đã quyết định thông qua hai con đường để xử lí vấn đề nan giải này; một là phía Mỹ sẽ gây áp lực cho một số nước trung lập. Mỹ sẽ yêu cầu họ đình chỉ những việc như vậy để đổi lấy việc được vào thị trường Mỹ và có được kĩ thuật của Mỹ. Thụy Điển và Áo đã làm theo cách đó; hai là, các quan chức Mỹ sẽ buộc các công ty phương Tây phải tự kiềm chế, đồng thời quản lí tốt việc họ buôn bán xới các công ty ngoài. Như vậy có nghĩa là Chính phủ Mỹ phải đấu tranh với châu Âu như đã đấu tranh trong vấn đề đường ống khí đốt hồi năm 1982 và phải sử dụng “Luật quản lí và khống chế xuất khẩu”.

Mùa xuân năm 1984, “Ủy ban liên ngành cao cấp về vấn đề chuyển nhượng kĩ thuật chiến lược” do Phó Quốc vụ khanh Uy-li-am Sư-nat lãnh đạo đã soạn thảo ra một quy tắc mới về việc hạn chế xuất khẩu kĩ thuật, từ đó làm thất bại mưu đồ giành lấy kỹ thuật phương Tây qua nước thứ ba của Liên Xô. Quy tắc mới này kiến nghị nước Mỹ cần khống chế chặt việc phân phối giấy phép, qua đó khống chế việc tái xuất khẩu kĩ thuật cao của nước Mỹ. Ví dụ, bất kì một công ty nào của một nước thành viên trong khối Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương nếu muốn tái xuất khẩu một sản phẩm nào đó mà nước Mỹ khống chế sang bất kì một nước nào không phải trong khối Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương, thì công ty đó bắt buộc phải xuất trình một bản liệt kê để chứng minh loại sản phẩm này sau đó không rơi vào tay Mat-xcơ-va. Chính sách này áp dụng cho tất cả các thương phẩm do Mỹ khống chế, vì phương Tây có khả năng căn cứ vào giấy phép do Mỹ cấp để tái xuất khẩu sản phẩm đó sang một nước trung lập hay sang một nước trong thế giới thứ ba.

Định nghĩa của phía Mỹ đối với “kỹ thuật nước Mỹ” rất rộng, như vậy có thể làm cho Oa-sinh-tơn khống chế một cách thiết thực những kỹ thuật lưu động trên toàn thế giới. Châu Âu không thấy hứng thú gì trong việc này. Một quan chức thương nghiệp của nước Đức nói: “Chúng tôi thấy định nghĩa này không hợp lý. Ví dụ, một công ty châu Âu sử dụng số liệu kĩ thuật bắt nguồn ở Mỹ khai thác phần mềm máy tính, rút cục bản thân lại bị hạn chế bởi quy tắc Xuất khẩu của nước Mỹ, bất kể sự cống hiến của nước Mỹ đối với sự khai thác phần mềm này là nhỏ nhoi.

Một khi Mỹ ra sức xây dựng quốc phòng với kĩ thuật cao, thì cơ sở kĩ thuật của Liên Xô lại càng phải chịu áp lực lớn! Nhất là, sự coi trọng kĩ thuật cao của Mỹ không chỉ phản ánh về phương diện “mua” mà ngày càng phản ánh vào trong chính sách và vào trong học thuyết quân sự của các nước đồng minh trong Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương. Điều này sẽ làm cho một phần rất lớn tài nguyên hữu hạn của Mat-xcơ-va phải sử dụng vào việc nghiên cứu chế tạo hệ thống vũ khí.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11305



« Trả lời #127 vào lúc: 04 Tháng Chín, 2010, 12:21:30 AM »


Tháng 5 năm 1984, Cai-xpa Uyn-pak đi dự hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng trong liên minh khối các nước Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương họp định kì tại Bruc-xen. Các bộ trưởng cùng tụ tập trong một gian phòng của tư nhân và họ bắt đầu thảo luận về chiến lược và chính sách của Liên minh. Đã hai năm nay Uyn-pak vẫn lặng lẽ chờ đợi với sự mong muốn những người đồng cấp trong các nước đồng minh ở châu Âu của ông tiếp thu một kế hoạch. Đó là kế hoạch tập trung lực lượng kĩ thuật của khối các nước Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (tức NATO) để khai thác hệ thống vũ khí mới do Mỹ mới chế tạo. Triển vọng phát triển về kĩ thuật quân sự của nước Mỹ đã có sự biến đổi to lớn. Năm 1982, quân đội Mỹ tiếp thu học thuyết “Chiến dịch cơ giáng”, dự đoán sẽ xuất hiện một giai đoạn phòng thủ tích cực trong đó bao gồm cả việc đánh vào các mục tiêu sâu của kẻ địch, đồng thời sử dụng điện tử và thiết bị thông tin ở mức độ tối đa. Nội dung chủ yếu của học thuyết này bao gồm sự tăng cường tính cơ động linh hoạt của quân đội và sử dụng liên hợp các loại binh khí. Tiền đề lập ra học thuyết này là thông qua sự đánh bất ngờ để làm rối loạn tâm trí kẻ địch; giả định nếu đối phương phòng ngự cứ kiên trì phòng thủ thì với cách đánh này chúng sẽ thất bại. Nhưng học thuyết đó lại ngang ngược giả định là bộ binh nước Mỹ tiến vào lãnh thổ một nước thành viên trong tổ chức Hiệp ước Vác-sa-va để phản kích. Uyn-pak hy vọng sẽ được thực hiện nghĩa vụ khai thác kỹ thuật vũ khí tiên tiến và soạn thảo ra chiến lược mới cho khối Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương.

Tháng 12 năm 1983, Uyn-pak kiến nghị với các nước đồng minh, coi 30 hệ thống vũ khí kĩ thuật mới sáng tạo là những hạng mục ưu tiên nhất. Nhưng, những người lãnh đạo các nước đồng minh đều cự tuyệt thẳng thừng lời kiến nghị này; vì họ, hoặc là không tin tưởng gì vào khái niệm kĩ thuật vũ khí mới xuất hiện, hoặc là họ không muốn hứa tăng dự toán quốc phòng của nước mình. Nhưng, Uyn-pak vẫn không hết hy vọng. Ông vẫn ngầm đi thuyết phục các bạn đồng cấp trong các nước đồng minh.

Đến tháng 5 năm 1984 tại hội nghị Bruc-xen, tình hình có xoay chuyển lớn, kiến nghị trên của Uyn-pak được phê chuẩn! Các bộ trưởng chỉ thị cho “Tổ kế hoạch châu Âu độc lập” tổ chức lực lượng toàn châu Âu cùng hợp tác về việc khai thác kĩ thuật mới. Hiệp ước này đối với kế hoạch trên không yêu cầu các nước thành viên phải có lời hứa gì về tài vụ mà chỉ phê chuẩn tổng thể khái niệm đã được phía Mỹ đưa ra mà thôi.

Bản hiệp ước đã được các nước đồng minh trong NATO kí kết này nhấn mạnh, sẽ mở rộng hoặc tăng tốc việc khai thác các loại vũ khí kĩ thuật mới ở một, hoặc ở nhiều các nước đồng minh. Nếu kế hoạch này thành công thì trên chiến trường sẽ có được hiệu quả đầy kịch tính. Trong báo cáo về vấn đề này của NATO đã viết: “Trên cơ sở nghiên cứu sơ bộ, các nước thành viên Na-tô cho rằng, nếu các kĩ thuật mới: truyền cảm khí, kĩ thuật xử lí tín hiệu, kĩ thuật xử lí số liệu và kĩ thuật thông tin tiên tiến sử dụng nhất loạt thì lực lượng hùng mạnh của quân đồng minh lập tức sẽ tăng lên bội phần!”

Nhưng khi các Bộ trưởng Quốc phòng của NATO phê chuẩn chiến lược mới do rất nhiều các nguyên tắc của “Chiến dịch cơ giáng” xây dựng nên, họ cũng đều nhớ kĩ lời hứa đối với việc khai thác kĩ thuật mới! Học thuyết “Hậu tục quân sự công kích (FOFA)” tuy không “hừng hực dã tâm” như học thuật “Chiến dịch cơ giáng”, nhưng trong chiến lược của NATO nó vẫn có sự thay đổi khiến người ta phải chú ý. Tuy nhiên, Bộ quốc phòng Liên Xô còn chưa hoàn toàn nhận thức được sự thay đổi này.

Khi NATO chính thức chuyển dịch trọng điểm chiến lược quân sự trước kia sang kĩ thuật mới: nguyên soái Ao-cơl-cốp kêu gọi Liên Xô cần phải nỗ lực để song song phát triển cùng Mỹ. Ông nói với một phóng viên quân sự rằng: “Mấy năm gần đây sự phát triển nhanh chóng của khoa học kĩ thuật thật sự đã trở thành điều kiện tiên quyết cho không năm sắp tới, khi mà trong những năm đó xuất hiện càng nhiều những vũ khí có tính huỷ diệt và những vũ khí mà trước nay người ta chưa hề biết tới. Những vũ khí này đều được chế tạo theo nguyên lí vật lí mới; rất nhiều quốc gia đương nghiên cứu chế tạo kiểu vũ khí mới này, trong đó một quốc gia quan trọng nhất chính là nước Mỹ. Trong tương lai không xa sự tiến triển về mặt này sẽ trở thành hiện thực. Nếu ngày nay chúng ta không coi trọng vấn đề này thì chúng ta sẽ phạm sai lầm lớn.”
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11305



« Trả lời #128 vào lúc: 04 Tháng Chín, 2010, 12:23:41 AM »


Điện Krem-li quyết định không thể lạc hậu trong cuộc chạy đua kĩ thuật then chốt này. Về phía Ri-gân, trong mấy năm đầu, khi ông mới cầm quyền, các khoản mua vào cho quốc phòng của nước Mỹ mỗi năm tăng 25%; dự toán quốc phòng trong khoảng 1980 – 1985 tăng gấp đôi. Các nhà quân sự của Liên Xô rất chú trọng vấn đề này. Họ đã thấy các khoản chi tiêu về mặt nghiên cứu và khai thác kĩ thuật mới của Lầu Năm Góc đã tăng vọt. Năm 1980 - 1985, chi phí về nghiên cứu, phát minh kỹ thuật vũ khí mới của nước Mỹ gần như tăng gấp đôi. Năm 1981 - 1985, dự toán quốc phòng của Liên Xô tăng 45%, nhưng các nhà lãnh đạo Liên Xô cho rằng sự tăng đó chưa đủ để đối chọi với những sự thách thức về phương diện kĩ thuật của nước Mỹ. Vì vậy mùa xuân năm 1984 Công-xtăng-tin Chéc-nen-cô1, Tổng Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô tuyên bố: “Tình hình phức tạp của quốc tế khiến chúng tôi bắt buộc phải chuyển phần lớn tài nguyên cho vấn đề bảo vệ an ninh đất nước” Sự chuyển biến về chính sách này đã khiến cho Liên Xô là một quốc gia vốn suy yếu về kinh tế càng lâm vào tình trạng “chết trâu lại thèm mẻ rìu”.

Do sự chuyển biến của chính sách này, Liên Xô đã đưa rất nhiều tài nguyên sang lĩnh vực kĩ thuật cao của quân sự. Theo lời của Rê-an Z. Xac-chi-ep, lãnh đạo Sở Nghiên cứu không gian Liên Xô những năm 80, Mat-xcơ-va đã phải chi hàng chục tỉ đôla mới gắng gượng theo kịp được sáng kiến chiến lược phòng ngự của nước Mỹ. “Sau khi Ri-gân tuyên bố kế hoạch “Chiến tranh trên các vì sao” vào năm 1983 thì kế hoạch này trở thành một hạng mục ưu tiên số 1” Vì vậy Liên Xô đã phải chuẩn bị tài chính, bắt đầu từ số không; phát triển các thiết bị, các cơ sở công nghiệp về khoa học kĩ thuật quân sự. Đến năm 1986, sáng lập 16 xí nghiệp tổng hợp độc lập, tiến hành việc nghiên cứu kỹ thuật và khai thác về các phương diện la-de và gen. Để đối phó với “hiện tượng cãi nhau lăng nhăng” giữa các xí nghiệp nọ với xí nghiệp kia, Liên Xô đã thành lập một cơ quan quan liêu mới. Thế là một cơ quan với cái tên hiệu là “Cơ-láp-cơ xmus” chỉ trong một đêm đã ra đời. Còn toàn bộ tên chính thức của nó rất dài mà đọc khó trôi chảy, tên của cơ quan đó là: “Cục Tổng quản lí kỹ thuật khai thác không gian sử dụng trong kinh tế quốc dân và nghiên cứu khoa học”. Đến mùa thu năm 1984, Viện Khoa học Liên Xô tuyên bố bỏ ra 100 triệu đôla để khai thác kĩ thuật máy tính tiên tiến với ý đồ vượt qua một thế hệ kĩ thuật. Trong nghiên cứu quốc tế về lĩnh vực này họ đã xác lập được vị trí tiền duyên của mình. Liên Xô đã gia tăng số nhân viên và số vốn để đưa và đây, nhằm nghiên cứu các hạng mục sau:

- Nghiên cứu vũ khí chùm hạt, tiến hành tại Xê-rô-oa, gần thành phố Go-rơ-ki do Páp-lôp-xki lãnh đạo.

- Nghiên cứu chùm Prô-tông và chùm la-de cận hồng ngoại; tiến hành ở Cla-suôi-ar-xkô, Xiu-lat-mu, Xiu-mi-pla-chin-xka và Cla-sna-ya-dưa-khơ-ca.

- Xây dựng lò phản ứng tụ biến ở Sở nghiên cứu Lê-nin-grat Xê-phây-môp.

Nhưng ngoài việc chuyển dịch tài nguyên ra, do có sự thách thức về mặt quốc phòng từ phía Mỹ, khiến cho Liên Xô bất kể mọi điều đã quyết tâm cùng song song phát triển với siêu cường. Muốn vậy thì Liên Xô phải có sự thay đổi hẳn về mặt kết cấu thể chế kinh tế của mình. Mat-xcơ-va cùng nước Mỹ chạy đua về vấn đề số lượng, nhưng đối với sự thách thức kĩ thuật về mặt sáng tạo cái mới và chất lượng thì lại là một vấn đề khác!

Thể chế kinh tế của Liên Xô hầu như không có tác dụng khuyến khích, nó ức chế tính sáng tạo của mọi người, còn chất lượng sản phẩm của nó thì kém! Rất nhiều kỹ thuật sử dụng để sản xuất vũ khí của Liên Xô đều từ phương Tây đến. Đối với Bộ quốc phòng Liên Xô mà nói, nền kinh tế trong nước tuy suy kém, những chỉ cần nó không xâm hại đến quyền lợi tương quan của quân đội thì ngược lại cũng tiện về mặt quản lí. Nhưng do Chính phủ Ri-gân tiến hành “sáng kiến về chiến lược phòng thủ”; một hệ thống vũ khí kỹ thuật cao, do vậy việc cải cách thể chế kinh tế của Liên Xô đã trở thành một việc không thể tránh được. Ngay từ năm 1981, Bộ quốc phòng Liên Xô đã có một chuyên đề khẳng định việc cải cách đó là tất yếu. Chuyên đề có tựa đề “Cơ sở kinh tế của lực lượng quốc phòng quốc gia xã hội chủ nghĩa”, nội dung chỉ rõ: Ngành công nghiệp kĩ thuật cao của Liên Xô, với sự suy thoái của nó “có thể hạ thấp một mặt quan trọng của thực lực quân sự - tốc độ phát triển về kinh tế; tiếp đó nó sẽ gây ra một sự tổn hại không thể cứu vãn được về mặt thực lực quốc phòng”. Ngày nay một thể chế kinh tế lạc hậu không chỉ có nghĩa là một sự yếu kém về các vật phẩm tiêu dùng trong sinh hoạt mà còn có nghĩa là nước có thể chế đó về mặt thực lực quân sự đã trở thành một quốc gia hạng hai. Nói tóm lại, trong hoàn cảnh phòng ngự tại một nước mà ở đó kĩ thuật cao được tăng cường thì quy tắc “chạy đua” đã thay đổi. Đúng như Xê-vac-nat-de2 đã nói “Đối với một quốc gia, mặt dầu về mặt an ninh tuy đã có một số lượng vũ khí mang nghĩa quyết định nhưng không quan trọng bằng, về căn bản quốc gia đó có năng lực để sáng tạo và sản xuất một loại vũ khí kiểu mới.”

Có một điều người ta không thể tưởng tượng được là, sở dĩ Liên Xô có phong trào cải cách là do có tác động của chính sách của Ri-gân! “Từ nhiều khía cạnh mà xét, sự cải cách của Liên Xô là một việc chủ động về mặt quân sự - Ep-cân-ni Nô-vi-cốp nhớ lại - Ngay từ năm 1982, Mat-xcơ-va đã bàn đến việc này, họ coi đó là một sự cần thiết để bảo tồn thực lực quân sự của Liên Xô, nhất là khi nước Mỹ tiến hành xây dựng quân sự thì Liên Xô lại cần phải có sự cải cách. I-ri-a Cha-sla-fu-a Uỷ viên Xô viết tối cao Liên Xô nói: “Rô-nan Ri-gân là cha đẻ của công cuộc cải cách ở Liên Xô!”
_______________________________________
1. Công-xtăng-tin Chéc-nen-cô: sinh năm 1911, sau khi An-đrô-pốp qua đời, ông được bầu là Tổng bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. Sau đó không lâu, sức khoẻ ông ngày càng suy sụp. Ngày 10 tháng 3 năm 1985 ông qua đời!
2. Xê-vac-nat-de: sinh năm 1928; 1985 - 1990 là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Liên Xô. Ông là một đồng liêu thân cận nhất của Goóc-ba-chốp. Năm 1991, sau một thời gian nghỉ việc, ông lại đảm nhận chức vụ cũ (19/11/1991 - 25/12/1991), chính mắt ông trong thời gian này đã thấy sự tan rã của Liên Xô! Tháng 3 năm 1992 ông lại quay về quê hương, nước Gru-di-a, đảm nhân chức Chủ tịch Ủy ban Quốc vụ; tháng 10 cùng năm ông trúng cử chức Nghị trưởng Nghị hội (tương đương Tổng thống). 1993 trúng cử chức vụ Tổng thống nước này, đến năm 2000 lại trúng cử Tổng thống nhiệm kì tiếp.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11305



« Trả lời #129 vào lúc: 04 Tháng Chín, 2010, 12:24:43 AM »


CHƯƠNG MƯỜI BỐN


Mùa hạ năm 1984, một mùa hạ dài dằng dặc mà nóng nực! Tháng 7, Ủy ban Thống trù Pa-ri đã hoàn thành việc thẩm định bản liệt kê cấm vận quốc tế về xuất khẩu kĩ thuật đối với tập đoàn Liên Xô. Ủy ban đã có sửa đổi và mở rộng 3 bản liệt kê về quân nhu phẩm, năng lượng nguyên tử và hợp tác quốc tế, trong đó tuy có tăng về phần mềm máy tính, thiết bị thông tin và máy tính quân dụng loại nhỏ, nhưng lại cưỡng chế việc chấp hành lên một bước, nhất là lại có điều khoản đình chỉ sự chuyển vận các vật phẩm sang nước thứ ba. Các thành viên của Ủy ban nhất trí tăng cường vấn đề phối hợp và vấn đề đình chỉ sự chuyển vận sang nước thứ ba. Vì vậy, tập đoàn Liên Xô sẽ càng khó khăn hơn trong việc giành kĩ thuật phương Tây!

Sự bất an của Mat-xcơ-va đối với Ri-gân vẫn chưa lắng dịu. Phơ-la-chi-mil Kơ-liu-xi-côp thông tri cho các tình báo viên của KGB làm việc ở các trạm tình báo trên thế giới rằng, việc thu thập nhiều các tin tình báo về nước Mỹ đối với Liên Xô là vô cùng quan trọng. Trong một bức thông điệp ông viết: “Tình hình căng thẳng của thế giới và sự uy hiếp chiến tranh đến từ nước Mỹ đã nói lên một điều là cơ quan chúng ta cần tiến hành một cuộc đấu tranh quyết liệt với đối thủ chủ yếu của chúng ta là nước Mỹ.” Sự thành lập Chính phủ Ri-gân khiến cho trên trường quốc tế xuất hiện những tình huống đặc biệt, các cơ quan hải ngoại của KGB đã phải triển khai một loạt hoạt động này khác! Tổng bộ KGB đã yêu cầu các trạm tình báo của họ ở hải ngoại, nhất thiết mỗi năm phải có ít nhất 2 bản báo cáo về tình hình nước Mỹ (trước đây yêu cầu này chỉ đề xuất với một số trạm tình báo).

Người Liên Xô cũng không ngây thơ gì mà cho rằng họ có năng lực tác động đến cuộc tổng tuyển cử ở Mỹ, nhưng hiển nhiên là họ sẽ đem hết sức ra để làm cho Ri-gân ít có cơ hội trúng cử. Ep-cân-ni Nô-vi-cốp nhớ lại: “Các nhà lãnh đạo Liên Xô đều cùng cho rằng, bất cứ một người nào khác trúng cử Tổng thống cũng đều tốt hơn Ri-gân!” Mang hy vọng có khả năng làm dao động dư luận, nhưng nhà lãnh đạo Liên Xô đều công khai nói lên quan điểm của họ đối với Chính phủ Oa-sinh-tơn. Trong quá trình này, Bộ trưởng Ngoại giao Grô-mi-cô đã phát huy tác dụng rõ rệt. Ông dường như trở thành một cây đại thụ trong giới ngoại giao Liên Xô; rất nhiều người Mỹ đã biết ông.

Ngày 27 tháng 7, khi đang nghỉ tại Y-an-ta, Grô-mi-cô có tiếp Gioóc-giơ Mai-cơn, nguyên Thượng nghị sĩ Mỹ. Năm 1972, Mai-cơn đã từng là ứng cử viên Tổng thống; năm 1984, ông đã có một cơ hội, nhưng ngay lúc đầu tranh cử đã xẩy ra một việc không hay khiến ông không thể không bỏ lỡ cơ hội. Lần đến thăm này của Mai-cơn, ông đã phát ra một tín hiệu hoà bình! Hai người trao đổi với nhau rất thẳng thắn trong 3 tiếng đồng hồ. Grô-mi-cô cũng nói hết những điều cần nói với ông ta.

Grô-mi-cô nói với Mai-cơn, ông hi vọng Ri-gân lại trúng cử, nhưng ông không có cách nào thấy trước được Chính phủ Mỹ có đình chỉ chính sách “chống Cộng” của ông ta hay không. Ri-gân và những trợ thủ của ông ta “luôn muốn gây chuyện phiền phức”. Ông nói “Họ muốn làm yếu thể chế Liên Xô, đồng thời muốn đánh đổ thể chế này!”

Trong cuộc hội đàm, họ ước định với nhau, cuối tháng 9 hoặc đầu tháng 10, tức trước ngày Tổng tuyển cử của nước Mỹ, Grô-mi-cô sẽ có kế hoạch sang thăm nước này. Grô-mi-cô đã cự tuyệt lời thỉnh cầu của Nhà Trắng là miêu tả Ri-gân thành một chính trị gia có mầu sắc hoà bình, vì ông cho rằng đó là ngụy kế của Nhà Trắng để làm thất bại sự công kích Ri-gân của Đảng Dân chủ. Đảng Dân chủ nói, Ri-gân đương đẩy cuộc chạy đua giữa các siêu cường đến con đường nguy hiểm của chiến tranh. Xuất phát từ một sự suy nghĩ có tính sách lược, Grô-mi-cô có ý định, một ngày trước khi đến Nhà Trắng ông sẽ hội kiến với Von-ta Mân-tel, ứng cử viên Tổng thống của Đảng Dân chủ.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM