Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 24 Tháng Một, 2020, 06:47:30 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Giáp Ranh - tiểu thuyết của nhà văn Đỗ Kim Cuông  (Đọc 69442 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4007



« Trả lời #100 vào lúc: 03 Tháng Mười Hai, 2012, 08:34:23 AM »

   Anh Chúng nói chữ “vợ theo trai” nhẹ tênh. Nhưng Cường lại có cảm giác như anh vừa uống không trôi viên thuốc kí ninh khỏi họng. Đắng nghét. Cái chuyện theo trai của chị Chúng chỉ như thế này. Anh Chúng đi chiến trường được hơn năm, chị Chúng ở nhà làm việc hăng hái trúng vào chân phó chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp. Gái ba con nhà quê nhưng mới hai mươi sáu tuổi. Đẹp người, nói năng hoạt bát. Họp hành nhiều. Họp chi ủy, chi bộ về đêm càng nhiều. Xã điểm, họp tác xã có phong trào nuôi bèo hoa dâu nổi tiếng. Ông chủ nhiệm hợp tác xã bị sức ép của bom, tai điếc. Mọi việc đối ngoại một tay cô phó chủ nhiệm trẻ tuổi lo liệu. Gắng mãi, gắng mãi rồi cũng đến lúc cái kim trong túi lâu ngày cũng phải lòi ra. Cái bụng của chị phó chủ nhiệm cứ ềnh ra to lên mãi. Ngày ấy, các thầy thuốc chưa ai dám đi làm cái nghề “nạo thai rong” trong các làng xã vùng quê. Xấu hổ với dân làng, chị Chúng từ nhiệm tất cả chức sắc cao thấp, ra khỏi Đảng, xin vào cửa Phật nương nhờ. Chỉ có điều chị không từ con, dù là con với một người không phải là chồng mình. Đẻ con xong, chị Chúng ôm con về giao cho mẹ và từ ngày ấy ở hẳn trong chùa xuống tóc đi tu, ăn chay, niệm Phật.

   Ngày trung sĩ Chúng được giải ngũ về làng với tám cái răng bị gãy, con bé ngoài giá thú đã được đầy năm. Chúng uất đến nghẹn cổ mà không nói được gì. Một chiều đã ngà ngà say sau vài ly rượu, Chúng cõng con bé trên lưng đến thẳng nhà thằng X. Bấy giờ, hắn đã lên làm ở huyện. Chúng không quên giấu trong người con dao găm Trung Quốc ở với anh nhiều năm, giúp anh chặt cây căng tăng móc võng và đi đào sắn trên rẫy của đồng bào Pa Cô ở làng Tà. Sống lưng con dao găm đã bị mẻ, sứt nhưng lưỡi dao bén sắc. Thằng X đang ăn cơm với vợ, con thấy Chúng mặt đỏ, nồng nặc hơi rượu địu đứa trẻ bước vào sân đã hoảng sợ. Biết việc đã bị phanh phui ra ánh sáng, người lính trở về vác dao đi trả thù, thằng X nhảy bổ vào nhà định trốn.

   “Thằng khốn! Mày ra đây mà nhận lấy con. Khi chúng tao đâm sấp dập ngửa, chết vùi chết dập ở chiến trường thì mày ở nhà đi quyến rũ vợ người ta... Ngữ mày ta chỉ đâm một nhát là xong. Đ. mẹ thằng X. Tiên sư bố mày... Cán bộ gì cái thứ chui cạp váy đàn bà như mày. Tao nói để cho vợ con mày biết. Đây là con gái của mày... Nhưng tao không trả... Tao mang về nuôi, dạy nó học hành đến nơi đến chốn để sau này nó chửi bố mày lên”.

   Nghe tiếng la hét như vỡ chợ ở nhà ông cán bộ huyện dân trong làng kéo đến đứng xem vòng trong vòng ngoài. Nói một hồi, Chúng hạ hỏa. Anh lại địu con trên vai rẽ đám người đi về làng Kìm. Chúng kể cho Cường nghe chuyện về đứa con ngoài giá thú, anh cười ngất, tặc lưỡi: “Cá vào ao ta, ta nuôi chú ạ!”. Ngày chuyển tàu chở bộ đội đi B, mới đổ quân xuống ga Quán Hành, đại đội bộ binh đã vơi đi một phần tư quân sổ. Những anh rời tàu, đa phần là ba bốn con. Nghĩ tới những người như Chúng, hay vô số các anh P, anh N, cậu S... những người lính cùng đại đội tân binh với Cường, họ đã không đủ sức đi đến tận cùng con đường đầy chông gai, chết chóc. Gánh nặng hậu phương, lo cho con cái níu chân họ... Anh chưa bao giờ có ý trách họ. Chiến trường luôn thiếu quân, nhưng chỉ giữ cho mình những người lính dũng cảm, chấp nhận gian khổ... Xét cho cùng họ cũng là những anh lính đáng thương...

   Cường bước chập chuội trên con đường ven Khe Dứa, đầu óc mông lung, những suy nghĩ lẫn lộn. Tại sao Hạnh lại bảo anh đi theo con đường men khe suối? Từ nơi Cường đang trú quân anh biết còn một con đường tắt cắt ngang qua yên ngựa để ra vạt Nhà Cháy. Đường gần hơn nhiều, nhưng sẽ phải đi qua khu hậu cứ của huyện ủy, huyện đội, hầm của đội đường dây thành phố, hậu cứ của xã Hương Thái, Hương Sơ... Ý hẳn, nàng ngại phiền. Không muốn cho ai biết cuộc gặp gỡ này. Bằng sự hiện diện cho thằng So đi đón Cường, chứng tỏ Hạnh biết rõ anh đang về lại Hương Trà. Thông tin bộ đội trung đoàn Z về nghiên cứu các căn cứ địch ở Hương Trà, chỉ chú Sáu, bí thư huyện ủy biết được. Đi theo con đường men suối vất vả hơn nhiều so với con đường đi trên đồi.

Ngày còn ở xã Y, làm quân của Hạnh với chức xã đội trưởng, Cường và thằng Mộc cùng với chú Hoa xoi lại con đường này sau khi con đường về giáp ranh qua đồi Tranh bị địch phát hiện. Đường bỏ hoang từ lâu, chi chít vết giày răng chó của tụi thám báo Mỹ, ngụy để lại dấu ở những bãi đất tráng ven suối. Biết đường đã bị lộ, nhưng đành phải chấp nhận để khơi thông con đường bí mật từ hậu cứ đồng bằng để lên Dốc Đoác, qua Khe Trái, ra sông Bồ. Có lẽ Hạnh muốn anh nhớ lại chuyện Cường và Mộc đi đón nàng cùng chú Sáu Thọ ở bên thành ủy về chăng? Buổi trưa ấy, cả đoàn người đang dừng lại nghỉ ăn cơm trưa ở một bãi đá bên bờ Khe Điên. Tất cả đều giật mình, cảnh giác đeo gùi và súng đạn đứng cả dậy khi nghe thấy tiếng rào rào như tiếng chân người đạp rừng ở vạt mây giang, gần bãi tráng. Tụi ngụy ở đồi Chóp Nón đi càn rừng chăng? Tất cả đều im lặng chờ đợi. Cường đã bật chốt an toàn khẩu AK, còn Mộc đã đưa nòng súng B40 ngang vai, núp sau một gốc cây. Bảy tám con người đều tận mắt nhìn thấy từ trong một bụi giang trườn ra một cặp trăn, da vàng nâu dài bốn năm thước. Một con trườn đi trước, một con trườn theo sau. Đôi trăn đang mùa động đực, quần thảo nhau trong rừng, mọi người ngỡ gặp thám báo.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4007



« Trả lời #101 vào lúc: 03 Tháng Mười Hai, 2012, 08:35:59 AM »

   Từ bờ Khe Dứa đi lên đồi chừng hơn trăm mét mới tới khu Nhà Cháy. Từ dưới bờ đất thấp, Cường đã nhìn thấy những cây cột nhà đứng chơ vơ, đầu cột cháy đen. Đấy là dấu tích cho một trận đánh của đại đội 3 dưới sự chỉ huy của đại đội trưởng Mai Văn Để, đánh trả thù, tập kích lại đại đội lính ngụy đã tấn công vào khu hậu cứ của bộ đội và huyện đội lúc buổi sáng. Cường, Quang và Đổng đã nã thẳng vào tụi lính ngụy đang bâu đen đặc trong vạt nhà bỏ hoang, chủ quan không phòng bị. Đại đội lính ngụy không hề biết rằng, từ lúc 9 giờ sáng, sau khi chúng rút khỏi khu hậu cứ, một tổ của đại đội 3 đã bí mật bám theo sau. Chỉ chờ cho tụi ngụy dừng lại đóng quân là đánh. Đánh để báo thù cho những người lính đại đội 3 và cán bộ, du kích địa phương đã hy sinh, chết ngạt trong hầm.

Cả khu Nhà Cháy râm ran trong tiếng đạn nổ, tiếng lựu đạn, thủ pháo và tiếng la hét của tụi ngụy. Đứa chết, đứa bị thương. Chúng vất súng, quăng ba lô tháo chạy tưởng bị thiên lôi giáng sấm sét trên đầu. Bốn căn nhà lửa bén cháy đùng đùng, thiêu rụi những cột kèo, rui mè và những tấm tranh, tấm lá mây được bộ đội lấy lợp nhà. Đấy là khu hậu cứ lớn nhất của vùng giáp ranh Hương Trà được xây dựng từ trước năm Mậu Thân 1968. Khu Nhà Cháy đã từng là nơi đón tiếp nhiều vị chỉ huy cấp cao của quân khu Trị Thiên, của tỉnh ủy, tỉnh đội Thừa Thiên - Huế, cán bộ chỉ huy Công trường V, Công trường VI về họp tại đây để chuẩn bị triển khai tấn công và nổi dậy xuân 1968. Khu Nhà Cháy ở ngã ba Hương Trà và địa đạo 310 chính là sở chỉ huy tiền phương của quân khu ủy Trị Thiên, chỉ huy các đơn vị tấn công về Huế ở cánh bắc. Sau Tết Mậu Thân, khu Nhà Cháy thành trạm cứu thương, tiếp nhận thương binh bị thương ở đồng bằng đưa lên rừng, trước khi chuyển lên viện 94 - quân khu. Có lúc bốn căn nhà ở khu Nhà Cháy thành nơi giam giữ tù binh, tề điệp bị bắt trong dịp Tết 1968, đưa lên xanh cải tạo. Về sau, có điệp báo, địch căn được tọa độ cho pháo ở Tứ Hạ, máy bay A3 7 ném bom, trực thăng chà xát bắn vào khu Nhà Cháy trong nhiều ngày. Bộ đội du kích bị thương, một số tề điệp bị bom, pháo bắn sập hầm, người chết vô khối.

   Từ dạo ấy, khu Nhà Cháy trở nên hoang phế. Các đại đội ngụy cũng hay đi càn lùng sục vào vùng này. Tiếng đồn khu Nhà Cháy có ma. Đêm thanh vắng, vào những ngày mưa, râm ri tiếng khóc. Ma đâu chả biết, bộ đội nhiều lần bám địch ở khu Nhà Cháy chỉ bắt được lũ duộc xuống suối lượm ốc, bắt cá. Có con khỉ độc còn lượm cả mũ sắt ngụy bị đạn bắn thủng lỗ chỗ đội lên đầu... Không ai nói ra, đều biết ở nơi này, lưu giữ nhiều oan hồn của đám lính ngụy, tù binh và cả của bộ đội, du kích chốt giữ bảo vệ khu hậu cứ. Họ đã bỏ xác lại nơi đây, chỉ có điều chẳng còn đơn vị nào của bộ đội K10 và của địa phương chọn khu Nhà Cháy đóng quân, vừa sợ lộ, lại hay bị pháo cối của địch ở Hòn Vượn, Am Cây Sen bắn hú họa. Bộ đội, du kích, cơ quan huyện ủy... chọn những hẻm núi, khe suối dưới chân Hòn Ngang để đào hầm, lập căn cứ cách khu Nhà Cháy không xa, nhưng an toàn và bí mật.

   Cường đi chậm từng bước và cảnh giác nghe ngóng, quan sát cả vạt Nhà Cháy. Yên tĩnh quá thể. Nghe được cả tiếng con sóc chạy trên cành cây cao đuổi nhau kêu chí chóe. Theo thói quen, Cường nép vào một gốc cây, tặc lưỡi: “Tróc! Tróc! Tróc!”.

   - Em đây!

   Cường giật mình quay lại, đã thấy Hạnh bước ra từ sau một bụi lá nón. Hạnh trấn an Cường:

   - Em đã nhìn thấy anh từ dưới suối đi lên!

   Cường chốt an toàn khẩu AK và tựa vào gốc cây. Giọng anh lạc đi:

   - Làm người ta sợ hết hồn! Tưởng em bị tụi thám báo bắt rồi.

   - Phỉ phui cái mồm anh...

   Hạnh không nói nữa, dang rộng đôi tay mềm mại ôm lấy Cường và hôn như mưa lên khắp gương mặt còn đẫm mồ hôi của anh. Chợt Hạnh đẩy xa gương mặt Cường ra và hỏi:

   - Anh nghĩ gì vậy?

   - Nghĩ về em! - Cường trả lời.

   - Nghĩ về em răng?

   - Tưởng em không còn yêu anh nữa.

   - Trời ạ! - Hạnh kêu lên nho nhỏ - Em nhớ tới anh từng ngày. Mở mắt dậy, ý nghĩ đầu tiên của em là nghĩ về anh.

   Họ ngồi xuống một vạt cỏ dưới gốc cây đa. Nước da Hạnh xanh. Cường bảo vậy. “Tại em nằm hầm lâu ngày. Thím Tư mỗi lần thấy em về đều hỏi: Này Hạnh, mi có nghe tin tức chi của thằng Cường không? Em bảo: Không ạ. Có một lần thím bảo thằng nớ chắc chẳng phải là đứa ăn ở bạc đâu... Hay nó có chuyện chi rồi mới không có thư cho mi! Không phải đâu thím, chú Sáu biểu K10 đang phải giữ chốt ở Phong Điền”.

   Nghe Hạnh kể, Cường bảo: “Anh cũng nhớ mẹ con thím lắm”. Chợt Hạnh nhìn đồng hồ. “Em xa anh 496 ngày, giờ em và anh chỉ có hai giờ mười lăm phút để ở bên nhau. Đúng 3 giờ chiều nay, cả anh và em với anh Bạ đều họp với mấy chú bên tỉnh để nhận nhiệm vụ”.

   Cường không để Hạnh nói hết câu. Anh ghì cô sát vào người, nhìn sâu vào gương mặt, đôi mắt, khóe miệng đã có lúc anh nghĩ phải xa cô mãi mãi. Lúc Cường và Hạnh rời khỏi vạt Nhà Cháy, cô bảo anh: “Em có một cuốn số nhỏ để ở nhà thím Tư, nếu có dịp anh sẽ được đọc”.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4007



« Trả lời #102 vào lúc: 03 Tháng Mười Hai, 2012, 08:37:35 AM »

*

   Cường là người gặp chú Sáu Thọ đầu tiên ở hậu cứ huyện ủy. Chú Sáu vỗ vỗ vào lưng Cường: “Mừng cho cháu về lại Hương Trà. Cơm gạo đồng bào nuôi cháu không uổng. Khá lắm, đồng chí bộ đội”. Trong một căn nhà hầm mái bằng rộng được dùng làm địa điểm họp đã thấy có ông Lạng, cán bộ của tỉnh đội, Hào - một phái viên của quân khu, Bạ, Sửu, Huy Ngọc. Họ ngồi trong hầm vừa uống trà vừa ăn kẹo mè xửng. Ngọn đèn bão treo cao soi tỏa ánh sáng xuống chiếc sạp nứa đã trải sẵn tấm bản đồ vùng phụ cận Huế. Chú Sáu, Hạnh và Cường vào sau cùng. Tấm vải mưa ngoài cửa hầm được buông xuống. Mở đầu cuộc họp, ông Lạng, thay mặt tỉnh đội báo cáo về tình hình chiến sự đang diễn ra ở Thừa Thiên. Với một bản lĩnh chính trị dày dạn, nói năng khúc chiết, ông phần tích những cái “được” của ta sau ngày cắm cờ và cả những khó khăn của ta đang vướng.

Cường nghe ông Lạng nói, mới vỡ ra một điều: trên dải đất dài từ sông Ô Lâu tới sát chân đèo Hải Vân, cái thế chốt “hòa hợp” đan xen, phân tuyến tương đối rạch ròi có thể chỉ ở Phong Điền mới có. Còn ở các vùng khác, ranh giới “địch - ta” vẫn cài răng lược. Phía quân ngụy bằng sức mạnh máy bay, pháo binh cố gắng chiếm lấy những điểm cao vùng giáp ranh để phòng thủ, tạo vành đai vòng ngoài giữ thế. Phía bộ đội chủ lực cũng giữ một số điểm cao, tạo thế vây ép địch chờ thời cơ. Ông Lạng cũng thông báo cho mọi người có mặt trong cuộc họp một tin vui. Bộ đội của ta ở Đông Nam Bộ, ở Lộc Ninh vẫn tiếp tục tấn công quân địch. Lộc Ninh đã giải phóng. Quân Mỹ đã rút khỏi chiến trường có cho kẹo cũng không dám quay trở lại. Bây giờ là lúc bộ đội của ta, các lực lượng vũ trang phải bám sát địch, tạo thời cơ, phá vỡ thế giằng co, cài răng lược... Ông Hào, cán bộ phái viên quân khu, tiếp lời ông Lạng bổ sung nói thêm về tình hình quốc tế. Đi vào công việc cụ thể, ông Sáu Thọ phân công đơn vị bộ đội chủ lực của huyện có nhiệm vụ phối hợp với cán bộ của trung đoàn Z đi điều nghiên căn cứ Tứ Hạ, chi khu quân sự Hương Trà, tiểu khu Hương Cần... Đơn vị trinh sát của quân khu tiếp tục bám căn cứ Hòn Vượn, Chóp Nón, trận địa pháo binh Am Cây Sen, Văn Thánh...

   Chia tay Cường ở cửa hầm, Hạnh chỉ nói một câu ngắn gọn: “Đêm nay em về ấp... Anh đi cẩn thận nghe. Nhớ giữ gìn sức khỏe”. Bàn tay ấm nóng của nàng siết chặt tay Cường. Anh khẽ rùng mình. Như có luồng điện giật nhẹ.

   Cường và Bạ đi tới suối, Hạnh còn chạy theo dặn với: “Em có mua chút quà gửi cho anh. Em gửi ở o Lành, khi nào đi, anh nhớ ghé lấy.”.

   Bạ hỏi Cường: “Cô bí thư xã xem ra rất có cảm tình với cậu!”. “Tôi từng làm xã đội trưởng, kiêm chủ tịch của xã Y. Cô ấy là bí thư chi bộ” - Cường bảo vậy. “Hèn chi, các cậu thân nhau!”.

   5 giờ chiều, đội quân đi đồng bằng xuất phát. Đơn vị bộ đội chủ lực của huyện do anh Sửu chỉ huy, về Bồn Phổ làm công tác tuyên truyền và nếu không gặp địch, vào dân mua gạo. Gạo bây giờ không thiếu nữa, gạo từ các kho binh trạm đã về được tới hậu cứ các xã huyện. Nhưng gạo mua được càng nhiều càng tốt, dự trữ cho vào các kho để chuẩn bị cho mùa mưa 1974. Trận lụt năm rồi, du kích, cán bộ huyện xã của Hương Trà không bị đói. Các xã vùng sâu dưới đường quốc lộ bị lụt to đã đành, nhưng các xã Hương Thạnh, Hương Thái, Hương Vân, Hương Mai, Hương Sơ nước ngập trắng đồng. Nước vô nhà dân cao gần một mét. Bộ đội, du kích vẫn rung đùi ngồi trong hậu cứ hàng ngày đi bám địch, đi gài mìn, đi chốt gác vì đã có sẵn gạo trong gùi. Gạo Trung Quốc dẻo, thơm nguyên vẹn trong các bao ni lông được chuyển thẳng từ Khe Trái về...

   Mũi thứ hai xuất phát đi về vùng sâu do Hạnh chỉ huy. Đi cùng mũi này còn có đội biệt động của Huy Ngọc, đội biệt động của anh Đoàn, chủ tịch xã Hương Sơ, một tổ công tác của Thẻo, chủ tịch xã Hương Bình. Đây thực sự là những đội quân biệt động tinh nhuệ của huyện. Họ sẽ thọc sâu vào dân, bám cơ sở tại các làng ven đô Huế... Mũi thứ ba ít hơn, làm nhiệm vụ đặc biệt do Bạ, Cường cùng với tổ trinh sát của trung đoàn và một tổ dẫn đường của huyện về bám sát căn cứ Tứ Hạ. Trong đáy gùi của mỗi người lính xuống đồng bằng đã sẵn gạo rang, lương khô, thuốc uống dự phòng đủ cho bảy ngày.

   Đội hình hành quân rồng rắn về đồng bằng đông dễ có đến vài chục người. Cường và tổ trinh sát đi chặn hậu. Lúc lúc, các anh phải dừng lại ngồi chờ những người đi phía trước vượt qua bãi tráng hoặc phải dãn cách đội hình khi lọt vào thung lũng cỏ tranh, cỏ lau nằm trong tầm quan sát của Hòn Vượn. Không gian tĩnh lặng của buổi chiều tàn hoang vắng và buồn. Những người lính đi đồng bằng đều cầm trên tay một cành lá ngụy trang, có người khoác lên người miếng dù hoa. Họ như những bụi cây biết di động lẫn khuất giữa bãi cỏ tranh, len lỏi theo những sườn đồi trọc mọc đầy những cây sim, cây mua.

   Thỉnh thoảng Cường lại bứt được một trái sim chín sẫm mọng nước, đưa lên miệng. Lắng tai anh còn mơ hồ nghe được thấy cả tiếng sáo diều ở làng Long Hồ vọng lại. Cậu du kích dẫn đường bảo Cường: Chỉ cần vượt qua chỗ yên ngựa kia là xuống làng Long Hồ. Theo tay cậu ta chỉ anh nhìn thấy những rặng tre ngoài làng.

   Đoàn người đi đồng bằng ra tới Miếu Ba Cô trời chưa tối hẳn. Mọi người dừng lại ở một bãi đá để chuẩn bị tách đoàn, đi về các hướng khác nhau. Trong lúc cột lại dây gùi và tháo dép, Hạnh tới bên Cường. Cô đội một chiếc mũ tai bèo, thắt lưng dù Mỹ to bản đeo hai trái US, khẩu K59, trong tay cô còn có một khẩu AK báng gấp. Gương mặt Hạnh giờ chỉ còn là khoảng sáng mờ. “Em đi đây, anh Cường!”. Cô chủ động ôm lấy Cường, ghé môi hôn anh. Cô nói trong hơi thở nhẹ: “Đứng với em một lát! Chỉ một lát thôi... Rồi ta lại xa nhau...! Em yêu anh..”.

   Lúc rời xa Cường, cô nói: “Nhớ lời em! Nhà thím Tư Nhiên nghe anh...”. Hạnh cầm khẩu AK quay trở lại chỗ những người lính biệt động đang chờ để xuất phát.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4007



« Trả lời #103 vào lúc: 03 Tháng Mười Hai, 2012, 09:57:43 AM »

13

   Bãi đất hoang mọc đầy dứa dại, bờn bờn, các bụi tre gai ở đầu làng Văn Xá Thượng được lựa chọn làm hậu cứ cho tổ trinh sát của trung đoàn Z. Khu đất hoang rộng hàng héc ta. Đất đồi trọc khô cằn cao hơn so với mặt ruộng hàng thước nên dân không khai hoang, không trồng trọt được cây gì ở đây. Dân làng Văn Xá Thượng cũng đã bị hốt đi từ lâu. Bỏ lại làng hoang. Đã nhiều năm nay, trong làng ngoài bãi hoang trở thành nơi trú ngụ của chim muông, chồn cáo. Có những buổi chiều cò bay về đậu trắng bờ tre. Nhưng chỉ cần một tiếng động lớn, bầy cò bay lên như một dải mây bị gió cuốn đi. Vùng gò đồi hoang cũng là nơi hay bị pháo cối bắn hú họa. Hàng chục hố bom ném xuống làng sau Mậu Thân, nay biến thành những ao sâu, ngập nước... Cán bộ, du kích xã Hương Thạnh đã cho đào hầm bí mật dưới những bụi cây hoang dại, để về trụ bám trong dân, phòng khi địch chốt chặn cửa rừng, không lên xanh được.

   Từ Miếu Ba Cô, tổ điều nghiên của trung đoàn về tới được căn cứ Tứ Hạ đã gần 10 giờ khuya. Tham mưu trưởng Bạ lần đầu tiên phải đi chân đất, mặc quần xà lỏn, lội ruộng, đi trên những bãi cồn hoang đầy mồ mả, cỏ tranh, cây thanh hao, gai xấu hổ cứa vào da thịt đau chịu không nổi. Khi đoàn công tác tách khỏi đội hình đi làm nhiệm vụ chỉ còn lại đúng tám người. Sáu khẩu súng AK, một khẩu B40 với năm quả đạn. Bạ phát hoảng vì cảm thấy lạnh lưng, hở sườn. Cho đến khi hành quân, vượt qua lạch nước, Cường phát hiện ra Bạ vẫn đi đôi dép cao su Trung Quốc. Anh bắt cả tổ dừng lại. Bảy người khác, dép đều đã cột vào thắt lưng hoặc cất trong gùi, chỉ duy nhât Bạ vẫn ung dung đi dép. “Thủ trưởng ạ! - Cường nói nhỏ nhưng giọng kiên quyết - Anh phải cởi ngay dép ra. Đã về đồng bằng phải đi chân đất. Đi dép, mai địch lên phát hiện, lộ đường phục kích chết cả lũ!”. Lúc đầu, Bạ không hiểu. “Lính địa phương các cậu kỳ cục thật!”. “Anh ơi! Đây là quân lệnh. Đến như ông tướng, ông tá có xuống đồng bằng cũng phải mặc quần đùi, đi chân đất”. Cuối cùng, Bạ đành nghe theo. Đôi bàn chân anh ta vốn đi giày, đi dép quen. Bây giờ phải dận chân trần đi trên con đường mòn nhỏ, lúc lội ruộng, lúc bám theo con đường chiến lược, chỗ đất chỗ sỏi đá, những viên đá dăm đâm vào chân đau chịu không nổi. Nhưng không lẽ thủ trưởng lại không chấp hành quân lệnh. Sửu sứt, huyện đội phó, chỉ huy đoàn quân về đồng bằng lúc ở cửa rừng cũng đã phổ biến như vậy. “Thôi thì đành phép vua, thua lệ làng”. Huống hồ, ở đây lại liên quan đến sinh mệnh hàng vài chục con người, sự sống còn cho con đường bí mật, từ hậu cứ trên rừng về đồng bằng. Bạ bất quá cũng chỉ ở đây làm nhiệm vụ mười ngày, nửa tháng. Nhưng còn họ, quanh năm phải bám giáp ranh. Nghĩ vậy, nên Bạ cố mà đi. Và anh thầm cảm ơn trong chuyến công tác này cấp trên đã phân công Cường cùng đi.

   9 giờ 45 phút, tổ điều nghiên mới về tới bãi mồ mả ngoài làng Văn Xá Thượng. Theo kế hoạch, Thu - một du kích xã sẽ về bãi hoang để chuẩn bị nơi trú ẩn cho cả tổ.

Bạ, Cường và tổ trinh sát cùng với cậu Yên - người địa phương hướng thẳng về khu căn cứ Tứ Hạ. Mưa lâm thâm, gió lạnh tràn về trên đồng. Đêm khuya nhưng bầu trời vẫn sáng nhờ nhờ, trăng mồng mười đã lên cao nhưng không xuyên nổi lớp mây mù dày đặc. Người nọ bám lưng người kia đi trên những con đường cắt băng qua mộng, qua cồn cát mọc đầy những cây thanh hao, cỏ sắc. Phía xa kia, hắt lên trời một quầng sáng, đấy chính là căn cứ quân sự Tứ Hạ. Nhìn chếch về phía đông nam, một quầng sáng rộng hơn. Thấp thoáng trong mây mù có ánh đèn đỏ nhấp nháy sáng trên cao. Đấy là cố đô Huế. Ở phía ấy, còn có một chiếc máy bay bay đêm phát tín hiệu nhấp nháy ở hai đầu cánh.

   Địa hình căn cứ Tứ Hạ, Cường chẳng lạ gì. Vào đúng cái ngày Bác Hồ mất, đêm 3 tháng 9 năm 1969, tiểu đoàn 10 đã từng phối hợp với K35, pháo binh mặt đất tổ chức một trận đánh tập kích bằng hỏa lực vào căn cứ Tứ Hạ. Hai khẩu cối 82, 14 khẩu B41, 10 khẩu B40, 5 trái đạn ĐKB đã dội một trận bão lửa lên khu căn cứ quân sự này. Vào lúc 4 giờ sáng, cả tiểu đoàn tập kết về bãi đá ở Miếu Trâu, chính trị viên tiểu đoàn Lê Văn Duy, nói như phát khóc: “Thưa các đồng chí! Đêm qua “đài ta” báo tin Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã qua đời. Trận đánh vào Tứ Hạ của “K ta” là vòng hoa dâng lên tưởng nhớ Bác”.

   Ông Duy người thấp, to ngang, có dáng hổ ngồi đang đứng trên một mô đá cao, đầu gục xuống. Giọng nói của ông thật xúc động. Mấy chị, mấy o các xã đi gùi đạn cho bộ đội, đi đồng bằng về tập kết cả ở Miếu Trâu chờ trời sáng vào rừng, nghe tin Bác Hồ mất có người khóc tấm tức. Không bao giờ Cường gặp lại ông Duy nữa, sau ngày cả tiểu đoàn 10 bị giải thể phiên chế bổ sung cho huyện, xã, làm anh lính biệt động, du kích.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4007



« Trả lời #104 vào lúc: 03 Tháng Mười Hai, 2012, 09:59:13 AM »

*

   Cho đến 2 giờ sáng, Cường và tổ trinh sát trung đoàn mới tiếp cận được vào hàng rào thứ ba của căn cứ Tứ Hạ. Sau trận đánh năm 1969, địch tăng cường phòng thủ từ xa rào thêm các lớp kẽm gai, bùng nhùng, xen kẽ những bãi mìn. Bạ và cậu du kích địa phương dẫn đường nằm lại ở hàng rào thứ nhất. Giữa các lớp hàng rào bùng nhùng, kẽm gai cỏ tranh mọc cao, mìn gài chìm trong cỏ, phát hiện rất khó. Bốn anh em nhích từng tí một vừa xóa dấu vết, vừa gỡ mìn, đánh dấu đường vào cho đêm mai. Mặt mũi, cánh tay, bắp đùi... tất cả những chỗ da thịt để trần đều được xoa lên lớp bột pin trộn với lá cây rừng để ngụy trang. Thỉnh thoảng pháo sáng bắn lên, phát sáng cả một vùng, những thằng lính gác ngụy trong các chốt canh có tài thánh cũng không phát hiện ra những người lính trinh sát đang giấu mình trong cỏ. Lớp trong cùng của căn cứ Tứ Hạ mặt phía nam địch còn rào một lớp kẽm B40, phía trên hàng rào mắc vô số những chiếc loong hộp. Lâu lâu, một thằng lính gác lại ra giật vào sợi dây treo những chiêc loong, phát ra âm thanh loảng xoảng...

   Cường nhìn đồng hồ dạ quang đeo trên tay bọc trong chiếc mùi soa của Hạnh, anh cấu nhẹ vào chân Xu, lính trinh sát của trung đoàn bò phía trước, báo lệnh rút. Anh đi sau cùng để xóa mọi dấu vết. Bạ và cậu du kích dẫn đường đã ra ngoài điểm tập kết chờ cả tổ.

   Về đến nơi trú quân bí mật ở bãi hoang đầu làng Văn Xá Thượng mới hơn 4 giờ. Cường và những người lính trinh sát xuống một hố bom rửa mặt mũi chân tay. Chui rào cả đêm, sống trong tâm trạng căng thẳng khi phải lần tìm từng quả mìn Zip, mìn chống tăng tìm cách gài lại chốt an toàn, đầu óc ai cũng căng thẳng, nhưng khi có chút nước vã lên mặt, mệt mỏi và cơn buồn ngủ tan biến. Suốt đêm, anh đã có ý lắng nghe mọi động tĩnh trong vùng. Không ở đâu thấy súng nổ. Như vậy các cánh quân về đồng bằng đêm qua đều trót lọt. Lạy trời! Vậy là Hạnh an lành. Giờ này hẳn bộ đội của anh Sửu “sứt” đã lại có mặt ở Miếu Ba Cô để chuẩn bị vào rừng.

   Thu rất giỏi và tháo vát. Chẳng biết bằng cách nào cậu ta đã nấu được xoong cơm to. Lại còn có cơm để vắt dành cho ngày mai. Bảy người, bảy vắt cơm mỗi vắt to như khúc giò lụa, lèn chặt đủ ăn cho cả ngày. Đến khi chui vào căn hầm bí mật, nhìn thấy chiếc bếp nấu bằng dầu hỏa, lại thấy có sẵn xoong, chảo và hàng chục chiếc can nhựa được giấu trong một hõm đất chạy dài như một con hào che phủ trên đầu tầng tầng, lớp lớp cây dứa dại thì anh chợt hiểu. Du kích Hương Thanh sống bí mật nhưng cũng chẳng đến nỗi nào. Trong căn hầm đất còn có sẵn cả thùng dầu đậu nành, lá cờ Mỹ in trên vỏ thùng kẽm còn mới, bột ngọt, muối, đường chẳng thiếu thứ gì. Hai hầm bí mật có nắp ngụy trang, có lỗ thông hơi nằm cách xa khu “hậu cần”. Cũng phải chui lủi luồn lách qua các gốc dứa, bụi tre gai một hồi mới tìm thấy lối xuống hầm. Theo quy định Bạ cùng với cậu du kích tên là Hà và Xu trinh sát sẽ ở một hầm. Cường và hai trinh sát cùng cậu Thu du kích ở trong căn hầm thứ hai.

   Đến quá trưa, đang ngủ chợt Cường bị đánh thức trở dậy. Hà và Thu đang ngồi chờ ở ngoài cửa hầm. “Anh Cường ơi! Thủ trưởng Bạ nguy cấp lắm. Kêu anh sang ngay”. “Có chuyện chi? Cứ tưởng địch vô!”. “Anh Bạ lên cơn sốt, bụng đau dữ dội. Chẳng biểt bệnh gì?”. Lúc Cường sang tới hầm của Bạ, thấy nét mặt anh tái xám. Tay Bạ ôm bụng có vẻ anh đang đau dữ dội. “Đau ruột thừa cấp tính thì chỉ có chết!” - Cường nghĩ vậy. Anh cúi xuống đỡ Bạ. Người Bạ nóng hôi hổi. Mồ hôi ướt đẫm lưng áo. “Anh sao vậy?”. Bạ mở hé mắt, mồm miệng méo xệch: “Tớ sốt rét. Lại lên cơn đau dạ dày... Cậu tìm cách đưa tớ đi viện”. Hà, Thu và cậu trinh sát tên Xu nghe tham mưu trưởng nói vậy, phì cười. Cường trừng mắt cho ba anh lính ngậm miệng. “Được rồi, anh có muốn đi viện cũng phải đợi trời tối đã”. “Thế cũng được - Bạ nói líu lưỡi - mọi việc ở đây tôi giao toàn quyền cho cậu chỉ huy, sau này về báo cáo cho trung đoàn... Tôi đau quá! E chết mất...”. Cường điềm tĩnh nói: “Anh cứ yên tâm, mọi việc tôi sẽ lo chu toàn!”. Anh nhìn sâu trong đáy mắt Bạ, thấy sự hoảng loạn của anh ta sau một đêm chui rào.

   Đêm thứ hai tiếp cận điều nghiên căn cứ Tứ Hạ đành bỏ dở. Ba anh trinh sát và một người du kích được rút ra tổ chức thay nhau khiêng cáng Bạ. Cường vác khẩu B40, kèm theo khẩu AK sau lưng, Thu mang AK trực tiếp bám đường về lại Miếu Ba Cô. Đã quen đường, tuy trời mưa đường trơn nhưng chỉ ba tiếng sau, họ đã tới bãi đá tập kết. Từ lúc được uống thuốc, Bạ có vẻ bớt đau dữ dội, nhưng thỉnh thoảng anh ta lại rên rỉ. Người vẫn sốt hầm hập. Cả đoàn chờ đến 3 giờ sáng thì gặp quân của huyện đội đi đồng bằng lên. Họ giao Bạ cho bộ đội địa phương của huyện chuyển lên hậu cứ. Cường giữ lại Thu và hai người lính trinh sát ở lại cùng với anh bám căn cứ Tứ Hạ. Anh viết một cái thơ báo cáo tình hình cho trung đoàn, giao cho một người lính trinh sát, cùng cậu công vụ của Bạ đi theo áp tải cáng thương của Bạ về căn cứ. Lúc quay trở về đến bãi đất hoang làng Văn Xá Thượng vừa trọn một đêm.

   Cường ngủ li bì cho đến tận 2 giờ chiều, triền miên trong những cơn mộng mị.

   Chỉ mất có ba đêm, Cường và hai người lính trinh sát đặc công đã mò mẫm, sờ nắn toàn bộ ba mặt của khu căn cứ Tứ Hạ. Mặt thứ tư tiếp giáp với khu nhà dân, nuôi nhiều chó các anh không vào được. Từng lô cốt, từng ụ súng, bãi pháo, bãi đậu trực thăng và bốn dãy nhà lính, nhà chỉ huy đều được “những con chuột nhắt” tinh quái sờ soạng. Cường sẽ suốt đời không bao giờ quên được Tống và Ngoãn, họ là hai người lính trinh sát tài ba. Tống, dân xứ Mường, Hòa Bình. Còn Ngoãn, người Ninh Bình nhưng như cậu ta nói “từ năm mười tuổi em đã làm bá chủ trên các chuyến tàu xuôi ngược Vinh - Hà Nội”.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4007



« Trả lời #105 vào lúc: 03 Tháng Mười Hai, 2012, 10:00:46 AM »

   Tống hiền lành, lầm lì, ít nói. Nhưng gan lì. Anh ta cũng xấp xỉ tuổi Cường nhưng vẫn chỉ là lính trơn “không đảng đủng chi hết”. “Vì sao vậy? - Cường hỏi - Cậu đã từng được nhận Huân chương chiến công hạng Ba, khi đánh Quảng Trị kia mà?”. “Ăn thua gì anh - Tống nói và mỉm cười - Tay đại trưởng trinh sát ghét em. Cứ chỗ nào “xương” nhất nó đẩy em đi. Đi thì đi, em sợ đếch gì. Còn chuyện vào Đảng, chi bộ đưa ra mấy lần, nó xui chính trị viên đại đội bảo bố em là phản động, đồi trụy. Còn ông em là lý trưởng. Lý trưởng là gì hở anh?”. Cả một ngày trời chui trong hầm, ngủ lên ngủ xuống mãi cũng chán. Cường rỉ rả hỏi chuyện Tống mới vỡ lẽ ra rằng: Cha Tống vốn là một thầy dạy văn cấp II. Tốt nghiệp Đại học Sư phạm Vinh, những khóa đầu, học giỏi nhưng cũng vì cái lý lịch “bố là lý trưởng”, “lý trưởng mua” cho oai, lấy thế trong làng xã, nên bố Tống không được dạy câp III mà phải xuống dạy cấp II. Gia đình ông “lý trưởng” cũng có một người con trai đầu là chiến sĩ trong sư đoàn 308 anh hùng hy sinh ở Điện Biên Phủ. Có ông anh là liệt sĩ nên bố Tống mới được đi học dễ dàng. Một lần ông thầy dạy văn cao hứng đọc mấy bài thơ tình của Huy Cận, Xuân Diệu trong “Thi nhân Việt Nam” với một giọng hào sảng, cảm khái của một ông thầy yêu mến văn chương. Khổ nỗi, lúc ông chưa kịp phân tích thái độ “ủy mị, tâm lý tiểu tư sản, cá nhân đề cao “cái tôi”...” để so sánh với thơ tình cách mạng thì bị ông hiệu phó, bí thư chi bộ bắt quả tang đang tuyên truyền thơ ca phản động, đầu độc tâm hồn lóp trẻ! Bốn năm buổi họp, ông đồ dạy văn cố thanh minh cũng không được. Thêm một lá đơn nặc danh gửi lên tận ông bí thư huyện ủy tố cáo thầy “phản động”! Vậy là tiêu tùng cả sự nghiệp. Năm ấy, Tống đang học dở lớp bảy bỏ thi. Con trai Mường vốn to khỏe, Tống khai tăng tuổi, xin đi bộ đội.

   Còn cuộc đời Ngoãn là một pho tiểu thuyết. Chí ít Cường nghĩ vậy. Cũng có thể do đầu óc anh từ nhỏ đã nhồi nhét nhiều những truyện ly kỳ, kiếm hiệp, nên anh tưởng tượng ra vậy. Ngoãn là một thằng bé không cha. Mẹ nó đẻ rơi trong một chuyến tàu xuôi Vinh. Mẹ Ngoãn vốn là một người buôn bán hàng rong dọc theo tàu và các nhà ga, ăn cắp thành thần. Nơi mẹ con Ngoãn ở lâu nhất, trong ký ức thằng Ngoãn còn nhớ được là xóm nhà lá ở ga Nam Định. Nhờ chuyện mẹ Ngoãn kết thân được với một anh cán bộ làm việc ở ủy ban nhân dân khóm máy nước mà thằng Ngoãn có được tấm giấy khai sinh sau này ghi trong tờ lý lịch: Nơi sinh - Thành phố Nam Định. Đã bao năm, thằng Ngoãn nhớ nhất vẫn là căn nhà của hai mẹ con nó sống. Mỗi hộ công nhân của nhà máy dệt Nam Định được chia trong dãy nhà cấp bốn một gian. Có hộ chỉ nửa gian. Một người đồng hương tốt bụng đã cho mẹ con Ngoãn tận dụng bãi rác phía đầu hồi vẩy ra cái mái để sống tạm qua ngày. Chỗ ở của mẹ con Ngoãn rộng chừng 12 mét vuông, kê vừa đủ một cái giường, một góc kê ba ông đầu rau đất làm bếp. Góc bếp cũng là nơi để xoong nồi bát đĩa.

Hình ảnh nữa khiến thằng Ngoãn “nhớ dai như đỉa” chính là khúc kẹo dồi của chú Tập. Chú Tập là ân nhân của mẹ con Ngoãn. Chú Tập nhờ mối quen biết với mấy ông cán bộ ở khu máy nước đã làm khai sinh cho thằng Ngoãn. Bố Ngoãn, chú Tập bịa ra một ông X nào đó, phần nhân thân chỉ ghi vỏn vẹn: “chết trong tù!”. Mẹ Ngoãn mất vài bao thuốc Tam Đảo, cân cam cho nhà chức trách vậy là thằng Ngoãn đã có tờ giấy khai sinh để mẹ nó làm hộ khẩu. Người đàn bà chưa tới tuổi ba mươi đã có một thằng con trai mười một tuổi tỏ ra mãn nguyện. Thằng Ngoãn cũng không cần học, nhưng trời phú cho thằng con hoang có một trí nhớ phi thường và cực kỳ thông minh. Chỉ có vài buổi đứng ngoài bờ tường lớp học của trường phổ thông cấp I Trần Đăng Ninh, trong lúc chờ đợi, gạ gẫm mấy đứa trẻ con nhà giàu trốn học ra ngoài chơi đáo lỗ mà thằng Ngoãn đã có được cả một bồ chữ. Nó đọc báo Nhân dân vanh vách, chẳng trật chữ nào. Làm toán cộng trừ nhân chia tính nhẩm trong đầu ra đáp số. Có lần một thằng con nhà giàu làm bài thi, tuồn tờ giấy ra ngoài cho Ngoãn giải. Một bài tính đố chuyện con gà, con vịt. Nó giải trúng phóc. Thằng bé con nhà giàu hôm sau khoe nó được 10 điểm. Thằng Ngoãn túm áo thằng bé con nhà giàu. “Mày phải giả tiền cho tao chứ?”. “Tiền nào? Tao đâu có nợ mày!” - Thằng con nhà giàu cãi. “Tiền công tao giải toán cho mày được 10 điểm. Mỗi điểm là một xu, mày nợ tao một hào! Không giả tiền tao đấm cho vỡ mũi và đừng hòng tao cho chơi đáo”.

   Nghe chuyện không cho chơi đáo, thằng bé nhà giàu cuống lên. Nó ham chơi hơn ham học. Biết đánh đáo là thua, nhưng cứ đánh. Càng đánh càng ham, quên ăn, quên ngủ. Thằng Ngoãn có một đồng cái thửa luôn để sẵn trong túi quần. Đồng cái hình tròn, đường kính 2 xăngtimét, đột ra từ một tấm thép dày 2 ly. Thằng Ngoãn mài cho sáng bóng, cạnh sắc. Chơi đáo lỗ có đồng xu cái đánh quen tay quả là lợi hại. Trái tim như muốn tan ra khi trên mặt đất lấp loáng những đồng năm xu, một hào sáng trắng, châu quanh lỗ đáo và vạch cấm. Thằng Ngoãn chỉ cần thảy nhẹ tay đồng xu cái đã chui tọt vào khít với miệng lỗ. Bốn năm đứa trẻ chờ tới lượt mình đi, ngơ ngác chưa hiểu chuyện gì xảy ra, thằng Ngoãn đã ung dung đi lên như một mãnh tướng nhặt tất những đồng xu lớn, xu bé cho vào một cái túi vải đeo ở ngực, giấu trong lần áo may ô sực mùi mồ hôi chua như cứt mèo, ngả màu cháo lòng. “Có đánh nữa không?” - Thằng Ngoãn cao giọng. Những con bạc khát nước nhao nhao: “Đánh chứ! Đánh chứ! Mày định ăn non hả?”, “Ừ thì đánh, ông sợ đếch gì! Nào, đứa nào đổi tiền giấy, tao đổi xu cho”.

   Lại những ván thua, ván thắng nhưng rốt cuộc mọi đồng xu đều chui vào túi thằng Ngoãn. Tiền xu đổi ra tiền giấy. Lại đánh. Có bữa thằng Ngoãn về đến nhà, mẹ nó đã tắt điện đi ngủ. Nó ngồi trong bóng tối nhai ổ bánh mì giòn rau ráu.

   Trở lại câu chuyện về khúc kẹo dồi của chú Tập. Theo lời Ngoãn kể. Ở gần ga Nam Định có vài ba anh suốt ngày đẩy chiếc xe tay đi bán kẹo kéo. Những khúc kẹo kéo được làm từ mật nha, bên trong ruột có lạc được anh thợ tài ba nhào nặn kéo lên, kéo xuống, lúc kéo dài ra, lúc vo tròn lại. Từ một thỏi kẹo mật, màu vàng, chỉ vài chục nhát nhào lên vật xuống lăn với bột, khúc kẹo dồi trắng dần lên như thạch cao, dẻo quẹo. Bất kể ai có năm xu, một hào, thậm chí đổi bằng lông vịt, giấy loại đều được anh thợ kẹo kéo bán tuốt. Món quà quê kiểng dành cho những đứa trẻ nghèo. Mỗi lần chú Tập đến chơi nhà thăm mẹ Ngoãn, bao giờ chú cũng thủ sẵn trong túi một khúc kẹo dồi gói kỹ trong miếng giấy báo. Thằng Ngoãn bị mẹ bắt nhặt rau, lượm thóc, lượm cứt chuột trong rá gạo, thấy chú Tập như vớ được vàng. Chú thò ra trước mặt nó cây kẹo kéo. “Này cho cháu! Ra ngoài chơi đi, chú có chuyện muốn bàn với mẹ cháu”. Đã có kẹo ăn, lại được ra ngoài chơi bóng với tụi trẻ ở ngoài bãi trước cửa nhà. Sướng thế còn gì. Thằng Ngoãn bất chấp cái lừ măt của mẹ nó. Chị nói vọng theo con: “Chơi một lúc rồi về ăn cơm để mẹ còn đi bán hàng...”. “Vâng ạ!” - Giọng nó kéo dài, tỏ ra sung sướng, bỏ mặc tấm cửa đan bằng liếp phía sau đang khép lại.

   Thằng Ngoãn đâu ngờ, những khúc kẹo dồi của chú Tập bảy năm sau đã cứu nó một bàn thua trông thấy! Thằng Ngoãn đánh đáo là một tay tổ nhưng nó cũng là một đứa trẻ có biệt tài ăn cắp. Mùa đánh đáo ăn tiền không diễn ra quanh năm, thường chỉ vào ngày Tết. Khi đã biết nhảy tàu, lên tàu qua mặt các anh soát vé thì chính những chuyến tàu xuôi ngược Vinh và Hà Nội trở thành nhà của Ngoãn. Mẹ nó là một người đàn bà ăn cắp, đẻ ra nó ắt phải có máu ăn cắp bẩm sinh. “Nhưng em kiếm chỉ vừa đủ ăn, đem về đỡ đần mẹ... Còn được đồng nào, em lên tàu đi chơi mọi chỗ, mọi nơi em thích. Anh có tin không? -Thằng Ngoãn hỏi Cường - Sa Pa, Đồng Đăng, Kỳ Lừa em đi cả. Khắp thành phố Vinh, khắp cả Hà Nội, Hải Phòng xó xỉnh nào em cũng tới. Có lần em đánh đáo với đám trẻ con ngoài Hải Phòng. Em móc chúng nó sạch túi. Tụi nó thua tiền nhiều, tức quá gọi đầu gấu đến định “trấn lột” em. Em bị một phen chạy thừa sống thiếu chết, về được đến bến đò Quý Cao mới hoàn hồn”. “Nhưng sao cậu lại đi bộ đội...?” - Cường hỏi Ngoãn. “Chuyện là thế này, lần ấy em đi tàu vào Vinh, ai ngờ đến Lèn bị máy bay Mỹ bỏ bom. Bom đánh trúng tàu, nhưng là tàu hàng, không chết người. Đêm ấy, em bị kẹt lại ở ga Đò Lèn. Nửa đêm máy bay Mỹ lại đánh bom vào khu nhà dân ở gần ga, bom đánh vào đơn vị pháo cao xạ. Em vừa hoảng vì bom nổ tứ tung, vừa thích vì được tận mắt nhìn thấy máy bay phản lực Mỹ bốc cháy giữa bầu trời như một ngọn đuốc. Em chạy theo mấy anh bộ đội cao xạ vào nhà dân dập lửa, cứu người, khiêng người bị thương, bị ehết lên xe. Đến khi xong việc, mấy anh bộ đội cho em ăn bánh mì. Đói rạc cả ngày trời, được ổ bánh mì sướng bằng tiên. Có một ông bộ đội đã cao tuổi hỏi em: “Cháu mấy tuổi rồi, nhà ở đâu?”. Em nói bừa: “Cháu mười bảy tuổi, nhà ở Nam Định, cháu kẹt tàu nằm ở đây”. Ông bộ đội già bảo: “Lát nữa chú về Hà Nội họp, chú cho đi nhờ xe. Ăn mau chóng lớn, vào bộ đội đi đánh giặc với chú”.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4007



« Trả lời #106 vào lúc: 03 Tháng Mười Hai, 2012, 10:01:52 AM »

   Buổi chiều, nhân lúc mẹ vắng nhà, thằng Ngoãn lặng lặng mua một chai rượu lậu, cuộn vào một tờ báo tìm đến nhà chú Tập. Ông chú đang cởi trần xoay vần ra quay bột gạo bằng cái cối xay đá nặng trình trịch để bà vợ vắt bún, bán cất ngoài chợ Rồng. Vợ chú Tập đang ngồi trong bếp với chiếc nồi chuẩn bị cho mẻ bún. Thấy thằng Ngoãn đột xuất đến thăm nhà, ông Tập đã giật mình, nhưng vẫn cao giọng hỏi: “Mày đến nhà khu đội phó làm gì?”. Thằng Ngoãn lễ phép: “Cháu đến xin chú cho cháu đi bộ đội”. Vừa nói, nó vừa thập thò chai rượu ra khỏi chiếc áo bộ đội cũ, áo dài che cả cái mông tóp lại, miệng cười bả lả: “Mẹ cháu có chai rượu nếp mang sang biếu chú...!”. “Láo! Mẹ con nhà mày định giở trò biếu xén hả?”. Nói vậy thôi, nhưng ông Tập cũng rời cái cối, cầm chiếc áo vải xanh công nhân treo ở đầu móc sắt định choàng vào người. Bà Tập thấy nhà có khách, chẳng nói năng gì. Ra sức quạt lấy quạt để chiếc bếp than đang bén lửa.

   “Mày nói chuyện thật hay đùa, nhóc?”. Ông Tập luôn gọi nó như vậy. “Đi bộ đội mà chú bảo chuyện đùa à?” -Thằng Ngoãn cãi lại. “Đồ ngu ạ!” - Chú Tập tay cầm chai rượu bật vỏ nút bấc đưa miệng chai lên mũi ngửi, nhưng không quên mắng cậu nhóc. “Chú bảo cháu ngu là sao?”. “Vậy mà cũng hỏi. Cái lý lịch ăn cắp của mẹ con mày cả Nam Định này ai không biết. Lý lịch đen như mực vậy mà đòi đi bộ đội. Ngu ơi là ngu, vậy mà còn hỏi”. Thằng Ngoãn rơm rớm nước mắt, mà sau này nó biết được chính chú Tập kể cho mẹ nó, chú còn khóc. “Vậy những người xấu xa như mẹ con cháu không còn được quyền làm điều tốt hay sao hả chú?”. Đến lúc này, chú Tập mới nói thật: “Cháu ơi! Cháu có biết đi bộ đội là cực khổ lắm không? Nhiều người đi sợ khổ, sợ chết còn đảo ngũ về đầy kia kìa. Về địa phương bắt đưa đi cải tạo, treo một cái biển to tổ bố ở sau lưng: “Ai cũng đảo ngũ, sợ chết như tôi thì mất nước...Huống hồ cháu là con một…”.

   Thằng Ngoãn vụt đứng dậy. “Không, bằng mọi cách chú phải cho cháu đi bộ đội. Cháu thề với chú, cháu không bao giờ là thằng đảo ngũ, đầu hàng giặc... Cháu hứa...”. “Mày không biết thương mẹ mày Ngoãn à...”. Chú Tập vẫn hết lời khuyên can, chú còn giơ cả cái chân bị thương khi đi bộ đội vào công đồn ở Điện Biên Phủ để dọa thằng Ngoãn. “Cháu có đi bộ đội, cháu mới đổi đời. Không thì đời này, kiếp này cháu chỉ là một thằng ăn cắp, bị người đời khinh rẻ. Mẹ cháu không khổ nữa. Mẹ cháu mới được các chú cấp cho cái sổ gạo, mỗi tháng được nhận mười hai đồng. Cháu có chết cũng trả được ơn cho mẹ cháu rồi...!”. Nó nói với chú Tập như vậy.

   Nghe thằng Ngoãn kể chuyện đời, Cường ứa nước mắt.

   Cái chí lanh lẹn, láu cá, thông minh của một đứa trẻ từ bé đã phải tự kiếm cơm nuôi miệng, lăn lộn giữa các bến xe, ga tàu lại đào luyện Ngoãn thành một tay trinh sát đặc công có hạng. Lì lợm và ngỗ nguợc. Đêm thứ ba chui vào hàng rào Tứ Hạ ra, lúc ra đến bãi tập kết, thằng Ngoãn đổ từ cái ruột tượng gạo nó quấn quanh bụng mấy loong cá hộp và một cây thuốc lá quân tiếp vụ xanh. “Mi lấy đâu ra? Lộ bỏ mẹ!”. “Em vào kho hậu cần. Thịt cá cả két, anh muốn ăn mai em vô lấy nữa. Em còn lấy được cả cái này. - Nó giơ ra trước mặt Cường, mặt Tống một chiếc xi líp đàn bà và cả một cái áo nịt vú của vợ một thằng lính ở khu gia binh. - Em nhìn hai đứa trần truồng quại nhau. Đứa con nhỏ thì nằm ngủ trong nôi. Ức quá, em đái vào quần của thằng chồng và tịch thu “phụ tùng” của con vợ”. Nói xong thằng Ngoãn nhe răng cười. Bộ mặt nó ngụy trang đen nhẻm, chỉ hàm răng là trắng nhởn.

   Cường tức, muốn thoi cho nó một quả mà không nỡ. Chẳng hiểu sao, anh lại bảo thằng Ngoãn: “Mi còn sống trở về phải mang rượu đến tạ lão Tập, em ạ. Lão ấy đã cứu cuộc đời mày!”. Nét mặt thằng Ngoãn bỗng xìu xuống như quả bóng xịt hơi. “Ông Tập chết rồi, anh. Năm ngoái em được trung đoàn cho đi phép, kết hợp mua hàng cho đơn vị, mẹ em bảo: ông Tập lên Hà Nội cưới chồng cho con gái, bị trúng bom Mỹ ở khu Khâm Thiên, sắp sang giỗ thứ hai rồi... Tội không?”.

   Sau mỗi đêm vào Tứ Hạ trở về, Cường dành thời gian ghi chép tỉ mỉ những điều thu lượm được về địch, cách chúng bố phòng các tuyến, các lớp trong cứ điểm. Anh vẽ phác họa sơ đồ từng vị trí hỏa lực, bộ binh của chúng trong căn cứ cho tất cả vào một cuốn sổ tay.

   Bước sang ngày thứ năm thì xảy ra sự cố. Lúc Cường cùng tổ trinh sát và Thu từ tiểu khu Hương cần trở về đã thấy Ngọc và hai người lính biệt động chờ sẵn ở vị trí tập kết ngoài bãi dứa dại. Thoạt nhận ra Ngọc, Cường đã giật mình. Ngọc bảo Thu: “Thu và hai anh bộ đội ra ngồi nghỉ một lát, anh trao đổi công chuyện với anh Cường chút nghe!”.

   Ngọc kéo Cường tới một ngôi mộ đá. Ngọc nói ngay:

   - Hạnh hy sinh đêm qua rồi, mi biết chưa?

   - Anh nói thiệt hay đùa... ?

   - Con Hạnh chết rồi. Nó đi từ dưới Phè Nhất lên, đi ngang qua con hói La Chữ bị tụi bảo an phục kích bắn chết. Tao vừa về Phú Ổ, cơ sở báo cho biết hiện giờ nó đang để xác con Hạnh ở đình Thượng, loan báo cho bà con các ấp để uy hiếp bà con...

   Cường lặng đi một hồi, như không tin những điều Ngọc thông báo là sự thật. Rồi anh chợt bừng tỉnh.

   - Phải đánh thôi, anh Ngọc. Đánh để lấy xác Hạnh.

   Ngọc hỏi Cường: “Tụi bay ở đây có bốn đứa. Bên tao và anh Đoàn còn năm người. Chín đứa, hai B40, AK, thủ pháo đủ sức chơi tụi nó không?”. “Có chết cũng đánh!” -Cường bảo vậy, rồi anh động viên Ngọc: “Đánh được. Anh tin tôi đi...!”.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4007



« Trả lời #107 vào lúc: 03 Tháng Mười Hai, 2012, 10:03:39 AM »

*

   Ngay trong đêm, tổ trinh sát trung đoàn 4 đã theo Ngọc hành quân về trụ bám trong khu cứ cũ của đội biệt động ở ngoại vi ấp An Đôn. Vẫn là những dải làng hoang, những bãi mồ mả rộng miên man mọc dày đặc những cây dứa dại, tre gai, chà là. Sau mùa xuân 1973, đội biệt động của Ngọc mới quay lại sử dụng khu cứ này. Đã có một thời gian, “lõm” bị lộ. Sau ngày chị Tâm bị bắn chết, địch ngờ “Việt cộng” có hầm bí mật ở đây. Chúng cho các đại đội bảo an 123, 125 thường xuyên lên cắm trại, xăm hầm. Có lần còn mang cả chó béc giê đi soi tìm dấu tích những căn hầm bí mật. Những nắp hầm bí mật bằng gỗ có nắp hình chữ nhật. Một chiều 35 xăngtimét, một chiều 40 xăngtimét. Các cửa hầm được luồn sâu giữa các bụi dứa dại, tre gai, lá khô phủ kín. Đường dẫn đến cửa hầm được xóa sạch mọi dấu vết. Nếu không có tề điệp, kẻ chiêu hồi khai báo, tụi lính bảo an, dân vệ khó mà tìm ra. Chỉ khi có địch đóng trong làng, đi càn, cánh lính biệt động của Ngọc mới phải vào cố thủ trong hầm, còn địch ở xa, đi lại trên các trục làng, những anh lính biệt động vẫn “vô tư” thoải mái, ngồi đánh bài “xi lát”, “tiến lên”, khui đồ hộp, uống cà phê bình thường. Thậm chí họ còn nấu được cả cơm nóng ăn để đêm về ấp. Từ làng An Đôn, đi qua một cánh đồng sang Liễu Nam, băng qua hói là tiếp cận được vào ấp Thượng. Từ những căn hầm, các đội biệt động, các tổ du kích về ấp rất tiện. Xuất phát nhanh không tới quá một giờ. Nhưng để cho tụi tề điệp và dân không nghi ngờ, các đội công tác thường đến khuya mới vô ấp.

   Cường, Ngọc và nhóm trinh sát, biệt động về tới cứ mới 4 giờ sáng. Tổ công tác của anh Đoàn về bám dân ở ấp Kim Long lên còn đang ngủ. Mấy gùi căng tròn gạo, hàng hóa để cả dưới gốc tre.

   Ngọc bảo Cường: “Cho anh em ngủ lấy sức, mai sớm ta bàn phương án đánh địch”. Mỗi người tản ra các vạt đất nằm dưới các bụi tre gai dày đặc, trải áo mưa ra ngủ. Lát sau đã nghe tiếng ngáy của Ngoãn, của Tống, của Thu ngon lành.

   Cường không ngủ được. Anh cầm khẩu AK đi ra ngoài cảnh giới, vầng trăng đầu tháng lên cao, mọi cảnh vật nhập nhòa dưới ánh trăng lạnh lẽo. Cường ngơ ngác tự hỏi: sao cái chết đến với Hạnh vô lý đến như vậy? Đêm cuối cùng chia tay nhau ở Miếu Ba Cô, đến nay mới là đêm thứ sáu. Ngọc kể: Cùng hy sinh với Hạnh còn có một cậu du kích người Triệu Sơn, mới lên rừng chưa được một năm. Đám nghĩa quân có người nhận ra cậu du kích đã báo người nhà cho lên nhận xác. Dân trong vùng có người biết Hạnh, xác nhận cô đúng là con mụ H, ở xã Y. Địch ở vùng này, chúng chẳng còn lạ gì những người như Hạnh, Ngọc, Đoàn, Sẹo... Quận trưởng đã từng treo giải cho ai giết được những tay Việt cộng sừng sỏ của huyện... Đám bảo an giết được Hạnh, một nữ cộng quân có tiếng, khác nào vớ được vàng. Những ngày qua, anh mù tịt tin tức. Cường tiếc đã không mang theo chiếc đài National ba pin đại, Hạnh mua tặng anh cùng với cây thuốc Rubi vàng và mấy lon sữa trong túi quà nàng cất công mang lên từ đồng bằng, về đồng bàng bám căn cứ địch, quần áo tư trang theo quy định anh đã gửi lại cả ở hậu cứ của huyện trong hầm của Lành. Anh không muốn mang theo chiếc rađiô một phần còn ngại Bạ biết. Ông chỉ huy nông dân ấy sẽ nghĩ khác, khi một cán bộ dưới quyền mới chân ướt, chân ráo về đồng bằng đã có người cho quà. Ông Bạ đâu biết mối quan hệ tình cảm của anh và Hạnh, với những người bạn thiết cốt với anh từ bao năm nay. Giá như có cái đài, sáng nay mở đài phát thanh “Tự do Huế” anh đã biết tin.

   Đêm qua, lúc đang đi vào tiếp cận tiểu khu Hương Cần, quãng 10 giờ khuya, Cường có nghe thấy những tiếng súng con nở rộ ở phía tây đường lộ. Anh và Thu không đoán định được hướng nào... Súng nổ râm ran chừng ba mươi phút, nghe rõ tiếng đạn cối 61 và cối cá nhân. Những ngọn hỏa châu bắn lên sáng rực một vùng trời phía tây. Cường đâu có ngờ rằng đấy lại là lúc Hạnh gặp nạn. Hồi khuya anh đã trao đổi với Ngoãn, Tống và Thu chuyện “chị bí thơ xã Y” bị địch sát hại và phơi xác ngoài đình. Khi biết rõ mối quan hệ của Cường với người bí thư xã đã từng cưu mang, kề vai sát cánh với anh và những người bộ đội K10 ngày trước, tất cả đều tỏ rõ quyết tâm “phải đánh tụi bảo an, cướp xác”.

   Vào buổi sáng hôm sau, cả đội có cuộc họp bàn phương án đánh tụi bảo an. Anh Đoàn, đội trưởng đội công tác Hương Sơ nghe Ngọc trình bày kế hoạch đánh địch, có tỏ đôi chút băn khoăn: “Liệu ta có cần báo cáo để xin ý kiến huyện ủy không?”. Ngọc nghĩ một lát rồi nói ngay: “Tướng ngoài biên ải, giặc đến đánh đã, báo cáo sau. Vả lại, tôi là huyện ủy viên. Các chú có kỷ luật tôi chịu hết. Để o Hạnh nằm đấy, anh em ta ăn không ngon, ngủ không yên. Nói dại, có chết cũng không nhắm mắt được... - Chợt Ngọc chỉ vào Cường - Tụi tao lo là lo cho mi, Cường ạ. Mi là lính chủ lực, đang làm nhiệm vụ trên giao. Mi tham gia đánh tụi bảo an, nhỡ có chuyện chi, cấp trên kỷ luật mi, tội cho mi. Nghĩ kỹ đi, nếu cần chỉ để tụi tao lo việc này. Tội vạ đâu tao chịu”.

   Cường thấy nóng mặt: “Tôi đâu có ngán, anh Ngọc, anh Đoàn ơi! Hạnh là bạn tôi. Bạn của anh em K10. Mọi việc trung đoàn giao, tôi đã hoàn thành. Chỉ nhờ các anh giữ cho cái túi này, nếu có chuyện chi các anh gửi về huyện ủy, chuyển cho trung đoàn. Chúng tôi sẽ là một mũi cho trận đánh đêm nay”.

   Cường đã giao cho Ngọc chiếc xắc cốt đựng tài liệu ghi chép và sơ đồ phòng thủ ở Tứ Hạ. Ngọc nói thêm: “Mi ráng ở lại ba ngày nữa, tao sẽ cung cấp cho mi một sơ đồ chi tiết căn cứ này, do “cơ sở” của ta ở ngay Tứ Hạ cung cấp, để cấp trên đối chứng”. “Vậy thì tốt quá còn gì!” - Cường nói vậy.

   Một ngày trời sống trong “lõm” của đội biệt động, Cường có cảm giác dài hàng thế kỷ. Anh chợp mắt đâu được chừng một giờ đồng hồ rồi tỉnh ngủ. Cả ngày địch không mò tới khu vực này. Quan sát kỹ chỉ thấy một hai chiếc xe GMC chạy từ ngả Bồn Phổ đi về hướng trận địa pháo Am Cây Sen. Một vài chuyến trực thăng đổ xuống Hòn Vượn, đậu chừng mười phút lại bay lên, hướng thẳng về Huế. Nghe rõ tiếng nổ lớn từ phía Phong Điền, như tiếng mìn phá đá của công binh mở đường. Các trận địa pháo địch chẳng buồn bắn trả. Buổi trưa có vài thằng nghĩa quân lảng vảng ở ngoài bìa làng Liễu Nam bắn chim. Một vài người nông dân trong các ấp La Chữ, Phú Ổ, Liễu Thượng ra chăm sóc những ruộng lưa, ruộng kiệu, rải phân, phun thuốc sâu trên đồng. Họ cũng chỉ làm đến 3 giờ chiều là vác cuốc trở lại làng. Cánh đồng trống vắng, buồn tẻ. Trời lắc rắc đổ mưa. Những anh lính biệt động có kinh nghiệm sống trong các “lõm” bí mật dường như hiểu rõ quy luật hoạt động của địch. 5 giờ chiều, các nồi cơm, nồi canh nấu bằng các bếp dầu đã xong. Cơm nóng dẻo ăn với cả nục kho khô và canh cải nấu cá hộp... Một bữa cơm ngon hiếm khi những anh bộ đội như Cường, Tống, Ngoãn được ăn. Ăn cơm xong cả đội còn ngồi uống trà Blao, hút thuốc Rubi chán chê, để chờ trời về khuya. Đánh sớm, tụi bảo an, dân vệ sẽ nghi ngờ. Ngày mai, cả vùng này sẽ bị địch đào xới. Ba khẩu B40, mỗi khẩu bốn quả đạn đã được các tổ chuẩn bị kỹ lưỡng lau chùi từng quả đạn, từng liều thuốc phóng. Ngọc có một cây cối cá nhân và cả một dây đạn. Anh ta thích dùng loại súng này hơn là dùng AK, B40. Quân số của cả đội mười một người. Ngọc quyết định chỉ sử dụng ba tổ chín người. Còn lại chú Biền và cậu Mạnh, chân đang đau vì giẫm gai độc sưng tấy cho ở lại hậu cứ lo cơm nước sớm mai cho cả đội. Cường trực tiếp chỉ huy tổ trinh sát. Ngọc nắm một tổ, Đoàn nắm tổ thứ ba. Thu dẫn đường cho tổ trinh sát được tăng cường cho tổ của Ngọc.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4007



« Trả lời #108 vào lúc: 03 Tháng Mười Hai, 2012, 10:06:13 AM »

   Hơn 7 giờ tối, cả tổ xuất phát. Họ nhằm hướng đình làng Thượng đi tới. Mưa vẫn rơi lất phất. Gió lạnh thổi miên man trên đồng. Thời tiết này, địch thường chủ quan. Rất thuận lợi cho những trận đánh tập kích. Gần tới hói Liễu Thượng, Cường bảo Ngọc cho cả tổ dừng lại ở bãi cồn mả. Anh dẫn Ngoãn bò lên trước bám địch. Hai bên bờ sông im ắng. Trong đêm mờ sáng, anh nhận ra cây cầu toe vắt ngang con hói vẫn còn đó. Cách cây cầu tre chừng năm chục mét nhìn rõ bụi tre gai ở bờ hói bên kia trùm bóng đen trũi. Cường cho Ngoãn nằm lại chốt giữ cây cầu tre, một mình anh xách súng đi tới bụi tre... Nằm áp tai vào bờ đất, quan sát kỹ không nghe một tiếng động. Trong đình làng Thượng, tụi bảo an bất chợt thổ lên một trái đạn cối pháo sáng. Trái pháo sáng bay vọt lên cao bung ra một vầng ánh sáng nhờ nhoạt, nhưng đủ để anh nhìn rõ mái đình và dãy nhà lợp tôn được dùng làm phòng học dạy cho lớp trẻ con tiểu học ở làng. Chắc chắn địch đang tập trung ở đó. Ngọn đèn dù tắt. Không gian vụt tối. Phải mất vài giây, đôi mắt anh mới quen dần nhận ra cảnh vật. Gốc tre này, mấy năm trước Cường đã phải vật lộn với dòng nước chảy xiết dâng cao trong một trận lụt để cứu Hạnh khi cô bị nước cuốn trôi... Có ai vỗ nhẹ vào vai Cường. Ngọc đã tới bên.

   - Bên kia hói không có địch. Chúng tập tung ở trường học.

   - Tao nhìn thấy rồi!

   Ngọc nói nhỏ vào tai Cường:

   - Lát nữa tổ của tao và của Đoàn đánh vào khu trường học, nơi tụi bảo an tập trung. Mi đưa tổ trinh sát đánh vào đình làng Thượng và cướp xác Hạnh.

   Từ khu trường học làng Thượng, tụi bảo an liền một lúc bắn ba trái pháo sáng. Cường và Ngọc nằm ép mình xuống bên bờ hói. Chợt Ngọc kéo tay Cường: “Mi có nhìn thấy bãi mồ mả phía kia không?”. “Có tôi thấy rồi, chỗ gần vạt chuối phải không?”. “Đúng! Đánh xong, rút thẳng ra đấy. Không qua đây nữa. Chỗ này pháo cối địch hay bắn chặn đường rút của anh em ta”. “Đồng ý!”.

   Nửa giờ sau, ba mũi tấn công của Cường, Ngọc, Đoàn đã ém sát đình làng Thượng và khu trường tiểu học. Hai điểm địch đóng quân cách nhau chưa đầy 100 mét. Vật ngăn cách chỉ là cây đa xanh, trùm phủ tán lá xuống mái đình. Từ mép bờ con mương dẫn nước vào tới bức tường đình làng Thượng cũng chỉ cách chưa tới 50 mét, ngăn bằng một con đường đất chạy bao quanh làng. Lúc địch bắn pháo sáng, Cường, Ngoãn và Tống đều nhìn rõ dãy bao cát địch đắp ngay ở phía ngoài đầu hồi phía tây của đình. Bốn năm thằng bảo an đứng vây quanh dãy bao cát, hút thuốc. Phía trường học địch tập trung đông. Có lẽ, chúng đã chọn nơi đây để đóng quân, ngủ qua đêm. Ngoài khoảng đất trông trong sân trường còn thấy cả mấy căn nhà bạt. Lực ít, tổ của Ngọc, của Đoàn chủ yếu đánh phủ đầu tụi bảo an ở trường học, không cho chúng chi viện cho toán giữ đình làng Thượng, để Cường mật tập tiêu diệt tụi này và mang Hạnh ra.

   Cường, Ngoãn và Tống chỉ mặc trên người mỗi chiếc quần xi líp. Toàn thân ba người lính được bôi đen. Đạn AK chỉ hai băng, còn lại là thủ pháo. Họ nhích từng mét tiến tới con đường đất bao quanh làng, giữa những vạt ruộng trồng khoai môn cao ngang người. Cường nghe rõ tiếng mấy thằng bảo an nói chuyện với nhau. Lúc đến sát đường, cả tổ phải dừng lại. Có một thằng lính ra đứng đái ngay sát bờ ruộng. Nó búng mẩu thuốc lá bắn ra khỏi tay bay vọt lên không trung rơi đúng vào chỗ Ngoãn. Đái xong, thằng lính ngụy còn vươn vai ngáp dài rồi quay lại chỗ công sự đắp bao cát có khẩu đại liên ngóc nòng lên cao.

   Đúng 9 giờ, Ngoãn đã vô hiệu quá xong ba trái mìn claymo bằng cách cắt đứt các dây điện nối tới quả mìn. Địch gài mìn chỉ cách chỗ phục kích, nơi có những bao cát chống đạn 20 mét. Một trái mìn địch gài ngay giữa sân đình, nơi xác Hạnh đang nằm, được phủ lên người bằng một cái chiếu cũ.

   9 giờ 10 phút, hai trái B40 của tổ Đoàn và tổ Ngọc nã thẳng vào khu trường tiểu học, cùng với từng loạt đạn AK bắn cấp tập. Tiếp theo là tiếng thủ pháo nổ đinh tai nhức óc, lửa cháy sáng bùng lên khu trường học. Cùng lúc ấy, hai trái thủ pháo rơi trúng vào mái nhà bạt trong ụ bao cát, nơi tiểu đội bảo an chốt giữ có hỏa lực là khẩu đại liên.

Thằng lính ngụy đứng gác phía ngoài bị sức ép thủ pháo hất văng ra nằm sõng soài trên đường. Trong lúc Ngoãn và Tống tiếp tục ném thêm hai trái thủ pháo vào chỗ những thằng lính đang tháo chạy trên đường chui vào trốn sau gốc đa, Cường đã băng nhanh vào khoảng sân đình, giật chiếc chiếu ôm xác Hạnh vác ra ngoài. Thấy lính ở làng Thượng bị tấn công, địch ở La Chữ, Phú Ổ liên tục bắn pháo sáng lên trời. Không gian sáng rực. Phải mất một lúc sau, mới thấy địch ở khu trường tiểu học bắn trả. Đạn bay chiu chiu ngoài cánh đồng phía tây. Mười lăm phút sau, cối 61 của địch mới nổ, hướng ra ngoài con hói Liễu Thượng, cối địch ở Hòn Vượn bắn hú họa ngả dốc Đu, dốc Cát, Miếu Ba Cô.

   Một chiếc máy bay từ Huế bay lên, thả trên trời hàng chục quả pháo sáng... Cả ba tổ biệt động, trinh sát đều rút lui an toàn, không ai thương vong. Trong lúc tiếng súng đạn nổ râm ran hướng cả lên rừng, họ ngồi quây quanh xác Hạnh giữa vườn chuối ngay sát làng Thượng. Nơi địch không ngờ tới đổi phương đang ẩn náu. Hai tiếng sau, tiếng súng mới dứt hẳn. Tụi bảo an đã cho xe tới chở những thằng lính bị thương, bị chết về Huế. Chúng cũng không dám trú chân ở làng Thượng, lặng lẽ rút quân lên đường quốc lộ. Khi xóm làng yên ắng, toán biệt động trinh sát mới rút quân. Hạnh được đặt lên võng cáng thương, các anh bộ đội, biệt động thay nhau cáng cô, đi về ấp Liễu Nam.

   Về khuya, bầu trời quang mây, không còn mưa nữa. Hạnh được cuốn chặt trong chiếc võng ni lông của Cường.

   Thân thể cô không còn nguyên vẹn sau trái mìn claymo của địch. Nhưng gương mặt cô vẫn nguyên lành. Da mặt trắng bệch. Lạnh. Đôi mắt nhắm như đang ngủ. Theo đề nghị của Cường, những người đồng đội đã chôn cô dưới rặng tre gai dày đặc ở làng Liễu Nam. Không ai hỏi lý do, kể cả Ngọc, Đoàn. Còn Cường giải thích để đảm bảo an toàn cho “lõm” An Đôn. Vạt tre gai ấy, “lõm” ấy, có chăng chỉ Cường và Hạnh biết. Nó cất giữ bí mật của anh với nàng. Từ đêm qua sau lúc Ngọc báo tin, đến giờ khi ngồi bên xác Hạnh, kể cả lúc anh gánh cô chạy băng đồng, anh chưa quen được cái cảm giác rằng nàng đã chết. Nàng xa anh mãi mãi... Chú Biền chia cho mỗi người một cây nhang cắm lên mộ Hạnh. Và chỉ đến lúc, Ngọc kéo áo Cường giục: “Thôi đi bay. Về lại An Đôn cho kịp, kẻo trời sáng!”, anh mới bừng tỉnh, cầm cây AK đi như kẻ mất hồn phía sau đội hình.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4007



« Trả lời #109 vào lúc: 03 Tháng Mười Hai, 2012, 10:09:12 AM »

14

   Căn nhà của mẹ Cường nằm sâu trong một con hẻm nhỏ, nhưng gần đường lộ băng qua thành phố. Một ngôi nhà ba tầng cửa luôn đóng kín. Nằm lọt giữa những ngôi nhà của những người lao động vào giờ đi làm thưa vắng người.

   Mẹ Cường, nay đã ngoài tuổi tám mươi, tóc bạc trắng như cước. Cụ ngồi thu mình trên chiếc tràng kỷ kiểu cổ đặt trong một góc nhà ngay sát cửa sổ, vừa têm trầu, vừa trông nhà. Cửa ngoài không khóa. Tôi đẩy cửa bước vào. Thoạt nhìn thấy tôi, nhận ra người quen của con trai, cụ mừng rỡ nhưng ngay sau đấy gương mặt cụ tối lại, nước măt chảy dài. Cường vừa được một giỗ đâu. Anh và mấy chục người lính đã anh dũng hy sinh trong cuộc chiến đấu bảo vệ một pháo đài ở biên giới. Cụ cầm tay tôi khẽ lắc lắc giọng nói nghẹn lại: “Nó đi đánh Mỹ với cháu bao năm, gian khổ ác liệt là vậy. Tưởng đến ngày thống nhât hòa bình về lấy vợ cho nó, ai ngờ lại chết như thế này”. Dòng nước mắt chảy dài trên gò má nhăn nheo của cụ già đã gần đất xa trời nhìn mà xót xa, giọng cụ nghe đau đớn, tức tưởi. Tôi, Cường, Thịnh, Tùng, Sơn vẫn chưa quên được hành ảnh cụ và năm sáu bà mẹ thương con giữa lúc máy bay Mỹ đánh phá miền Bắc ác liệt đã lặn lội mấy trăm cây số lúc đi nhờ xe tải, lúc gồng gánh đi bộ từ miền biển tìm cho đến được cái bản của người Cao Lan ở sâu trong vùng rừng núi Yên Tử. Công an, dân quân ở Lục Nam ban đầu nhìn các bà, các mẹ tưởng gián điệp, giữ lại. Sau một hồi tra hỏi, nhìn thấy con gà nhốt trong lồng tre, vài bơ gạo nếp, gói ruốc mới tin là mẹ bộ đội. Họ mách đường cho các mẹ, các bà vào Trại Trầm gặp con. Các bà, các mẹ đến nơi đóng quân cũng chẳng được ăn với con một bữa cơm. 2 giờ sáng, những anh lính trẻ của tiểu đoàn 440 đã phải lên tàu, xuôi Nam. Đã có những ông bố, bà mẹ vĩnh viễn sẽ không còn bao giờ được gặp lại những đứa con của mình nữa. Những anh Tý “bẹp”, Nghi “phở”, Thành, Chiến “Kỳ Bá”, Nuôi “lò mổ”, Thắng... mãi mãi nằm lại vói giáp ranh Hương Trà. Nam “mực” làm thần núi Dốc Đoác. Thằng Cường, bạn tôi đã đi qua cửa thần chết những năm tháng ấy, để vài năm sau lại ngược đường lên ải Bắc. Tôi vẫn còn nhớ, trong những đêm mưa gió ở rừng già Trị Thiên nó nằm trên võng gác chân lên bạn bè, đọc đi đọc lại bài thơ:

      Ai đi về Bắc, ta theo với
      Thăm lại non xưa giống Lạc Hồng
      Từ thủa mang gươm đi mở nước
      Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long.


   Những anh học trò mặc áo lính cãi nhau chí chóe tác giả bài thơ là ai. Người thì bảo đích thị là của Nguyễn Hoàng. Chỉ có vị chúa Nguyễn anh hùng mới dám chống lại anh rể, mang quân vào trấn giữ phía Nam, có công mở đất mới. Chỉ những quan quân, dân binh xa xứ, luôn hoài niệm về quê hương mới có được những câu thơ da diết, hào sảng như vậy. Người thì bảo bài thơ lại là của tướng quân Huỳnh Văn Nghệ, viết từ chiến khu Đ trong những năm đánh Pháp.

   Tôi còn đang loay hoay pha nước, cụ Cường đã vào trong chiếc tủ đựng quần áo đặt ở gian nhà trong, sát ngay đầu giường nơi cụ nằm bê ra một chồng sách cũ. Cụ bảo tôi: “Anh cầm về mà đọc, toàn là sách của thằng Cường cả đấy. Tôi gàn mãi, phải giấu tiệt chứ con mẹ Chanh nó định mấy lần đem ra dóm bếp...”. Chanh là chị dâu của Cường. Vợ chồng người anh cả trông nom bà cụ. Tôi cầm cây phất trần phủi bụi chồng sách vở cũ nát. Cuốn thì là sách in, vài cuốn vở chép tay. Trong những cuốn sách cũ, tôi vẫn còn nhận ra được cả cuốn “Thi nhân Việt Nam”, có bìa màu xanh nhạt, cuốn sách do Nhà xuất bản Hoa Tiên ấn hành tại Sài Gòn.

   Ngày vào Huế, tôi và Cường đứng ngơ ngẩn trên cây cầu Tràng Tiền “sáu nhịp mười vai”. Hai vai của nhịp cầu giữa sông đã bị bộ đội đánh sập bằng một tạ thuốc nổ vào dịp Tết Mậu Thân để chặn đường quân Mỹ phản kích từ phía nam sang chiếm lại Thành Nội. Công binh ngụy đã thay nhịp cầu gãy bằng dầm sắt lát ván gỗ cho người và xe qua lại. Nhà sách Ưng Hạ nhỏ, nằm trên trục đường Trần Hưng Đạo, xế cổng chợ Đông Ba. Ông chủ tiệm sách đã không chạy di tản vào Đà Nẵng như nhiều gia đình khác, mà vẫn ở lại thành phố và mở cửa hàng ngay trong cái ngày bộ đội tràn vào thành phổ. Khi tôi cười hỏi làm quen: “Sao chú không di tản?”. “Di tản mần chi? Để cho ăn cắp nó vô nhà hốt sạch đồ đạc hả chú? - Rồi ông ta cười - Dân Huế chạy cả lấy ai đón chào các chú ngày trở về?”. “Rứa chú không sợ “Việt cộng” lột da, tuốt móng tay móng chân các bà các cô sơn xanh sơn đỏ ư?”. Ông chủ tiệm sách rót trà từ chiếc ấm sứ Đài Loan ra mời tôi và Cường. “Các chú uống chén trà cho ấm bụng... Họ nói chi mược họ. Tôi, vợ con tôi chả tin. Dân mình đâu phải thứ người ác phải không? Xưa nay ông cha mình đánh thắng giặc xong còn cấp gạo, thuyền tiễn giặc về nước nữa là, giờ mình đã là dân một nước. Xem ra các chú là người có học mới bước vô hiệu sách nhà tôi. Các chú coi thử có cuốn mô ưng, tôi biếu”. Cường đáp thủng thẳng: “Không, sách mua mới quý! Ông cho tôi coi thử cuốn “Thi nhân Việt Nam”. Ông chủ tiệm sách trố mắt nhìn hai anh bộ đội. “À... sách tiền chiến của các ông Hoài Thanh - Hoài Chân đó mà... Họ ở Bắc cả. Hỏi thăm các chú hai ông này còn sống hay chết cả rồi?”. “Họ còn sống cả”. Tôi đáp bừa, vì từ thuở cha sinh mẹ đẻ tới giờ, những đứa học trò như tôi và thằng Cường có bao giờ được nhìn thấy mặt những ông nhà văn, nhà thơ nói gì tới “cỡ” Hoài Thanh - Hoài Chân. Vào những năm 1967 ở cái làng nhỏ Thắng Cựu, trọ học nơi sơ tán, đêm đêm chúng tôi mượn được cuốn “Thi nhân Việt Nam” bản in rônêô của một người bạn phải chép lén, viết trộm như một thằng ăn cắp làm việc phi pháp. Thằng Cường bảo với ông chủ tiệm sách: “Ông làm ơn bán cho tôi ba cuốn”. Tôi hỏi nó: “Mày mua làm gì mà nhiều vậy?”. Ông chủ tiệm sách lấy ghế, trèo lên nhấc ra mấy cuốn sách đã cũ. Tiện tay ông chủ tiệm sách còn lấy ra cả cuốn “Người xa lạ” của Anbe Camuy, “Đốc tờ Zivagô” của Bôrit Patécnăc...

   Cầm ba cuốn “Thi nhân Việt Nam” trên tay thằng Cường giải thích, như thể nó nói cho cả tôi và ông chủ tỉệm sách cùng nghe: “Một cuốn cho tôi. Một cuốn tôi sẽ tặng cho ông thầy giáo dạy văn của tôi, cả đời ông ta đi dạy chỉ ao ước có được một bản in rônêô đọc không rõ chữ. Còn một cuốn tôi sẽ tìm về Bá Thước Thanh Hóa, tặng cho ông bố của cậu Tống, một chiến sĩ trinh sát của trung đoàn tôi, đã hy sinh vào ngày sắp giải phóng Huế, khi đưa bộ đội về đánh Tứ Hạ. Ông bố cậu ta là một nhà sư phạm, chỉ vì yêu thơ tình Xuân Diệu, thơ tình Huy Cận, yêu “một thời đại trong thi ca” của hai ông nhà văn họ Hoài mà khổ cả một đời.”.

   Ông chủ nhà sách Ưng Hạ tròn mắt nhìn tôi và thằng Cường. “Một cuốn sách bình thường như ri mà lắm uẩn khúc đến vậy sao?”.

   Thằng Cường không trả lời ông chủ tiệm sách, trả tiền, lặng lẽ ôm chồng sách giấu vào trong cái túi đựng mìn claymo, kéo tôi bước nhanh ra ngoài đường. Chúng tôi thả bộ xuống thảm cỏ bờ sông. Chưa hút tàn điếu thuốc, cả hai thằng giật mình bởi một tiếng nổ lớn như trái bom tấn, theo phản xạ nằm úp mặt xuống cỏ. Từ phía bờ nam sông Hương, trong khuôn viên của trường Đại học Sư phạm, một cột khói cao, cùng với quầng lửa bốc lên trời. Mảnh đạn, gạch ngói bay rào rào văng qua sông tới tận chỗ chúng tôi đang nằm. Đống súng đạn, mìn các loại của lính sư đoàn 1, thủy quân lục chiến, biệt động quân vất lại trong lúc tháo chạy ra cửa biển Thuận An tấp thành đống ngay dưới chân lầu một của dãy nhà cao bốn tầng dùng làm phòng học hình chữ Y. Chẳng hiểu vì lý do gì khối đạn phát nổ. Dãy nhà bị sập một góc. Tôi và thằng Cường thoát chết! Hú hồn. Ngày tôi về học đại học, vẫn hay ra khu cầu thang đổ nát ấy ngồi học, đọc sách, cỏ dại mọc xanh rì quanh đám gạch vỡ, đất đá tấp cao như một cái gò nhỏ. Lấp ló trong đất, trong bụi cỏ vẫn còn những cát tút, vỏ đạn cối cá nhân sót lại.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM