Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 24 Tháng Mười, 2020, 07:05:05 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước-Tập 4  (Đọc 103590 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #80 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2010, 12:52:33 pm »


Song song với các tội ác trên, Mỹ - ngụy đã trút xuống các địa phương toàn miền Nam một khối lượng bom đạn và chất độc hoá học khổng lồ. Ở Long An, trung bình mỗi nhân khẩu phải chịu một quả bom, riêng quận Đức Huệ, mỗi người phải chịu một tấn, trong đó xã Bình Quang - điểm “ưu tiên” bắn phá đặc biệt, số bom đạn bình quân là ba tấn trên một người. Nhân dân phải ăn, ngủ, sinh hoạt dưới hầm ngầm, mọi hoạt động, lao động sản xuất thường được tiến hành vào ban đêm. Ở Khu V, bom đạn và các cuộc hành quân càn quét bình định của Mỹ - ngụy đã triệt phá hơn 300 thôn xã, xúc hơn 20 vạn dân vào các ấp đời mới, khu tập trung. Cùng thời gian này, 90 xã giáp ranh giữa đồng bằng với miền núi Tây Nguyên đã bị quân địch biến thành vùng trắng. Cùng với bom đạn, ở hầu khắp miền tây các huyện An Lão, Hoài Ân, Vĩnh Thạch, Vân Canh... không quân Mỹ đã thả xuống hàng trăm tấn chất độc hoá học. Nhiều địa bàn chúng rải đi rải lại đến năm, sáu lần, các loại cây cối đều bị chết đứng, xóm làng tiêu điều xác xơ, các dòng sông, nguồn nước đều bị nhiễm độc. Đến cuối 1966, trong tỉnh Bình Định quân địch đã đốt trụi bốn vạn nóc nhà, cướp và thiêu huỷ hàng vạn tấn lương thực, phá hàng vạn hécta hoa màu, dồn 150.000 người vào các ấp đời mới và khu tập trung. Đối với các xã ven biển từ Hoài Nhơn đến Tuy Phước (Bình Định) nhân dân sinh sống chủ yếu bằng nghề đánh bắt cá tôm trên biển, Mỹ - ngụy đã tịch thu và phá huỷ toàn bộ ghe thuyền, chài lưới... Có thể nói, để thực hiện cho được mục tiêu bình định dồn dân, lập ấp đời mới trong mùa khô 1966-1967, Mỹ - ngụy đã không từ bỏ một thủ đoạn độc ác, dã man nào nhằm nhanh chóng tiêu diệt hết cán bộ, đảng viên, cơ sở cách mạng, kiểm soát cho được toàn bộ nhân dân miền Nam. Chính do vậy, chúng đã gây cho quân và dân miền Nam tổn thất vô cùng lớn về người và của. Mặt khác, công cuộc dồn dân lập ấp đời mới của Mỹ - ngụy đã làm đảo lộn hoàn toàn về mặt xã hội, về đời sống tinh thần, vật chất, phong tục tập quán, tín ngưỡng truyền thống của làng xóm Việt Nam.

Không thể để quân thù mặc sức tàn phá, bắn giết, gom dân vào các ấp đời mới, cuộc đấu tranh chống phá kế hoạch bình định của quân và dân miền Nam trong mùa khô này đã diễn ra vô vùng quyết liệt. Cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang và nhân dân kiên trì thực hiện phương châm “ba bám”, tiến hành một cuộc chiến tranh nhân dân rộng lớn, toàn diện để giữ đất, giành dân. Đồng thời với “ba bám”, nhân dârr và lực lượng vũ trang địa phương đã kết hợp chặt chẽ đấu tranh “hai chân ba mũi” trong chống phá địch dồn dân lập ấp. Để phá địch bình định, lực lượng vũ trang vừa thực hiện nhiệm vụ tiêu diệt địch, bảo vệ nhân dân, phát triển lực lượng du kích, vừa làm hậu thuẫn cho phong trào đấu tranh chính trị, binh vận của quần chúng nhân dân mà nòng cốt là các cơ sở đảng, cơ sở quần chúng ở ngay trong các ấp tổ chức phát động. Đấu tranh chính trị được biểu hiện dưới hình thức đưa yêu sách, phản đối các hành động khủng bố, đốt phá, cướp bóc tài sản, gom dân lập ấp... của địch. Cuộc đấu tranh này không chỉ bó hẹp trong phạm vi những nơi địch càn quét bình định, mà còn lôi kéo nhân dân các vùng lân cận, kể cả một bộ phận viên chức, gia đình ngụy quân, ngụy quyền tham gia. Quy mô các cuộc càn quét bình định càng lớn bao nhiêu thì phong trào đấu tranh chính trị của nhân dân ta càng rộng lớn và đều khắp bấy nhiêu. Cùng với mũi quân sự, chính trị, mũi binh vận cũng góp phần rất quan trọng trong việc làm giảm sức chiến đấu không chỉ đối với quân ngụy mà cả đối với quân Mỹ và đồng minh của Mỹ. Trong mùa khô này, số quân chiến đấu Mỹ đã lên tới 399.000 tên và 52.000 lính các nước phụ thuộc Mỹ; mà 40% quân số Mỹ là dành cho gọng kìm bình định. Việc binh vận đối với ngụy quân, ngụy quyền là việc làm ta đã có kinh nghiệm và có hiệu quả, nhưng binh vận đối với quân Mỹ và đồng minh của chúng rất khó khăn, vì ngôn ngữ bất đồng, bản chất hiếu chiến, tàn ác nên thời gian đầu, nhân dân không dám tiếp xúc. Phải trải qua một thời gian dài nghiên cứu, khảo nghiệm bằng nhiều cách kể cả việc thông qua phiên dịch để giải thích quan điểm, yêu cầu của ta làm cho chúng nhận ra được lẽ phải, từ đó tỏ thái độ kiên quyết phản đối chiến tranh. Đấu tranh binh vận là một mũi tiến công chiến lược, góp phần đánh bại chương trình bình định trong mùa khô 1966-1967 của Mỹ - ngụy.

Đi đôi với chống phá bình định, quân dân các địa phương miền Nam luôn chú trọng công tác xây dựng làng, xã chiến đấu. Đây là một công tác thường xuyên đặt ra cho mọi địa phương và lực lượng vũ trang cùng nhân dân toàn miền Nam. Xây dựng làng chiến đấu được xác định là cốt lõi để xây dựng vùng giải phóng, chống các cuộc hành quân càn quét bình định của địch đạt kết quả. Bước vào mùa khô này, phong trào xây dựng làng, xã chiến đấu diễn ra sôi nổi trên khắp các làng, xóm, xã, ấp miền Nam. Do tính chất, phạm vi, quy mô càn quét bình định của địch trong thời gian này diễn ra ác liệt và rộng lớn hơn so với trước, nên làng, xã chiến đấu được tổ chức liên hoàn theo khu vực nhiều thôn, xã với nhau, bảo đảm có thể phối hợp chiến đấu trên không gian rộng, hỗ trợ nhau đánh địch trong nhiều ngày. Hầu hết các làng, xã chiến đấu đều xây dựng các xưởng sửa chữa, cải tiến và sản xuất các loại vũ khí thô sơ phục vụ tại chỗ cho lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương.

Do có sự nhận thức đúng, có chủ trương, phương châm hành động phù hợp, kịp thời, cơ sở chuẩn bị khá chu đáo về mọi mặt, nên dù còn khá nhiều khó khăn, song quân và dân miền Nam đã từng bước vươn lên đánh bại gọng kìm bình định trong mùa khô lần thứ hai của Mỹ - ngụy.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #81 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2010, 12:53:35 pm »


Kể từ lúc khởi đầu cuộc chiến tranh đến khi Mỹ - ngụy mở cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ nhất, Khu V luôn là địa bàn “ưu tiên bình định”, nên nơi đây đã trở thành một trong những điển hình của phong trào chống bình định, phá ấp chiến lược ở miền Nam. Bước vào mùa khô năm 1966- 1967, rút kinh nghiệm trong mùa khô lần thứ nhất, Khu uỷ và Bộ Tư lệnh Quân khu V xác định: tiếp tục đẩy mạnh phương châm “ba bám” như đã thực hiện có hiệu quả trước đây, nay bổ sung thêm phương châm “cấp trên bám cấp dưới” đã kịp thời phát hiện, nghiên cứu các thủ đoạn đánh phá của địch, tìm ra cách đối phó kịp thời cho ta theo từng địa bàn. Từ đây “bốn bám” trở thành những phương châm hành động của các cấp, các ngành, của lực lượng vũ trang và nhân dân các địa phương. Đây chính là nét phát triển mới của phong trào toàn dân đấu tranh chống bình định của Mỹ - ngụy ở Khu V.

Cường độ đánh phá của địch mỗi ngày thêm ác liệt, gây ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của nhân dân. Dù vậy, các chi bộ cơ sở đều thống nhất quyết tâm: trong khó khăn, gian khổ hy sinh không được để quần chúng tách rời Đảng, vì thế, yêu cầu mỗi đảng viên phải gương mẫu và bám sát quần chúng. Cán bộ, đảng viên phải thường xuyên tuyên truyền giác ngộ cho nhân dân vạch trần mọi thủ đoạn chiến tranh tâm lý của địch, đập tan mọi luận điệu xuyên tạc, hăm doạ của chúng trong bất cứ hoàn cảnh, thời gian nào. Mọi cán bộ, đảng viên, du kích đều hứa trước dân là dù Mỹ - ngụy có càn quét, khủng bố ác liệt đến đâu cũng kiên quyết bám dân, đánh địch.

Đi đầu trong phong trào chống bình định là Quảng Nam - Đà Nẵng một trọng điểm bình định ở đồng bằng Khu V. Tại đây, bằng thủ đoạn “đốt sạch, phá sạch, giết sạch”, địch đã mở nhiều cuộc càn khốc liệt vào hai xã Lộc Hưng, Lộc Phong (Đại Lộc); sau đó mở rộng phạm vi chiếm đóng ra các địa bàn xung quanh. Hàng trăm gia đình bị chúng “xúc tát” vào các tại tập trung và ấp đời mới. Những vùng giải phóng bị địch ném bom, bắn pháo liên miên, khiến cho dân chúng không sản xuất được, phải bỏ nhà, bỏ quê đi nơi khác. Một số cán bộ, đảng viên, du kích phải tạm lánh sang vùng B Đại Lộc, Duy Xuyên chờ thời cơ quay về hoạt động.

Trước tình hình trên, Thường vụ Tỉnh uỷ Quảng Nam - Đà Nẵng đã chỉ thị khẩn cấp cho các huyện, thị phải kiên quyết bám trụ, bám dân, đánh địch trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Thực hiện chỉ thị của Thường vụ Tỉnh uỷ, các huyện, thị đã nhanh chóng tìm mọi cách đưa số cán bộ, du kích bị lật ra ngoài trong các cuộc càn quét của địch quay về địa bàn cũ hoạt động; đi đôi với việc phát triển thêm hệ thống hầm bí mật xây dựng và củng cố làng xã chiến đấu, tăng cường bố phòng chống địch càn quét, dồn dân. Từ đó, phong trào đấu tranh chống đánh càn quét dồn dân ở Quảng Nam - Đà Nẵng từng bước được phục hồi và phát triển.

Tại huyện Điện Bàn sau khi củng cố lại cơ sở đảng, lực lượng vũ trang, Huyện ủy đã phát động phong trào thi đua toàn dân đánh Mỹ; đồng thời tổ chức ra đội Thanh niên quyết tử Võ Như Hưng. Ngày 27-12-1966, đội quyết tử đã bí mật phục kích đánh thiệt hại nặng cuộc càn quét của hai đại đội địch, diệt hai xe tăng. Tiếp đó, ngày 25-1-1967, dựa vào thế trận làng xã chiến đấu, Tiểu đoàn 1 bộ đội tỉnh và bộ đội huyện Điện Bàn, du kích tại chỗ đã bao vây chặn đánh một tiểu đoàn lính thuỷ đánh bộ Mỹ khi chúng đang thực hành càn quét dồn dân lập ấp tại khu vực Gò Nổi, gây cho chúng nhiều thiệt hại. Đây là trận đầu tiên trên chiến trường Khu V tiểu đoàn bộ đội tỉnh, có sự phối hợp của bộ đội huyện và du kích cùng nhân dân đánh bại một tiểu đoàn chủ lực Mỹ càn quét. Với chiến công này, Tiểu đoàn 1 được Bộ Chỉ huy Quân giải phóng miền Nam tặng Huân chương chiến công hạng hai.

Cuối tháng 2-1967, từ Hội An, quân địch nống ra càn quét dồn dân ở Cẩm Châu, Cẩm An, Cẩm Hà và xây dựng căn cứ Mỹ ở khu Cẩm Thanh gây cho phong trào đấu tranh của ta gặp nhiều khó khăn. Để ngăn chặn các cuộc càn quét bình định của địch, đêm 4 rạng ngày 5-3, Tiểu đoàn 2 bộ đội tỉnh phối hợp với Đại đội 2 thị xã Hội An đánh địch đóng trong quận lỵ Hiếu Nhơn, diệt 70 tên, tạo điều kiện cho quần chúng các địa bàn xung quanh nổi dậy diệt ác, phá kìm, phá lỏng các ấp đời mới của địch. Như vậy, bằng quyết tâm bám đất, bám dân, xây dựng làng, xã chiến đấu, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân... lấy hoạt động tiến công địch của lực lượng ba thứ quân làm đòn xeo quân, dân Quảng Nam - Đà Nẵng đã loại khỏi vòng chiến đấu hàng ngàn tên địch, thu 319 súng các loại, đánh bại nhiều cuộc càn quét gom dân của quân Mỹ và quân ngụy, phá lỏng phá rã các ấp đời mới, khu dồn dân (kể cả quận lỵ và nông thôn), góp phần làm thất bại gọng kìm bình định trong mùa khô lần thứ hai của địch.

Nằm kế cận với Quảng Nam, trên địa bàn Quảng Ngãi, bước vào mùa khô 1966-1967, ngoài 12.000 quân Mỹ và đồng minh của Mỹ, lực lượng ngụy quân ở đây có Sư đoàn 2 (Trung đoàn 4 và Trung đoàn 67), 25 đại đội bảo an, 17 đại đội đặc biệt, 161 trung đội nghĩa quân, 1.200 cảnh sát, một chi đoàn thiết giáp, 47 đoàn “bình định”, một đại đội hải thuyền. So sánh với năm 1965, số quân địch tại đây tăng gấp hai lần. Ở các huyện Bình Sơn, Sơn Tịnh bình quân tám người dân có một tên lính. Cùng với việc tăng quân, địch mở thêm căn cứ, đồn bốt, xây dựng sân bay ở Gò Hội, căn cứ hậu cần ở Phổ Vinh (Đức Phổ)...
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #82 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2010, 12:54:27 pm »


Phối hợp với các cuộc tiến công của lực lượng vũ trang, các cấp uỷ đảng và cơ sở mật đã vận động gần bốn vạn đồng bào trong thị xã và các vùng phụ cận nổi dậy đấu tranh chống quân Mỹ và quân Nam Triều Tiên đã gây ra tội ác tày trời ở hai huyện Bình Sơn, Sơn Tịnh, đòi chấm dứt chiến tranh... Cùng thời gian này, hàng ngàn đồng bào ở ven đường số 1 đã tổ chức chặn đánh giao thông diệt xe chở hàng tiếp tế của địch. Để hỗ trợ cho đấu tranh chính trị của quần chúng, ngày 29-1, tiểu đoàn 48 đã tiến công gây thiệt hại nặng một đại đội Nam Triều Tiên ở Phố Tinh, Tịnh Phước. Tiếp đó, ngày 1-2, Tiểu đoàn 48 dựa vào công sự, trận địa ở Tịnh Kỳ, Đồng Xuân, phục kích diệt một đơn vị địch đổ quân bằng trực thăng, loại khỏi vòng chiến đấu gần 200 tên, thu 40 súng các loại. Bằng những đòn quân sự kịp thời và hiệu quả này, các cuộc càn quét gom dân của địch ở Bình Sơn, Sơn Tịnh đã bị đánh bại, ấp đời mới chẳng những không lập thêm được, mà các ấp cũ lại bị phá banh, phá rã nhiều thêm.

Quân Nam Triều Tiên bị trừng trị ở Sơn Tịnh, Bình Sơn, quân Mỹ và quân ngụy đóng ở Quảng Ngãi cũng chịu chung số phận. Trong thời gian từ 26-1 đến 18-2, du kích Phổ Minh (Đức Phổ) đã đánh bại nhiều cuộc càn quét của địch, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 300 tên; du kích Phổ Minh tập kích khu hậu cần của Mỹ, phá huỷ nhiều lương thực, nhiên liệu, đồ dùng quân sự. Tiểu đội quyết tử Đức Phong (Mộ Đức) đã cải trang đột nhập đồn địch, diệt một số ác ôn, cán bộ bình định của địch. Đặc biệt là Đại đội đặc công 21 cùng Tiểu đoàn 48 bộ đội Quảng Ngãi bất ngờ tiến công căn cứ 54, trung tâm huấn luyện cán bộ bình định của địch ở phía bắc cầu Trà Khúc diệt 226 tên. Từ những cuộc chiến đấu chống địch càn quét tại các địa phương để giữ đất, giành dân, nhiều dũng sĩ diệt Mỹ, dùng sĩ diệt quân Nam Triều Tiên đã xuất hiện, tiêu biểu nhất là Trần Bản, Xã đội phó xã Bình Châu, huyện Bình Sơn, có lần đã diệt 14 tên địch. Được sự hỗ trợ tích cực về mặt quân sự, tại các vùng xung quanh các căn cứ, đồn bốt địch..., các cơ sở mật của ta tổ chức cho quần chúng nổi dậy đấu tranh trực diện, hợp pháp với địch đòi tự do đi lại làm ăn, đòi chấm dứt càn quét, đốt phá, gom dân vào khu tập trung.

Như vậy, với phương châm “hai chân” “ba mũi” “bốn bám”, trong mùa khô 1966-1967, quân dân Quảng Ngãi đã loại khỏi vòng chiến đấu hàng ngàn tên địch (có hơn 200 tên Nam Triều Tiên và hàng trăm tên Mỹ), phá banh 46 ấp đời mới, giải phóng hàng chục ngàn dân, đánh bại kế hoạch bình định của Mỹ trên địa bàn của tỉnh.

Cũng như các tỉnh miền Trung, ngay từ đầu mùa khô (cuối 1966) địch huy động cả quân Mỹ, quân ngụy Sài Gòn và quân Nam Triều Tiên mở nhiều cuộc càn quét, đánh phá khốc liệt vùng giải phóng, căn cứ, vùng giáp ranh thuộc các huyện Hoài Ân, Hoài Nhơn, Tây Phù Cát, Tây Vĩnh Thạch... tỉnh Bình Định. Địch cho quân bao vây từng làng rồi dùng trực thăng “xúc dân” chở đến ấp đã quây sẵn, đồng thời cho xe tăng, xe bọc thép, xe ủi húc đổ hoàn toàn nhà cửa, phá sạch ruộng vườn để ngăn nhân dân quay về đất cũ. Tại khu vực giáp ranh giữa đồng bằng với miền núi, địch lập vành đai trắng và mở liên tục các cuộc hành quân càn quét quy mô nhỏ, mặt khác nối lại các đầu mối giao thông (đường 1, 19) lấn thêm một số thôn xã ở phía nam Bình Định. Theo chủ trương chung là để “tạo các điển hình” đánh đòn răn đe, hăm doạ đối với dân chúng, địch đã tổ chức hành quân bắn giết đẫm máu ở Tân Giảng (Tuy Phước), Bình An, Kiên Mỹ, Phú Lạc (Bình Khê), Kim Tài (An Nhơn), Gò Quánh (Phù Cát)... Song, hành động tội ác của Mỹ - ngụy không những không làm cho nhân dân run sợ, mà ngược lại, càng gây nên sự căm phẫn cực độ với quần chúng và trở thành động lực thúc đẩy quân, dân Bình Định vùng lên chống lại chúng. Thường vụ Tỉnh uỷ và Bộ Chỉ huy tỉnh đội Bình Định phát động lực lượng vũ trang toàn tỉnh đẩy mạnh hoạt động mùa khô, hỗ trợ cho quần chúng các huyện xã phá kế hoạch dồn dân của địch. Để hỗ trợ cho hoạt động của lực lượng vũ trang tỉnh Bình Định, Quân khu V đã đưa Trung đoàn 12 thuộc Sư đoàn 3 xuống phối hợp chiến đấu. Ngày 17-12, Trung đoàn 12 và bộ đội, du kích Hoài Ân ra quân đánh bại cuộc càn của bốn đại đội kỵ binh không vận Mỹ ở Long Giang, Lộc Giang. Tiếp đó, ngày 25-12, Trung đoàn 12 bất ngờ tiến công diệt cụm quân hỗn hợp gồm hai đại đội pháo binh và hai đại đội bộ binh Mỹ tại Xuân Sơn... Bằng những trận đánh chủ động này, lực lưỡng vũ trang quân khu và tỉnh Bình Định đã đánh một đòn đau vào kế hoạch bình định dồn dân của địch, lấy lại lòng tin cho nhân dân, tạo điều kiện cho các cán bộ cơ sở quay trở về địa bàn lãnh đạo phong trào quần chúng tiếp tục đấu tranh.

Bước vào năm 1967, ngay những tháng đầu năm, các tiểu đoàn quân Mỹ, đồng minh và quân ngụy luân phiên nhau hành quân chà đi xát lại nhiều lần các vùng đồng bằng đông dân, vùng giáp ranh và đã dồn được một số dân vào các ấp đời mới, thiết lập lại bộ máy ngụy quyền cơ sở ở một số địa phương. Đối với những vùng địch tạm thời kiểm soát, chúng tăng cường quản chế dân, có nơi trung bình cứ ba người dân có một lính canh giữ. Ở các khu vực giáp ranh do lính Mỹ và Nam Triều Tiên chà đi xát lại liên tục trong nhiều ngày tháng, nên các làng mạc sầm uất trước đây chỉ còn lưa thưa những bụi cây, những thân dừa bị bom đạn tiện ngang nham nhở đầy thương tích. Nhiều thôn xã như Ân Tín (Hoài Ân), Hoài Châu, Hoài Hảo (Hoài Nhơn), Mỹ Hiệp (Phù Mỹ), Cát Hanh (Phù Cát)... phải chịu hàng trăm tấn bom, đạn pháo cỡ lớn của địch, nhưng các tầng lớp nhân dân vẫn kiên trì bám trụ “một tấc không đi, một ly không rời”, phương châm “ba bám” vẫn được quân dân Bình Định duy trì triệt để, cho nên phong trào chống phá bình định đạt hiệu quả ngày càng cao.

Tiêu biểu nhất là trận quân dân xã Cát Hanh, huyện Phù Cát ngày 17-1-1967 chống một đại đội Nam Triều Tiên càn vào làng. Trong trận này, chiến sĩ du kích Nguyễn Đức Cường với khẩu cácbin trong tay đã lợi dụng hang đá Vĩnh Tường, trụ bám đánh địch từ sáng đến chiều, diệt 13 tên. Khi trận đánh đang ở thời điểm quyết liệt nhất Nguyễn Đức Cường bị thương nặng và súng hết đạn. Biết mình khó qua khỏi, Nguyễn Đức Cường dùng máu viết lời chào đồng đội trên chiếc khăn tay: “khi Đảng cần tôi sẵn sàng hy sinh, chúc anh em ở lại đánh thắng giặc để trả thù cho đồng bào”. Sau đó, anh dồn sức còn lại đập gãy khẩu súng của mình và bò ra cửa hang rút chốt quả lựu đạn cuối cùng nằm đè lên nhử địch đến. Thấy có người trong hang bò ra, bọn địch tưởng du kích đầu hàng, chúng liền xúm lại, một tên trong đồng bọn lật người Cường lên, lựu đạn nổ, Cường đã anh dũng hy sinh kéo theo nhiều tên địch chết, bị thương. Tấm gương hy sinh của Cường đã trở thành niềm tự hào và tượng trưng cho tinh thần kiên quyết đấu tranh chống lại kế hoạch bình định của Mỹ-ngụy trên mảnh đất Bình Định.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #83 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2010, 12:55:09 pm »


Từ ngày 9 đến ngày 17-2-1967, địch mở cuộc càn quét vào khu vực Hoài Ân, An Lão, hỗ trợ cho các đội Bình Định tiến hành thanh lọc dân, bắt cán bộ, đảng viên nằm vùng... dồn dân lập ấp. Song, đến đâu cũng bị bộ đội huyện, du kích ấp, xã dựa vào công sự đã chuẩn bị trước tại các ấp chiến đấu, bao vây, chia cắt đánh lui. Được đòn quân sự tạo thế, phong trào chống phá bình định của quần chúng các địa phương diễn ra rất sôi động không chỉ để bám trụ địa bàn giành dân, giành quyền làm chủ mà còn đấu tranh trực diện vạch mặt sự giả dối, phản động của bọn bình định, tẩy chay trò hề “cứu trợ xã hội”, “tái thiết nông thôn” của địch. Nhiều toán bình định đã bị tiêu diệt hoặc tan rã. Do phong trào ở các địa phương lên mạnh, bộ máy tề điệp của địch ở cơ sở hoang mang, dao động mạnh, nhiều tên cầm đầu xã, ấp đã bỏ trốn. Có những thôn xóm sau khi địch dồn được dân lại, nhưng không có tên tay chân mới nào dám làm ấp trưởng, ấp phó, địch buộc phải đưa người ở nơi khác đến, thậm chí cả lính Mỹ lên nắm chính quyền thôn, xã. Như vậy, bằng phương châm “ba bám”, kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh quân sự với chống phá bình định gom dân, quân, dân Bình Định đã đánh bại kế hoạch bình định của địch.

Ở tỉnh Phú Yên, cuối 1966, địch chuyển trọng điểm càn quét bình định từ Tuy Hoà ra các huyện phía bắc Phú Yên. Qua kinh nghiệm rút ra từ phong trào của Tuy Hoà, Tỉnh uỷ đã chỉ thị cho bộ đội chủ lực tỉnh và huyện, du kích ấp, xã... bằng mọi cách trụ bám địa bàn, tổ chức phản công và tiến công địch, hỗ trợ đắc lực cho quần chúng phá ấp, phá kìm mở rộng vùng giải phóng. Đây là một chủ trương sát thực, kịp thời, đảm bảo chắc thắng cho hoạt động giành dân, giành quyền làm chủ của Phú Yên mùa khô 1967.

Ngày 19-1-1967, du kích Ma Lâm (Sơn Hoà) phục kích đánh thắng trận càn của một trung đội địch, diệt bảy tên. Ngày 7-3, du kích An Nghiệp (Tuy An) dựa vào công sự, hầm hào đánh thắng trận càn quét của một trung đội Mỹ, loại khỏi chiến đấu 12 tên. Đêm hôm sau, Đại đội đặc công 202 tập kích căn cứ Hòn Đồn, xã An Định, diệt một trung đội địch... Hoạt động vũ trang tăng lên và kết quả giành được đã hỗ trợ quần chúng cách mạng An Định nổi dậy phá kìm, diệt ác ôn, vô hiệu hoá ngụy quyền, nguy quân thôn, ấp trong nhiều ngày.

Bị thất bại liên tiếp trong các trận càn quét bình định quy mô nhỏ, cho nên ngày 17-3, địch sử dụng Sư đoàn Mãnh Hổ (Nam Triều Tiên) mở cuộc hành quân mang tên Đống Đa, càn quét quy mô lớn trên địa bàn cả ba huyện Tuy An, Đồng Xuân và Sông Cầu. Tại huyện Tuy An, quân Nam Triều Tiên đã tàn sát 532 người, chủ yếu là phụ nữ, trẻ em và người già; đốt hàng trăm nóc nhà, nhiều thôn xóm trở thành vùng trắng... Chỉ trong thời gian ngắn, địch đã dồn hơn 60 ngàn dân thuộc ba huyện trên vào các ấp tân sinh, ấp đời mới... Ở xung quanh các căn cứ, quận lỵ của chúng. Tại đây, dân chúng phải sống trong các căn nhà lợp tôn nóng bức, thiếu diện, nước..., bị o ép về tinh thần, bệnh tật phát sinh nhiều, hàng trăm người đã bị dịch bệnh cướp đi sinh mạng.

Để chặn bàn tay tội ác của địch, Tỉnh uỷ và Tỉnh đội Phú Yên đã chỉ thị cho toàn bộ lực lượng vũ trang ba thứ quân trong tỉnh chủ động bám địch để đánh, vừa đánh vừa rút kinh nghiệm, đánh để giải toả tâm lý “ngại” tác chiến với quân Nam Triều Tiên và làm hậu thuẫn cho nhân dân nổi dậy, phá ấp, phá kìm. Mở đầu cho phong trào, đêm 16-5-1967, Đại đội đặc công 202 của tỉnh bất ngờ tập kích cứ điểm đồi Ông Trợ thuộc An Định huyện Tuy An do quân Nam Triều Tiên chiếm đóng. Sau khoảng nửa giờ chiến đấu, đại hội 202 làm chủ trận địa, diệt và làm bị thương 150 tên địch, thu nhiều vũ khí, quân trang, quân dụng. Trận thắng này không chỉ là đòn chí mạng quật vào uy danh của quân Nam Triều Tiên, tạo ra sự phấn khởi tin tưởng cho các tầng lớp nhân dân, trực tiếp nhất là dân ba huyện Tuy An, Đồng Xuân, Sông Cầu, mà còn mở ra đợt hoạt động đánh địch mới, rộng khắp trên các địa phương. Tại Sông Cầu, bộ đội huyện đã giữ vai trò nòng cốt giúp du kích các xã Hoà Nghĩa, Hoà Lợi, Cao Phong, Chinh Nam... tiến công và phản công phá tan các trận càn quét quy mô trung đội của địch, giữ vững cơ sở và phong trào du kích. Ở Tuy An, bộ đội huyện kết hợp với du kích các xã Hoà Đa, Phong Niên, Ngân Sơn... chủ động tiến công diệt đồn bốt, đẩy lùi các đội bình định của địch, làm chỗ dựa cho quần chúng đấu tranh chính trị phá kìm, giành quyền làm chủ. Do sự tích cực chủ động của lãnh đạo chỉ huy, của lực lượng vũ trang, nên sau đợt hoạt động này, Phú Yên đã đánh thắng 104 trận càn quét, bình định quy mô từ cấp trung đội đến sư đoàn của địch, loại khỏi vòng chiến đấu 1.679 tên..., tạo điều kiện cho nhân dân nổi dậy diệt 47 tên ác ôn, phá 27 ấp đời mới, đưa 15.000 dân về làng cũ làm ăn. Đến đây, kế hoạch bình định của Mỹ - ngụy trong mùa khô lần thứ hai ở Phú Yên cơ bản thất bại.

Nằm kế cận với Khu V, Tây Nguyên luôn là địa bàn đọ sức quyết liệt giữa ta và địch kể từ những ngày đầu chiến tranh. Trong mùa khô này địch tập trung tại đây bốn sư đoàn bộ binh (có hai sư đoàn Mỹ), hai trung đoàn thiết giáp, 11 tiểu đoàn pháo, một số đơn vị biệt động và địa phương quân. Ngoài mục tiêu tìm diệt chủ lực ta, mục tiêu bình định các buôn làng, cắt đứt hành lang chiến lược Bắc - Nam, khôi phục thế trận của chúng trên cao nguyên trung phần đã bị ta phá vỡ trong mùa khô trước, cũng được đặt ra một cách kiên quyết. Về phía ta, trên cơ sở chủ trương của Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh là “lấy chiến trường miền núi làm chiến trường tiêu diệt địch - trọng điểm là Tây Nguyên và Đông Nam Bộ”, Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên mở đợt hoạt động lớn nhằm diệt, thu hút, kìm chân một lực lượng lớn quân Mỹ - ngụy, hỗ trợ cho phong trào quần chúng chống phá địch bình định đạt hiệu quả cao.

Bằng cách sử dụng lực lượng hợp lý, kết hợp đánh vừa với đánh nhỏ, lẻ rộng khắp từ ngày 11-2 đến ngày 7-4-1967, các lực lượng vũ trang Tây Nguyên đã đánh thắng các cuộc hành quân càn quét của quân Mỹ và quân Sài Gòn ở Ia Vầm, Chư Pông, loại khỏi vòng chiến đấu 60 tên địch. Được lực lượng vũ trang hỗ trợ, đồng bào các xã Đắc Uy, Mang Khênh (Kon Tum), Huyện 4. Huyện 5 (Gia Lai), xã Khuê Ngọc Điền (Đắc Lắc)... liên tục đấu tranh làm thất bại các cuộc dồn dân của địch, giữ vững địa bàn, bảo vệ vững chắc cơ sở. Với những hoạt động nhịp nhàng của đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị, nên thế trận chiến tranh nhân dân trên địa bàn Tây Nguyên được củng cố và phát triển, Mỹ- ngụy buộc phải bị động phân tán lực lượng đối phó. Chúng không thể tiêu diệt được lực lượng vũ trang và cơ sở cách mạng, không dồn được hết nhân dân vào các ấp đời mới.

Như vậy, mặc dù đã tăng cường số lượng rất lớn lực lượng và phương tiện chiến tranh phục vụ cho gọng kìm bình định, dồn dân lập ấp, song Mỹ - ngụy đã không khuất phục được quân dân khu V và Tây Nguyên kiên cường bất khuất. Chúng càn quét đánh phá với quy mô và mức độ ác liệt bao nhiêu cũng không dập tắt được phong trào đấu tranh của nhân dân, ngược lại, tội ác của chúng càng chồng chất, căm thù của nhân dân càng cao, tinh thần đấu tranh của đồng bào, chiến sĩ ta càng mạnh mẽ quyết liệt. Chỉ tính từ tháng 3 đến tháng 6-1967, quân dân khu V đã diệt 23 đoàn, 24 đội, ba trung tâm huấn luyện cán bộ “xây dựng nông thôn”, và bắt gần 2.000 cán bộ bình định của địch. Đến đây, khu V - Tây Nguyên đã cơ bản đánh thắng được gọng kìm bình định trong mùa khô lần thứ hai của Mỹ - ngụy.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #84 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2010, 12:55:58 pm »


Tại Khu VI - vùng đất cực Nam Trung Bộ, giáp với miền Đông Nam Bộ, ngay đầu mùa khô 1966-1967, Mỹ đã đưa một lữ đoàn kỵ binh không vận đến chiếm đóng ở khu vực Êsêpíc, Bà Gò, Cỏ Mồm (Bình Thuận); đưa Lữ đoàn 1 thuộc Sư dù 101 Mỹ, Trung đoàn 30 thuộc Sư đoàn Bạnh Mã (Nam Triều Tiên) vào chiếm Thành Sơn, cảng Ninh Chữ (Ninh Thuận); một đại đội công binh Mỹ, một đại đội công binh Ôxtrâylia vào đứng chân ở khu vực sân bay Cam Ly (Tuyên Đức)... để hỗ trợ cho việc thực hiện gọng kìm bình định. Thủ đoạn hoạt động của địch là khoanh vùng trọng điểm bình định, dùng hoả lực pháo binh và máy bay ném bom B52 rải thảm đánh đòn phủ đầu, sau đó cho trực thăng đổ quân tiến hành càn quét chà xát làm sạch địa bàn, chuẩn bị các khu dồn dân... Tiếp đó, địch đánh rộng ra các hướng bằng chiến thuật “nhảy cóc” hoặc dùng bộ binh lùng sục rộng ra các hướng theo kiểu tác chiến của biệt kích hay mật phục diệt cơ sở và lực lượng du kích ta, để quân địa phương và các toán “xây dựng nông thôn” xúc dân vào khu tập trung.

Để đối phó với địch, mặc dù cuối năm 1966, Bộ Tư lệnh Miền điều hai trung đoàn 16, 346 đi hoạt động ở chiến trường khác, khu VI còn lại hai tiểu đoàn bộ binh 840, 186 và Tiểu đoàn trợ chiến 145, nhưng Khu uỷ và Bộ Tư lệnh Quân khu vẫn chủ trương: “Đẩy mạnh hoạt động tiến công địch ở phía trước, tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, phá ấp, phá kìm, giải phóng dân và giữ dân, mở rộng vùng ta, đồng thời đánh bại mọi kế hoạch càn quét đánh phá mùa khô của địch, giữ vùng ta”1. Trọng điểm chống phá bình định được quân khu xác định là Bình Thuận và Lâm Đồng. Quân khu đã tập trung lực lượng chủ yếu cho hai trọng điểm này.

Ngày 23-2-1967, Tiểu đoàn 186 có lực lượng bộ đội huyện Di Linh phối hợp tiến công diệt một trung đội dân vệ ở ấp chiến lược cây số 5 (cạnh đường 20) thuộc địa phận huyện Di Linh tỉnh Lâm Đồng; sau đó tổ chức phục kích diệt tiếp một đại đội bảo an đến giải toả vào ngày 24, tạo điều kiện thuận lợi cho quần chúng trong ấp nổi dậy, phá kìm, giành quyền làm chủ. Với thắng lợi này, quân, dân Di Linh đã làm cho một bộ phận ngụy quân, ngụy quyền ở cơ sở hoang mang, lo sợ. Trước thời cơ thuận lợi này, Tiểu đoàn 186 cùng Tiểu đoàn 145 tổ chức tiến công hệ thống phòng thủ của quân ngụy ở tây và tây bắc BLao; tiêu diệt, làm tan rã phần lớn bọn biệt kích ngụy ở Tân Rai, uy hiếp đường 20 đoạn từ Bảo Lộc đi Đà Lạt. Phát huy chiến quả của bộ đội chủ lực, lực lượng địa phương tại chỗ đã liên tục mở các trận tiến công đánh phá các trụ sở, đồn bốt ngụy quyền, các trục giao thông, tổ chức nhân dân nổi dậy phá ấp, phá kìm, giành quyền làm chủ.

Ở Bình Thuận, đầu năm 1967, lực lượng vũ trang tỉnh đã tiến công diệt chi khu Ma Lâm, nhưng sau đó khi đơn vị di chuyển đi nơi khác, Mỹ liền dùng trực thăng đổ quân chụp úp đánh chặn quyết liệt gây tổn thất khá lớn cho ta. Cuối tháng 2, địch dùng sáu tiểu đoàn quân Mỹ và Nam Triều Tiên mở cuộc càn quét vào khu căn cứ Lê Hồng Phong. Được Đại đội 440 bộ đội tỉnh hỗ trợ, du kích và tự vệ khu căn cứ tổ chức phân công nhau bám đánh địch, loại khỏi vòng chiến đấu 230 tên, phá huỷ hai xe bọc thép, bắn rơi hai máy bay trực thăng. Tuy nhiên, địch cũng chiếm được một số vùng của ta, song cán bộ cơ sở của ta bám trụ lãnh đạo nhân dân liên tục đấu tranh, làm cho địch không gom dân lập ấp đời mới được. Cùng thời gian này, Tiểu đoàn 840 của quân khu đứng chân ở Bắc Bình Tuy, Hoà Đa (Bắc Bình) có lực lượng vũ trang tại chỗ phối hợp, đã đánh thiệt hại nặng nhiều trung đội, đại đội bảo an, dân vệ, diệt đồn Duồng, bốn lần tập kích vào thị xã Phan Rí hỗ trợ cho phong trào quần chúng nổi dậy phá lỏng, phá rã phần lớn hệ thống kìm kẹp, ấp đời mới của địch ở bắc xã Tuy Phong, Hoà Đa.

Phối hợp với các trọng điểm của Khu, trong tháng 1 và 2-1967, lực lượng vũ trang địa phương tỉnh Ninh Thuận đã tập kích cảng Ninh Chữ, sân bay Thành Sơn, đánh thiệt hại nặng một đại đội quân cảnh Mỹ ở thị xã Phan Rang. Ở Tuyên Đức lực lượng vũ trang ba thứ quân của ta liên tục đánh địch trên đường 11, 20, 21, tiến công một số căn cứ địch ở ven Đà Lạt, tạo điều kiện cho nhân dân trong các ấp đời mới ở vành đai thành phố Đà Lạt phá lỏng thế kìm...

Như vậy, trên chiến trường Khu VI, mùa khô 1966-1967, mặc dù Mỹ - ngụy tăng cường càn quét, dồn dân, lập ấp với mức độ ráo riết và ác liệt hơn mùa khô 1965-1966, song phong trào đấu tranh chống bình định ở đây chẳng những không bị suy giảm, mà ngược lại vẫn tiếp tục phát triển, đặc biệt là phong trào chiến tranh du kích. Được sự giúp đỡ, phối hợp của lực lượng vũ trang quân khu, tỉnh, huyện và phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng, phong trào du kích chiến tranh phát triển mạnh, trở thành chỗ dựa tin cậy, trực tiếp nhất cho công tác chống phá bình định, ấp đời mới, đạt kết quả. Ở các vùng căn cứ, vùng giáp ranh, phong trào nhân dân du kích chiến tranh được phát động từ trước và đang lớn mạnh. Ở các vùng phía sau, lực lượng du kích làng, xã, du kích cơ quan, du kích hành lang, bộ đội địa phương cùng nhân dân các làng xã chiến đấu được tổ chức, biên chế sẵn, khi địch càn quét bình định đã bị ta chặn đánh kịp thời. Do vậy, chỉ trong đợt chống càn từ tháng 1 đến tháng 3-1967, Quân khu VI đã loại khỏi vòng chiến đấu 1.500 tên địch, phá huỷ và thu nhiều phương tiện chiến tranh, giữ vững các khu căn cứ, vùng giải phóng. Cùng với tác chiến của lực lượng vũ trang bẻ gãy các cuộc càn quét của địch, quần chúng nhiều địa phương vẫn đẩy mạnh đấu tranh chính trị, binh vận... chống gom dân, lập tề, rào làng..., đòi về đất cũ làm ăn, bồi thường thiệt hại... gây khó khăn cho địch trong việc thực hiện kế hoạch bình định. Đến hết mùa khô 1966-1967, khu VI đã làm chủ thêm được một số vùng, có nơi lấn sát vào căn cứ quận lỵ của địch như ở Lâm Đồng ta giải phóng nhiều ấp trên đường 20 (sát thị xã BLao, thị trấn Di Linh); ở Bình Thuận, ta vẫn giữ được thế tranh chấp ở khu tam giác, phá lỏng thế kìm kẹp ở một số ấp thuộc địa bàn huyện Bắc Bình... Tuy vậy, phong trào đấu tranh chính trị vẫn yếu hơn so với quân sự, phương pháp đấu tranh còn hạn chế, xuôi chiều..., nên ở một số nơi địch đã xúc được dân vào ấp đời mới, khu tập trung.
_______________________________________
1. Xem: Phòng tổng kết chiến tranh Quân khu VI - Ban Tổng kết chiến tranh B2: Báo cáo tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên chiến trường khu VI, tập I, lưu tại Viện lịch sử Quân sự Việt Nam.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #85 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2010, 12:57:00 pm »


Không giống các quân khu khác, miền Đông Nam Bộ (Khu VII) địa bàn trú đóng cơ quan đầu não của chế độ Mỹ - ngụy, nên nơi đây luôn là trọng điểm ưu tiên bình định của địch trong suốt cuộc chiến tranh. Thực hiện gọng kìm bình định trong mùa khô 1966-1967, Mỹ và chính quyền Sài Gòn huy động nhiều đơn vị chủ lực ngụy - Mỹ kết hợp với toàn bộ quân bảo an, dân vệ, các đoàn “cán bộ xây dựng nông thôn”... mở liên tục các cuộc hành quân càn quét, và hành quân bình định, đánh phá tàn khốc vào các vùng trọng điểm thuộc: Bình Dương, Gia Định, Hậu Nghĩa, Phước Tuy... Riêng trọng điểm Hậu Nghĩa, quân Mỹ đóng vai trò chủ yếu trong hành quân bình định.

Cũng như quân Nam Triều Tiên, các cuộc hành quân càn quét bình định các thôn ấp miền Đông Nam Bộ, quân Mỹ đã gieo rắc nỗi kinh hoàng không chỉ cho nhân dân ta, mà còn tác động mạnh đến tinh thần binh sĩ của chúng. Trung sĩ Hăngry - một cựu binh của Sư đoàn 24 bộ binh Mỹ kể lại: “Chúng tôi tiến vào một ấp nhỏ, 19 phụ nữ và trẻ con bị gom lại như là những tình nghi Việt cộng và người trung uý đã gom họ hỏi người đại uý phải làm gì với họ. Người đại uý chỉ đơn giản lặp lại lệnh từ trên xuống sáng nay của đại tá: giết bất cứ cái gì động đậy”1. Đại uý Rôbớt Giônxơn, chỉ huy đại đội lính thuỷ đảnh bộ Mỹ nhớ lại rằng: “Trong tất cả các cuộc hành quân, chúng tôi đã phá huỷ toàn bộ lương thực của dân thường mà chúng tôi không thể lấy đi. Nếu chúng tôi không thể đốt túp lều, chúng tôi sẽ phá huỷ bằng thuốc nổ. Như tôi đã nói, chúng tôi làm việc này trên một cơ sở thông thường. Đó là một bộ phận của chính sách nhằm “khuyến khích” nhân dân chuyển vào các trại giam do lực lượng Mỹ và Sài Gòn kiểm soát”2.

Để chặn bàn tay tội ác của Mỹ - ngụy, nhân dân và lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ, mà tập trung là những vùng trọng điểm bình định của địch đã tích cực phát triển lực lượng, mở rộng vùng giải phóng, phát triển du kích vành đai bao vây các căn cứ quân sự (chủ yếu là căn cứ Mỹ), tích cực luồn sát, đánh đau ở các đô thị, đánh vào cơ quan đầu não của địch. Với tinh thần luôn chủ động tiến công địch vốn có, lại được sự chỉ đạo kịp thời, sâu sát của Đảng uỷ, Bộ Tư lệnh Quân khu VII, quân dân miền Đông Nam Bộ vũng tin bước vào cuộc chiến đấu chống địch bình định.

Tại tỉnh Bà Rịa, địch tiến hành thí điểm lập ấp đời mới bằng kỹ thuật “hàng rào Ôxtrâylia” ở khu vực từ núi Đa Quy đến núi Đất (Đất Đỏ) với tổng chiều dài 11 km; vòng ngoài là hàng rào biệt kích Ôxtrâylia, vòng trong là lớp dây kẽm gai với độ dày từ 30 đến 100m dày đặc, xen kẽ gài mìn E3 và M16.

Mặc dù chủ trương “bốn bám”, xây dựng hầm bí mật, cơ sở và du kích mật... đã được các địa phương thực hiện từ lâu trong các xã, ấp; song do hàng rào Ôxtrâylia khoanh được dân, cắt liên lạc trong với ngoài ấp, nên Chiến khu Dương Minh Đạm bị mất nguồn tiếp tế, phong trào đấu tranh gặp nhiều khó khăn. Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là do ta chưa khắc phục được “hàng rào Ôxtrâylia”, mà trực tiếp là kỹ thuật cài mìn E3, M16 trên hàng rào dây thép gai xung quanh ấp. Trước đòi hỏi cấp bách của tình hình, tổ công binh huyện Đất Đỏ do chiến sĩ Hùng Mạnh phụ trách đã xung phong đảm trách nhiệm vụ khó khăn, nguy hiểm này.

Qua nhiều lần bí mật tiếp cận nghiên cứu tính năng, kỹ thuật của các loại mìn địch cài trên hàng rào và cách cài đặt cụ thể, cuối cùng tổ công tác của Hùng Mạnh đã tìm ra bí quyết tháo gỡ các loại mìn gài trên “hàng rào Ôxtrâylia”. Tổ của chiến sĩ Hùng Mạnh làm thí điểm an toàn rồi phổ biến rộng rãi cho bộ đội, du kích, tự vệ... của toàn huyện. Nhờ vậy, quân dân Đất Đỏ đã dần dần vô hiệu hoá được hệ thống “hàng rào Ôxtrâylia”. Từ đó, ta phá ấp đời mới đưa dân lên thế làm chủ, biến nơi đây thành nơi cung cấp mìn cho du kích đánh giặc. Ấp đời mới Đất Đỏ đã được xây dựng thành ấp chiến đấu liên hoàn. Thắng lợi này đã tạo ra khí thế mới cho các địa phương trong toàn tỉnh Bà Rịa nổi dậy đánh thắng gọng kìm bình định của Mỹ - ngụy trong cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai.

Khác với Bà Rịa, địa bàn càn quét, bình định của quân Mỹ ở tỉnh Sông Bé - nơi có hệ thống địa đạo, hầm ngầm được xây dựng khá hoàn chỉnh, bảo đảm cho bộ đội và du kích bám trụ đánh địch, mục tiêu địch đặt ra cho công tác bình định ở sông Bé là “phá cho được địa đạo”, gom hết dân vào ấp đời mới, trại tập trung.

Dựa vào hệ thống địa đạo, các ụ chiến đấu, bộ đội và du kích Bến Cát đã kiên cường bám trụ, đánh bại các đợt càn quét của quân Mỹ có số lượng đông hơn ta gấp nhiều lần. Cùng với chiến đấu, quân, dân Bến Cát cũng không ngừng củng cố, phát triển hệ thống địa đạo công sự, trận địa chiến đấu ngày càng hoàn thiện, vững chắc. Quá trình chiến đấu, bộ đội và du kích ở đây đã tìm ra được phương pháp chống chọi với đội quân “chuột cống” Mỹ rất hiệu quả, đó là dùng xà phòng, nước hoa Mỹ vẩy lên các khu vực có nắp hầm, lỗ thông hơi... vô hiệu hoá khả năng đánh hơi của chó nghiệp vụ, bảo đảm an toàn cho ta trụ bám, chủ động đánh địch.

Ngày 4-2, do chủ động nắm địch, sớm phát hiện được kế hoạch hành quân của chúng, nên quân, dân An Phú (Bến Cát) đã bẻ gãy trận càn cấp tiểu đoàn địch, loại khỏi vòng chiến đấu gần 100 tên, phá hủy hai xe bọc thép. Ngày 18-2, bộ đội huyện Bến Cát và du kích xã Long Nguyên đã phối hợp đẩy lùi trận càn của hai tiểu đoàn địch vào ấp Cà Na. Cùng ngày, du kích xã Uyên Hưng đã diệt đoàn cán bộ bình định 36 tên. Ở trọng điểm bình định Sóc Tranh (Bình Long), trong tháng 2 và 3-1967, du kích và nhân dân dựa vào công sự hầm hào của xã, ấp chiến đấu, đánh thắng các cuộc càn quét gom dân của địch, giữ vững địa bàn.
_______________________________________
1. Dẫn theo Giôdép Amtơ: Lời phán quyết về Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1985, tr.473.
2. Tlđd, tr.475.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #86 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2010, 12:57:59 pm »


Cùng với hoạt động quân sự, phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng cũng diễn ra sôi nổi và rộng khắp. Ở Thủ Dầu Một, trong mùa khô này, đã có hơn bốn ngàn phụ nữ tham gia trong 6 cuộc đấu tranh lớn, nhỏ chống địch càn quét gom dân... Ở đồn điền cao su Dầu Tiếng, công nhân đã tổ chức 32 cuộc đấu tranh đòi quân Mỹ rút về nước, đòi tăng lương, giảm giờ làm... Tiêu biểu nhất là vào đầu tháng 2-1967, lợi dụng thời điểm quận trưởng Châu Thành đưa lính dồn 150 người dân (chủ yếu là phụ nữ) đến dự lễ khánh thành ấp đời mới Khánh Vân (xã Tân Phước Khánh), bà con đã biến nơi đây thành diễn đàn công khai vạch bản chất giả nhân, giả nghĩa của địch, tố cáo tội ác của chúng và kiên quyết phản đối không vào sống trong ấp, khu tập trung của địch. Cùng thời gian trên, hơn 1.000 dân xã Thới Hoà đã biến cuộc học tập chủ trương “tái thiết nông thôn” của địch thành cuộc đấu tố các hành động đốt nhà, xúc dân, phá tàn sản của nhân dân. Ở Bù Đăng, đồng bào Striêng sống trong các ấp đời mới đã 39 lần đấu tranh đòi về quê cũ làm ăn.

Trong chống địch càn quét, phụ nữ đóng vai trò lớn trong phong trào đấu tranh chính trị, binh vận. Trong mũi đấu tranh vũ trang, phụ nữ cũng đã lập được nhiều chiến công xuất sắc. Đó là Nguyễn Thị Hoài, Xã đội phó Thới Hoà chỉ huy du kích chống càn vào trung tuần tháng 2-1967, trong số 136 tên địch bị loại khỏi vòng chiến đấu, Hoài đã diệt được 16 tên và hai xe thiếp giáp; Lê Thị Thuỳ Linh, chiến sĩ tự vệ mật, hoạt động dưới danh nghĩa nhân viên nhà hàng Phú Cường (thị xã Thủ Dầu Một) đã bí mật đặt một khối thuốc nổ vào trụ sở ngụy quyền, diệt tám tên, làm bị thương hàng chục cán bộ bình định, ác ôn có nhiều nợ máu với nhân dân...

Bằng những hoạt động như trên, nhân dân và lực lượng vũ trang tỉnh Sông Bé đã đánh bại được các cuộc càn quét của địch, giữ được đất, giành được dân, góp phần đánh bại gọng kìm bình định trong cuộc phản công mùa khô lần thứ hai của địch.

Hoà chung khí thế tiến công của các tỉnh vùng ven, tại nội đô Sài Gòn - Gia Định, phong trào đấu tranh của tăng ni, phật tử bùng lên khá mạnh mẽ, khởi đầu là vụ tự thiêu của nữ sinh viên phật tử Nhất Chi Mai vào ngày kỷ niệm Phật Đản lần thứ 2511 (ngày 16-5-1967 - tức ngày 8-4 năm Đinh Mùi) để phản đối chiến tranh, đòi hoà bình và bình đẳng giữa các tôn giáo. Sự kiện Nhất Chi Mai tự thiêu đã làm xúc động hàng vạn đồng bào theo đạo và không theo đạo, làm dấy lên phong trào Phật giáo chống Mỹ, Thiệu - Kỳ. Từ đây, hàng năm vào ngày lễ Phật Đản, học sinh, sinh viên miền Nam lại tổ chức “đợt hoạt động Nhất Chi Mai” xuống đường đấu tranh chống Mỹ - ngụy. Bên cạnh đó, để chống lại lối sống xa hoa, đồi trụy và văn hoá thực dân, các phong trào đấu tranh bảo vệ nền văn hoá dân tộc, bảo vệ quyền lợi, nhân phẩm con người, chống dồn dân vào các “khóm chiến lược”... đã thu hút đông đảo quần chúng ở mọi tầng lớp, lứa tuổi, nghề nghiệp tham gia.

Với sự hoạt động không mệt mỏi trên mọi mặt trận, quân và dân miền Đông Nam Bộ đã giành được những thành quả rất đáng tự hào. Tại Đại hội quyết thắng giặc Mỹ xâm lược toàn miền Nam tháng 10 - 1967, miền Đông Nam Bộ có 20 cán bộ, chiến sĩ được phong tặng danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Đồng thời, những tên gọi đầy niềm tự hoà như “Củ Chi đất thép”... do Đại hội khái quát đã trở thành những hình tượng đẹp đẽ của đất miền Đông Nam Bộ. Đặc biệt, trên mặt trận chống bình định, quân dân miền Đông đã kiên trì thực hiện phương châm “ba bám”, xây dựng ấp, xã chiến đấu chống địch, giữ đất, bảo vệ dân, mở rộng vùng giải phóng. Tại đây, nhiều ấp, xã chiến đấu liên hoàn đã ra đời, như Củ Chi có bảy xã chiến đấu liên hoàn với 120 km địa đạo sâu và nhiều tầng dưới lòng đất... bảo đảm cho bộ đội, du kích và nhân dân trụ vững địa bàn, phá được các kế hoạch bình định của Mỹ - ngụy. Từ những thành quả đã giành được của các địa phương, quân, dân miền Đông đã góp phần cùng toàn miền Nam đánh bại gọng kìm bình định của Mỹ - ngụy.

Kề với miền Đông Nam Bộ, ở chiến trường Khu VIII, cuối tháng 10-1966, Khu uỷ đã chỉ thị cho các tỉnh tiến hành đợt sinh hoạt chính trị quán triệt tình hình nhiệm vụ mới nhằm củng cố và nâng cao quyết tâm đánh Mỹ. Mặt khác, quân khu mở hội nghị chiến tranh du kích, rút kinh nghiệm hoạt động trong mùa khô 1965-1966 và mùa mưa 1966, học tập kinh nghiệm xây dựng vành đai diệt Mỹ của các tỉnh bạn để áp dụng đấu tranh trong mùa khô 1966-1967.

Đối với địch, Khu VIII lúc này vẫn là trọng điểm bình định. Tại các tỉnh “ưu tiên quốc gia” như Long An, Mỹ Tho, Bến Tre... địch huy động các sư đoàn chủ lực kết hợp với bảo an, dân vệ, biệt kích, các toán bình định dân sự tại chỗ mở các cuộc hành quân càn quét, dồn dân, lập các khu tập trung.

Là tỉnh sát nách Sài Gòn, nên việc tổ chức hành quân càn quét bình định ở Long An chủ yếu do quân Mỹ tiến hành, với mục tiêu: xoá bỏ các căn cứ truyền thống thuộc các xã ven sông Vàm Cỏ Đông, hai xã ở Bến Lức, bốn xã ở Thủ Thừa, năm xã thuộc thượng Cần Đước...; ở nam đường 4, địch tập trung đánh phá các xã Phước Lại, Hiệp Phước, Hưng Thạnh, Phước Vĩnh Đông (Cần Giuộc)... Cuối năm 1966, Lữ đoàn 1 thuộc Sư đoàn 9 bộ binh Mỹ xây dựng căn cứ Rạch Kiến, củng cố hệ thống phòng thủ tây nam Sài Gòn, chia cắt hành lang căn cứ Rừng Sát với đồng bằng sông Cửu Long, khống chế vùng căn cứ lõm nam Long An. Đây là căn cứ quân sự kiên cố, có sân bay, trận địa pháo..., xung quanh được bảo vệ bằng sáu lớp rào dây thép gai, ba tuyến mìn tự động chạm nổ và hệ thống lô cốt tiền tiêu.

Từ kinh nghiệm học được của Khu V, Khu VII, dưới sự lãnh đạo của tỉnh uỷ, tỉnh đội, quân, dân Long An đã nhanh chóng xây dựng vành đai diệt Mỹ Rạch Kiến1 gồm ba tuyến, đặt dưới sự chỉ huy thống nhất của Ban chỉ huy vành đai. Tuyến một, gồm các xã tiếp giáp căn cứ, lực lượng nòng cốt là các trung đội du kích liên xã, có nhiệm vụ xây dựng hệ thống bãi mìn, hầm chông, công sự bắn tỉa... ở xung quanh căn cứ, theo dõi nắm tình hình hoạt động của địch, thông báo kịp thời cho các tuyến ngoài phối hợp chiến đấu. Tuyến hai, ở giữa gồm từ một đến ba tiểu đoàn chủ lực tỉnh, các đơn vị bộ đội huyện được phân chia thành các phân đội nhỏ dựa vào công sự, trận địa, đón đánh tiêu hao quân Mỹ hành quân từ căn cứ ra. Tuyến ba, do lực lượng du kích xã, ấp, nhân dân sử dụng hầm chông, lựu đạn, súng bắn tỉa, rắn độc, ong bò vẽ... để đánh quân Mỹ nống lấn ra ngoài và hành quân càn quét dồn dân, bảo vệ xóm, ấp của mình.
_______________________________________
1. Vành đai Rạch Kiến gồm các xã: Long Hoà, Long Trạch, Long Khê, Tân Trạch, Phước Vân, Long Sơn, Mỹ Lệ, Long Cang, Long Định, Phước Tuy (huyện Cần Đước); Hàm Thuận, Phước Lâm (Cần Giuộc).
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #87 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2010, 12:59:26 pm »


Tháng 1-1967, một đơn vị bộ đội huyện Cần Đước trong trận chống càn đã thương vong một tiểu đội, mất hết vũ khí và không lấy được tử sĩ. Tâm lý hoang mang, dao động, ngại tác chiến với quân Mỹ đã nảy sinh trong lực lượng vũ trang và nhân dân trên vành đai. Từ đây, vấn đề tác chiến trên vành đai được đưa ra bàn bạc tranh cãi sôi nổi trong các đơn vị lực lượng vũ trang trực tiếp tham gia chiến đấu ở đây. Sau khi xem xét lại diễn biến trận đánh, các ý kiến thảo luận đi đến thống nhất kết luận: do ta và địch tác chiến phân tuyến, khoảng cách xa nhau, diễn biến chiến đấu chậm... nên đã tạo thời cơ cho địch tập trung ưu thế hoả lực để tiêu diệt và đẩy lùi lực lượng ta ra khỏi địa bàn càn quét một cách nhanh chóng, dễ dàng. Và như vậy, cách chống càn đối với quân Mỹ trên vành đai nói riêng, trên chiến trường toàn Miền nói chung phải là thực hiện đánh gần – “bám thắt lưng địch mà đánh”, đồng thời phải đánh nhanh, đánh hiểm mới giành thắng lợi được. Ngay sau đó, phương pháp tác chiến này đã được các chiến sĩ Tiểu đoàn 2 chủ lực tỉnh Long An thực hiện thành công và đã mở ra một thời kỳ lập công mới trong chống càn quét, bình định của quân, dân vành đai Rạch Kiến - Long An.

Bên cạnh đấu tranh, huyện uỷ và các cơ sở mật đã lãnh đạo nhân dân vành đai tích cực đấu tranh chính trị, binh vận chống Mỹ - ngụy. Nổi bật nhất là tháng 2-1967, phụ nữ ba xã Long Cang, Long Định, Phước Vân do chị Tư Nhành lãnh đạo đã nhiều lần tập hợp lực lượng kéo lên đồn Rạch Kiến phản đối địch càn quét, bắn phá bừa bãi, đòi bồi thường thiệt hại cho dân. Các tổ chức quần chúng ở cơ sở thường xuyên tuyên truyền giáo dục cho các gia đình binh sĩ địch để họ lôi kéo chồng, con phản chiến, chống các lệnh hành quân của chỉ huy... Như vậy, các cách đánh và phương pháp đấu tranh trên vành đai rất đa dạng..., mỗi người dân trên vành đai là một chiến sĩ. Nhờ đó, ba tháng đầu 1967, quân, dân vành đai Rạch Kiến đã loại khỏi vòng chiến đấu gần 1.000 tên địch, diệt nhiều tên ác ôn, cán bộ bình định có nhiều nợ máu với nhân dân, phá vỡ kế hoạch càn quét bình định vùng xung quanh căn cứ Rạch Kiến của địch.

Thi đua với vành đai Rạch Kiến, quân, dân vùng giải phóng hạ Cần Giuộc đẩy mạnh hoạt động quân sự đánh bại các cuộc hành quân càn quét bình định của Mỹ - ngụy. Trong vòng tháng 5 và 6, bộ đội huyện Cần Giuộc và du kích tại chỗ đã liên tục chống phá các cuộc càn của một lữ đoàn quân Mỹ trên địa bàn tám xã hạ Cần Giuộc, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên, giữ vững vùng giải phóng. Song, trong đợt chống càn này đã có 80 đồng chí bộ đội, du kích hy sinh, hơn 100 người khác bị thương, 250 ngôi nhà của nhân dân bị địch phá trụi.

Kết thúc hoạt động trong mùa khô lần thứ hai, thế chiến tranh nhân dân ở Long An đã phát triển mạnh, kế hoạch dồn dân, lập ấp của Mỹ - ngụy chẳng những không thực hiện được, mà nhiều ấp và khu dồn đã bị quần chúng phá vỡ, phá lỏng, các căn cứ và vùng giải phóng đã được mở rộng ra tương đương với thời điểm cuối 1965 (thời kỳ vùng giải phóng được mở ra rộng nhất).

Tháng 2- 1967, từ căn cứ Đồng Tâm (Mỹ Tho) Sư đoàn 9 bộ binh Mỹ phối hợp với Sư đoàn 9 ngụy liên tiếp hành quân chà xát, thanh lọc địa bàn, dồn dân vào khu tập trung ở quanh căn cứ. Do vậy, nhiều ấp, xã đã bị địch đốt trụi, lực lượng du kích bị hy sinh hoặc phải tạm lánh sang các địa bàn khác hoạt động, nhân dân bị đưa vào trại tập trung. Mặt khác, chúng còn thường xuyên càn quét vào các vùng chúng xác định là trọng điểm bình định, vùng giải phóng của tỉnh với quy mô từ hai đến ba tiểu đoàn trở lên. Ngày 14-3, địch lập trại lực lượng đặc biệt ở Mỹ Phước Tây (tiểu khu Định Tường) gồm năm đại đội do cố vấn Mỹ chỉ huy, liên tiếp mở 12 cuộc hành quân biệt kích vào các xóm, ấp quanh tiểu khu. Riêng ở Mỹ Phước Tây, chỉ nửa cuối tháng 3, địch đã sát hại hơn 500 cán bộ, du kích, cơ sở cách mạng, phá hỏng hoàn toàn hơn 100 nóc nhà. Cùng thời gian này, ở tây và tây bắc thị xã Mỹ Tho, quân chủ lực địch càn quét yểm trợ cho các đội bình định dồn dân vào hai ấp đời mới. Đến hết tháng 3-1967, trên địa bàn Mỹ Tho, Mỹ - ngụy đã kiểm soát được bảy ấp vùng trọng điểm ven sông Cửa Tiểu, ba xã Yên Luông, Bình Long, Bình Luông, khống chế ba xã Vĩnh Viễn, Vĩnh Hựu, Bình Tân...

Để chủ động đánh địch, Bộ Tư lệnh Quân Khu VIII, ngoài việc chỉ đạo cho Ban chỉ huy vành đai Bình Đức áp dụng mọi phương pháp đấu tranh kết hợp quân sự, chính trị và địch vận... tiêu hao, tiêu diệt lực lượng địch, phá bình định, cầm chân không cho chúng hoạt động rộng ra các địa bàn khác; đồng thời phát động đợt đánh phá đường 4, với tư tưởng chỉ đạo: dùng sức mạnh cả hai lực lượng, ba thứ quân, tiến công cắt đứt đường 4, tích cực phá ấp, khu dồn dân, đánh vào các thị xã, thị trấn để căng kéo địch, gây mất ổn định dài ngày cho chúng.

Sau thời gian khá dài chuẩn bị các mặt, đêm 17-7, bằng 700 quả mìn, bộc phá, hai đại đội công binh quân khu, một trung đội công binh Mỹ Tho, 37 đội du kích, 1.500 quần chúng... đã phá hỏng nặng 80 điểm trên đường 4 đoạn từ Cái Bè đi Trung Lương. Hiệp đồng chặt chẽ với tiếng mìn và bộc phá trên đường 4, du kích các địa phương đã hỗ trợ cho nhân dân cấc ấp đời mới, khu dồn dân của địch dọc hai bên đường 4 đồng loạt nổi dậy phá ấp, khua trống mõ tìm diệt ác ôn và khiêng đồ đạc về đất cũ làm ăn. Phát huy thắng lợi của đợt một, sang tháng 8, ta lại mở tiếp đợt đánh phá đường 4 đợt hai và ba, gây sự mất ổn định cho Mỹ - ngụy ở Khu VIII. Như vậy, cùng với hoạt động tích cực trên khu vực vành đai Bình Đức, ở các địa phương, thắng lợi của các đợt đánh phá đường 4, quân dân Mỹ Tho đã giành thắng lợi trong hoạt động mùa khô 1966-1967.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #88 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2010, 01:00:41 pm »


Khác với Long An và Mỹ Tho, tỉnh Bến Tre là căn cứ ven biển rất quan trọng của Khu VIII, là một trong những điểm tiếp nhận vũ khí, hàng hoá từ miền Bắc chuyển vào, cho nên ngay từ khi Mỹ xây dựng căn cứ quân sự Đồng Tâm, Bộ Tư lệnh quân khu đã nhận định: sau khi đứng chân được ở Đồng Tâm, sớm hay muộn Mỹ sẽ đổ quân sang Bến Tre nhằm bình định khống chế cho được địa bàn này. Vì vậy, ngay đầu mùa khô 1966-1967, quân khu đã điều đồng chí Bùi Thanh Khiết - Phó chính uỷ quân khu, trực tiếp chỉ huy Tiểu đoàn 261 và một đại đội pháo binh xuống tăng cường cho Bến Tre chuẩn bị cho hoạt động mùa khô.

Chủ động ngăn chặn các hành động tìm diệt và bình định của địch, trên hướng trọng điểm Bình Đại, đêm 4-1-1967, phân đội đặc công của Tiểu đoàn 261 và tự vệ mật tại chỗ đã bất ngờ tập kích diệt đồn dân vệ Châu Hưng. Cùng lúc, một đại đội của Tiểu đoàn 516 tỉnh Bến Tre tập kích đồn Giồng Quéo, diệt một trung đội “tuyên văn”, giải tán bọn dân vệ đồn, hỗ trợ cho dân trong các trại tập trung quanh đồn nổi dậy giành quyền làm chủ.

Phối hợp với hướng trọng điểm, bộ đội huyện Giồng Trôm kết hợp với du kích diệt đồn Vàng Quới, hỗ trợ cho nhân dân nổi dậy bức hàng, bức rút 11 đồn bốt, giải phóng hoàn toàn các xã: Thạch Tân, Phước Thuận, Thới Lai. Ở tuyến Ba Tri, Tiểu đoàn 516 của tỉnh đã phục kích diệt hai đại đội bảo an tại ấp Giồng Trung xã Vĩnh Hoà, tạo điều kiện cho cơ sở và du kích diệt một số tên cán bộ bình định ác ôn của địch, hô hào nhân dân phá vỡ một số ấp đời mới. Thắng lợi liên tiếp của quân, dân các địa phương Bến Tre đã thôi động mạnh trên phạm vi rộng lớn, gây cho địch nhiều thiệt hại, làm ảnh hưởng không nhỏ tới kế hoạch càn quét, dồn dân, lập ấp mùa khô lần thứ hai của Mỹ - ngụy.

Tháng 1-1967, lực lượng vũ trang huyện Thạch Phú, Bến Tre đã đánh thắng cuộc hành quân Sóng thần 5, hỗ trợ đắc lực cho đấu tranh chính trị trực diện với địch, ngăn cản không cho chúng cào nhà, phá ruộng vườn, dồn dân lập ấp... Trước phong trào đấu tranh tổng hợp, mạnh mẽ của quân và dân Thạnh Phú, sau 10 ngày hành quân, tuy có gây cho ta nhiều thiệt hại về người và của, song mục đích đặt ra là gom dân, lập ấp không thực hiện được, buộc chúng phải rút quân, bỏ dở kế hoạch.

Như vậy, việc cản phá cuộc hành quân Sóng thần 5 ở Thạnh Phú đã kết thúc thắng lợi đợt hoạt động chống phá bình định của Mỹ - ngụy ở Bến Tre. Cùng với nó là việc tổ chức vành đai diệt Mỹ ở Rạch Kiến - Long An, Bình Đức - Mỹ Tho, tổ chức chủ động đánh địch trên đường 4, đẩy mạnh hoạt động của lực lượng vũ trang ba thứ quân và nhân dân các địa phương trong việc tiêu hao, tiêu diệt địch, bẻ gẫy các cuộc càn quét của chúng, cho nên quân, dân Khu VIII đã hoàn thành nhiệm vụ trong mùa khô 1966-1967, là làm thất bại kế hoạch bình định, một trong hai gọng kìm cơ bản trong cuộc phản công mùa khô lần thứ hai của Mỹ - ngụy.

Cùng nằm trên khu vực đồng bằng châu thổ sông Cửu Long như Khu VIII, Khu IX là trọng điểm bình định của địch trong mùa khô 1966-1967. Trên địa bàn mỗi tỉnh, địch tập trung từ một đến hai trung đoàn chủ lực, kết hợp với bảo an, dân vệ, cảnh sát tại các địa phương mở các cuộc càn quét kiểm soát địa bàn, dồn dân xây dựng các ấp đời mới. Theo kế hoạch đặt ra, trong mùa khô này, địch xây dựng 161 ấp, giành thêm 20 vạn dân; khu trọng điểm ưu tiên dồn dân, lập ấp được địch xác định là: Thừa Đức, Long Toàn (Trà Vinh), Cao Lãnh, Hồng Ngự (Đồng Tháp), Lộ Vòng Cung (Cần Thơ)...

Để đối phó với địch, giữa tháng 9-1966, Khu uỷ đã chỉ thị cho các địa phương khẩn trương xây dựng kế hoạch, vạch phương án tác chiến chống lại âm mưu và hành động “xúc tát” dân của Mỹ - ngụy, bảo vệ tài sản, tính mạng của nhân dân; phương châm hành động đặt ra là: kiên quyết bám trụ tổ chức chống phá càn quét, giành thắng lợi.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #89 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2010, 01:01:31 pm »


 Đầu tháng 10, Quân khu IX mở đợt hoạt động Đông - Xuân 1966-1967, trọng điểm là Chương Thiện, nhằm mở mảng, mở vùng ở Giồng Giềng, Long Mỹ - Ngang Dừa, sau đó phát triển lên Cần Thơ, Rạch Giá. Mở đầu, ngày 26-10, Tiểu đoàn 306 tiến công diệt đồn Cái Đuốc, loại khỏi vòng chiến đấu một đại đội bảo an, một trung đội dân vệ..., sau đó rút về đóng ở khu vực kênh Ba Quân - Ngã Cay làm dư bị cho Tiểu đoàn 303 phục kích đánh địch tái chiếm Cái Đuốc. Đến 12 giờ cùng ngày, sau khi dùng pháo binh và không quân đánh phá dữ dội dọn bãi, địch cho trực thăng đổ Trung đoàn 33 thuộc Sư đoàn 21 chủ lực Sài Gòn xuống khu vực đóng quân của cơ quan Trung đoàn 1 và Tiểu đoàn 306 của ta. Trận chiến đấu giữa quân ta và địch diễn ra quyết liệt. Đến 18 giờ, nhân lúc địch sơ hở, Tiểu đoàn 306 chia thành hai mũi bao vây, diệt Sở chỉ huy Trung đoàn 33 và đánh thiệt hại nặng một tiểu đoàn địch. 22 giờ, Tiểu đoàn 306 và 303 diệt tiếp một tiểu đoàn chủ lực ngụy ở kênh Ba Quân. Như vậy, sau một ngày chiến đấu ở khu vực Ban Quân - Ngã Cay, chủ lực Quân khu IX đã chuyển sang tiến công diệt đồn địch, đẩy lùi các kế hoạch hành quân của chúng, giữ vững địa bàn, an toàn cho dân.

Cùng thời gian tháng 10 và 11, quân dân huyện đảo Phú Quốc (Rạch Giá) đã dựa vào thế trận ấp, xã chiến đấu bẻ gãy cuộc hành quân Ba lượn sóng của quân ngụy đánh vào khu căn cứ Tượng; lực lượng vũ trang Vĩnh Thuận bao vây chi khu Vĩnh Thuận, diệt hàng trăm tên địch, ngăn chặn từ xa các trận hành quân càn quét của chúng.

Song, qua thực tế hoạt động cuối 1966, Bộ Tư lệnh Quân khu IX nhận thấy rằng: phong trào du kích chiến tranh và cơ sở đảng ở các địa phương còn yếu và chưa đồng đều... Khắc phục tình trạng này, Khu uỷ và Bộ Tư lệnh Quân khu IX đã đưa cán bộ xuống ấp, xã tổ chức lại chi bộ, củng cố phong trào du kích chiến tranh, từng bước vực phong trào đi lên. Đầu năm 1967, cuộc đấu tranh chống Mỹ và chính quyền Sài Gòn mặc dù diễn ra quyết liệt, gay go, nhưng phong trào đấu tranh ở các địa phương vẫn được giữ vững.

Trên địa bàn Vĩnh - Trà, đầu tháng 1-1967, địch dùng hai trung đoàn chủ lực, hai tiểu đoàn bảo an, sáu đoàn cán bộ bình định, hai chi đoàn xe M113 tổ chức hành quán càn quét bình định xã An Tường (huyện Càng Long) trong hơn một tháng. Chúng rải quân đóng đồn, bốt, lập bộ máy cai trị ấp, xã, đồng thời với tăng cường đánh phá, mở rộng diện bình định ra các xã Huyên Hội, Tân An, Mỹ Cẩm... Địch có gây cho nhân dân An Tường và các xã lân cận nhiều thiện hại về người và của, song do quyết tâm trụ bám địa bàn nên cơ sở mật đã lãnh đạo quần chúng phối hợp với du kích đánh tiêu hao nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch. Quân chủ lực địch rút đi, quân bảo an, dân vệ, bọn tự vệ ấp... không kìm kẹp được quần chúng, ấp đời mới do chúng lập nên trở thành ấp tự quản của dân.

Để hỗ trợ cho quân, dân Vĩnh - Trà tiếp tục đấu tranh chống bình định thắng lợi, Quân khu IX đã đưa Tiểu đoàn 306 về hoạt động trên địa bàn của tỉnh. Đêm 18-1, một đại đội của tiểu đoàn bất ngờ tập kích diệt đồn Đập Ấu, ngay sau đó, toàn Tiểu đoàn 306 tổ chức đánh bại cuộc phản kích hòng chiếm lại vị trí cầu Mai Tức (do phân đội đặc công chiếm giữ trên đường 7) của địch, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 200 tên, thu nhiều súng đạn và đồ dùng quân sự. Với thắng lợi trận đầu ra quân, Tiểu đoàn 306 được Bộ Tư lệnh Miền tặng Huân chương Quân công hạng ba.

Tiếp đà thắng lợi, sang tháng 2, Tiểu đoàn 306 phối hợp với các lực lượng vũ trang tại chỗ tiến công diệt bọn phản cách mạng ở Bãi San, hỗ trợ cho nhân dân nổi dậy phá banh các ấp đời mới, bảo vệ vòng ngoài, làm chủ hoàn toàn khu vực Bãi San. Sau đó, tiểu đoàn trụ bám đánh bại đợt phản kích chiếm lại Bãi San của Trung đoàn 14, Sư đoàn 9 ngụy.

Trước những thắng lợi liên tiếp của ta, Bộ Tư lệnh Vùng IV chiến thuật ngụy tăng cường Trung đoàn 16, Sư đoàn 9 xuống Trà Vinh để phối hợp với Trung đoàn 14 mở cuộc càn quét bình định chốt giữ địa bàn dọc tuyến sông Măng Thít, chặn ta tiến công lên hướng Vĩnh Long. Điều tra nắm được ý đồ của địch, sau khi củng cố lại lực lượng, cuối tháng 4, Tiểu đoàn 306 và Tiểu đoàn 501 (Trà Vinh) chủ động tiến công một cụm địch ở Mương Khai, gây thiệt hại nặng cho một tiểu đoàn của Trung đoàn 16 ngụy, loại khỏi chiến đấu khoảng 200 tên. Đầu tháng 5, Tiểu đoàn 306 và các đơn vị chủ lực tỉnh Trà Vinh đã phân tán lực lượng ra hoạt động ở các vùng Cái Nhum, bắc Vũng Liêm, Bình Minh, Tam Bình (Vĩnh Long) để tạo điều kiện cho quần chúng phá ấp, giành quyền làm chủ. Do chủ trương hoạt động đúng đắn, kịp thời, nên sau vài tháng hoạt động của mùa khô đầu năm 1967, Trà Vinh đã tiêu diệt, bức hàng, bức rút được hàng trăm đồn bốt; phá banh, phá rã được hàng trăm ấp đời mới của địch; chuyển thế các vùng yếu Cái Nham, Bình Minh, Vũng Liêm thành những căn cứ du kích bao vây, uy hiếp các căn cứ ngụy quân, ngụy quyền địch. Như vậy, bằng nỗ lực khắc phục mọi khó khăn của mình và được sự chỉ đạo, hỗ trợ kịp thời của quân khu về mọi mặt, quân, dân Trà Vinh đã bẻ gãy được gọng kìm bình định của Mỹ - ngụy trên địa phương mình.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM