Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 06 Tháng Mười Hai, 2019, 06:08:31 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những câu chuyện về Hà Nội 60 ngày đêm  (Đọc 85093 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
shmel
Thành viên
*
Bài viết: 186


Man in Iron Mask


« Trả lời #40 vào lúc: 26 Tháng Tám, 2010, 08:09:07 PM »

Trận tập kích tiêu diệt ổ chiến đấu của quân Pháp tại nhà dầu SHELL ngày 25/12/1946 của tiểu đoàn 523

Ngay từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc, Bộ chỉ huy Mặt trận Hà Nội và Liên khu III chủ trương tích cực đánh chặn các cuộc tiến công lấn chiếm của giặc Pháp và tập kích tiêu diệt một số ổ chiến đấu của địch nhằm tiêu diệt một phần lực lượng địch và làm chậm bước tiến của chúng, góp phần làm thất bại âm mưu đánh chiếm nhanh Thủ đô Hà Nội.
Tiểu đoàn 523 nhận nhiệm vụ tiêu diệt ổ chiến đấu của quân Pháp tại nhà dầu Shell ở đầu phố Khâm Thiên. Tiểu đoàn đã tập kích hai lần vào ổ chiến đấu này những đêm 19 và 23/12/1946 nhưng đều không đạt kết quả


Quân dân Hà Nội dựng chướng ngại vật chặn địch. Ảnh tư liệu.

Quân địch ở khu vực này gồm các ổ chiến đấu ở nhà dầu Shell, ở quán cơm Hoả xa, ở nhà chè Phú Xuân và ở ga Hàng Cỏ hình thành một cụm chiến đấu lấy ổ chiến đấu chính là nhà dầu Shell và ga Hàng Cỏ để án ngữ một phần quan trọng cửa ngõ phía Nam thành phố Hà Nội. Mỗi ổ chiến đấu có khoảng trên dưới một tiểu đội, trang bị 1-2 trung liên, riêng ở nhà dầu Shell và ga Hàng Cỏ có khi có một súng cối 60 ly.

Nhà dầu Shell là kho chứa dầu, có một nhà 5 gian một tầng, có nhiều bồn xăng 2-3 tấn và thùng xăng 200 lít, xung quanh chỉ có hàng rào cột bê tông 10 x 10cm với một hàng dây thép gai rất thưa, ở cổng phía Khâm Thiên có hai ụ súng máy do quân Nhật xây sau ngày 9/3/1945.

Quán cơm Hoả xa có 4 nhà 2 tầng xung quanh có tường cao khoảng 1,50m.

Rút kinh nghiệm hai trận tập kích trước, Tiểu đoàn trưởng An Giao và Đại đội trưởng Ngô Chuyền quyết tâm tập trung lực lượng tập kích lần thứ ba tiêu diệt ổ chiến đấu ở nhà dầu Shell và quán cơm Hoả xa.

Tiểu đoàn được Bộ chỉ huy Mặt trận tăng cường một pháo 37 ly có 6 viên đạn, một trọng liên 12,7 ly có 175 viên đạn lập thành đội trợ chiến tiểu đoàn.

- 2 trung đội Vệ quốc quân của Đại đội 27 (C27). Mỗi trung đội có một trung liên 24-29 viên đạn/khẩu. Mỗi tiểu đội có 6-7 súng trường các loại (khai hậu, Pháp, Nga, Nhật...), đạn có 20-25 viên/khẩu. Mỗi chiến sĩ có hai lựu đạn Phan Đình Phùng (do quân giới sản xuất).

- Đội quyết tử của Tiểu đoàn có 20 người trang bị chủ yếu mã tấu, lựu đạn.

- 2 trung đội tự vệ chiến đấu Liên khu III và công nhân Hoả xa trang bị mỗi tiểu đội 2-3 súng trường, còn mã tấu, lựu đạn.

- Đội trợ chiến có một pháo 37 ly, một trọng liên 12,7 ly.

Hướng tập kích chính: Nhà dầu Shell. Lực lượng gồm: Trung đội 50 + Trung đội 51 (thiếu một tiểu đội)/C27 + Đội quyết tử + Trung đội tự vệ chiến đấu Liên khu III và Đội trợ chiến. Có nhiệm vụ: 21 giờ ngày 24/12 xuất phát từ Ô Chợ Dừa luồn theo các lỗ đục tường dọc phố Khâm Thiên đến chợ chia làm 2 mũi:
 

+ Mũi một gồm Trung đội 50 + một tiểu đội quyết tử luồn qua chợ Khâm Thiên áp sát phía Nam nhà 5 gian làm nhiệm vụ chủ yếu tiêu diệt địch ở nhà 5 gian. Đội trợ chiến bố trí pháo 37 ly, trọng liên 12,7 ly ở phía hậu ngôi nhà có hàng rào trông sang nhà dầu Shell bắn áp chế 2 ụ súng và nhà 5 gian, chi viện cho mũi một.

+ Mũi hai gồm Trung đội 51 (thiếu một tiểu đội)/C27 + Trung đội tự vệ chiến đấu Liên khu III + một tiểu đội quyết tử men theo đường nhỏ giữa hai bờ ao áp sát phía Tây nhà 5 gian tiến công diệt địch, phối hợp với mũi một.

- Hướng tập kích thứ yếu: Quán cơm Hỏa xa. Lực lượng gồm: một tiểu đội Trung đội 51/C27 + Trung đội tự vệ chiến đấu công nhân Hỏa xa có quân khí viên tiểu đoàn Nguyễn Vũ Giáp đi theo. Đội hình này xuất phát trước 20 phút luồn theo các lỗ đục tường bên số chẵn phố Khâm Thiên đến đầu ngõ rẽ vào làng Linh Quang ra đường nhỏ sát tường sau nhà Ga qua lỗ đục tường dùng một tiểu đội tự vệ kiềm chế địch ở nhà Ga không cho chúng chi viện quán cơm Hỏa xa, và để 3 chiến sĩ tự vệ bố trí ở nhà Đề pô giữ đường về, còn 1 tiểu đội/trung đội 51/C27 + Trung đội tự vệ công nhân Hỏa xa (thiếu) chia làm 4 tổ tập kích tiêu diệt địch ở quán cơm Hỏa xa và phối hợp với hướng chính tập kích nhà dầu Shell, Sở chỉ huy Tiểu đoàn 523 và Đại đội 27 đặt tại nhà số 37 phố Khâm Thiên (gần ngã ba chợ Khâm Thiên).

Tiểu đoàn trưởng An Giao trực tiếp phổ biến kế hoạch tập kích và giao nhiệm vụ đến cán bộ tiểu đội của bộ đội và cán bộ trung đội của tự vệ chiến đấu.

Các phân đội tổ chức chiến đấu và hành quân chiếm lĩnh trận địa theo đúng kế hoạch.

Hướng chính: Nhà dầu Shell. Cả hai mũi sau khi bí mật áp sát hàng rào triển khai xong đội hình chiến đấu báo cáo về Sở chỉ huy Tiểu đoàn sẵn sàng nhận lệnh xung phong. 0giờ 30 ngày 25/12, Tiểu đoàn trưởng ra lệnh pháo 37 ly và trọng liên 12,7 ly bắn vào hai ụ súng và chế ngự sân nhà dầu Shell làm lệnh tiến công. Các trung liên và súng trường của 2 mũi đồng loạt nổ súng bắn vào nhà 5 gian. Ngay từ phút đầu ta đã diệt được một ụ súng của địch. Tiểu đội quyết tử do Tiểu đội trưởng Trần Đình Quyết chỉ huy là tiểu đội đột kích được lệnh xung phong nhưng bị địch bắn mạnh chặn đường tiến phải nằm lại. Pháo và trọng liên lại bắn tiêu diệt được ụ súng thứ hai tạo điều kiện cho các tiểu đội quyết tử nhanh chóng vượt qua hàng rào, băng qua sân, dẫn đầu hai mũi cùng tiến công nhà 5 gian. Lúc này bên quán cơm Hoả xa địch ở gác hai bắn sang sân nhà dầu Shell nhưng ngay sau đó súng máy ở xe thiết giáp bắn lên các cửa sổ nhà gác làm địch ở đây không bắn được sang nhà dầu Shell nữa. Bọn địch ở nhà 5 gian bị tiến công từ 2 hướng nên chống cự yếu ớt, nhanh chóng bị rối loạn, một số bị thương vong, còn một số tháo thân chạy theo đường xe lửa về phía nhà ga. Ta kiểm soát vị trí, thu được 1 súng trường, 1 các bin, một số đạn, lựu đạn. Sau 45 phút ta rút lui.

Hướng thứ yếu: Quán cơm Hỏa xa. Sau khi đã triển khai lực lượng kiềm chế địch ở nhà ga và giữ đường về ở nhà Đề pô cả 4 tổ bí mật áp sát tường sau 4 nhà hai tầng của quán cơm Hỏa xa đợi lệnh tiến công chung của tiểu đoàn. Khi pháo 37 ly và trọng liên 12,7 ly bắn ở nhà dầu Shell phát lệnh tiến công, cả 4 tổ đồng loạt bắn lên cửa sổ gác hai, ném lựu đạn vào sân và vượt tường đánh vào nhà được phân công. Một tổ có đồng chí Triệu, Trung đội trưởng tự vệ, chiến sĩ Quảng và quân khí viên Giáp đánh nhà số 2 phát hiện trên sân có một xe thiết giáp Halftrack liền ném lựu đạn lên thùng xe rồi nhảy lên xe thấy một tên lính da đen chết bên cạnh khẩu trọng liên 12,7 ly. Tổ nhanh chóng dùng trọng liên bắn lên các cửa sổ chi viện cho các tổ đánh chiếm 4 nhà rồi chuyển bắn 2 ụ súng bên nhà dầu Shell chi viện hướng chính. Đồng chí Giáp lần mò trong đêm tối khởi động được xe và cùng tổ lái xe ra ngã tư Khâm Thiên - Hàng Lọng. Từ phía nhà Ga có tiếng xe cơ giới địch đang tiến xuống ngã tư Khâm Thiên. Địch bắn có đạn vạch đường nên ta biết mục tiêu bắn trả lại. Đồng chí Triệu và Giáp thay nhau bắn hết 2 hòm đạn 12,7 ly. 10 phút sau không thấy địch bắn nữa và tiếng động cơ cơ giới nhỏ dần, các đồng chí đoán địch ở nhà Ga định tiếp viện cho nhà dầu Shell nhưng bị đánh mạnh nên phải rút lui. Các đồng chí lùi xe về nhà dầu Shell. Lúc này cả căn nhà dầu Shell và quán cơm Hoả xa đều đã im tiếng súng.

Tại quán cơm Hoả xa ta làm chủ trận địa, đã kiểm soát cả 4 nhà và đang chuẩn bị rút lui.

Khi nhận lệnh rút lui, các đồng chí Triệu và Giáp không tháo được khẩu trọng liên 12,7 ly phải dùng lựu đạn phá máy xe và phá ổ súng trọng liên, chỉ mang về được một hòm đạn 12,7 ly và một số lựu đạn.

Quân ta rút lui an toàn.

Sáng ngày 25/12/1946 địch phản ứng cho máy bay ném bom, bắn phá ngõ trại khách và khu nhà xung quanh.

- Trận đánh thắng lợi, quân địch thương vong khoảng 20 tên. Quân ta có 7 đồng chí bị thương. Ta đánh chiếm được 2 ổ chiến đấu, phá được một xe thiết giáp Halftrack, một trọng liên 12,7 ly và thu được một súng trường, một các bin, một số đạn, lựu đạn.

Đây là một trận tập kích có hiệu suất chiến đấu cao trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc ở mặt trận Thủ đô Hà Nội. Trận đánh thực hiện được mục đích tiêu diệt một bộ phận lực lượng địch, phá một phần âm mưu của địch, khống chế phía Nam thành phố.

Đây cũng là một trận đánh đầu tiên tập trung cấp đại đội do Tiểu đoàn trưởng và Đại đội trưởng trực tiếp chỉ huy, có trợ chiến của Bộ chỉ huy Mặt trận tăng cường, có phối hợp với tự vệ chiến đấu hiệp đồng chặt chẽ, phát huy được sức mạnh của cả bộ đội và tự vệ, của cả xung lực và hoả lực.

Trận đánh thể hiện tinh thần chiến đấu dũng cảm của bộ đội và tự vệ đã linh hoạt khi chiếm được xe thiết giáp liền sử dụng ngay để yểm trợ quân ta tiến công và đánh lui quân địch tiếp viện.

Tuy vậy kết quả của trận đánh còn bị hạn chế vì việc kiểm soát và thu dọn chiến trường để sót vũ khí, để địch chạy một số, đặc biệt là ta không có kế hoạch đốt kho xăng dầu nhà dầu Shell và đốt chiếc xe thiết giáp. Nếu ta đốt kho xăng dầu, một khối lửa lớn bốc cao cháy rực trời phía Nam Thủ đô thì hiệu quả chiến đấu và ảnh hưởng của trận đánh sẽ lớn hơn rất nhiều.

Trận đánh thắng lợi góp một phần cùng Liên khu III và Mặt trận Hà Nội thực hiện nhiệm vụ mà Hồ Chủ tịch, Trung ương Đảng, Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng chỉ huy giao cho Thủ đô Hà Nội là: tiêu diệt một bộ phận lực lượng địch; kìm chân địch một thời gian để cả nước chuyển sang thời chiến bảo toàn lực lượng ta để kháng chiến lâu dài; làm gương cho cả nước.

 
Nguồn tin: Theo Hà Nội - Bản hùng ca bất tử mùa đông 1946, Ban chấp hành Đảng bộ thành phố Hà Nội - Ban Tuyên giáo, NXB Thế giới, 2006, tr 206 -211.
Logged
shmel
Thành viên
*
Bài viết: 186


Man in Iron Mask


« Trả lời #41 vào lúc: 26 Tháng Tám, 2010, 08:11:14 PM »

Mấy điều nhớ lại về cuộc chiến đấu 60 ngày đêm

Chuẩn bị kháng chiến, tôi nhận được quyết định của Thành uỷ Hà Nội về làm Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch ủy ban bảo vệ Liên khu III Hà Nội.
Liên khu III nằm ở phía Tây Nam nội thành: Đông giáp Liên khu II lấy đường Hàng Lọng (nay là đường Lê Duẩn) làm giới tuyến, Bắc giáp Liên khu I, đường giới tuyến đi từ phố Cửa Nam, qua phía Bắc các phố Nguyễn Thái Học, Kim Mã, Ngọc Khánh ngày nay; Tây Nam giáp khu Đống Đa ngoại thành. Đường Hàng Bột (nay là phố Tôn Đức Thắng) chạy từ Văn Miếu, gặp phố Khâm Thiên, đường La Thành ở Ô Chợ Dừa rồi chạy ra Ngã Tư Sở - Hà Đông, là đường huyết mạch nối liền Liên khu III một bên với Liên khu I và một bên với khu an toàn của Hà Nội và của Trung ương. Đặc biệt khu vực đầu Hàng Bột trên, Văn Miếu là nơi kế cận với Cửa Nam và cửa Tây Thành Hà Nội, thường là nơi xuất phát của các lực lượng địch tiến công ra các cửa ô và ra ngoại thành


Tướng Vương Thừa Vũ, tại lễ mừng chiến thắng của trung đoàn Thủ đô. Ảnh tư liệu

Liên khu III gồm các khu Văn Miếu, Thăng Long khu Hỏa Xa. Lực lượng vũ trang hoạt động ở Liên khu III gồm tiểu đoàn 523 tiểu đoàn trưởng là đồng chí An Giao, ủy viên Uỷ ban kháng chiến Liên khu, tiểu đoàn 56 - tiểu đoàn trưởng Anh Đệ, một phân đội tự vệ chiến đấu Hoàng Diệu, một đội Công binh của Thành, các đội tự vệ công nhân Hoả Xa, các đơn vị tự vệ phố Hàng Bột, phố Khâm Thiên, phố Kim Mã, phố Sơn Tây, dân quân các xã Hào Nam, khu Văn Chương, Giảng Võ.

Các đoàn thể quần chúng của Mặt trận Việt minh Liên. Khu III gồm Công nhân cứu quốc, Việt Nam cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Thanh niên cứa quốc, Nông dân cứu quốc, Cựu binh sĩ cứu quốc.

Đảng uỷ Liên khu III gồm các đồng chí Đỗ Trình, Bí thư, kiêm Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến (với bí danh Lê Minh Trầm), đồng chí Minh Quang (nữ), Phó Bí thư và các uỷ viên Nguyễn Kỷ, Hà Đăng Ấn.

Vào giữa tháng 12/1946, tình hình chính trị quân sự ở Hà Nội diễn ra rất khẩn trương. Tối 18/12 tướng Mooc-li-e của Pháp đã gửi tối hậu thư cho Chính phủ ta. Chúng định sáng 20/12/1946 sẽ tiến hành cuộc đảo chính quân sự, bắt Chính phủ ta, tiêu diệt lực lượng ta, đánh chiếm Thủ đô Hà Nội trong vòng 24 tiếng đồng hồ. Theo quyết định của Trung ương Đảng, quân dân ta buộc phải đánh trả để tự vệ nhằm kìm chân quân Pháp ở Hà Nội càng lâu càng tốt, tạo điều kiện cho cá nước chuyển sang kháng chiến.

Tôi bàn thống nhất với anh An Giao: để tiện việc phối hợp giữa lực lượng tiểu đoàn với lực lượng tự vệ và các đoàn thể quần chúng, với khả năng huy động, động viên của Uỷ ban kháng chiến Liên khu. Tôi chuyển đến sinh hoạt và công tác ở ngay Sở chỉ huy tiểu đoàn 525 ngay từ lúc sắp nổ súng. Hàng ngày chúng tôi giao ban chung. Sau khi nghe báo cáo tình hình các mặt, anh An Giao giao chỉ thị các vấn đề chiến đấu và chuẩn bị chiến đấu; tôi giải quyết các vấn đề về điều động lực lượng tự vệ và các đoàn thể quần chúng, huy động vật tư cần thiết và có thể trong dân (gỗ tấm, xi măng; phuy xăng) để bảo đảm cho chiến đấu.

Mấy ngày đầu kháng chiến, toàn Liên khu kiên cường tiến công địch.

Quân dân Liên khu III - Đống Đa đã cùng với quân dân Liên khu I, Liên khu II, quân dân các quận ngoại thành hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Đảng và Chính phủ giao cho, kìm chân giặc Pháp ở Thủ đô trong 60 ngày đêm, bảo toàn được lực lượng mình, đập tan mưu đồ chiến lược của chúng. Cuộc chiến đấu 60 ngày đêm của các Liên khu ở Hà Nội từ 20 giờ 3 phút đêm 19 tháng 12 năm 1946 đến 24 giờ ngày 17 tháng 2 năm 1947, được chia làm 5 đợt.

Đợt l: từ l9/12/1936 đến khoảng 24/12/1936, các liên khu tích cực tiến công địch, đập tan âm mưu đảo chính của quân Pháp.

Ở Liên khu III ngay sau khi đèn điện thành phố tắt vào 20 giờ 3 phút, trong lúc pháo binh ta ở pháo đài Láng, Xuân Tảo đang bắn vào thành Hà Nội thì một đơn vị của tiểu đoàn 523 phối hợp với tự vệ khu Văn Miếu đã tiến công nhà Deléveaux nay là nhà số 9 phố  Cát Linh, một ổ chiến đấu tiền tiêu của Pháp khống chế đường Hàng Bột. Quân ta đã tiêu diệt một bộ phận địch thì chiều 20/12 số địch còn lại lên xe chạy thoát. Vì xe có cắm cờ hồng thập tự nên các chiến sĩ ta không kịp bắn.

Trong đêm 19/12/1946, một số phân đội của tiểu đoàn 523 phối hợp với tự vệ phố Hàng Bột đã tiến công vào nhiều ổ chiến đấu ở khu nhà hạ sĩ quan Pháp ở khu vực Hàng Bột. Ta bắt được nhiều tù binh. Cũng trong đêm 19/12/1946, một phân đội của tiểu đoàn 56 phối hợp với các phân đội của tiểu đoàn 145 thuộc Liên khu I và tự vệ Ngọc Hà đã tiến công đánh chiếm nhà máy bia Ô-men (tức nhà máy bia Hà Nội ngày nay) diệt tiểu đội quân Pháp canh gác ở đây.

Đồng thời với việc đánh địch, các lực lượng tự vệ và đoàn viên các đoàn thể Việt minh cùng đông đảo nhân dân các khu phố đã khẩn trương tham gia hoàn chỉnh việc chuẩn bị chiến trường đánh địch. Việc đầu tiên là tăng cường hoàn chỉnh hai ba-ri-cát đầu phố Khâm Thiên và Hàng Bột. Ba-ri-cát Khâm Thiên đã chắn ngang đường phố Khâm Thiên từ trước ngày 19/12/1946 nay được tăng cường bằng gỗ, đất và tà vẹt. Ba-ri-cát đầu Hàng Bột được đắp một nửa từ trước 19/12 để xe ô tô của ta có thể chạy qua khi các cơ quan chính phủ rút khỏi nội thành nay được đắp thêm, hoàn toàn chắn ngang đường. Dọc hai phố Khâm Thiên và Hàng Bột, tự vệ và nhân dân đục tường từ nhà nọ thông sang nhà kia. Bàn, ghế, sập, tủ, thường được xếp trên mặt đường làm chướng ngại vật. Nồi niêu, xoảng chảo, xô chậu, rổ rá được úp xuống mặt đường để nghi binh làm mìn. Đồng chí Hà Đăng Ấn chỉ huy công nhân Hỏa Xa đã điều động 5 toa tầu hàng chở đầy đá có đầu máy đẩy lên phía bắc, cắt từng toa chắn ngang đường ở ba-rie Sinh Từ, chợ Cửa Nam, đường Nguyễn Thái Học, Điện Biên Phủ, Trần Phú ngày nay, đánh trật bánh xe, tạo nên những vật chướng ngại khó khắc phục. Trong khu Văn Miếu, trên đường Hàng Bột, một số cây to và cột điện đã được ngả xuống đường để chặn xe cơ giới của địch. Một số toa xe điện được lật đổ, chắn con đường từ. Ô Chợ Dừa đi ra Thái Hà Ấp.

Các đội tuyên truyền ban đêm đi giải thích cho dân chủ trương toàn quốc kháng chiến, phổ biến lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch. Đoàn thể phụ nữ tổ chức nhiều nhóm các chị đi tiếp tế cho bộ đội ở những nơi đang chiến đấu.

Đêm 24 rạng 25/1/1947 một đơn vị của tiểu đoàn 523 được tăng cường pháo 37 ly và trọng liên 12,7 phối hợp với tự vệ Hỏa Xa, đã tiến công khu nhà dầu Shell và nhà Ga. Quân ta đã chiếm xe thiết giáp của địch bắn vào các mục tiêu của chúng.

Đợt 2: Từ 30/12/1946 đến 6/1/1943, Liên khu III chặn đánh địch nống ra các cửa ô, trong lúc Liên khu I trụ bám trong lòng địch.

Từ 5 giờ sáng ngày 30/12, địch tiến hành hỏa lực chuẩn bị rất lâu bằng pháo binh và không quân. Tôi và đồng chí Anh Giao vào hầm chỉ huy xây trong Đê La Thành. Tôi châm một ngọn đèn Hoa Kỳ, ngồi đọc báo cáo. Bỗng chốc, ngọn đèn phụt tắt. Tai tôi không nghe tiếng nổ nhưng mũi sặc sụa mùi xi măng và vôi. Sở chỉ huy đã trúng bom. Tôi ngất đi. Một lúc sau, không biết đã qua bao nhiêu phút, tôi tỉnh lại. Việc đầu tiên là bước ra cửa Sở chỉ huy hô to:

“Anh An Giao đâu? Có việc gì không”. Đồng chí An Giao bước ra cửa hầm, trả lời “Tôi đây!”.

Bộ quân phục của anh rách bươm do sức thổi của bom. Anh hỏi qua sức khỏe, dẫn tôi vào hầm chỉ huy của anh ở bên cạnh, giăng bản đồ và thuyết minh: “Sau hỏa lực chuẩn bị quân Pháp triển khai 300 lính bộ binh có 4 xe tăng và 2 xe thiết giáp mở đường tiến vào Hàng Bột. Đại đội 29 và trung đội tự vệ Hàng Bột dựa vào chiến lũy, công sự và các chướng ngại vật dùng súng trường, lựu đạn và dao, kiếm chặn đánh địch. Địch dùng xe ủi phá ba-ri-cát, quân ta kiên quyết đánh chặn, địch không qua được. Chúng cho bộ phận khác có xe tăng dẫn đầu từ nhà Tiền (phố Nguyễn Thái Học) tiến xuống xóm Thịnh Hào ở phía tây Hàng Bột. Trung đội dân quân Thịnh Hào không chặn được địch, chúng tiến ra Hàng Bột, cùng cánh quân Hàng Bột đánh xuống Ô Chợ Dừa.

Trên hướng Khâm Thiên, đại đội tự vệ công nhân đường sắt được các đoàn thể cứu quốc tiếp tế, động viên, đưa vào chiến lũy và công sự, kiên cường chặn địch. Quân Pháp không qua được ba-ri-cát đầu phố Khâm Thiên. Chúng cho một bộ phận từ Sinh Từ, tiến qua xóm Văn Chương xuống cắt ngang đường Khâm Thiên, rồi tiến xuống Ô Chợ Dừa. Chúng bị chặn lại trước Ô Chợ Dừa.

Tôi bàn với anh An Giao kiên quyết chặn địch ở Ô Chợ Dừa. Anh An Giao ra lệnh cho các đại đội, tôi chỉ thị cho các đầu mối tự vệ và các đoàn thể cứu quốc nắm vững ý định đó.

Sau khi anh An Giao trình bày tình hình và trao đổi ý kiến xong, thì tôi phát hiện các đường dây điện thoại của Thành ủy và Bộ chỉ huy khu XI  đã bị bom phá. Tiểu đoàn anh An Giao không ai biết địa điểm của Thành ủy. Tôi bàn với anh An giao, phải tranh thủ trực tiếp về Thành báo cáo. Lúc bấy giờ đã 11 giờ trưa. Tôi đi theo đường cái ra Ngã Tư Sở, rồi rẽ vào khu an toàn của Thành ủy, gặp anh Trần Quốc Hoàn, Xứ ủy viên phụ trách chỉ đạo Hà Nội. Tôi báo cáo anh Hoàn tình hình chiến sự. Anh Hoàn đồng ý kiến quyết chặn địch ở Ô Chợ Dừa; sớm chuyển Sở chỉ huy Liên khu III về Thái Hà Ấp đồng thời bàn với bên bộ đội sớm lập một tuyến ngăn chặn giữa Thái Hà Ấp và Ô Chợ Dừa. Tiếp thu ý kiến chỉ đạo của anh Hoàn, tôi mượn máy của Thành ủy gọi sang khu XI, báo cáo tình hình với anh Vương Thừa Vũ.

Khi tôi xong việc trở về tiểu đoàn bộ 523 ở nhà máy tóc (gần Ô Chợ Dừa) thì đã 4 giờ chiều. Các hướng địch tiến công vào Ô Chợ Dừa đều đã bị ta chặn lại.

Trong thời gian này, tiểu đoàn 56 của anh Anh Đệ cũng vừa hành quân đến Liên khu III. Tôi bàn với anh An Giao và anh Anh Đệ, tiểu đoàn 56 cho một đại đội chặn địch, bảo vệ Ô Chợ Dừa. Đại đội 29 của tiểu đoàn 523 đang bảo vệ Ô Chợ Dừa chuyển về phía nam, cùng tự vệ Liên khu lập tuyến ngăn chặn mới giữa Ô Chợ Dừa và Thái Hà Ấp. Sở chỉ huy của ủy ban Kháng chiến Liên khu III và của tiểu đoàn 523 chuyển về Thái Hà Ấp.
Logged
shmel
Thành viên
*
Bài viết: 186


Man in Iron Mask


« Trả lời #42 vào lúc: 26 Tháng Tám, 2010, 08:11:37 PM »

Ngày 6/1/1947, Pháp huy động gần 1000 quân, 37 xe tăng, 10 xe bọc thép, xe ủi đất cùng pháo binh, máy bay yểm trợ đánh ra Ô Chợ Dừa, Giảng Võ.

Trên hướng Giảng Võ - Đê La Thành, quân địch chia làm hai cánh. Cánh thứ nhất theo đường Hàng Bột, làng Hào Nam dọc theo Đê La Thành có xe tăng dẫn đầu đánh vào trận địa trung đội 1, đại đội 2, tiểu đoàn 56. Cánh quân thứ hai từ nhà Tiền (phố Nguyễn Thái Học), nhà Năm Diệm (phố Cát Linh) tiến dọc đường Giảng Võ, có xe tăng yểm trợ, chia làm 2 mũi: một mũi triển khai tiến công vào làng Giảng Võ, một mũi tiến thẳng xuống ngã tư hợp vây với cánh quân thứ nhất.

Tiểu đoàn 56 và tự vệ các làng Giảng Võ, Hoàng Cầu, tiểu đội nữ cứu thương của Liên khu III đã phá được cuộc tiến công của địch đánh ra Ô Chợ Dừa, Giảng Võ. Quân địch bị thương vong khoảng một đại đội, để lại 30 xác chết, 1 xe tăng và 1 xe ủi đất bị phá. Ta đã buộc địch phải ngừng cuộc tiến công ra các cửa Ô trên hướng Liên khu III. Cuộc chặn đánh địch ở Giảng Võ và Ô Chợ Dừa là những trận đánh phòng ngự cấp đại đội rất kiên cường, nổi bật trong 60 ngày đêm chiến đấu ở Thủ đô. Cán bộ và chiến sĩ đã nêu cao tinh thần quyết tử, chiến đấu cực kỳ anh dũng và mưu trí, phối hợp mật thiết chiến đấu của bộ đội, của tự vệ, của tổ chức chính quyền và của các đoàn thể cứu quốc.

Đầu tháng 1 năm 1947, căn cứ tình hình diễn biến cuộc kháng chiến ở Thủ đô, ủy ban Kháng chiến Hà Nội quyết định sáp nhập khu Đống Đa với Liên khu III để tiện việc lãnh đạo và chỉ huy tác chiến trên một trục đường từ Ô Chợ Dừa đến Ngã Tư Sở, tôi vẫn tiếp tục làm Bí thư liên khu ủy kiêm Chủ tịch ủy ban Kháng chiến Liên khu III - Đống Đa.

Đợt 3: Từ 7/1/1947 đến 25/1/1947, đánh địch tiến công ra ngoại thành.

Ngày 13/1/1947, đại diện chính quyền ta và Pháp với sự có mặt của các lãnh sự Mỹ, Anh, Trung Hoa, đã gặp nhau ở Ô Chợ Dừa. Hai bên thỏa thuận sẽ ngừng bắn ngày 15/1 để dân ta cùng Hoa kiểu, ấn kiều tản cư ra khỏi Liên khu I.

Vi phạm thỏa thuận đó, ngày l5/11/9437, lợi dụng lúc ta ngừng bắn, Pháp huy động trên 1000 quân cùng khoảng 150 xe cơ giới các loại tiến công về phía nam Hà Nội với âm mưu tiêu diệt chủ lực của ta, mở rộng phạm vi chiếm đóng.

Quân dân Liên khu II kiên cường ngăn chặn địch ở ngã tư Trung Hiền, Ô Cầu Dền, nhà thương Vọng. Một toán quân địch đánh vào phía đông trường bay Bạch Mai phối hợp với toán quân từ phía tây nhà thương Vọng tạt xuống. Hai trung đội thuộc đại đội 29 tiểu đoàn 523 chặn địch từng bước, tới Khương Trung giặc Pháp bị ta bắn chết hơn 20 tên. Chúng phải lui về trường bay Bạch Mai.

Quân dân Liên khu III - Đống Đa (cũng như Liên khu II) đã kiên quyết đánh chặn những toán, những cánh quân địch tiến công ra ngoại thành. Mặt khác, theo lệnh của ủy ban Kháng chiến và Bộ chỉ huy khu XI, các đơn vị bộ đội và tự vệ dân quân cử những nhóm, những tổ còn sung sức vòng về sau lưng địch, ban đêm tập kích vào những nơi sơ hở của chúng. Ngay trong đêm 15/1, Bộ chỉ huy mặt trận ra lệnh cho các tiểu đoàn 523,56 và các tiểu đoàn thuộc Liên khu III dùng những bộ phận ban ngày chưa phải chiến đấu tiến công ở Ô Chợ Dừa, ga Hàng Cỏ, Ô Cầu Dền v.v. . . Ban đêm, trên các mặt trận Hà Nội, tiếng súng lại nổ ran. Các chiến sĩ bí mật bò, lọt vào giữa vị trí giặc ném lựu đạn, tẩm ét-xăng vào chăn đốt cháy vị trí giặc rồi rút lui. Ở nội ngoại thành, cờ đỏ sao vàng bay phấp phới trên nóc nhà một số vị trí của địch, trên ngọn tre, ụ đất, chướng ngại vật... Các đội tuyên truyền xung phong ban đêm ca hát sát vị trí địch, kêu gọi lính Âu - Phi, lính Pháp phản chiến, đòi hồi hương. . . Cả Hà Nội sôi sục chiến đấu, nhất là trong dịp chào mừng một tháng toàn quốc kháng chiến. Sau ngày 15 tháng 1 năm 1947, địch huy động lực lượng lớn đánh về phía nam thành phố. Trên các hướng tiến công địch đều bị chặn lại. Nhưng do ưu thế về quân số và trang bị quân Pháp đã chiếm được các vị trí quan trọng án ngữ các trục đường giao thông chủ yếu ra vào thành phố là Vinh Tuy, ngã tư Trung Hiền, Ngã Tư Sở, Ô Cầu Giấy, Chợ Bưởi, Ô Yên Phụ.

Như vậy tính từ 30 tháng 12 năm 1946 đến 25 tháng 1 năm 1947, quân dân Liên khu II và III đã chống lại 8 cuộc tiến công của địch, đánh mấy chục trận, tiêu diệt hàng ngàn tên và điều quan trọng là làm chậm bước tiến của địch. Từ giữa thành phố đến vành đai ngoại thành, đường dài khoảng 5km, địch phải đi mất 27 ngày, bình quân mỗi ngày chúng chỉ tiến được không đến 200 mét.

Đợt 4: Từ 6/2/1947 đánh địch tiến công Liên khu I.

Sau khi nhận được quân tăng viện từ ngày 6/2/1947, địch tập trung lực lượng đánh Liên khu I, với quyết tâm tiêu diệt Trung đoàn Thủ đô. Quân dân Liên khu I đánh trả quyết liệt, đẩy lùi nhiều đợt tiến công, gây cho địch thương vong lớn.

Ở vành đai ngoại thành, giặc Pháp củng cố các vị trí mới đóng, cho từng tốp nhỏ thọc ra ngoài thăm dò các làng mạc xung quanh vị trí chiếm đóng. Đầu tháng 2 năm 1947, Sở chỉ hủy của ủy ban Kháng chiến Liên khu III - Đống Đa và của tiểu đoàn 523 chuyển về làng Nhân Mục.

Để phối hợp với Liên khu I, quân dân Liên khu III - Đống Đa một mặt tiến công các vị trí địch đóng ở vành vai, chặn đánh các tốp địch thọc ra ngoài, mặt khác tích cực tiến công sâu vào các điểm quan trọng của địch bố trí gần Liên khu I, tiếp tục cùng quân dân Liên khu I giữ vững thế trận “nội công, ngoại kích”.

Bộ chỉ huy mặt trận Hà Nội ra lệnh cho các đồng chí chỉ huy bộ đội ở Liên khu III - Đống Đa điều động các đơn vị tiến công vào Hàng Bột, Ô Cầu Giấy, Kim Mã. Đồng thời ra lệnh cho các lực lượng ở ngoại thành tiếp tục hoạt động mạnh, phục kích, tập kích, quấy rối, nghi binh. Quân dân Liên khu III - Đống Đa đã nghiêm chỉnh thi hành lệnh đó.

Các hoạt động của quân dân Liên khu III - Đống Đa cùng với Liên khu II đã có tác dụng chia lửa với Liên khu I, ngăn chặn, kìm chân lực lượng địch đánh ra ngoại thành, kéo dài thời gian kháng chiến và không cho chúng sớm điều động lực lượng này để quay về tiến công Liên khu I.

Đợt 5: Từ 15/2/1947/ đến l7/2/1947, tích cực đánh địch ở vòng ngoài để phối hợp, khi Trung đoàn Thủ đô rút khỏi Liên khu I.

Sáng l5/2/1947, Hồ Chủ tịch, Ban Thường vụ Trung ương Đảng phê chuẩn đề nghị của Bộ Tổng chỉ huy cho rút Trung đoàn Thủ đô ra khỏi Liên khu I. Bác Hồ khen ngợi: “Các chú giam chân địch một tháng là thắng lợi. Đến nay giữ Hà Nội được hai tháng là đại thắng lợi”.

Bộ chỉ huy mặt trận ra lệnh cho quân ta tiếp tục nổ súng trên toàn mặt trận, chú trọng đánh mạnh ở vòng ngoài, thực hiện thu hút lực lượng của địch ra các mặt trận bên ngoài để tạo điều kiện thuận lợi cho Trung đoàn Thủ đô rời khỏi Liên khu I về căn cứ.

Đêm 15/2 các đơn vị Liên khu III - Đống Đa đánh vào Hàng Bột, Cầu Giấy, Kim Mã, trong lúc Liên khu II đánh Ô Cầu Dền. Các đơn vị vận dụng cách đánh tập kích, biệt kích, quấy rối, nghi binh. Đêm 16/2 các đơn vị lại tiếp tục nổ súng ở Liên khu I cũng như trên toàn ngoại thành. Đêm 17/2 nhiều tốp nhỏ bộ đội, tự vệ, dân quân Liên khu III - Đống Đa áp sát các vị trí của Pháp hoạt động quấy rối.

20 giờ tối 17/2/1947, theo kế hoạch, Trung đoàn Thủ đô bắt đầu bí mật rút quân. Đến 24 giờ, bộ phận cuối cùng rút khỏi Liên khu I. Khoảng 11 giờ đêm ngày 18/2, tuyệt đại bộ phận của Trung đoàn sang tới Dâu Canh.

Các hoạt động chiến đấu của Liên khu III - Đống Đa, cũng như của Liên khu II có tác dụng nghi binh, thu hút sự chú ý của địch, phục vụ cho việc Trung đoàn Thủ đô rút khỏi Liên khu I được bí mật, an toàn.

Sau khi Trung đoàn Thủ đô rút khỏi Liên khu I, quân dân Liên khu III - Đống Đa (về sau đổi thành quận V của Hà Nội) vẫn tiếp tục chiến đấu hết sức anh dũng, đánh địch tiến công ta trên đất chiến khu II, lập nhiều chiến công, điển hình là trận đánh địch ở Cự Đà, Khúc Thuỷ ngày 27/2/1947.

Tháng 2 năm 1947, tôi được điều đi công tác ở chiến trường Bắc Giang, Bấc Ninh. Trong hoàn cảnh mới, các tổ chức kháng chiến được kiện toàn thêm: Đảng uỷ quận V được thành lập, Bí thư Đảng uỷ lúc đầu là đồng chí Minh Quang, sau là đồng chí Nguyễn Kỷ. Quận uỷ viên là các đồng chí Hồ Trúc, Hà Đăng ấn. Trong Hội nghị toàn Đảng bộ tháng 4/1947, đồng chí Hồ Trúc được cử làm Bí thư Quận ủy, Uỷ ban Kháng chiến quận do đồng chí Hà Đăng Ấn làm Chủ tịch.

Như vậy, quân dân Liên khu III - Đống Đa, sát cánh với Liên khu II và các quận ngoại thành đã phối hợp chặt chẽ với quân dân Liên khu 1, làm tròn nhiệm vụ Hồ Chủ tịch, Trung ương Đảng và Khu uỷ XI giao cho, góp phần phát huy sức mạnh tổng hợp của quân dân cả Thủ đô, kiên cường đánh địch, kìm chân chúng trong nửa tháng, rồi trong một tháng, rồi trong 60 ngày đêm, góp phần tích cực bảo đảm cho cả nước chuyển vào kháng chiến.

Ta gây cho địch tổn thất đáng kể về người và trang bị kỹ thuật. Đồng thời lại bảo toàn và phát triển lực lượng ta.

Qua chiến đấu ác liệt dài ngày, quân và dân Liên khu III Đống Đa - Quận V đều được thử thách, dày dạn, ngày càng vững vàng, sẵn sàng bước vào cuộc chiến đấu mới với khí thế mới. Đảng viên, cán bộ, đoàn viên các đoàn thể cứu quốc đều được rèn luyện, sẵn sàng đám nhiệm những công việc nặng nề hơn. Tổ chức lực lượng vũ trang phát triển mạnh. Ban chỉ huy quận đội Quận V được thành lập do đồng chí Lê Thanh làm Quận đội trưởng, đồng chí Hồ Trúc làm Chính trị viên. Các đơn vị vũ trang tập trung của Quận được xây dựng gồm 2 đại đội, đội nữ du kích và trường huấn luyện. Đại đội 2 do đồng chí Ngọc làm Đại đội trưởng, đồng chí Phương làm Chính trị viên. Đại đội 3 do đồng chí Bùi Vãn Phi (Vũ Tiến) làm Đại đội trưởng. Đội nữ du kích do đồng chí Nguyễn Kim Thoa làm Đội trưởng kiêm Chính trị viên. Trường huấn luyện đo đồng chí Lam Sơn làm Giám đốc.

Các đơn vị bộ đội đều trưởng thành: Sau 60 ngày đêm, tiểu đoàn 523 cùng với tiểu đoàn 145 và một tiểu đoàn khác của Hà Nội được tập hợp lại thành Trung đoàn 80 (Trung đoàn Thăng Long), trung đoàn này về sau được chấn chỉnh thành Trung đoàn 48, Trung đoàn chủ công của đại đoàn 320. Tiểu đoàn 56 trở thành cốt cán để xây dựng Trung đoàn 35 có nhiệm vụ đánh địch trên đường số 6 Hà Đông - Hoà Bình.

Liên khu I đánh địch từ trong ra, từ nơi quan trọng nhất của Thủ đô, vượt qua những cuộc chiến đấu ác liệt nhất do mật độ cao của quân số và bom đạn địch. Quân dân Liên khu III - Đống Đa đánh địch từ ngoài vào, phối hợp chặt chẽ với quân dân Liên khu I đã kiên cường chiến đấu, với tinh thần quyết tử để Tổ quốc quyết sinh, góp phần xứng đáng vào “đại thắng lợi” của quân dân Thủ đô Hà Nội.

 
Nguồn tin: Theo Hà Nội - Bản hùng ca bất tử mùa đông 1946, Ban chấp hành Đảng bộ thành phố Hà Nội - Ban Tuyên giáo, NXB Thế giới, 2006, tr 193 -205.
Logged
shmel
Thành viên
*
Bài viết: 186


Man in Iron Mask


« Trả lời #43 vào lúc: 26 Tháng Tám, 2010, 08:12:52 PM »

Ngày giỗ trận ở làng “Tứ Tổng


Nhiều người đã biết về cuộc chiến đấu anh dũng của Trung đoàn Thủ đô trong những ngày đầu kháng chiến chống Pháp ở Liên khu I Hà Nội (nay là quận Hoàn Kiếm). Sau hai tháng kiên cường bám trụ, Trung đoàn “Quyết tử để tổ Quốc quyết sinh” của đất ngàn năm văn hiến ấy bị địch vây chặt và đứng trước nguy cơ bị tiêu diệt sạch hoặc phải đầu hàng. Thế nhưng, vào một đêm mưa phùn gió bấc tháng 2/1947, Trung đoàn Thủ đô đã “biến mất” khỏi Hà Nội để sau đó tập kết an toàn với đầy đủ vũ khí tại vùng tự do tỉnh Phúc Yên (nay thuộc tỉnh Vĩnh Phú).


Chuyến đò cuối cùng chở chiến sĩ quyết tử Thủ đô qua sông Hồng sáng sớm ngày 18 tháng 2 năm 1947. Ảnh tư liệu

Cuộc vượt vòng vây “như thần thoại” của Trung đoàn Thủ đô đã được báo chí nói đến nhiều, song ít ai biết rằng chiến tích phi thường đó lại gắn liền với ngày “giỗ trận” của nhân dân làng Tứ Tổng ven bờ sông Hồng (nay là xã Tứ Liên, huyện Từ Liêm, Hà Nội). Chính đơn vị tự vệ và những người chèo đò của làng ngoại ô này đã chịu hy sinh mất mát to lớn, góp phần quyết định cho cả một đoàn quân quyết tử gồm hơn 1200 người ra khỏi vòng vây của quân thù. Và đã 60 năm qua, cứ đến ngày 19/2 dương lịch, hàng chục gia đình ở Tứ Tổng cùng nhân dân cả xã làm “giỗ trận” để tưởng niệm các liệt sĩ thân yêu.

Trước ngày “giỗ trận” của làng Tứ Tổng năm 1990, chúng tôi may mắn được gặp lại cụ Phạm Duy Thám, người chỉ huy trung đội tự vệ Tứ Tổng năm xưa. Cụ Thám đã ngoài 70, mắt kém nhưng trí óc còn minh mẫn, nhớ được nhiều việc cụ thể. Cụ Thám kể rằng: Dân làng Tứ Tổng ở ven bờ sông Hồng và bãi giữa, làm nghề trồng dâu nuôi tằm, xẻ gỗ đóng thuyền, buôn bán chạy chợ… Ngày đầu kháng chiến chống Pháp, bà con đi tản cư gần hết, trung đội tự vệ ở lại bám đất, bám làng giữ lấy cái bàn đạp cho du kích Hồng Hà đêm đêm vượt qua tuyến canh gác của địch vào nội thành liên lạc, tiếp tế. Rồi đến ngày 17/2/1947, chúng tôi được lệnh đem hết thuyền sang sông đón bộ đội. Lệnh đến lúc 7 giờ tối, bí mật nên không bàn bạc gì cả. Vả lại chúng tôi đã có tác phong  “quân lệnh như sơn”, trên bảo sao là làm vậy, làm ngay. Lúc đó chỉ có hai chiếc thuyền, chúng tôi cho nhổ sào đi luôn. Cập bến mới biết Trung đoàn Thủ đô đang rút ra đông lắm. Ôi, ruột gan chúng tôi như có lửa đốt vì nơi bộ đội chờ thuyền là đất làng Tứ Tổng ven đê đã bị địch khống chế bởi các bốt gác tại đình Nội, cách đó có 400 mét. Chúng tôi vội vã quay sang bãi giữa  vào nhà dân mượn thuyền, chọn những cái thật tốt, được cái nào huy động sang sông ngay cái ấy. Tới nửa đêm thì đoàn thuyền đã tập hợp được 44 chiếc đưa bộ đội vượt sông nhanh hơn. Trời tối như bưng thuyền sang thuyền về dễ va vào nhau, sông rộng bảy tám trăm mét, nước xiết giữa dòng, lại không dám thắp đèn hiệu, phải căng mắt ra mà nhận biết nơi cập bến. Được cái dân bãi giữa chúng tôi quen sông nước, chèo lái rất thạo nên công việc khá trót lọt, chỉ có một lần thuyền rời bến rồi phải vội quay trở lại vì bộ đội xuống quá nhiều đứng ngồi lố nhố làm thuyền bị lệch, tròng trành, nước tràn vào suýt đắm. Phải kéo thuyền lên bờ dốc hết nước rồi mới tiếp tục chở qua sông. Phúc đức quá, lúc trời sáng bạch thì bộ đội đã qua sông hết, chẳng xảy ra sự cố gì.

… Chúng tôi bồi hồi nhớ lại cái đêm hôm ấy và cứ thấy rợn người khi nghĩ đến những từ “nếu” bất ngờ. Nếu như đêm ấy tự vệ làng Tứ Tổng không nhanh chóng huy động được nhiều thuyền, nếu những người dân chèo đò không cố gắng, dũng cảm gánh vác trách nhiệm, không thành thạo chèo lái, nếu như … Biết bao tình huống có thể xảy ra xung quanh chiến tích “thần kỳ” đó của Trung đoàn Thủ đô. Cụ Phạm Duy Thám kể tiếp: Có một sự cố không lường được khiến chúng tôi hoảng hồn. Chả là chuyến đò cuối cùng chở ba anh bộ đội lúc gần 8 giờ sáng ngày 18/2/1947, tưởng rằng đã tuyệt đối an toàn, ba đồng chí ấy phấn khởi quá nổi máu “tếu” đốt luôn một bánh pháo mừng “thắng lợi”. Pháo nổ vang cả một khúc sông. Các “bố” ơi đâu mà đã an toàn. Mới sang bãi giữa, “hòn đảo” giữa sông Hồng, còn phải vượt qua một khúc sông rộng nữa kia. Lộ ra thì địch chỉ cần đưa ca nô, tàu chiến lên chặn đánh là “đi tong” ngay. Ba anh chàng vô kỷ luật liền bị tước vũ khí và tạm giữ, nhưng có lẽ địch vô tình nên không biết mô tê gì. Ba anh chàng “tếu” bị cấp chỉ huy “xạc” cho một trận rồi được thả tự do trở lại đội ngũ.

Buổi trưa ngày 18/2, ban chỉ huy Trung đoàn Thủ đô gọi chúng tôi đến nhận nhiệm vụ. Ông Trung đoàn trưởng Hoàng Siêu Hải ngồi trước tấm bản đồ Hà Nội, đăm chiêu nói và quệt ngón tay trỏ từ bãi giữa lên phía Bắc: “Các đồng chí tự vệ và bà con Tứ Tổng đêm qua vất vả lắm, chèo thuyền giỏi lắm, nhưng còn phải cố gắng thêm nữa đấy. Phải chuẩn bị đưa Trung đoàn qua sông sang bên kia vùng tự do Phúc Yên ngay trong đêm nay… Thế là chúng tôi lại khiêng thuyền ngược bãi giữa lên Tàm Xá để xẩm tối Trung đoàn Thủ đô hành quân lên đó vượt sông. Ở Tàm Xá chúng tôi được ông Bếp Kịch cho mượn thêm hai chiếc thuyền to, chở mỗi chuyến năm sáu chục người nên việc đưa bộ đội qua sông rất nhanh gọn, chỉ quá nửa đêm là Trung đoàn Thủ đô đã sang đến đất Phúc Yên an toàn tuyệt đối.

Cụ Thám xúc động khi nói đến sự việc tiếp theo tạo nên ngày “giỗ trận” của làng Tứ Tổng. Gần sáng 19/2, chúng tôi vừa cất thuyền thì phát hiện còn một trung đội bộ đội rút sau cùng đã ngủ quên ở bãi ngô, chưa sang sông. Chúng tôi lại phải đem thuyền ra chở nốt. Mới được một chuyến hơn chục người thì máy bay địch ập đến, pháo địch nã vào bãi giữa và ca nô, thuyền chiến của địch kéo tới đổ quân càn quét. Số ít bộ đội kẹt lại ở bãi giữa liền cùng với anh em tự vệ Tứ Tổng kiên cường chiến đấu chống trả địch. Kẻ thù đông hơn lại rất cay cú bởi việc Trung đoàn Thủ đô đã hoàn thành cuộc vượt vòng vây “như thần thoại” ngay trước mũi súng của chúng. Dưới sự chỉ huy của tên đại tá Đép-bơ, chúng điên cuồng trút đòn trả thù khốc liệt xuống dân làng Tứ Tổng (và cả Tàm Xá nữa). Riêng ở Tứ Tổng địch đốt trụi 196 ngôi nhà, phá sập đình Vạn và đình Xuyên, địch phá nát 44 chiếc thuyền, giết chết 27 người (phần đông là chiến sĩ tự vệ), bắt đi 70 người. Cái ngày 19 tháng 2 ấy đã trở thành ngày “giỗ trận” hàng năm ở làng Tứ Tổng. 23 đồng chí đã hy sinh được xác nhận là liệt sĩ và sau ngày toàn thắng, Trung đoàn Thủ đô đã trở về Hà Nội, hài cốt của anh em đã được cất bốc quy tụ vào nghĩa trang liệt sĩ Mai Dịch, Hà Nội.

Đầu xuân Canh Ngọ (2002), những chiến sĩ quyết tử của Trung đoàn Thủ đô đã tổ chức một cuộc hành hương về làng Tứ Tổng, cùng nhân dân tiến hành ngày “giỗ trận” trọng thể. Chúng tôi vào từng nhà để thắp hương trên từng bàn thờ liệt sĩ. Uống nước nhớ nguồn, chúng tôi càng tự hào về cuộc rút quân “thần kỳ” ra khỏi vòng vây quân địch ở Hà Nội năm xưa, càng ghi sâu công ơn của nhân dân Tứ Tổng đã cống hiến rất tích cực cho sự tích phi thường đó.

 
Nguồn tin: Đỗ Chí, Tạ Duy Đức . Theo Hà Nội - Bản hùng ca bất tử mùa đông 1946, Ban chấp hành Đảng bộ thành phố Hà Nội - Ban Tuyên giáo, NXB Thế giới, 2006, tr 83-86.
Logged
shmel
Thành viên
*
Bài viết: 186


Man in Iron Mask


« Trả lời #44 vào lúc: 26 Tháng Tám, 2010, 08:15:44 PM »

Trung đoàn Thủ đô ra đời trong khói lửa

Ngày 25 tháng 12, sau khi thống nhất ý kiến với đồng chí Hoàng Siêu Hải, Ủy ban kháng chiến Liên khu ra quyết định bổ nhiệm các ban chỉ huy tiểu đoàn như sau:

Ngày 25 tháng 12, sau khi thống nhất ý kiến với đồng chí Hoàng Siêu Hải, Ủy ban kháng chiến Liên khu ra quyết định bổ nhiệm các ban chỉ huy tiểu đoàn như sau:

   - Tiểu đoàn 101:

   + Tiểu đoàn trưởng: Mộng Hùng, nguyên đại đội trưởng Vệ quốc đoàn.

   + Chính trị viên: Đỗ Tần, Chủ tịch Ủy ban kháng chiến khu Đồng Xuân.

   + Tiểu đoàn phó: Nguyễn Hùng, nguyên đại đội phó Vệ quốc đoàn

- Tiểu đoàn 102:

  + Tiểu đoàn trưởng: Vũ Yên, nguyên Ủy viên Ban tác chiến Liên khu, cán bộ cấp đại đội của đội tự vệ chiến đấu Hoàng Diệu.

  + Chính trị viên: Đàm Văn Ngọ, Chủ tịch Ủy ban kháng chiến khu Đông Thành(1).

- Tiểu đoàn 103:

  + Tiểu đoàn trưởng: Tấn Công (tên chính là Hà Thạch Sùng), nguyên đại đội trưởng Vệ quốc đoàn.

  + Chính trị viên: Phạm Văn Trừng, Chủ tịch Ủy ban kháng chiến khu Đông Kinh Nghĩa Thục, nguyên Ủy viên Ban chấp hành tự vệ Liên khu I.

  + Tiểu đoàn phó: Đỗ Hiếu Liêm (về sau này lấy tên là Vũ Lăng), nguyên đại đội phó Vệ quốc đoàn.

   Danh sách cán bộ trong các Ban chỉ huy tiểu đoàn trên không thay đổi từ khi thành lập đến khi Trung đoàn rút ra khỏi Liên khu I.

Trong quyết định bổ nhiệm, ngoài các đồng chí cán bộ cấp tiểu đoàn, còn bổ nhiệm cả các cán bộ chỉ huy đại đội, trên cơ sở đề nghị của Ủy ban kháng chiến khu phố .

 Sau đó, Ủy ban kháng chiến Liên khu đề nghị với Ủy ban Kháng chiến khu XI cho thành lập Trung đoàn lấy tên là Trung đoàn Liên khu I.

 Ủy ban kháng chiến khu XI đã chấp nhận đề nghị chủ trương thành lập Trung đoàn, tên gọi Trung đoàn và chỉ định đồng chí Hoàng Siêu Hải làm Trung đoàn trưởng đồng chí Lê Trung Toản làm Chính trị viên Trung đoàn.

  Như vậy, việc hợp nhất các lực lượng chiến đấu thành một lực lượng thống nhất đã hoàn thành, tạo điều kiện cho việc thống nhất chỉ đạo và chỉ huy các lực lượng chiến đấu.

 Sức mạnh chiến đấu của tổ chức vũ trang tăng lên gấp bội.

 Ủy  ban kháng chiến Liên khu và các khu phố có điều kiện thực hiện các nhiệm vụ công tác khác một cách đầy đủ hơn. Các Ban giúp việc Ủy ban kháng chiến Liên khu đồng thời giúp việc Ban chỉ huy Trung đoàn, không thành lập tổ chức mới để tránh cồng kềnh.

  Liên khu ủy và Ủy ban kháng chiến Liên khu phân công đồng chí Hoàng Phương làm tham mưu trưởng Trung đoàn và tham gia Ban chỉ huy Trung đoàn.

 Tại phòng họp lớn của Nhà in lao động, số 51 Hàng Bồ, lễ ra mắt của trung đoàn được tổ chức đúng ngày 6 tháng 1 năm 1947, để vừa kỷ niệm ngày thành lập Đảng (trước đây lấy ngày 6/1), vừa công bố quyết định thành lập Trung đoàn của Ủy ban kháng chiến khu XI. Trong phòng họp treo 2 lá cờ: cờ đỏ búa liềm của Đảng và lá cờ đỏ sao vàng của Tổ quốc.

 Trước hơn 100 đại biểu của đoàn thể quần chúng, các Ban của Liên khu và 3 tiểu đoàn, đồng chí Lê Trung Toản, với danh nghĩa Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Liên khu, nói vắn tắt lịch sử ngày thành lập Đảng, công bố quyết định của Ủy ban kháng chiến khu XI về việc thành lập, tên gọi của Trung đoàn và danh sách Ban chỉ huy Trung đoàn phải. Sau cùng đồng chí nêu ra những nhiệm vụ của Trung đoàn thực hiện để thiết thực kỷ niệm ngày thành lập Đảng và ngày thành lập Trung đoàn.
 

Hai vị chỉ huy tiểu đoàn 54, thuộc trung đoàn Thủ đô đang dẫn đầu đoàn quân đi trên phố Đinh Tiên Hoàng. Ảnh: Thân Trọng Ninh

 Như vậy là Trung đoàn Liên khu I chính thức ra đời vào ngày 6 tháng 1 năm 1947. Đây là trung đoàn được thành lập đầu tiên ở Thủ đô trong khói lửa của cuộc kháng chiến. Đây là một thắng lợi lớn lao của sự trưởng thành, tinh thần đoàn kết chiến đấu của các chiến sĩ Vệ quốc đoàn, Tự vệ chiến đấu, Tự vệ xí nghiệp, Công an xung phong, Tự vệ thành, những thanh niên của thế hệ Hồ Chí Minh, những người tha thiết muốn bảo vệ cuộc sống độc lập, tự do, luôn luôn ấp ủ lòng yêu quý Tổ quốc, yêu quý Thủ đô. Thắng lợi đó cũng đã đáp ứng lòng mong mỏi của đồng bào Hà Nội được thấy đội quân của con em mình trưởng thành trong chiến đấu.

 Ngày hôm đó, các chiến sĩ Tự vệ tháo chiếc phù hiệu “sao vuông” và hãnh diện gắn mũ ca-lô, mũ nồi, mũ phớt chiếc phù hiệu “sao tròn” của bộ đội chính quy.

 Toàn thể thanh niên, thiếu nhi, phụ nữ, thậm chí anh em đã có tuổi đều tình nguyện nhập ngũ, do đó trung đoàn gồm đủ các thành phần, nam, phụ lão, ấu và quân số lên tới 5.600 người, trang bị bằng đủ mọi thứ quần áo mà chiến sĩ có, một đội quân chưa có đồng phục, chỉ có phù hiệu thống nhất. Đó cũng là điểm đáng tự hào của Liên khu I vì nó tiêu biểu cho truyền thống chống xâm lăng của dân tộc ta.

 Tin Trung đoàn Liên khu ra đời bay ra ngoài hậu phương rất nhanh. Báo Chiến thắng của Ủy ban kháng chiến Liên khu I đã đăng một bức thư ngắn của đồng chí Võ Nguyên Giáp trong đó có đoạn viết:

  “Tôi báo cho anh chị em biết rằng, nhân dân toàn quốc đang nô nức với cuộc chiến đấu anh dũng của anh chị em.

  Tấm gương anh chị em cần giữ cho sáng, nêu cho cao, sáng hơn nữa trong lịch sử nước Việt Nam”.

 Ngày 13 tháng 1 năm 1947, các chiến sĩ Liên khu I nhận được một bức điện ngắn:

  “ Hội nghị quân sự toàn quốc họp ngày 12 tháng 1 năm 1947 quyết nghị tặng Trung đoàn đóng giữ Liên khu I là Trung đoàn Thủ đô”

  Sẽ có điện riêng của ông Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trực tiếp khen tặng.

  Ủy ban kháng chiến khu XI”.

  Để động viên tinh thần, vạch rõ cho cán bộ, chiến sĩ thấy tình hình và nhiệm vụ chiến đấu mới, Liên khu ủy, Ủy ban kháng chiến Liên khu giao cho các Ban chỉ huy Tiểu đoàn và các Chi bộ tổ chức lễ quyết tử ở các Tiểu đoàn.

 Ban chỉ huy Trung đoàn phân công các đồng chí trong Ban chỉ huy đến dự lễ quyết tử ở các Tiểu đoàn.

 Đồng chí Lê Trung Toản dự lễ quyết tử ở Tiểu đoàn 103, Tiểu đoàn có trách nhiệm giữ cửa ngõ ra vào của đường giao thông liên lạc ra hậu phương, một Tiểu đoàn ít phải chiến đấu vì địch ít tấn công vào khu vực Tiểu đoàn phòng ngự, quân số ở lại đông nhất và khu Đông Kinh Nghĩa Thục là khu phố duy nhất trong 3 khu phố còn giữ được nguyên vẹn đất đai của khu phố mình.

 8 giờ sáng ngày 14 tháng 1 năm 1947, lễ quyết tử của Tiểu đoàn 103 được tổ chức trang nghiêm tại rạp hát Tố Như (nay là rạp hát Chuông Vàng Thủ đô) ở phố Hàng Bạc. Bàn thờ Tổ quốc, ảnh Hồ Chủ tịch, lư trầm khói hương nghi ngút, nhiều ngọn bạch lạp lớn được thắp sáng. Trước mặt bàn thờ Tổ quốc là một bàn rộng  bày la liệt những bom ba càng, mìn đủ các cỡ, các loại súng, chai xăng cờ-rếp, lựu đạn và các thanh kiếm mã tấu sáng loáng.

Tham dự buổi lễ có đại diện Ban chỉ huy trung đoàn, các trưởng ban, một số cán bộ, nhân viên của trung đoàn, đại đội, ban chỉ huy tiểu đoàn và chi bộ, đại biểu các đoàn thể và các chiến sĩ đã lập nhiều thành tích ở trận Bắc bộ phủ, Bưu điện Bờ Hồ, Sở Thủy Lâm, các đội Tự vệ khu Long Biên cũ nay sáp nhập vào tiểu đoàn 103.

Đồng chí Tiểu đoàn phó Đỗ Hiếu Liêm (Vũ Lăng), sau khi phát vũ khí cho các chiến sĩ, thay mặt ban chỉ huy Tiểu đoàn 103, lên hứa với Ban chỉ huy Trung đoàn các đại biểu và nói với các chiến sĩ:

  “Hôm nay, theo chỉ thị của Ban chỉ huy Trung đoàn, chúng ta làm lễ khai sinh cho Tiểu đoàn thành Đội quyết tử.

Chúng ta thề sống thề chết vì Thủ đô. Giặc Pháp muốn chiếm Thủ đô. Chúng ta sẽ chiến đấu đến cùng cho Thủ đô bất diệt”.

 Tiếp đó, bằng những lời lẽ ngắn gọn, đồng chí Lê Trung Toản, thay mặt cho Ủy ban kháng chiến Liên khu và Ban chỉ huy Trung đoàn giải thích chỉ thị của Hồ Chủ tịch, Chính phủ, Bộ Tổng chỉ huy, Ủy ban kháng chiến và Bộ chỉ huy khu XI về kế hoạch thực hiện của Ủy ban kháng chiến Liên khu và ban chỉ huy Trung đoàn giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn và giải thích thêm ý nghĩa của tinh thần quyết tử:

  “Ta thề quyết tử là để nói lên tinh thần không sợ hy sinh trong chiến đấu, trong việc thực hiện mọi nhiệm vụ được giao, không phải lấy cái chết làm hàng đầu, để được nổi danh.

  Ta thề quyết tử hoàn thành mọi nhiệm vụ trong các cuộc chiến đấu”.

  Những tiếng hô vang “Xin thề! Xin thề” với những bàn tay giơ cao vũ khí. Một khí thế lẫm liệt, sôi nổi hưởng ứng lời nói của các đồng chí chỉ huy Trung đoàn và Tiểu đoàn, rồi hát vang bài hát "Đoàn vệ quốc quân", một bài hát hùng tráng nhưng cũng rất lãng mạng cách mạng, mà các chiến sĩ trung đoàn thích hát trong những dịp thay thế này, mở đầu bằng mấy câu:

Đoàn Vệ Quốc quân một lần ra đi

Lòng có nghĩ chi đến ngày trở về

Ra đi, ra đi, bảo tồn sông núi

Ra đi, ra đi, thà chết không lui

   Lễ quyết tử tại rạp hát Tố Như kết thúc nhanh chóng vì còn bao nhiêu việc phải hoàn thành trong ngày 14/1/1947.

  Mọi người ra về với một ấn tượng sâu sắc trong lòng.

  Đó là một lời cảnh cáo đối với giặc Pháp. Đó là quyết tâm chiến đấu đến hơi thở cuối cùng của mọi cán bộ, chiến sĩ của Tiểu đoàn và các đại biểu đến dự. Đó cũng là quyết tâm của cả Trung đoàn trấn giữ Liên khu , Trung tâm Thủ đô một nước có nghìn năm văn hiến, có truyền thống chống ngoại xâm lâu đời, là nơi tiêu biểu cho cuộc tổng khởi nghĩa trong những ngày sôi sục của Cách mạng tháng tám lịch sử./.

Lê Trung Toản
Nguồn tin: Theo Hà Nội bản hùng ca bất tử mùa Đông 1946, Ban chấp hành Đảng bộ thành phố Hà Nội - Ban Tuyên giáo, NXB Thế giới, 2006, tr 31- 37.
Logged
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 9028


Lính của PTL


« Trả lời #45 vào lúc: 11 Tháng Hai, 2011, 09:02:57 PM »

Đi cửa hàng sách cũ vớ được quyển Cuộc chiến đấu của Liên khu III - Đông Đa - Quận V Hà Nội có 2 ảnh này:


Ngày 13-1-1947. Tại Ô Chợ Dừa, đại diện Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và
Lãnh sự Anh, Mỹ, Trung Quốc (tưởng) đàm phá đã thỏa thuận sẽ ngừng bắn ngày 15-1-1947
để nhân dân ta và Hoa Kiều tản cư ra khỏi Hà Nội.

Còn ảnh này bên ttvnol.com từng thấy, nhưng hình như lời chú dẫn chưa đầy đủ:


Cuộc đàm phán tại Ô Chợ Dừa ngày 13-1-1947.
Từ trái sang phải người thứ hai: Lãnh sự Anh Wilson - Bang trưởng Trung Quốc Vương Tử Kiên
- Lãnh sự Mỹ Sullivan - Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Hoàng Minh Giám
- Thứ trưởng Bộ Nội vụ Hoàng Hữu Nam (Phan Bôi) - Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Hà Nội Nguyễn Văn Trân.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
lexuantuong1972
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1885


TÂT CẢ VÌ ĐỒNG ĐỘI


« Trả lời #46 vào lúc: 19 Tháng Mười Hai, 2011, 11:03:35 AM »

Kỷ niệm 65 năm ngày toàn quốc kháng chiến, xin giới thiệu với các bạn một bài báo về cuộc chiến đấu 60 ngày đêm tại Hà nội mùa đông 1946.
http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-VN/61/43/301/302/302/170129/Default.aspx

TÍNH CHẤT VÀ ĐẶC ĐIỂM 60 NGÀY ĐÊM CHIẾN ĐẤU Ở HÀ NỘI

TRẦN TRỌNG TRUNG
QĐND - Thứ Bẩy, 17/12/2011, 13:3 (GMT+7)

QĐND - Đêm 19-12-1946, quân và dân Hà Nội đã cùng cả nư­ớc nổ súng tiến công địch, mở đầu cuộc kháng chiến toàn quốc. Ngoài những nét chung, hai tháng chiến đấu của quân và dân Hà Nội còn có những tính chất và nhất là những đặc điểm riêng của một địa bàn trung tâm của cả nư­ớc, một chiến trường có vị trí chiến lư­ợc đặc biệt quan trọng.

I - Tính chất hai tháng chiến đấu của quân và dân Thủ đô Hà Nội

 1. Đó là cuộc chiến đấu chính nghĩa, tự vệ, một bộ phận của cuộc chiến tranh cách mạng, chiến tranh giải phóng dân tộc của nhân dân cả nư­ớc chống đế quốc Pháp xâm lư­ợc. Cuộc chiến đấu nổ ra khi nhân dân đã trở thành chủ nhân của đất nước, chủ nhân của Thủ đô nư­ớc Việt Nam dân chủ cộng hòa, đã trải qua 16 tháng đấu tranh và tr­ưởng thành từng bư­ớc trong công cuộc xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ, ngày càng gắn bó với chế độ mới, quyết tâm giữ vững thành quả cách mạng đã giành được.

Cũng như­ nhân dân cả nư­ớc, quân và dân Thủ đô Hà Nội mong muốn có hòa bình để xây dựng đất nước sau khi giành chính quyền. Đư­ợc sự giáo dục của các đoàn thể trong Mặt trận Việt Minh, nhân dân nhận thức đúng cái giá phải trả trong cuộc chiến tranh chống một kẻ thù lớn mạnh. Bởi vậy, tuân theo lệnh của chính quyền thành phố, mọi ngư­ời kiên trì nín nhịn suốt từ ngày quân Pháp trở lại sau Hiệp định Sơ bộ ngày 6-3-1946. Suốt 9 tháng, không manh động, không mắc m­ưu khiêu khích của quân Pháp, các tầng lớp nhân dân đều thể hiện ý thức kỷ luật rất cao, bình tĩnh đợi lệnh, tạo điều kiện thuận lợi cho Chính phủ đấu tranh ngoại giao, nhằm gạn chắt những khả năng hòa hoãn nhỏ nhất trong quan hệ Pháp - Việt.

Như­ng thực dân Pháp ngoan cố, quyết tâm thực hiện âm m­ưu đánh chiếm Thủ đô, trái tim của cả nước. Cũng nh­ư nhân dân các dân tộc trong cả nước, quân và dân Hà Nội không còn con đư­ờng nào khác, tự nguyện đi tới một sự lựa chọn duy nhất để bảo vệ chủ quyền, bảo vệ Thủ đô: Đó là đứng lên cầm súng cùng đồng bào cả nư­ớc chiến đấu tự vệ với tinh thần quyết tử để Tổ quốc quyết sinh!

2. Đó là cuộc chiến đấu đã đạt tới đỉnh cao của cuộc đọ sức quyết liệt nhất giữa ta và địch trong những ngày đầu kháng chiến toàn quốc.

Do vị trí chiến lư­ợc của Thủ đô nên ngay sau khi vào Hà Nội, quân Pháp đã coi đây là mục tiêu số 1 trong âm mư­u xâm lư­ợc của chúng đối với miền Bắc, là "chặng cuối cùng của sự nghiệp giải phóng" như­ lời tuyên bố ngạo mạn của tổng chỉ huy Pháp Lơ-cléc. Phía Pháp không ngừng tăng cư­ờng binh lực trái phép, trang bị cho Pháp kiều, tập hợp bọn tay sai, tổ chức mạng l­ưới tình báo gián điệp, chuẩn bị và thực hành kế hoạch đảo chính hòng lật đổ chính quyền cách mạng Việt Nam. Chúng coi việc "đánh vào đầu não" là biện pháp hữu hiệu nhất để "nhanh chóng buộc nhóm cầm quyền ở Hà Nội hiện nay phải biến đi"(1), quân Pháp sẽ làm chủ thành phố và một chính quyền thân Pháp sẽ đư­ợc dựng lên.

Quán triệt tư­ tư­ởng chỉ đạo của Thư­ờng vụ Trung ư­ơng Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, được sự giúp đỡ trực tiếp của Bộ Quốc phòng - Tổng chỉ huy và Tổng bộ Việt Minh, Thành ủy và Ủy ban Hành chính Kháng chiến Hà Nội đã lãnh đạo quân dân Thủ đô từng bư­ớc xây dựng lực lư­ợng về mọi mặt. Sau Hội nghị Quân sự toàn quốc (họp ngày 19-10-1946 ở Hà Nội), công tác chuẩn bị chiến đấu ngày càng khẩn trương, theo tinh thần chỉ thị của đồng chí Tổng bí thư­ Trư­ờng Chinh: Không để bị bất ngờ, sẵn sàng chiến đấu tiêu hao và kìm chân địch trong thành phố càng dài ngày càng tốt.

So với cả nư­ớc, đến trư­ớc ngày 19-12-1946, Hà Nội là nơi tập trung lớn nhất lực lư­ợng của ta và địch, với quân số và trang bị kỹ thuật cao nhất có thể huy động đư­ợc, đồng thời cũng là nơi tập trung cao độ sự chỉ đạo chỉ huy của cả hai bên, chuẩn bị cho một cuộc đọ sức quy mô lớn và có ý nghĩa chiến lược quan trọng nhất.

Quá trình diễn biến chiến đấu, địch ra sức tăng cường binh lực hòng nhanh chóng đẩy lùi LLVT của ta ra khỏi thành phố. Về phía ta, theo mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng - Tổng chỉ huy, các địa phư­ơng lân cận như­: Sơn Tây, Hà Đông - hậu phư­ơng trực tiếp của Thủ đô cũng bổ sung lực lượng cho Mặt trận Hà Nội. Với sự chỉ đạo chỉ huy tập trung, với quyết tâm giành giật từng đường phố, từng căn nhà trong cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt suốt hai tháng ở Thủ đô, quân và dân Hà Nội đã tiêu hao và kìm chân địch, hoàn thành vư­ợt yêu cầu nhiệm vụ mà cả nước đã ủy thác cho chiến tr­ường trọng điểm mở đầu cuộc kháng chiến toàn quốc.

3. Đó là cuộc chiến đấu ngay từ đầu đã thể hiện khá đầy đủ những điểm cơ bản nhất cả về hình thức và nội dung của cuộc chiến tranh nhân dân, được các tầng lớp xã hội đông đảo trong thành phố tham gia. Có đư­ợc sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân sát cánh chiến đấu, trư­ớc hết là do kết quả động viên giáo dục lâu dài của các đoàn thể trong Mặt trận Việt Minh và Liên Việt trong suốt 16 tháng, từ ngày Tổng khởi nghĩa thắng lợi đến ngày Toàn quốc kháng chiến.

Với hàng chục vạn hội viên cứu quốc - mà nòng cốt là hơn 400 đảng viên cộng sản trong từng khu phố, nhà máy, xí nghiệp …, thông qua các cuộc vận động chính trị trong suốt quá trình xây dựng chính quyền và bảo vệ chế độ mới, các tầng lớp nhân dân Thủ đô ngày càng nhận thức sâu sắc nghĩa vụ và trách nhiệm của ng­ười làm chủ Thủ đô của nư­ớc Việt Nam mới. Trước những hành động khiêu khích ngày càng trắng trợn của quân Pháp diễn ra hằng ngày trên đường phố, công tác giáo dục và động viên về tình hình và nhiệm vụ do các đoàn thể trong Mặt trận Việt Minh và Liên Việt tiến hành, ngày càng tạo thành động lực thúc đẩy mọi tầng lớp nhân dân, già trẻ, gái trai, sẵn sàng hy sinh chiến đấu, sống chết với Thủ đô. Biết bao cá nhân và gia đình đã tự nguyện biến ngôi nhà thân thư­ơng mang nặng dấu ấn tuổi thơ của mình, cùng với mọi đồ vật trong nhà, từ sập gụ, tủ chè đến bàn ghế thành những chướng ngại vật trên đường phố, những ụ súng chiến đấu của bộ đội và tự vệ.

Ngay từ những ngày chiến đấu đầu tiên, tại Mặt trận Hà Nội không chỉ có các chiến sĩ Vệ Quốc đoàn, tự vệ, công an xung phong trực tiếp cầm súng chiến đấu tiêu hao tiêu diệt địch. Đối mặt với quân Pháp, cả trong những giờ phút thử thách quyết liệt nhất, còn có đông đảo nhân dân thành phố, từ em bé 10-12 tuổi đến cụ già, từ ngư­ời dân nghèo, buôn thúng bán mẹt, công nhân, xích lô, đến nhà văn, nhà thơ, nghệ sĩ nhiếp ảnh…, tất cả đều góp phần tiêu hao tiêu diệt địch theo khả năng và bằng phương pháp, phương tiện riêng của mình. Phục vụ lực lượng vũ trang chiến đấu là một đội ngũ hậu cần hùng hậu, bao gồm đông đủ chị em phụ nữ mọi thành phần xã hội Thủ đô.

Những ngư­ời dân bình th­ường, những chiến sĩ vô danh không mặc áo lính ấy đã bảo đảm đư­ờng dây liên lạc, tiếp tế, đã sát cánh cùng bộ đội và tự vệ để ngày đêm chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Cũng chính những chiến sĩ vô danh ấy đã giữ bí mật, bảo đảm an toàn và có ngư­ời đã anh dũng hy sinh, góp phần quyết định vào thắng lợi của cuộc rút lui thần kỳ của Trung đoàn Thủ Đô ra khỏi thành phố sau khi hoàn thành nhiệm vụ.

Suốt hai tháng chiến đấu, xen kẽ với tiếng súng diệt địch trong từng căn nhà, góc phố, ngõ chợ, là tiếng đàn hát động viên bộ đội cùng với tiếng loa địch vận vang lên bằng nhiều thứ tiếng nư­ớc ngoài. Tờ báo của Mặt trận đư­ợc xuất bản tại chỗ đã đến với các chiến sĩ đều đặn. Những cuộc gặp gỡ giữa cán bộ chỉ huy của ta với đại diện lãnh sự quán một số nư­ớc còn ở lại trong thành phố vẫn diễn ra, khi công khai, khi bí mật, thể hiện một dạng thức ngoại giao đặc thù trong thời chiến.

Dù còn ở mức thấp, nh­ưng rõ ràng là 60 ngày đêm chiến đấu ở Thủ đô đã bước đầu mang những nội dung manh nha nhưng đích thực của cuộc chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, những mầm mống của sự kết hợp giữa quân sự với chính trị, binh địch vận, ngoại giao… Từ những hình thức và nội dung manh nha đó, khái niệm về chiến tranh nhân dân ngày càng đư­ợc định h­ướng cụ thể và không ngừng phát triển cả về lý luận và thực tiễn trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ sau này.

4. Đó là cuộc chiến đấu kết hợp chặt chẽ giữa tiến công và phòng ngự, là cách đánh du kích trong thành phố, trong điều kiện lực l­ượng so sánh giữa ta và địch rất chênh lệch(2). Nhiệm vụ chiến lược trên giao cho quân và dân Thủ đô Hà Nội là phải giam chân địch trong thành phố càng dài ngày càng tốt, tạo điều kiện cho cả n­ước chuyển sang thời chiến; chiến đấu tiêu hao địch đi đôi với bảo tồn lực lư­ợng ta và bảo vệ nhân dân để kháng chiến lâu dài.

Để thực hiện nhiệm vụ chiến lư­ợc đó trong điều kiện địch đang chuẩn bị hòng chủ động "đi đến một hành động quân sự nhằm…buộc đối phương phải hạ bài" (Hồi ký của Giăng Xanh-tơ-ni), quân và dân Hà Nội không bị động chờ đợi mà chủ động chuẩn bị và tiến công trư­ớc quân địch trong toàn thành phố ngay khi có lệnh. Tiếp đó là suốt hai tháng chiến đấu liên tục: Một người, một tổ cũng đánh, một quả lựu đạn, một chai xăng krếp, một bom ba càng cũng tiến công địch. Thực tế đó giải thích vì sao trong bản chỉ lệnh ngày 20-12-1946 (sau một ngày chiến sự nổ ra ở Hà Nội và trong toàn quốc), tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp, tư­ớng  Ê-chiên Va-luy, phải kêu gọi binh lính "Các bạn hãy cùng nhau nghiến răng chịu đựng… Cuộc chiến đấu còn diễn ra ác liệt, như­ng chẳng bao lâu các bạn sẽ đư­ợc tăng viện … Hãy dũng cảm lên, hỡi các chiến binh sư­ đoàn 9…"(3).

(còn nữa)

___________
1. Tuyên bố ngày 17-1-1946 của Lê-ông Pi-nông, cố vấn chính trị của Cao ủy Ác-den-li-ơ.

2. Lực lượng so sánh khi bước vào chiến đấu: Quân số tập trung: Địch 2,6;  ta 1 (nếu kể cả tự vệ của ta và Pháp kiều vũ trang thì địch 1,3; ta 1); Súng bộ binh: Địch 2,6; ta 1 (ba chiến sĩ ta mới có một khẩu súng với 6-7 viên đạn); Pháo binh: địch 4,7; ta 1 (pháo binh của địch là lựu pháo của Mỹ, pháo binh của ta là mấy khẩu cao xạ cũ của Nhật, chuyển sang ứng dụng thành pháo mặt đất, không bảng bắn, không máy ngắm). Địch hơn hẳn ta về máy bay, xe tăng, xe cơ giới và ca-nô tàu chiến trên sông.

3. Dẫn theo hồi ký của tướng Ra-un Xa-lăng, Thời báo Pa-ri 1971.
« Sửa lần cuối: 19 Tháng Mười Hai, 2011, 11:17:13 AM gửi bởi lexuantuong1972 » Logged

Ký ức một thời hoa lửa: (P1)(P2)(P3)(P4)
lexuantuong1972
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1885


TÂT CẢ VÌ ĐỒNG ĐỘI


« Trả lời #47 vào lúc: 19 Tháng Mười Hai, 2011, 11:12:44 AM »

http://qdnd.vn/qdndsite/vi-VN/61/43/301/302/302/170212/Default.aspx

TÍNH CHẤT VÀ ĐẶC ĐIỂM 60 NGÀY ĐÊM CHIẾN ĐẤU Ở HÀ NỘI

TRẦN TRỌNG TRUNG
(Tiếp theo và hết)

QĐND - Số rất đông chiến sĩ xung trận đêm 19-12-1946 là những người lần đầu tiên cầm súng. Đối mặt với một kẻ địch có truyền thống về lục quân hàng thế kỷ lại ưu thế tuyệt đối về binh khí kỹ thuật, nhất là pháo binh, xe tăng, cơ giới và đặc biệt là chúng đóng xen kẽ với ta trong từng đường phố trước giờ nổ súng, vấn đề đặt ra là làm sao tiêu diệt được sinh lực địch, kìm chân chúng dài ngày trong thành phố mà vẫn bảo toàn và phát triển được lực lượng của ta để kháng chiến lâu dài. Một bài toán lúc đầu đã mấy ai tìm được đáp số. Trải qua những ngày đầu bỡ ngỡ, từng bước nhận ra quy luật hành động của địch, cùng nhau suy nghĩ sáng tạo ra cách đánh có hiệu quả, tiêu hao được địch, đồng thời hạn chế được tổn thất của ta. Cách đánh nhỏ lẻ, rộng khắp, nảy sinh trong phong trào "bắn tỉa, săn tây" là những kinh nghiệm ban đầu rất quý giá rút ra từ cách đánh du kích trên đường phố Hà Nội những ngày đầu kháng chiến toàn quốc.

Tinh thần và quyết tâm diệt địch cộng với cách đánh cụ thể dần dần được xác định đúng đắn, là những yếu tố trực tiếp giúp quân và dân Thủ đô trưởng thành trong chiến đấu, cướp súng của địch trong từng trận để từng bước cải tiến trang bị của ta, không ngừng phát triển lực lượng và điều quan trọng nhất là cuối cùng đã hoàn thành vượt mức nhiệm vụ trên giao, cả về tiêu hao lực lượng địch và thời gian bám trụ dài ngày.

II - Đặc điểm hai tháng chiến đấu của quân và dân thủ đô Hà Nội

1. Cuộc chiến đấu 60 ngày đêm ở Hà Nội là cuộc chiến đấu có chuẩn bị từng bước vững chắc trong một thời gian dài(4). Được sự chỉ đạo của Thường vụ Trung ương, Bộ Quốc phòng- Tổng chỉ huy và của Thành ủy, nhịp độ công tác chuẩn bị chiến đấu ở Thủ đô tăng dần lên trong quá trình diễn ra ngày càng trắng trợn âm mưu, hành động khiêu khích và gây hấn của Pháp.

Trong điều kiện quân Pháp đã có mặt trong thành phố, đóng quân xen kẽ với ta trên từng đường phố, việc chuẩn bị chiến đấu của ta gặp không ít khó khăn. Nguyên tắc đề ra là phải bảo đảm bí mật, không tỏ thái độ khiêu chiến, không để chúng viện cớ để khiêu khích ta và cũng không mắc mưu khiêu khích của chúng, không để nổ ra xung đột sớm. Được sự giúp đỡ của nhân dân, bộ đội Vệ Quốc đoàn, Tự vệ thành và Công an xung phong đã triển khai công tác chuẩn bị từng bước vững chắc, việc gì cần và có thể làm trước thì làm trước, cũng có việc chỉ có điều kiện hoàn thành ngay sát giờ nổ súng như ngả cây to, hạ cột điện, làm ba-ri-cát sát nơi địch đóng quân... Do chủ động và có kế hoạch nên công tác chuẩn bị đã dần dần tạo thêm điều kiện thuận lợi để các lực lượng tham gia chiến đấu sẵn sàng chủ động bất ngờ đồng loạt nổ súng tiến công địch trong toàn thành phố khi có lệnh. Song song với việc chỉ đạo chuẩn bị chiến đấu của bộ đội, mọi công tác của cơ quan Tổng hành dinh, từ xây dựng kế hoạch tác chiến, chỉ đạo chuẩn bị chiến trường, bố trí lực lượng, huấn luyện chiến đấu bổ sung ngay trên địa bàn dự kiến, hoàn thành hệ thống tổ chức chỉ huy, động viên chính trị tư tưởng, đến chỉ đạo tản cư nhân dân, di chuyển các cơ quan Chính phủ và bộ máy lãnh đạo kháng chiến cùng cơ sở vật chất kỹ thuật ra ngoài thành phố… tất cả đều được triển khai bí mật, nhịp nhàng, chủ động.

Biết dự kiến thời gian chuẩn bị sao cho phù hợp và chỉ đạo chuẩn bị đúng hướng, đúng lúc, đồng bộ, toàn diện, chu đáo và bí mật, nên bộ máy điều hành các cấp, từ Bộ Tổng chỉ huy đến đơn vị cơ sở đã tạo thêm điều kiện để bộ đội bám trụ dài ngày và đánh thắng địch ngay từ đêm đầu trên địa bàn Thủ đô.

2. Cuộc chiến đấu bảo vệ Thủ đô không diễn ra trong điều kiện địch từ ngoài đánh vào, mà chúng đã có mặt 9-10 tháng trên địa bàn thành phố. Trước giờ nổ súng và trong suốt hai tháng chiến đấu, địch và ta xen kẽ trong từng khu vực, từng đường phố. Trong tổng số trên dưới 50 vị trí, có 6 vị trí quan trọng địch tập trung binh lực lớn, từ 250 quân (như ở trường Bưởi) đến 1.800 quân (sân bay Gia Lâm). Một số mục tiêu, theo quy định của Hiệp định tham mưu hoặc Hiệp nghị liên kiểm, quân ta cùng gác chung với quân Pháp(5).

Bên cạnh 6.500 quân chính quy, trong thành phố địch còn một lực lượng chừng 7000 Pháp kiều được trang bị vũ khí ở rải rác trong khu vực hồi đó thường gọi là "khu phố tây". Ngoài ra, chúng còn một mạng lưới gián điệp, phần lớn là tàn dư của Việt quốc, Việt cách để lại cùng với bọn Hán gian sau khi quân Tưởng rút khỏi thành phố, làm tay sai cho chúng trong quá trình chuẩn bị và diễn biến chiến đấu.

Với đặc điểm quân đội hai bên xen kẽ như vậy, vấn đề đặt ra là phải thường xuyên đề cao cảnh giác, vừa bảo đảm bí mật trong quá trình chuẩn bị chiến đấu, vừa đề phòng địch bất ngờ thực hiện kế hoạch đảo chính theo tinh thần chỉ thị trung tuần tháng 4 của tướng Valuy (khi đó còn là chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở miền Bắc Việt Nam)(6). Tuy nhiên, đặc điểm địch-ta ở xen kẽ trong thành phố cũng tạo thêm một điểm yếu đối với địch mà ta có thể tận dụng, đó là binh lực của chúng phân tán, dễ bị ta bất ngờ tiêu diệt khi có lệnh nổ súng.
Tự vệ và các cảm tử quân Hà Nội trong những ngày toàn quốc kháng chiến. Ảnh tư liệu.

Ta đã dựa vào kết quả điều tra để phân tích thế bố trí xen kẽ, phân tán và tương đối cố định của địch để vừa xây dựng kế hoạch tác chiến vừa đề phòng và ngăn chặn âm mưu đảo chính của chúng, đồng thời chủ động triển khai lực lượng theo phương án tác chiến đã định, khiến quân Pháp bị bất ngờ trước tiếng súng tiến công đồng loạt của ta đêm 19-12.

3. Hai tháng chiến đấu của quân và dân Hà Nội được sự chỉ đạo thường xuyên và kịp thời của Bộ thống soái tối cao và có quan hệ mật thiết với hoạt động của các chiến trường toàn quốc.

Trong 60 ngày đêm chiến đấu, quân và dân Hà Nội đã phát huy cao độ tinh thần tự lực tự cường, chủ động sáng tạo giải quyết nhiều vấn đề do thực tế chiến đấu đặt ra, như chọn cách đánh trong từng tình huống cụ thể, chọn thời cơ rút vào Liên khu 1, điều chỉnh và phát triển lực lượng, chọn thời cơ và phương thức lui quân bí mật, an toàn ra khỏi thành phố sau khi hoàn thành nhiệm vụ v.v..

Đặc biệt, suốt quá trình chuẩn bị cũng như trong diễn biến chiến đấu, ngoài sự chỉ đạo chỉ huy trực tiếp của Bộ chỉ huy Khu 11, Mặt trận Hà Nội luôn được sự chỉ đạo sát sao của Bộ Quốc phòng-Tổng chỉ huy, của Thường vụ Trung ương và nhất là được Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên theo dõi động viên. Nhờ sự quan tâm của Bộ Thống soái tối cao mà việc xây dựng kế hoạch tác chiến, chỉ đạo cách đánh, điều chỉnh chiến trường (nhất là việc Bộ Tổng chỉ huy sớm quyết định việc mở rộng địa bàn hậu phương Mặt trận Hà Nội về phía Hà Đông-Sơn Tây), điều động lực lượng tăng viện, giải quyết vấn đề hậu cần tiếp tế, động viên các chiến trường cả nước chia lửa với Thủ đô v.v.. đã được cấp chiến lược đặc biệt quan tâm chỉ đạo phối hợp trong suốt mấy tháng đầu kháng chiến toàn quốc. Quân và dân Nam Bộ và Nam Trung Bộ đẩy mạnh hoạt động theo tinh thần chỉ thị ngày 16-12-1946 của Thường vụ Trung ương. Các thành phố Huế, Đà Nẵng và nhất là Nam Định, Hải Phòng, Hải Dương ra sức tiêu hao, kìm chân và căng kéo địch, hạn chế tăng viện của địch cho mặt trận Hà Nội.

Lực lượng vũ trang cả ba Liên khu của Mặt trận Hà Nội, đặc biệt là Liên khu 1, đã kiên cường đương đầu với địch suốt hai tháng ròng, nêu một tấm gương chiến đấu tiêu biểu cho cả nước, xứng đáng với vị trí chiến lược quan trọng nhất, địa bàn trọng điểm của cuộc tổng giao chiến.

Đối lại, thắng lợi của Mặt trận Hà Nội đã có tác dụng cổ vũ rất lớn đối với các chiến trường, củng cố lòng tin vào khả năng chiến đấu và chiến thắng đối với quân dân các địa phương trong cả nước. Kết quả tiêu hao và kìm chân địch suốt 60 ngày đêm trong thành phố Hà Nội đã tạo điều kiện rất thuận lợi cho các ngành, các cấp, các địa phương chuyển toàn bộ đời sống xã hội sang thời chiến một cách chủ động, đầy tự tin. Về thế chiến lược quân sự toàn cục, hai tháng chiến đấu của quân và dân Hà Nội đã tác động thuận lợi đối với nhiều chiến trường trong cả nước. Riêng đối với Nam Bộ, như nhận xét của nhà sử học Phi-líp Đơ-vin, quân Pháp đã thất bại trong ý đồ "đánh cú quyết định vào đầu não" hòng tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc bình định miền Nam, cứu nguy cho Nam Bộ, nơi mà tình hình bi đát tới mức tướng lĩnh Pháp cảm thấy “đất đang sụt lở dư­ới chân mình”(7).

Quá trình diễn biến cuộc chiến đấu ở Hà Nội, quân Pháp rất mong nhanh chóng mở rộng chiến sự ra ngoại thành, "truy lùng và tóm gọn" cơ quan lãnh đạo kháng chiến để kết thúc chiến tranh. Nhưng quân và dân Thủ đô đã buộc chúng phải chôn chân dài ngày trong thành phố. Trong 60 ngày đêm đó, cơ quan lãnh đạo kháng chiến vẫn đứng chân bí mật an toàn ở vùng Chương Mỹ, sát kề Hà Nội, chỉ cách thành phố chừng 20km đường chim bay. Tại đó, sự chỉ đạo các chiến trường trong cả nước vẫn được giữ vững. Cũng tại đó, hai cuộc hội nghị quan trọng(Cool đã được triệu tập nhằm phát hiện và giải quyết kịp thời những vấn đề ở tầm chiến lược cả về quân sự và chính trị do thực tế những ngày đầu kháng chiến đặt ra.

4. Cuộc chiến đấu của quân và dân Thủ đô có sự kế thừa những bài học kinh nghiệm ban đầu của các chiến trường bạn đã đi trước trong cuộc đọ sức với địch.

Cuộc kháng chiến nổ ra ở Hà Nội khi mà nhiều chiến trường từ Nam chí Bắc (Nam Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Tây Bắc, Hải Phòng, Lạng Sơn …) đã trải qua thực tế chiến đấu với địch. Sài Gòn là thành phố đi đầu, trước Hà Nội 15 tháng và gần nhất là Hải Phòng và Lạng Sơn, trước Hà Nội một tháng. Mỗi địa phương một vẻ, các tình huống chiến lược đều không giống nhau, nhưng những kinh nghiệm còn rất sơ lược ấy ít nhiều đã giúp cho Bộ Thống soái tối cao cũng như Bộ chỉ huy Đặc khu 11 những hiểu biết cần thiết phục vụ cho quá trình chỉ đạo chuẩn bị và thực hành chiến đấu. Mặc dù lúc này cơ quan tham mưu chiến lược còn hạn chế về nhiều mặt (kiến thức nghiệp vụ, khả năng nắm tình hình địch, trình độ tổ chức chỉ huy, trang bị kỹ thuật…) nhưng, với trách nhiệm và sự cố gắng cao nhất của mình, Bộ Tổng tham mưu đã tạo điều kiện cho Bộ chỉ huy Khu 11 nắm được những vấn đề mấu chốt nhất trong kinh nghiệm lãnh đạo và chỉ huy của các chiến trường đã trải qua cọ xát với địch.

Nét đặc sắc trong kinh nghiệm của Sài Gòn và nhất là Hải Phòng là làm thế nào hạn chế được uy lực của xe tăng cơ giới địch cơ động trên đường phố. Vật cản, ụ ba-ri-cát… hình thành trong cái mà Chỉ huy trưởng Mặt trận Hà Nội Vương Thừa Vũ gọi là "chiến thuật cài then cửa", là bước phát triển kinh nghiệm của Sài Gòn, Hải Phòng được vận dụng vào điều kiện cụ thể của Hà Nội. Từ thực tế của Hải Phòng, bài học rút ra là phải luôn đề cao cảnh giác và tỉnh táo, không để kẻ địch khiêu khích, đánh trước hay tìm cớ thực hiện mưu đồ đảo chính. Mặt khác phải chủ động chuẩn bị sẵn sàng tiến công địch. Nhiệm vụ và cũng là khẩu hiệu hành động trên đề ra cho quân và dân Hà Nội hồi đó là: Quyết không bị bất ngờ, không để sự kiện Hải Phòng tái diễn trên đường phố Thủ đô!.

Rõ ràng kinh nghiệm của các chiến trường đi trước là rất quý đối với Mặt trận Hà Nội, góp một phần quan trọng vào thắng lợi trong hai tháng chiến đấu liên tục của quân và dân Thủ đô.

***

Những tính chất và đặc điểm trên đây liên quan mật thiết với nhau, tác động qua lại và bổ sung lẫn cho nhau, quy tụ lại tạo thành những yếu tố quyết định thắng lợi của quân và dân Thủ đô, cụ thể là hoàn thành vượt mức nhiệm vụ chiến lược trên giao. Với thắng lợi có ý nghĩa chiến lược quan trọng đó, Mặt trận Hà Nội đã thể hiện trọn vẹn vai trò chiến trường trọng điểm trong cuộc tổng giao chiến của quân và dân ta trong những ngày đầu kháng chiến toàn quốc.

__________

(4). Chín tháng chuẩn bị từng bước (nếu tính từ khi quân Pháp vào Thủ đô ngày 18-3-1946); hai tháng chuẩn bị cụ thể trực tiếp (nếu tính từ Hội nghị Quân sự toàn quốc ngày 19-10-1946). Công tác chuẩn bị hoàn tất về cơ bản một tuần lễ trước ngày nổ súng, tức là ngày 13-12-1946, ngày Bộ Quốc phòng – Tổng chỉ huy triệu tập hội nghị các Khu trưởng từ Mặt trận Trung Bộ trở ra để kiểm tra tình hình chuẩn bị chiến đấu của các chiến trường.

(5). Như nhà Ngân hàng Đông Dương, ga Hàng Cỏ, Sở Liên kiểm Việt - Pháp, nhà máy điện, máy nước, máy đèn Bờ Hồ, cầu Long Biên, nhà in IDEO…

(6). Chỉ thị ngày 10-4-1946 của tướng Va-luy viết: Mỗi vị trí đóng quân phải có kế hoạch phòng thủ, đồng thời có kế hoạch sẵn sàng tiến công làm chủ thành phố…, phải thường xuyên bổ sung hoàn chỉnh kế hoạch để sẵn sàng biến tấn kịch của cuộc hành binh mang tính chất đơn thuần quân sự thành một màn đảo chính.

(7). Xem Pa-ri-Sài Gòn-Hà Nội của Phi-líp Đơ-vin, Tạp chí Ga-li-ma, Pa-ri 1988.

(Cool. Hội nghị các Khu trưởng (12 đến 16-1-1947), hội nghị Quân ủy Trung ương mở rộng (14 đến 16-2-1947).
« Sửa lần cuối: 19 Tháng Mười Hai, 2011, 11:18:54 AM gửi bởi lexuantuong1972 » Logged

Ký ức một thời hoa lửa: (P1)(P2)(P3)(P4)
chiangshan
Thành viên
*
Bài viết: 3406


No sacrifice, no victory


WWW
« Trả lời #48 vào lúc: 28 Tháng Hai, 2012, 04:43:28 PM »

Vệ quốc đoàn tuyên thệ.







Bắc Bộ phủ

Logged

Dân ta phải biết sử ta
Cái gì không biết cần tra Gúc gồ
chiangshan
Thành viên
*
Bài viết: 3406


No sacrifice, no victory


WWW
« Trả lời #49 vào lúc: 28 Tháng Hai, 2012, 04:45:40 PM »

Chợ Đồng Xuân







Phố Hàng Bồ



Phố Hàng Bài



Logged

Dân ta phải biết sử ta
Cái gì không biết cần tra Gúc gồ
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM