Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 24 Tháng Tám, 2019, 05:50:47 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 6  (Đọc 50069 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11279



« Trả lời #80 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2010, 12:39:12 AM »


Thắng lợi trên mặt trận quân sự và chống phá bình định của các tỉnh miền Đông Nam Bộ đã thúc đẩy phong trào đấu tranh chính trị và binh vận của thành phố Sài Gòn - Gia Định phát triển. Mùa xuân năm 1971, hàng vạn đồng bào lao động và học sinh, sinh viên Sài Gòn xuống đường đấu tranh, đốt cháy hàng chục xe ôtô, rải hàng vạn truyền đơn đòi Mỹ rút nhanh, rút hết về nước. Tháng 2-1971, khi địch đánh sang Nam Lào, hàng vạn thanh niên, sinh viên Sài Gòn xuống đường hô vang khẩu hiệu và mang theo biểu ngữ đả đảo Níchxơn, Nguyễn Văn Thiệu. Tháng 4-1971, mười vạn công nhân thuộc các nghiệp đoàn Sài Gòn bãi công đòi huỷ bỏ thuế lương bổng, 700 nữ công nhân xưởng pin Con Ó bãi công chống chủ sa thải. Tháng 9-1971, nhân ngày cầu siêu cho sinh viên Phạm Hạnh chết tại quân trường Quang Trung, 3.000 sinh viên Vạn Hạnh được nhân dân khu Trương Minh Giảng ủng hộ, đã xuống đường trương khẩu hiệu Đả đảo chương trình quân sự hoá học đường, còn Thiệu còn chiến tranh... Nha cảnh sát đô thành Sài Gòn điều hàng trăm cảnh sát đến đàn áp ngăn chặn, học sinh, sinh viên dùng gạch đá chống lại, xô xát dữ dội đã xảy ra và kết quả hai xe cảnh sát và một chốt gác bị đốt cháy. Những tháng cuối năm 1971, thanh niên, sinh viên thành phố tiếp tục xuống đường nhập cuộc với nhân dân đấu tranh chống bầu cử hạ viện, tổng thống; chống dân chủ giả hiệu, chống Mỹ can thiệp vào công việc nội bộ của người Việt Nam... Phong trào đấu tranh chính trị ở đô thành Sài Gòn và các thị xã lân cận góp phần tích cực vào thế trận tiến công tổng hợp của quân dân miền đông Nam Bộ nhằm vào chế độ Sài Gòn.

Trên hướng trọng điểm chống phá bình định đồng bằng sông Cửu Long, mặc dù địch đánh phá hết sức ác liệt các khu vực Cà Mau, U Minh, Rạch Giá, Cần Thơ, An Giang (Quân khu IX), Mỹ Tho, Bến Tre, Kiến Phong, Gò Công (Quân khu VIII), nhưng Trung ương Cục và Quân uỷ miền vẫn tập trung chỉ đạo các địa phương này khắc phục mọi khó khăn gian khổ, tích cực chủ động đánh bại chương trình bình định. Tại Quân khu VIII, quân, dân Mỹ Tho được sự chỉ đạo trực tiếp của lãnh đạo và chỉ huy tiền phương quân khu đứng chân ở Cai Lậy, đã vượt lên muôn và gian khổ, hy sinh1, bền bỉ bám trụ xã, ấp, đẩy mạnh phong trào đấu tranh chống phá bình định. Tháng 3-1971, Tiểu đoàn 269 đặc công quân khu táo bạo luồn sâu, vượt nhiều tuyến chốt của địch, tập kích các trận địa pháo ở Cai Lậy, Vĩnh Kim, phá huỷ năm khẩu pháo 105mm, loại khỏi vòng chiến đấu hàng chục tên. Giữa tháng 4-1971. Tiểu đoàn 261A tập kích khu trù mật Mỹ Phước Tây, diệt đồn Bình Phú (Cai Cậy). Cùng thời gian, Tiểu đoàn 514C tập kích trung tâm huấn luyện Tân Hiệp. Trong khi đó, bộ đội địa phương và du kích dọc theo quốc lộ 4 đã tổ chức các trận tiến công tiêu diệt trên 20 đồn bốt, phá huỷ hàng chục xe quân sự các loại. Phối hợp với lực lượng quân sự, lực lượng chính trị, binh vận ở các địa phương thuộc Cai Lậy Nam, Bình Trưng, Bàn Long, Phú Long, đường 12, Cai Lậy Bắc, Bắc Cái Bè, Nhi Bình... ra sức tuyên truyền vận động binh sĩ Sài Gòn không nã súng vào nhân dân. Đến giữa năm 1971, Mỹ Tho đã khôi phục, củng cố, xây dựng được nhiều cơ sở đảng, nhiều trung đội, đại đội du kích ở các xã trong tỉnh. Chiến tranh du kích nhanh chóng được phục hồi, phát triển. Tháng 7-1971, du kích 77 xã (trong tổng số 90 xã của tỉnh Mỹ Tho) đã đánh trên 200 trận, loại khỏi vòng chiến đấu gần 7000 tên địch. Cuối năm đó, toàn tỉnh giải phóng được 87 ấp với 67.000 dân, hàng trăm xóm ấp khác trước bị địch kìm kẹp gắt gao, nay đã được nới lỏng, du kích và bộ đội ban đêm có thể đột nhập dễ dàng...

Tại tỉnh Bến Tre, sáu tháng đầu năm 1971, mặc dù địch huy động hàng chục tiểu đoàn chủ lực và bảo an càn quét, đánh phá hết sức ác liệt các cơ sở cách mạng trên địa bàn tỉnh, làm cho hàng nghìn cán bộ, đảng viên hy sinh và bị bắt, nhưng được sự chỉ đạo và giúp đỡ của quân khu, quân và dân trong tỉnh đã nhanh chóng khắc phục những tổn thất, gây dựng lại phong trào chống phá bình định. Tháng 6-1971, tỉnh uỷ và tỉnh đội chỉ đạo các đội vũ trang công tác và cán bộ, đảng viên về hai huyện trọng điểm Mỏ Cày, Giồng Trôm thực hiện “ba bám”, vận động lực lượng vũ trang nhân dân địa phương chống phá địch càn quét. Tháng 7-1971, du kích xã Bình Hoà (Giồng Trôm) tập kích vào đội hình đóng quân Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 10, diệt 35 tên. Du kích xã Mỹ Phước Trung (Mỏ Cày Bắc) luồn sâu vào nội ô chi khu Đôn Nhơn gài mìn, phá huỷ 1 máy bay trực thăng, một xe quân sự. Du kích xã Phước Thạnh (Châu Thành) phục kích chặn địch, diệt 90 tên. Tháng 8-1971, Tiểu đoàn 516 phối hợp với du kích Thạnh Phú Đông tập kích vào lực lượng địch khi chúng đang càn quét, khai quang địa bàn, diệt 60 tên. Tiểu đoàn 263 liên tiếp bám đánh địch ở An Phước, Phú An Hoà, diệt ba đoàn bình định... Được bộ đội chủ lực hỗ trợ, nhân dân xã An Định (Mỏ Cày) đã chặn nhiều đại đội địch, không cho chúng chặt phá phát quang, phá hoại vườn tược. Hàng trăm bà con xã Thời Thuận (Bình Đại), Cồn Vững (Thạnh Phong) ôm chặt các cột nhà, không cho địch cày ủi, đốt phá, gom dân lập ấp chiến lược. Cùng với việc đẩy mạnh hoạt động quân sự đánh địch càn quét, tỉnh đội đồng thời chú trọng công tác địch vận, vận động binh lính địch trở về với nhân dân. Một số đồn đã án binh bất động, chấp nhận một số điều kiện của ta. Từ tháng 3 đến tháng 8-1971, quân và dân trong tỉnh đã vận động được nhiều binh lính địch bỏ ngũ trở về với nhân dân. Cuối năm 1971, 115 xã của tỉnh Bến Tre đã khôi phục được cơ sở cách mạng; hầu hết các xóm, ấp đều có các tổ du kích. Phong trào chiến tranh nhân dân địa phương sau một thời gian dài trì trệ đã dần được hồi phục và đang từng bước phát triển.

Tại tỉnh Kiến Phong, sau khi chấn chỉnh lại tổ chức, nắm được lực lượng cách mạng ở cơ sở, tỉnh uỷ đã đưa cán bộ, đảng viên và các đội biệt động có nhiều kinh nghiệm hoạt động trở về các địa phương xốc lại phong trào đấu tranh của quần chúng. Tháng 4-1971, tỉnh đội được một số phân đội đặc công của Khu hỗ trợ đã tổ chức lực lượng luồn sâu vào vùng tôn giáo Cù Lao Tây, Cù Lao Kháng, Chợ Mới... gây dựng lại cơ sở cách mạng, bố trí lại cốt cán mật trong từng khu vực. Giữa năm 1971, quân khu tăng cường Tiểu đoàn 718 cho tỉnh đội. Với lực lượng được tăng cường, tỉnh đội điều một số đại đội luồn sâu vào các điểm nóng chống phá địch càn quét bình định. Qua chiến đấu, Tiểu đoàn 718 và các lực lượng tại chỗ đã mở thêm được một số lõm chính trị, lõm quân sự, lấy đó làm chỗ dựa, làm bàn đạp tiến công địch, gây dựng lại phong trào cách mạng ở cơ sở. Cuối năm 1971, quân, dân Kiến Phong đã giành được quyền kiểm soát ở hàng chục xã phía tây bắc, xây dựng được hàng chục chi bộ, phát triển thêm hàng trăm du kích. Vùng giải phóng Kiến Phong tuy còn hẹp, nhưng đã tạo được thế liên hoàn. Thế và lực cách mạng trong tỉnh từng bước được hồi phục, phát triển.

Tỉnh Gò Công, nhiều địa phương bị địch kìm kẹp hết sức gắt gao. Tại những nơi đó, cán bộ khu, tỉnh và các đội vũ trang công tác thâm nhập cơ sở bị phát hiện và bị truy lùng quyết liệt. Nhiều xã, ấp trong một thời gian dài không có cán bộ, đảng viên... Trước tình hình đó, tỉnh uỷ Gò Công đã thành lập bốn ban cán sự vùng và thị xã thay thế cấp uỷ cũ, đồng thời đẩy mạnh hoạt động của lực lượng biệt động nằm vùng, trừng trị đích đáng những tên ác ôn khét tiếng, gây uy tín và thanh thế trong nhân dân. Dần dần, các cơ sở mật được hồi phục. Cuối năm 1971, vượt lên mọi khó khăn ác liệt, Gò Công đã hình thành được một số lõm quân sự, lõm chính trị, phong trào chống phá bình định bắt đầu có chuyển biến mới. Các tổ du kích và biệt động đã diệt được các bốt địch, nối thông hành lang với Mỹ Tho và Long An...
_______________________________________
1. Tại Mỹ Tho, có thời gian, chỉ trong một tháng, đã có gần 100 cán bộ, đảng viên hy sinh.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11279



« Trả lời #81 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2010, 12:41:23 AM »


Đối với địa bàn Quân khu IX, trên cơ sở căn cứ tình hình ta, địch trên từng khu vực đã tổ chức lại địa bàn hành chính, tháng 1-1971, theo chủ trương của Trung ương Cục, chiến trường nơi đây tạm thời được phân chia thành ba tỉnh là Châu Hà (gồm Hà Tiên, Rạch Giá và hai huyện Tịnh Biên, Tri Tôn (An Giang)); Bạc Liêu (gồm một phần Sóc Trăng và Cà Mau); Vĩnh Trà (gồm Vĩnh Long, Trà Vinh). Về chủ trương hoạt động, Bộ Tư lệnh quân khu đề ra bốn quyết tâm lớn:

1. Tập trung nỗ lực đánh bại kế hoạch bình định lấn chiếm U Minh của địch, đồng thời đẩy mạnh phong trào chống phá bình định phía sau, hỗ trợ phong trào quần chúng giành quyền làm chủ trên diện rộng.

2. Tăng cường chỉ đạo, giữ vững hành lang bảo đảm tiếp nhận tốt sự chi viện của trung ương.

3. Tích cực chăm lo xây dựng lực lượng ba thứ quân về mọi mặt, bảo đảm cho lực lượng vũ trang mạnh, hoàn thành mọi nhiệm vụ.

4. Tăng cường công tác hậu phương bảo đảm vật chất tại chỗ.

Chủ trương và biện pháp của Khu uỷ, Quân khu uỷ và Bộ Tư lệnh Quân khu IX về chống phá bình định là tích cực, chủ động, phù hợp với xu thế phát triển chung của tình hình chiến tranh cách mạng toàn miền. Tuy nhiên, cho đến thời điểm đó, tình hình chung trên địa bàn quân khu rất khó khăn. Đến cuối năm 1970, sau hai cuộc hành quân lấn chiếm bán đảo Cà Mau không thành, đầu năm 1971, địch tập trung Sư đoàn 21, Trung đoàn 14 Sư đoàn 9, năm tiểu đoàn pháo 105mm và 155mm, bảy giang đoàn, 12 tiểu đoàn bảo an, 46 đại đội dân vệ mở cuộc hành quân lấn chiếm toàn bộ U Minh Hạ và U Minh Thượng. Trải qua bốn tháng ồ ạt tiến quân lấn chiếm (từ tháng 1 đến tháng 5-1971), lực lượng chủ lực địch ở Vùng IV chiến thuật được lực lượng bảo an dân vệ các tỉnh Vĩnh Trà, Bạc Liêu tới phối hợp, dưới sự yểm trợ đắc lực của không quân (cả máy bay chiến lược B52), đã lấn chiếm được phần lớn U Minh Thượng và U Minh Hạ. Tháng 6-1971, Nguyễn Văn Thiệu xuống căn cứ thứ 11 (U Minh Thượng) dự lễ khánh thành chi khu Hiếu Lễ và “uý lạo chiến binh Việt Nam Cộng hòa chiến thắng”. Tại đây Thiệu đã ra lệnh cho Vùng IV chiến thuật triển khai 120 đồn, tám căn cứ cấp trung đoàn, tiểu đoàn, quyết “kiểm duyệt chặt chẽ U Minh Hạ và U Minh Thượng”. Đồng thời với việc mở các cuộc hành quân Nhổ cỏ U Minh, Bộ Chỉ huy Vùng IV còn cho Sư đoàn 9 và các lực lượng biên phòng mở các cuộc hành quân bình định ở Vĩnh Trà, Chương Thiện và vùng biên giới An Giang, Hà Tiên...

Trước sự đánh phá ác liệt của địch, Bộ Tư lệnh quân khu IX một mặt cho bộ đội phân tán hoạt động nhỏ lẻ, tiêu hao tiêu diệt địch, giữ vững một số lõm có vị trí chiến lược ở Cà Mau, Rạch Giá, Hà Tiên, bảo vệ hành lang ra Trung ương Cục, Quân uỷ Miền; mặt khác, tìm mọi biện pháp ngăn chặn để tiến tới đẩy mạnh tiến công đánh phá kế hoạch bình định của địch. Cuối tháng 5-1971, sau khi bị thất bại nặng nề ở đường 9 - Nam Lào, Đông Bắc Campuchia và vùng ngã ba biên giới, thế và lực của địch sa sút. Trước tình hình đó, Bộ Tư lệnh quân khu quyết định mở đợt phản công lớn vào mùa mưa 1971 ngay tại vùng trọng điểm bình định của địch ở U Minh, nhằm bẻ gãy kế hoạch đóng thêm đồn bốt của địch, cải thiện thế trận chiến tranh nhân dân, đồng thời đánh một đòn thôi động, tạo ảnh hưởng tốt về chính trị, quân sự, hỗ trợ trực tiếp cho phong trào chống bình định tại các tỉnh thuộc địa bàn quân khu.

Tại U Minh (gồm U Minh Hạ và U Minh Thượng), bước vào mùa mưa năm 1971, Bộ Tư lệnh quân khu sử dụng Trung đoàn 2, Trung đoàn 10 và Trung đoàn 20 của miền tăng cường, tiến công Sư đoàn 21 quân đội Sài Gòn đang bình định và lập tuyến phòng thủ từ Cà Mau tới Rạch Giá. Các đơn vị chủ lực quân khu còn lại được điều về đứng chân trên địa bàn các tỉnh, phối hợp với lực lượng địa phương hoạt động hỗ trợ cho nhân dân chống địch kìm kẹp. Ở U Minh Hạ (Cà Mau), ngày 7-9-1971, phát hiện được khu vực ém quân của Trung đoàn 2 tại Kênh Bảy Rầy, Biển Bạch, huyện Thới Bình, địch dùng máy bay và pháo binh đánh phá ác liệt. Mặc dù vậy, cán bộ chiến sĩ Trung đoàn 2 vẫn kiên quyết nổ súng tiến công địch. Tiểu đoàn 7 nằm lọt giữa vòng vây của Trung đoàn 33, Sư đoàn 21 quân đội Sài Gòn đã kiên cường phản công, đánh thiệt hại nặng Tiểu đoàn 3 và một đại đội trinh sát địch. Chiều cùng ngày, Trung đoàn 31 địch đổ quân ứng cứu đồng bọn. Trong ba ngày liên tiếp, toàn bộ lực lượng ứng cứu này bị Trung đoàn 2 phục kích, tập kích, truy kích và đã bị thiệt hại nặng hai tiểu đoàn. Số còn lại buộc phải tháo chạy khỏi khu vục. Một phân đội hoả lực cối ĐKZ 82 của Trung đoàn 2 phục kích bắn chìm bốn tàu địch trên sông Trẹm. Thừa thắng xốc tới, ngày 8-9-1971, Trung đoàn 10 bao vây tiến công căn cứ Nỗng Cạn ở xã Khánh Lâm - nơi đặt Sở Chỉ huy Trung đoàn 32 và do một tiểu đoàn ngụy đóng giữ, loại khỏi vòng chiến đấu gần 300 tên. Trung đoàn 20 (thiếu một tiểu đoàn) đánh thiệt hại nặng căn cứ Rọ Ghe, diệt và bắt hơn 100 tên địch. Ở U Minh Thượng (Rạch Giá), trong tháng 8-1971, đội du kích xã Vĩnh Hoà và bộ đội địa phương huyện Vĩnh Thuận bám trụ trên tuyến Sân Rạch - Nhà Ngang phục kích các tiểu đội, trung đội địch càn quét, diệt gần 100 tên. Ngày 14-9, đội vũ trang công tác huyện An Biên đột nhập chợ thứ 11, diệt hàng chục tên địch (trong đó có hai tên phân chi khu trưởng xã Tân Bằng và Đông Thạnh)...
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11279



« Trả lời #82 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2010, 12:41:57 AM »


Cuối tháng 9-1971, đợt phản công quân địch bình định, lấn chiếm U Minh của quân dân Quân khu IX kết thúc, ta đánh thiệt hại nặng bốn tiểu đoàn, năm đại đội, loại khỏi vòng chiến đấu gần 2.000 tên địch, thu và phá huỷ nhiều phương tiện chiến tranh. Địch phải bỏ hai cứ điểm cấp tiểu đoàn ở Rạch Mới và Kênh 22 (Rạch Cái Tàu). Ta thu hồi 7 khu vực trên tuyến sông Cái Tàu, cụm đồn và trận địa pháo ở Đá Bạc, giải phóng xã Khánh Hưng B. Sư đoàn 21 quân đội Sài Gòn bị thiệt hại nặng. Cuộc hành quân Nhổ cỏ U Minh lần thứ ba của địch bị thất bại.

Phối hợp với chiến trường U Minh, lực lượng vũ trang và nhân dân các tỉnh Vĩnh Trà, Cần Thơ, Đồng Tháp, Rạch Giá... vượt lên mọi khó khăn, ác liệt, chủ động chống địch càn quét bình định. Ngày 5-9-1971, Trung đoàn 3 sử dụng Tiểu đoàn 6 và đại đội đặc công tỉnh tiến công tiêu diệt chi khu Càng Long (Trà Vinh). Tiểu đoàn 509 được du kích Long Toàn hỗ trợ đã bao vây, diệt đồn Đình Cũ, đánh thiệt hại nặng một đại đội địch, thu 40 súng các loại. Bộ đội địa phương và du kích Cầu Kè tiến công đồn Rùm Sóc, bao vây bức rút đồn Rạch Miễu, đồn Bà Quít, giải phóng xã Ninh Thới. Đầu mùa mưa, bộ đội địa phương và du kích tỉnh Cần Thơ tổ chức một số trận chống càn ở các huyện Phụng Hiệp, Long Mỹ; pháo kích sân bay Lộ Tẻ, Ngã 5. Tiểu đoàn Tây Đô diệt Đại đội bảo an 479 tại Kênh Chài Đạp thuộc xã Thanh Hoà, hỗ trợ cho du kích nhổ hàng chục đồn bốt. Bộ độ địa phương và du kích các huyện Hồng Ngự, Cao Lãnh (Đồng Tháp) tập kích địch ở các đồn Thông Lĩnh, Cai Sậy, Tâm Tường, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên, cổ vũ hàng nghìn quần chúng nổi dậy phá ấp chiến lược. Ở Rạch Giá, được Đoàn 6 pháo binh, Trung đoàn 20 bộ binh, Đoàn 195 vận tải Quân khu IX hỗ trợ, quân dân các huyện Giồng Riềng, Gò Quao, Châu Thành, Tân Hiệp... liên tục tiến công quân địch bình định lấn chiếm. Tháng 5-1971, bộ đội địa phương và du kích huyện Gò Quao đánh năm trận, diệt gần 200 tên. Tháng 7, du kích xã Hoà Thuận (Giồng Riềng) tập kích năm điểm nhỏ, trong đó có Ban Chỉ huy tiểu đoàn địch ở Kênh Mương Đào. Cùng thời gian, du kích xã Thạnh Đông A, Thạnh Đông B, Tân Hội, (Tân Hiệp) diệt hàng chục ác ôn, hỗ trợ nhân dân làm chủ ba ấp. Trong hai tháng 8 và 9-1971, lực lượng đặc công quân khu đánh thiệt hại nặng căn cứ Xẻo Rô và chi khu Thứ Ba; hai đại đội đặc công và công binh tỉnh đánh chìm 16 tàu địch trên sông Cái Lớn...

Cuối tháng 11-1971, đợt phản công mùa mưa của quân và dân Quân khu IX giành được thắng lợi. Tuy mục tiêu, yêu cầu về diệt địch, giải phóng dân, giữ vững và mở rộng một số lõm quân sự, lõm chính trị đề ra ban đầu đạt được còn hạn chế, nhưng với tinh thần vượt mọi khó khăn thiếu thốn, ác liệt hy sinh, tích cực phản công địch bằng những phương thức và biện pháp thích hợp, quân và dân Quân khu IX đã bước đầu giành lại và giữ được thế chủ động, củng cố niềm tin cho nhân dân và lực lượng vũ trang toàn quân khu, tạo ra thế và lực mới để tiếp tục đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích, đánh bại kế hoạch bình định của địch.

Trên chiến trường Khu VI, cuối năm 1970, đầu năm 1971, Bộ Chỉ huy Vùng II chiến thuật địch đã điều động Sư đoàn 23 bộ binh - sư đoàn được mệnh danh là “nam bình, bắc phạt, cao nguyên trấn” vào phối hợp với lực lượng địa phương quân thực hiện kế hoạch bình định đặc biệt, mở hàng chục cuộc hành quân lớn nhỏ đánh phá ác liệt các tỉnh Lâm Đồng, Tuyên Đức, Bình Thuận, Ninh Thuận... Tháng 2-1971, địch tiếp tục mở rộng kế hoạch bình định phát triển với những yêu cầu củng cố và mở rộng an ninh, gom hết dân vào ấp chiến lược, xây dựng chính quyền và lực lượng vũ trang tại chỗ, khôi phục các đoàn thể phản động, tăng cường khả năng tự vệ, tự quản được các ấp xã, chi khu do chúng kiểm soát.

Đầu tháng 3-1971, Khu uỷ Khu VI họp đề ra chủ trương: tập trung mọi khả năng đẩy mạnh ba mũi giáp công và xây dựng thực lực các mặt trên ba vùng... đánh sụp lực lượng, kìm kẹp ở cơ sở giành quyền làm chủ hầu hết xã ấp, phá lỏng hệ thống kìm kẹp, khống chế ở nông thôn mở rộng phong trào đấu tranh ở thành thị, giữ vững các địa bàn căn cứ, các trục hành lang, tạo ra thế chủ động tiến công mới. Để thực hiện thắng lợi chủ trương trên, phương thức hoạt động quân sự được xác định là: táo bạo đưa bộ đội đặc công, biệt động, phân đội bộ binh, du kích mật thọc sâu đánh hiểm, tuyên truyền hỗ trợ nhân dân diệt ác trừ gian, chống phá địch gom dân lập ấp chiến lược, mở chiến dịch tổng hợp đánh phá bình định trên từng khu vực với quy mô thích hợp; vận dụng linh hoạt các phương thức tác chiến vây lấn, tấn, diệt, tạo thế mở vùng và trụ lại ở xã, ấp, xây dựng phong trào cách mạng.

Giữa tháng 3-1971, để phối hợp với hai chiến dịch phản công đường 9 - Nam Lào và Đông Bắc Campuchia, Khu uỷ Khu VI quyết định mở đợt hoạt động trên toàn khu nhằm đánh bại kế hoạch bình định phát triển mới của địch. Tại tỉnh Bình Thuận - trọng điểm đợt hoạt động, các Tiểu đoàn 840, 482 và một tiểu đoàn của Trung đoàn 33 bộ binh đã phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương, mở các trận tiến công liên tục vào các tiểu đoàn địch khi chúng bung ra giải toả, lấn chiếm vùng ven thị xã Phan Thiết, đường số 8, Ngã Hai - Mường Mán: đánh thiệt hại nặng năm đại đội, 12 trung đội bảo an, dân vệ, cảnh sát, biệt kích địch. Được bộ đội chủ lực hỗ trợ, bộ đội địa phương huyện, các đội vũ trang công tác, du kích đột nhập vào gần 20 ấp chiến lược, diệt bọn bình định, ác ôn, vũ trang tuyên truyền phát động quần chúng nổi dậy phá ấp, phá kìm, trở về làng cũ làm ăn. Tiểu đoàn 186 đột nhập ấp Gò (Thuận Phong), đánh thiệt hại nặng hai trung đội địch. Hai phân đội đặc công Khu tập kích căn cứ Sông Mao, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 100 tên địch.

Đầu tháng 4-1971, lực lượng vũ trang tỉnh Lâm Đồng tiến công hậu cứ Liên đội bảo an Quang Trung, phá ấp Việt Kiều, Tân Lạc, Liên Đầm, Đồng Lạc trên đường 20. Tỉnh Tuyên Đức cho các phân đội biệt động và các tổ vũ trang tuyên truyền đột nhập các ấp ven thị xã Đà Lạt, đường 20, đường 21 xây dựng cơ sở cách mạng, diệt ác; phục kích các đại đội địch nống ra các vùng xung quanh Đức Trọng. Lực lượng vũ trang tỉnh Bình Tuy tiến công địch tại một số bốt và ấp sát chi khu Hàm Tân, đánh thiệt hại nặng hai đại đội ở La Gi. Trong khi đó, lực lượng vũ trang tỉnh Ninh Thuận tiến công một đoàn bình định ở Nhuận Đức và đánh cắt giao thông đường 11 Tháp Chàm...
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11279



« Trả lời #83 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2010, 12:43:43 AM »


Đầu tháng 5-1971, Khu uỷ và Quân khu VI quyết định điều một số đơn vị chủ lực quân khu về tăng cường cho các tỉnh đội. Tiểu đoàn 240 bộ binh bổ sung hai đại đội cho tỉnh đội Bình Thuận, hai đại đội cho tỉnh đội Ninh Thuận. Tiểu đoàn 200 đặc công giữ lại một đại đội tăng cường, quân số còn lại bổ sung cho tỉnh đội Tuyên Đức. Đại đội 216 đặc công về tỉnh đội Lâm Đồng. Đại đội 71 trinh sát và Đại đội 10 công binh về tỉnh đội Bình Tuy. Với lực lượng được tăng cường, nên mặc dù trong mùa hè 1971, địch tăng gấp đôi các cuộc hành quân càn quét, nhưng quân và dân các tỉnh thuộc địa bàn Khu VI vẫn giữ vững phong trào chống phá bình định. Từ tháng 5 đến tháng 10-1971, toàn khu xoá được 63 ấp trắng, nối lại hàng trăm cơ sở bị mất liên lạc. Cuối tháng 9 đầu tháng 10-197l, thực hiện chủ trương chống phá bầu cử hạ viện và tổng thống của chính quyền Sài Gòn, quân khu chỉ đạo lực lượng vũ trang các tỉnh mở đợt tiến công đều khắp ba vùng. Trong đợt hoạt động này, ta đã tiêu diệt chi khu Đức Trọng, đột nhập đánh phá thị trấn Phan Rí, Tùng Nghĩa, Cầu Đất, diệt ba phân chi khu cảnh sát, 4 cụm lô cốt. Các đội biệt động, vũ trang công tác và du kích thâm nhập hàng chục làng xã, ấp chiến lược vận động quần chúng nổi dậy. Các đội pháo binh mang vác đã tập kích nhiều mục tiêu ở thị xã Phan Thiết, Blao, Đà Lạt, chi khu Hoà Đa, chi khu Thiện Giáo..., phá huỷ nhiều phương tiện chiến tranh, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên địch.

Được hoạt động quân sự hỗ trợ, hàng nghìn đồng bào ở các thành phố thị xã, thị trấn sôi nổi xuống đường đấu tranh chính trị, đòi quyền dân sinh, dân chủ, chống bầu cử gian lận. Công tác địch vận cũng có nhiều chuyển biến tích cực. Các đội vũ trang công tác khu, tỉnh kết hợp với du kích vừa tuyên truyền chính sách của cách mạng, vừa phân hoá cô lập những tên tay sai ngoan cố, làm cho nhiều binh lính và nhân viên chính quyền địch thức tỉnh, ủng hộ cách mạng. Từ tháng 4 đến tháng 10-1971, trong toàn khu đã có 2.100 binh sĩ quân đội Sài Gòn đào rã ngũ hoặc chạy sang với chính quyền cách mạng. Đến tháng 12-1971, vùng giải phóng Khu VI đã được mở rộng, nối liền phía trước và phía sau, miền núi và đồng bằng, với hơn 50 nghìn dân giành được quyền làm chủ, trở về làng xã cũ làm ăn; hơn 77 nghìn dân ở vùng tranh chấp, 122 nghìn dân đấu tranh nới lỏng sự kìm kẹp của địch... Nhân dân vùng giải phóng cũng như vùng bị địch kiểm soát mặc dù còn gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn, còn chịu nhiều gian khổ, hy sinh, nhưng vẫn một lòng tin theo cách mạng. Đây là những điều kiện rất thuận lợi để quân, dân Khu VI tiến lên giành những thắng lợi mới.

Chiến trường Khu V bước vào cuộc chống phá bình định gặp nhiều thuận lợi hơn so với các chiến trường miền đông và miền Tây Nam Bộ. Đầu xuân năm 1971, quân chiến đấu Mỹ tiếp tục rút khỏi các tỉnh Trung Trung Bộ. Tính đến tháng 6-1971, quân viễn chinh Mỹ đã rút 28 tiểu đoàn bộ binh và binh chủng, chín phi đoàn máy bay khỏi địa bàn Khu V. Các tỉnh miền Trung Trung Bộ chỉ còn Sư đoàn Amêricơn và quân Nam Triều Tiên đang co về các căn cứ lớn chờ ngày rút tiếp. Cũng lúc ấy, quân chủ lực Sài Gòn đang bị hút vào ba cuộc hành quân lớn ở đường 9 - Nam Lào, Đông Bắc Campuchia và vùng ngã ba biên giới. Lực lượng cơ động của địch trên các tỉnh đồng bằng ven biển, vì vậy, còn ít; cả ba tỉnh Quảng Đà, Quảng Nam, Quảng Ngãi chỉ có hai trung đoàn bộ binh. Trong khi đó, mật độ đánh phá của máy bay và pháo binh địch sụt giảm 30% so với năm 1969.

Để phối hợp với chiến trường toàn miền, Thường vụ Khu uỷ và Đảng uỷ, Bộ Tư lệnh Quân khu V chủ trương tăng cường lực lượng vũ trang, tổ chức lại Sư đoàn bộ binh 3 và thành lập Sư đoàn 711, xây dựng các đơn vị chủ lực quân khu thành những quả đấm mạnh, có khả năng tiêu diệt tiểu đoàn, trung đoàn địch, đồng thời củng cố, xây dựng lực lượng vũ trang tỉnh, huyện đủ sức đánh bại quân địa phương địch, sẵn sàng đón thời cơ lớn giải phóng địa bàn. Thường vụ Khu uỷ và Đảng uỷ, Bộ Tư lệnh quân khu quyết định mở đợt hoạt động quân sự nhằm tiêu diệt các cứ điểm, phá vỡ từng mảng hệ thống kìm kẹp của địch, mở rộng vùng giải phóng liên hoàn từ các tỉnh phía bắc đến các tỉnh phía nam, từ đồng bằng ven biển đến các tỉnh Tây Nguyên.

Quán triệt chủ trương, nhiệm vụ của Khu uỷ và Đảng uỷ, Bộ Tư lệnh quân khu, các tỉnh đồng bằng ven biển từ Quảng Đà đến Khánh Hoà tích cực, chủ động đẩy mạnh phong trào chống phá chính sách bình định. Tại tỉnh Quảng Đà (Quảng Nam - Đà Nẵng), cuối tháng 1-1971 quân, dân trong tỉnh đồng loạt mở đợt hoạt động xuân 1971 phá kế hoạch bình định đặc biệt của địch, tiêu diệt hơn 60 chốt, đồn cạnh các khu dồn, ấp chiến lược ở khắp vùng đồng bằng và trung du Quảng Nam. Biệt động và tự vệ thành phố Đà Nẵng tiến công hơn 20 mục tiêu, bắn cháy sáu xe quân sự, xe cảnh sát.

Giữa tháng 3-1971, trong khí thế phấn khởi của chiến thắng đường 9 - Nam Lào, Bộ Tư lệnh Mặt trận B4 của quân khu (phụ trách vùng Quảng Đà) quyết định sử dụng một bộ phận bộ đội chủ lực, lực lượng vũ trang địa phương tiến công một số mục tiêu quan trọng, tạo thế trận mới ở Quảng Nam - Đà Nẵng. Đêm 27-3, Tiểu đoàn đặc công 409 quân khu tập kích Tiểu đoàn 1 (thiếu) Lữ đoàn 196, Sư đoàn Amêricơn ở cứ điểm Xã Đốc, loại khỏi vòng chiến đấu nhiều lính Mỹ. Phát huy thắng lợi, ngày 29-3, Bộ Tư lệnh Mặt trận B4 dùng Trung đoàn bộ binh 38, Tiểu đoàn 91 đặc công, Tiểu đoàn pháo binh 577, bộ đội và du kích hai huyện Duy Xuyên, Đại Lộc bao vây tiến công chi khu quận lỵ Đức Dục và căn cứ An Hoà. Sau hơn sáu giờ chiến đấu, bộ đội chủ lực đã tiêu diệt hoàn toàn các chốt điểm trong quận lỵ Đức Dục. Bộ đội địa phương và du kích hai huyện Duy Xuyên, Đại Lộc tiến công các chốt bảo an dân vệ, hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy diệt ác, phá kìm, giải phóng khu dồn Xe Nước, Phú Đa, Gò Chùa, Thanh Xuyên, Đồng Tràm, đưa hơn 13 nghìn dân trở về làng cũ.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11279



« Trả lời #84 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2010, 12:48:57 AM »


Cuối tháng 4-1971, Bộ Tư lệnh Mặt trận B4 sử dụng tiểu đoàn đặc công 91 tập kích Đồn Đen, Đồn Cao. Tiểu đoàn pháo binh 577 bắn chế áp các trận địa pháo địch. Trung đoàn bộ binh 38 và du kích tiến công một loạt mục tiêu trong chi khu quận lỵ Đại Lộc. Đêm 26-4, Tiểu đoàn 1 đột phá khu đồn Cồn Lâm. Tiểu đoàn 8 đánh đồn Trường Găng. Bộ đội và du kích huyện Điện Bàn phá khu dồn Gò Mùn. Các chiến sĩ biệt động thành phố Đà Nẵng tiến công Ty Canh sát, Ty Thông tin, tiểu đoàn công binh địch ở Sơn Trà. Tổ biệt động Trương Thị Ái dùng mìn đánh sập trụ sở CIA ở Mỹ Thị. Trong hai ngày 25 và 28-5, Tiểu đoàn 575 pháo binh bắn hơn 100 quả đạn ĐKB vào sân bay Đà Nẵng, phá huỷ hàng chục máy bay các loại.

Lực lượng vũ trang Quảng Ngãi chọn các huyện Mộ đức, Đức Phổ, Bình Sơn làm trọng điểm chống phá chương trình bình định đặc biệt. Trong hai tháng 5 và 6-1971, Tiểu đoàn 7 kết hợp với lực lượng vũ trang huyện Mộ Đức, Đức Phổ tiến công tiêu diệt nhiều chốt điểm dọc trục đường 1, dùng pháo cối 82 bắn phá căn cứ Núi Dâu, diệt chốt Núi Bé (Phố Cường). Tiểu đoàn 83 đánh địch phản kích ra phía tây Mộ Đức, Nghĩa Hành, diệt chốt Vĩnh Thọ, Đình Cương, Quán Hồng, Nghĩa Lập, Đồng Quan. Đại đội đặc công 506 và lực lượng vũ trang huyện Sơn Tịnh tập kích chốt Mả Tổ, điểm cao 47, đánh thiệt hại nặng một đại đội bảo an. Mất các vị trí chiến thuật quan trọng trong tuyến kìm kẹp khu dồn và ấp chiến lược ở bắc huyện Sơn Tịnh, chỉ huy địch ở Quảng Ngãi cho tiểu đoàn bảo an từ Phước Bình lên ứng cứu cho Mả Tổ và điểm cao 47. Tiểu đoàn 48 và bộ đội địa phương huyện Sơn Tịnh tổ chức mai phục, đánh chặn, loại khỏi vòng chiến đấu gần 100 tên địch. Quần chúng các ấp xung quanh thị trấn Sơn Tịnh được bộ đội tỉnh, huyện và du kích hỗ trợ nổi dậy diệt ác, phá kìm, bung về làng cũ. Cuối năm 1971, các lực lượng vũ trang Quảng Ngãi tập trung củng cố, huấn luyện nâng cao sức mạnh toàn diện chuẩn bị cho nhiệm vụ chiến đấu sắp tới.

Ở Bình Định, trung tuần tháng 4-1971, Trung đoàn 12 phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương tiến công căn cứ Quy Thuận (Hoài Nhơn), Trung Thứ, Cầu Cường, Gò Hàng (Phù Mỹ). Bị mất hàng loạt chốt điểm - chỗ dựa quan trọng của lực lượng kìm kẹp, bình định, Trung đoàn bộ binh 41 quân đội Sài Gòn đóng quân ở Phú Tài (Quy Nhơn) sử dụng một tiểu đoàn ra giải toả cho Phù Mỹ và chiếm lại những điểm đã mất. Tiểu đoàn địch mới hành quân đến xã Mỹ Lộc đã bị một tiểu đoàn chủ lực, bộ đội huyện và du kích xã chặn đánh, phải lùi về phía sau 3 km củng cố đội hình. Hai đại đội địch chốt giữ Gò Kế khiếp sợ tháo chạy. Ngày hôm sau, địch cho một tiểu đoàn bộ binh và hai chi đoàn thiết giáp tiếp tục lên giải toả cho Phù Mỹ. Thế nhưng, lực lượng ứng cứu này đã bị bộ đội chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương chặn đánh, bị tổn thất hai đại đội, sáu xe M113, buộc phải từ bỏ cuộc hành quân giải toả. Phối hợp với lực lượng bên ngoài dồn dập tiến công địch, các đội biệt động, tổ vũ trang công tác ở thị xã Quy Nhơn vừa tập kích vào một số đồn bốt, công sở chính quyền địch trong thị xã, vừa vận động nhân dân đấu tranh chính trị chống Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Ngày 25-4, tại thị xã Quy Nhơn, hơn 30 nghìn người kéo đến bao vây dinh tỉnh trưởng, Ty Cảnh sát, đập phá, đốt cháy 30 xe quân sự làm rung chuyển hệ thống chính quyền thị xã. Cuộc đấu tranh kéo dài một tuần lễ làm cho nhiều hoạt động kinh tế - xã hội của Mỹ và chính quyền Sài Gòn bị ngừng trệ.

Đầu tháng 5-1971, quân và dân các huyện Hoài Nhơn, Hoài Ân, Phù Cát, Bình Khê, Vĩnh Thạnh đồng loạt ra quân tiến công địch. Tỉnh đội Bình Định dùng lực lượng vũ trang tỉnh và huyện Phù Mỹ bao vây tiến công tiêu diệt chốt điểm Gò Cớ do một đại đội địch chốt giữ. Sau bảy ngày đêm liên tục bị tiến công bằng cả quân sự, chính trị và binh vận, quân địch trong chốt điểm này không chịu nổi hoặc đầu hàng, hoặc bỏ chốt, dùng thuyền tháo chạy. Tiếp theo đó, 12 chốt điểm khác ở các xã Mỹ Thành, Mỹ Hiệp, Mỹ Chánh, Mỹ Thắng... cũng bị ba mũi giáp công của quân dân Phù Mỹ uy hiếp nặng nề, một số bị nhổ bỏ.

Giữa tháng 6-1971, nhân dân các xã Hoài Sơn, Hoài Châu, Hoài Hảo, Tam Quan, Hoài Thanh (Hoài Nhơn) được lực lượng vũ trang tỉnh hỗ trợ đã nổi dậy phá khu dồn Thiên Đức, Nhuận An, Thiện Chánh; bao vây bức rút các chốt Núi Bé, Lộ Diêu, Quy Thuận... giải phóng gần 10 nghìn dân. Qua một năm chống phá bình định, quân, dân tỉnh Bình Định đã phá banh hàng chục khu dồn, ấp chiến lược, diệt và bức rút 104 chốt điểm, giải phóng 60 thôn gồm 32 nghìn dân, nâng vùng làm chủ lên 78 thôn với 81 nghìn người, mở rộng vùng giải phóng.

Quân và dân Phú Yên mặc dù gặp nhiều khó khăn về quân số, lương thực, vũ khí đạn dược, nhưng vẫn tổ chức nhiều trận chiến đấu chống phá bình định. Đêm 21-2, Đại đội đặc công 202 cùng Đại đội 3 Tiểu đoàn 96 tập kích cứ điểm Núi Sầm (Hoà Trị), đánh thiệt hại nặng một đại đội bảo an, phá huỷ hai khẩu pháo 105mm. Ba giờ ngày 29-2, Đại đội 3 tập kích tiêu diệt trung đội quân Nam Triều Tiên ở Eo Gió (Hoà Định). Đầu tháng 3, Tiểu đoàn 96 đánh thiệt hại một đại đội quân Nam Triều Tiên ở điểm cao 509. Nửa tháng sau, tiểu đoàn tiến công liên đội bảo an ở Phú Sen, gây thiệt hại nặng hai đại đội, thu 31 súng, bắn rơi hai máy bay trực thăng. Đêm 24-4, Đại đội đặc công 25 tập kích lực lượng bảo an 113 ở Phú Hữu, tiêu diệt 63 tên. Cùng thời gian, tiểu đoàn 14 đánh thiệt hại nặng đại đội bảo an ở cầu Lưới Gõ. Đêm 27-6, đặc công nước của ta dùng thuốc nổ đánh hỏng cầu xe hơi và cầu xe lửa Đà Rằng, làm ách tắc giao thông tuyến quốc lộ 1 hàng tuần liền.

Trước tình hình đó, tháng 7-1971, địch điều Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn bộ binh 40) từ Bình Định vào phối hợp với tiểu đoàn bảo an 226 (mới thành lập) cùng lực lượng địa phương quân ở Phú Yên mở các cuộc hành quân càn quét hòng lập lại trật tự xã, ấp. Tuy nhiên, mọi cố gắng của địch không cải thiện được tình hình là bao. Tháng 8-1971, quân dân Phú Yên mở hàng chục cuộc tiến công vào hàng chục mục tiêu ở Tuy Hoà, Tuy An, Củng Sơn..., loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên địch. Được đòn tiến công quân sự hỗ trợ, nhân dân thị xã Tuy Hoà đã tổ chức hàng chục cuộc đấu tranh chính trị với hàng chục nghìn lượt người tham gia. Đặc biệt, ngày 24-9-1971, 4000 người dân thị xã và vùng ven đã xuống đường biểu tình hô vang khẩu hiệu chống trò hề bầu cử độc diễn của Nguyễn Văn Thiệu, đòi Mỹ phải rút về nước, công việc nội bộ của người Việt Nam phải do người Việt Nam tự giải quyết...

Trong khi đó, tỉnh vùng sâu Khánh Hoà cũng đã chủ động phối hợp với phong trào chống phá bình định đang phát triển ở nhiều địa phương trong quân khu bằng đợt hoạt động quân sự hè - thu mang mật danh HT4. Ngày 15-4-1971, lực lượng vũ trang huyện Ninh Hoà khơi ngòi dụ tiểu đoàn quân Nam Triều Tiên đang càn quét ở căn cứ Hòn Đèo vào trận địa phục kích, đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn này, thu 16 súng. Ngày 20-4, Tiểu đoàn 470 tỉnh đội được du kích địa phương phối hợp tập kích chốt Vườn Dương, chùa Sơn Lộc (Ninh An), sau đó cơ động phục kích diệt địch ở Lạc An, Xuân Phong, Lạc Bình (Ninh Thọ). Ngày 25-4, Tiểu đoàn 480 tập kích khu trung tâm huấn luyện Lam Sơn (Dục Mỹ), diệt và làm bị thương hàng chục tên. Trong đợt hoạt động HT4, Tiểu đoàn 470 đã đánh gần 10 trận lớn nhỏ, loại khỏi vòng chiến đấu gần 300 tên địch. Tại nam Khánh Hoà, đêm 23-5, Đại đội 2 Tiểu đoàn 407 luồn sâu, táo bạo tập kích kho nhiên liệu chiến lược Ô Vũ (Cam Ranh), thiêu huỷ hàng chục triệu lít xăng. Đêm 21-9, Đại đội 5 Tiểu đoàn 407 tập kích kho đạn Mũi Ké, diệt và làm bị thương gần 30 tên Mỹ, phá huỷ một khối lượng lớn bom đạn. Từ tháng 5 đến tháng 10-1971, bộ đội địa phương và du kích ba huyện miền núi Khánh Vĩnh, Khánh Sơn Diên Khánh mở một số trận tập kích, phục kích, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên địch, bắn rơi 13 máy bay các loại...
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11279



« Trả lời #85 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2010, 12:49:30 AM »


Phối hợp với các tỉnh đồng bằng Khu V, mặt trận Tây Nguyên chọn trọng điểm đánh phá bình định ở khu vực tam giác Phú Nhơn - Phú Thiện - Mỹ Trạch nhằm phá từng mảng hệ thống ấp chiến lược nơi đây, thu hút, giam chân, tiêu diệt một bộ phận quân chủ lực địch, đồng thời củng cố hành lang đông - tây nối liền hai vùng giải phóng Gia Lai và Đắc Lắc. Đêm 15-3-1971, Tiểu đoàn 20 được tăng cường Đại đội 1 Tiểu đoàn 1 bộ binh tiến công chi khu quận lỵ Phú Nhơn. Sau 4 giờ chiến đấu, Tiểu đoàn 20 và lực lượng phối thuộc diệt gọn hai đại đội bảo an, một trung đội công binh Mỹ, một trung đội thiết giáp cùng toàn bộ lực lượng cảnh sát và cơ quan hành chính. Cũng trong thời gian đó, Đại đội 2 Tiểu đoàn 394 đánh chiếm một đồn bảo an, Đại đội 19 diệt tề điệp ở Đôn Hoà. Đồng bào hai ấp Tung Mơ, Tung Dao được các đội công tác hỗ trợ đã nổi dậy phá ấp, trở về buôn cũ làm ăn.

Bị mất chi khu quận lỵ và hàng chục ấp chiến lược, khu dồn chỉ trong một đêm, Quân đoàn II tức tốc điều quân đối phó. Sáng ngày 16-3, địch cho hai chiến đoàn bộ binh, hai chi đoàn xe bọc thép được máy bay và pháo binh yểm trợ, tổ chức đánh chiếm lại Phú Nhơn. Dưới hoả lực dữ dội của địch, Đại đội 9 Tiểu đoàn 6 và hai trận địa cối 82 chốt giữ buôn Dung, buôn Tao Cho vẫn kiên cường bám trụ trận địa, đánh lui bảy đợt xung phong của hai tiểu đoàn địch. Đại đội 18 công binh được 200 đồng bào các xã E14, E15 (Huyện 5 Gia Lai) tham gia đã xây dựng hai bãi mìn, ba bãi vật chướng ngại, diệt 7 xe M113 và 80 tên địch ở tây bắc Phú Nhơn. Sau năm ngày phản công quyết liệt hòng đánh chiếm lại Phú Nhơn không thành, địch buộc phải dừng lại củng cố, chuẩn bị cho đợt tiến công mới.

Đêm 1-4, hai trận địa cối 82 và ĐKZ 75 của Trung đoàn 95 pháo kích dữ dội vào đồn Mới, gây cho địch nhiều thiệt hại. Cùng lúc đó, Đại đội 1 (Tiểu đoàn 1) và các đội vũ trang công tác huyện đột nhập vào buôn Sâm, ấp Plây Bôi, hỗ trợ cho gần 1.000 đồng bào trở về làng cũ.

Những ngày tiếp theo, Quân đoàn II điều hai chiến đoàn 45, 47 và hai chi đoàn thiết giáp đến tiến công vào trận địa Trung đoàn 95. Ở buôn Sâm, địch cho một tiểu đoàn bộ binh và 12 xe tăng, xe M113 đánh vào Đại đội 3 Tiểu đoàn 1 và trận địa ĐKZ của ta. Dựa vào thế trận liên hoàn, Trung đoàn 95 và các lực lượng tăng cường đã chống trả quyết liệt, đánh bật hàng chục đợt phản kích của bộ binh và xe tăng địch. Trong bảy ngày bám trụ trận địa chiến đấu, bộ đội ta đánh thiệt hại nặng tám đại đội bộ binh, phá huỷ 31 xe tăng, xe bọc thép, bốn khẩu pháo và hai máy bay. Đến ngày 10-4, toàn bộ ấp chiến lược trong khu vực quận lỵ Phú Nhơn và Plây Bôi, Phú Quang bị phá, hơn 3.000 dân được giải phóng.

Thừa thắng, đêm 14-4, Tiểu đoàn 394 phục kích đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn hai trung đoàn 45 quân đội Sài Gòn ở bắc buôn Sâm. Ngày 20-5, Trung đoàn 24 tiến công tiêu diệt ba đại đội bộ binh, một chi đội xe bọc thép ở Mỹ Trạch. Sau đó một tuần, Trung đoàn 95 bằng chiến thuật vận động tiến công kết hợp chốt đánh thiệt hại nặng Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 45 ở điểm cao 364 thuộc dãy Chư Kra.

Giữa tháng 6-1971, Trung đoàn 95 và các đơn vị phối thuộc lật cánh sang đường 14 đánh địch ở khu vực Cẩm Ga hỗ trợ lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương nổi dậy phá ấp chiến lược, khu dồn. Ngày 20-6, Trung đoàn 95 cho phân đội cối 82 luồn sâu tập kích thị trấn Cẩm Ga, diệt một số mục tiêu, làm cho chính quyền địch ở các xã, ấp hoang mang dao động. Ngày 24-6, Tiểu đoàn 394 phục kích giao thông khu vực Kênh Săn, đánh thiệt hại nặng Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 45... Đợt cao điểm phá ấp, giành dân ở khu vực phía nam Gia Lai, bắc Đắc Lắc kết thúc thắng lợi. Sau nửa năm hoạt động chống phá bình định, lực lượng vũ trang và nhân dân Tây Nguyên đã phá vỡ một loạt hệ thống ấp chiến lược khu dồn ở các khu vực ngã ba đường 7, đường 14 và đường 19; giành quyền làm chủ cho hơn 20 nghìn người, giáo dục cho hơn một nghìn gia đình và 772 binh sĩ Sài Gòn hiểu rõ chính sách của cách mạng. Đến cuối năm 1971, phong trào chống phá bình định tiếp tục giành được những kết quả mới tại các vùng địch tạm chiếm ở Tây Nguyên.

Trên chiến trường Trị Thiên, tháng 6-1971, Bộ Tư lệnh Mặt trận đường 9 - bắc Quảng Trị mở chiến dịch A2 tiến công vào Bến Ngự, Bến Xanh (Gio Linh), điểm cao 544, Cà Lu (Cam Lộ). Sau gần một tháng chiến đấu, bộ đội chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương đánh chiếm được hầu hết các mục tiêu trên giao, tiêu diệt một tiểu đoàn địch trên điểm cao 544, ba đại đội ở vùng đông Gio Linh, ép địch vào sát sông Cửa Việt. Tiếp theo đó, từ ngày 18-8, đến ngày 30-8, lực lượng vũ trang Mặt trận đường 9 - bắc Quảng Trị mở đợt tiến công mới vào quận lỵ Cam Lộ, Gio Linh và khu vực Đồi Tròn, loại khỏi vòng chiến đấu nhiều tên địch, bắn rơi gần 40 máy bay, phá huỷ 66 xe quân sự, 15 tàu xuồng, 10 kho xăng..., giáng đòn nặng vào hệ thống phòng thủ của quân Sài Gòn ở bắc Trị - Thiên.

Được bộ đội chủ lực hỗ trợ, giữa hè - thu 1971, bộ đội địa phương và dân quân du kích Trị - Thiên luồn sâu xuống đồng bằng diệt đồn bốt địch, hỗ trợ cho nhân dân nổi dậy. Tháng 6-1971, lực lượng vũ trang huyện Quảng Điền diệt một trung đội địch ở An Lỗ, phá tan trụ sở chính quyền địch tại xã Phong Điền, diệt một trung đội dân vệ ở Đồng Tâm. Tháng 7, dân quân du kích huyện Hương Thuỷ diệt các tụ điểm ác ôn ở La Sơn; du kích xã Thuỷ Phương phá ống dẫn dầu của địch từ Cửa Thuận về Phú Bài và vận động nhân dân đóng góp được 2.000 tấn lương thực chi viện cho lực lượng vũ trang vùng giáp ranh. Du kích xã Triệu Thượng (Quảng Trị) kiên trì bám dân, bám đất, xây dựng hàng chục cơ sở cách mạng ở thị xã Quảng Trị và vùng ven. Du kích xã Hải Phú đột nhập vào hang ổ bọn cán bộ bình định, giết một số tên ác ôn khét tiếng, vận động một trung đội địch mang súng trở về với nhân dân.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11279



« Trả lời #86 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2010, 12:49:56 AM »


Đi đôi với phong trào chống phá địch bình định, phong trào đấu tranh chính trị ở Trị - Thiên phát triển mạnh mẽ ở các đô thị. Trong hai tháng 7 và 8-1971, ở cố đô Huế và thị xã Quảng Trị đã nổ ra hàng chục cuộc đấu tranh đòi hoà bình, hoà hợp dân tộc. Đoàn biểu tình giương cao khẩu hiệu Mỹ rút hết quân, Thiệu phải từ chức, Chương trình huấn luyện quân sự hoá học đường là âm mưu khát máu của Mỹ - ngụy... Tháng 9-1971, hàng nghìn người dân Huế xuống đường đấu tranh lên án bầu cử thượng viện và tổng thống của chế độ Sài Gòn gian lận. Tỉnh Hội Phật giáo Quảng Trị tổ chức lễ cầu siêu chống tăng thuế, chống văn hoá đồi truỵ, chống các tệ nạn xã hội...

Đến cuối năm 1971, phong trào đấu tranh chính trị, chống phá bình định ở Trị - Thiên phát triển ngày càng đồng đều, vững chắc. Ta đã giải phóng 40 thôn, xã vùng giáp ranh, tranh chấp với địch và làm chủ về ban đêm 117 thôn, xây dựng được cơ sở cách mạng ở 472 thôn trong tổng số 841 thôn. Kế hoạch bình định của địch bị đẩy lùi một bước. Phong trào đấu tranh chính trị đã liên kết thành mặt trận chống Mỹ và chính quyền Sài Gòn khá rộng rãi. Nhiều tổ chức yêu nước chống Mỹ ra đời làm cho hậu phương địch ngày càng mất ổn định.

Phối hợp với quân dân miền Nam Việt Nam quân dân hai nước Lào và Campuchia đẩy mạnh các hoạt động tiến công quân sự. Ngày 13-2-1971, quân tình nguyện Việt Nam và Pa thét Lào mở chiến dịch tiến công giải phóng Cánh Đồng Chum - Long Chẹng. Ngày 10-3, Liên quân Lào - Việt nổ súng tiến công địch ở cao nguyên Bôlôven (Hạ Lào). Đến đầu tháng 6, ta thu hồi toàn bộ vùng địch chiếm đóng. Trung tuần tháng 12-1971, ta giải phóng Xaravan và Sa Teng.

Sau thất bại của quân đội Sài Gòn ở Nam Lào và vùng Đông Bắc Campuchia, Mỹ nhận thấy quân đội Sài Gòn không thể làm chỗ dựa cho quân Lonnon, do đó, Mỹ tăng cường viện trợ và thúc giục Lonnon gấp rút bắt lính, nâng quân đội lên gần 170.000 người, tổ chức thành hơn 300 tiểu đoàn - nhiều gấp bốn lần so với trước khi đảo chính. Tháng 8-1971, Lonnon tập trung 50 tiểu đoàn, với sự chi viện của không quân Mỹ, mở cuộc hành quân Chenla 2 đánh lên Côngpông Thom nhằm nối lại tuyến đường 6, cắt hành lang đông - tây, triệt để ngăn chặn nguồn lương thực của ta.

Bộ Chỉ huy quân sự miền quyết định sử dụng Sư đoàn 9 phối hợp với lực lượng vũ trang bạn kiên quyết đánh bại cuộc hành quân Chenla 2 của địch. Sau ba tháng liên tục tiến công (từ 20-8 đến 3-12-1971). liên quân Việt Nam - Campuchia đã đánh hàng chục trận lớn nhỏ, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 10.000 tên định, đánh thiệt hại nặng hai lữ đoàn, 10 tiểu đoàn, bắn rơi 11 máy bay, phá huỷ 36 xe quân sự các loại… Chiến thắng của Liên quân Việt Nam - Campuchia ở Côngpông Thom cuối năm 1971 chẳng những phá được âm mưu dùng lực lượng quân Lonnon có hoả lực Mỹ chi viện để thực hiện Khơme hoá chiến tranh, đánh vào sau lưng ta, mà còn tạo thêm uy thế chính trị cho cách mạng Campuchia trên con đường chống kẻ thù chung, giải phóng dân tộc.

Như vậy, sau hơn một năm mở rộng chiến tranh sang Campuchia, ra sức thực hiện chiến tranh đặc biệt ở Lào, đẩy mạnh chương trình bình định ở Nam Việt Nam, đồng thời ráo riết thực hiện thủ đoạn ngoại giao thâm độc, xảo quyệt, nhưng những nỗ lực quân sự, chính trị, kinh tế ngoại giao của Mỹ đã bị quân, dân ba nước Đông Dương giáng đòn chí mạng. Thắng lợi của các chiến dịch phản công trong năm 1971 ở khu vực đường 9 - Nam Lào, Đông Bắc Campuchia và vùng ngã ba biên giới có ý nghĩa chiến lược to lớn, tác động mạnh mẽ đến cục diện chiến trường ba nước Đông Dương. Trên toàn miền Nam, kế hoạch Việt Nam hoá chiến tranh bị đẩy lùi một bước quan trọng. Các cuộc tiến công ra ngoài biên giới của quân đội Sài Gòn bị thất bại. Quân đội Sài Gòn - xương sống của Việt Nam hoá chiến tranh, đã bị giáng một đòn quyết liệt, tinh thần sĩ quan binh lính địch vốn sa sút càng sa sút thêm. Chương trình bình định bắt đầu bị đẩy lùi từng bước, đặc biệt tại các vùng trọng điểm như đồng bằng sông Cửu Long, vùng ven đô thị, cho dù địch còn đóng nhiều đồn bốt, giữ một số lớn ấp chiến lược, khu dồn. Trong lúc đó, hoạt động quân sự, chính trị, binh vận của ta ở các địa phương đang mạnh lên. Thế trận chiến tranh nhân được khôi phục trên cả ba vùng chiến lược. Các sư đoàn chủ lực Quân giải phóng sau một thời gian dài bật ra ngoài biên giới nay đã trở về đứng chân trên các địa bàn trọng yếu. Mặc dù ta và địch vẫn còn giằng co quyết liệt, nhưng toàn bộ tình hình chiến trường cho đến cuối năm 1971 đang tạo ra những điều kiện thuận lợi rất cơ bản để toàn dân, toàn quân ta trên cả hai miền Nam - Bắc bắt tay thực hiện nhiệm vụ chiến lược trong năm 1972.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11279



« Trả lời #87 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2010, 12:50:38 AM »


KẾT LUẬN


Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 với tác động rộng lớn và mãnh liệt của nó đã đập tan nỗ lực quân sự khổng lồ của đế quốc Mỹ trong những năm tiến hành chiến lược chiến tranh cục bộ, góp phần quan trọng làm phá sản chiến lược toàn cầu phản ứng linh hoạt - một chiến lược được giới lãnh đạo nước Mỹ triển khai thực hiện từ năm 1961 nhằm thực hiện âm mưu bá chủ toàn cầu nhưng thực tế cho thấy là vô vọng, là không thể nào thực hiện được.

Trước một thế giới đang trên đà biến chuyển mau lẹ không có lợi cho Mỹ vào những năm cuối thập kỷ 60 của thế kỷ XX mà cuộc chiến tranh Việt Nam là một nhân tố tác động mạnh mẽ, đế quốc Mỹ, từ năm 1969, đề ra chiến lược toàn cầu mới mang tên Học thuyết Níchxơn và chiến lược quân sự răn đe thực tế thay cho chiến lược phản ứng linh hoạt đã bị phá sản. Ứng dụng học thuyết đó vào Việt Nam chính quyền Níchxơn điều chỉnh chủ trương phi Mỹ hoá của Giônxơn thành chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh - một chiến lược toan thay đổi màu da trên xác chết, bằng cách dùng người Việt Nam đánh người Việt Nam, dùng người Đông Dương đánh người Đông Dương với tiền bạc, vũ khí, trang bị của Mỹ và do Mỹ chỉ huy nhằm tiếp tục thực hiện âm mưu cơ bản của Mỹ là bám giữ miền nam Việt Nam, giảm bớt sự dính líu của quân chiến đấu Mỹ trên bộ nhưng phải giành thế mạnh trên chiến trường để kết thúc chiến tranh bằng thương lượng theo điều kiện của Mỹ.

Thực hiện chiến lược đó, từ năm 1969, song song với việc ồ ạt đưa vào miền Nam một khối lượng lớn vũ khí, bom đạn, thiết bị chiến trường; củng cố hệ thống chỉ huy, tăng cường lực lượng quân ngụy, cơ cấu lại bộ máy bình định, Mỹ - ngụy đồng thời dồn sức mở các hoạt động được mệnh danh là chiến tranh giành dân, chiến tranh ngăn chặn, chiến tranh bóp nghẹt rất tàn bạo và thâm độc. Sự phản kích quyết liệt, trên quy mô rộng lớn, bằng những thủ đoạn quân sự, chính trị, kinh tế, tư tưởng, ngoại giao cực kỳ hiểm độc của kẻ thù gây ra cho cách mạng miền Nam những tổn thất nặng nề, những khó khăn gay gắt; đặt cách mạng miền Nam nói riêng, sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ba nước trên bán đảo Đông Dương nói chung trước những thử thách lớn lao, có ý nghĩa sống còn. Giữa lúc cách mạng miền Nam đang trải qua những năm tháng đầy gian khổ, hy sinh thì Chủ tịch Hồ Chí Minh - người thầy của cách mạng Việt Nam, người Cha thân yêu của lực lượng vũ trang qua đời, làm chấn động sâu sắc con tim của mọi người Việt Nam yêu nước và bầu bạn trên khắp thế giới. Trong giờ phút đau thương đó, kẻ thù hy vọng khối đoàn kết và quyết tâm kháng chiến của dân tộc Việt Nam sẽ bị suy giảm. Chúng đẩy mạnh chiến tranh tâm lý hòng gây dao động, hoang mang trong nhân dân và lực lượng vũ trang ta, đồng thời dồn sức phản kích quyết liệt trên các mặt trận quân sự, chính trị, kinh tế, ngoại giao, đặt sự nghiệp kháng chiến của nhân dân ta trước những thử thách to lớn, phức tạp; cách mạng miền Nam chịu những tổn thất nặng nề, lâm vào tình thế hiểm nghèo. Thế nhưng, chính trong gian khổ ác liệt của những tháng năm ấy, càng ngời lên bản lĩnh Việt Nam, sức mạnh Việt Nam!

Với nhãn quan chính trị rộng lớn, sắc sảo, ngay từ tháng 4-1969, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã chỉ rõ những mâu thuẫn không thể nào khắc phục được của chiến lược Việt Nam hoá và vạch ra phương hướng chiến lược cho quân dân ta trong giai đoạn cách mạng mới. Tiếp đó, tháng 1-1970, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 18 trên cơ sở sớm dự kiến việc Mỹ có thể mở rộng chiến tranh trên đất Lào và Campuchia, ném bom trở lại miền Bắc hòng gây sức ép với ta trên chiến trường để giành lợi thế trên bàn đàm phán tại Hội nghị Pari, đã chỉ đạo quân và dân ta trên cả hai miền: kiên trì đẩy mạnh cuộc kháng chiến, tiếp tục phát triển chiến lược tiến công một cách toàn diện, liên tục và mạnh mẽ, đẩy mạnh tiến công quân sự, chính trị và kinh tế, kết hợp tiến công ngoại giao... đánh bại âm mưu của chúng xuống thang từng bước, kéo dài chiến tranh để tạo thế mạnh hòng duy trì chủ nghĩa thực dân kiểu mới của chúng ở miền Nam; làm thất bại thế chiến lược phòng ngự của địch, tạo ra chuyển biến mới trong cục diện chiến tranh, giành thắng lợi từng bước, đi đến giành thắng lợi quyết định. Nhờ vậy, khi Mỹ tăng cường chiến tranh ở Lào, ném bom trở lại các tỉnh phía nam Quân khu IV, đặc biệt giật dây cho bọn tay sai đảo chính lật đổ Chính phủ Xihanúc (3-1970) và sử dụng 10 vạn quân Mỹ, ngụy Sài Gòn đánh tràn qua biên giới, tiến sâu vào đất Campuchia (4-1970), Đảng ta đã kịp thời nhận định đúng diễn biến tình hình, đề ra chủ trương chính xác, chỉ đạo quân và dân ta hành động mau lẹ, kiên quyết, dũng cảm, mưu trí, sáng tạo, cùng bạn đẩy mạnh tiến công giành thắng lợi to lớn và toàn diện ở Campuchia, ở Lào, ở miền Nam Việt Nam. Trong khi đó, công cuộc phục hồi và phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội, an ninh - quốc phòng trên miền Bắc từ sau ngày Mỹ ngừng ném bom, đang trên đà tiến triển. Miền Bắc được củng cố và tăng cường về mọi mặt, thực sự là hậu phương lớn - căn cứ địa vững chắc của tiền tuyến lớn miền Nam, của cách mạng hai nước Lào và Campuchia.

Trên đà thắng lợi, bước sang năm 1971, ta mở chiến dịch phản công có ý nghĩa chiến lược đường 9 - Nam Lào, đánh bại cố gắng quân sự cao nhất của quân ngụy Sài Gòn trong chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh. Hoà nhịp với chiến thắng đường 9 - Nam Lào, Quân giải phóng miền Nam phản công đánh bại cuộc hành quân Toàn thắng 1-71 và cuộc hành quân Quang Trung 4 quy mô lớn của quân ngụy Sài Gòn ở Campuchia và Tây Nguyên. Mặt trận chống phá bình định của quân dân các địa phương trong hai năm 1970, 1971 cũng giành được kết quả quan trọng. Do khối chủ lực cơ động của địch bị dồn ra ngoài biên giới và bị đánh thiệt hại nặng nên kế hoạch bình định nội địa của chúng không thực hiện được như dự tính. Cho dù trên nhiều vùng nông thôn đồng bằng, vùng ven đô và vùng giáp ranh, hệ thống đồn bốt địch vẫn mọc lên, chúng còn giữ được một số lớn ấp chiến lược và khu dồn, nhưng bộ máy kìm kẹp ở cơ sở rõ ràng bị suy yếu, kém hiệu lực. Thắng lợi trên mặt trận quân sự và chống phá bình định đã thúc đẩy phong trào đấu tranh chính trị phát triển, đặc biệt ở các đô thị lớn như Sài Gòn - Chợ Lớn Huế. Nạn đào rã ngũ trong binh lính ngụy ngày càng tăng. Trong khi đó, phong trào phản đối chiến tranh, phản đối chính quyền, đòi đưa tù binh về nước tiếp tục dâng lên mạnh mẽ trên toàn nước Mỹ. Quốc hội Mỹ lần lượt ban hành các nghị quyết hạn chế vai trò quân đội Mỹ, quy định thời hạn rút quân Mỹ ra khỏi Việt Nam. Trước sức ép ngày càng tăng của đông đảo các bầng lớp xã hội trong nước và những thất bại liên tiếp cả về quân sự, chính trị trên chiến trường, giới lãnh đạo Oasinhtơn ráo riết xúc tiến các hoạt động ngoại giao cực kỳ thâm độc mặc cả với Trung Quốc, Liên Xô hòng cô lập cao độ cách mạng Việt Nam, buộc Việt Nam phải nhân nhượng Mỹ trên bàn đàm phán tại Hội nghị Pari, tạo điều kiện thuận lợi cho chính quyền Níchxơn bước vào năm vận động tranh cử nhiệm kỳ tổng thống mới.

Sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của ba dân tộc trên bán đảo Đông Dương nói chung, của Việt Nam nói riêng, đang đứng trước một tình thế chiến lược mới với những thuận lợi rất cơ bản nhưng cũng đầy thử thách, phức tạp. Với niềm tin vững chắc vào sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, quân và dân ta trên cả hai miền Nam, Bắc tăng cường đoàn kết với quân, dân hai nước Lào, Campuchia, dồn sức hoàn tất mọi mặt chuẩn bị nhằm thực hiện quyết tâm chiến lược mà Bộ Chính trị Trung ương Đảng đề ra tháng 5-1971. Quyết tâm chiến lược đó là: Kịp thời nắm lấy thời cơ lớn, trên cơ sở phương châm chiến lược đánh lâu dài, đẩy mạnh tiến công quân sự, chính trị và ngoại giao, phát triển thế chiến lược tiến công mới trên toàn chiến trường miền Nam và cả chiến trường Đông Dương đánh bại chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh của Mỹ, đánh bại một bước quan trọng kế hoạch xâm lược của chúng ở Campuchia và Lào, giành thắng lợi quyết định trong năm 1972, buộc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh bằng thương lượng trên thế thua; đồng thời, chuẩn bị kiên trì và đẩy mạnh kháng chiến trong trường hợp chiến tranh còn kéo dài.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11279



« Trả lời #88 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2010, 12:51:51 AM »


TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH

1. Giôgiép A. Am tơ: Lời phán quyết về Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1985.
2. Ban Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ chính trị: Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945-1975 - Thắng lợi và bài học, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000.
3. Ban Tổng kết - Lịch sử - Bộ Tổng tham mưu: Thống kê số liệu chiến tranh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tài liệu lưu tại Ban Tổng kết - Lịch sử Bộ Tổng tham mưu.
4. Ban Tổng kết - Lịch sử - Bộ Tổng tham mưu: Tổng kết Bộ Tổng tham mưu trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1997.
5. Báo cáo tổng kết kinh nghiệm cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ (B2), Ban Tổng kết chiến tranh B2, 1979, tài liệu lưu tại Viện lịch sử quân sự Việt Nam.
6. Phòng Tổng kết chiến tranh Khu VI thuộc Ban Tổng kết chiến tranh B2: Báo cáo tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên chiến trường Khu VI (cực Nam Trung Bộ - Nam Tây Nguyên), t. 3, tài liệu lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.
7. Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), t.2, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1991.
8. Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Tóm tắt các chiến dịch trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội 2001.
9. Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, t.2, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1994.
10. Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Quân đội nhân dân Việt Nam - Biên niên sự kiện, Nxb. quân đội nhân dân, Hà Nội, 2002.
11. Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Đồng Tháp: Ba mươi năm kháng chiến của quân dân tỉnh Đồng Tháp, 1990.
12. Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Bến Tre: Bến Tre - 30 năm kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, 1990.
13. Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Bình Định: Bình Định-lịch sử chiến tranh 30 năm, 1992.
14. Chiến trường Trị - Thiên - Huế trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Nxb. Thuận Hoá, 1985.
15. Gabrien Côncô: Giải phẫu một cuộc chiến tranh, tập II, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1991.
16. Cục Tác chiến - Bộ Tổng tham mưu: Thống kê lực lượng địch ở miền Nam Việt Nam (1954-1975), tài liệu lưu tại Cục Tác chiến - Bộ Tổng tham mưu.
17. Cuộc tháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975 - Những sự kiện quân sự, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Hà Nội, 1988.
18. Cuộc kháng chiến 30 năm của quân dân Tiền Giang, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Tiền Giang, 1988.
19. Cuộc chiến tranh chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Tây Ninh, Ban Tổng kết chiến tranh tỉnh uỷ Tây Ninh, 1984.
20. Cửu Long - 21 năm kiên cường đánh Mỹ, Nxb. Cửu Long 1986.
21. Lê Duẩn: Thư vào Nam, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1979.
22. Lê Duẩn: Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập, vì tự do, vì chủ nghĩa xã hội, tiến lên giành những thắng lợi mới, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1985.
23. Lê Duẩn: Nắm vững đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa, tiến lên xây dựng kinh tế địa phương vững mạnh, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1968.
24. Phạm Văn Đồng: 25 năm chiến đấu và thắng lợi, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1970.
25. Đồng Nai - 30 năm chiến tranh giải phóng, Nxb. Đồng Nai, 1986.
26. Đường Hồ Chí Minh - một sáng tạo chiến lược của Đảng (Kỷ yếu Hội thảo khoa học), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999.
27. Ilya V. Gaiduk: Liên bang Xô Viết và cuộc chiến tranh Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 1998.
28. Trần Văn Giàu: Miền Nam giữ vững thành đồng, t. 5, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1978.
29. L. B. Giônxơn: Cuộc đời làm tổng thống của tôi, Nxb. Buysét Saxten, Pari, 1972.
30. L. B. Giônxơn: Về cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam và cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt Nam, Việt Nam Thông tấn xã phát hành, Hà Nội, 1972.
31. Hậu phương miền Bắc cung cấp người, vật chất cho chiến trường miền Nam từ 1959 đền 1975, lưu trữ Bộ quốc phòng, số 79 1.
32. Hậu Giang - 21 năm kháng chiến chống Mỹ, Nxb. Tổng hợp Hậu Giang, 1987.
33. Giócgiơ C. Hiarinh: Cuộc chiến tranh dài ngày nhất của nước Mỹ, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998.
34. Hồ sơ những văn kiện của Đảng về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975). Lưu tại Bộ môn Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.
35. Khu V - 30 năm chiến tranh giải phóng, t.2 Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1968), Bộ Tư lệnh quân khu V, 1989.
36. Kiên Giang - 30 năm chiến tranh giải phóng (1945-1975), Bộ Chỉ huy quân sự Kiên Giang 1987.
37. Henry Kissinger: Những năm ở Nhà Trắng (hồi ký), Thư viện Trung ương quân đội sao lục, 1982.
38. Ban Chỉ đạo biên soạn Lịch sử khu VI kháng chiến thống Mỹ, cứu nước: Khu VI kháng chiến chống Mỹ (1954-1975), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 2002.
39. Lịch sử Bà Rịa-Vũng Tàu kháng chiến (1954-1975), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995.
40. Lịch sử bộ đội đặc công, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1987.
41. Lịch sử Hải quân nhân dân Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1985.
42. Lịch sử hậu cần quân đội nhân dân Việt Nam, t.2, (1954-1975), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999.
43. Lịch sử Quân chủng Phòng không, t.2, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1993.
44. Lịch sử quân đội nhân dân Lào, Bản dịch tiếng Việt, Lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.
45. Lịch sử pháo binh quân đội nhân Việt Nam (1954-1975), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1991.
46. Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến(1945-1975), Nxb. Thành phố Hồ Chi Minh, 1994.
47. Lịch sử Viện kỹ thuật quân sự (1960-2000), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2000.
48. Long An - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội,1994.
49. Lưu Văn Lợi: Năm mươi năm ngoại giao Việt Nam 1945-1995, t.I, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 1996.
50. Lưu Văn Lợi - Nguyễn Anh Vũ: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kítxinhgơ, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 1996.
51. Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1980.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11279



« Trả lời #89 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2010, 12:52:39 AM »


52. Lực lượng vũ trang ta trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ 1955 đến 1975, Bản số 1, tập thống kê số liệu trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Bộ Tổng tham mưu và Bộ Quốc phòng Quân đội nhân dân Việt Nam, tài liệu lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.
53. Lực lượng vũ trang nhân dân Trà Vinh 30 năm kháng chiến (1945-1954), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1988.
54. Mấy vấn đề về chỉ đạo chiến lược trong 30 năm chiến tranh giải phóng (1945-1975), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội,1999.
55. Miền đông Nam Bộ kháng chiến (1945-1975), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1993.
56. Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.12, (In lần thứ hai), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000.
57. Minh Hải - 30 năm chiến tranh giải phóng, Nxb. Mũi Cà Mau, 1986.
58. Một số văn kiện của Đảng uỷ chống Mỹ, cứu nước, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1985.
59. Rôbớt S. Mắc Namara: Nhìn lại quá khứ - tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995.
60. Nghị quyết Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, tháng 12-1967, tài liệu lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.
61. Nghị quyết của BCHTƯĐLĐVN lần thứ 21, tháng 7-1973, tài liệu lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.
62. Nghị quyết của Bộ Chính trị BCHTƯĐLĐVN, tháng 4 năm 1969, tài liệu lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.
63. Nghị quyết Bộ Chính trị BCHTƯĐLĐVN, tháng 6 năm 1970, tài liệu lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.
64. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 19 BCHTƯĐLĐVN, ngày 1 tháng 3 năm 1971, tài liệu lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.
65. Nghị quyết Hội nghị Trung ương Cục lần thứ 9, tháng 7 năm 1969, tài liệu lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.
66. Nghị quyết Hội nghị Trung ương Cục lần thứ 11, tháng 10 năm 1971, tài liệu lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.
67. A. V. Nikin: Nước Mỹ, t.2, Nxb. Sự Thật, Hà Nội.
68. Oétmolen: Một quân nhân tường trình, Nxb. Đápbơđây Cămpơny Inh Gađừn Xity, Niu Oóc, 1976, Thư viện quân đội dịch, 1978. Bản đánh máy.
69. Đavít R. Panmơ: Tiếng kèn gọi quân, Nxb. Thông tin lý luận, Hà Nội, 1987.
70. Phú Yên - 30 năm chiến tranh giải phóng, Bộ Chỉ huy quân sự Phú Yên, 1993.
71. J. Pimlốt: Việt Nam - Những trận đánh quyết định,Trung tâm thông tin Khoa học - Công nghệ - Môi trường Bộ Quốc phòng ấn hành, Hà Nội: 1997.
72. Pitơ A. Pulơ: Nước Mỹ và Đông Dương từ Rudơven đến Níchxơn, Nxb. Thông tin lý luận, Hà Nội, 1985.
73. Quân khu IV - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1994.
74. Quân khu III - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995.
75. Quân khu IX - 30 năm kháng chiến (1945-1975), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1996.
76. Quảng Ngãi - Lịch sử chiến tranh nhân dân 30 năm (1945-1975), Nxb. Tổng hợp Nghĩa Bình, 1988.
77. Quảng Nam - Đà Nẵng - 30 năm chiến đấu và chiến thắng, t.2, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1988.
78. Quảng Trị - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Trị, 1998.
79. Lê Quốc Sản: Cuộc đọ sức thần kỳ, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1991.
80. H. Y. Schanđờlơ: Sự nghiệp của một tổng thống bị đổ vỡ L. Giônxơn và Việt Nam, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1999.
81. Nâylơ Shihan: Sự lừa dối hào nhoáng - Giôn Pônvan và nước Mỹ ở Việt Nam, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1990.
82. Sông Bé - Lịch sử chiến tranh nhân dân 30 năm, Nxb. Tổng hợp Sông Bé, 1990.
83. Sự thật về những lần xuất quân của Trung Quốc và quan hệ Việt - Trung, Nxb. Đà Nẵng, 1996.
84. Sức mạnh Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1976.
85. Sức mạnh chiến thắng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1985.
86. Tây Bắc - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội 1994.
87. Tây Bắc - 30 năm chiến tranh cách mạng, t.2, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1992.
88. Thủ đô Hà Nội - Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội. 1991.
89. Thái Bình - chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Thái Bình, 1995.
90. Tiếp xúc bí mật Việt Nam - Hoa Kỳ trước Hội nghị Pari, Viện quan hệ quốc tế ấn hành, Hà Nội, 1990.
91. Tóm tắt Tổng kết chiến tranh Việt Nam của Bộ Quốc phòng Mỹ, t.1, bản đánh máy, lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.
92. Tổng Cục thống kê: Niên giám thông kê tóm tắt năm 1973, Hà Nội, 1973.
93. Tổng Cục thống kê: 30 năm phát triển kinh tế và văn hoá của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1978.
94. Tổng Cục hậu cần: Công tác vận tải quân sự trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, cứu nước trên đường Hồ Chí Minh (1959-1975), Hà Nội, 1984.
95. Nguyễn Duy Trinh: Mặt trận ngoại giao thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, Nxb. Sự thật. Hà Nội, 1979.
96. Trong cuộc đối đầu thế kỷ, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1996.
97. Tuy Hoà - Những chặng đường đấu tranh cách mạng (1929-1975), Ban Lịch sử Đảng Tuy Hoà, 1988.
98. Từ điển chiến tranh Việt Nam (The dictionnary of the Việt Nam war), Nxb. Grin Uốt Prét Oétpót (Green Wood Press Westport),.1988.
99. Viện Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh: Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, t.2 (1954-1975), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995.
100. Viện khoa học xã hội Việt Nam - Viện Kinh tế học: 45 năm kinh tế Việt Nam (1945-1990), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1990.
101. Việt Nam - Con số và sự kiện, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1990.
102. Việt Nam - Những sự kiện, t.2 (1954-1975), Nxb. Khoa học xã hội. Hà Nội, 1976.
103. Vĩnh Long - Tổng tiến công và nổi dậy xuân 1968. Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1996.

Hết!
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM