Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 23 Tháng Chín, 2020, 10:17:52 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 5  (Đọc 63286 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #80 vào lúc: 22 Tháng Tư, 2010, 09:11:13 pm »


Từ ngày 3 đến ngày 15-1-1966, Hội nghị đoàn kết nhân dân Á, Phi, Mỹ Latinh họp ở La Habana, Thủ đô của Cuba bàn về mục tiêu đấu tranh hoà bình, trung lập của phong trào Không liên kết và ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Đặc biệt, Hội nghị đoàn kết Á, Phi, Mỹ Latinh lần này đã ủng hộ mạnh mẽ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược. Hội nghị nhất trí nhận định rằng: “Bản thân cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam là một sự ủng hộ trực tiếp và góp phần mạnh mẽ vào phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân các nước ở khắp ba châu, đồng thời là một tấm gương chói lọi cổ vũ mạnh mẽ toàn thể loài người tiến bộ”1. Hội nghị “coi việc đoàn kết với Việt Nam, bảo vệ sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân Việt Nam là nhiệm vụ trung tâm của chiến lược cách mạng của các dân tộc Á, Phi, Mỹ Latinh”2. Kết quả của hội nghị đánh dấu sự hình thành trên thực tế của mặt trận nhân dân ba châu chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân do Mỹ cầm đầu, một biểu hiện sình động của tình đoàn kết nhân dân ba châu đối với nhân dân Việt Nam, một sự cổ vũ quý báu đối với cuộc kháng chiến của nhân dân ta.”

Ngày 7-7-1966, bà Inđira Ganđi, Thủ tướng Ấn Độ đã tuyên bố yêu cầu Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam, rút quân đội nước ngoài ra khỏi miền Nam Việt Nam, triệu tập lại Hội nghị Giơnevơ năm 1954, bảo đảm độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam...

Để đoàn kết và ủng hộ Việt Nam chống Mỹ, hơn 200 tổ chức, uỷ ban, phong trào đoàn kết được lập ra ở hầu hết các nước trên thế giới với nhiều hoạt động tích cực. Hàng triệu người thuộc nhiều nước ghi tên tình nguyện sang giúp nhân dân Việt Nam đánh Mỹ. 16 nước có phong trào hiến máu; trên 50 nước có phong trào quyên góp ủng hộ Việt Nam. Ở Pháp có các phong trào quyên góp “1.000 triệu Frăng ủng hộ Việt Nam”, “một chiếc tàu cho Việt Nam”...; ở Nhật Bản có chiến dịch quyên góp “100 triệu yên cho Việt Nam”; ở Thuỵ Điển, hưởng ứng phong trào “Một triệu cuaron ủng hộ Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam”, các em thiếu niên, thanh niên, người già đứng ở các góc đường, trên tay cầm hộp sắt sơn cờ Mặt trận để quyên góp ủng hộ Việt Nam. Gôndalét, một công dân ở Áchentina kể lại: “Đã có những người dân đi khắp nơi, cần mẫn quyên góp từng viên kí-ninh, từng đồng pêxô để mua thuốc gửi cho Quân giải phóng và nhân dân miền Nam Việt Nam”3. Đó là những hình ảnh về tình hữu nghị đẹp đẽ và cao thượng, rất cảm động của nhân dân thế giới đối với Việt Nam.

Tại hàng trăm nước đã tổ chức những cuộc mít tinh ủng hộ Việt Nam và biểu tình, bãi công phản đối đế quốc Mỹ xâm lược. Nổi bật là cuộc tổng bãi công của 5,5 triệu công nhân thuộc 91 tổ chức công đoàn Nhật Bản trong năm 1965. Hội Liên hiệp Phụ nữ Pháp tổ chức “Đêm thức vì hoà bình ở Việt Nam”, v.v… Công nhân năm nước đấu tranh không chở vũ khí, phương tiện chiến tranh sang Việt Nam như cuộc bãi công của 17 tổ chức công đoàn cảng Côbê (Nhật Bản), cuộc đấu tranh của công đoàn thuỷ thủ Ôxtrâylia không lái dắt tàu chiến Mỹ vào các cảng của Ôxtrâylia. Giữa lòng Thủ đô Stốckhôm, từng xuất hiện các “chiến khu giải phóng” của thanh niên Thuỵ Điển. Họ lấy cờ Mặt trận và bài hát Giải phóng miền Nam làm cờ và bài ca chính thức, lập ra nhóm hành động ủng hộ Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Nhân dân Cộng hoà Liên bang Đức đã sôi sục biểu tình tại hơn 50 thành phố phản đối Mỹ ném bom Hà Nội, Hải Phòng và cuộc chiến tranh xâm lược bẩn thỉu của Mỹ ở Việt Nam. “Phong trào giải trừ quân bị” ở Cộng hoà Liên bang Đức đã phát 20 vạn truyền đơn trong nhân dân Cộng hoà Liên bang Đức và binh lính Mỹ đóng ở đây, tố cáo chính sách xâm lược của Mỹ, đòi rút quân khỏi Nam Việt Nam, đình chỉ ngay lập tức xâm lược Việt Nam. Chiều 4-7-1966 tại thành phố Hămbuốc, khoảng 2.000 sinh viên và nhân dân thuộc các giới đã họp mít tinh và kéo đến biểu tình trước Lãnh sự quán Mỹ giương khẩu hiệu “Bọn Mỹ cút đi”, “Rút lui bàn tay can thiệp khỏi Việt Nam”. Tại thành phố Frăngphuốc trên sông Ranh, nhân dân Cộng hoà Liên bang Đức đã biểu tình 20 giờ liền cả ngày lẫn đêm trước Lãnh sự quán Mỹ ở đây, phản đối tội ác mới của Mỹ. Tại nhiều thành phố khác như Muyních, Xtútgát, Hâyđenben, Đuétxenđơ, v.v... cũng diễn ra những cuộc biểu tình như vậy.

Từ châu Phi, châu Mỹ Latinh xa xôi cũng vang lên những tiếng thét phẫn nộ phản đối hành động xâm lược của đế quốc Mỹ và tỏ rõ nhiệt tình ủng hộ sâu sắc với cuộc đấu tranh của nhân dân ta. Ngày 23-2-1966 Chủ tịch Angiêri Bumêđiên gửi thư trả lời bức thư ngày 24-1-1966 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bày tỏ sự ủng hộ đối với lập trường nghiêm chỉnh và đúng đắn của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, và lên án việc chính quyền Giônxơn dùng thủ đoạn “thương lượng hoà bình” giả hiệu để hòng che đậy việc chúng ngoan cố tiếp tục chiến tranh xâm lược Việt Nam.

Chilê là nước luôn nhiệt tình ủng hộ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Việt Nam. Năm 1963, Chilê tổ chức ra “Uỷ ban Chilê giúp đỡ đoàn kết với Việt Nam”. Năm 1967, Viện hữu nghị Chilê - Việt Nam được thành lập. Tháng 5-1969, Tổng thống Agienđê sang thăm Việt Nam. Tổng thống nói, Chilê hoàn toàn ủng hộ cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam “Vì chiến tranh Việt Nam mà giá đồng đã ở mức cao trên thị trường quốc tế. Nhân dân Chilê với tình cảm của mình muốn giá đồng hạ xuống, miễn là Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam, một dân tộc nhỏ bé mà có phẩm giá đang đấu tranh cho nền độc lập của mình”4. Nhiều nhà hoạt động xã hội ở Mêhicô đã cho biết: không phải chỉ có một số người Mêhicô mà toàn thể nhân dân Mêhicô đều phản đối sự xâm lược của Mỹ ở Việt Nam. Nhiều nhà hoạt động chính trị ở Pêru đã cực lực phản đối Giônxơn bắt cả sinh viên Pêru đang theo học tại Mỹ đi lính sang làm bia đỡ đạn ở miền Nam Việt Nam.

Các nước Áchentina, Urugoay, Cốtxta Rica, Cônggô (B), Xômali... đã tổ chức nhiều cuộc mít tinh, biểu tình, triển lãm tranh ảnh, chiếu phim, v.v… giới thiệu cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam. Ở đâu nhân dân thế giới cũng biểu thị thái độ ủng hộ cuộc đấu tranh anh dũng của nhân dân ta, đòi đế quốc Mỹ phải rút quân ra khỏi Việt Nam và chấm dứt cuộc ném bom, bắn phá miền Bắc nước ta.
________________________________________
1, 2. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954 -1975 - Những sự kiện quân sự, Sđd, tr.153.
3. Báo Nhân Dân số 16158, ra ngày 3-10-1969.
4. Do Mỹ nhập khẩu đồng của các nước để sản xuất vũ khí phục vụ cho chiến tranh Việt Nam.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #81 vào lúc: 22 Tháng Tư, 2010, 09:12:01 pm »


Được sự ủng hộ tích cực và giúp đỡ của nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới, đến cuối năm 1967 đã có 41 chính phủ, 12 tổ chức quốc tế, 5 tổ chức khu vực lên tiếng ủng hộ cương lĩnh chính trị của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Mặt trận đã có phái đoàn đại diện ở Hà Nội và cơ quan thường trú tại các nước: Liên Xô, Cuba, Hunggari, Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, Ba Lan, Tiệp Khắc, Trung Quốc, Campuchia, Cộng hoà Ảrập thống nhất, Angiêri, Inđônêxia. Cảm kích trước cuộc chiến đấu chính nghĩa của nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược cụ Béctơrăng Rútxen, nhà trí thức lớn có tên tuổi đã vận động thành lập toà án quốc tế mang tên ông để xét xử tội ác đế quốc Mỹ, ủng hộ nhân dân Việt Nam.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam ngày càng có tiếng vang lớn và tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của xã hội Mỹ. Nếu trước đây nhân dân tin vào những lời hứa hẹn huênh hoang của các tổng thống Mỹ về chương trình: “xã hội vĩ đại” và “xây dựng một xã hội công bằng, giàu mạnh ở Mỹ”, về “chống bọn cộng sản”, “nhanh chóng giành thắng lợi”, “mang lại tự do cho nhân dân Việt Nam”... thì đến nay những lời hứa hẹn ấy chỉ là thứ bánh vẽ giả dối. Nhân dân Mỹ, đặc biệt là nhiều lính Mỹ đang tham chiến ở Việt Nam không chỉ thấy sự vô nghĩa, tính chất phi đạo lý của cuộc chiến tranh xâm lược, mà còn thức tỉnh, kính phục một dân tộc giàu lòng yêu nước, dũng cảm chiến đấu bảo vệ nền độc lập, tự do của mình. Chính vì vậy, họ hiểu rằng dù Mỹ có đổ bao nhiêu quân lính, tiền của, súng đạn, thực hiện bao nhiêu chiến lược cũng không thể thắng được nhân dân Việt Nam. Cũng do phải chi tiêu quá lớn cho cuộc chiến tranh ở Việt Nam làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế của Mỹ, đời sống nhân dân gặp rất nhiều khó khăn. Tiến sĩ mục sư Máctin Luthơ Kinh, người sáng lập Hội nghị lãnh đạo Thiên chúa miền Nam nước Mỹ đã mô tả tình hình đang diễn ra: “Tôi lo ngại là với việc leo thang chiến tranh, sẽ có sự cắt giảm và thiệt hại cho các chương trình ở đây Mục sư Luthơ Kinh lại nói: “Những lời hứa của xã hội vĩ đại đã bị bắn gục tại chiến trường Việt Nam” và ông kêu gọi: “Chúng ta phải biểu tình, hội thảo và tuyên truyền cho đến khi chính những nền móng của đất nước chúng ta phải rung chuyển”1. Đi đôi với việc suy giảm về kinh tế, lần đầu tiên đa số người Mỹ bắt đầu cảm thấy khó chịu về những cảnh tượng chết chóc và tàn phá do lính Mỹ gây ra ở Việt Nam, về việc xác lính Mỹ chết trận phải trở về trong các túi xác nilông hoặc mất tích trong rừng rậm Việt Nam ngày càng tăng. Chính vì vậy, chưa bao giờ có một phong trào phản đối chiến tranh trong lịch sử Hoa Kỳ rầm rộ như trong thời kỳ chiến tranh xâm lược Việt Nam.

Phong trào đấu tranh của nhân dân Mỹ đã phát triển cả về hình thức và nội dung do sự thất bại về quân sự, chính trị của Mỹ trên chiến trường ngày càng tăng trong quá trình tiến hành cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Mở đầu cho cuộc đấu tranh của nhân dân Mỹ là phong trào đấu tranh của sinh viên Mỹ. Do chiến tranh, sinh viên phải nghỉ học đi làm quân dịch, đi đánh nhau, không ít người trong số họ đã phải tử trận hoặc mang trên mình thương tật suốt đời. Hình thức đấu tranh ban đầu của sinh viên trong các trường đại học, cao đẳng là tổ chức những cuộc hội thảo về chiến tranh Việt Nam tiến lên các cuộc biểu tình ở ngoài đường phố.

Ngày 24-3-1965, cuộc hội thảo đầu tiên về chiến tranh Việt Nam được tổ chức tại Trường đại học Michigân có hơn 3.000 sinh viên tham dự, sau đó đã nhanh chóng lan ra các trường đại học khác. Qua hội thảo, giới sinh viên đều thống nhất nhận thức chiến tranh ở Việt Nam là một sự mạo hiểm, không hợp lý và vô đạo đức.

Những cuộc hội thảo của sinh viên ở các giảng đường đã bị chính quyền Mỹ tìm cách xoa dịu và bóp nghẹt. Bộ Ngoại giao Mỹ công bố sách trắng để bào chữa rằng: chiến tranh Việt Nam do Bắc Việt Nam xâm lược gây ra, Mỹ không thể bỏ rơi Nam Việt Nam được và an ninh quốc gia của Mỹ đang lâm nguy! Đại diện của chính quyền Mỹ là Uyliam Gioócđen dẫn đầu một đoàn lần lượt đến các khu đại học tuyên truyền xuyên tạc sự thật, bóp méo bản chất cuộc chiến tranh do Mỹ tiến hành để trấn an dư luận.

Bất bình trước thái độ làm ngơ của nhà cầm quyền, phong trào đấu tranh của sinh viên từ các giảng đường đã lan toả ra các đường phố. Ngày 8-6-1965, hơn 18.000 người đã họp ở Niu Yoóc quyết định: “Tất cả những ai chống chiến tranh Việt Nam phải xuống đường”. Các cuộc đấu tranh từ tự phát chuyển sang có tổ chức, sinh viên đã lập ra “Uỷ ban phối hợp toàn quốc nhằm chấm dứt chiến tranh Việt Nam”. Từ đó, các cuộc biểu tình ngày càng nhiều hơn và mang quy mô toàn quốc. Ngày 15 và 16-10-1965, đã có hơn 10 vạn người ở 60 thành phố trong cả nước Mỹ xuống đường đấu tranh. Nhiều cuộc xô xát giữa sinh viên với cảnh sát Mỹ đã xảy ra. Sôi nổi nhất là cuộc biểu tình ban đêm của hơn một vạn sinh viên ở thành phố Bớccơlây. Họ đốt đuốc kéo đến căn cứ quân sự Ốclen, nơi quân Mỹ tập trung trước khi sang Nam Việt Nam để kêu gọi binh lính Mỹ đừng đi chết ở Việt Nam. Tại trung tâm tuyển quân Oaytơhon (Niu Yoóc), anh Đêvít Milơ đã hiên ngang đốt thẻ quân dịch trước cuộc biểu tình rồi căm phẫn lên án cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam. Hành động này, khiến Quốc hội Mỹ thông qua một đạo luật vô lý và vô nhân đạo là trừng phạt những người đốt thẻ quân dịch với bản án 5 năm tù và nộp 1.000 đôla.
________________________________________
1. Giôdép A. Amtơ: Lời phán quyết về Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1985, tr. 192, 196.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #82 vào lúc: 22 Tháng Tư, 2010, 09:13:11 pm »


Sau cuộc biểu tình tháng 10-1965, xuất hiện thêm hình thức làm xúc động lòng người dân Mỹ và nhân loại tiến bộ là việc tự thiêu để phản đối chiến tranh. Mở đầu là Noócman Morixơn1, người theo phái Quâycơ trẻ. Anh đã đặt con gái nhỏ Êmêly 18 tháng tuổi xuống đất rồi tẩm xăng vào mình và châm lửa tự thiêu ngay trước cửa sổ phòng làm việc của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mắc Namara. Theo tấm gương Morixơn, một tuần sau (9-11-1965), một thanh niên Mỹ tên là Rôgiơ Lapotơ, 22 tuổi cũng tẩm xăng, tự thiêu trước trụ sở Liên hợp quốc để phản đối cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam. Tiếp đó, ngày 10-11 chị Xilin Giancaoxki, một phụ nữ trẻ, mẹ của hai con nhỏ và cụ bà Helga Alíthớt, 79 tuổi lại tự thiêu để chống cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam.

Hành động cao đẹp và dũng cảm trên được báo chí nhiều nước lúc đó hết sức ca ngợi, coi đây “là những bó đuốc tiếp sức phản kháng cuộc chiến tranh dã man ở Việt Nam”2, “là lời tố cáo nghiêm khắc của người dân Mỹ đối với đế quốc Mỹ quen thói xâm lược gây tai hoạ”3. Tờ Quang Minh Nhật báo (Trung Quốc) ra ngày 11-11-1965 còn chỉ rõ nguyên nhân của những hành động đó là do “lòng người dân Mỹ không thể chịu đựng được nữa, đã bốc lên ngọn lửa này”4.

Cũng thời gian này, các phương tiện thông tin đại chúng ở Việt Nam liên tiếp đưa tin, đăng tải các ý kiến của các tầng lớp nhân dân và những văn nghệ sĩ trên thế giới bày tỏ tình cảm xúc động, lòng ngưỡng mộ và quý trọng những tấm gương dũng cảm quên mình của những người Mỹ tiến bộ đã hy sinh vì sự nghiệp chính nghĩa của dân tộc Việt Nam. Nhân dân Việt Nam vô cùng biết ơn những tấm gương hy sinh cao cả của những người bạn Mỹ.

Qua đó, hình tượng về những tấm gương hy sinh anh dũng trên đã tác động mạnh mẽ đến phong trào đấu tranh của nhân dân Mỹ. Nhiều người Mỹ đã vượt hàng rào dây thép gai để xông vào cảng quân sự Ốclen chặn một tàu thuỷ chở hàng sang Việt Nam. Ba trăm người đứng chặn một đoàn tàu hoả chở lính đến địa điểm tập trung trước khi sang Việt Nam. Thanh niên, sinh viên phát động cuộc hiến máu gửi chiến sĩ giải phóng miền Nam Việt Nam. Uỷ ban luật gia về chính sách của Mỹ ở Việt Nam công bố giác thư dài 25 trang, tố cáo chính sách của Mỹ ở Nam Việt Nam đã vi phạm Hiến pháp Mỹ, Hiến chương Liên hợp quốc và Hiệp định Giơnevơ năm 1954. Nhiều cuộc bãi công của công nhân trong các nhà máy, xí nghiệp, hải cảng, nhất là trong các ngành công  nghiệp phục vụ chiến tranh đã nổ ra. Đáng chú ý là cuộc bãi công của 12.000 người tại Công ty Hàng không thế giới Liên Mỹ; của 250.000 người ở Nghiệp đoàn điện quốc tế, của công nhân hải cảng Bantimo làm tê liệt nhiệm vụ chuyển dụng cụ chiến tranh sang Việt Nam; của 30.000 công nhân thuộc 7 nhà máy, công ty điện thông dụng ở 6 bang chuyên sản xuất máy bay lên thẳng, bom và tên lửa cho chiến trường Việt Nam. Cuộc bãi công của 14.000 công nhân tại 26 nhà máy ở 80 bang của Công ty điện Oéttinhhao làm ngưng trệ những đơn đặt hàng về phụ tùng điện tử cho Nam Việt Nam. Cuộc bãi công kéo dài nhiều tháng của 37.000 công nhân sản xuất đồng, làm tê liệt 90% ngành này, gây ra sự khan hiếm đồng sản xuất súng đạn cho chiến tranh Việt Nam. Những cuộc bãi công trên đã diễn ra đồng thời và phối hợp nhịp nhàng với phong trào đấu tranh phản đối chiến tranh của các tầng lớp nhân dân Mỹ.

Cùng với phong trào bãi công của công nhân, phong trào phản chiến của thanh niên, sinh viên, phong trào đấu tranh của người da đen ở Mỹ cũng ngày càng phát triển và diễn ra quyết liệt. Cả nước Mỹ có 22 triệu người da đen. So với các tầng lớp nhân dân Mỹ, người da đen chiếm tỷ lệ cao nhất về nghèo khổ, thất nghiệp, thất học và bị đối xử tàn tệ do chế độ phân biệt chủng tộc gây nên. Hoa Kỳ đã không chấp nhận tự do cho người da đen nhưng lại sử dụng họ vào lính đánh thuê ở Việt Nam với số lượng cao nhất trong đội quân viễn chinh Mỹ. Trước những bất công, uất ức, người Mỹ da đen đã bất bình và nổi dậy. Ngày 11-8-1965, người da đen khu Oát ở Lốt Angiơlét đã cầm súng chống lại Chính phủ. Tiếp đó, trong đợt “mùa hè nổi dậy” năm 1966 đã có những cuộc xung đột đẫm máu ở Chicagô, Cơlivơlen, Minnipôlít, Átlanta, và trong gần 40 thành phố khác. Mùa hè năm 1967, khi quân và dân miền Nam đánh bại cuộc phản công chiến lược lần thứ hai của quân viễn chinh Mỹ và quân, dân miền Bắc trong sáu tháng đầu năm 1967 đã bắn rơi 436 máy bay, bắt nhiều giặc lái thì cuộc đấu tranh của nhân dân Mỹ và người Mỹ da đen lại liên tiếp nổ ra mạnh mẽ, ở nhiều nơi gần như biến thành nội chiến. Từ 23-7 đến 28-7-1967 tại Đơtroi, trung tâm lớn nhất về công nghiệp ôtô đã xảy ra nhiều cuộc xô xát kịch liệt. Chính quyền Mỹ phải điều động khoảng 10.000 bảo an, 5.000 lính dù có máy bay lên thẳng, xe tăng, xe bọc thép để lập lại trật tự.

Từ giữa tháng 7 đến giữa tháng 8-1967, cuộc chiến đấu giữa những người da đen với cảnh sát và lính Mỹ đã diễn ra ở hơn 100 thành phố làm hàng trăm người chết, hàng ngàn người bị thương, hàng vạn người da đen bị bắt. Thiệt hại về vật chất lên đến hàng trăm tỉ đôla. Đây có thể coi là những “trận ác chiến” của người Mỹ da đen mà theo thượng nghị sĩ Mỹ Phunbrai là do “kết quả trực tiếp của cuộc chiến tranh ở Việt Nam”. Để che đậy tính chính nghĩa của cuộc đấu tranh của người da đen, chính quyền Mỹ cho rằng những cuộc nổi dậy ấy “không phải là chính trị”, nhưng H.Ráp Brau, lãnh tụ của người da đen, thì nhấn mạnh tính chất chính trị của các cuộc nổi dậy này, vì nó gắn liền tình cảnh sống của người nghèo nói chung, người da đen nói riêng với cuộc chiến tranh ở Việt Nam.
________________________________________
1. Noócman Morixơn, 31 tuổi, quê ở Bantimo, bang Marilen là một trí thức, một chiến sĩ đấu tranh vì hoà bình. Trước khi tự thiêu anh đã hai lần tham gia các cuộc biểu tình trước trụ sở Bộ Quốc phòng để phản đối chính sách xâm lược của Chính phủ Mỹ ở Việt Nam. Sau khi biết tin chồng tự thiêu, vợ anh đã đến đón bé Êmêly và tuyên bố. “Chồng tôi đã hy sinh hôm nay để nói lên sự lo lắng của mình về sự thiệt hại rất nhiều sinh mạng trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam”. Tại quê hương Morixơn và trước Lầu Năm Góc (Oasinhtơn) các bạn của anh và những người tham gia các tổ chức đấu tranh của Mỹ đòi hoà bình ở Việt Nam đã tổ chức lễ truy điệu tưởng nhớ anh.
2, 3. Báo Tin tức (Liên Xô) số ra ngày 10-11-1965.
4. Quang Minh Nhật báo (Trung Quốc) ngày 11-11-1965.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #83 vào lúc: 22 Tháng Tư, 2010, 09:14:10 pm »


Phối hợp với các cuộc đấu tranh trên, năm 1967, một số tổ chức đấu tranh mới ở Mỹ đã ra đời. “Nhóm động viên mùa xuân” đã thuyết phục mọi người chống chiến tranh xuống đường để biểu dương lực lượng. Ngày 15-4-1967, nhóm này tổ chức một cuộc biểu tình lớn tại Oasinhtơn. Trong đoàn biểu tình khoảng 40.000 người có đủ các thành phần tham dự như: sinh viên đốt thẻ quân dịch, các nhà lãnh đạo da đen, các công dân Mỹ chống chiến tranh và các cựu binh Mỹ ở Việt Nam trở về.

Hưởng ứng cuộc đấu tranh của “Nhóm động viên mùa xuân”, “Uỷ ban động viên phía đông” và một nhóm gọi là “Kháng cự phía tây” đã được thành lập và đề ra chủ trương chống lại quân dịch và quân sự nói chung của chính quyền Mỹ. “Nhóm kháng cự phía tây” dẫn đầu một cuộc biểu tình ngồi hoà bình tại trung tâm tuyển quân ở Oáccơlân. Lập tức, ngày hôm sau (17-10-1967), cảnh sát chống lại những người biểu tình bằng những hành động tàn bạo; những người này đánh lại cảnh sát rồi rút lui, nhưng lại xuất hiện biểu tình ở nơi khác.

Cuộc biểu tình tại Oáccơlân đã tác động đến Oasinhtơn, tại đây các lực lượng phản chiến đã tổ chức Tuần lễ chống chiến tranh xâm lược Việt Nam. Ngày 21-10-1967, đã có 200.000 người từ khắp nước Mỹ về tập hợp trước đài kỷ niệm Lincôn và bao vây Lầu Năm Góc với những khẩu hiệu “Rút quân Mỹ về nước” và “Nước Việt Nam của người Việt Nam”. Tuần lễ đấu tranh này được sự phối hợp ủng hộ rộng rãi của nhân dân các nước như Canađa, Anh, Cộng hoà Liên bang Đức,Pháp, Italia, Bỉ, Thuỵ Điển, Phần Lan, Na Uy, Đan Mạch, Nhật, Ôxtrâylia...

Tháng 12-1967, nhân dân Mỹ lại tổ chức Tuần lễ phản đối chiến tranh Việt Nam và chống quân dịch. Trong tuần lễ này đã có 50 tổ chức thành viên của sinh viên, tôn giáo, người da đen tham gia mít tinh, biểu tình bao vây trạm tuyển binh, v.v...

Mùa xuân và mùa hè năm 1968, phong trào chống chiến tranh lại nổi lên trong sinh viên. Sinh viên biểu tình để chống những người lãnh đạo Trường đại học Côlumbia đã nhận tiền trợ cấp của Bộ Quốc phòng để nghiên cứu các đề tài quân sự, tức là đã tham gia vào việc phá hoại Việt Nam và giết hại thanh niên Mỹ.

Tháng 4-1968, phản ứng lại các cuộc biểu tình của sinh viên, Hiệu trưởng Trường đại học Côlumbia là Grâyxon Kơcơ đã buộc những người lãnh đạo chống chiến tranh phải nghỉ học không thời hạn. Sinh viên lập tức tổ chức một cuộc biểu tình ngồi trong trường. Hiệu trưởng trường gọi cảnh sát đến định dùng vũ lực, nhưng sinh viên đã nhanh chóng tập hợp lại chiếm năm toà nhà của trường đại học, đòi cải cách đại học và chấm dứt chiến tranh. Sau năm ngày chiếm trường, các lớp học đều thống nhất nghỉ học suốt học kỳ sáu tháng và Kơcơ đã phải từ chức. Cùng với Trường Côlumbia, sinh viên ở các trường khác, nhất là ở Nothơ Oéttơn, Xtanpho, bang Michigân cũng đấu tranh đòi Chính phủ Mỹ phải có trách nhiệm và sớm chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam.

Tháng 8-1968, tại Đại hội toàn quốc Đảng Dân chủ Mỹ đã diễn ra “cuộc chiến đấu Chicagô”. Những người biểu tình chống chiến tranh tại đại hội này đã chống trả quyết liệt sự đàn áp dã man của cảnh sát. Những lính cận vệ quốc gia mang mặt nạ phòng độc xả hơi cay vào đoàn biểu tình; tiếp đó, cảnh sát đội mũ sắt xông vào đánh đập và bắt bớ. Những người biểu tình đã ném trứng thối và chai lọ vào bọn khủng bố. Cuộc đàn áp này đã làm 800 người bị thương và gần 700 người bị bắt vào nhà tù, trong đó có một số phóng viên của các hãng thông tấn, báo chí. Chính giới Mỹ đã thừa nhận cảnh sát đã “quá tay”, không đạt được mục đích duy trì trật tự và làm cho luật pháp có hiệu lực.

Phong trào đấu tranh của nhân dân Mỹ, những năm về sau còn phát triển khi Mỹ tiếp tục gây thêm nhiều tội ác ở Việt Nam. Nhưng những cuộc đấu tranh vừa qua đã là “cuộc chiến tranh trong lòng nước Mỹ” tác động đến mọi mặt xã hội Mỹ. Oantơ Lípman, nhà bình luận chính trị nổi tiếng nước Mỹ hồi đó nhận xét “lương tâm người Mỹ nổi giận... Cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam là cuộc chiến tranh không được lòng người nhất trong lịch sử Hoa Kỳ”. Sau này, Henry Kítxinhgiơ đã thừa nhận: “Các thế hệ tương lai có thể khó hình dung được cơn biến động trong nước mà chiến tranh Việt Nam gây ra... Chính cơ cấu của chính phủ đã bị tan rã. Ngành hành pháp bị choáng váng. Cuối cùng, con em của họ và con em bạn bè của họ đã tham gia các cuộc biểu tình... Sự kiệt sức là dấu ấn của tất cả chúng tôi. Tôi phải đi từ nhà tôi, vây quanh là đám người phản đối, đến tầng dưới của Nhà Trắng để được ngủ đôi chút”1.

Cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân Việt Nam đã được cả loài người yêu chuộng hoà bình trên thế giới ủng hộ. Có được thành công đó là do ta kết hợp tốt đấu tranh quân sự và đấu tranh ngoại giao nên đã tập hợp được nhân dân tiến bộ thế giới vào một mặt trận chống kẻ thù chung dưới nhiều hình thức và mức độ khác nhau, ngày càng cô lập được đế quốc Mỹ, góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp - sức mạnh của dân tộc và sức mạnh thời đại để không ngừng tăng cường thế và lực cho cuộc kháng chiến. Vì vậy, sau này khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, cuộc kháng chiến chống Mỹ kết thúc thắng lợi, thay mặt nhân dân Việt Nam, đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn đã: “Bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đối với Liên Xô, Trung Quốc, các nước xã hội chủ nghĩa anh em khác, đối với các đảng cộng sản và công nhân, đã vì tình nghĩa quốc tế vô sản cao cả, dành cho nhân dân ta sự ủng hộ và sự giúp đỡ hết sức to lớn và quý báu. Chúng ta chân thành cảm ơn giai cấp công nhân các nước trên thế giới, các nước dân tộc chủ nghĩa, các tổ chức dân chủ quốc tế và loài người tiến bộ đã cổ vũ và ủng hộ mạnh mẽ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta. Chúng ta gửi đến nhân dân tiến bộ Mỹ đã vì hoà bình và công lý mà đồng tình, ủng hộ cuộc chiến đấu chính nghĩa của nhân dân ta, lời chào hữu nghị”2.
________________________________________
1. Henry Kítxinhgiơ: Hồi ký những năm tháng ở Nhà Trắng, bản tiếng Việt, Thư viện Trung ương quân đội dịch, 1982, tr. 190.
2. Trích điện văn của đồng chí Lê Duẩn trong buổi lễ mừng chiến thắng ngày 15-5-1975 tại Hà Nội, dẫn theo Sức mạnh Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1976, tr. 394.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #84 vào lúc: 22 Tháng Tư, 2010, 09:16:17 pm »


II- PHỐI HỢP ĐẤU TRANH QUÂN SỰ VỚI ĐẤU TRANH NGOẠI GIAO TRONG CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY, BUỘC MỸ PHẢI ĐÀM PHÁN CHÍNH THỨC VỚI VIỆT NAM TẠI PARI

1. Những cuộc tiếp xúc đầu tiên và những đòn tiến công của ta trên mặt trận ngoại giao

Bị thất bại nặng nề trên chiến trường miền Nam trong hai cuộc phản công chiến lược năm 1965-1966, năm 1966-1967 và cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân đánh phá miền Bắc, lại bị nhân dân thế giới và nhân dân Mỹ phản đối, đế quốc Mỹ một mặt, tiếp tục đưa thêm lực lượng và phương tiện chiến tranh vào miền Nam hòng giành thắng lợi về quân sự, mặt khác, tăng cường những thủ đoạn hoạt động ngoại giao xảo quyệt để lừa bịp dư luận đang lên án chúng.

Đầu năm 1965, cùng với việc bắt đầu đưa quân viễn chinh Mỹ vào miền Nam Việt Nam và mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền Bắc, Tổng thống Mỹ Giônxơn cũng đồng thời mở chiến dịch ngoại giao rầm rộ. Ngày 7-4-1965, đọc diễn văn tại Bantimo, Giônxơn đưa ra lời kêu gọi thương lượng không điều kiện với Hà Nội nhưng khăng khăng từ chối nói chuyện với Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, người đại diện chân chính duy nhất của nhân dân miền Nam. Như vậy, có thể nói điều kiện hoà bình của Mỹ là miền Bắc phải thôi ủng hộ miền Nam.

Để lừa bịp dư luận Mỹ và thế giới đòi hỏi chấm dứt ném bom miền Bắc, Giônxơn dùng chiêu bài cho tạm ngừng ném bom từng đợt để tỏ thiện chí, có đợt vài ngày, có đợt vài chục ngày. Cùng với những đợt ngừng ném bom này, Mỹ thăm dò tìm những nhân vật trung gian, nhưng phải trung thành với Mỹ và được Việt Nam chấp nhận để tiếp xúc, thăm dò thái độ ta, đồng thời qua đó cũng hạn chế ta chi viện cho miền Nam. Ngày 6-5-1965, Đô đốc Rabom, Giám đốc CIA cho rằng Hà Nội không có ý định tham gia các cuộc nói chuyện với Mỹ trong những tháng sắp tới. Mỹ nên thử điều hành một chương trình ném bom mở rộng mà vẫn để ngỏ một cơ hội cho Hà Nội có thể tìm kiếm đàm phán mà hoàn toàn không mất mặt, đồng thời không khiến Liên Xô ép Hà Nội tiếp tục chiến tranh và không tạo một sức ép của thế giới đối với Mỹ. Trong bối cảnh đó, L. Giônxơn quyết định tạm ngừng ném bom miền Bắc nhân ngày lễ Phật đản cho tới tuần sau đó nhằm mục đích bắt đầu dọn đường hướng tới đàm phán hoà bình hoặc tăng cường hoạt động quân sự tuỳ theo thái độ của Hà Nội. Chiến dịch ngừng ném bom này được gọi là “Hoa tháng Năm” (May flower).

Ngày 11-5-1965, Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ Đin Raxcơ điện đến báo cho Đại sứ Mỹ Côlơ ở Mátxcơva, yêu cầu gặp Đại sứ Nguyễn Văn Kỉnh của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà để chuyển thông điệp của người cầm quyền cao nhất nước Mỹ cho nhà cầm quyền Bắc Việt Nam. Đại sứ quán Việt Nam đã từ chối không tiếp Côlơ và không nhận bức thông điệp ấy, vì hai nước chưa có quan hệ ngoại giao. Sau đó, Côlơ lại tìm cách nhờ Liên Xô, vì Liên Xô là một trong hai đồng chủ tịch Hội nghị Giơnevơ để chuyển cho Việt Nam. Thứ trưởng Ngoại giao Liên Xô Phiriubin cũng từ chối không chuyển bức thông điệp đó tới Hà Nội, bởi vì Chính phủ Việt Nam chưa bao giờ yêu cầu Liên Xô làm việc đó. Thấy không có kết quả, ngày 13-5-1965, Côlơ nhờ ông E.F Út, lãnh sự Anh ở Hà Nội, gửi cho Trưởng phòng Ngoại vụ của Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội một bức thư có kèm theo bức thông điệp của Hoa Kỳ. Nhưng hôm sau cả thư và bức thông điệp đó cũng đã được trả lại cho lãnh sự Anh. Thực chất nội dung bức thông điệp của Giônxơn vẫn là những lời lẽ đe doạ chiến tranh: hoặc Bắc Việt Nam chấp nhận kiểu hoà bình của Mỹ, hoặc Mỹ sẽ tăng cường chiến tranh ở cả hai miền. Trong buổi tiếp Đại sứ Canađa, thành viên của Uỷ ban quốc tế từ Sài Gòn ra Hà Nội, ngày 3-6-1965, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh nhận xét: Mỹ đang theo đuổi chính sách “cái gậy và củ cà rốt”.

Trong dịp ngừng ném bom 37 ngày nhân lễ Nôen năm 1965 (từ ngày 23-12-1965 đến hết tháng 1-1966), Oasinhtơn mở chiến dịch “Cuộc tiếp xúc PINTA trên đường Penxinvania” bao gồm cuộc tiếp xúc của Đại sứ Mỹ Henri A. Bairốt ở Rănggun (Thủ đô Mianma) với Tổng lãnh sự Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Vũ Hữu Bình, cuộc tiếp xúc của Đại sứ Mỹ Côlơ với đại diện lâm thời Lê Trang ở Mátxcơva; của P.Xtơmơ, nguyên Tổng lãnh sự Mỹ tại Sài Gòn với Tổng đại diện Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Mai Văn Bộ tại Pari, v.v... Cùng với lệnh ngừng ném bom Bắc Việt Nam, ngày 29-12-1965, Nhà Trắng đã đưa ra lập trường 14 điểm để giải quyết vấn đề chiến tranh Việt Nam nhằm phục vụ cho chiến dịch ngoại giao lớn nhất trong thời kỳ này. Lập trường 14 điểm của Tổng thống Mỹ là:

1- Mỹ chấp nhận Hiệp định Giơnevơ năm 1954 và năm 1962 như là những cơ sở “đủ tốt” cho việc đàm phán.

2- Mỹ sẽ hoan nghênh một cuộc hội nghị về Đông Nam Á hoặc bất cứ một khu vực nào của châu Á.

3- Mỹ sẵn sàng tiến hành những cuộc đàm phán không điều kiện.

4- Mỹ sẵn sàng, nếu Hà Nội muốn tiến hành các cuộc thảo luận chính thức và không điều kiện.

5- Một cuộc ngừng bắn có thể là điểm đầu tiên của hội nghị hoà bình, hoặc bước chuẩn bị cho một hội nghị như vậy.

6- Mỹ sẵn sàng thảo luận Chương trình bốn điểm của miền Bắc Việt Nam.

7- Mỹ không muốn có căn cứ quân sự ở Đông Nam Á.

8- Mỹ không muốn có sự có mặt về quân sự của Mỹ ở miền Nam Việt Nam.

9- Ủng hộ tuyển cử tự do.

10- Việc thống nhất hai nước Việt Nam có thể được quyết định bằng sự tự do quyết định của nhân dân hai nước.

11- Các nước Đông Nam Á có thể là không liên kết hoặc trung lập. Mỹ không muốn có đồng minh mới.

12- Mỹ sẵn sàng đóng góp một tỉ đôla cho chương trình phát triển khu vực mà Bắc Việt Nam có thể tham gia.

13- Việt cộng sẽ không có khó khăn gì trong việc trình bày quan điểm của họ tại một hội nghị sau khi chiến sự chấm dứt.

14- Việc ném bom sẽ được chấm dứt nếu những gì xảy ra sau đó sẽ được công bố.

Oasinhtơn thông báo quyết định này cho Tổng thư ký Liên hợp quốc U Than, cho các đồng minh ở Thái Bình Dương và một số chính phủ khác, trong đó có Liên Xô. Tổng thống Giônxơn viết thư giải thích lập trường của Mỹ cho nguyên thủ quốc gia hàng trăm nước; cử phái viên đi hơn 40 nước; thảo luận với 113 nước có quan hệ ngoại giao với Mỹ. Đây là một trong những cuộc vận động ngoại giao rộng lớn nhất của Mỹ trong nhiệm kỳ tổng thống của L. Giônxơn.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #85 vào lúc: 22 Tháng Tư, 2010, 09:17:11 pm »


Đợt ngừng ném bom 37 ngày và cuộc vận động hoà bình khá ồn ào của Mỹ đã không có tác dụng. Bản tuyên bố về lập trường 14 điểm của Giônxơn bề ngoài dường như là sự tổng hợp các giải pháp hoà bình cho vấn đề Việt Nam trong lập trường bốn điểm của Hà Nội, đề nghị của 17 nước không liên kết ở Bêôgrát, đề nghị của Liên Xô về một hội nghị quốc tế về Campuchia, nhưng thực chất lập trường 14 điểm lộ rõ âm mưu xâm lược của Mỹ không thay đổi; Mỹ không thừa nhận Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, đòi thương lượng có điều kiện, v.v…

Ngày 31-1-1966, L. Giônxơn ra lệnh ném bom trở lại miền Bắc càng chứng tỏ Mỹ cố theo đuổi chính sách chiến tranh, chứ không hề có thiện chí hoà bình thật sự. Trong buổi gặp Đại sứ Bairốt của Mỹ ở Rănggun, tối 31-1-1966, Tổng lãnh sự Nguyễn Hữu Bình đã phê phán những mâu thuẫn trong cái gọi là “sáng kiến hoà bình” của Mỹ. Đồng chí khẳng định một giải pháp chính trị cho vấn đề Việt Nam chỉ có thể tính đến khi Chính phủ Hoa Kỳ chấp nhận lập trường bốn điểm của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, chứng minh điều đó bằng hành động thực tế, chấm dứt không điều kiện và vĩnh viễn việc ném bom nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Chiến dịch “Bông cúc vạn thọ” (Mêricôn), tiến hành từ mùa hè năm 1966, kéo dài sáu tháng, nhờ môi giới trung gian là Đại sứ Lêvanđôxki, Trưởng đoàn Ba Lan trong Uỷ ban quốc tế về Việt Nam và Đại sứ Italia Đoóclanđi ở Sài Gòn để bố trí cuộc gặp gỡ giữa Đại sứ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Đại sứ Mỹ tại Vácsava (Ba Lan), nhưng phía Mỹ không đến.

Vai trò làm trung gian của một số nước được Mỹ sử dụng đều không đem lại kết quả. Cuối cùng, không còn cách nào tốt hơn là việc Mỹ phái sứ giả bí mật đến Hà Nội. Mục đích của chuyến đi để thăm dò nhằm tiến tới sự gặp gỡ giữa những đại diện có thẩm quyền của hai chính phủ, trước hoặc sau việc ngừng ném bom, bắn phá. Nhưng ai sẽ là sứ giả và người đó phải trung thành với Mỹ và lại được Hà Nội chấp nhận. Phải mất khá nhiều thời gian và công sức Mỹ mới tìm ra được người để “chọn mặt gửi vàng”. Đầu tiên, Mỹ nhờ đến sự giúp đỡ của Viện Pắpoát (Pugwash) là một tổ chức chống chiến tranh hạt nhân, gồm những nhà khoa học nhiều nước như Mỹ, Liên Xô, Anh, Pháp... và do một nhà công nghiệp Mỹ tài trợ. Viện Pắpoát đã cử ra một nhóm nhà khoa học có tín nhiệm của Mỹ và Pháp, cùng với Henry Kítxinhgiơ, giáo sư Trường đại học Havớt đã “nhân danh Tổng thống Mỹ” vừa tham gia, vừa chủ trì cuộc họp. Suốt ba ngày 16, 17 và 18-6-1967, nhóm này đã họp tại Pari, Thủ đô nước Pháp. Họ đã nhất trí cử ông Máccôvích, nhà sinh học phân tử làm việc tại Viện Pátxtơ (Pari) là người mà Mỹ tin cậy, nhưng chưa phải là người quen biết của Hà Nội nên cũng khó hoàn thành được nhiệm vụ. Vì vậy, phải tìm thêm một nhân vật có khả năng tiếp xúc một cách dễ dàng với các nhà lãnh đạo Bắc Việt Nam. Quá trình tìm kiếm, người ta đã mời được Giáo sư Raymông Ôbrắc cũng là người Pháp. Ông đã quen Chủ tịch Hồ Chí Minh thời Hội nghị Phôngtennơblô năm 1946. Khi đó, có thời gian Chủ tịch Hồ Chí Minh đến ở nhờ nhà ông ở ngoại ô Pari và đã nhận là cha đỡ đầu cháu Êlidabét, con thứ ba của ông bà Ôbrắc.

Để giữ bí mật, hai ông Máccôvích và Ôbrắc xin sang Việt Nam với nhiệm vụ công khai là phái viên của Viện Paxtơ Pari, đến Việt Nam làm việc với Viện vệ sinh dịch tễ Hà Nội, đồng thời nghiên cứu tổ chức ở Phnôm Pênh (Campuchia), một hội nghị địa phương bàn những vấn đề hợp tác quốc tế trong lĩnh vực y tế và phòng bệnh.

Ngày 21-7-1967, hai ông tới Hà Nội với danh nghĩa một phái đoàn khoa học làm việc với Bộ Y tế. Ngày 24-7, ông Ôbrắc được Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp đón ân cần. Cùng ngày 24 và ngày 25-7, hai ông làm việc với Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Trong quá trình làm việc, Thủ tướng đã nêu vắn tắt quá trình vấn đề Việt Nam từ năm 1954 cho đến hiện nay, giới thiệu lập trường của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà về vấn đề thương lượng. Thủ tướng đã chỉ ra con đường: “Muốn thương lượng về nội dung của vấn đề, nghĩa là toàn bộ vấn đề Việt Nam và trước hết là vấn đề miền Nam, thì Mặt trận Dân tộc giải phóng phải có mặt. Tuy nhiên, chúng tôi chấp nhận giai đoạn đầu không bao gồm Mặt trận”1 và “Nếu các ông cần một sự tiếp xúc, hãy gặp đại diện chúng tôi tại Pari”2.

Rời Hà Nội trở về Pari, trong suốt hai tháng từ ngày 17-8 đến ngày 17-10-1967, hai ông Máccôvích và Ôbrắc đã phải làm việc trong tâm trạng vừa hào hứng, vừa căng thẳng. Đó là ba lần chuyển thông điệp của Chính phủ Mỹ (vào các ngày 25-8, 13-9 và 6-10-1967) cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà qua đồng chí Mai Văn Bộ, Tổng đại diện Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ở Pari.

Nội dung các thông điệp của Chính phủ Mỹ đã khiến hai ông rất thất vọng. Ông Ôbrắc nói với đồng chí Mai Văn Bộ: “Không biết từ nay chúng tôi có nên tiếp tục chuyển thông điệp của Mỹ không, khi mà chính bản thân chúng tôi cũng thấy được là “vẫn có điều kiện”. Có lẽ chúng tôi sẽ cắt đứt với Mỹ, nếu không Hà Nội sẽ nghĩ gì về chúng tôi”3.
________________________________________
1÷3. Lưu Văn Lợi - Nguyễn Anh Vũ: Tiếp xúc bí mật Việt Nam - Hoa Kỳ trước Hội nghị Pari, Viện Quan hệ quốc tế ấn hành, Hà Nội, 1990, tr. 241.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #86 vào lúc: 22 Tháng Tư, 2010, 09:17:57 pm »


Với những cuộc vận động có quy mô lớn, cùng những chiến dịch ngoại giao trong năm 1966, 1967 thông qua các nhà chính trị, các nhân sĩ trong phong trào hoà bình, các nhân vật tôn giáo có uy tín... để làm trung gian vẫn không có được kết quả nào (trong cuốn Cuộc đời làm tổng thông của tôi Giônxơn đã liệt kê có tới 17 cuộc tiếp xúc với Bắc Việt Nam về hoà bình). Bởi vì, tất cả những chiến dịch ngoại giao của Mỹ đều lộ rõ bản chất xâm lược của chúng là không thắng ta trên mặt trận quân sự thì tìm cách thắng ta trên mặt trận ngoại giao, vừa đưa “củ cà rốt” ra để nhử ta, lại vừa “giơ cao cây gậy” để doạ nạt. Điều đó càng chứng tỏ Mỹ cố bám giữ lập trường xâm lược của kẻ mạnh - ngoại giao trên thế mạnh. Do đó, những cuộc ngừng ném bom, những cuộc vận động ngoại giao, không phải là cơ hội hoà bình bị bỏ lỡ như đế quốc Mỹ thường rêu rao.

Thấu hiểu bản chất, âm mưu của kẻ địch, với những kinh nghiệm dày dạn trong đấu tranh ngoại giao, Đảng và Chính phủ ta nhận thức rõ cái gọi là “sáng kiến hoà bình”, “thương lượng không điều kiện” của Mỹ, chỉ nhằm che giấu các hành động chiến tranh và sự thất bại của chúng trên chiến trường. Tuy nhiên, phải đương đầu với đế quốc Mỹ - một nước có tiềm lực quân sự và kinh tế mạnh hơn ta gấp nhiều lần, ta phải có đường lối, sách lược ngoại giao khôn khéo, độc lập tự chủ, khơi nguồn triệt để sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, để chiến thắng kẻ địch cả về quân sự, chính trị và ngoại giao.

Ngày 22-3-1965, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã ra một bản tuyên bố quan trọng. Sau khi vạch trần luận điệu bịp bợm “thương lượng không điều kiện tiên quyết” của Mỹ, Mặt trận đưa ra lập trường năm điểm của nhân dân miền Nam:

1- Đế quốc Mỹ là kẻ phá hoại Hiệp nghị Giơnevơ, là kẻ gây chiến và xâm lược cực kỳ thô bạo, là kẻ thù không đội trời chung của nhân dân Việt Nam.

2- Nhân dân miền Nam Việt Nam anh hùng cương quyết đánh đuổi đế quốc Mỹ để giải phóng miền Nam, thực hiện một miền Nam Việt Nam độc lập, dân chủ, hoà bình và trung lập tiến tới thống nhất đất nước.

3- Nhân dân miền Nam Việt Nam và Quân giải phóng miền Nam anh hùng quyết hoàn thành đầy đủ nhất nghĩa vụ thiêng liêng của mình là đánh đuổi đế quốc Mỹ để giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc.

4- Nhân dân miền Nam Việt Nam tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với sự ủng hộ nhiệt tình của nhân dân yêu chuộng hoà bình và công lý trên toàn thế giới và tuyên bố sẵn sàng tiếp nhận mọi sự giúp đỡ kể cả vũ khí và mọi dụng cụ chiến tranh khác của bè bạn khắp năm châu.

5- Toàn dân đoàn kết, toàn dân vũ trang, tiếp tục anh dũng xông lên, quyết chiến quyết thắng giặc Mỹ và bọn Việt gian bán nước.

Bản tuyên bố của Mặt trận gây tiếng vang lớn, đã được 27 đảng cộng sản và công nhân, 22 chính phủ, 22 tổ chức quốc tế và 446 tổ chức và đoàn thể quốc gia của 92 nước ủng hộ.

Ngày 8-4-1965, Thủ tướng Phạm Văn Đồng công bố lập trường bốn điểm của Chính phủ ta:

1- Xác nhận các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam, Mỹ phải rút quân đội, nhân viên quân sự, các loại vũ khí Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam, triệt thoái các căn cứ quân sự ở miền Nam Việt Nam, chấm dứt can thiệp ở miền Nam, các hành động quân sự chống miền Bắc Việt Nam.

2- Hai miền đều không có liên minh quân sự với nước ngoài, không có căn cứ quân sự, nhân viên quân sự nước ngoài trên đất nước mình.

3- Công việc miền Nam do nhân dân miền Nam tự giải quyết theo cương lĩnh của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam việt Nam, không có sự can thiệp của nước ngoài.

4- Việc hoà bình thống nhất đất nước Việt Nam do nhân dân Việt Nam ở hai miền tự giải quyết không có sự can thiệp của nước ngoài.

Ngày 10-4-1965, từ diễn đàn của Quốc hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định lại lập trường của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Người kêu gọi toàn dân: “Kiên quyết bảo vệ nền độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam. Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, không ai được xâm phạm đến quyền thiêng liêng ấy của nhân dân ta”1.

Các tuyên bố trên là những câu trả lời kiên quyết và đầy chính nghĩa của Đảng và Chính phủ ta, vạch trần luận điệu xảo quyệt của đế quốc Mỹ, đồng thời khẳng định ý chí sắt đá chống Mỹ, cứu nước không chịu khuất phục trước sức mạnh của kẻ thù xâm lược, không chấp nhận một cuộc thương lượng theo điều kiện của Mỹ.
________________________________________
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 11, tr.433.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #87 vào lúc: 22 Tháng Tư, 2010, 09:19:06 pm »


Tháng 12-1965, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 12, sau khi chỉ ra phương hướng chiến lược cho quân và dân ta trong giai đoạn chống chiến tranh cục bộ đã nhấn mạnh phải áp dụng sách lược đấu tranh chính trị và ngoại giao khôn khéo để phối hợp với đấu tranh quân sự.

Tháng 10-1966, Bộ Chính trị họp ra chủ trương: tích cực và chủ động tạo điều kiện vận dụng sách lược vừa đánh vừa đàm, vừa đàm vừa đánh, nhằm mục đích tranh thủ dư luận thế giới, cô lập đế quốc Mỹ...

Thực hiện chủ trương của Đảng, các hoạt động đối ngoại và đấu tranh ngoại giao đã được đẩy mạnh. Ta đã cử đại diện của ta ở một số nước tiếp xúc với đại diện của Mỹ do phía Mỹ yêu cầu. Những cuộc nói chuyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thủ tướng Phạm Văn Đồng với các nhà ngoại giao, các nhân sĩ quốc tế các nhà báo Mỹ và nước khác càng giúp cho họ hiểu rõ hơn lập trường của Việt Nam là trước sau như một, nhất quán và sáng ngời chính nghĩa, có lý, có tình.

Tháng 1-1966 trên báo Nhân Dân đăng một bài lên án Mỹ là chủ yếu, nhưng cuối cùng có nêu một ý quan trọng là nếu Mỹ chấm dứt ném bom ở miền Bắc thì có thể tính đến “nói chuyện”. Bộ Ngoại giao Mỹ nhận thấy đây là một tín hiệu mới. Nhưng đây lại là chỗ yếu nhất của Mỹ, vì ném bom miền Bắc gây nên những tội ác to lớn với dân thường, chà đạp trắng trợn chủ quyền, an ninh của một nước độc lập. Dư luận thế giới hết sức căm phẫn trước những tội ác của quân Mỹ gây ra trên đất nước ta, đồng tình ủng hộ lập trường đúng đắn của ta.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 13 từ ngày 23 đến ngày 26-1-1967, bàn việc đẩy mạnh đấu tranh ngoại giao, chủ động tiến công địch, phục vụ sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước. Hội nghị chủ trương: “... trên cơ sở tiếp tục phát huy thắng lợi đã giành được, chúng ta phải ra sức đẩy mạnh đấu tranh quân sự và chính trị ở miền Nam, ta cần tiến công địch về mặt ngoại giao, phối hợp với hai mặt đấu tranh đó để giành thắng lợi to lớn hơn nữa”1. Để đạt chủ trương đó, Hội nghị chỉ rõ: “... cần vận dụng sách lược ngoại giao một cách linh hoạt, khôn khéo. Trước mắt, cần tập trung vào khẩu hiệu đòi Mỹ phải chấm dứt không điều kiện và vĩnh viễn ném bom và mọi hành động khác chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà”2. Ban Chấp hành Trung ương chỉ rõ, hiện nay đấu tranh quân sự và chính trị ở miền Nam là nhân tố chủ yếu quyết định thắng lợi trên chiến trường, làm cơ sở cho thắng lợi trên mặt trận ngoại giao. Tuy nhiên, do tính chất cuộc chiến tranh giữa ta và Mỹ hiện nay, “đấu tranh ngoại giao giữ một vai trò quan trọng, tích cực và chủ động”. Nghị quyết Trung ương lần thứ 13 ra đời rất kịp thời, làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động ngoại giao của Đảng và Nhà nước ta.

Mở đầu cho mặt trận ngoại giao mới, ngày 28-1-1967, trả lời phỏng vấn nhà báo Ôxtrâylia về chủ trương của Việt Nam để giải quyết vấn đề Việt Nam, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh khẳng định lập trường trước sau như một của nhân dân Việt Nam. Về điều kiện để Mỹ và Việt Nam đi vào đàm phán, Bộ trưởng cho rằng phía Mỹ phải chấm dứt không điều kiện việc ném bom và mọi hoạt động chiến tranh khác chống Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Chỉ sau khi Mỹ thực hiện điều này thì Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Mỹ mới có thể nói chuyện với nhau.

Đề nghị của đồng chí Nguyễn Duy Trinh lần này không chỉ nói lên thiện chí của ta mà còn vạch ra một khả năng hiện thực tìm ra một lối thoát cho cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Từng bước đẩy đối phương đi vào thế trận mới, thế trận “đánh - đàm”, mà ở đó ta có thể phát huy hết được sức mạnh chính nghĩa, sức mạnh dân tộc và thời đại. Đề nghị đó được dư luận thế giới đồng tình, ủng hộ mạnh mẽ. Nhiều chính phủ, tổ chức, nhân vật quốc tế yêu cầu chính quyền Giônxơn hưởng ứng đề nghị của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Tổng thư ký Liên hiệp quốc U Than tuyên bố mong muốn một giải pháp hoà bình cho vấn đề Việt Nam3. Tổng thống Pháp Đờ Gôn lên tiếng nghiêm khắc phê phán Mỹ. Ngày 8-2-1967, Bộ trưởng Ngoại giao Ấn Độ Chagala tuyên bố. Chính phủ Ấn Độ ghi nhận với sự hài lòng tuyên bố của ông Trinh về khả năng nói chuyện một khi ném bom chấm dứt. Tại Mỹ, nhiều nghị sĩ, nhiều chiến sĩ hoà bình, sinh viên các trường đại học, bằng nhiều hình thức, đòi chính quyền Mỹ nói chuyện với Bắc Việt Nam.
________________________________________
1, 2. Những sự kiện lịch sử Đảng, Sđd, tr. 389, 390.
3. Đề nghị của U Than gồm ba điểm: 1. Ngừng ném bom miền Bắc Việt Nam. 2. Giảm đáng kể các hoạt động quân sự của tất cả các bên ở miền Nam Việt Nam. 3. Phải có sự tham gia của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam trong bất cứ một giải pháp hoà bình nào.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #88 vào lúc: 22 Tháng Tư, 2010, 09:20:55 pm »


Sức ép của dư luận trong và ngoài nước đòi Giônxơn chấm dứt ném bom Bắc Việt Nam, rút quân đội Mỹ ở miền Nam về nước, thương lượng với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ngày càng tăng. Ngày 29-9-1967, tại Hội nghị lập pháp toàn quốc ở Xan Antôniô (bang Tếchdát), Giônxơn phải tuyên bố rằng: chúng ta và đồng minh Nam Việt Nam “đã chuẩn bị sẵn sàng để thảo luận ngay tối nay” với Bắc Việt Nam, “sẵn sàng nói chuyện với cụ Hồ Chí Minh”, “sẵn sàng cử đại diện có thẩm quyền của nước Mỹ đi bất cứ nơi nào trên trái đất để nói chuyện công khai hay bí mật với người phát ngôn của Hà Nội”1. Tiếp đó, Giônxơn đã nêu những điều kiện cho việc ngừng ném bom: “Hoa Kỳ sẵn sàng ngừng mọi hành động bắn phá bằng không quân và hải quân chống Bắc Việt Nam khi việc ngừng này nhanh chóng dẫn tới những cuộc thảo luận có hiệu quả. Chúng ta, đương nhiên, giả định rằng trong khi các cuộc thảo luận được tiến hành, Bắc Việt Nam không được lợi dụng việc chấm dứt hay hạn chế ném bom”2.

Các nhà quan sát gọi đây là công thức Xan Antôniô - không có gì mới. Vì trước sau đây vẫn là những cuộc thương lượng có điều kiện, tức là đòi hỏi có đi có lại.

Sở dĩ Giônxơn nêu ra công thức trên - một công thức bề ngoài có vẻ mềm dẻo, nhưng thực chất chứa đựng một lập trường thương lượng cứng rắn và có điều kiện, vì các báo cáo về tình hình quân sự và dân sự của các quan chức Mỹ ở Sài Gòn đều tô vẽ tình hình miền Nam lúc đó là thuận lợi và lạc quan. Giônxơn đã thành lập nhóm thông tin về Việt Nam nằm trong văn phòng của Tổng thống. Nhóm này có nhiệm vụ thông báo đều đặn tình hình tiến bộ của Mỹ ở Việt Nam nhằm tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân Mỹ. Bộ máy ngoại giao Mỹ được huy động để giải thích và tuyên truyền cho công thức Xan Antôniô. Nhân ngày cựu chiến binh Mỹ, giữa tháng 11-1967, Giônxơn đi một loạt các bang trong nước nhằm thuyết phục các tầng lớp xã hội Mỹ tin rằng, Mỹ đang đạt được các tiến bộ vững chắc ở Việt Nam. Các quan chức dân sự và quân sự của Mỹ tại Sài Gòn còn được triệu về Oasinhtơn nhằm bênh vực cho đường lối chiến tranh của Giônxơn. Tại Sài Gòn, Bộ chỉ huy quân sự Mỹ được lệnh tổ chức đều đặn các buổi thuyết trình về thắng lợi của quân Mỹ và quân đồng minh. Tại Mỹ, Giônxơn vẫn còn được sự ủng hộ của nhóm “người thông thái”3. Do đó, Giônxơn vẫn tin tưởng, hy vọng rằng chính sách về Việt Nam của ông ta là đúng và kế hoạch quân sự của Oétmolen sẽ sớm đưa lại kết quả. Vì vậy số quân đã được cho phép trước đây tiếp tục được gửi sang Việt Nam, tất cả các căn cứ không quân mới trên đất Việt Nam và Thái Lan tiếp tục hoạt động. Oétmolen bảo đảm với Giônxơn rằng cuộc chiến tranh ở miền Nam đang thắng một cách vững chắc.

Với niềm tin đó, trong Thông điệp ngày 17-1-1968 về tình hình Liên bang của Tổng thống Mỹ, khi đề cập tới chiến tranh Việt Nam, Giônxơn vẫn khẳng định “các cuộc thương lượng (với Bắc Việt Nam) phải trên cơ sở công thức Xan Antôniô” - một công thức tưởng như có thể xoa dịu được dư luận ở Mỹ và trên thế giới, “để cho Mỹ vượt qua được năm khó khăn trước tổng tuyển cử, còn lập trường của Mỹ vẫn là lập trường chiến tranh”4.

Trước cái gọi là “thương lượng không điều kiện” và các hành động chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam, Đảng và Chính phủ ta đã áp dụng đường lối và sách lược đấu tranh ngoại giao khôn khéo để tranh thủ rộng rãi dư luận thế giới và cô lập hơn nữa đế quốc Mỹ.

Tháng 12-1967, Chính phủ ta tuyên bố phóng thích ba tù binh Mỹ để họ trở về đoàn tụ với gia đình nhân lễ Nôen 1967. Cử chỉ nhân đạo này của ta đã làm cho một số nhân vật cao cấp trong chính quyền Mỹ vội chủ quan nhận định: “Các nhà lãnh đạo Hà Nội đã từ bỏ hy vọng chiếm được miền Nam trong một tương lai gần”5. Theo họ có nghĩa là, khả năng đàm phán trực tiếp với đại diện miền Bắc Việt Nam đang hé mở và “Mỹ đang ở trong một giai đoạn Bàn Môn Điếm nào đó”6.

Trong bữa tiệc chiêu đãi Bộ trưởng Ngoại giao Mông Cổ (29-12-1967), đồng chí Nguyễn Duy Trinh tuyên bố. “Sau khi Mỹ chấm dứt không điều kiện việc ném bom và mọi hành động chiến tranh khác chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẽ nói chuyện với Mỹ về những vấn đề liên quan”. Tuyên bố này đã làm cho các hãng thông tấn nước ngoài, các đại sứ quán ở Hà Nội khẩn trương tìm hiểu thêm tin tức mới và nhanh chóng thông báo về nước. Dư luận thế giới và ở Mỹ càng tăng thêm sức ép đòi Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam.
________________________________________
1, 2. Lưu Văn Lợi - Nguyễn Anh Vũ: Tiếp xúc bí mật Việt Nam - Hoa Kỳ trước Hội nghị Pari, Sđd, tr. 243.
3. Nhóm “người thông thái” là chỉ một nhóm những chính khách đàn anh mà Tổng thống Hoa Kỳ thỉnh thoảng hỏi ý kiến về chính sách đối ngoại. Các thành viên của nhóm này đã từng giữ các chức vụ cao trong Chính phủ hoặc làm cố vấn cho các tổng thống.
4. Lưu Văn Lợi - Nguyễn Anh Vũ: Tiếp xúc bí mật Việt Nam - Hoa Kỳ trước Hội nghị Pari, Sđd, tr. 247.
5, 6. Nâylơ Shihan: Sự lừa dôi hào nhoáng - Giôn Pônvan và nước Mỹ ở Việt Nam, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1990, t. 2, tr.390.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #89 vào lúc: 22 Tháng Tư, 2010, 09:22:08 pm »


Cùng với bước đi trên mật trận đấu tranh ngoại giao, trên mặt trận quân sự, quân và dân miền Nam đã mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (31-1-1968 ), đánh thẳng vào các cơ quan đầu não Mỹ - ngụy ở hầu khắp các thành phố, thị xã, thị trấn và những vùng nông thôn còn bị địch kiểm soát, giành thắng lợi to lớn. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 đã làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ.

Tình hình trên làm cho Tổng thống Mỹ Giônxơn vô cùng bối rối. Hàng loạt vấn đề đặt ra đòi hỏi người đứng đầu Nhà Trắng phải giải quyết kịp thời: phải bổ sung thêm bao nhiêu quân nữa để đối phó lâu dài với ta; ngân sách cần thêm bao nhiêu nữa và lấy ở đâu ra; cần yêu cầu Quốc hội thông qua những vấn đề gì; cần làm gì để củng cố tinh thần chính quyền Nguyễn Văn Thiệu... Để có những ý kiến rộng rãi và khách quan, Giônxơn triệu tập cuộc họp với các cố vấn phi chính phủ (thường gọi là các nhà quân sự), từ cựu Bộ trưởng Ngoại giao Đin Akixơn đến Áctơ Đin (người đã tham gia cuộc thương lượng để giải quyết cuộc chiến tranh Triều Tiên), các danh tướng như Oma Brátlây, Mathiu Rítuây... Giônxơn cũng tham khảo ý kiến của những nhân vật có thế lực của Quốc hội Mỹ. Sau này, trong hồi ký, Giônxơn phải thừa nhận Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân là “một sự choáng váng đối với tất cả người Mỹ”1, “cố gắng của đối phương đã gây ra một hậu quả tác động xấu đến một số người trong và ngoài Chính phủ”, “nhân dân Mỹ và một số nhân vật trong chính quyền bắt đầu nghĩ rằng chúng ta đã thất bại”2.

Chính trong tình hình đó, ngày 31-3-1968, Tổng thống Giônxơn phải tuyên bố:

1- Đơn phương ngừng đánh phá miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra.

2- Bỏ chiến lược tìm diệt thay bằng chiến lược quét và giữ.

3- Không ra tranh cử Tổng thống Mỹ nhiệm kỳ hai.

4- Chấp nhận đàm phán với ta.

Với tuyên bố này, mặc nhiên Chính phủ Hoa Kỳ thừa nhận thất bại sau gần bốn năm tiến hành chiến lược chiến tranh cục bộ chống lại nhân dân Việt Nam.

Tuyên bố của L. Giônxơn đánh dấu những thay đổi lớn trong chiến lược của Mỹ, từ tăng cường chiến tranh đến phải bắt đầu xuống thang chiến tranh, từ khước từ thương lượng sang chấp nhận thương lượng để thăm dò.

Trước tuyên bố của Tổng thống Mỹ, nếu ta từ chối lời yêu cầu cử đại diện tiếp xúc trực tiếp với đại diện Chính phủ Mỹ thì không tranh thủ được sự ủng hộ của dư luận. Bộ Chính trị Trung ương Đảng cho rằng có thể tiếp xúc nhưng trước hết cần đòi hỏi chấm dứt hoàn toàn việc ném bom miền Bắc rồi mới bàn các vấn đề có liên quan. Ngày 3-4-1968, Chính phủ ta ra tuyên bố nêu rõ: “rõ ràng Chính phủ Mỹ chưa đáp ứng nghiêm chỉnh và đầy đủ đòi hỏi chính đáng của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, của dư luận tiến bộ Mỹ và dư luận thế giới. Tuy nhiên, về phần mình, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tuyên bố sẵn sàng cử đại diện của mình tiếp xúc với đại diện Mỹ nhằm xác định với phía Mỹ việc Mỹ chấm dứt không điều kiện việc ném bom và mọi hành động chiến tranh khác chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà để có thể bắt đầu cuộc nói chuyện”3.

Trong khi nhiều nghị sĩ có tên tuổi ở Mỹ về chống chiến tranh còn nghi ngờ những đề nghị của Giônxơn thì sự hưởng ứng nhanh chóng và rõ ràng của Chính phủ ta là một đòn ngoại giao bất ngờ. Tác giả Pitơ Apulơ đã nhận xét: “Tốc độ đáp ứng của Hà Nội rõ ràng đã làm cho chính quyền Giônxơn bị bất ngờ - điều này được thể hiện qua việc giải quyết một cách lúng túng chung quanh vấn đề chủ yếu thuộc về thủ tục là triệu tập hội nghị ở đâu”4.

Cuộc đấu tranh buộc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán với ta là một thắng lợi to lớn của nhân dân ta; đánh dấu một bước phát triển mới trong việc kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh quân sự, chính trị với ngoại giao của ta.
________________________________________
1, 2. Giôn-xơn: Cuộc đời làm tổng thông của tôi, Sđd, tr.64, 504.
3. Việt Nam - Những sự kiện (1954 -1975), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1976, t.II, tr.82.
4. Pitơ Apulơ: Nước Mỹ và Đông Dương từ Rudơven đến Níchxơn, Nxb. Thông tin lý luận, Hà Nội, 1985, tr.255.

Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM